|
PHỤ LỤC
DẪN NHẬP
Phần phụ
lục này trích đăng lại các nhận định và phê phán của những nhân vật và tổ
chức Việt Nam đã sống, chứng kiến và nhiều khi tham dự vào những biến cố tại
miền Nam trong 9 năm dưới chế độ Ngô Đình Diệm.
Đáng lẽ
trong tình trạng lưu vong tại nước ngoài, tác giả có thể tự cho phép mình
chỉ giới hạn trong việc sưu tầm dễ dàng những chứng liệu đẩy đủ và khả tín
do người ngoại quốc trình bày mà không cần tự bắt buộc khó khăn tìm kiếm
những tài liệu Việt Nam hiếm hoi tại hải ngoại.
Nhưng vì
nghĩ rằng chính những người Việt Nam đã sinh ra, lớn lên và sống trong giai
đoạn đó để chia sẻ những hiện thực của thời đại, hoặc chính những người Việt
trẻ tuổi hơn, sau thảm trạng mùa Xuân năm 1975 mà họ kinh qua, đã biết suy
nghiệm chín chắn để phê phán về một giai đoạn lịch sử hiện đại... mới cảm
thông sâu sắc và đánh giá trung thực hơn, nên tác giả đã quyết định sử dụng
những nguồn sử liệu của chỉ người Việt để phần Phụ Lục này mang được giá trị
của một Bản án Lịch Sử tổng hợp và chung quyết của Dân tộc Việt Nam về chế
độ Ngô Đình Diệm.
Tổng hợp
và chung quyết vì trong số những tài liệu Việt Nam thâu thập được tại hải
ngoại, tác giả đã chỉ tuyển chọn những nhân vật có tính cách đại diện tiêu
biểu cho tiếng nói của nhân dân miền Nam hoặc biết rõ ràng về chế độ Ngô
Đình Diệm.
Họ là
những cộng sự viên thân tín của anh em ông Diệm hay là những nhân vật
nòng cốt liên hệ đến sự tồn vong của chế độ như Bảo Đại, Trần Văn Chương, Võ
Văn Hải, Nguyễn Thái, Đoàn Thêm, Nguyễn Đình Thuần, Lê Văn Thái... Họ là
những người làm văn học nghệ thuật đứng trên những mâu thuẫn chính
trị nhưng không đứng ngoài những âu lo chung về vận mệnh của Tổ quốc và Phúc
lợi của đồng bào như Tăng Xuân An, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Lê Văn
Siêu, Quách Tấn, Nhật Tiến, Dương Tấn Tươi, Nguyễn Vỹ...
Họ cũng
là những tăng sĩ Phật giáo như Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Thượng Tọa
Thích Nhất Hạnh, hay tu sĩ Thiên Chúa giáo như Giám mục Nguyễn Văn
Bình, Linh mục Lê Quang Oánh. Họ cũng là sinh viên đấu tranh như Bùi
Ngọc Đường, Tôn Thất Tuệ, hay quân nhân như Phan Nhật Nam, Nguyễn Cao
Kỳ.
Họ thuộc
thành phần đảng phái quốc gia như Phan Bá Cầm, Phan Quang Đán, Nguyễn
Ngọc Huy, Nguyễn Long hay thuộc lực lượng ký giả đấu tranh như Từ
Chung, Hiếu Chân, Lê Minh Trực. Họ là thế hệ tiền chiến như Trần Văn
Ân, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Thế Truyền, Hoàng Văn Chí, Trần Văn Hương,
thế hệ trung niên như Kiêm Đạt, Đinh Thạch Bích, Trần Văn Sơn, Phạm Nam
Sách, hay thế hệ đang đấu tranh cho tương lai đất nước như Vũ Thế
Ngọc, Ngô Quốc Sĩ, Từ Tâm, Lý Khôi Việt...
Họ là
tất cả, họ là người Việt Nam. Từ những vị thế khác nhau, từ những góc cạnh
khác nhau, họ đã lương thiện dõng dạc cất tiếng nói chung để tạo thành một
tiếng vang vọng NGÀN NĂM BIA MIỆNG ghi lại lời Tuyên án Lịch Sử của
dân ta về bản chất và hành xử của chế độ Ngô Đình Diệm trong chín năm làm
chủ miền Nam.
Chỉ với
số tài liệu Việt ngữ hiếm hoi và chỉ với những nhân chứng sống tại hải ngoại
mà tác giả có cơ hội liên lạc, tác giả đã kết tụ lại trong phần Phụ Lục này
mà về hình thức được chia thành năm phần:
- Phần
thứ nhất gồm những nhận định và phê phán của 100 nhân vật hoặc tổ chức về
chế độ Ngô Đình Diệm. (Phụ Lục A).
- Phần
thứ nhì gồm 6 bài viết phân tích và lượng giá về một số vấn đề liên hệ đến
chế độ. (Phụ Lục B).
- Phần
thứ ba gồm 4 lá thư riêng mà tác giả nhận được từ sau 1975 của thân hữu có
liên quan đến nội dung của tập hồi ký. (Phụ Lục C).
- Phần
thứ tư gồm hai bản cáo trạng lên án những cấp lãnh đạo của hai nền Đệ nhất
và Đệ nhị Cộng Hòa (Phụ Lục D).
- Phần
thứ năm (được thêm vào ở lần tái bản 1993) gồm 11 bài đọc thêm về một số dữ
kiện liên hệ đến một số nhân vật được đề cập đến trong tập Hồi ký (Phụ Lục
E).
Như đã
nói trong lời mở đầu, tác giả xin tạ lỗi đã không liên lạc được với tất cả
những người có trích dẫn trong phần Phụ Lục này để xin phép trước và để cảm
ơn quý vị. Lời tạ tội và lời cảm ơn đó không phải chỉ vì những thủ tục tác
quyền hình thức bây giờ mà còn vì trong quá khứ, quý vị đã cất tiếng nói
dùm cho lương tâm dân tộc Việt Nam và lương tri con người Việt Nam.
Và đó
chính là nguyên ủy của tập Hồi Ký cũng như riêng phần Phụ Lục này.
PHỤ LỤC "A"
Một trăm lời phê
phán
Võ Văn ÁI ● Tăng Xuân
AN ● Trần Văn ÂN ● Nguyễn Tường BÁCH ● Nguyễn Văn BÌNH ● Phạm Văn BÌNH ●
Phan Bá CẦM ● Thích Tâm CHÂU ● Hoàng Văn CHÍ ● Từ CHUNG ● Phạm Hữu CHƯƠNG ●
Trần Văn CHƯƠNG ● Vũ Hoàng CHƯƠNG ● NCD ● Nguyễn Đôn DƯ ● Bảo ĐẠI ● Phan
Quang ĐÁN ● Kiêm ĐẠT ● Tôn Thất ĐÍNH ● Trần Văn ĐÔN ● Vương Văn ĐÔNG ●
Thường ĐỨC ● Bùi Ngọc ĐƯỜNG ● Thích Hộ GIÁC ● Trường GIANG ● Võ Văn HẢI ●
Huỳnh Phú HẢI ● Thích Nhất HẠNH ● Trần Sĩ HUÂN ● Minh HUY ● Nguyễn Ngọc HUY
● Trần Văn HƯƠNG ● Nguiễn Ngu Í ● Trần Văn KHIÊM ● Lê Bá KÔNG ● Võ Ngọc KHUÊ
● Nguyễn Cao KỲ ● Lưu Kỳ LINH ● Chu Bằng LĨNH ● Thành Nam Nguyễn LONG ● Đồ
Hoa LƯ ● Trần Phổ MINH ● Đào Mộng NAM ● Phan Nhật NAM ● Trần Bình NAM ● Vũ
Thế NGỌC ● Lý Đại NGUYÊN ● Trần Nhã NGUYÊN ● Hạo Nhiên Trần Thế NGỮ ● Nguyễn
Khắc NGỮ ● Nguyễn NHO ● Lê Quang OÁNH ● Nguyễn Hữu PHIẾM ● Lê PHỔ ● Quang
PHỤC ● Thiên Nhất PHƯƠNG ● Trần Kim QUAN ● Lê QUÂN ● Phạm Nam SÁCH ● SÁNG
Dội Miền Nam (tuần báo) ● Doãn Quốc SĨ ● Ngô Quốc SĨ ● Lê Văn SIÊU ● Trương
Bảo SƠN ● Lê TÁ ● Trương Như TẢNG ● Phạm Công TẮC ● Trần Công TÂM ● Từ TÂM ●
Nguyễn TÂN ● Quách TẤN ● Nguyễn THÁI ● Lê Văn THÁI ● Vũ Văn THÁI ● Đoàn THÊM
● Nguyễn Chánh THI ● Nghiêm Xuân THIỆN ● Nhật THỊNH ● Huỳnh Sanh THÔNG ● Cụ
Bà Đức THỤ ● Nguyễn Đình THUẦN ● Nhật TIẾN ● Hoàng Đồng TIẾU ● TIỂU Ban
Nghiên Cứu Đồng Minh (Tạp Chí Cứu Nước) ● Nguyễn Hữu TRÍ ● Nguyễn Thế
TRUYỀN ● Lê Minh TRỰC ● Tôn Thất TUỆ ● TỰ Do ( Nhật Báo) ● Dương Tấn TƯƠI ●
Trần TƯƠNG ● Lê Văn TỴ ● Bảo VÂN ● VIỆT Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng ● Lý Khôi
VIỆT ● Nguyễn Thành VINH ● Nguyễn VỸ ● Vân XƯA ● Phan XỨNG ● Huỳnh Minh Ý
1. VÕ
VĂN ÁI
Nguyên biên tập viên
Nguyệt san Liên Hoa, Hội Tăng Già Huế.
Chủ nhiệm Nguyệt san
Quê Mẹ (Pháp).
Tác giả Nguyễn
Trãi, Sinh Thức và Hành Động.
...Những người theo các thế lực quốc tế cũng vậy,
họ cũng được bảo vệ tương tự bởi những khối họ theo. Chỉ có người Phật tử
Việt Nam là cô thân độc ảnh. Cuộc thành bại của chúng ta đều tùy thuộc ở sự
tự lực, tùy thuộc ở quần chúng, tùy thuộc ở bản lĩnh chúng ta, ở sự khuyến
thỉnh toàn tâm khối quần chúng Phật tử đông đảo, và khối những người cảm
tình với Phật giáo trong thế giới.
Các yếu tố hậu trường kể trên cho thấy rằng, đánh
giá chính biến 63 và cuộc vùng đứng 66 mà không đặt mối tương quan quốc tế
như vậy, tất không thể thấy rõ vấn đề. Tất chỉ làm thứ giải nghĩa ngoài thực
tại, kê dựa trên một vài lý thuyết thời đại, trên một vài cuốn sách của các
“bậc thầy” Tây phương.
Nông dân Phật tử, thợ thuyền Phật tử, tiểu thương
Phật tử, thị xa cyclo Phật tử, công xa taxi Phật tử, trí thức, thanh niên,
sinh viên, học sinh Phật tử, với mọi thành phần xã hội Phật tử khác đã tràn
ngập xuống đường biểu dương ý chí bồ tát như những ngọn hải triều. Vũ khí là
ý chí. Vũ khí là bàn thờ tôn nghiêm của Phật tử và ông bà tổ tiên. Thật là
một cuộc chiến đấu giữa sức mạnh tâm linh và sức mạnh máy móc, thú vật.
Mục đích
tức thời tuy có nhắm lật đổ các chế độ thối tha, ung độc nhưng vẫn không đề
xướng chuyên chính Phật giáo vào bộ máy nhà nước. Mục đích cuộc vận động sâu và
rộng hơn nhiều: Nó đặt vấn đề
tra vấn tâm thức Việt
Nam và lương tâm quốc tế. Tra vấn trước tiên là tra vấn
người Phật tử, khiến họ phải phát triển hành động tới mức độ cứu cấp. Tra
vấn những thành viên bằng hữu trong xã hội trước thảm cảnh nô dịch văn hóa
và chính trị, và khuyến thỉnh một cuộc cộng tác chung. Sự sụp đổ của chế độ
Ngô Đình Diệm đã biểu thị sự thất bại hoàn toàn của giới trí thức quan lại,
giới trí thức vọng ngoại ở thành thị.
Cuộc vận động 63 lãnh đạo bởi lực lượng tiên phong
Phật giáo với tiêu đích hóa giải sự nô dịch tư tưởng, nô dịch văn hóa và nô
dịch chính trị. Nhưng các nhà đương chính kế tiếp không hiểu nổi “công án
63” nên họ đã dẫm lại y hệt bước đường cũ với đôi ủng mới. Có người cho
rằng, không có CIA, không có Mỹ nhúng tay thì Ngô Đình Diệm chưa đổ, Phật
giáo làm gì được đâu. Thử hỏi một câu: CIA Mỹ đã có thể không lật Diệm
không? Ai không biết rằng màng lưới CIA có mặt khắp nơi. Nhưng tại sao CIA,
Hoa Kỳ phải nhúng tay lật Diệm? Vấn đề không là “ai” lật. Vấn đề là lực
lượng chủ động nào, nguyên tố nào đã khiến cho CIA hay Mỹ không thể không
lật Diệm. Nguyên thể của chính trị khởi phát từ tính chủ động, chứ không nằm
trong những diễn biến bề mặt. Trước đó, chúng ta đã từng chứng kiến hai lần
binh biến, vào những năm 60, 62 và sự hoạt động của các lực lượng vũ trang
nhằm lật đổ chế độ, nhưng không đem lại kết quả nào. Quần chúng là yếu tố
quyết định. Quần chúng đơn sơ nhưng vạm vỡ, như hơi thở, như bát cơm; quần
chúng nói tiếng người và hành động như sấm chớp. Và mãi mãi, chính yếu tố
quần chúng này mới giải quyết được chiến trường Việt Nam.
Cuộc vận động 63, do đó, nằm trong cuộc trường kỳ
chuyển hóa tư tưởng, văn hóa, làm nền cho tự chủ chính trị. Song các tư trào văn hóa nô
dịch vẫn còn tác dụng mạnh, nhờ ngoại nhân tiếp sức. Cho nên, mùa Xuân 66,
lực lượng Phật tử Việt Nam lại vùng đứng lên. Lần này cũng vậy, vấn đề không
là làm “cách mạng”, vấn đề không là làm “chính trị”. Vấn đề là sinh dân quá
đau khổ vì hà khắc, vì chiến tranh, thế mà chẳng có ai đại diện cho họ, thế
mà không có quyền ăn nói. Cuộc vùng đứng 66 đòi hỏi cho sinh dân có Tiếng
Nói trước cộng đồng dân tộc, có quyền quyết định lấy vận mệnh mình.
