Chương XVIII
BA NĂM XÁO TRỘN
Ngày 2 tháng 11 năm 1963,
vào khoảng 7 giờ sáng, đài phát thanh Sài Gòn loan tin dinh Gia Long đã bị
lực lượng Cách mạng chiếm, hai anh em ông Diệm-Nhu tự tử. Số người bị thương
vì lạc đạn là 145 người và 20 người chết cả quân lẫn dân. Tiếng súng êm dần,
nhân dân Đô Thành tiếp tục đổ trào ra đường phố để hoan hô quân đội, mua quà
bánh tặng các chiến sĩ, nói chuyện vui đùa với quân nhân trong niềm hoan lạc
chung. Nhà văn Đoàn Thêm mô tả cảnh tượng Sài Gòn ngày 2 tháng 11 năm 1963
như ngày hội lớn của quê hương đất nước... Nhiều đoàn thanh niên sinh viên
đến đập phá trụ sở Việt Tấn Xã và trụ sở chín tờ báo đã ủng hộ chế độ cũ.
Hai mươi sáu trụ sở cá nhân và các đoàn thể tay sai chế độ cũ cũng bị chung
số phận. Tượng Hai Bà Trưng vì giống bà Nhu và con gái nên đã bị sinh viên
kéo sập xuống, chặt đầu và lôi đi diễn hành trên nhiều đường phố. Buổi trưa
có tin hai anh em ông Diệm bị giết chứ không phải tự tử.
Cũng trong ngày hôm đó, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ra tuyên
cáo số 1 gồm 5 điểm:
- Quân đội đã làm cách mạng lật đổ một chế độ độc tài thể
theo ý nguyện của toàn dân.
- Cuộc cách mạng được toàn thể mọi tầng lớp nhân dân tham
gia.
- Sẽ thành lập gấp một chính phủ lâm thời để điều hành quốc
gia.
- Một Hội Đồng Nhân Sĩ sẽ được thành lập để cố vấn cho chính
phủ trong giai đoạn chuyển đổi.
- Khi các định chế dân chủ được thực hiện, Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng sẽ trao quyền cho quốc dân.
Trong tuyên cáo số 2, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cho biết
chủ trương của Hội đồng là không độc tài nhưng áp dụng một hình thức dân chủ
trong tinh thần kỷ luật, đoàn kết toàn dân. Các đảng phái được tự do hoạt
động, tôn trọng quyền tự do ngôn luận của báo chí, trả tự do cho những chính
trị phạm không Cộng Sản, tự do tín ngưỡng, các tôn giáo được đối xử bình
đẳng, Việt Nam vẫn đứng trong thế giới tự do và duy trì giao hảo với lân
bang và các nước bạn, tôn trọng các hiệp ước đã ký kết, tôn trọng tài sản và
tính mạng ngoại kiều.
Ngày 3 tháng 11, một quyết nghị khác lại ra đời, cho biết tạm
ngừng Hiến pháp 26-10-1956, giải tán Quốc Hội của chế độ cũ. Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng ra mắt báo chí và quốc dân với thành phần:
- Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh.
- Đệ nhất Phó chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn.
- Đệ nhị Phó chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính.
- Tổng thư ký kiêm ủy viên ngoại giao: Trung tướng Lê Văn
Kim.
- Uỷ viên chính trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu.
- Uỷ viên quân sự: Trung tướng Trần Thiện Khiêm.
- Uỷ viên kinh tế: Trung tướng Trần Văn Minh.
- Uỷ viên an ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.
- Các ủy viên khác: các Trung tướng Lê Văn Nghiêm, Mai Hữu
Xuân, các Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có.
Cũng trong ngày hôm đó, Đại sứ Ngô Đình Luyện ở Luân Đôn, em
ruột của Tổng thống Diệm, từ chức.
Ngày 4-11, Hiến Ước tạm thời số 1 được ban hành để xác định
rằng Việt Nam vẫn theo thể chế Cộng Hòa, quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, quyền hạn Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng , quyền Hành pháp ủy cho chính phủ lâm thời do Hội đồng
chỉ định và các luật lệ hiện hành vẫn tạm duy trì để bảo đảm an ninh và trật
tự công cộng.
Và chỉ bốn ngày sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng chỉ định ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng để thành lập
chính phủ lâm thời vào ngày 5-11. Ba ngày sau, nội các ra mắt đồng bào với
chủ trương “cách mạng ôn hòa”. Trong số 15 Tổng Bộ trưởng của tân nội các,
ta thấy có 6 nhân vật thuộc chế độ cũ và 5 sĩ quan cao cấp. Riêng ông Thơ,
tuy là Cựu Phó Tổng thống nhưng lại là bạn thân của tướng Minh (đã từng lôi
kéo ông Minh giúp Thủ tướng Diệm chống Pháp và Bình Xuyên vào những năm
1954-1955), và mấy tháng trước cuộc cách mạng đã liên lạc thường xuyên với
ông Minh trong việc vận động đảo chánh.
Cũng trong ngày 5-11 này, trong khi ba người con của ông Nhu
ở Đà Lạt được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng khoan hồng đưa đi Âu Châu để đoàn
tụ với bà Nhu thì tại Sài Gòn, hàng vạn dân chúng tham dự lễ an táng Thiếu
tá Bùi Quang Ngãi đã bỏ mình trong cuộc tấn chiếm dinh Gia Long.
Các quốc gia trên thế giới (mà nước đầu tiên là Mã Lai Á) bắt
đầu công nhận và thiết lập ngoại giao với tân chế độ (cho đến ngày
13-11-1963, có tất cả 21 quốc gia chính thức công nhận Việt Nam Cọng Hòa, kể
cả Hoa Kỳ và Tòa thánh Vatican).
Ngày 6-11, nguyên Cố vấn Chỉ đạo miền Trung Ngô Đình Cẩn bị
bắt và giải từ Huế vào Sài Gòn. Lệnh giới nghiêm được bãi bỏ và sắc lệnh
thành lập Hội Đồng Nhân Sĩ ra đời.
Ngày 7-11, Lực Lượng Đặc Biệt do nguyên Đại tá Lê Quang Tung
chỉ huy trở về quy thuận.
Ngày 8-11, những chính khách và quân nhân bị lưu đày tại Côn
Sơn dưới chế độ Diệm được trả tự do và đưa về Sài Gòn. Hàng vạn người tưng
bừng đón tiếp trọng thể tại bến Bạch Đằng. Các tướng Nguyễn Văn Vỹ và Dương
Văn Đức cũng từ Pháp trở về Việt Nam. Các chính khách lưu vong tại Cao Miên,
Lào đều lần lượt trở về.
Ngày 12-11, Uỷ Ban Lãnh Đạo Sinh Viên Liên Khoa đòi thanh
trừng hàng ngũ giáo chức bị coi là mật vụ của chế độ cũ. Cùng ngày này,
chính phủ bãi bỏ Phủ tổng ủy Dinh điền và Nông vụ để thay bằng Phủ Tân sinh
Nông thôn.
Ngày 15-11, các trường Cao đẳng và Đại học bị đóng cửa dưới
chế độ Diệm được mở lại.
Ngày 16-11, tân chính phủ thể theo ý nguyện của toàn dân,
thành lập một Uỷ ban Điều Tra Tội Ác các phần tử của chế độ cũ đã dựa vào
thế lực hay địa vị để bắt giam trái phép, tra tấn, hãm hiếp, sát nhân, và
một ủy Ban Điều Tra Tài Sản Thủ Đắc Phi Pháp cũng được thành hình.
Ngày 18-11, Tòa đại sứ Phi Luật Tân giao trả lại cho chính
phủ Việt Nam Cọng Hòa cựu Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu đã lánh nạn sau ngày
1-11-63. Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Cố vấn Quân sự cho chính phủ, và
Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Phạm Văn Liễu
cùng một số sĩ quan, sau ba năm lánh nạn ra ngoại quốc, trở về nước. Đường
Ngô Đình Khôi Sài Gòn được đổi thành đường Cách mạng 1-11.
Ngày 19, 20 và 22 tháng 11, học sinh Nông Lâm Súc, học sinh
các trường Trung học Huế và nhiều tỉnh khác biểu tình đòi các giáo sư đã làm
mật vụ cho chế độ cũ phải từ chức.
Ngày 12-12, một vị du tăng Khất sĩ tại Bình Định tự thiêu
cúng dường Tam Bảo, mừng Phật giáo thoát nạn.
Ngày 14 tháng 12, Thành Cộng Hòa tại trung tâm thành phố, một
căn cứ cũ của quân xâm lăng Pháp và Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng
thống thời ông Diệm, được giao cho Bộ Giáo Dục để thiết lập một khu Đại học
(mà sau này là Đại học Văn Khoa và Dược khoa). Đây là một trong những quyết
định sáng tạo của chính quyền nhằm bôi xóa những hình thức biểu tượng độc
tài và bạo trị của chế độ cũ. Nhất là trên mảnh đất đó, từ này sẽ là những
giảng đường trao truyền tinh thần và kiến thức đại học cho thế hệ Việt Nam
tương lai.
Ngày 16 tháng 12, chính phủ tịch thu tài sản của ông Ngô Đình
Diệm, gia đình ông ta, và thuộc hạ 21 người cùng với các đoàn thể ủng hộ chế
độ cũ như đảng Cần Lao Nhân Vị, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, Phong Trào
Liên Đới Phụ Nữ, Thanh Niên Cộng Hòa, Hội Việt Nam Cao Đẳng Giáo Dục.
Ngày 18 tháng 12, bãi bỏ luật 12/62 Bảo vệ Luân lý của bà
Nhu, cho mở lại các tiệm khiêu vũ nhưng cấm những điệu vũ đồi phong bại tục
và cấm các thanh niên dưới 18 tuổi vào các tiệm khiêu vũ. Hơn nữa, các tiệm
khiêu vũ phải đóng thuế xa xỉ đặc biệt thật nặng, 200 đồng cho mỗi khách và
mỗi lần vào tiệm.
Cũng ngày này, Đại sứ Trần Chánh Thành được cử sang Nam Vang
tiếp xúc với Sihanouk để tỏ thiện chí giao hảo của chính phủ Việt Nam.
Ngày 23 tháng 12, Thiếu tướng Cao Đài Lê Văn Tất và một đại
đội binh sĩ Cao Đài từ Cao Miên về nước hợp tác với tân chế độ.
Ngày 25 tháng 12, một sắc luật ra đời cho phép những người đã
bị kết án chống đối chế độ cũ có thể xin tái thẩm để bạch hóa hồ sơ.
Ngày 26 tháng 12 thành lập SONADEZI (Société Nationale Des
Zones Industrielles), công ty quốc doanh có mục đích tạo lập và khuếch
trương các khu kỹ nghệ để phát triển kinh tế và thu dụng nhân công.
Ngày 29 tháng 12, một phái đoàn thiện chí Cao Miên tới Sài
Gòn, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cọng Hòa tuyên bố sẵn sàng thương thuyết về mọi
vấn đề Miên Việt.
Ngày 30 tháng 12, sinh viên Kiến trúc phản đối sắc luật tháng
5/1963 của chế độ Diệm về thể lệ hành nghề quá ngặt. Cũng ngày này, bãi bỏ
lệ chào cờ trước khi chiếu bóng, diễn tuồng vì lễ này (được đặt ra từ khi
ông Diệm làm Tổng thống) bắt buộc khi chào cờ thì phải chào luôn cả chân
dung ông Diệm giữa lá quốc kỳ.
Ngày 31 tháng 12, Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo khai mạc tại
chùa Xá Lợi hợp nhất Nam-Bắc tông để soạn thảo một Hiến chương chung.
Ngày 2-1-64, khai mạc Hội Đồng Nhân Sĩ tại Hội trường Diên
Hồng. Hội Đồng gồm 60 người, gồm đa số các nhân vật tên tuổi được quốc dân
và sinh viên trọng vọng và đã từng trực tiếp hay gián tiếp chống đối nhà
Ngô.
Ngày 4-1, một Uỷ ban được thiết lập để điều chỉnh tình trạng
những công chức đã bị chế độ cũ trừng phạt oan hay thăng thưởng quá đáng.
Ngày 5-1, có một số đổi thay trong thành phần chính phủ:
Trung tướng Tôn Thất Đính giữ chức Tổng trưởng Nội vụ, Thiếu tướng Đỗ Mậu ủy
viên chính trị kiêm Tổng trưởng Thông tin, Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng
trưởng Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân đội, Trung tướng Lê Văn Kim Tổng thư ký
kiêm Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Trần Thiện Khiêm Tư lệnh Quân đoàn
III và Thiếu tướng Nguyễn Văn Quang Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội.
Cũng ngày này, lễ truy điệu văn hào kiêm cách mạng gia Nhất
Linh Nguyễn Tường Tam được cử hành vô cùng trọng thể tại vườn Tao Đàn, với
sự tham dự của rất đông sinh viên và dân chúng.
Ngày 10-1, Sihanouk đề nghị Miên và Việt cùng từ bỏ mọi yêu
sách về đất đai và chấm dứt mọi tranh chấp chủ quyền về các hải đảo. (Dưới
chế độ Diệm, Sihanouk đòi phải sửa biên giới Miên-Việt và đòi một số đảo của
Việt Nam tại Vịnh Thái Lan).
Ngày 12-1, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bầu Thượng
Tọa Thích Tâm Châu giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Ngày 13-1, sinh viên học sinh biểu tình lớn chống chính sách
trung lập nhân dịp Baudevan, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Pháp qua thăm Sài
Gòn.
Ngày 16-1, Hội Đồng Nhân Sĩ họp bàn về việc soạn thảo Tân
hiến pháp.
Ngày 17-1, thanh niên sinh viên biểu tình chống Pháp và chống
trung lập tại chợ Bến Thành và trước Trung tâm Văn hóa Pháp. Cùng ngày này,
khoảng gần 1.000 du đãng do chế độ Diệm để lại được chia ra làm nhiều hạng:
hạng nhẹ nhất được đưa đi huấn luyện quân sự tại Quang Trung, hạng thứ hai
được đem đi cải huấn tại trại Cải Huấn Thủ Đức, và hạng thứ ba thuộc loại
nguy hiểm được đưa an trí tại Côn Sơn.
Ngày 23-1, Hội Đồng Nhân Sĩ yêu cầu chính phủ đoạn giao với
Pháp. Ngày 27, thành lập Điện lực cuộc tại Việt Nam với nhiệm vụ kiến tạo và
khai thác cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng điện năng.
Ngày 28-1, chính phủ ra thông cáo xác nhận chống trung lập,
phản đối chính phủ Pháp đã thừa nhận Trung Cộng và quyết định có biện pháp
đối phó. Bộ Kinh Tế cấm nhập cảng hàng hóa Pháp, không cấp giấy phép nhập
cảng cho Pháp kiều hoặc người Việt có Pháp tịch. Cũng trong ngày này Bộ Y Tế
ban hành Nghĩa Vụ Luận cho giới y sĩ.