Trong quá khứ, các cuộc cách mệnh chỉ chủ súy việc
thay đổi một triều đại, một chế độ làm tiên quyết. Chưa có một cuộc cách
mệnh nào nhắm tới và thành tựu việc đổi thay Tâm thức bị ung độc của Con
Người.
Lá Thư Ngỏ Gởi Người
Phật Tử Việt Nam
Nguyệt san Quê Mẹ,
đặc san Xuân Cố Hương, 1985, Paris
2. TĂNG
XUÂN AN
Giáo sư trường Chu Văn
An Sài Gòn.
Giám Đốc Nha
Trung-Tiểu học Việt Nam.
...Vì Tổng thống Ngô Đình Diệm là người Công giáo
nên hết sức nâng đỡ giáo dân và đa số người di cư lại là tín đồ Thiên Chúa
giáo. Dưới thời này cũng có
một số người ham danh
lợi, đã bỏ Phật giáo để theo Chúa. Việc này đã làm bào huynh của ông Ngô
Đình Diệm (tức Đức Cha Ngô Đình Thục) rất hài lòng, vì ông là Tổng Giám Mục Giáo
phận Huế và hy vọng sẽ được Tòa Thánh La Mã tấn phong chức Hồng Y Giáo Chủ.
Vào khoảng tháng 4 âm lịch năm 1963, Tòa Thành La
Mã đã cử một vị Khâm sai qua thăm Việt Nam, nhưng chẳng may lại đúng vào mùa
Phật đản. Bắt đầu từ ngày mồng một tháng Tư, nhiều tỉnh miền Trung (Huế, Đà
Nẵng...) đã biến thành rừng cờ Phật giáo treo cạnh lá quốc kỳ. Vì đã trót
gửi lên Đức Giáo hoàng những báo cáo sai sự thật về con số tín đồ Việt Nam
trở về với Chúa, nên ông Ngô Đình Thục làm áp lực để Tổng thống Ngô Đình
Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo tại các tư gia, mà chỉ được treo tại các
đình chùa mà thôi.
Những thăng trầm của Phật giáo Việt Nam
Tạp chí Phật Giáo
Việt Nam, số 24 tháng 5 năm 1980, trang 10 - Los Angeles.
3. TRẦN
VĂN ÂN
Kỹ sư Công Chánh
Chiến sĩ Cách Mạng
chống Thực dân Pháp thời Nhật chiếm đóng Đông Dương, bị lùng bắt, lưu vong
qua Tân Gia Ba.
Chủ nhiệm tuần báo Đời
Mới, Sài Gòn 1947-1955.
Chính trị gia.
...Không phải cụ Ngô giỏi mà từ 1955 đến 1960 không
có giặc, có nhiều người ngoài Bắc vào nói sao cụ Ngô giỏi quá... đất nước
bình yên quá, mấy năm đi tới đâu cũng được. Không, (Cộng Sản) nó còn lo ở
ngoài Bắc, nó còn lo nhiều chuyện lắm, nó sắp xếp chuyện này chuyện kia xong
rồi, khi nó thành lập xong con ngựa thành Troie ở miền Nam là Mặt Trận Giải
phóng Dân Tộc đó, nó mới là khởi đầu,... cuối 59 bắt đầu 60 mới khởi sự trận
giặc thứ nhì. Trận giặc thứ nhì là giặc xâm lăng của đế quốc Cộng sản để
chiếm miền Nam... Phải nhớ rõ chuyện đó, luận mới được...
...Không phải mình muốn đánh dẹp ông Diệm mà mình
làm cho
ông Diệm đừng độc tài, vì mình không muốn đạo Chúa trị hay Kitô trị, Công
giáo trị...
...Ông Diệm với tôi cũng là chỗ quen thân, ông đã
quá cố... không có vấn đề tôi nói xấu ông Diệm trước vong linh của ông...
Nhưng rủi cho mình đã bao nhiêu năm mất thì giờ xây dựng... lừa lọc về vấn
đề mất nước... Như vậy thì các anh thấy,
đáng lẽ mình đã mất
nước từ năm 1965. Nếu mà Mỹ không... thì chắc
năm đó đã thua rồi chứ đâu đợi đến ngày nay.
Lời phát biểu (được ghi âm) trong buổi nói chuyện
tại Sacramento tháng 5 năm 1985 do ông Chủ tịch Cộng Đồng, cựu Đại tá Phạm
Văn Liễu và cựu Chuẩn tướng Nguyễn Văn Chức, tổ chức.
4.
NGUYỄN TƯỜNG BÁCH
Bác sĩ Y khoa.
Một trong những lãnh
tụ VNQDĐ.
Tác giả Việt Nam
Những Ngày Lịch Sử.
...Cuối cùng tôi có khuyên anh về sau chỉ làm việc
văn nghệ, cần tránh những cuộc đấu tranh chính trị gay go. Nhưng ngờ đâu,
hơn 10 năm sau
anh lại bị Ngô Đình
Diệm bức phải tự hủy thân mình. Ngờ đâu một người có tài kiệt
xuất, có uy vọng trong quần chúng và đã chiến đấu vô tư trong cả đời mình
lại gặp số phận bi thương thế!
(Hồi
tưởng về quyết định tự sát của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam).
Việt Nam, Những ngày lịch sử
Nguyễn Tường Bách -
Nhóm Nghiên cứu Sử Địa, Montreal, Canada, 1981, trang 48.
5.
NGUYỄN VĂN BÌNH, PHÊ-RÔ
Giám mục Giáo phận Sài
Gòn.
Nếu Đức cha (Ngô Đình Thục) lãnh đạo giáo phận Huế
thì tôi lãnh đạo giáo phận Sài Gòn và
tôi không thể để nhà
thờ của tôi trở thành trung tâm hội họp chính trị.
Background To Betrayal
Hilaire Du Berrier,
Mass: Western Islands, 1965.
(Đức Cha
Bình trả lời Đức Cha Thục khi ông này đòi hỏi các Giám mục, Linh mục toàn
quốc phải tổ chức các đội quân Công giáo tại
các giáo phận).
6. PHẠM
VĂN BÌNH (biệt hiệu VĂN BÌNH)
Nhà báo.
Chiến sĩ chống Việt
Minh (1945-1946) trong Phong Trào Dân Chúng Ngũ Xã.
Bộ trưởng Thanh Niên
thời chế độ Quốc trưởng Bảo Đại.
Bác sĩ Đán cũng thành một cái đích cho dư luận phê
bình, dân biểu lên án... Trước sau bác sĩ Đán vẫn im lặng không trả lời,
không lên tiếng. Vốn biết bác sĩ Đán có một bản tính cao ngạo, tôi tin rằng
sự im
lặng đây không phải là một sự chấp nhận những lời phê bình kia một
cách âm thầm hay lặng lẽ.
Nhiều người nêu ra cái thành tích khóc lóc xin Tòa
ân giảm của bác sĩ Đán trong thời Ngô Đình Diệm để chứng tỏ sự thiếu khí
phách của một người làm cách mạng.
Riêng phần tôi, không phải là nhân chứng của cuộc
đảo chánh này, tôi không có quyền quyết đoán tư cách của bác sĩ Đán lúc bấy
giờ. Nhưng lấy quá khứ làm bảo đảm, tôi nghĩ rằng tất nhiên có vài uẩn khúc
bên trong.
Hồi ký Phong trào Dân Chúng Ngũ Xã
Biến cố 11/11/1960.
Trần Tương. Sài Gòn 1971, trang 278 và 279.
7. PHAN
BÁ CẦM
Lãnh tụ Việt Nam Dân
Chủ Xã Hội Đảng (Hòa Hảo).
Chủ tịch Hội Nhân
Quyền Việt Nam (1970-1975).
Chủ tịch Lực Lượng Dân
Tộc Việt (1968-1975).
Nhà văn, bút hiệu
Vương Kim.
Thời Pháp thuộc lưu
vong tại Cao Miên để hoạt động cách mạng, thời Đệ nhất Cộng Hòa bị lưu đày
ra Côn đảo.
Nguyễn Ngọc Thơ đã lừa Lê Quang Vinh (tức tướng Ba
Cụt) đến thương thuyết để bắt và để cho ông Diệm xử tử. Bảo rằng Lê Quang
Vinh sớm đánh tối đầu mà giết đi nhưng Lê Quang Vinh sớm đánh tối đầu với
Thực Dân để có thêm vũ khí, phương tiện để đánh Tây đánh Cộng vậy thì Lê
Quang Vinh công hay tội. Trong 10 năm trời (1945-1954) Lê Quang Vinh võ
trang chống Cộng Sản, chống Thực Dân hỏi rằng Nguyễn Ngọc Thơ và
anh em ông Diệm đã
làm gì cho dân tộc, quê hương?
Trong lòng người Hòa Hảo chúng tôi luôn luôn mang
ba cái tâm tang: tang Đức Thầy, tang anh Nguyễn Bảo Toàn, tang Lê Quang Vinh
cho nên chúng tôi không đội trời chung với Cộng Sản, Thực Dân, Phong Kiến,
Độc tài, Quân phiệt...
Lịch sử không phải chỉ biết ở các chính biến của
thời cuộc mà cần phải biết tìm tòi khai sáng những yếu tố cấu tạo thời cuộc.
Nếu một ngày nào đó đất nước được thanh bình, một “Tư Mã Thiên” ra đời viết
lại những trang sử cho thật nghiêm minh để công ai tội ai cho rõ ràng chính
xác thì nơi chín suối Đức Thầy, Nguyễn Bảo Toàn, Lê Quang Vinh sẽ được ngậm
cười...
Phan Bá Cầm, một chiến sĩ cách mạng dân tộc
Nguyệt san Khai
Phóng số 4, ngày 15/6/1981, Los Angeles, trang 15.
8.
THÍCH TÂM CHÂU
Thượng tọa.
Viện trưởng Viện Hóa
Đạo Giáo hội PGVNTN (1964)
... Tôi và các Thượng Tọa trong ủy Ban Liên Phái
đều bị bắt giam trong ngục tối của những người đã mất hết lương tri, mất hết
tất cả những gì gọi là tín nghĩa.
Nhưng Phật tử hãy cố gắng lên để dành lại cái lư
hương của ông bà chúng ta đã bị cướp. Hãy ráng
chống với những kẻ đã
bắt chúng ta đạp bàn thờ để thờ Chúa. Tôi có chết cũng cam chịu.
Bức thư từ trong tù
Lịch Sử Tranh Đấu PGVN, Kiêm Đạt, Phật Học, Viện Quốc Tế, LA 1981, trang
112
...Cuộc tranh đấu năm 1963, khởi nguyên từ việc
cưỡng
bức bỏ đạo từ mấy năm về trước. Và năm
1963, do lệnh cấm treo cờ Phật giáo mà bùng nổ. Bùng nổ ngày 8/5/1963 tại
Huế và ngày 9/5/1963 đã đưa vào Sài Gòn.
...Sau gần một tháng, nguyện vọng tự do tín ngưỡng,
bình đẳng tôn giáo không được Chính phủ đương thời thỏa đáng, cuộc tranh đấu
tại Huế mỗi ngày một gia tăng, chùa Từ Đàm (trung tâm tranh đấu) bị bao vây,
không điện, nước, lương thực suốt trong 7 ngày. Trong tình trạng khẩn trương
này, Thượng Tọa Thích Quảng Đức quyết liệt đòi Uỷ Ban Liên Phái chấp nhận sự
tự thiêu của Ngài để cứu nguy chùa Từ Đàm (Huế), nếu Uỷ Ban Liên Phái không
chấp nhận, Ngài vẫn tự lực làm lấy theo thệ nguyện của Ngài. Bất đắc dĩ Uỷ
Ban phải chấp thuận và được sự trợ lực cho thệ nguyện của Ngài là thầy Thích
Đức Nghiệp.
...Với sự hy sinh cao cả vì đạo pháp của Ngài Quảng
Đức cũng như của những vị tử đạo khác, chỉ tự bản thân, chủ trương và sáng
kiến của các ngài mới làm nên nổi sự nghiệp ấy, ngoài ra không ai có thể
cưỡng ép các Ngài làm được việc ấy!
Thế mà ngay sau khi Ngài tự thiêu có người, có kẻ
có quyền lực đương thời cho rằng ngài bị chích thuốc mê và nướng sống. Và
sau 20 năm của ngày Phật giáo tranh đấu, có một số người đeo cặp kính màu
chính trị đối nghịch đã giàu óc tưởng tượng phóng ra những bài, những lời
hay những cuốn tiểu thuyết cho Hòa thượng Quảng Đức là cán bộ Cộng Sản nằm
vùng, bị cưỡng bức tự thiêu... Thực là một sự tráo lòng không tưởng tượng
được! Chứng nhân của lịch sử còn nhiều người còn sống mà đã bị xuyên tạc, không
hiểu tương lai xa nữa, sự thực của lịch sử Phật giáo cũng như của quốc gia
Việt Nam sẽ bị biến thể như thế nào!
Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử
Nguyệt san Chấn Hưng,
số 5 tháng 1/1986, Los Angeles, Hoa Kỳ.
9.
HOÀNG VĂN CHÍ
Năm 1926: Tham gia
cuộc bãi khóa toàn quốc.
Năm 1936: Tham gia
Phong Trào “Le Travail”.
Năm 1946: Tham gia
kháng chiến chống Pháp.
Năm 1954: Đượ c ông Hồ
Chí Minh tuyên dương công trạng toàn quốc, di cư vào Nam năm 1954, làm việc
ở Bộ Ngoại Giao.
Năm 1959: Từ chức đi
ngoại quốc để “có dịp nói lên sự thực của 2 chế độ Hồ Chí Minh và Ngô Đình
Diệm”.
Tác giả cuốn sách nổi
tiếng Từ Thực Dân Đến Cộng Sản đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh,
Pháp, Nhật, Y Pha Nho, Đại Hàn, Thái... và Duy Văn Sử Quan một công
trình nghiên cứu công phu được xuất bản tại hải ngoại.
...Ở
Việt Nam , nguyên nhân chính (gây nên cách mạng) là lòng dân khao khát muốn
diệt trừ quan lại tham nhũng và cường hào ác bá. Theo sự suy xét của người
thường dân Việt Nam thì cách mạng là đấu tranh giữa “liêm” và “vô liêm”,
giữa “chính” và “bất chính”, còn vấn đề chủ nghĩa mà sau này Cộng Sản gài
thêm vào chỉ là yếu tố phụ. Cứ xét theo điểm này, cũng đủ biết viên cựu
Hoàng đế Bảo Đại cũng như viên cựu quan lại Ngô Đình Diệm không tài nào địch
nổi Hồ Chí Minh...
...Sau
chót là ông Ngô Đình Diệm, nhờ áp lực của Mỹ mà cầm quyền ở miền Nam
Việt Nam từ 1954 đến 1963. Ông Diệm và ông Hồ khác nhau về mọi mặt.