Ngày 29-1, sinh viên Sài Gòn ra quyết nghị yêu cầu chính phủ
phải quốc hữu hóa tài sản của Pháp ở Việt Nam. Đồng thời một số nhân vật
chính trị bị kết án sau vụ Bình Xuyên 1955 như các ông Nguyễn Văn Thành,
Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Hiếu được ân xá. (Nhà báo tên tuổi Trần Văn Ân,
học giả Hồ Hữu Tường và nhân sĩ Công giáo miền Nam, ông Trình Khánh Vàng,
mấy tháng sau mới được ân xá).
Nhìn chung thì sau ba tháng cầm quyền, Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng và chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đang cố gắng để vãn hồi trật tự xã
hội, cố gắng phát triển kinh tế và đặc biệt cố gắng xây dựng tình đoàn kết
quốc gia. Ngoài ra, cuộc cách mạng 1-11-1963 đã đem lại cho Việt Nam Cộng
Hòa hai thắng lợi nổi bật vô cùng tốt đẹp. Việc thứ nhất là Sihanouk tuyên
bố từ bỏ tranh chấp biên giới và việc thứ hai là sự trở về với cộng đồng
quốc gia của khối Cao Đài. Sihanouk từ lâu vì coi chế độ Diệm là kẻ thù
không đội trời chung nên đã tiếp tay cho Cộng Sản, còn 11 hệ phái Cao Đài
cũng vì bị anh em ông Diệm triệt phá mà hoạt động cho Việt Cộng (xem “Vietcong”
của giáo sư Douglas Pike và đã được trình bày trong vụ Việt Cộng tấn công sư
đoàn 13 cuối năm 1960) nay đều chủ trương hòa hiếu với tân chế độ thì quả
thật là một thành công lớn cho quốc gia. Không nói thì ai cũng biết hai biến
cố này sẽ làm cho Việt Cộng mất đi những đồng minh vô cùng đắc dụng và làm
nhẹ gánh chiến tranh cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiếc thay, cuộc chỉnh lý của
nhóm tướng Khánh sau đó, ba năm xáo trộn tiếp theo và chế độ Nguyễn Văn
Thiệu, một chế độ Diệm không Diệm ra đời đã đẩy Sihanouk và Cao Đài trở về
vị trí bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa như dưới thời Ngô Đình Diệm, làm hại
cho phe quốc gia sau này.
Riêng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và chính phủ
Nguyễn Ngọc Thơ lúc bấy giờ, vì chủ trương “Cách mạng ôn hòa”, vì khoan dung
quá đáng cho thành phần Cần Lao và nhân sự chế độ cũ nên đã phạm phải những
lỗi lầm vô cùng trầm trọng sau này.
Lỗi lầm thứ nhất là tướng Dương Văn Minh đã cử ông Nguyễn
Ngọc Thơ làm Thủ tướng, một vị Thủ tướng có quá trình là một cựu Đốc phủ sứ,
cựu Bí thư Toàn quyền Decoux, từng cộng tác chặt chẽ với người Pháp và là
cựu Phó Tổng thống của chế độ Ngô Đình Diệm. Mặc dù ông Thơ có công hoạt
động với tướng Minh thời tiền cách mạng, nhưng thành tích thân Pháp suốt
cuộc đời của ông và đặc biệt là việc ông kêu gọi tướng Ba Cụt về hàng để bị
anh em ông Diệm lừa và chặt đầu, đã gây căm phẫn cho các tôn giáo, đảng
phái. Đã thế trong chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ lại có đến sáu vị Bộ trưởng
thuộc chế độ Diệm, dù trong đó cũng có người có khả năng và liêm chính như
Bộ trưởng Trần Lệ Quang chẳng hạn, nhưng với một nội các gồm quá nhiều người
thuộc chế độ cũ thì trước mắt quốc dân và quốc tế, Tân chế độ gọi là Cách
Mạng chỉ là một chế độ Ngô Đình Diệm tái sinh.
Lỗi lầm thứ hai là việc thành lập Hội Đồng Nhân Sĩ (Commité
des Sages). Thành lập Hội Đồng Nhân Sĩ là một sáng kiến chính trị tuy không
mới mẻ gì nhưng lại rất thích hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Sự
kiện Hội Đồng Nhân Sĩ giữ nhiệm vụ và có quyền hạn của một cơ quan lập pháp
tạm thời trong lúc chờ đợi Hiến pháp và Quốc hội đã làm cho quốc dân thỏa
mãn. Ngoài ra, nó còn đóng vai đối lập với chính quyền, một vai trò cần
thiết để thể hiện dân chủ. Khốn nỗi, phần vì bị thúc bách bởi một tình thế
mới quá gấp rút, phần vì thiếu chuẩn bị do sự khó khăn trong việc tổ chức
cuộc cách mạng nên các tướng lãnh đã không biết lựa chọn nhân sĩ cho xứng
đáng với nhu cầu và điều kiện của tình hình lúc đó. Tuy họ đã biết mời một
số nhân vật tên tuổi như Cụ Trần Đình Nam, Phan Khắc Sửu, Giáo sư Phạm Biểu
Tâm, ông Trần Văn Văn, Cụ Đào Đăng Vỹ... chẳng hạn, nhưng họ đã bỏ sót một
số nhân sĩ lão thành tiếng tăm như quý Cụ Nguyễn Xuân Chữ, Ba Liệu, Trần Văn
Hương... Họ đã bỏ sót các lãnh tụ đảng phái tên tuổi như các ông Trần Quang
Vinh (Cao Đài), Phan Bá Cầm (Hòa Hảo), Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký (Đại
Việt), Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Văn Lực, Trương Bảo Sơn (Việt Nam Quốc Dân
Đảng), Tạ Nguyên Minh (Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội), Phan Quang Đán
(Dân Chủ), Nguyễn Văn Huyền (Thiên Chúa giáo), Trần Văn Quế, Mai Thọ Truyền
(Phật giáo), Lê Văn Thái (Tin Lành)... Họ đã không mời những “hiền tài” của
đất nước vừa nói trên, mà lại mời một số nhân vật chỉ là cộng sự viên cũ của
họ. Tệ hại hơn nữa, họ lại mời một số cựu “Cần Lao” mà tiêu biểu là ông Trần
Trung Dung, cháu rể nhà Ngô.
Lỗi lầm thứ ba là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã không gấp
rút thay thế các giám đốc cơ quan trung ương hoặc các cấp bộ địa phương mà
vẫn giữ lại số nhân viên và chức quyền cũ, trong đó đa số là thành phần Cần
Lao Công Giáo. Như ông Lê Nguyên Long trong bài “Bất đắc dĩ khơi lại đống
tro tàn” đã phân tích một cách đúng đắn rằng chính nhóm Cần Lao Công
Giáo này, bắt nguồn từ một ý thức muốn trả thù cho chủ cũ, đã có những thái
độ và hành động không những gây công phẫn cho nhân dân mà còn phá hoại đất
nước qua khẩu hiệu Nếu không có “Cụ” của chúng tao thì bọn bây chẳng làm
gì nên thân. Cũng vì chính sách ôn hòa, giữ lại các cấp bộ quân đội và
chính quyền cũ mà sau khi cách mạng thành công, Cao Văn Viên vẫn được chỉ
huy sư đoàn Dù để ba tháng sau ông ta tham dự vào cuộc chỉnh lý của tướng
Khánh và do đó mà Thiếu tá Nhung bị sát hại ngay giờ phút đầu tiên của cuộc
chỉnh lý.
Vì những lỗi lầm trên mà đảng phái và tôn giáo bắt đầu bất
mãn. Sự bất mãn trên đã biểu lộ qua các cuộc biểu tình của sinh viên, qua
luận điệu chỉ trích nặng nề giới Cần Lao của báo chí, qua tuyên ngôn của các
đảng phái như đã trình bày trong một đoạn trước. Ngoài ra việc các tướng
Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim cho tướng Nguyễn Văn Vỹ hồi hương một cách mau
chóng và có ý muốn trọng dụng nhóm Vương Văn Đông đã làm cho các tướng Dương
Văn Đức, Đại tá Nguyễn Chánh Thi bất mãn vì họ cho rằng tướng Vỹ và Trung tá
Đông là người của Pháp, là bạn thân của Nguyễn Văn Hinh và có liên hệ với
Trần Đình Lan, một thứ con Tây đang làm gián điệp cho Pháp.
Chính thái độ “thiếu cách mạng” của Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng đã là nguyên nhân chính yếu cho nhóm Nguyễn Khánh, Cao Văn Viên, Trần
Thiện Khiêm, những tướng tá Cần Lao cũ và nhóm Đại Việt của ông Nguyễn Tôn
Hoàn lấy lý do để làm cuộc chỉnh lý, một cuộc chỉnh lý mà Khánh tuyên bố là
vì HĐQNCM tạo ra tình hình suy sụp và chủ trương “thân Pháp và trung lập”.
Ngày 30-1-1964, từ sáng sớm, người ta thấy một số đơn vị quân
đội canh gác trên nhiều góc đường, có nơi có cả chiến xa. Một số tướng tá
họp tại Bộ Tổng Tham Mưu gồm Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Đức,
Lâm Văn Phát, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Chánh Thi, Dương Ngọc Lắm, Cao Văn
Viên, Trần Thanh Bền, Albert Cao, v.v... đề ra quyết định chấm dứt nhiệm vụ
của HĐQNCM. Các tướng Đôn, Kim, Vỹ bị bắt an trí tại Đà Lạt, tướng Mai Hữu
Xuân bị bắt an trí ở Huế. Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt và bị tướng
Đức làm nhục nhưng được trả tự do ngay.
Ngày 31 tháng 1, tướng Khánh họp báo tuyên bố: “Từ ba tháng
nay, tình hình suy sụp về mọi mặt, chính quyền tỏ ra bất lực. Về phần cách
mạng, một số tướng lãnh chạy theo thực dân, Cộng Sản (?) nên một lần nữa
quân đội lại phải can thiệp”. Tướng Khánh giải thích: “Không có đảo chánh,
chỉ có chỉnh lý để chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng”. Ông ta cũng
tuyên bố được Hội Đồng Quân Nhân cử làm Chủ tịch kiêm Tổng Tư lệnh Quân Đội.
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng được đổi tên thành “Hội Đồng Quân Đội Cách
Mạng”.
Những tướng tá chủ trương cuộc chỉnh lý này gồm nhiều thành
phần, tiêu biểu nhiều xu hướng, nhưng chủ lực ngoài tướng Khánh và một số sĩ
quan cấp tá thuộc đảng Đại Việt của bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và ông Hà Thúc Ký
còn một số tướng tá thuộc chế độ Diệm.
Cuộc chỉnh lý đó mở màn cho những xáo trộn chính trị tại miền
Nam làm lệch hẳn những ý nghĩa của ngày Cách mạng 1-11-63. Nhà văn Thế Uyên,
cháu của văn hào cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã có lời than trách
như sau để tiếc thương cho ngọn lửa Cách mạng sớm tắt:
... Một tháng sau, tôi xin được phép về Sài Gòn. Tôi cùng
Thi xuống nghĩa trang Giác Minh thăm mộ Ba tôi và mộ người Bác (Nguyễn Tường
Tam). Tàn hương ra về, tôi gặp Lam (nhà văn Duy Lam cũng là một nhà văn quân
đội như Thế Uyên). Hai đứa nhìn nhau, mặt Lam sắt lại, răng cắn chặt lấy
chiếc pipe: “Đã đến lúc phải làm một cái gì”. Câu nói ám ảnh tất cả con cháu
và tới cả những người khi Nhất Linh còn sống không đồng ý hoàn toàn với cả
đời sống của ông. Chiều 26 tháng 10 năm 1963, Lam từ Đà Lạt về và tôi từ
Pleiku xuống gặp nhau tại Sài Gòn. Ngồi trong khu rừng mía um tùm của mẹ
tôi, Lam bàn về cuộc đảo chánh đang chuẩn bị. Mật vụ bủa vây khắp nơi, xiết
chặt đến nỗi cả tôi lẫn Lam đều đồng ý: “Trong một tuần nữa, nếu không có
đảo chánh họ sẽ cho mình vào tù hết”. Chiều 28, an ninh cá nhân mong manh
đến độ Lam quyết định: “Thôi Du đi đi, Bác dặn phải tiết kiệm nhân lực. Để
mình anh ở lại, có thua đến lượt Du lần sau”. Sáng sớm hôm sau tôi lên đường
trở về đơn vị, suốt ngày quanh quẩn chiếc máy phát thanh. Hai ngày sau đảo
chánh, tôi nằm ôm máy phát thanh cho tới sáng. Bởi vì nếu lần này thất bại,
hẳn trong nghĩa trang Giác Minh sẽ thêm mộ Lam. Và không hẳn chỉ thêm một mộ
mà thôi. Đảo chánh thành công và Cách mạng thành công, khi người con thứ của
Nhất Linh bước vào phòng họp Bộ Tổng Tham Mưu, Trung tướng Dương Văn Minh
yêu cầu toàn thể HĐQNCM đứng mặc niệm một phút nhà văn Nhất Linh và cách
mạng gia Nguyễn Tường Tam. Và cuộc Cách mạng chấm dứt sau phút ấy. Sau đó
chính trị bắt đầu, thứ chính trị mà chính người được mặc niệm đã bao lần
chối bỏ trong đời
[1].
Thứ chính trị phản cách mạng mà Thế Uyên trình bày ở đây để
tiếc nuối chính nghĩa sáng rực của ngày 1-11-1963 là gì nếu không phải là
những hệ quả của đầu óc bè phái đã từng được sinh sôi và nuôi dưỡng từ dưới
chế độ Diệm mà trước hết là bè phái của dư đảng Cần Lao Công Giáo đang tìm
cách len lỏi lại vào những khe hở của một chính phủ còn yếu ớt. Riêng đối
với những nhóm Phật tử tranh đấu thì việc hạ sát thiếu tá Nhung còn là dấu
hiệu của sự trở lại chính quyền của người Công giáo và tàn dư của ông Diệm.
Vì vậy đã có những hành động làm cho sự hỗn loạn càng thêm trầm trọng
[2].
Ngày 1-2, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ bị giải tán, tướng Khánh
tiếp Ngoại giao đoàn và ban hành sắc luật đặt “chủ nghĩa Cộng Sản và chính
sách trung lập” ra ngoài vòng pháp luật. Cũng ngày này, chủ tịch Đại diện
Sinh viên từ chức, một Hội Đồng gồm 15 chủ tịch các phân khoa được cử lên
thay. Trong lúc đó, chính phủ Hoa Kỳ cũng tuyên bố chống giải pháp Trung lập
tại Việt Nam, và ngày hôm sau, Tổng thống Johnson gởi thư xác định với Trung
tướng Nguyễn Khánh là Mỹ vẫn tiếp tục giúp đỡ Việt Nam.
Ngày 5-2, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn về nước. Cùng ngày này, Hội
Đồng các Giám mục ra tuyên ngôn kêu gọi đoàn kết.
Ngày 7-2, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng quyết định cử tướng
Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng và cử tướng Khánh thành lập chính
phủ.
Ngày 8-2, chính phủ Nguyễn Khánh ra đời với thành phần nội
các dưới đây:
- Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh.
- Phó Thủ tướng đặc trách Bình Định: Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn
(Đại Việt miền Nam).
- Phó Thủ tướng đặc trách Kinh tế Tài chánh: Tiến sĩ Nguyễn
Xuân Oánh.
- Phó Thủ tướng đặc trách Văn hóa Xã hội: Thiếu tướng Đỗ Mậu.