Trong lúc ông Hồ từ bỏ gia đình từ hồi thanh niên thì trái lại, ông Diệm lúc
nào cũng đùm bọc anh em và họ hàng thân thích, giao cho họ quyền cao chức
trọng trong Chính phủ và trong quân đội. Trong khi ông Hồ chuyện trò thân
mật với thợ thuyền và dân quê thì ông Diệm ngồi bảnh chọe trên chiếc ghế mạ
vàng thò chân cho các tù trưởng dân tộc thiểu số hứng lấy để rửa, in hệt vua
chúa thuở xưa nhận lễ quy thuận của người Thượng.
Từ Thực Dân đến Cộng Sản
Hoàng Văn Chí-Tokyo 1980, trang 58 và 59
Mỹ can
thiệp đưa ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng. Ông Ngô Đình Diệm không có Nho
học nhưng có ít nhiều tư cách nhà Nho: cương trực, liêm chính và có kinh
nghiệm về hành chánh vì ông đã từng làm Tuần phủ trong nhiều năm. Nhưng ông
có ba khuyết điểm rất lớn:
1. Ông
không lập gia đình nên không có kinh nghiệm tề gia, mà theo sách Đại học của
Khổng giáo thì phải biết Tề Gia thì mới Trị Quốc được. Đúng như vậy, vì
không có vợ nên ông để bà em dâu lộng hành, phá hỏng công
việc trị quốc gia của ông.
2.
Xuất thân trong một gia đình quan lại, ba đời làm tôi nhà Nguyễn
ông không hiểu tự do
dân chủ là gì cả. Ông truất phế Bảo Đại, rồi ngang nhiên
cướp đoạt chức vị Quốc trưởng của Bảo Đại, chỉ trưng cầu dân ý, hỏi dân
“Muốn Bảo Đại”, hay “Muốn Ngô Đình Diệm”, không tổ chức bầu cử Tổng thống và
không cho một người thứ hai ra tranh cử với mình.
3.
Cũng như Trần Trọng Kim, ông không có đảng phái, không có cán bộ. Đến giờ
thứ 23, ông mới tìm được người cộng tác và những người ông thu thập được, phần lớn là
những phường giá áo túi cơm, một số là cặn bã của xã hội.
Văn Hóa Giao Lưu
Nguyệt san Độc Lập số 8, năm thứ 8
(8/84)
Stuttgart, Tây Đức.
Nghĩ
lại, nếu ông Diệm không kỳ thị người Miên, không khinh Sihanouk, không sai
Ngô Trọng Hiếu sang tổ chức mưu hại Sihanouk, nếu ông Diệm biết Campuchia và
Việt Nam quan trọng với nhau như môi với răng, biết khéo léo ngoại giao thì
chắc chắn Sihanouk không nổi khùng mở cửa cho Việt Cộng đặt căn cứ trong nội
địa Miên, và tình hình chiến tranh có lẽ đã khác hẳn. Đành rằng Sihanouk làm
như vậy là dại vì hậu quả cũng mất nước với Cộng Sản, nhưng ông Diệm và quan
thầy Mỹ cũng chẳng khôn hơn.
...Lại
còn kỳ thị người Thượng, khinh họ thì làm sao đoàn kết được với tổ chức
FULRO để chống kẻ thù chung?
Nguyệt san Dân Quyền số 98/99 trang
53, tháng 5, 1986, Canada.
(Đăng lại
trên tác phẩm Duy Văn Sử Quan, Tr.96)
10. TỪ
CHUNG
Ký giả, Tổng thư ký
Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn.
Bị Cộng Sản ám sát năm
1966.
HIẾU CHÂN (Tên thật là NGUYỄN HOẠT)
Ký giả, nhà văn, biên
tập viên Nhật báo Tự Do, Sài Gòn.
Tác giả Trăng Nước
Đồng Nai và dịch giả bộ Liêu Trai Chí Dị.
CHU TỬ (tên thật là CHU VĂN BÌNH)
Cử nhân Luật khoa, Ký
giả, nhà văn.
Tác giả nhiểu tiểu
thuyết hiện đại.
Chủ nhiệm Nhật báo
Sống, Tuần báo Đời.
Tử nạn trên biển cả
trên đường tìm tự do sau biến cố tháng 4 năm 1975.
Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho Tự
Do, Dân Chủ, giải phóng con người vậy mà trong thời gian vừa qua, vì cơm áo,
khiếp nhược, đớn hèn, chúng ta đã
nhắm mắt ăn dơ, đánh
đĩ tâm hồn, phản bội sự thật, phản bội dân tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ
họ Ngô.
Dù chúng ta có viện bất cứ lẽ gì để bào chữa, chúng ta cũng không thể chối
cãi được tội lỗi của chúng ta đối với đồng bào, lịch sử...
Cách mạng 1/11/1963 là cơ hội duy nhất để chúng ta
thoát khỏi cảnh huống bồi bút phi cầm phi thú, cơ hội duy nhất để chúng ta
trở lại làm người đã tới... Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi văn nghệ sĩ, bằng
máu và nước mắt, mồ hôi mà trong chín năm qua bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố...
Hiệu triệu các nhà
văn, nhà báo
Nhật báo Ngôn Luận,
ngày 4/11/1963, Sài Gòn.
11.
PHẠM HỮU CHƯƠNG
Bác sỹ Y Khoa
Bộ trưởng Bộ Xã Hội
đầu tiên của Chính phủ Ngô Đình Diệm.
“Sau 1954, tuy Việt Minh đã phản bội các anh em đã
hy sinh cho tổ quốc, song Chính phủ Sài Gòn không làm gì để khích lệ nhân
dân. Ông Ngô Đình Diệm (bản thân trong sạch, song)
đã bị sai lầm vì gia
đình trị, vì gia nô ton hót. Người người đều ngao ngán mà xa
lánh”.
Đặt lại vấn đề chống
Cộng
Tập san Quốc Phòng số
19, Sài Gòn tháng 1/1972, trang 26.
12.
TRẦN VĂN CHƯƠNG
Thân phụ của bà Ngô
Đình Nhu (Trần Thị Lệ Xuân).
Tốt nghiệp Đại học
Luật khoa Paris.
Hội viên Đại Hội Đồng
Kinh Tế Tài Chánh Đông Dương (1938).
Tổng trưởng Bộ Ngoại
giao Chính phủ Trần Trọng Kim (1945).
Quốc vụ khanh Chính
phủ Ngô Đình Diệm (1954).
Đại sứ VNCH tại Hoa
Thịnh Đốn (từ 1955).
Bị Chính phủ Ngô Đình
Diệm chấm dứt nhiệm vụ Đại sứ tháng 8 năm 1963 khi ông đưa ra lời tuyên bố
phản kháng chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ Diệm.
“Tôi đã hết sức khuyên can Chính phủ của chúng tôi
để chấp nhận những chính sách dân chủ và ôn hòa hơn. Cuối cùng
tôi không thể làm
gì khác hơn là phải từ chức”.
Quotations VietNam:
1945-1970
Williams Effros,
Random House, NY 1970 trang 138.
(Lời tuyên bố với báo
chí Hoa Kỳ tại Washington DC ngày 22/8/1963)
13. VŨ
HOÀNG CHƯƠNG
Thi sĩ
Giáo sư Đại học Văn
khoa Sài Gòn và Viện Đại học Vạn Hạnh.
Tác giả các tập thơ
Say, Mây, Rừng Phong, Tâm Sự Kẻ Sang Tần...
LỬA TỪ BI
Lửa! Lửa cháy ngất Tòa
Sen!
Tám chín phương nhục
thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả xuống
Hai vầng sáng rưng
rưng
Đông Tây nhòe lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt
Trới mới mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên dâng lên
Ôi, đích thực hôm nay
Trời có Mặt
Giờ là giờ Hoàng Đạo
nguy nga
Muôn vạn khối sân si
vừa mở mắt
Nhìn nhau: Tình huynh
đệ bao la
Nam Mô Đức Phật Di Đà
Sông Hằng kia bởi đâu
mà cát bay?
Thương chúng sanh trầm
luân bể khổ
Người sẽ phăng đêm tối
đất đầy
Bước ra, ngồi nhập
định hướng về Tây
Gọi hết lửa vào xương
da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời
tay...
Sáu ngả luân hồi đâu
đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên ngừng
nhịp Bánh Xe Quay
Không khí vặn mình
theo khóc òa lên
Người siêu thăng-Giông
bão lắng từ đây
Bóng người vượt chín
từng mây
Nhân gian mát rợi bóng
cây Bồ Đề
Ngọc hay đá tượng
chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre nào khiến bút ai ghi
Chỗ người ngồi: một Thiên thu Tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét từ bi
Rồi đây... rồi mai sau... còn chi
Ngọc đá cũng thành tro lụa tre dần mục
Với thời gian lê vết máu qua đi...
- Còn mãi chứ? Còn Trái Tim Bồ Tát
Gội hào quang xuống tận ngục A tỳ
Ôi ngọn lửa Huyền Vi
Thế giới ba ngàn, phút giây ngơ ngác
Từ cõi Vô minh
Hướng về Cực lạc
Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm
Và chỉ nguyện được là rơm rác
Thơ cháy lên theo với lời Kinh
Tụng cho nhân loại hòa bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này
Thổn thức nghe lòng Trái đất
Mong thành Quả phúc về Cây.
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật!
Đồng loại chúng con nắm tay nhau tràn nước
mắt
Tình thương hiện Tháp chín tầng xây.
(Sáng tác để tưởng niệm
và vinh danh của cuộc tự thiêu cao cả vì Dân tộc và Đạo Pháp của Hòa thượng
Thích Quảng Đức năm 1963)
14.
N.C.D
...Suốt từ 1949 đến 1954, cựu Hoàng Bảo Đại trong ván cờ ông chơi với Pháp
luôn luôn trong tình cảnh cô độc.
Các
nhân sĩ ít nhiều có những thành tích đấu tranh cách mạng, có danh là những
người yêu nước thì hầu như tất cả đều “chùm chăn”,
không nhìn ra nhu cầu
phải tiếp tay hy sinh với Bảo Đại cho cái quốc gia hoang sinh ấy có nhiều
thực chất quốc gia đúng cái nghĩa truyền thống lịch sử của nó. Một phần thái
độ tiêu cực này cũng bởi Pháp ngăn chặn, nhưng một phần lớn cũng bởi các vị
ấy chưa phải là những người lão luyện về chính trị, tinh thần hy sinh chưa
đạt đến chỗ vô ngã. Trong suốt 5 năm dằng co thay đổi cả chục lần Thủ tướng
mà chỉ có ba người tương đối là cựu hoàng có quyền chọn lựa: Người thứ nhất
chính là cựu hoàng. Ông tự kiêm nhiệm sau khi đuổi Nguyễn Văn Xuân, nhưng cô
độc, không đương đầu nổi với sức mạnh của Pháp, ông đành lui bước chỉ giữ
quyền pháp lý tối cao mà thôi. Người thứ hai ông mời ra là Nguyễn Phan Long,
đây là một nhà báo có lòng dạ ngay thẳng, nhưng chưa đủ mưu trí để đối phó
với áp lực của Pháp. Ông này cầm quyền được vài ba tháng, bị Pháp du vào thế
bế tắc phải rút lui. Và người cuối cùng trước khi Ngô Đình Diệm là hoàng
thân Bửu Lộc. Ông này cũng là người thanh sạch, nhiều thiện chí lại ra cầm
quyền vào lúc mà thế lực Pháp ở Việt Nam đã quá suy yếu, đã đòi được Pháp
trao trả những quyền thực tế cùng các cơ sở
của một quốc gia thực sự độc lập. Nhưng thế cờ Việt-Pháp tay ba: Pháp, Bảo
Đại, Hồ Chí Minh đến chiến dịch Điện Biên Phủ đã chuyển thành một thế cờ
Đông Dương, quốc tế phức tạp hơn. (Hai phe quốc tế đang xé Đông Dương, chủ
chốt là Việt Nam, mỗi bên sử dụng nhân sự bản xứ để thi hành những chủ đích
của mình cùng những sắp đặt với nhau). Kẻ mà cựu hoàng phải đối phó để nắm
giữ “đứa con tư thông” không còn là Pháp nữa, mà là Mỹ. Ông hoàng thân Bửu
Lộc phải rút lui và cựu hoàng phải tiếp nhận người của Mỹ: Ngô Đình Diệm.
(Thật ra Ngô Đình Diệm là người của Vatican giới thiệu cho Mỹ để Mỹ thi hành sách
lược lấy Gia-tô giáo chống Cộng. Tức là sử dụng tín ngưỡng hữu thần
(Chúa) chống tín ngưỡng vô thần-đảng Cộng Sản)...
Quốc gia hay Quốc gian
Nguyệt san Dân Quyền số 86, tháng 4/1985
Montréal, Canada
15.
NGUYỄN ĐÔN DƯ (QUỲ ƯU)
Nhân sĩ, thi sĩ tỉnh
Thừa Thiên
CHÁY
NHÀ RA MẶT CHUỘT
Đục
khoét xưa rày núp ở đâu?
Cháy
nhà thấy chuột chạy lao nhao
Dương
oai bà Hỏa vừa lên mái
Khiếp
vía ông Thiên vội ló đầu
Rường
cột rã rời phơi mặt địa
Cống
chù quay quắt chổng hàm râu
Tai
bay vạ gió đà ra rứa
Chĩnh
nếp dòm vô đã sạch làu.
Cháy nhà ra mặt
chuột
Tinh thần trào phúng
trong thi ca xứ Huế,
Hoàng Trọng Thược, Sài
Gòn 1973 trang 272.
(Bài thơ
trên ám chỉ việc dinh Độc Lập dưới chế độ Ngô Đình Diệm bị 2 phi công Phạm
Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử oanh tạc vào tháng 2 năm 1962).
16. BẢO
ĐẠI
Vị vua cuối cùng của
triều Nguyễn
Tối cao Cố vấn Chính
phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tức Chính phủ Hồ Chí Minh (1945-1946).
Quốc trưởng Việt Nam
(1948-1955).
Tác giả Le Dragon
d’Annam.
...Do
đó, tất cả các mục tiêu của Ngô Đình Diệm, từ những nỗ lực cải cách điền địa
đến việc thành lập các Ấp Chiến Lược không những đều dẫn đến thất bại
mà còn tiếp sức
cho hoạt động khuynh đảo và du kích của Cộng Sản.
Vì thế
mà ngày 20 tháng Chạp năm 1960 Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời. Mặc dù
quân đội VNCH đã có đến 150 ngàn người được Mỹ trang bị hơn hẳn quân đội của
MTGPMN mà càng ngày người ta càng nhận thấy chính quyền miền Nam bất lực.