- Quốc vụ khanh: Bác sĩ Lê Văn Hoạch (cựu Thủ tướng Cao Đài).
- Tổng trưởng Ngoại giao: Bác sĩ Phan Huy Quát (Đại Việt miền
Bắc).
- Tổng trưởng Nội vụ: Kỹ sư Hà Thúc Ký (Đại việt miền Trung).
- Tổng trưởng Công chánh: Kỹ sư Kiều lộ Trần Ngọc Oành (Công
giáo).
- Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục: Tiến sĩ Bùi Tường Huân (Phật
giáo).
- Tổng trưởng Quốc phòng: Trung tướng Trần Thiện Khiêm.
- Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn: Kỹ sư Nguyễn Công Hầu (Hòa
Hảo).
- Tổng trưởng Y tế: Bác sĩ Vương Quang Trường (độc lập).
- Tổng trưởng Lao động: Ông Đàm Sĩ Hiến (nguyên cố vấn các
nghiệp đoàn công nhân lao động).
- Tổng trưởng Thông tin: Ông Phạm Thái, một chiến sĩ VNQDĐ.
- Tổng trưởng Tài chánh: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh.
- Tổng trưởng Kinh tế: Tiến sĩ Âu Trường Thanh (trí thức cấp
tiến).
- Tổng trưởng Tư pháp: Luật gia Nguyễn Văn Mầu (Công giáo).
- Tổng trưởng Xã hội: Tiến sĩ Trần Quang Thuận (Phật giáo).
- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Luật sư Nghiêm Xuân Hồng (Duy
Dân).
Nhìn thành phần dân sự trên đây mà đại đa số là những chuyên
viên hoặc những người có quá trình đấu tranh khả tín, ta thấy chính phủ
Nguyễn Khánh quả đã tập họp được một “ê-kíp” có khả năng trên mặt điều hành
quốc gia cũng như có tính cách tiêu biểu cho sự đoàn kết dân tộc. Một điểm
cần lưu ý là dù đã ba tháng trôi qua, nhưng hình ảnh của những “người hùng
Cách mạng” và đặc biệt của tướng Dương Văn Minh, vẫn là những hình ảnh hùng
tráng mà quần chúng giữ rất nhiều cảm tình, thế mà cuộc chỉnh lý của tướng
Nguyễn Khánh cũng không gặp một phản ứng bất lợi nào cả.
Lẽ dĩ nhiên, ngoại trừ khối Công Giáo Cần Lao đang mong
chờ và đóng góp cho mọi xáo trộn để họ có thể hể hả với mối căm thù về việc
quân đội đã lật đổ ông Diệm, những thành phần còn lại của nhân dân đều,
ở một mặt nào đó, đồng ý với sự thay đổi chính phủ này vì những lý do sau
đây:
Trước hết vì Khánh đi đúng tâm lý quần chúng, nhất là đối với
giới sinh viên, đảng phái, tôn giáo, Hội Đồng Nhân Sĩ, và các lực lượng
chống Cộng khác khi Khánh đưa ra chiêu bài chống Trung lập, chống Pháp. Âm
mưu của anh em ông Diệm nhờ Pháp làm trung gian để thương thuyết với Hà Nội
vẫn ám ảnh nặng nề mọi người, trong khi đó thì chánh sách ngoại giao của
Pháp vẫn chủ trương hai miền Nam-Bắc Việt Nam phải thống nhất qua một cuộc
Tổng tuyển cử như đã quy đinh bởi Hiệp ước Genève, và riêng Tổng thống De
Gaulle càng ngày càng tỏ ra thân Hà Nội. Trong lúc đó Pháp kiều tại miền Nam
vẫn tiếp tục giúp đỡ Việt cộng, các đồn điền của Pháp vẫn tiếp tục chứa
chấp, nuôi dưỡng Việt cộng.
Đối với các đảng phái và tôn giáo thì chính phủ Nguyễn Ngọc
Thơ gồm nhiều nhân vật của chế độ cũ trong khi chính phủ Nguyễn Khánh lại
tập họp được nhiều nhân vật tiêu biểu đại diện cho các tôn giáo và đảng
phái. Phật giáo có các ông Bùi Tường Huân, Trần Quang Thuận, Công giáo có các ông Trần Ngọc Oành, Nguyễn Văn Mầu, Cao
Đài có ông Lê Văn Hoạch, Hòa Hảo có ông Huỳnh Công Hầu, Việt Quốc có ông
Phạm Thái, Đại Việt có các ông Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Huy Quát, Hà Thúc Ký,
Duy Dân có ông Nghiêm Xuân Hồng...
Điều thứ ba là mặc dù Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũ bị giải
tán nhưng nhiều nhân vật cốt cán trong việc lật đổ chế độ Diệm như các tướng
Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đỗ Mậu,... vẫn hiện diện trong chính quyền
mới. Sự hiện diện của ba vị tướng nói trên, dù nhiều khi chỉ có tính cách
tượng trưng, vẫn thỏa mãn được Phật giáo, sinh viên, và đại đa số quần chúng
chống đối chống chế độ Diệm.
Còn đối với Công giáo, tuy mang nặng mối thâm thù với các
tướng lãnh đã lật đổ chế độ Diệm nhưng cuộc chỉnh lý của tướng Khánh đã làm
họ thỏa mãn rất nhiều vì họ cho rằng cái hào quang của cuộc Cách mạng
1-11-63 đã bị sứt mẻ, cái huyền thoại “người hùng” của tướng Dương Văn Minh
đã bị đổ vỡ... Vả lại, các ông Cao Văn Viên, Albert Cao, Đặng Văn Quang,
Dương Ngọc Lắm, Ngô Du... những phần tử trung thành với ông Diệm, vẫn được
trọng dụng và việc Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung (người hạ sát ông Diệm) bị giết
tại trại Nhảy Dù của Cao Văn Viên cũng đã là yếu tố làm thỏa mãn khối Công giáo trên.
Đối với Mỹ, vốn đã có nhiều cảm tình với tướng Khánh từ lâu,
biết đó là vị tướng thông minh, có khả năng quân sự, lại thấy chính phủ của
tướng Khánh tiêu biểu cho sự “đoàn kết quốc gia” nên chính giới Mỹ đã bày tỏ
nhiều hy vọng.
Những yếu tố vừa nói trên đã củng cố địa vị cho tướng Khánh
và làm cho chánh tình miền Nam trong mấy tháng đầu dưới chính phủ Khánh
không gặp những xáo trộn trầm trọng nào.
Ngày 8-4, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara và tướng Taylor sang
Việt Nam quan sát tình hình. Đến Huế, Cần Thơ và các nơi khác, hai ông được
đón tiếp bằng những cuộc mít tinh rầm rộ. Hứng thú, MacNamara hô khẩu hiệu
“Việt Nam Muôn Năm” bằng tiếng Việt. Mỹ tuyên bố ủng hộ chính phủ Khánh và
gia tăng viện trợ cho Việt Nam. Hoa Kỳ giúp tăng quân số Việt Nam Cọng Hòa
thêm 50.000 người; tăng thêm 7.500 cán bộ Xây dựng Nông thôn, tăng cường lực
lượng Hải, Không quân với nhiều dụng cụ, vũ khí, tàu bè tân tiến. Tổng số
tiền viện trợ cho riêng quân sự và chương trình Bình định lên đến 50 triệu
đô la.
Tuy nhiên, không như Dương Văn Minh và Nguyễn Ngọc Thơ chỉ
muốn làm cách mạng ôn hòa, muốn tỏ thái độ đoàn kết với Cần Lao Công Giáo,
các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Đức, Đại tá Nguyễn Chánh
Thi, các sĩ quan Đại Việt, và thành phần chính phủ gồm đại đa số những nhân
vật từng chống đối chế độ Diệm, lại muốn nuôi dưỡng tinh thần Cách mạng
1-11-63 và tỏ thái độ cứng rắn với tàn dư của đảng Cần Lao theo đòi hỏi của
sinh viên, đảng phái, Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo. Do đó, Khánh cho mở những
cuộc triển lãm trưng bày tội ác nhà Ngô, ra lệnh truy lùng những nhân vật
quan trọng của chế độ cũ như cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần chẳng hạn, vẫn
giam giữ Ngô Trọng Hiếu, vẫn đưa Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông ra tòa với
bản án xử tử, và Đặng Sĩ, Dương Văn Hiếu... với bản án khổ sai. Chính phủ
Nguyễn Khánh cũng bãi bỏ Dụ số 10 bất công và ban hành sắc luật công nhận
Hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hiến chương Đạo Cao
Đài, để các tôn giáo này được bình đẳng với Giáo hội Công giáo.
Với hơn nửa năm thuận lợi cho chính phủ Nguyễn Khánh, giữa
một tình hình chính trị tương đối êm dịu, báo chí đã ví von Nguyễn Khánh với
Nasser, bởi vì sau khi quân đội Ai Cập do tướng Tổng Tham mưu trưởng cầm đầu
lật đổ vua Farouk, Trung tá Nasser (cũng như tướng Khánh) lật luôn vị chỉ
huy của mình rồi nắm lấy chính quyền để trở thành người hùng của Ai Cập.
Tuy nhiên, tình hình thuận lợi đó vẫn chưa đủ để chính phủ
Nguyễn Khánh bình thướng hóa sinh hoạt quốc gia và củng cố chế độ. Vì ở dưới
bề mặt bình lặng đó là những đợt sóng ngầm bắt đầu chuyển động, những đợt
sóng ngầm xuất phát từ phản ứng quá khích của một số tôn giáo, từ ý thức bè
phái quá nặng nề, từ những phá hoại của Việt cộng và từ những ấu trĩ chính
trị của một số giai tầng lãnh đạo mà từ mười năm qua đã bị tiêu hao hết ý
thức cách mạng.
Tại Huế, nhóm các ông Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Mai Văn
Lễ, Cao Huy Thuần, Lê Tuyên... (cha đẻ của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc sau
này) cho xuất bản báo Lập Trường làm cơ quan đấu tranh mà chiến thuật
đầu tiên là đả kích nặng nề chính phủ Nguyễn Khánh với những luận điệu khích
động và khuynh đảo. Còn tại Sài Gòn thì ông Hà Thúc Ký, Bộ trưởng Nội vụ lại
âm mưu đảo chánh lật đổ tướng Khánh. Vào đầu tháng Tư, sau một buổi họp của
Hội đồng Nội các, Thủ tướng Nguyễn Khánh bèn họp riêng với ba vị Phó Thủ
tướng và cho biết trường hợp của ông Hà Thúc Ký. Khánh đặc biệt nói thẳng
với Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn rằng: “Ông Hà Thúc Ký đã nhận lời mời của
tôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và đã có nhiều việc làm tai tiếng về tiền
bạc, thế mà ông lại âm mưu với một số sĩ quan định lật đổ tôi. Nếu tôi không
nể anh và đảng Đại Việt thì tôi đã bắt giam anh Hà Thúc Ký rồi”.
Những bí mật được tiết lộ dần dần sau đó cho biết đảng Đại
Việt chủ trương đưa ông Nguyễn Tôn Hoàn về để sẽ làm Thủ tướng, nhưng tướng
Khánh đã lợi dụng cơ hội đó để phối hợp cùng tiến hành cuộc chỉnh lý và dành
luôn chức Thủ tướng. Ông Ký bất mãn vì cho rằng những nhân vật tên tuổi như
ông, như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, từng lãnh đạo một đảng cách mạng có thành
tích chống Cộng, chống Pháp, chống Diệm mà lại phải phục vụ dưới quyền một
kẻ võ biền như Nguyễn Khánh. Tuy nhiên, trong lúc ông Ký chủ trương chống
tướng Khánh thì nhóm Bác sĩ Hoàn và ông Nguyễn Ngọc Huy lại thấy rằng đảng
Đại Việt chưa đủ thực lực để chi phối chính trường nên cần phải tạm thời hợp
tác với tướng Khánh, nắm lấy thời cơ “Bình định Nông thôn” để phát triển
đảng viên, bành trướng thế lực, tiêu diệt hạ tầng cơ sở Việt cộng trước đã
rồi sẽ nắm lấy chính quyền qua một cuộc bầu cử cho danh chánh ngôn thuận
hơn.
Vì quan niệm và chủ trương bị diệt, từ đó ông Hà Thúc Ký tách
rời khỏi đảng do ông Hoàn lãnh đạo, thành lập đảng mới lấy tên là Đại Việt
Cách Mạng mà chủ lực là khối đảng viên Trị Thiên và Phú Yên, hợp tác với
nhóm Tứ Ân Nguyễn Long Châu (thân Cộng, bị chế độ Diệm bắt giam, được Bộ
trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký trả tự do) và nhóm Cần Lao Công Giáo. Còn nhóm các
ông Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Ngọc Huy cải tổ bộ máy đảng và đổi tên là Tân
Đại Việt.
Tướng Lâm Văn Phát được cử làm Bộ trưởng Nội vụ thay ông Hà
Thúc Ký trong lúc người đồng chí và bạn nối khố của ông Ký là Đoàn Thái, vì
bất đồng chính kiến và vì những mâu thuẫn trong vụ tiền bạc giữa ông ta và
ông Ký, nên vẫn ở lại hợp tác với tân Bộ trưởng, lên án ông Ký quá khích,
tham nhũng, không thức thời.
Vụ “Đại Việt” nói trên và vụ báo Lập Trường ở miền Trung gây
lúng túng cho chính phủ, gây hoang mang cho quần chúng, do đó mà thế lực
sinh viên, quân đội, Phật giáo, Công giáo bắt đầu phát động những áp lực
chính trị cho quyền lợi và chủ trương của mình.
Về phía Phật giáo, những rạn nứt ngấm ngầm giữa Thượng tọa
Tâm Châu với các tăng sĩ miền Trung và miền Nam bắt đầu lộ ra đến nỗi ngày
15-5-1964, hai Thượng tọa Thích Tâm Châu và Trí Quang phải cùng ra thông
bạch: “Không hề có sự rạn nứt giữa các nhà lãnh đạo Phật giáo, nhất là giữa
hai anh em chúng tôi”. Nhưng thông bạch của hai Thượng Tọa đã không trấn an
nổi Phật tử mà còn xác định thêm những mâu thuẫn trong hàng tăng chúng, vì
nguyên nhân chính của sự mâu thuẫn là Thượng tọa Tâm Châu thì ôn hòa, muốn
thỏa hiệp với các chính phủ trong lúc khuynh hướng của Thượng tọa Trí Quang
thì chống lại sự phục hồi của khối Công Giáo Cần Lao.
Về phía Công giáo, tuy đã thỏa mãn với cuộc chỉnh lý nhưng
vẫn căm thù Phật giáo mà họ cho là nguyên nhân của cuộc lật đổ chế độ Diệm.
Đã thế, những vụ án tử hình ông Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông, những bản án
khổ sai dành cho một số cán bộ Cần Lao, cuộc triển lãm tội ác nhà Ngô, những
lời đả kích nặng nề chế độ Diệm đăng đầy trên các báo cũng như những khẩu
hiệu “Bài trừ Cần Lao” của sinh viên cũng làm cho khối Công giáo đang mang
đầy mặc cảm phạm tội trở nên xúc động, căm tức hơn. Một số họ đạo tại Huế đã
có những cuộc biểu tình “đả đảo cách mạng” đến nỗi tòa Tổng giám mục Sài Gòn
đã phải ra thông cáo minh định lập trường chung của Giáo hội Công giáo.
Ngày 23-5-1964, Tòa Tổng giám mục Sài Gòn, qua thái độ ôn hòa
của Giám mục Nguyễn Văn Bình, đã ra thông cáo: “Không ra lệnh tổ chức biểu
tình mà cũng không chấp nhận một cuộc biểu tình nào, giáo dân cần tránh biểu
tình nhân ngày Phật đản”. Nhưng rồi có lẽ vì bị áp lực của khối Công giáo di
cư nên ngày hôm sau, Giám mục Nguyễn Văn Bình lại phải ra thông cáo thứ hai:
“Chỉ khuyên tránh biểu tình trong ngày Phật đản mà thôi, còn thì giáo dân
được tự do phát biểu quan niệm chính trị của mình theo thể thức nào cho là
hợp lý nhất”.
Đối với những phần tử Công giáo quá khích, thông cáo thứ hai
của Tòa Tổng giám mục không những đã được diễn dịch như một sự khuyến khích
mà còn là một hiệu lệnh. Ngày 7 tháng 6 năm 1964, 29 họ đạo Hố Nai và vùng
phụ cận Sài Gòn cùng hàng vạn giáo dân Đô thành đã biểu tình tại công trường
Lam Sơn với các biểu ngữ như “Lột mặt nạ bọn lợi dụng cách mạng để đàn áp
Công giáo”, “Mị dân là phản bội dân chủ”, “Ủng hộ cuộc tranh đấu của Công
giáo miền Trung”. Và ngày 15-6-64, tại Huế, hàng ngàn giáo dân xuống đường
biểu tình với cùng một lập luận như cuộc biểu tình của giáo dân tại Sài Gòn.
Hai cuộc biểu tình đầu tiên do Công giáo tổ chức đó đã tạo tiền lệ cho những
cuộc biểu tình, xuống đường sau này của sinh viên và Phật giáo.
Còn về phía sinh viên thì cho đến giữa năm 1964 chỉ mới có
những đám biểu tình nhỏ, đòi hỏi những quyền lợi liên hệ đến vấn đề giáo dục
hơn là chính trị, và cơ cấu tổ chức của các định chế lãnh đạo của sinh viên
chỉ mới trong giai đoạn phôi thai nên chưa vận động được những cuộc biểu
dương rầm rộ nào cả.
Tuy nhìn thấy những mầm mống nổi loạn đó nhưng tướng Khánh đã
không đánh giá đúng mức tầm quan trọng và viễn tượng công phá của nó sau này
nên vẫn không e ngại tình hình xáo trộn. Ngược lại, Khánh chỉ lo xây dựng vị
thế của mình bằng cách vô hiệu hóa uy tín của các tướng Đôn, Xuân, Kim,
Đính, Vỹ trong một cuộc xét xử tại Đà Lạt, và bằng cách thăng thưởng cho một
số Đại tá và giao cho họ những địa vị nòng cốt trong cả ba ngành Hải, Lục,
Không quân để mua chuộc cảm tình.
Đại tá Trần Thanh Bền, một cộng sự viên thân tín của tướng
Khánh được bổ nhiệm chức Tổng giám đốc Cảnh sát Công an ngay sau khi chỉnh
lý, còn chức Đô trưởng Sài Gòn thì do tướng Dương Ngọc Lắm (em rể của cựu
Dân biểu Đỗ Cao Minh của nhà Ngô), vốn là bạn thân của tướng Khánh và có
công trong cuộc chỉnh lý, nắm giữ. Tướng Khánh giải tán Hội Đồng Nhân Sĩ do
tướng Dương Văn Minh thành lập để triệt hạ tiếng nói chính thức của giới đối
lập hợp pháp. Để nắm báo chí vốn được tự do ngôn luận từ sau Cách mạng 1-11,
ông Khánh cho thành lập Hội Đồng Báo Chí để lập Quy chế Báo chí, mà trong đó
có điều lệ các chủ báo phải tốt nghiệp từ các trường báo chí hoặc đã hành
nghề báo chí từ 7 năm, phải ký quỹ và kê khai số vốn và nguyên lai. Ngày
1-7-64, ông Khánh cho thành lập đoàn Tuyên úy Phật giáo trong quân đội mà
suốt chín năm dưới chế độ Diệm chưa bao giờ tổ chức này được thiết lập dù
Công giáo hay Tin Lành đã có cơ quan Tuyên úy từ lâu.
Ngày 20-7-1964, để đánh dấu 10 năm ngày chia cắt đất nước,
một cuộc biểu tình vĩ đại chưa từng thấy tại thủ đô Sài Gòn đã được tổ chức
trọng thể tại công trường Lam Sơn để lên án thực dân, Cộng Sản và để kỷ niệm
ngày Quốc Hận (sẽ nói rõ ở đoạn sau).
Đêm 20 tháng 7, sinh viên Sài Gòn thắp đuốc diễn hành trên
nhiều đường lớn rồi tổ chức Đêm không ngủ tại trường Đại học Văn Khoa để hội
thảo về tình hình đất nước và để suy ngẫm về ngày đất nước bị chia đôi.
Sáng 21-7, hơn 100 sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp,
đốt xe và đập phá, gây một số thiệt hại khiến chính phủ Pháp gởi kháng thư
và đòi bồi thường.
Những hoạt động biểu dương đó của sinh viên dù một phần nào
đó có do các đảng phái và tôn giáo điều động thì ngược lại, đã làm cho người
Mỹ thỏa mãn. Đại diện cho chính phủ Mỹ tại Sài Gòn là Đại sứ Taylor và Đại
tướng Westmoreland đã tỏ ra phấn khởi thấy tinh thần chống Cộng của quân dân
miền Nam đã được phục hồi sau những hoang mang giao động của biến cố Phật
giáo.
Nắm vững được quân đội, được người Mỹ hết lòng ủng hộ, lại
được cảm tình của Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Khánh âm mưu thực hiện mộng
“mưu bá đồ vương”, tham vọng trở thành một Hồ Quý Ly của thế kỷ 20.
Thật vậy, để chuẩn bị tâm lý quần chúng, ngày 26-7-1964,
Khánh ký sắc lệnh định ngày 4 và 11 tháng 10 năm 1964 sẽ tổ chức cuộc bầu cử
các Hội đồng Nhân dân Địa phương, những hội đồng mà chế độ Diệm đã bãi bỏ từ
năm 1954 làm cho nhân dân rất bất mãn. Còn tại đô thị, nơi có thể có các
cuộc biểu tình chống đối, Khánh lợi dụng việc Việt cộng có thể gia tăng các
hoạt động, ban hành tình trạng khẩn trương tại Sài Gòn-Gia Định.
Ngày 7-8-64, Khánh cho tái lập chế độ kiểm duyệt báo chí.
Ngày 11-8-64, Khánh thăng Khiêm (đang là Bộ trưởng Quốc
phòng) lên cấp Đại tướng, thăng Thiếu tướng cho Cao Văn Viên, Tôn Thất Xứng,
Chung Tấn Cang, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu
Nhân, Cao Hảo Hớn, Ngô Du, và thăng Chuẩn tướng cho các Đại tá Nguyễn Đức
Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Albert Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh
Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm.
Đối với Phật giáo, Khánh hứa sẽ thẳng tay trừng trị những kẻ
còn chủ trương kỳ thị Phật giáo khi phái đoàn Thượng Tọa Thiện Minh đến gặp
Khánh để trình bày hồ sơ về vụ đàn áp Phật giáo ở các địa phương (bắt bớ ở
Đồng Xuyên, đốt nhà ở Tuy Phước, sát hại Phật tử ở An Thạnh...) do nhiều
nhóm Cần Lao miền Trung chủ động và được Chuẩn tướng Ngô Du (một Công giáo
Cần Lao) chỉ huy vùng Nam Ngãi yểm trợ.
Tin vào những yếu tố, những biến cố mà tướng Khánh cho là
thuận lợi đó, ngày 16-8-64, ông triệu tập một buổi họp các tướng lãnh ở Vũng
Tàu để ban hành một hiến chương mới và để bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm
Chủ tịch nước Việt Nam Cộng Hòa. Theo hiến chương này, Chủ tịch còn là Quốc
trưởng và tập trung nhiều quyền hạn đặc biệt; sẽ có một Quốc hội lâm thời
gồm 100 đại biểu dân sự, 50 đại biểu quân nhân, còn Hội Đồng Quân Đội Cách
Mạng (mà Khánh là Chủ tịch) vẫn là cơ quan chỉ đạo tối cao của quốc gia. Sau
đó, nhiều địa phương và đoàn thể gởi điện văn và kiến nghị “nhiệt liệt hoan
nghênh hiến chương ban bố đúng lúc”, “kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời
chúc mừng nồng nhiệt”, “nguyện đồng tâm nhất trí đoàn kết sau lưng Chủ tịch
và Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng”... (báo chí Sài Gòn có đăng tải những kiến
nghị và diễn văn này). Một số Quốc trưởng như Phi Luật Tân, Đại Hàn... gởi
điện văn mừng Chủ tịch Nguyễn Khánh.
Nhưng để tiếp nối truyền thống chống độc tài và trung ương
tập quyền mà thái độ đã từng biểu hiện qua ngày 1-11-63 mới cách đó 9 tháng,
ngày 19 và 20 tháng 8, sinh viên Sài Gòn tập họp đông đảo tại trụ sở đường
Duy Tân để hội thảo về lập trường và thái độ đối với Hiến chương Vũng Tàu.
Ngày 22, sinh viên xuống đường ồ ạt và kéo tới phủ Thủ tướng đưa kiến nghị
phản đối Hiến chương, đòi thành lập chính phủ mới, đòi tướng lãnh trở về
nhiệm vụ quân sự, đòi diệt trừ Cần Lao và Thực Cộng ẩn nấp trong chính
quyền.
Ngày 23, sinh viên học sinh biểu tình qua trường Jean Jacques
Rousseau (sau này được đổi tên là Trung học Lê Quý Đôn) kêu gọi học sinh
trường Pháp này tham dự cuộc tranh đấu, rồi tới Bộ Thông tin chất vấn Tổng
trưởng, đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí và đập phá một số đồ đạc. Cùng
ngày này, chừng vài trăm người (mà người ta nghi là một nhóm giáo dân quá
khích do tướng Dương Ngọc Lắm và Đại tá Trần Thanh Bền tổ chức) đi xe buýt
tới trụ sở sinh viên đường Duy Tân với gậy gộc, dao búa, đập phá đốt cháy
nhiều đồ đạc của trụ sở sinh viên.
Ngày 25-8-64, sinh viên, học sinh và hàng chục ngàn đồng bào
tập họp trước chợ Bến Thành để tưởng niệm nữ sinh Quách Thị Trang, rồi kéo
tới Phủ Chủ tịch ở đường Thống Nhất và đả đảo Hiến chương Vũng Tàu, đả đảo
độc tài. Trước khí thế đó, tướng Khánh đã phải ra gặp mặt đoàn biểu tình và
cũng hô “đả đảo độc tài”, và hứa sẽ xét lại gấp vấn đề. Cùng ngày này và
trước tình hình đó, HĐQĐCM phải họp khẩn cấp tại Bộ Tổng Tham mưu để thảo
luận.
Ngày 26, nhiều tin phá chùa và phá nhà thờ được đồn đãi khắp
Thủ đô, Phật tử đổ xô đến canh gác Viện Hóa Đạo và tượng Quách Thị Trang,
còn các khu Công giáo cũng sôi động chuẩn bị dao, búa, gậy gộc.
Trong lúc đó thì tại Đà Nẵng, một đoàn biểu tình của Phật
giáo khi kéo qua trước một trại quân Mỹ, và khi nghe tiếng súng của lính Mỹ
bắn chỉ thiên, đã hoảng hốt chạy tràn vào xóm Thanh Bồ gần đó, lực lượng tự
vệ Công giáo tưởng bị tấn công nên đối phó lại và sinh ra ẩu đả. Hai bên
chết 11 người và bị thương 42 người.
Cùng ngày, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng họp liên tục từ hôm
qua, ra tuyên cáo “thu hồi Hiến chương Vũng Tàu”, sẽ bầu nguyên thủ quốc gia
để thực hiện các cơ cấu dân chủ. Quân đội sẽ trở về cương vị quân sự và ủy
chính phủ hiện thời tạm điều khiển quốc gia.
Ngày 27-8-64, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng bầu Tam Đầu Chế gồm
ba tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm làm ủy Ban Lãnh
Đạo Quốc Gia, và giao cho chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ với công
tác khẩn cấp triệu tập một Quốc dân Đại Hội trong vòng hai tháng. Trong lúc
những tướng lãnh hội họp thì chừng hai ngàn giáo dân nhiều ngả kéo tới trước
Bộ Tổng Tham mưu với gậy, dao, búa đòi vào gặp Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng.
Họ trưng biểu ngữ “ủng hộ Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, chống Cộng Sản và
chống Trung lập, chống vụ phá hoại đài phát thanh và Bộ Thông tin, chống âm
mưu chia rẽ và chống Dương Văn Minh”. Quân cảnh ngăn cản nhưng đám người cứ
xông lên phá cửa chính nên đơn vị phòng vệ Bộ Tổng Tham mưu bắn chết bốn
người và làm bị thương 11 người, một binh sĩ bị chém và một bị thương. Cho
đến khi tướng Khánh sai tướng Huỳnh Văn Cao (người Công giáo) ra phủ dụ,
đoàn biểu tình mới chịu giải tán.
Vào khoảng hai giờ chiều, một đoàn biểu tình Công giáo khác
kéo tới đài phát thanh đòi truyền đi một bản tuyên ngôn, rồi kéo qua đường
Phan Đình Phùng khiêu khích học sinh trường Trung học Nguyễn Trường Tộ (thân
Phật giáo). Học sinh trường này bèn gọi cầu viện học sinh trường Cao Thắng
(thân Phật giáo) để chống trả lại đám biểu tình. Cuộc ẩu đả gây cho 13 người
bị thương, có hai học sinh bị đâm chết. Linh mục Hồ Văn Vui và Thượng tọa
Thích Tuệ Đăng phải tới hòa giải mãi tới 7 giờ tối mọi người mới chịu giải
tán.
Tối hôm đó, cả Đô thành trở nên căng thẳng. Các khu Công giáo
ở Trương Minh Giảng, Phú Nhuận báo động và được thanh niên Công giáo đứng
gác ở các đầu đường, còn tại Viện Hóa Đạo và chợ Bến Thành cũng nhan nhản
những thanh niên và Phật tử đứng canh.
Tòa Tổng Giám mục và Viện Hóa Đạo bèn ra thông cáo chung
khuyến cáo tín đồ hai bên phải bình tĩnh và tránh mọi xách động. Báo giới
Thủ đô và Tòa Đô chính cũng kêu gọi dân chúng giữ hòa khí và trật tự.