...Cũng cần phải nói lại. Bây giờ thì có Ngô Đình Diệm. Chính tôi đã tìm ông
ta khi ông ta còn nghiên cứu về giáo lý (Thiên Chúa giáo) và được giao cho
cầm quyền. Nhưng than ôi! Chẳng bao lâu, dưới quyền hành của ông ta, nước
Việt Nam
trở thành một quốc gia do một thiểu số cai trị (oligarchique). Diệm bị những phần tử xấu bao
vây, gia đình ông ta làm hại ông ta.
Le Dragon D’Annam
Bảo Đại, Paris 1980 trang 348 và 351.
17. PHAN
QUANG ĐÁN
Bác sĩ Y khoa
Chiến sĩ cách mạng,
lãnh tụ Phong trào Ngũ Xã tại Hà Nội năm 1945-1946 chống Việt Minh.
Bộ trưởng Bộ Thông tin
Tuyên truyền Chính phủ Quốc gia Lâm thời năm 1948, chỉ 3 tháng rồi từ chức.
Theo học chính trị học
tại Đại học Harvard Hoa Kỳ cho đến 1954 thì về nước.
Đảng trưởng Đảng Cộng
Hòa. Tham gia cuộc đảo chánh Nhảy Dù 11/11/1960, bị bắt đày ra Côn đảo.
Phó Thủ tướng đặc trách
Xã hội thời Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.
Tôi là
một người có chút học vấn, cũng gọi là giao du rộng rãi, vốn là quen biết
với Tổng thống (Diệm) từ lâu mà còn gặp nhiều điều oan trái, nhiều điều bất
công trắng trợn như vậy thì thử hỏi người dân thấp cổ bé miệng hơn còn bị chà
đạp như thế nào.
Biến cố 11/11/1960
(Lời khai trước Tòa án
Quân sự Đặc biệt Sài Gòn năm 1963, nhân Tòa xử vụ đảo chánh của Nhảy Dù).
18. KIÊM
ĐẠT
Giáo sư trường Quốc học
Huế.
Nhà văn, nhà báo, nhà
thơ.
Tác giả Lịch Sử
Tranh Đấu Phật Giáo Việt Nam và các tác phẩm biên khảo khác.
Thủ
đoạn chính:
Những
hành động của gia đình Ngô Đình Diệm chủ mưu nhắm vào các mục tiêu:
1. Cô
lập chùa chiền cốt để làm giảm khí thế đấu tranh, ngăn chặn các cuộc biểu
tình, cầu nguyện, tuyệt thực.
2.
Khủng bố tinh thần và cuộc sống hàng ngày của các tăng ni, làm gián đoạn
cuộc đấu tranh.
3.
Phân hóa tinh thần dân chúng, phao vu những tin đồn nhảm, cho rằng “có Cộng
Sản trong hàng ngũ” để dễ bề khống chế.
Nhưng
thực tế vẫn xảy ra hoàn toàn trái ngược.
Càng
tấn công, phá hoại, đàn áp dã man bao nhiêu, thì trái lại dân chúng lại lăn
mình vào cuộc đấu tranh hăng bấy nhiêu”.
Lịch Sử Tranh Đấu PGVN
Kiêm Đạt, Los Angeles 1981, trang 89.
19. TÔN
THẤT ĐÍNH
Trung tướng, Quân đội
Việt Nam Cộng Hòa.
Cựu Nghị sĩ Đệ Nhị Cộng
Hòa.
Tổng
thống Diệm bị lật đổ là do hậu quả của sự phản bội của hai ông Diệm-Nhu đã âm mưu
thương thuyết với Hà Nội và sự thương thuyết ấy là do Đại sứ Ba Lan
làm trung gian.
Lời tuyên bố sau cuộc Cách Mạng 1/11/63
War of The Vanquished, Mieczylaw Maneli, New York
Harper Row 1971, trang 112.
20.
TRẦN VĂN ĐÔN
Trung tướng Quân Đội
Việt Nam Cộng Hòa.
Giám đốc An Ninh Quân
Đội và Tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia (thời Quốc trưởng Bảo Đại).
Tư lệnh quân đoàn I,
Quyền Tham Mưu trưởng Quân đội (thời Đệ Nhất Cộng Hòa).
Tổng trưởng Quốc
Phòng, Nghị sĩ Quốc hội (thời Đệ Nhị Cộng Hòa).
...Hình như Diệm và Nhu chỉ đồng ý điểm bất di dịch
là ngăn triệt sự xâm nhập của Cộng Sản. Họ chủ trương bắt bớ độc đoán, đày
ải vào các trại tập trung vô thời hạn và không được tòa án xét xử và ám sát
những thành phần dân chúng mà họ nghi ngờ là thân Cộng. Các vụ lùng bắt và
tra tấn theo kiểu quân xung phong Đức Quốc Xã bị nghe than phiền khắp mọi
nơi. Tại miền Trung, những phương pháp khủng bố tàn bạo nhất được sử dụng
theo chỉ thị và khuyến khích của Ngô Đình Cẩn. Chỉ cần bị tình nghi là Cộng
Sản hay có cảm tình với Cộng Sản là sẽ biết được những biện pháp tàn bạo của
Cẩn và đồng bọn. Ngoài ra, chính sách khủng bố cũng được đối xử cho những ai
chỉ là đối lập với chế độ như các lãnh tụ hay phát ngôn viên của các đảng
phái quốc gia hoặc đối với những cá nhân chống lại chính sách khủng bố, tra
tấn cán bộ chính quyền. Nhiều phần tử quốc gia chân chính có đường lối chống
Cộng khôn ngoan đã chạy theo Mặt Trận Giải Phóng vì cho rằng Mặt Trận còn ít
tàn bạo hơn.
Tại những vùng xa xôi,
cán bộ của chính quyền đã có những lạm dụng khủng khiếp bằng cách hoàn toàn
ngụy tạo ra những tội ác để gán cho kẻ thù của họ. Nhu và Cẩn chỉ huy những
ban Mật Vụ đặc trách những vụ đàn áp khủng bố khắp nơi.
Một chứng cớ rõ rệt về chính sách bắt bớ, tra tấn
độc đoán là hành động đối xử với một nhân vật quốc gia tên tuổi là ông Phan
Khắc Sửu, vị Quốc trưởng của năm 1964. Sau khi chế độ Diệm bị lật đổ ông Sửu
được chúng tôi giải thoát đã kể lại một câu chuyện hết sức rùng rợn.
Mặc dù ông ta không liên hệ gì đến cuộc đảo chánh
của Nhảy Dù năm 1960, ông ta vẫn bị Mật Vụ đến bắt vào đêm tối rồi đem giam
vào một cái hầm đào sâu dưới đất tại Sở Thú, cái hầm vừa nóng vừa ẩm ướt mà
lại không có không khí. Sau đó, ông được chuyển đến một trại giam khác nhưng
vẫn thường bị tra tấn. Họ đã sử dụng kiểu tra xưa cũ của Tàu là kiểu “đổ
nước” bằng cách trói tội nhân lại rồi cho từng giọt nước rớt xuống đầu làm
cho ông Sửu cảm thấy như điên cuồng. Chân của ông ta bị tê bại phải chữa trị
một thời gian khá lâu vào năm 1964 sau khi được giải thoát.
Một người khác là ông Nguyễn Ngọc Yến, chủ khách
sạn Morin (Huế), bị bắt vì bị tố cáo là thân Pháp. Đây chỉ là một thủ đoạn
để Chính phủ (Diệm) có thể chiếm hữu ngôi khách sạn của ông Yến. Hiển nhiên
là trong lúc ông Yến ngồi trong lao tù họ đã có những cung cách buộc ông Yến
bán với giá thật thấp ngôi khách sạn của ông ta cho đảng Cần Lao để sau đó
họ bán lại cho Chính phủ.
Our Endless War
Hoa Kỳ 1978 trang 66,
67.
(Mấy
tháng sau khi được trả tự do, ông Yến chết vì biến chứng của những cuộc tra
tấn. Những nạn nhân của ông Ngô Đình Cẩn như trường hợp của ông Yến hiện
sống tại Hoa Kỳ là các ông Bửu Bang, Nguyễn Văn Quế, Lê Trình, v.v...).
21.
VƯƠNG VĂN ĐÔNG
Trung tá Quân Đội
VNCH, Binh chủng Nhảy Dù.
Lãnh tụ cuộc đảo chánh
ngày 11-11-1960.
...Tôi không hề nghĩ đến việc giải tán Chính phủ
này hay thành lập Chính phủ khác. Tôi cũng không bao giờ có dự định giữ
“ghế” này hay nắm quyền kia trong Chính phủ. Tôi muốn lật đổ chánh quyền Ngô
Đình Diệm là để cởi bỏ cho đồng bào
những xiềng xích độc
tài áp bức, đồng thời xóa sạch những bất công quá quắt đầy rẫy hiện đang
lũng đoạn tinh thần chiến đấu của binh sĩ và làm tan rã hàng ngũ quân đội, giữa hăm dọa của xâm lăng Cộng
Sản đang đè nặng lên nửa mảnh đất quê hương còn lại. Tôi muốn chấm dứt một
chế độ chính trị phi nhân phản quốc. Tôi muốn thay đổi một chính sách trị
quốc. Với cuộc đảo chánh, tôi muốn xoay chiều thế cuộc, tạo ra một thời cơ
thuận lợi cho những người tài đức thật tâm yêu nước nắm lấy để rồi cùng với
toàn dân góp sức đưa nước nhà ra khỏi ngõ bí tuyệt vọng hiện nay và tiến dần
đến cường thịnh thống nhất. Hoài bão của tôi là thế...
...Theo ý tôi, để thắng cuộc chiến này, chúng ta
phải chứng tỏ cho quần chúng thấy sự khác biệt giữa Cộng Sản và Dân Chủ.
Nhân dân Nam Việt Nam chỉ thấy rằng
chính sách của ông
Diệm giống như đúc của Cộng Sản-nếu không muốn nói là còn tệ hơn. Tại Nam Việt Nam cũng có trại
tập trung, bầu cử gian lận, kiểm soát chính trị trong quân đội và hoàn toàn
kiểm soát dân chúng như trong một chế độ Cộng Sản. Và ngoài ra, tham nhũng
lại lan tràn trong mọi cấp của chế độ Diệm.
Hoa Kỳ sẽ không tham dự vào một cuộc chiến không
tuyên chiến và dai dẳng để chống lại Cộng Sản tại Nam Việt Nam. Dư luận quốc
nội sẽ không cho phép điều đó nếu người Mỹ thấy rằng họ không thắng được
cuộc chiến đó và dù có thắng thì chế độ Diệm cũng chẳng khác gì chế độ Cộng
Sản.
Biến Cố 11-11-1960
Trần Tương, Sài Gòn
1971 trang 60 và 136
22.
THƯỜNG ĐỨC
Trước hết, về mặt tích cực cách mạng: ông Trình
Minh Thế xuất thân là một nông dân, nên có tinh thần cách mạng triệt để hơn
ông Diệm. Hành động ly khai quân đội giáo phái vào bưng kháng chiến của ông
đã đẩy cách mạng tới giai đoạn bạo lực cần thiết cho công cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc. Trong khi đó
Diệm là một quan lại
nửa Nho nửa Tây nên tinh thần bảo thủ chỉ nhắm vào việc nắm giữ quyền lực. Từ khi là một quan lại dưới
triều Nguyễn cho đến lúc giữ chức vụ Thủ tướng sau ngày về nước, mặc dầu có
dấu hiệu ông có tinh thần bài Pháp, nhưng tự bản chất nêu trên thế nào ông
cũng có sự liên hệ quan lại với Pháp, do đó, bài Pháp là nhu cầu muốn nắm
giữ quyền lực độc tôn mà không xuất phát từ tinh thần cách mạng triệt để.
Phong trào kháng chiến Trình Minh Thế đã chống tinh thần phong kiến Bảo Đại,
nhưng lại hợp tác với Diệm, một biểu tượng tinh thần phong kiến khác...
Trong cuốn “Wars in the Shadow” có đoạn ghi lại lời một nhà ngoại giao Mỹ đã
nói với tác giả “một nửa những khó khăn của chúng ta sẽ tiêu tan nếu Diệm là
một kẻ mồ côi”.
...Cuối cùng, con cáo già Lansdale đã làm chủ được
vấn đề và kết quả đạt mục tiêu mình không khó khăn. Để rồi sau đó Lansdale
ủng hộ Diệm chặt chẽ hơn... Sau khi thu xếp một cuộc tổng tuyển cử cho Diệm,
trước ngày lên đường đi Hoa Thịnh Đốn để lánh mặt, Lansdale đã nói với Diệm:
“Trong lúc đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên đọc được tin ông đã thắng
99.99%. Tôi biết đó là âm mưu sắp đặt trước...”. Sau đó ông Diệm đã thắng
98%...
Điểm sách Phong trào Kháng chiến Trình Minh Thế
Nguyệt san Thanh niên
Hành động số ra mắt ngày 1-8-1985, San Jose Hoa Kỳ.
23. BÙI
NGỌC ĐƯỜNG
Giáo sư
Giám đốc Sinh Viên Vụ,
Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.
Chủ biên Tạp chí
Chấn Hưng, Los Angeles.
...Trước khi chống Cộng, TT Diệm đã tiến hành chính
sách tiêu diệt các đảng phái quốc gia và các tôn giáo không phải là tôn giáo
mình, còn ai nữa để mà chống Cộng?
...Khi quân lực, thành trì cuối cùng và vững chắc
nhất của chế độ phải đứng lên lật đổ chế độ đó thì điều duy nhất có thể hiểu
là chế độ đó đã tự hủy diệt và sụp đổ. Điều này có nghĩa là chính ông Diệm
và Bộ Tham Mưu của ông đã
tự tiêu diệt sinh mệnh
của mình và của cả chế độ trong giòng sống của dân tộc...
...Vì không thể ngoan ngoãn, câm nín, chịu đựng nên
dân chúng đã nổi lên lật đổ một chế độ (NĐD) bạo quyền. Đây là một hành động
chính trực. Nói như ngày xưa là “thuận lòng trời, hợp lòng dân”.
Phạm Kim Vinh, ông là ai?
Tạp chí Khai Phong, số 9, Los Angeles
1983.
24.
THÍCH HỘ GIÁC
Thượng tọa.
Uỷ viên trung ương
Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Thống Nhất VN.