Ngày 28-8-1964, những cuộc xáo trộn rối ren giữa Đô thành vẫn
tiếp tục, ngoài Phật tử và giáo dân xô xát nhau, nhiều nhóm du đãng cũng lợi
dụng sự hỗn loạn để cướp bóc. Đêm 28, các cuộc đụng độ vẫn tiếp diễn đến nỗi
lính Nhảy Dù phải nổ súng làm cho hai người chết và 48 người bị thương.
Cùng ngày 28, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo đả kích các ông
Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký đã âm mưu đảo chánh. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân
Oánh được thừa ủy nhiệm Thủ tướng để điều khiển chính phủ. Tình trạng giới
nghiêm được ban hành.
Ngày 30-8, Bộ Tổng Tư Lệnh ra thông cáo “Quân đội quyết chống
các vụ biểu tình và phá hoại, và sẽ cương quyết nổ súng nếu cần”.
Ngày 1-9, Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Thượng Tọa
Thích Tâm Châu ra thông bạch “những việc xảy ra ngày 28 chứng tỏ Phật giáo
vẫn bị đe dọa, chính quyền phải dứt khoát với nhóm người thuộc chế độ cũ...
Nếu ngày 27 tháng 10 mà nguyện vọng của Phật giáo chưa đạt thì sẽ bãi thị
bãi khóa...”
Ngày 7-9, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch
Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Quốc Gia và Quân Lực.
Ngày 8-9, một Thượng Hội Đồng Quốc Gia được thành lập gồm 16
nhân sĩ tên tuổi là các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền,
Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ,
Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương
Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng.
Ngày 9-9, linh mục Hoàng Quỳnh, Chủ tịch Ủy Ban Tranh Đấu của
khối Công giáo gởi thư ngỏ cho Thủ tướng Nguyễn Khánh trách chính phủ không
quan tâm đến các vụ đàn áp Công giáo trong những ngày qua, và yêu cầu điều
tra vô tư, giải quyết các vụ ở Đà Nẵng, Quy Nhơn, và vãn hồi an ninh, nếu
không Công giáo sẽ tự vệ và không chịu trách nhiệm về các hậu quả có thể xảy
ra.
Cùng ngày này, các ông Bùi Tường Huân, Trần Quang Thuận và
các tướng lãnh trong chính phủ Nguyễn Khánh đưa đơn từ chức. Tướng Dương
Ngọc Lắm (Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn) được ông Trần Văn Hương thay thế, và
Đại tá Nguyễn Quang Sanh thay thế Đại tá Trần Văn Bền (Tổng giám đốc Công
an). Các tướng Xuân, Đôn, Kim, Đính, Vỹ được trả tự do trở về Sài Gòn.
Tình hình tưởng đã ổn định nhờ sự dàn xếp của các cấp lãnh
đạo Phật giáo và Công giáo, nhờ việc tướng lãnh trở về quân đội, nhờ sự hiện
diện của Thượng Hội Đồng Quốc Gia gồm nhiều nhân vật tên tuổi, nhờ sự trở
lại chức vị “lãnh đạo Quốc gia lâm thời” của tướng Dương Văn Minh, không ngờ
ngày 13-9 Trung tướng Dương Văn Đức và Thiếu tướng Lâm Văn Phát (Công giáo)
lại kéo quân về Sài Gòn-Gia Định chiếm đóng một số địa điểm, đả kích tướng
Nguyễn Khánh và nhân danh Hội Đồng Quân Dân Cứu Quốc tuyên bố tái lập trật
tự đã bị phá hoại cùng uy quyền quốc gia đã bị miệt thị. Có tin đồn vụ này
do lực lượng đảng Đại Việt và vài nhóm Công giáo phát động. Tướng Khánh đang
ở Đà Lạt vội lên đài phát thanh lên án hai tướng Đức và Phát, trong lúc
nhiều tướng khác nhóm họp tại Bộ Tư lệnh Không quân tìm phương thức đối phó.
Ngày 14-9-64, các tướng lãnh tiếp tục họp tại Bộ Tư lệnh
Không quân và ra lệnh cho tướng Đức phải rút quân về các vị trí cũ, nếu
không sẽ cho phi cơ đến tấn công. Tướng Đức nhượng bộ rút quân nên đã không
xảy ra vụ xô xát nào cả. Trong lúc đó thì sinh viên lại hội thảo và xuống
đường biểu tình đả đảo dư đảng Cần Lao đã mưu toan đảo chánh.
Ngày 16, Thủ tướng Khánh trở về Sài Gòn ra lệnh điều tra vụ
đảo chánh hụt, một số nhân vật dân sự Công giáo bị bắt. Ngày hôm sau, một số
tướng tá liên quan đến biến cố 13-9 bị cách chức trong đó có Trung tướng
Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, Đại tá
Huỳnh Văn Tồn và Trung tá Dương Hiếu Nghĩa.
Ngày 21, hàng ngàn thanh niên do Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
tại Huế xách động đánh chiếm đài phát thanh và nhiều cơ sở ở Huế và Quy
Nhơn, đồng thời lùng bắt Cần Lao. Ở Phan Thiết cũng hàng ngàn thanh niên
phát động phong trào tranh đấu diệt trừ Cần Lao và nhiều cuộc xô xát đã xảy
ra.
Ngày 27-9-64, ông Phan Khắc Sửu được bầu làm Chủ tịch Thượng
Hội Đồng Quốc Gia.
Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung phần lập “Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” để thanh toán Cần Lao.
Hội Đồng Chỉ đạo Sinh viên Học sinh quyết nghị và thông cáo
“Chống đảng phái chính trị xen lấn vào học đường và chống mọi sự lôi cuốn
sinh viên làm chính trị”.
Ngày 28-9, nhiều cuộc biểu tình bạo động tiếp tục xảy ra ở
Quy Nhơn.
Tổng Hội Sinh Viên nhóm họp phản đối các vụ gây rối của Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Trung phần, yêu cầu các giới đoàn kết, yêu cầu
trừng trị dư đảng Cần Lao.
Ngày 2-10, các Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc vẫn hoạt động quá
khích và định nhóm đại hội ở Huế để ấn định chính sách chung.
Ngày 5-10, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên họp tại rạp Thống Nhất
đả kích và lên án các Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc tại miền Trung.
Ngày 8-10, sáu sinh viên từ Huế vào họp báo tuyên bố ủng hộ
Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc.
Ngày 22-10, Thủ tướng Nguyễn Khánh tuyên bố tại Pleiku “Quân
đội là cha quốc gia”.
Ngày 24-10, Thượng Hội Đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch
Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bầu Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ làm Quyền Chủ
tịch Thượng Hội Đồng. Tướng Trần Thiện Khiêm được cử làm Đại sứ Việt Nam tại
Hoa Kỳ.
Ngày 26-10, Ban Lãnh Đạo Quốc gia Quân Lực (do tướng Dương
Văn Minh làm Chủ tịch) chính thức chuyển giao quyền hành cho tân Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu.
Ngày 30-10, giáo sư Trần Văn Hương được Quốc trưởng Phan Khắc
Sửu bổ nhiệm làm Thủ tướng.
Ngày 4-11, chính phủ Trần Văn Hương ra mắt với một thành phần
nội các hoàn toàn dân sự. Trung tướng Nguyễn Khánh được cử làm Tổng Tư lệnh
Quân đội. Tổng Hội Sinh viên nhóm họp, tỏ ý dè dặt về thành phần nội các
nhưng mong rằng chính phủ có chính sách cách mạng thật sự.
Ngày 5-11, bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch
Thượng Hội Đồng vì không đồng ý về sự thành lập chính phủ Trần Văn Hương.
Ngày 6-11, sinh viên Sài Gòn lại nhóm họp đả kích thành phần
nội các và đòi xét lại toàn diện vấn đề và chỉnh đốn Thượng Hội Đồng vì lý
do có nhiều phần tử gây chia rẽ. (Có ý cho rằng chính phủ của “người Nam
kỳ”).
Ngày 7-11, có nhiều tin đồn sinh viên và Phật tử sẽ xuống
đường phản đối chính phủ, cùng ngày này, Trung tướng Dương Văn Minh được cử
ra nước ngoài làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc.
Ngày 9-11, Bộ Thông tin tuyên bố “Chính phủ không cải tổ,
không từ chức”.
Ngày 11-11, sinh viên Sài Gòn tiếp tục hội thảo sôi nổi,
tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu một chính phủ
“chuyên viên già nua lại bị nhóm Tinh Thần giật dây”.
Ngày 13-11, Thủ tướng Trần Văn Hương trả lời mọi thắc mắc của
Thượng Hội Đồng và tuyên bố “Phải tái lập uy quyền quốc gia, tách rời chính
trị khỏi tôn giáo, đưa tôn giáo ra khỏi chính trị”.
Ngày 16-11, sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu
cầu giải tán chính phủ Trần Văn Hương. Cùng ngày, Thượng Hội Đồng quyết định
lập một Uỷ ban điều tra về thành phần chính phủ.
Ngày 18-11, luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ tịch Thượng
Hội Đồng Quốc gia.
Ngày 20-11, văn phòng Thủ tướng cho biết 148 nhà trí thức, ký
giả ủng hộ chính phủ và Thủ tướng.
Ngày 22-11, biểu tình lớn ở nhiều nơi với nhiều biểu ngữ đả
kích chính phủ Trần Văn Hương.
Ngày 24-11, Thượng Tọa Thích Tâm Châu gởi thư lên Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu và Thượng Hội Đồng yêu cầu có thái độ dứt khoát với cuộc khủng
hoảng hiện tại. Nhiều trường học bãi khóa. Cùng ngày này, hai tướng Dương
Văn Minh và Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng.
Ngày 25-11, học sinh trường Hồng Lạc đường Trần Quốc Toản bãi
khóa phản đối biện pháp bắt bớ những người biểu tình. Cảnh sát tới bị ném
đá. Nhảy Dù phải can thiệp. Buổi chiều, nhiều đám người khác lại gia nhập
lực lượng học sinh ném đá vào cảnh sát, quân đội lại phải can thiệp cho đến
9 giờ đêm mới giải tán: 85 người bị thương, 238 người bị bắt, cùng ngày này,
các trường học lại bị đóng cửa cho đến khi có lệnh mới.
Ngày 27-11, chính phủ ban hành lệnh thiết quân luật tại Sài
Gòn-Gia Định trong một tháng. Viện Hóa Đạo tuyên bố tạm thời đóng cửa ngưng
hoạt động.
Ngày 28-11, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố “không lùi
bước, phải dùng mọi cách tái lập trật tự”. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ họp báo
tuyên bố: “... cùng với nhiều đảng phái để thành lập một Hội Đồng Dân Tộc
Cách Mạng để cứu vãn tình thế”.
Ngày 4-12, các tướng lãnh họp tại Đà Lạt tuyên bố ủng hộ một
chánh phủ dân sự lành mạnh yêu nước không bị một áp lực nào, đồng thời dự bị
thiết lập một Hội Đồng Quân Lực.
Ngày 8-12, Thủ tướng Trần Văn Hương phản đối sự chỉ định một
ủy ban của Thượng Hội Đồng để xét lại thành phần chính phủ.
Ngày 13-12, có tin Đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết, các
Thượng Tọa Trí Quang và Tâm Châu tuyệt thực 24 giờ.
Ngày 17-12, một số tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng và
trình bày về việc cho một số tướng già về hưu.
Ngày 18-12, “Hội Đồng Quân Lực” được thành lập do một huấn
lệnh của Tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh với mục đích “giúp đỡ Tổng Tư lệnh với tư
cách cố vấn và xóa bỏ mọi bất công để thực hiện một chính sách sử dụng nhân
sự công bằng trong quân đội”. (Thành lập Hội Đồng Quân Lực, Khánh âm mưu sử
dụng nó như một cơ quan tối cao đại diện quân đội về mặt chính trị). Cùng
ngày này, Bộ Giáo Dục ra một thông cáo đại ý cảnh cáo trường nào được mở cửa
lại mà vẫn lộn xộn sẽ bị đóng cửa hẳn. Đã có 60 trường nộp đơn xin mở cửa
lại.
Ngày 20-12, Hội Đồng Quân Lực ra thông cáo “không tín nhiệm
Thượng Hội Đồng Quốc Gia vì đã gây chia rẽ, đã mua chuộc một số tướng lãnh,
có óc bè phái”, rồi tuyên bố giải tán Thượng Hội Đồng. Sáu hội viên của
Thượng Hội đồng, tướng Đỗ Mậu và 14 chính khách, giáo sư, sinh viên bị bắt
lên Kontum, Pleiku để quản thúc.
Cùng ngày này, tướng Khánh ra nhật lệnh tuyên bố: “Quân lực
không thực hiện chính sách ngoại bang nào cả. Thà thanh bạch trong độc lập
còn hơn là giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang”. (Lưu ý rằng trong
thời gian này, Hoa Kỳ và đặc biệt Đại sứ Taylor đã tỏ thái độ chống đối việc
tướng Khánh và quân đội xen lấn vào chính trị). Cả hai tòa đại sứ Hoa Kỳ lẫn
Anh Quốc và khối Công giáo tại Việt Nam đều công khai ủng hộ Thủ tướng Trần
Văn Hương.
Ngày 25-12, Đại tướng Khánh tuyên bố với báo New York Herald
Tribune: “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng được, ông
muốn dùng áp lực đối với giới hữu trách Việt Nam. Nếu ông không khéo xử thế
thì Việt Nam sẽ mất. Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ này.
Ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà
dân Việt Nam không muốn”. (Lời tuyên bố của tướng Khánh hàm ý chỉ có Hội
Đồng Quân Lực mới có thực lực, do đó chỉ có ông mới là xứng đáng là người
lãnh đạo quốc gia).
Ngày 18-1-1965, sau nhiều âm mưu hậu trường và nhiều thỏa
hiệp chia ghế, chính phủ Trần Văn Hương tuy chưa bị lật đổ nhưng phải cải tổ
lại với sự tham gia của bốn tướng là Nguyễn Văn Thiệu (Đệ nhị Phó Thủ
tướng), Trần Văn Minh (Minh nhỏ) Tổng trưởng Quân Lực, Linh Quang Viên (Tổng
trưởng Tâm lý chiến), Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên Thể thao). Tuy
nhiên, từ ngày chính phủ Hương cải tổ thì khối Phật giáo lại hoạt động chống
đối mạnh liệt hơn. Ngày 20, các Thượng tọa Trí Quang, Tâm Châu, Pháp Tri,
Thiện Hoa, Hộ Giác bắt đầu tuyệt thực trong lúc Tăng Ni Phật tử tiếp tục
biểu tình. Ngày 22, họ kéo đến trước Tòa Đại sứ Mỹ với biểu ngữ “Hãy để cho
dân tộc Việt Nam tự quyết”.
Ngày 23, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu
gọi mọi người lãnh trách nhiệm với tình thế, tránh các vụ xách động rồi lên
án “lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục Tăng Ni...” và gọi những hoạt động
đấu tranh của Phật giáo là “những trò khỉ”. Cùng ngày này, có những cuộc tụ
tập trước Viện Hóa Đạo và một giáo sư khi thấy con gái mình trong đám đông
biểu tình đã yêu cầu một Đại tá đánh cho ba roi. Quân đội nhân dịp đó đánh
luôn 69 cô khác, mỗi cô ba roi rồi đuổi về. Đêm 23 tại Huế, một đoàn biểu
tình kéo tới phòng Thông tin Hoa Kỳ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ với 5.000
cuốn sách. Phó lãnh sự Mỹ tới chữa cháy bị ném đá. Sinh viên đại học Huế đặt
chướng ngại vật chận các lối vào lớp học. Tại Nha Trang, 300 Tăng Ni tuyệt
thực. Các cuộc biểu tình xáo trộn do Phật giáo, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
và sinh viên gây ra vẫn tiếp diễn cho đến ngày 27 tháng Giêng năm 1965 mới
tạm thời lắng dịu.
Ngày 27-1, Hội Đồng Quân Lực tuyên cáo “Quân đội đã trả quyền
từ ngày 27 tháng 10 cho phía dân sự nhưng tình thế mỗi ngày mỗi rối ren”.
Sau ba ngày thảo luận, Hội Đồng Quân Lực quyết định ủy nhiệm tướng Nguyễn
Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng, triệu tập ngay một Hội Đồng Quân Dân gồm
20 đại diện các tôn giáo, nhân sĩ và quân lực.
Ngày 28-1, theo quyết định của Hội Đồng Quân Lực, Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu được lưu nhiệm, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm
quyền Thủ tướng. (Hình như Thủ tướng Trần Văn Hương đã bị các tướng lãnh đem
đi cô lập ở Vũng Tàu).
Cùng ngày này, Thượng tọa Trí Quang họp báo cho biết chỉ muốn
đừng dung thứ những phần tử xấu thuộc chế độ cũ và đừng coi Phật giáo là
Cộng Sản. Phật giáo không chống Mỹ nhưng Việt Nam cũng không thể bị hiểu lầm
(là tay sai của Mỹ).
Ngày 11-2-65, Đức Giáo Hoàng Paul VI, vị Giáo Hoàng nổi tiếng
thân Nga Sô và thân Hà Nội
[3] kêu gọi ngưng chiến ở Việt Nam.
Ngày 14 tháng 2, Đại sứ Taylor tuyên bố trong một cuộc phỏng
vấn “Nhân dân Việt Nam đã chán ngán vì bị tấn công mãi mà không được trả
đũa. Không còn có thể coi Bắc Việt là sào huyệt an toàn nữa”. Từ đó Mỹ bắt
đầu ném bom Bắc Việt và soạn sửa đem quân vào miền Nam.
Ngày 16-2-65, thừa ủy nhiệm Hội Đồng Quân Lực, Đại tướng
Nguyễn Khánh Tổng Tư lệnh Quân đội VNCH ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan
Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng thành
lập chính phủ mới. Trong nội các mới này, Công giáo có thêm Trung tướng
Nguyễn Văn Thiệu, Phật giáo có bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên, giáo sư Trần Quang
Thuận và kỹ sư Ngô Trọng Anh.
Ngày 17-2, Hội Đồng Quân Lực ra quyết định thiết lập Hội Đồng
Quốc Gia Lập Pháp gồm 20 đại diện đủ thành phần tôn giáo và sáu tướng tá.
Chủ tịch Hội Đồng là tướng Phạm Xuân Chiểu.
Ngày 19-2-65, Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Công giáo) kéo một lực
lượng Bộ binh và chiến xa về Sài Gòn chiếm đóng trại Lê Văn Duyệt, đài phát
thanh và bến Bạch Đằng.
Theo tin đài phát thanh buổi chiều thì một số đoàn thể thuộc
Lực lượng Bảo vệ Dân tộc (Công giáo) nổi dậy chống tướng Nguyễn Khánh để
thành lập một chính quyền dân sự.
Các tướng lãnh họp ở phi trường Tân Sơn Nhất, tướng Kỳ bay
trên Thủ đô quan sát tình hình và ra lệnh cho quân đội nổi dậy phải rút lui
nếu không sẽ bị ném bom. Trong lúc đó thì đài phát thanh Ba Xuyên truyền
lệnh của Đại tướng Khánh cho các binh sĩ bị lôi cuốn vào cuộc nổi dậy hãy
trở về đơn vị. Tại Huế, Lực lượng sinh viên học sinh lên án Lực lượng Bảo vệ
Dân tộc và những “Phần tử Cần Lao” trong cuộc nổi dậy của Đại tá Phạm Ngọc
Thảo.
Ngày 20, trên đài phát thanh Nha Trang, Thượng tọa Tâm Châu
kêu gọi Phật tử ủng hộ “Hội Đồng Quân Lực”. Tướng Nguyễn Chánh Thi từ Huế
vào Sài Gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Giải phóng Thủ đô, tái chiếm các cơ sở bị
quân của Phạm Ngọc Thảo chiếm hôm qua, ra lệnh cho Đại tá Thảo và 13 sĩ quan
khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những
nhân vật Công giáo đều đã trốn. Cùng ngày này, Hội Đồng Quân Lực nhóm họp và
quyết định thay thế Đại tướng Nguyễn Khánh bằng tướng Trần Văn Minh trong
chức vụ Tổng Tư lệnh Quân đội vì cho rằng tướng Khánh âm mưu xáo trộn để trở
lại nắm chính quyền.
Ngày 21, tướng Nguyễn Chánh Thi ra thông cáo nhấn mạnh đến
ước vọng cách mạng của quân lực VNCH là Dân chủ, Công bằng và Hòa bình. Hai
tướng Kỳ và Thi bắt đầu kết hợp với nhau để chống Khánh.
Ngày 22-2-65, tướng Khánh được bổ nhiệm chức Đại sứ Lưu động
và Trung tá Phạm Văn Liễu (bạn thân của các tướng Thiệu, Thi và Kỳ) được cử
giữ chức Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia.
Ngày 25-2-65, tướng Nguyễn Khánh được tặng Đệ nhất hạng Kim
Khánh rồi mang theo một nắm đất rời khỏi Việt Nam với lời hẹn một ngày nào
đó sẽ trở về lại quê hương. Quân lực Việt Nam cho đến ngày hôm đó có bốn vị
Đại tướng, một ông chết và ba ông ra đi, dù ra đi với chức Đại sứ, mà sự
thật là bị nhóm tướng trẻ đuổi ra khỏi Việt Nam. Việc tướng Khánh ra đi đã
đặt Quân Lực VNCH hoàn toàn nằm trong tay nhóm tướng trẻ Young Turk
sau khi các “tướng già” đã bị hoặc cho về hưu sớm từ ngày 31-12-64, hoặc bị
đuổi ra khỏi Việt Nam. Một số “tướng già” còn lại như Trần Văn Minh, Phạm
Xuân Chiểu, Linh Quang Viên, Phạm Văn Đổng... là chỉ để cho các tướng trẻ
điều động đặt đâu ngồi đó, việc quốc gia đại sự, việc lãnh đạo chiến tranh
từ nay hoàn toàn nằm trong tay các tướng trẻ, đặc biệt là hai tướng Thiệu và
Kỳ.
Ngày 27-2, giữa Thủ đô Sài Gòn, một số người nhân danh “Phong
Trào Bảo Vệ Hòa Bình” (thân Cộng) rải truyền đơn, gởi kiến nghị tuyên truyền
về vấn đề hòa bình tại Việt Nam. (Thượng tọa Thích Quảng Liên có chân trong
Phong trào này).
Ngày 3-3-65, Hội Đồng Quân Lực công bố thành lập Uỷ ban
Thường vụ: Tổng thư ký, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu; Uỷ viên Ngoại giao,
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Uỷ viên Chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên;
Uỷ viên An ninh, Thiếu tướng Phạm Văn Đổng; Phụ tá Tổng thư ký, Thiếu tướng
Huỳnh Văn Cao. Cùng ngày này, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ công bố một bức tâm
thư gởi đồng bào và chiến hữu, phân tách hiện tình đất nước, nhắc lại nỗi
thống khổ và thất vọng của dân tộc suốt thời kỳ Pháp thuộc và suốt chín năm
dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Bức thư cho biết Quân lực sẽ chỉ trương thực hiện
cuộc cách mạng toàn diện trên mọi lãnh vực.
Ngày 8-3-65, 1.500 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên tới Đà
Nẵng. Cũng cần nhắc lại rằng dưới chế độ Diệm, tổng số quân Mỹ tại Việt Nam
là 17.000 người, 14 tháng sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, quân số Mỹ tại miền
Nam là 23.000 người.
Ngày 11-3-65, Viện Hóa Đạo ra thông cáo: “Phong Trào Tranh
Thủ Hòa Bình” của Thượng tọa Quảng Liên không liên quan gì đến Phật giáo
cả... Phong trào do Thượng tọa thành lập với tư cách cá nhân”. Bộ Nội vụ
công bố danh sách 358 người đã ký kiến nghị của “Uỷ Ban Vận Động Hòa Bình”
trong đó có 24 sinh viên, 77 học sinh, 78 lao động, 67 người buôn bán, 22
công chức, 20 giáo viên, 11 ký giả, 5 kỹ sư, 5 bác sĩ, dược sĩ, 3 luật sư.
Cùng ngày này, ông Hà Minh Trí, cán bộ Cao Đài, người ám sát hụt Tổng thống
Ngô Đình Diệm năm 1957 được trả tự do. (Ông Hà Minh Trí bị giam lâu ngày mà
không chịu khai toàn bộ tổ chức ám sát của Cao Đài).
Ngày 17-3-65, Thượng tọa Quảng Liên từ chức Chủ tịch Phong
Trào Bảo Vệ Hòa Bình.
Ngày 21-3-65, Đại đức Thích Nguyên Từ tự thiêu để phản đối
Việt cộng chiếm chùa cùng ruộng chùa và bắt đi 17 Phật tử tại Bình Tuy.
Ngày 23-3-65, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp ra tuyên ngôn tán
thành việc Mỹ gởi Thủy Quân Lục Chiến sang tham chiến tại Việt Nam. Nếu
“dưới chế độ Diệm, khi Tổng thống Kennedy quyết định gởi 12.000 lính Mỹ tới
Nam Việt Nam chắc chắn đã tạo được ảnh hưởng tốt đối với tinh thần người dân
và người lính miền Nam, không phải theo nghĩa hoàn toàn trông mong người Mỹ
đánh giặc hộ, mà là theo nghĩa nhìn thấy dấu vết cụ thể sự quyết tâm của Mỹ
trong lời cam kết giúp Nam Việt Nam”
[4], thì năm 1965, khi Mỹ bắt đầu gởi Thủy Quân Lục
Chiến vào Nam Việt Nam và ném bom Bắc Việt, người quốc gia chống Cộng chẳng
những trông thấy quyết tâm của Mỹ trong việc giúp miền Nam mà còn tin rằng
Bắc Việt sẽ bị sụp đổ để đưa lại chiến thắng cuối cùng cho Việt Nam Cọng
Hòa. Vì thế, cả chính phủ Việt Nam, cả Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, và quân
đội Việt Nam Cọng Hòa đã chào mừng quyết tâm của Tổng thống Jonhson trong
việc leo thang chiến tranh.
Cùng ngày 23, Hội đồng chính phủ quyết định chia 160 triệu
bạc tịch thu của họ Ngô cho đồng bào, học sinh và gia đình binh sĩ nghèo,
ngoài ra còn bán đấu giá các bất động sản và xí nghiệp cùng trái khoán tịch
thu của nhà Ngô.
Ngày 2-4-65, ni cô Thích Huệ Thiện tẩm xăng vào người toan tự
thiêu tại chùa Từ Vân Gia Định vì thấy những đau khổ do chiến tranh gây ra
nhưng các Phật tử đã kịp thời cứu được.
Ngày 8-4, tại Vỏ Xu, Bình Tuy, Việt cộng lại bắt đi Đại Đức
Thích Bảo Huệ và một số Phật tử.
Ngày 12-4, lễ giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức vô cùng trọng
thể tại sân vận động Cộng Hòa, rất đông nhân sĩ, trí thức, đảng phái, sinh
viên tham dự.
Ngày 20-4, Sa di Thích Giác Thanh tự thiêu sau Viện Hóa Đạo
vì thấy cảnh tang tóc và chiến tranh.
Ngày 4-5, Hội đồng Chính phủ Phan Huy Quát quyết định chấm
dứt chương trình phát thanh của phái bộ Văn hóa Pháp tại Việt Nam vì đại
diện Pháp tại SEATO đã có thái độ bất thân thiện với Việt Nam, đồng thời
trục xuất thông tín viên Ageorges của Pháp tấn xã.
Ngày 5-5, Hội Đồng Quân Lực tuyên bố tự giải tán để các tướng
lãnh trở về địa vị quân sự thuần túy.
Ngày 21-5, Phủ Thủ tướng thông cáo rằng cơ quan an ninh đã
bắt được 17 quân nhân và 12 dân sự âm mưu đảo chánh ngày hôm qua. Những quân
nhân trên đây cũng đã từng liên can đến vụ biểu dương lực lượng của ông Phạm
Ngọc Thảo ngày 19-2. Một sĩ quan trong nhóm bị bắn tử thương. (Nhóm này
thuộc ảnh hưởng Công giáo).
Ngày 25-5, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ. Giữa
buổi trình diện, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không thể ký bổ nhiệm
các ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Vinh vì lẽ các ông Nguyễn Hòa Hiệp
và Nguyễn Văn Vinh không từ chức.
Cùng ngày này, Thượng tọa Thích Quảng Liên, nguyên Chủ tịch
Phong Trào Bảo Vệ Hòa Bình, sau cuộc du hành tại Nhật về tới Tân Sơn Nhất
thì được Bộ Nội vụ yêu cầu đừng về nước vì có thể bị lợi dụng, nên ông phải
đáp phi cơ đi thẳng đến Thái Lan và ở luôn tại đó.
Ngày 26-5, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy
Quát bày tỏ những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế Bộ trưởng.
Ngày 27-5, một phái đoàn đại diện Lực Lượng Đoàn Kết Công
Giáo do Linh mục Hoàng Quỳnh hướng dẫn đã yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng
Quốc gia Lập pháp, đưa kiến nghị không tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát và
yêu cầu chỉ định Thủ tướng khác. Lý do viện dẫn: chính phủ Quát gây chia rẽ,
không chống Cộng hữu hiệu và thân Pháp (?).
Ngày 1-6-65, trong lúc cuộc khủng hoảng về việc cải tổ nội
các chưa giải quyết thì Linh mục Hồ Văn Vui hướng dẫn 60 đại diện của Mặt
Trận Công Giáo Việt Nam đến yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia Lập
pháp, đưa kiến nghị tương tự như kiến nghị của Linh mục Hoàng Quỳnh, yêu cầu
giải tán chính phủ Phan Huy Quát.
Từ ngày 2-6-65, một số Linh mục, chính khách thuộc các tôn
giáo và đảng phái gởi kiến nghị lên Quốc trưởng bất tín nhiệm Thủ tướng Phan
Huy Quát.
Ngày 3-6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp cùng một số tướng lãnh
để thảo luận về việc khủng hoảng nội các và sau đó, cùng các tướng lãnh sang
yến kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Trong lúc đó thì một số nhân vật khác
lại nhân danh các đoàn thể (11 đoàn thể) gởi kiến nghị lên Quốc trưởng và
Hội đồng Quốc gia Lập pháp chống chia rẽ và tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy
Quát. Theo tin UPI thì chính phủ Hoa Kỳ vẫn tín nhiệm chính phủ Phan Huy
Quát.