...Người Tây phương và Hoa Kỳ đã hiểu lầm Phật
giáo, thế nên mới có tâm lý chủ bại tại Việt Nam hiện nay. Người Mỹ nghĩ
rằng Phật giáo thân Cộng và đã không giúp đỡ gì cho Phật giáo nhưng
chúng tôi đã hy
sinh bao xương máu mà vẫn bị Chính phủ phản bội. Phải nhớ rằng quân đội có 80%
binh sĩ theo đạo Phật, và nếu người Mỹ muốn ở lại Việt Nam, họ phải chấp
nhận Phật giáo là nền tảng căn bản của xã hội Việt Nam. Họ phải thực tình
giúp đỡ Phật giáo...
...Phật tử có cùng một thái độ với nhân dân, nguyện
vọng của nhân dân là nguyện vọng của Phật tử...
The New Face of Buddha
Jerold Schecter - nhà
xuất bản John Weatherhill Inc. Tokyo 1967 trang 165.
25.
TRƯỜNG GIANG
Nhân sĩ tỉnh Phú Yên
...Sau ngày 20-7-1954, đất nước chia hai, bao nhiêu
xương máu của nhân dân tỉnh Phú Yên cũng như cả nước đổ ra để Cộng sản cướp
công và lộ nguyên hình theo lệnh quan thầy Nga, cắt chia tổ quốc Việt Nam
làm hai.
Ngày cụ Ngô Đình Diệm về nước, người dân Phú Yên
hân hoan tưng bừng đón nhận như một cái gì cởi mở họ ra khỏi 9 năm nghẹt thở
và dành cho Cụ Diệm một cuộc tiếp đón gần 90 ngàn người tại sân bay Cóp Chãi
năm 1954.
Oái ăm thay! Bao nhiêu mơ ước hy vọng cứ mỗi ngày
lại chìm đắm. Bởi lũ cường hào ác bá ở nông thôn được chính quyền sử dụng và
yểm trợ bóp cổ người dân, song với
sự lấn áp tôn giáo
cùng Đảng Cần Lao đã xâu xé người dân và đưa đến sự sát hại (1960). Bác sĩ Nguyễn Trọng Thiện,
Dân biểu đơn vị Phú Yên thời Đệ Nhất Cộng Hòa đến thôn Mậu Lâm, thôn Ngọc
Lành thuộc xã Hòa Quang chứng kiến.
Xuất phát từ truyền thống đấu tranh cho Tự Do, Độc
Lập và Dân chủ, nhân dân Phú Yên đã họp nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Đại
Việt Quốc Dân của cố đảng trưởng Trương Tử Anh liên kết với một số Bảo An
đoàn làm cuộc đảo chính cướp chính quyền vào năm 1954, nhưng bị thẳng tay
đàn áp.
Lương Duy Uỷ, Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên lúc bấy giờ
đến làng Nam Cẩm thuộc xã Hòa Phong, quê hương của cụ Trương Bội Hoàng, đích
thân chỉ huy cuộc đàn áp và mạt sát.
Chính chế độ Ngô Đình Diệm là chế độ người dân hy
vọng nhất, có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để kết hợp toàn dân đại
đoàn kết thành một khối để chống Cộng Sản hữu hiệu và bảo vệ mảnh đất miền
Nam Tự do ngõ hầu về lâu, về dài giải thoát đồng bào ruột thịt ở miền Bắc.
Trái lại, chế độ ngày càng đi sâu vào tội lỗi, làm
mất lòng dân với chính sách cai trị và cũng vì chính sách đó, chế độ đã đẩy
biết bao người dân vào ngõ cụt, đường cùng. Đồng thời bản chất của Cộng
Sản, đã lợi dụng cơ hội bất mãn của người dân đối với chế độ để khai thác
tối đa những nhược điểm của chế độ Diệm nên biết bao nhiêu nhân lực địa
phương từ bỏ ruộng vườn để vào bưng biền để rồi ngày nay trở thành những kẻ
đắc tội với Dân Tộc.
Chính ông Nguyễn Hữu Thọ bị chế độ Ngô Đình Diệm
đày ra Phú Yên. Và khởi điểm từ đấy đi vào Bưng làm Chủ tịch Mặt trận Dân
tộc Giải phóng miền Nam...
Hy vọng tan như mây
khói
Nguyệt san Thức tỉnh
số 97-98, Los Angeles, Hoa Kỳ, Xuân 1983.
26. VÕ
VĂN HẢI
Chánh văn phòng Đặc
biệt Phủ Tổng Thống từ 1954-1963.
Tham gia tổ chức chính
trị của ông Diệm từ năm 1945.
...Tôi đồng ý về việc Trung tá (Vương Văn Đông).
Dinh Độc
lập không thể để một bọn đĩ điếm ở được. Nhưng trong hoàn cảnh hiện
tại, kéo dài một cuộc chiến đấu chỉ có lợi cho Cộng Sản... Tôi xin làm trung
gian giữa ông Diệm và Trung tá để tìm một giải pháp ổn thỏa có thể tránh
được sự lợi dụng của Cộng Sản và đồng thời đáp ứng được đòi hỏi của phe nổi
dậy. Giải pháp này có thể là lâm thời giữ ông Diệm làm đại diện quốc gia
không quyền hành pháp. Gạt bỏ gia đình Nhu và Cẩn ra khỏi chính trường Việt
Nam. Cải tổ Chính phủ.
Biến cố 11-11-1960
Trần Tương, Sài Gòn
1971 trang 109.
(Trích
hồi ký của Trung tá Vương Văn Đông kể lại cuộc điều đình giữa phe Nhảy Dù
đảo chính và Chính phủ Ngô Đình Diệm do ông Hải làm đại diện).
27.
HUỲNH VĂN HẢI
Tiến sĩ Sử học, Đại
học Sorbonne, Paris.
Nhân chứng về cuộc tự
thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức.
...Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Diệm bất đắc dĩ phải
tiếp phái đoàn Phật giáo gồm 5 vị: Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành
Trụ, Tâm Châu và Đôn Hậu, nhưng ông Diệm đã không thực tâm giải quyết vấn
đề. Do đó, ngày 16 lại có nhiều cuộc tuyệt thực khác và biểu tình rầm rộ
trước Quốc Hội, nhưng chính quyền vẫn không đả động gì đến những yêu cầu của
Phật giáo đồ... Bây giờ câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là việc tự thiêu,
người hưởng ứng đầu tiên là Ngài Quảng Đức.
... Lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, tôi
dìu Ngài ra đến cổng chùa, thầy Đức Nghiệp mở cửa chiếc xe Austin đã đậu
sẵn, mời Ngài lên. Xe gặp đường Phan Đình Phùng quẹo phía trái là đường Lê
Văn Duyệt, tài xế dừng xe lại, xung quanh tôi các tăng ni đã đứng chật ních
bao vây ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng.
Tay trái tôi xách thùng xăng, tay mặt tôi dìu Ngài
bước ra xe và mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay
trái. Tôi cầm thùng xăng đáng lẽ tưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ
mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Ngài mở hộp diêm rút 5, 6
que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho
tượng trong khi các tăng ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm: A Di Đà Phật.
Tiếng niệm Phật rất não nùng thê thảm trong lúc
ngọn lửa càng bốc cao, phủ kín cả người Ngài, nhưng Ngài vẫn ngồi vững như
bàn thạch chấp hai tay trước ngực.
Sau 7 phút toàn thân Ngài ngã xuống nhưng hai tay
vẫn còn chắp trên ngực. Xung quanh các tăng ni vừa bái lạy vừa khóc, vừa
niệm Phật, nhưng có một người vẫn đứng thẳng như một trụ đá, không khóc, nét
mặt rất đau thương đến độ trông rất lạnh lùng, chấp hai tay nhìn thẳng vào
thân xác cháy đen của Ngài Quảng Đức. Đó là Thượng Tọa Thích Tâm Châu mà nay
là Hòa thượng tu hành tại nước Pháp.
Ngài Quảng Đức đã hiến mình cho Đạo Pháp bằng cách
an nhiên tọa thuyền trong biển lửa cao ngút. BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC đã tự đốt mình
để bảo vệ Đạo Pháp lúc lâm nguy và để bảo vệ quyền Tự Do Tín Ngưỡng. Hành
động can đảm và tuyệt vời này của Ngài đã làm cả thế giới khâm phục và đã
thức tỉnh lương tri nhân loại rằng đàn áp, chém giết chỉ gieo rắc thêm hận
thù. Bạo lực sẽ thất bại trước TỰ DO, CÔNG BẰNG, TÌNH THƯƠNG và lòng KHOAN
DUNG.
Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử
Nguyệt san Chấn Hưng
số 4 tháng 8 năm 1985
Trang 2, 3 và 19. Los Angeles, Hoa Kỳ.
28.
THÍCH NHẤT HẠNH
Tu sĩ Phật giáo. Nhà
văn. Nhà thơ.
Tác giả: VietNam,
Lotus In A Sea Of Fire, Đối Thoại Cánh Cửa Hòa Bình, Bông Hồng Cài Áo, Nói
Với Tuổi Hai Mươi, Tương Lai Văn Hóa v.v...
...Công lao quý giá nhất mà Tổng thống Diệm đã đóng
góp là việc tạo ra được ý thức về sự khác biệt giữa phong trào kháng chiến
quốc gia và những người Cộng Sản.
Đặc biệt tại thành phố, thành phần trí thức và tiểu
tư sản bắt đầu hiểu và ủng hộ các chính sách chống Cộng của chính quyền
Diệm. Điều này đạt được là nhờ vào cái hào quang bao quanh việc chế độ đã
dành lại được chủ quyền cho Việt Nam. Nhiều chương trình do ông Diệm đưa ra
vốn được quan niệm đúng và đã có thể thành công tốt, nhưng chính quyền thì
ngày càng thối nát và thiếu hiệu năng vì cái gì ông Diệm cũng muốn chính
mình kiểm soát lấy hết, và vì ông không kêu gọi sự hợp tác trong Chính phủ
của ông từ những người quốc gia có tài và không Cộng Sản.
Từ khi bắt đầu nắm chính quyền, ông Diệm không bỏ
phí một nỗ lực nào nhằm triệt hạ mọi hình thức đối lập, và ông không tin
tưởng vào ai ngoài bà con và giáo hội của ông. Trừ một số ít có khả năng,
cộng sự viên chung quanh ông là một nhóm nịnh thần chỉ lo củng cố địa vị
bằng cách dựa vào chính quyền và giáo hội.
Tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ có nhiều nhóm
muốn tham chính với hy vọng làm cho chính quyền trở nên thực sự có tính cách
đại diện. Cao Đài và Hòa Hảo là những tập thể có quân đội riêng và kiểm soát
một vài vùng đất. Họ dựa vào những cứ địa đó và lực lượng quân sự để làm bàn
đạp tìm cách tham dự vào chính quyền. Tuy nhiên, ông Diệm và các cố vấn Mỹ
đã quyết định ngược lại là dùng võ lực loại trừ các tập thể này với lý do
không thể chấp nhận tình trạng một quốc gia trong một quốc gia. Chế độ Diệm
quyết tâm loại trừ tất cả mọi phe đối lập, nhưng lại không nghĩ gì đến việc
chấn chỉnh các lực lượng không Cộng Sản tại miền Nam Việt Nam. Ông Diệm hoàn
toàn dựa vào việc loại trừ bằng bạo lực thay vì dùng những phương cách chính
trị nhân bản hơn để củng cố sự tồn vong của quốc gia...
VietNam, Lotus In A
Sea Of Fire
Thích Nhất Hạnh, New
York 1967, trang 56, 57.
29.
TRẦN SĨ HUÂN
Kỹ sư Công Chánh
Tác giả Bóng Ngày
Qua (1992)
...Thời Cụ (Kỹ sư Trần Văn Bạch) lên voi là lúc ông
Ngô Đình Diệm mới về nước làm Thủ tướng, mời Cụ làm Tổng trưởng Công Chánh
năm 1954-1955. Đến khi Cụ xuống ghế, tôi gặp lại thì Cụ bảo Cụ là người dám
đứng giữa sân cờ Bộ Công Chánh chào cờ mà không chịu hô “Ngô Đình Diệm muôn
năm!” Cụ nói có ai sống muôn năm đâu. Rồi
tụi nó chụp mũ Cụ thân
Bình Xuyên để cất chức. Làm chính trị mà ăn nói như Cụ thật
chỉ có rước họa vào thân, may mà Công an còn để yên cho Cụ đi dạy học.
Nhớ Thầy
Nội san Lá Thư Công
Chánh số 14, Sacramento 11-1979.
30.
MINH HUY
Nhà văn.
...Sự việc quân đội
lật đổ triều đại Ngô
Đình để giải cứu nhân dân khỏi cảnh lầm than, còn cử chỉ
cứu quốc nào cao đẹp hơn nữa.
Quân Đội, Một Lần Nữa
Ra Tay Cứu Nguy Cho Dân Tộc
Tạp chí Minh Tân, Hội
Khổng Học Việt Nam, Sài Gòn, số tháng Giêng 1964, trang 5.
31.
NGUYỄN NGỌC HUY
Tiến sĩ Luật khoa đại
học Paris.
Giáo sư Học Viện Quốc
gia Hành chánh.
Khoa trưởng trường Đại
học Luật khoa và Khoa học Xã hội Viện Đại học Cần Thơ.
Giáo sư trường Chính
trị Kinh doanh Đà Lạt.
Đảng viên cao cấp Đại
Việt Quốc Dân Đảng (1945-1963).
Chủ tịch phong trào
Quốc gia Cấp tiến.
Có ba người trước sau đã không quyết tâm thực hiện
đoàn kết quốc gia “gây nên sự sụp đổ làm mất miền
Nam”.
Người thứ nhất là Bảo Đại. Năm 1949, tất cả mọi
đảng phái quốc gia đã hết lòng mong mỏi ông ta đứng ra làm công cuộc kết hợp
để chống lại Cộng Sản. Nhưng vì thiếu cương quyết và thiếu đạo đức, ông ta
đã làm mất cơ hội hiếm có để các đảng phái, phe nhóm, giáo phái, phải tự lực
đấu tranh trong những điều kiện hết sức thiếu thốn nên không thành công.
Người thứ hai là Ngô Đình Diệm. Sau năm 1954, không
khí thật là thuận lợi để làm một cuộc đoàn kết chặt chẽ giữa mọi thành phần
đảng phái và tôn giáo, giáo phái. Tiếc thay ông Diệm sai lầm một lần nữa khi
ra tay tiêu diệt hết các lực lượng này.
Khi chỉ còn một mình
ông, gia đình và phe nhóm của ông trên chính trường, sự tan vỡ của phe quốc
gia là điều tất nhiên.
Người thứ ba là Nguyễn Văn Thiệu. Sau năm 1967,
Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa cho ông ta một cơ hội tốt nhất để làm công cuộc
đoàn kết, ông đã không làm. Đến 1968, sau trận Mậu Thân, đáng lẽ không còn
chần chờ gì hơn thì ông cũng không làm gì thêm. Đến khi ký hiệp định Paris
là đoạn chót rồi cũng không thấy một cố gắng nào để tạo sức mạnh tổng hợp
đoàn kết dân tộc.