Ngày 4-6, nhiều truyền đơn chống chính phủ Quát được tung ra
trên nhiều ngả đường.
Đêm mồng 5-6, vài trăm người (Công giáo) chống đối chính phủ
Quát tụ họp trên đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Gia Định. Họ đốt
một xe hơi, hành hung 5 và gây thương tích cho hai cảnh sát viên.
Ngày 7-6, 200 cụ già thuộc các đoàn thể Công giáo tới dinh
Gia Long yết kiến Quốc trưởng cùng Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp, yêu
cầu giải quyết gấp cuộc khủng hoảng rồi ngồi lại trong Dinh từ 16 đến 22 giờ
mới chịu ra về.
Ngày 8-6, hơn 100 thanh niên, sinh viên, học sinh thuộc các
đoàn thể Thanh Niên Đại Đoàn Kết và sinh viên học sinh Tự Dân (Công giáo)
tới dinh Gia Long yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng và cũng ở lại đó từ 10
giờ đến 16 giờ mới về. Trong lúc đó, Lực lượng Đại Đoàn Kết (Công giáo) tổ
chức họp báo tại Gia Định, xác nhận lập trường chống đối chính phủ Phan Huy
Quát của khối Công giáo.
Ngày 9-6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích về cuộc
khủng hoảng. Ông thuật lại các nỗ lực hòa giải của ông mà vẫn không thành,
trình bày chi tiết về âm mưu đảo chánh đêm 10-6-65 (của phe Công giáo) và âm
mưu lập chính phủ liên hiệp trung lập của phe “Hòa Bình”, đồng thời ông cũng
trả lời các luận điệu chỉ trích rồi kết luận rằng ông yêu cầu quân đội đứng
ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính
quyền dân cử.
Ngày 10-6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ kêu gọi chiến sĩ Không
quân giữ bình tĩnh sau vụ hiểu lầm ở Tân Mai. (Thanh niên Công giáo đi biểu
tình rồi xô xát với binh sĩ Không quân tại Biên Hòa).
Ngày 11-6, các tướng lãnh nhóm họp tại Sài Gòn để xét thư của
Thủ tướng Quát yêu cầu Quân đội làm trung gian điều giải về vụ khủng hoảng
nội các. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: cuộc khủng hoảng không do
lỗi chính phủ mà do sự thiếu sót của hiến chương ngày 16-8-1965.
Cùng ngày này, Quốc trưởng, Thủ tướng và Hội đồng Quốc gia
Lập pháp đều ra tuyên cáo xác định rằng những cơ cấu và thể chế quốc gia
hiện tại không còn phù hợp với tình thế nữa nên giao trả cho quân đội trách
nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia, và Hội Đồng Quân Lực chấp nhận đơn từ
chức của Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát.
Ngày 14-6-65, Hội Đồng Quân Lực thành lập ủy ban Lãnh Đạo
Quốc Gia do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ tịch (Quốc trưởng),
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ tịch ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ
tướng), và Trung tướng Phạm Xuân Chiểu giữ chức Tổng thư ký.
Cùng ngày này, Ni cô Quảng Liên Diệu Tịnh, 22 tuổi, tự thiêu
để cúng dường Tam bảo tại chùa Linh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 16-6, Tòa án Quân sự Mặt trận tại Nha Trang tuyên phạt
tù từ 2 đến 16 năm khổ sai 18 người đã tham gia Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
miền Trung và liên quan đến các vụ khủng bố, hành hung hồi tháng 9-64 tại
tỉnh Bình Định.
Ngày 19-6, một Ước pháp mới ra đời gồm 7 thiên 25 điều, thiết
lập Đại Hội Đồng Quân Lực VNCH, Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Hội Đồng Kinh Tế
và Xã Hội, Thượng Hội Đồng Thẩm Phán. Các tướng Thiệu, Kỳ, Chiểu được xác
nhận là thành viên của Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, còn Hội Đồng Quốc Gia Lập
Pháp cũ giải tán. Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ ra đời với nhiều nhân vật dân sự
tên tuổi như bác sĩ Trần Văn Đỗ (Tổng ủy viên Ngoại giao), Luật sư Lữ Văn Vi
(Tổng ủy viên Tư pháp), giáo sư Trần Ngọc Ninh (Tổng ủy viên Văn hóa Giáo
dục), thẩm phán Trần Minh Tiết (Bộ trưởng Nội vụ)...
Từ sau khi tướng Nguyễn Khánh và các tướng lãnh đưa ra hiến
chương Vũng Tàu vào tháng 8 năm 1964 tạo nên bao nhiêu xáo trộn, thì ý
nguyện của toàn dân, của các tôn giáo, đảng phái, sinh viên và cả Hoa Kỳ là
muốn miền Nam có một chính phủ dân sự bền vững để quân đội trở về với nhiệm
vụ quốc phòng thuần túy. Tiếc thay, hai chính phủ dân sự Trần Văn Hương và
Phan Huy Quát đã ra đời trong một tình trạng khó khăn với những cuộc xáo
trộn, tranh chấp, biểu tình do quân đội, sinh viên, Phật giáo, Công giáo gây
ra để rồi cuối cùng quân đội trở lại cầm quyền. Sự bất đồng ý kiến giữa Quốc
trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát về việc thay đổi hai vị Bộ
trưởng đã có thể giải quyết dễ dàng nếu khối Công giáo không cố tình trầm
trọng hóa vấn đề, mà mục tiêu thật sự là để lật đổ chính phủ Quát vì họ cho
rằng chính phủ này thân Phật giáo. (Có phải thế không ông Bộ trưởng Phủ Thủ
tướng Bùi Diễm, và ông Chủ tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp Phạm Xuân
Chiểu!?)
Như vậy, từ sau khi chính phủ Quát và Quốc trưởng Phan Khắc
Sửu rút lui, chính quyền miền Nam lại trở về tay các tướng lãnh. Câu tuyên
bố “Quân đội là cha quốc gia” của tướng Nguyễn Khánh tuy trắng trợn nhưng
thật là thấm thía. Tôn giáo, đảng phải, chính khách, trí thức, sinh viên...
cuối cùng chỉ như những hình nộm quay cuồng chung quanh ngọn lửa hồng của
chiếc đèn kéo quân mà thôi.
-o0o-
Những gì tôi vừa trình bày trên đây có thể xem như là giai
đoạn một của ba năm xáo trộn, giai đoạn kể từ khi nhóm tướng Nguyễn Khánh
làm cuộc chỉnh lý (30-1-64) cho đến ngày Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia ra đời
(6-65). Từ Cách mạng 1-11-63 cho đến ngày hai tướng Thiệu-Kỳ lên cầm quyền,
trong khoảng thời gian gần 20 tháng đó, miền Nam Việt Nam đã phải trải qua 6
chính phủ: Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Nguyễn Xuân Oánh
(chính phủ ủy nhiệm 5 ngày), Phan Huy Quát và Nguyễn Cao Kỳ.
Tôi muốn kể chi tiết và những biến động theo thứ tự thời gian
với ước mong những nhà viết sử tương lai nhìn rõ thực trạng đất nước để phân
tách công tội của những thành phần đã tạo nên xáo trộn mà chính yếu trong đó
là: Phật giáo, Công giáo, tướng tá, sinh viên và đảng Đại Việt của các ông
Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký.
Tuy tất cả thành phần trên đây đều gây ra xáo trộn nhưng thật
ra thì sinh viên, quân đội và đảng Đại Việt đều bị chi phối, bị lợi dụng
bởi hai tôn giáo là Công giáo và Phật giáo trong chủ trương tranh chấp
của hai khối này. Sinh viên dựa vào công trạng chống chế độ Diệm năm 1963,
nay gặp phải tình hình hỗn loạn nên muốn chứng tỏ thế hệ trẻ phải được tham
dự vào việc nước. Nhưng chỉ vì là một lực lượng ô hợp nên sinh viên đã trở
thành công cụ cho các tôn giáo và đảng phái lợi dụng mà thôi. Hành động nổi
bật nhất của sinh viên là vụ chống đối Hiến chương Vũng Tàu buộc tướng Khánh
phải từ chức, nhưng sau biến cố đó rồi thì sinh viên cũng không giúp ổn định
được tình hình mà chỉ lên đường xuống đường làm bung xung múa rối, trong lúc
nội bộ lại phân hóa.
Các tướng tá thì bản chất vốn đã võ biền, lại thấy đảo chánh
và chỉnh lý quá dễ dàng vì chỉ dựa vào võ lực, vào tình hình chiến tranh mà
quân đội đang là lực lượng chống Cộng chính yếu, nên đã hành xử một cách hỗn
loạn để nắm quyền hành và giành địa vị. Sự bất lực của các tôn giáo, đảng
phái và thành phần trí thức lại đã gia tăng thêm tham vọng của các tướng tá.
Đảng Đại Việt mang tham vọng nắm chính quyền, đó là điều
chính đáng và cần thiết của mọi đảng chính trị, nhưng thực lực còn quá yếu,
lại còn phân hóa nội bộ cho nên không thể là địch thủ của các tôn giáo và
quân đội trong cuộc tranh chấp quyền lực chính trị, nên cuối cùng đành phải
bị tan biến trong cơn lốc của một chính trường rối rắm hỗn loạn.
Về phần lực lượng Công giáo, với bản chất hiếu động và quá
trình gắn bó với mọi quyền lực, rồi bị mất quyền lợi do cuộc lật đổ chế độ
Diệm gây ra, và lại bị toàn dân lên án là “Cần Lao”, là “tay sai của chế độ
Diệm”, nên căm thù Phật giáo và nhóm tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng cũ, do đó họ cần phải tích cực biểu dương sức mạnh bằng những cuộc
biểu tình quá khích và những cuộc biểu dương lực lượng quân đội của tướng tá
Công giáo để phục hồi danh dự và để trả mối hận thù cho chủ cũ.
Chỉ đáng tiếc và đáng trách cho Phật giáo Việt Nam cũng đã là
nguyên nhân tạo ra tình trạng hỗn loạn mà trước hết tôi muốn nêu lên một vài
bí ẩn trong giai đoạn xáo trộn này.
Bí ẩn thứ nhất là vụ chống đối Thủ tướng Trần Văn Hương vào
tháng 10 năm 1964. Vụ biểu tình chống đối Thủ tướng Trần Văn Hương là hoàn
toàn do Phật tử của Thượng tọa Tâm Châu, mà lúc này tuy Thượng tọa Tâm Châu
và các Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Hoa chưa công khai mâu thuẫn
nhưng đã có những rạn nứt âm thầm trong nội bộ mà Thủ tướng Trần Văn Hương
không biết được.
Nguyên khi thành lập chính phủ, cụ Hương có mời riêng Thượng
tọa Tâm Châu đến họp bàn về thành phần chính phủ tại nhà một thương gia tên
là Nguyễn Hữu ở Gia Định. Hai bên đã bất đồng ý kiến vì Thượng tọa Tâm Châu
cho rằng một số nhân vật được Thủ tướng Hương mời không xứng đáng làm Bộ
trưởng (sau này báo chí có chỉ trích thành phần chính phủ Hương, để trả lời
cụ Hương đã tuyên bố: “Đi chợ, không có tôm tươi cá tươi thì phải mua tôm
ươn cá ươn vậy”), và nghe nói Thượng tọa đòi cho Phật giáo bốn Bộ mà cụ
Hương chỉ bằng lòng dành cho người của Thượng tọa hai Bộ mà thôi.
Nguồn tin này phù hợp với những tin đồn trong giới chính trị
tại Sài Gòn lúc bấy giờ về sự tham chánh cần thiết của khối Phật giáo sau
những năm dài vắng mặt trong các cơ quan quyền lực quốc gia. Cần thiết đem
người vào nội các đến độ chính Thủ tướng Hương cũng đã phải than là “họ
chỉ muốn kiểm soát chính phủ” như báo chí quốc tế đã ghi nhận sau đây:
Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất long trọng tuyên bố trước thế
giới rằng chúng tôi tránh tất cả mọi hoạt động có tính cơ hội chủ nghĩa, gây
chia rẽ và mang tính chính trị.
Gần một tuần trước khi có lời tuyên bố đó, phát ngôn viên
của khối Phật giáo là Thượng Tọa Thích Tâm Châu đã tuyên bố một cách dứt
khoát rằng chính phủ của Thủ tướng Hương phải ra đi (Buddhist spokeman Thích
Tâm Châu had flatly announced the South Vietnamese government of Premier
Trần Văn Hương “will have to go”). Ba ngày sau đó, một thông tư của khối
Phật giáo gọi Thủ tướng Hương là “ngu xuẩn, phản bội, là một người phì nộn,
ngoan cố và chẳng có chính sách gì cả” (stupid, a traitor, a fat, stubborn
man without any policy). Tại Sài Gòn, ông Hương đã trả lời thẳng thừng rằng
“Nếu tình hình quá lộn xộn, chúng tôi lại sẽ phải sử dụng võ lực. Họ chỉ
muốn kiểm soát chính phủ. Việt cộng cũng đang cố gắng lật đổ chính phủ.
Chúng ta không thể để cho các nhà lãnh đạo Phật giáo làm chuyện này hộ cho
Việt cộng” (... They simply want to control the government... We can’t allow
the Buddhist leaders to do this for them). (Tuần san Time, số ra ngày
11 tháng 12 năm 1964).
Thấy Thượng tọa bất mãn, một nhóm Phật tử Bắc di cư cầm đầu
bởi hai chuyên viên xách động tại Sài Gòn là Khang (người Bắc) và Nguyễn Đức
Mão (người Vinh) tổ chức biểu tình để chống Thủ tướng Hương. Cuộc biểu tình
nổ ra dữ dội để chứng tỏ sự bất mãn của cấp lãnh đạo Phật giáo trước thái độ
cứng rắn của Thủ tướng Hương đã giới hạn sự tham dự của nhân sự Phật giáo
vào nội các:
- Ngày 22/11/1964, biểu tình lớn ở nhiều nơi, chợ Bến
Thành, đường Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Sài Gòn có nhiều biểu ngữ đả
kích Thủ tướng Hương (cảnh sát giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Bọn người biểu
tình ném đá lung tung, nhiều người bị thương).
- Ngày 24/11/1964, Thượng tọa Tâm Châu gửi lên Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu và Thượng Hội Đồng Quốc Gia yêu cầu có thái độ dứt khoát với
chính phủ, chấm dứt bắt bớ, thả những người bị giam, ra lệnh không được đàn
áp. (“Việc Từng Ngày”, Đoàn Thêm, Sài Gòn, tr.417, 418).
Khanh nguyên là cộng sự viên của ông Hà Đức Minh, Uỷ viên
Trung ương đảng Cần Lao, còn Mão người thấp, mặt đen và rỗ (biệt hiệu Hùm
Xám, thời Nguyễn Văn Thiệu, Mão làm chủ nhiệm nhật báo Tranh Đấu một
thời gian và thường phải trốn tránh vì bị công an lùng bắt vì chống Thiệu).