Lãnh đạo quốc gia không đoàn kết nổi thì mấy ai có
thể đoàn kết được? Lịch sử Việt Nam vừa qua để lại ba trường hợp bỏ lỡ cơ
hội đoàn kết đau đớn.
Tuần báo Việt Nam Tự
Do bộ mới số 10 ngày 28 tháng 6 năm 1980.
Trang 4 và 5, Orange
County, Hoa Kỳ.
32.
TRẦN VĂN HƯƠNG
Giáo sư Trung học.
Đô trưởng Sài Gòn
(thời Thủ tướng Ngô Đình Diệm).
Năm 1960 cùng với 17
nhân sĩ ra Tuyên ngôn chống chế độ Diệm, bị câu lưu.
Thủ tướng Chính phủ
thời Quốc trưởng Phan Khắc Sửu.
Phó Tổng thống Việt
Nam Cộng Hòa (thời Nguyễn Văn Thiệu).
LAO
TRUNG LÃNH VẬN
Mấy vần thơ lạnh ở trong lao,
Khéo vụng dù ai hiểu thế nào;
Thương cũng cảm ơn, cười cũng chịu,
Hỏi người thông cảm độ chừng bao?
Ở TÙ
SƯỚNG QUÁ NÈ
Ra đi người bảo: khổ đa nghe!
Ai ngỡ vào đây sướng quá nè!
Sáng hưởng bánh Tây dồn thịt nguội,
Đêm nằm ghế bố xủ màn the.
Đèn chong thường bữa soi tràn cửa1
Lính gác thâu canh diễn khắp hè.
Giả lặng cười vui cho hết buổi,
Bên lòng nặng trịu mối còn đe.
(1) Ở xà lim bóng mặt trời chiếu vào rất ít vì vậy
nên mấy cái đèn néon ngoài hành lang để cháy ngày lẫn đêm cho sáng khắp cả
để cho dễ bề kiểm soát người bị giam ở trong (ghi chú của tác giả bài thơ).
Biến Cố 11-11-1960
Trần Tương, Sài Gòn
1971, trang 582, 583.
(Sau
cuộc đảo chánh của Nhảy Dù năm 1960, ông Trần Văn Hương bị tình nghi và bị
bắt giam. Ngồi trong tù ông thường làm thơ để mỉa mai chế độ Diệm. Trên đây
là hai bài do ông sáng tác khi bị bắt giam vào nhà lim tối).
33.
NGUIỄN NGU Í
Nhà văn.
Nhà báo.
...Vì dưới chế độ cũ, lực lượng gồm những phần tử
ưu tú này của đất nước đã
bị nhà cầm quyền lũng
đoạn bằng đủ mọi cách: chia rẽ, khủng bố, mua chuộc, cho nên hàng ngũ sinh viên có
thể coi như gần tan rã và quốc dân gần như chẳng biết đến sự hiện diện của
một Tổng Hội Sinh Viên hữu danh vô thực. Nhưng từ khi Phật giáo bị đàn áp
trắng trợn, người sinh viên ở Huế, rồi ở Sài Gòn đã đứng lên
tham gia vào cuộc
chống lại chế độ bạo tàn của họ Ngô, đã khiến đồng bào thương mến và quý
trọng họ.
Sinh viên sau ngày
1-11-1963
Nguyệt san Minh Tân,
Hội Khổng Học Việt Nam số tháng Giêng 1964, Sài Gòn, trang 28.
34.
TRẦN VĂN KHIÊM
Luật sư.
Em trai bà Ngô Đình
Nhu.
Năm 1963, được anh chị
là ông bà Nhu cử thay thế ông Trần Kim Tuyến trong chức vụ “Giám Đốc Nha
Nghiên cứu Chính Trị”.
...I fear I will swing by the neck with the rest in
rue Catinat even though I am innocent (tạm dịch: Dù vô tội, tôi vẫn sợ sẽ bị
treo cổ cùng với những người khác ở đường Tự Do).
The Last Confucian
Dennis Warner, Penguin
Books, Baltimore, Hoa Kỳ 1963, trang 22.
(Lời
Trần Văn Khiêm than phiền với bạn là ký giả Denis Warner khi Khiêm nhận thấy
chế độ (Diệm) càng ngày càng tồi tệ, tham nhũng càng khủng khiếp, không
tránh khỏi được một cuộc đảo chánh).
35. VŨ
NGỌC KHUÊ
Nhà báo.
...Sự bồng bột của quần chúng trong
cuộc trỗi dậy của Lẽ
Phải không phải là sự bồng bột của lòng người trong một ngày Đại Hội, mà nó chứa
đựng những gì vĩ đại của hồn nước, nó mạnh như vũ bão, sôi sục như vật chất
đang tan chảy trong lòng núi lửa. Hiện tượng ấy, Boris Pasternak bảo là sự
“ngàn sao cũng họp mít tinh, nhà cửa cũng cuồn cuộn bước đi biểu tình”,
nghĩa là thiên nhiên cũng đã cúi xuống hưởng ứng với lòng người đang bốc
cháy, vô tri cũng cướp lấy linh hồn của sống động để đồng ca. Sự sôi sục ấy
có sức mạnh chuyển hướng cả lịch sử, đốt cháy lịch sử, làm sống lại quá khứ,
cướp chặng đường nhiều năm bị kềm tỏa để tiêu xài trong giây phút cái năng
lực tiềm tàng bị dồn ép đến tột độ. Sự bùng nổ ra ấy, chính là sự trỗi dậy
của Lẽ Phải, nó là Cách Mạng, là sự đổi dời, nghĩa là những sự kiện Hung Gia
Lợi nổi dậy, là cái chết của Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Menderes, là sự chạy trốn
của Lý Thừa Văn, Batista, Péron, và mới đây là cái chết tủi nhục của hai ông
Nhu-Diệm.
Sự trỗi dậy của Lẽ
Phải
Nguyệt san Minh Tân,
Hội Khổng Học Việt Nam số tháng Giêng 1964, Sài Gòn, trang 13.
36. LÊ
BÁ KÔNG
Giáo sư
Nhà văn.
Trí thức Thiên Chúa
giáo.
Dịch giả của Phủ Tổng
thống thời Đệ I Cộng Hòa.
... Nhưng oái ăm thay, quân đội của chúng ta trưởng
thành bao nhiêu thì
chế độ gia đình trị
của nền Đệ Nhất Cộng Hòa cũng được củng cố theo nhịp độ đó. Chúng tôi
không muốn nhiều lời bình phẩm về những khuyết điểm đáng tiếc của chế độ gia
đình trị, lên tới cao điểm vào những năm 1959 tới 1963.
The Vietnam Syndrome
(mặc cảm Việt Nam)
(In English and
Vietnamese) Nhà xuất bản Ziekleks, Texas trang 55.
37.
NGUYỄN CAO KỲ
Thiếu tướng Không
quân.
Phó Tổng thống VNCH
1967-1971.
...Càng về dài Diệm càng cảm thấy rằng
ông ta là người do
Thiên Chúa sai xuống để cứu rỗi Việt Nam đến độ ông ta đã giao tất cả
mọi chuyện cho cố vấn của ông ta.
Trong trường hợp này, em trai của ông ta là Cố vấn
Chính trị tối cao, và cũng là chỉ huy trưởng Lực lượng Mật vụ, thì không
những tàn ác và tham nhũng mà còn
lấy một người đàn bà
cũng tàn độc và gian ác làm vợ.
Twenty Years and
Twenty Days
Stein and Day
Publisher, New York 1976, trang 32.
38. LƯU
KỲ LINH
Thi sĩ tiền chiến,
đăng thơ trên Hà Nội Báo, Tao Đàn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Có tên trong “Thi
Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Anh ruột thi sĩ Lưu
Trọng Lư.
TRÁI
TIM BI DŨNG
I
Ngùn ngụt lửa hồng vây
lớp lớp,
Chắp tay ngồi lặng
niệm Nam Mô.
Ma duồng theo lửa,
lồng lên gió,
Quảng Đức dâng mình
giữa Thủ Đô.
Niệm năm điều nguyện
niệm Nam Mô.
Rực đỏ trời Nam hận Cố
Đô;
Xe sắt nghiến tan
xương Phật tử,
Sông Hương trào máu
thuở nào khô?
Niệm năm điều nguyện
niệm Nam Mô,
Tiếng nấc vang vang
rợn đáy mồ.
Gương mặt Từ Bi ngời
dũng khí,
Cao Tăng quyết liệt
diệt hung đồ.
Từng xanh mây trắng nở
hoa sen,
Năm sắc cờ bay dáng
dịu hiền.
Ríu rít chim cành hòa
tiếng kệ,
Xác đen gục xuống ánh
vàng lên.
Tan tác khói mù lẫn
quái điện,
Tây phương chói lọi
ngự xe Thiền.
Hàng hàng đệ tử rưng
rưng lệ,
Vì Đạo quên mình ai
dám quên.
II
An dưỡng nơi này lại
hiển linh,
Tuổi vàng càng chứng
quả Vô Sinh.
Tim không ghê lửa trời
nao núng,
Máu chẳng thành tro
quỷ khiếp kinh.
Tuồng giả trên đời rồi
biến ảo,
Cơ mầu trước mắt đã
xương minh.
Mười phương dâng ngọc
ta xây tháp,
Thờ trái tim Thầy: Đạo
kết tinh.
Một thiên sử Phật ghi
màu lửa,
Dọi chút dư quang sử
Việt nhà.
Nghìn tám trăm năm ơn
Pháp nhũ,
Dưỡng thành Quảng Đức
giống nòi ta.
(Bài thơ
làm sau cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn ngày
11-6-1963)
Xứ Trầm Hương
Quách Tấn, Sài Gòn
1969, trang 452.
39. CHU
BẰNG LĨNH (tức Ký giả MẶC THU)
Nhà văn, nhà báo.
Chủ nhiệm Nhật báo
Người Việt Tự Do, Sài Gòn.
Tác giả Đảng Cần
Lao Nhân Vị Cách Mạng
Đảng Cần Lao Ngô Đình Cẩn lột xác một lần thứ hai
khi chủ trương “vì Chúa và cho Giáo hội” được chánh thức đề ra, thay
thế cho chủ trương “Ba Chống Ba Vâng” cố hữu. Các tướng tá từ đây tuyên thệ
trước mặt Cẩn theo hình thức mới: Thay vì những buổi lễ khi trước, tổ chức
cực kỳ trọng thể tại tư dinh ngài Cố vấn Chỉ đạo miền Trung ở Phú Cam, dưới
bóng Quốc kỳ và Đảng kỳ (có ngôi sao trắng trong vòng tròn ở chánh giữa lá
cờ), thì nay lễ tuyên thệ được tổ chức ngay ở chánh điện trắng của giáo hội,
và dĩ nhiên vẫn trước sự hiện diện đích thân của ông lãnh chúa Ngô Đình Cẩn.
Nhưng nếu trước kia chỉ có một cẩm đôn bọc nhung đỏ để trên hết cho “ông
Cậu” ngự, chủ tọa lễ tuyên thệ như hồi nhận tuyên thệ của hai tướng vào
Đảng, thì nay hai chiếc ghế được đặt ngang hàng nhau: một chiếc là của Giám
mục Phạm Ngọc Chi ngồi, với bộ áo thêu kim tuyến vàng, tay cầm cây gậy chăn
chiên của các Giám mục, và đầu đội chiếc nón nhọn của các hàng Giáo phẩm đại
diện Đức Thánh Cha. Còn chiếc ghế kia thì ông Cẩn ngồi, trong bộ áo dài đen
quần trắng quốc phục, chân mang dép, miệng nhai trầu, tay cầm chiếc quạt
giấy có nan, xếp lại được.
Bóng quốc kỳ không còn
thấy xuất hiện trên tường như khi xưa, như lúc này. Cẩn mang chéo
trên vai xuống vòng qua ngực một giải lụa vàng và ba sọc đỏ, in hệt tấm “Bảo
quốc Huân chương” vậy.
Và không những chỉ có bài trí của buổi lễ tuyên thệ
là khác mà thôi. Cả đến lời thề cũng không còn như trước nữa: Khi xưa trong
giai đoạn của “Hội Hữu Hạn” đảng viên tuyên thệ phải thề tuyệt đối trung
thành với ông Diệm, với Cẩn và với các đấng “thay mặt cho Chúa”, là các Cha.
Nhưng ngày nay,
đảng viên phải thề
tuyệt đối trung thành với Giáo hội Công giáo, và chỉ có vậy! Cái tên ông
Diệm, Cẩn, không còn được đọc lên trong buổi tuyên thệ nữa. Khi trước, đảng
viên đặt tay vào ngực, cúi đầu thề “đem hết thể xác và tâm hồn ra chống
Cộng, chống Phật giáo, và chống các đảng quốc gia”, thì đảng viên phải quỳ
gối, hai tay chắp trước ngực, trong dáng điệu kẻ dâng đời mình cho Chúa và
thề “đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chống Cộng Sản
vô thần (thêm hai chữ Vô Thần), và chống Phật giáo ma quỷ (thêm hai chữ Ma
Quỷ) và chống các đảng quốc gia (bỏ đi hai chữ phản loạn khi xưa).
Cẩn nhận lời thề bằng cách đứng dậy đặt tay lên vai
kẻ tuyên thệ, rồi lại ngồi xuống. Còn Đức giám mục đóng vai chánh! Ngài vẫn
ngồi, đặt bàn tay lên đầu kẻ tuyên thệ, rồi đọc lại các câu La Tinh có nghĩa
là: “Chúa sẽ ở cùng con” và rồi Người ban phép lành cho kẻ mới vào đảng”.
Đảng Cần Lao Nhân Vị
Cách Mạng
Sài Gòn 1971, trang
407-409
40.
NGUYỄN LONG (biệt hiệu THÀNH NAM)
Chánh Thư Ký Hội Phật
Giáo Hòa Hảo Việt Nam (trước 1975).
Uỷ viên trong Dân Xã
Đảng.
Tác giả Phật Giáo Hòa
Hảo Trong Giòng Lịch Sử Dân Tộc (1991)
Lịch sử Phật Giáo Hòa Hảo được chia ra các giai
đoạn sau đây: - 1939-1945: Lập đạo, truyền đạo, nhưng bị thực dân Pháp kềm
hãm, cấm đoán, đàn áp; Huỳnh Giáo chủ phải biệt xứ 5 nơi khác nhau.
...
- 1955-1963: Triều đại Ngô Đình Diệm,
không được tự do
hành đạo, vẫn bị đàn áp.
(Diễn
văn đọc tại San Diego ngày 6 tháng 4 năm 1986 nhân lễ Tưởng niệm ngày Đức
Huỳnh Giáo Chủ ra đi).
Tạp chí Việt Nam
Hải Ngoại số 117 ngày 30/4/1986.
41. ĐỒ
HOA LƯ (một trong các bút hiệu của ông ĐINH THẠCH BÍCH)
Luật sư
Cộng sự viên thân tín
của Tướng Trình Minh Thế.
Chủ biên Tạp chí Việt
Nam Hải Ngoại (San Diego - Hoa Kỳ).
Việt Nam Cộng Hòa thừa hưởng một xã hội do Thực dân
Pháp để lại. Bọn phong kiến của xã hội cũ, bám chặt Thực dân núp sau chiêu
bài chống Cộng để sống nốt những ngày tàn.
Ngô Đình Diệm dựa vào tầng lớp cặn bã ấy để củng cố
quyền hành, dập tắt mọi cơ hội vươn lên của dân tộc, tạo mảnh đất màu mỡ cho
mầm Cộng Sản mọc nhánh. Ngô Đình Diệm với bản chất
quan lại, với định kiến hẹp hòi, đã không thể có nổi một nhãn quang tiến bộ
hầu đặt nền móng cho một xã hội mới Việt Nam đủ tấn tiến để theo kịp đà đi
của thế giới và đủ tự do, dân chủ, công bằng để tạo nên một kháng tố đương
nhiên loại trừ Cộng Sản. Ngược lai, Ngô Đình Diệm đã cấu kết với tầng lớp
Đốc Phủ Sứ để trở thành một thứ “quan cai trị” xây dựng quyền hành trên sự
tuân phục của bầy tướng tá xuất thân Khố xanh, Khố đỏ do Thực dân Pháp để
lại và ngoảnh mặt đi trước các lực lượng dân tộc từng dày công kháng Pháp,
diệt Cộng. Hơn thế nữa,
với sự tiếp tay của
quan thầy Mỹ, họ Ngô đã thẳng tay đàn áp, tàn phá tất cả các lực lượng dân
tộc để “độc quyền yêu nước”.
Một mình ở chính quyền suốt một thập niên, họ Ngô
đã không vạch nổi một đường đi tới cho xã hội Việt Nam. Cả một xã hội bơ vơ
không định hướng. Thang giá trị cổ truyền bị thời thế phá vỡ để rồi không có
một thang giá trị mới thay vào. Dân tộc nuốt đi bao nguyện vọng tha thiết để
hàng ngày nhìn thấy một “ông lãnh tụ” khăn đóng áo dài vây quanh bởi một bầy
nha lại và một bọn tướng tá vô hạnh bất tài cai trị theo kiểu “quốc gia là
ta”. Cả một xã hội loay hoay theo chiều loay hoay của người lãnh đạo.
Xã hội không có hướng đi thì Cộng Sản mời gọi một
hướng đi. Hướng đi có cái đúng có cái sai nhưng xã hội không thể một ngày
không định hướng. Hướng đi Cộng Sản dĩ nhiên là sai nhưng ít ra chúng có một
cái gì để mời gọi người ta đi tới... còn hơn là đứng đó chịu đòn, nuốt thầm
nguyện vọng để không biết ngày mai, đời sau ra sao, ngoại trừ hàng ngày
chứng kiến những điều chướng tai gai mắt của một tầng lớp thống trị cặn bã,
vây quanh một “ông lãnh tụ” khăn đóng áo dài dạy dỗ những điều cổ lỗ phong
kiến, lai một chút giáo điều La Mã.
Chó Nhảy Bàn Độc
Nguyệt san Việt Nam
Hải Ngoại, số 7 ngày 1-9-1977. San Diego, Hoa Kỳ.
42.
TRẦN PHỐ MINH
...Bá sinh vào tháng 5 năm 1945. Người Sa Đéc. Gia
đình thuộc giới thượng lưu trí thức miền Nam. Ông và bà cụ thân sinh là
những người yêu nước thương nòi. Bá thừa hưởng lòng yêu nước chân thật,
không miệng lưỡi, của dân Đồng Nai ấy. Vì lòng yêu nước này, ông Trần Văn
Văn, thân sinh Bá, đã nhiều lần bỏ công ăn việc làm tham gia các phong trào
chính trị tiến bộ, dân chủ và ôn hòa. Từ chân Đổng lý Văn phòng của Bộ
trưởng Kinh tế Hồ Tá Khanh trong chính phủ độc lập đầu tiên của Việt Nam sau
thời thuộc Pháp - Chính phủ Trần Trọng Kim - cho tới việc khởi xướng thành
lập nhóm “Tự Do Tiến Bộ” quy tụ những trí thức yêu nước ở miền Nam ra tuyên
ngôn hưng quốc, nhưng ông Diệm,
với nề nếp chính trị
xưa và nặng óc gia đình, đã bỏ tù những thủ lãnh của nhóm này, mà người ta
quen gọi là nhóm Caravelle...
Chân dung Trần Văn Bá
Nguyệt san Quê Mẹ,
số 63-64 Paris, tháng 2 năm 1985.
43. ĐÀO
MỘNG NAM
Giáo sư Hán Học
Nhà nghiên cứu Triết
học Đông Phương.
...Còn VNCH miền Nam trước đây, tới ngày nay, các
lãnh tụ có nhớ lắm thì cũng tới nhà thờ, chùa chiền, hoặc thánh thất... là
cùng, chưa hề thấy ai nghĩ tới “Hội Xuân”, lập bàn thờ Quốc Tổ để mình cùng
dân chúng tới chiêm bái cả. Hẳn chúng ta còn nhớ rõ, cứ mỗi độ Tết, Xuân về,
dân chúng lại tự động kéo nhau tới Lăng Ông, đền thờ vị anh hùng dân tộc đã
có công mở mang dải đất miền Nam. Trước khí thế đó, Chính phủ đã phản ứng
bằng cách ra lệnh cấm mà lý do chỉ vì số dân chúng kéo nhau tới quá đông,
không giới nghiêm hẳn là sẽ dẫm xéo lên nhau mà chết.
Dinh Độc Lập xây cất
để cho mình và gia đình ở thì to mà đến thờ Quốc Tổ thì không có, có đền thờ vị anh hùng khai
quốc là Đức Tả quân Lê Văn Duyệt trải qua hai triều Tổng thống vẫn không cao
hơn thềm dinh Độc Lập.
Quốc Đạo
Tạp chí Non Sông, số 1
Xuân Ất Sửu 1985 của Tổng Hội Sinh Viên miền Nam California, Hoa Kỳ, trang
6.
44.
PHAN NHẬT NAM
Đại úy Quân đội VNCH.
Nhà văn với trên 10
tác phẩm viết về cuộc chiến tranh Quốc Cộng tại Việt Nam.
...Chúng tôi cũng không chống Cộng vì “khủng Cộng”
(chữ của cha Khai), vì sợ hãi, tê liệt trước người Cộng Sản. Mười năm chiến
tranh (63-73) nặng nhất là hai ý hệ, chúng tôi là tầng lớp gánh chịu đau đớn
và cụ thể nhất. Chúng tôi cũng không như cha Khai, cha Quỳnh, cha Nguyễn Lạc
Hóa phải nhờ Tây giết Cộng (lẽ tất nhiên chúng tôi xài súng Mỹ cũng như Cộng
Sản dùng súng AK) mà đã chiến đấu bằng chính đời sống mình, còng lưng xuống
mang một chiếc ba lô, tay cắp súng tay cầm thêm thùng đạn bấm đôi chân trên
núi rừng bạt ngàn của miền Nam để đánh Cộng Sản.
Tù Binh và Hòa Bình
Hiện Đại, Sài Gòn,
1974, trang 413.
(Ghi
chú: Cha Khai từng hô hào “tinh thần Ngô Đình Khôi”, từng rửa lễ hàng tuần
cho TT Diệm và từng là Đặc sứ lưu động của TT Diệm liên lạc các trại định cư
của những người Công giáo di cư Nghệ-Tĩnh-Bình. Sau khi TT Diệm chết, vì
chịu ảnh hưởng thân Cộng của Giáo Hoàng Paul VI, và bị ảnh hưởng của chủ
trương thỏa hiệp với Hà Nội của nhà Ngô, đã trở thành một linh mục phản
chiến hàng đầu trong nhóm Đối Diện.
- Cha
Hóa, bạn thân của anh em ông Diệm từng chỉ huy các đơn vị lính đạo chống
Cộng tại vùng Cà Mau-Bạc Liêu. Sau khi ông Diệm chết giữ thái độ im lặng.
- Cha
Quỳnh, thời chiến tranh Pháp-Việt là Tư lệnh Dân quân Tự vệ vùng Phát Diệm.
Thời Đệ Nhất Cộng Hòa cha Hoàng Quỳnh ở tư thế đối lập với chế độ Diệm. Sau
khi ông Diệm chết, cha hoạt động tích cực chống lại các phong trào đấu tranh
của sinh viên và Phật giáo. Cha Quỳnh đã chống lại Phong Trào Chống Tham
Nhũng của cha Thanh và đã cùng năm Linh mục khác lên Đài Truyền Hình bênh
vực Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu).
45.
TRẦN BÌNH NAM (bút hiệu của ông TRẦN VĂN SƠN)
Cựu Hải quân Trung tá.
Cựu Dân biểu Quốc Hội
Đệ Nhị Cộng Hòa.
...Để thành lập tiền đồn chống Cộng tại miền Nam
Việt Nam, Hoa Kỳ đã đưa ông Ngô Đình Diệm từ Mỹ về và bắt đầu kế hoạch thay
thế Pháp. Nhưng Cộng Sản với nhân sự và vũ khí đã gây sẵn ở miền Nam đã phát
động cuộc chiến tranh phá hoại bằng cách
khai thác mọi sai lầm
về chính sách đối với quần chúng của ông Ngô Đình Diệm nhất là chính sách
tôn giáo.
Du kích Cộng Sản kiểm soát gần 2/3 đất đai miền Nam và đang chuẩn bị tổng
tấn công dành chính quyền.
Hoa Kỳ Trên Bàn Cờ
Đông Nam Á
Nguyệt san Độc Lập số
tháng 5/1984 Stuttgart - Tây Đức.
46. VŨ
THẾ NGỌC
Giáo sư, Nhà văn, nhà
báo.
Một trong những Sáng
Lập Viên và Biên Tập Viên Nhật Báo Sóng Thần tại Sài Gòn.
Chủ nhiệm Nguyệt san
Việt Nam và Bán nguyệt san Việt tại San José, Hoa Kỳ.
Tác giả: Bồ Đề Đạt
Ma Tuyệt Quán Luận, Mùa Thu Hoa Vàng Viễn Mộng Xanh.
...Sự thực ngày nay đã cho thấy Biến Cố Phật Giáo ở
Huế chỉ là những giọt nước cuối cùng. Trước đó đã có biết bao âm mưu đảo
chánh, biến động mà trước âm mưu của nhóm Đôn-Kim... là chính âm mưu của
nhóm Công giáo Bắc Việt do chính Bác sĩ Trần Kim Tuyến chánh sở Mật vụ tổ
chức (Phòng Nghiên cứu Chính trị Tổng thống) mà Phạm Ngọc Thảo móc nối.
...Chế độ Ngô Đình Diệm mới là bá đạo. Lật đổ cái
bá đạo kia đi coi như chấm dứt một thể chế. Còn TT Diệm hãy để cho Người thư
thả vui thú điền viên. Như thế mới chính nghĩa, mới xứng đáng lớp người kế
vị làm chủ dinh Gia Long.
Như thế có nghĩa là Hội Đồng Tướng Lãnh hãy tù đày,
giết hết bọn ăn hại nấp dưới bóng uy quyền của TT Ngô Đình Diệm, đồng bào cả
nước lấy làm hoan hỉ chấp nhận.
Những kẻ đáng chết là ông bà Ngô Đình Nhu, Bộ
trưởng Phủ TT kiêm phụ tá Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần, Nguyễn Lương, Trương
Vĩnh Lễ (Chủ tịch phản đảo chánh 1960), Trương Công Cừu, Bùi Văn Lương, Ngô Trọng
Hiếu. Tướng lãnh thì có Nguyễn Khánh, Huỳnh Văn Cao, Lê Như Hùng, Nguyễn
Huỳnh. Về phía Quốc hội, Hà Như Chi... Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ thì lắm
mệnh phụ đáng chém.
Nhật báo Hòa Bình,
Sài Gòn, trước 1975.
...Viết làm sao được khi ông con nuôi “Cụ Diệm” kéo
lính về “giết Cụ” rồi vài năm sau lại cho tổ chức “truy điệu Cụ” long trọng.
Viết làm sao khi ngài Dân biểu đồ đệ “Cụ” trong ngày 11-11-63 thì trốn Mỹ,
sau khi cách mạng thành công, thì bước ra “chỉ điểm” cho cách mạng về tội
lỗi Ngô Đình, rồi vài năm sau lại tổ chức “Phục Hưng Tinh Thần Cụ”...
Một vòng Ta Bà
Bán Nguyệt san Việt
số 5 ngày 1-11-1983 tr.5 và 6.
47. LÝ
ĐẠI NGUYÊN
Tác giả Dòng Sinh
Mệnh Văn Hóa Việt Nam và nhiều tác phẩm nghiên cứu chính trị, văn hóa,
tôn giáo
Trong nhóm chủ trương
Nhật báo Sóng Thần, Sài Gòn
...Người Mỹ xuất hiện tại miền Nam Việt Nam qua lá
bài Ngô Đình Diệm
...Ngô Đình Diệm về nước với
sự bảo trợ trọn vẹn
của Giáo hội Đạo Thiên Chúa, lại được các đoàn thể và nhân
sĩ quốc gia đón nhận thật tình. Thế nhưng Ngô Đình Diệm đã về nước mang theo
một sứ mạng quốc tế mới: Đánh tan mọi lực lượng của Pháp là các Giáo phái
miền Nam.
Theo quan niệm của
người Tây phương, bình diện đó là lực lượng duy thần của Đạo Thiên Chúa. Chính vì tính cách quốc tế
này mà các đoàn thể, nhân sĩ quốc gia trở thành lạc lõng.
...Quốc dân lần lần bỏ nhà Ngô. Nếu họ không đi với
Cộng Sản thì nấp vào cửa chùa. Hình thái Phật giáo, từ ngàn xưa vốn đã lẩn
vào dân tộc, giờ đây bị nhà Ngô đẩy vào thế phải lộ mặt thành lực lượng cụ
thể. Sau khi triệt hạ các giáo phái miền Nam, đánh tan lực lượng quốc gia
rồi, nhà Ngô đặt Phật giáo làm đối tượng cuối cùng ở Việt Nam. Quyền hành từ
nay lãnh tụ cai trị Ngô Đình Diệm chuyển dần sang tay lãnh tụ chính trị Ngô
Đình Nhu, Tổng Bí thư đảng Cần Lao Nhân Vị.
...Thất bại của Nhu là ở chỗ bỏ địa bàn chiến lược
quốc tế để rút về chiến lược quốc gia.
Vì chín năm cai trị
Nhu-Diệm đã đánh mất yếu tố căn bản của dân tộc là nhân tâm bằng sự dung
túng thối nát, bằng hành động tiêu diệt tôn giáo
Người Việt, nhất là
khối Phật tử trung thành, không thể chấp nhận
chủ trương Thiên Chúa
giáo hóa miền Nam.
...Để thỏa chí vẫy vùng và tự kiêu tự đại. Nhu ngầm
liên lạc với Pháp, với Cộng Sản để gây súy đồ thống nhất Việt Nam trong hòa
bình. Thế nhưng chí bất cập lực, vì quá tham lam nên chuốc lấy thảm bại. Sau
khi được Pháp và Cộng Sản ngầm giúp, Nhu dùng Diệm để cầm chân Mỹ rồi thẳng
tay triệt hạ lực lượng chống đối cuối cùng là Phật giáo. Nhưng ngọn lửa tự
thiêu bùng lên, lớp trẻ lao xuống đường làm cách mạng...
Dòng vận động cách mạng Việt Nam
Sài Gòn tháng 6 năm
1967, trang 18, 19 và 20
48.
TRẦN NHÃ NGUYÊN
Nhà báo.
Bình luận gia chính
trị của một số báo chí Hải ngoại.
...Bài học của nền Đệ Nhất Cộng Hòa: Lý thuyết chỉ
đạo không thực tế, chiến lược mâu thuẫn, thiếu cán bộ đúng đắn và có khả
năng, không nắm vững chiến thuật,
lẫn lộn gia đình với
quốc gia,
không kết hợp được các mặt chính trị trên cùng một chiến tuyến, không thống
hợp được toàn dân... Sự thất bại nhất định phải đến.
Tạp chí Độc Lập
số 4/83, Tây Đức 4/1983 tr.27, 28.
49. HẠO
NHIÊN (bút hiệu của ông TRẦN THẾ NGỮ)
Giáo sư.
Trí thức Thiên Chúa
giáo.
Đúng như lời bàn của Cụ Lê Minh Trực và của Cao Thế
Dung trong các bài báo đã nêu trên từ 1940 đến 1975 chỉ có và chỉ có tập
đoàn Cộng Sản do Đế Quốc Nga Xô lãnh đạo và tay sai ủy nhiệm Hồ Chí Minh-Lê
Duẩn tương tranh với tập đoàn tay sai Tư Bản do Đế Quốc Mỹ lãnh đạo và tay
sai các Chính phủ ủy nhiệm miền Nam (Diệm - Nhu rồi Thiệu). Không ai phủ
nhận hai anh em cố Tổng thống Diệm đều là những nhà ái quốc muốn nhân làm
tay sai giai đoạn để có phương thế chống Cộng và phát triển xứ sở. Nhưng vì
lý do nào đó và vì dựa lưng vào Mỹ nên không được sự hợp tác mà còn bị
các
thành phần dân tộc chống đối mãnh liệt. Trong khi ấy quan thầy Mỹ lại
đổi chánh sách nên giàn cảnh để thanh toán một cách hợp lý hai anh em nhà
Ngô và xóa tan nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi xin gọi chế độ miền Bắc là bọn
thuần túy tay sai; chế độ miền Nam Đệ Nhất Cộng Hòa là tay sai bán phần và
chuẩn bị gỡ vòng nô lệ của quan thầy bị thất bại. Nền Đệ Nhị Cộng Hòa là tập
thể quân phiệt tay sai toàn phần. Bằng chứng là Diệm, Nhu, Cẩn bị thảm sát
và Thiệu, Khiêm, Viên, Quang được rước đi với đầy đủ gia nhân và hành trang
một cách an toàn để hưởng cảnh về hưu an lạc.
Cao Thế Dung cũng đồng quan điểm đó một cách dứt
khoát là
tất cả thành phần dân
tộc dù ở đảng phái, tôn giáo, công chức, nông dân v.v... đều bị đàn áp thẳng
tay và còn bị cưỡng bách, trưng dụng khai thác phục vụ guồng máy tay sai hai
miền Nam-Bắc.
Chúng ta có mất nước
không?
Bán nguyệt san Thức
Tỉnh số 103, Los Angeles Hoa Kỳ, 1983, trang 16.
50.
NGUYỄN KHẮC NGỮ
Giáo sư Sử Địa Đại Học
Sài Gòn.
Sử gia, tác giả
Những Ngày Cuối Cùng của VNCH.
... Trong khi ấy ở miền Nam, Ngô Đình Diệm lại áp
dụng chính sách độc tài, gia đình trị. Ông và em ông đã tổ chức Đảng Cần Lao
Nhân Vị Cách Mạng, lập các cơ cấu mật vụ để củng cố chính quyền. Ông
dẹp các đảng
phái quốc gia, đàn áp các phe đối lập nên dân chúng càng ngày càng chán ghét
và ngả về phía Việt Cộng một cách dễ dàng. Từ đó tình hình miến Nam ngày
càng bi đát, Việt Cộng mở rộng các khu vực ảnh hưởng, kiểm soát được đến 50%
diện tích nông thôn.
Những Ngày Cuối Cùng
Của VNCH
Nguyễn Khắc
Ngữ-Montreal Canada 1979, tr. 4, 5.
51.
NGUYỄN NHO
... Với cơ hội ngàn vàng ấy: thiên thời địa lợi
nhân hòa, ông Diệm đã làm được gì cho quốc gia? Thay vì bắt tay vào việc xây
dựng, bắt nguồn từ hạ tầng cơ sở, lùng bắt tiêu diệt những con chốt nằm vùng
gài lại để tránh hậu hoạn sinh sôi nẩy nở, thì lại
dùng phương tiện quốc
gia vào việc suy tôn cá nhân, tung hô, kết bè, nịnh bợ... tiếp theo sau là sự chia rẽ,
đàn áp
tôn giáo, kỳ thị địa phương, trong mưu toan củng cố địa vị, áp đặt một thể
chế giật lùi của chế độ phong kiến.
Biến cố 1963 là biến cố tất nhiên phải tới.
Từ 20/7/54 đến 30/4/75
Tạp chí Đông Phương
số 5, tháng 8/1983 Midway City, Hoa Kỳ.
52. LÊ
QUANG OÁNH
Linh mục Thiên Chúa
giáo
Kính thưa quý vị,
Chúng tôi, LM Lê Quang Oánh nhân danh khối Giáo sĩ
Đồng Tâm cùng đại diện các đoàn thể khác của chúng tôi kính gởi đôi lời
huyết lệ như sau:
“Rất đau buồn cho thế đạo nhân tâm, xin kính cẩn
phân ưu cùng quý vị và các quý Phật tử trong cuộc tang thương vào dịp lễ
Phật Đản năm nay ở Cố Đô Huế, tán đồng quan điểm đấu tranh cho “Tín ngưỡng
Tự Do”, không đào ngũ, không yếu hèn. Kìa dưới quốc kỳ Việt Nam bao chiến sĩ
anh hùng ta hy sinh trên khắp ngả đường đất nước. Tinh thần ái quốc ấy từ
lâu đã được hun đúc bởi tinh hoa các tôn giáo tự nhiên và siêu nhiên.
“Xin nghiêng mình mặc niệm các linh hồn tử sĩ, chia
buồn với gia đình họ và an ủi các nạn nhân trong cuộc đổ máu này.
“Chúng tôi lên án “tội bất công” đã giết hại đồng
bào vô tội. Thật là
tàn bạo, dã man, phản
dân chủ, phản tự do, phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt Nam, một nước văn hiến trên bốn
ngàn năm lịch sử.
“Dám quả quyết rằng “Nhân Nghĩa” sẽ thắng. Những
màu cờ tượng trưng cho công bằng, bác ái, nhân đạo và hòa bình như quốc kỳ
Vatican, Hội kỳ Hồng Thập Tự, Đạo kỳ Phật giáo, Thánh kỳ Maria vẫn còn mãi
mãi tung bay trên đất Việt thân yêu và khắp toàn cầu, mặc dầu có sàm ngôn
xuẩn động
xúc phạm tinh thần
Phúc âm mà Đức Giáo Hoàng đã diễn đạt trong thông điệp Hòa Bình Trên Thế
Giới,
một văn kiện rất thời danh.
“Đức Giáo Hoàng Joan 23 khi tiếp phái đoàn Phật
giáo Nhật Bản đã nói với 19 Thượng Tọa rằng: “Công giáo và Phật giáo chúng
ta đều phụng sự cho Hòa Bình”.
Trên hồ Than Thở Đà
Lạt 12 tháng 5 năm 1963.
Đồng ký
với Linh mục Lê Quang Oánh trong lá thư gởi Hòa Thượng Hội chủ Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam, và Thượng Tọa Trị sự trưởng Giáo Hội Tăng Già Nam Việt gồm có
các vị sau đây:
- Linh
mục: T. Võ Quang Thiêng.
- Nữ
sinh M. Ngọc Lan Hương.
- Lao
công A. Hoàng Trì Siêu.
- Thân
hào N. Thanh Lục.
- Tu sĩ
P. Viên Tô Tư.
- Giáo
hữu B. Huỳnh Phú Sổ Sỹ.
- Thanh
niên V. Lao Kim Chi.
- Nhân
sĩ M. Đào Văn Hộ.
Thư này
còn được sao kính gởi Đức Khâm sứ và các Linh mục Công giáo.
Việt Nam Phật Giáo
Tranh Đấu Sử
Hoa Nghiêm, Sài Gòn
1964. Trang 159, 160.
53.
NGUYỄN HỮU PHIẾM
Bác sĩ Y Khoa
Cựu Bộ trưởng thời Quốc
trưởng Bảo Đại.
... Có
người cho rằng, dù cho có giao du với Nhất Linh thì đã sao, nhất là trong
trường hợp tôi, vốn quen biết anh từ lâu, lại là thầy thuốc của gia đình anh
nữa; nhưng theo tôi, phải sống dưới chế độ độc tài, như chế độ họ
Ngô, mới thấy rằng người dân không có quyền gì hết
đã đành, lại không có
cả cái quyền chơi với bạn nữa, nhất là khi người bạn đó lại đứng về phe đối
lập như Nhất Linh. Nếu không tất sẽ bị khủng bố, và nếu là một công chức, sẽ
bị sa thải, “nồi cơm sẽ bị bể” như ta nói. Điều bi đát này chính tôi đã được
tai nghe một cựu công chức cao cấp của Ngô triều thuật lại.
...
Nhất Linh (...) trút hơi thở cuối cùng trong đêm hôm đó. Anh đã được toại
nguyện, đã được chết ngày 7-7-63 là ngày “song thất” của kẻ đã phản dân hại nước.
...
Cái chết của Nhất Linh đã gây nhiều bối rối cho chính quyền Ngô Đình Diệm,
nhất là cho vợ chồng Ngô Đình Nhu, lồng lộn lên như con thú dữ. Chúng sợ
người sống đã đành, chúng sợ và thù ghét cả người chết nữa, những người chết
cồng kềnh (les morts encombrants) như chúng tôi nói.
Trước
kia chúng sợ cái chết của Thượng Tọa Thích Quảng Đức, ngày nay chúng sợ cái
chết của Nhất Linh, không những vì Nhất Linh là một chiến sĩ Cách mạng quốc
gia có rất nhiều uy tín ở trong nước cũng như ở ngoại quốc, mà lại còn là
một văn hào tên tuổi, được giới thanh niên trí thức mến chuộng.
Tôi
dám nói, không sợ nói ngoa, là từ lúc Nhất Linh nằm xuống cho tới khi đưa
anh về nơi an nghỉ cuối cùng ở nghĩa trang Gò Vấp, chính quyền Ngô Đình Diệm
đã mất ăn mất ngủ, và tìm đủ mọi cách để phá. Bằng cớ là ngay sau khi anh
mất, họ ra lệnh làm một cuộc phẫu nghiệm tử thi (autopsie), mặc dầu không có
sự ưng thuận của gia đình.
...
Công an và mật vụ của Nhu-Diệm nhiều thật đấy nhưng chúng đâu có ngăn nổi
anh em sinh viên khiêng linh cữu của Nhất Linh từ nhà xác ra tận xe tang. Có
người khóc Nhất Linh để thương tiếc một chiến sĩ quốc gia chống Cộng, suốt
đời tranh đấu cho tự do dân chủ thế mà lại bị những kẻ đội lốt quốc gia bức
tử.
Chân Dung Nhất Linh
Nhiều tác giả, Văn xuất bản tại Sài Gòn
tháng 6/1966 các trang 20, 24, 27, và 34.
54. LÊ
PHỐ
Giáo sư Mỹ thuật Paris
Cố vấn Mỹ thuật Chính
phủ (1950-1954)
...
Tôi chỉ là một họa sĩ, tôi không làm chính trị. Chỉ một lần, hồi Thế chiến
thứ hai, tôi cùng với Bửu Hội và Phạm Duy Khiêm đăng lính chống Đức. Nhưng
đây là sự tham gia của trí thức chống nạn Đức Quốc Xã. Thời Bảo Đại tôi được
mời làm Cố Vấn Mỹ thuật, không có gì chính trị. Tôi chỉ muốn làm đẹp cho quê
hương. Tôi ghét phải chống sự hung ác, giết người. Ông Bảo Đại tuy chẳng làm
được gì nhưng không hại ai, không giết nhiều người. Ông Diệm không hung ác,
nhưng các em ông ấy, Nhu, Cẩn..., và gia đình ông ấy quá tàn
bạo, họ giết quá nhiều người. Thời Nguyễn Văn Thiệu cũng vậy. Lý do vì
sao tôi không muốn về Việt Nam qua các triều đại này, dù có nhiều anh em mời
mọc, thúc hối. Nhưng lòng tôi vẫn mong có một ngày trở lại để làm một cái gì
cho nghệ thuật Việt Nam. Đối với Cộng Sản ấy à? Dĩ nhiên tôi cực lực chống
đối.
Họa sĩ Lê Phổ, Người vẽ nắng
Giải phẩm Quê Mẹ Xuân Giáp Tý số tháng 2
Paris năm 1984, trang 19.
55.
QUANG PHỤC
Nhà báo
...
Thêm lần nữa, nhân dân Việt Nam đã chiến thắng. Tiếng súng cách mạng ngày
1-11-63 đã xô đổ tan tành chiếc ngai vàng của một bạo chúa.
...
Ngay sau khi ông Ng |