Cuộc biểu tình chống Thủ tướng Hương xuất phát từ Viện Hóa Đạo ở đường Trần
Quốc Toản, nhưng vì cụ Hương không biết rõ nội tình của Phật giáo, không
biết xuất xứ của các cuộc biểu tình nên Cụ đã có lời tuyên bố khiếm nhã đối
với Phật giáo như: Bọn trọc, làm trò khỉ. Lời tuyên bố “vơ đũa cả nắm” đó đã
làm cho toàn khối Phật giáo bất mãn. Cụ Hương còn tuyên bố thêm: “Tôi không
thể để cho tụi con nít làm loạn. Chính trị và học đường cần phải tách rời,
cũng như chính trị và tôn giáo không thể đi đôi với nhau được. Tôi không thể
để cho những tên học trò ỉa bậy, đái bậy”. Vì lời tuyên bố đó mà Thượng tọa
Thiện Minh (dù đã có những bất đồng ý kiến với Thượng tọa Tâm Châu) đã phải
trả lời: “Nếu Cụ muốn cho các em học sinh không ỉa bậy, đái bậy thì ít nhất
Cụ phải làm cầu tiêu cho chúng trước đã”. Và cũng từ đó, khối Phật tử thuộc
Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh nhập cuộc trong cuộc đấu tranh chung chống
Thủ tướng Trần Văn Hương.
Tôi cần mở một dấu ngoặc ở đây để nói về thái độ mâu thuẫn lạ
lùng của Hòa thượng Tâm Châu đối với lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Phật
giáo nói chung và đối với tôi nói riêng.
Số là sau khi cuốn Hồi ký Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi
nầy ra đời (ấn bản 1986), tôi có gởi tặng Hòa thượng một cuốn vì giữa Hòa
thượng và tôi có nhiều kỷ niệm với nhau, và vì Hòa thượng là một nhân chứng
lịch sử của giai đoạn Phật giáo đấu tranh chống nhà Ngô. Thế rồi hai năm
sau, Hòa thượng viết bài trên báo Văn Nghệ Tiền Phong (số 289 ngày
1-15 tháng 2/1988), tờ báo của nhóm mật vụ cũ của nhà Ngô mà từ ngày ra Hải
ngoại chuyên đánh phá, xuyên tạc, nhục mạ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất, tờ báo đã bảo trợ cho Trần Trung Quân phát hành cuốn “Trong Lòng
Địch” để vu khống, bôi bẩn nhiều vị sư cao cấp và chụp mũ Thượng tọa Trí
Quang là Cộng Sản, mà trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng
tại Houston (số 31 tháng 12/1988)-chính Hòa thượng đã xác quyết Thượng tọa
Trí Quang không phải là Cộng Sản.
Bài báo trên Văn Nghệ Tiền Phong đã chỉ trích tôi viết không
đúng sự thật về Hòa thượng trong việc Hòa thượng đòi Thủ tướng Trần Văn
Hương bốn bộ cho Phật giáo, cũng như phủ nhận cuộc biểu tình do Phật tử
người Bắc tổ chức chống Thủ tướng Hương. Hòa thượng còn nói rằng vì kính
trọng cụ Hương là nhà cách mạng nên Hòa thượng không chống Cụ. Hòa thượng
gán cho tôi, hoặc “bộ Tham mưu” của tôi, đã “lồng sự kiện trên cho cân bằng
sự lỗi lầm trong thời gian ấy của Thượng tọa Trí Quang”.
Ông cựu luật sư Nguyễn Văn Chức, người trí thức Công giáo mà
cuốn “Lột mặt nạ những con thò lò chính trị” của Lê Trọng Văn mô tả
như một thứ Thượng Nghị sĩ huênh hoang có tài “luồng gió bẻ măng”, bèn sử
dụng bài báo của Hòa thượng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong như một tài liệu khả
tín để gán cho tôi là gian trá, và hàm ý cho Thượng tọa Trí Quang là “đại
nghịch tặc, đại vô đạo, đại vô luân mà chỉ bọn Cộng Sản vô thần và tay sai
mới dám làm”.
Thưa Hòa thượng Tâm Châu! Nếu Hòa thượng không đòi bốn bộ,
không chống cụ Hương, không có biểu tình thì tại sao Hòa thượng lại đòi Quốc
Trưởng và Thượng Hội Đồng có “thái độ dứt khoát” với chính phủ Trần Văn
Hương (hàm ý đòi phải giải tán chính phủ), và tại sao lại có cuộc biểu tình
ngày 22 tháng 11 năm 1964 xẩy ra gần Việt Nam Quốc Tự trên các đường phố
đông dân cư người Bắc như “Việc Từng Ngày” của Đoàn Thêm và như bài
tường thuật của tuần báo Time đã mô tả.
Trong giai đoạn này, có hai điểm đáng lưu ý là tuy chính phủ
Trần Văn Hương là một chính phủ dân sự nhưng vai trò và quyền lực của các
tướng lãnh trong chính sách quốc gia vẫn giữ ưu thế. Ngoài ra, những mầm
mống mâu thuẫn về sách lược giữa hai khối Phật giáo (Tâm Châu và Trí Quang)
đã bắt đầu thành hình: khuynh hướng Thượng tọa Tâm Châu nhằm đấu tranh hòa
hoãn trong chiều hướng có thể hợp tác với chính quyền, còn khuynh hướng của
hai Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh thì quyết đấu tranh triệt để để thực
hiện một cuộc cách mạng toàn diện, đặc biệt là phải triệt hạ nhóm Cần Lao.
Khối Công giáo, phần thì tiếc Thủ tướng Hương (người đã nặng
lời đả kích Phật giáo) phải rút lui, phần thì nghi ngờ Thủ tướng Phan Huy
Quát được Phật giáo ủng hộ, đã lợi dụng tình trạng tranh chấp giữa Quốc
trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát để liên tiếp tổ chức nhiều
cuộc biểu tình, bám sát dinh Quốc trưởng và vận động một số chính khách đối
lập Thủ tướng Quát ra tuyên ngôn, kiến nghị quyết lật đổ Thủ tướng Quát cho
được. Cuộc biểu dương lực lượng của Phạm Ngọc Thảo và Lực Lượng Bảo Vệ Dân
Tộc (Công giáo) ngày 19-2-1965 cùng âm mưu đảo chánh đêm 20-5-1965 do Đại tá
Bùi Dinh và một số nhân vật Công giáo cầm đầu, đều có mục đích lật đổ Thủ
tướng Quát để khối Công giáo có thể nắm ưu thế chính trị mà lên cầm quyền.
Nhân vật quan trọng trong âm mưu lật đổ Thủ tướng Quát là
Linh mục Hoàng Quỳnh, vốn là vị chỉ huy đội dân vệ Phát Diệm trước khi đất
nước chia đôi (1954). Vào thời chiến tranh Pháp-Việt, người Công giáo miền
Bắc thường có những áp lực đối với chế độ Bảo Đại để tranh giành quyền lợi
như Jean Lacouture đã mô tả trong “Le Vietnam Entre Deux Paix” mà tôi
đã đề cập đến trong một chương trước đây. Nhưng khi ông Nguyễn Hữu Trí, một
lãnh tụ Đại Việt miền Bắc làm Thủ hiến Bắc Việt, và ông Phan Huy Quát, một
đồng chí của ông Trí làm Bộ trưởng Quốc phòng, thì hai nhân vật này thường
đối phó cứng rắn và không thỏa mãn hết những đòi hỏi của giáo phận Bùi-Chu
Phát-Diệm. Từ những ân oán quá khứ đó, nay lợi dụng cơ hội rối loạn thuận
tiện, Linh mục Hoàng Quỳnh bèn tìm mọi phương cách triệt hạ cho được Thủ
tướng Phan Huy Quát. Giai đoạn này đánh dấu sự trỗi dậy của lực lượng Công
giáo dưới hình thức các cuộc đấu tranh chính trị. Trong quá khứ, những ưu
thế của khối này trên mặt xã hội, kinh tế, tài chánh,... thật ra chỉ là kết
quả tất nhiên của ưu thế chính trị với một gia đình Công giáo toàn quyền
lãnh đạo Quốc gia; cho nên khi trở lại chính trường miền Nam trong một khung
cảnh mới, họ cũng đánh vào mặt trận quan yếu nhất là mặt trận chính trị,
nhất là khi mặt trận đó đã được nhân cách hóa bằng vị Thủ tướng Phan Huy
Quát mà họ cho là có khuynh hướng thân Phật giáo.
Bí ẩn thứ hai là thái độ của Thượng tọa Trí Quang trước cuộc
chỉnh lý của nhóm tướng Nguyễn Khánh.
Sau khi chiến thắng được chế độ Diệm, sinh lực của Phật giáo
chưa được phục hồi cho nên các cấp lãnh đạo chưa có sách lược chính trị nào
ngoài việc lo củng cố nội bộ, lo việc thống nhất Giáo hội, thiết lập các cơ
cấu lãnh đạo như Viện Tăng Thống, Viện Hóa Đạo, và gấp rút nhất là việc xây
dựng Hiến chương, quy chế cho Giáo hội. Vì thế, dù chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ
gồm cả nhân sự cũ của chế độ Diệm, Thượng tọa Trí Quang cũng không có một
chống đối nào. Ông cũng biết rằng trong cuộc thay cũ đổi mới sau một năm
trời đất nước rối ren (1963), tướng Dương Văn Minh và Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng còn gặp rất nhiều khó khăn, nhiều vấn đề cần phải đối phó.
Nhưng sau khi tướng Khánh chỉnh lý, thấy đảng Đại Việt và
người Mỹ âm mưu đưa ông Nguyễn Tôn Hoàn là một nhân vật Công giáo từ Pháp về
nắm chức Thủ tướng, và thấy uy thế Công giáo đang được phục hồi mà thể hiện
trắng trợn đầu tiên là việc giết Thiếu tá Nhung, thì một mặt, Thượng tọa bí
mật yểm trợ cho tướng Khánh giành lấy chức Thủ tướng, một mặt để cho báo Lập
Trường và Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ra đời làm phương tiện đối phó với tình
thế mới. Thật ra thì ông Nguyễn Tôn Hoàn chỉ là lãnh tụ tượng trưng, chính
hai ông Hà Thúc Ký và Nguyễn Ngọc Huy, những Phật tử thuần thành mới là
người lãnh đạo đảng Đại Việt. Đảng Đại Việt lại cũng đã cùng với Phật giáo
chống đối nhà Ngô và đã đóng góp công lao rất lớn cho Phật giáo trong cuộc
đấu tranh chống Diệm năm 1963. Nhưng thái độ quá khích và kỳ thị của Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, cộng thêm lập trường chống ông Nguyễn Tôn Hoàn của
Thượng tọa Trí Quang, đã tạo ra xích mích và đối lập giữa Phật giáo và Đại
Việt. Và cũng vì chống việc trỗi dậy của Cần Lao Công Giáo mà thể hiện là
nhiều tướng lãnh chế độ cũ nắm những địa vị then chốt chung quanh tướng
Khánh, nên Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc và sinh viên Huế mới truất phế Linh
mục Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học dù chỉ trước đó độ một tháng họ đã
đón rước Linh mục trọng thể vì Linh mục đã từng đứng về phe Phật giáo và
sinh viên trong biến cố Phật giáo chống lại hai ông Thục-Diệm.
Có thể nói một cách chắc chắn rằng chủ trương chống đối Công
giáo Cần Lao phục hồi là chủ trương chung của tất cả tôn giáo, đảng phái và
sinh viên, báo chí, chứ không riêng gì của Thượng tọa Trí Quang, của sinh
viên Huế, hay của “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”.
Tiếc thay, những sai lầm lãnh đạo của cấp lãnh đạo Phật giáo
và thái độ quá khích, manh động của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc và sinh viên
Huế đã làm cho Phật giáo thất bại trong giai đoạn xáo trộn thứ nhất, giai
đoạn từ khi Khánh chỉnh lý cho đến khi Thiệu-Kỳ thành lập ủy Ban Lãnh Đạo
Quốc Gia.
Trước hết là vì Thượng tọa Trí Quang không nắm vững việc lãnh
đạo nhóm đấu tranh để cho họ trở thành một lực lượng ô hợp, thiếu lãnh đạo,
nhất là lãnh đạo để đấu tranh cách mạng.
Hai là vì danh từ “Cứu Quốc” làm cho những người quốc
gia liên tưởng đến những đoàn thể “cứu quốc” của Cộng Sản, từ đó người ta
nghi ngờ “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” là khí cụ ngụy trang của Cộng Sản.
Những khẩu hiệu “chống Mỹ” do Hội đồng và tờ Lập Trường nêu
lên lại càng làm cho người quốc gia lo sợ, nhất là trong tình trạng chiến
tranh Quốc-Cộng đang mỗi ngày một gia tăng.
Cuộc xuống đường của khối Phật giáo Tâm Châu tại Sài Gòn
chống lại Thủ tướng Trần Văn Hương, một nhân vật được đa số trí thức, đảng
phái, nhất là người Nam Kỳ coi như là kẻ sĩ tạo thêm nỗi bất mãn cho nhân
dân.
Những rối rắm xáo trộn do Công giáo, Phật giáo, sinh viên gây
ra tại thủ đô cũng như các cuộc đảo chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng
của quân đội làm cho nhân dân vô cùng chán nản, cho nên hành động có tính
cách phá rối của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc tại Huế và miền Trung chỉ làm
nhân dân thêm bất bình chán ghét mà thôi.
Tinh thần “độc tôn cách mạng” của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
và hành động kỳ thị đối với hai đảng Đại Việt và Việt Quốc ở miền Trung càng
đốt thêm ngọn lửa chia rẽ giữa Phật giáo và các đoàn thể trên, đóng góp thêm
vào sự sứt mẻ uy tín của Phật giáo.
Cũng vì thiếu lãnh đạo, thiếu chính sách, lại hoạt động có
tính cách phá rối cho nên nhiều phần tử của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Quy
Nhơn, Phan Thiết bị chính quyền đưa ra tòa mà lực lượng đấu tranh không giám
can thiệp, phản ứng. Thảm bại hơn nữa là việc ông Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc, bác sĩ Lê Khắc Quyến, bị tướng lãnh bắt lên Pleiku an trí
(20-12-1964) trong ba tháng trời, càng làm mất thể giá của hội đồng do ông
ta lãnh đạo.
Dù sao thì giai đoạn xáo trộn trên đây là điều không tránh
khỏi cho bất kỳ một quốc gia nào sau khi một chế độ độc tài, bằng cách này
hay cách khác, bị chấm dứt. Các chế độ độc tài, một khi không còn nữa là để
lại một khoảng trống chính trị, tạo nên xáo trộn một thời gian cho quốc gia.
Khoảng trống chính trị của miền Nam Việt Nam sau khi chế độ Diệm bị lật đổ
càng tác hại to lớn hơn vì suốt chín năm nhà Ngô cai trị, tất cả tôn giáo,
đảng phái bị tiêu diệt hay bị vô hiệu hóa. Xáo trộn càng trầm trọng hơn khi
nhà Ngô đã tạo ra nền kỳ thị xung đột tôn giáo, gây nên căm thù sâu đậm giữa
Công giáo và Phật giáo. Xáo trộn càng trầm trọng hơn nữa khi nhà Ngô và Công
giáo suốt chín năm trời giành lấy độc quyền chống Cộng mà lại bất lực để cho
Việt cộng nắm lấy ưu thế tại miền Nam.
Đã đành là vậy, nhưng sự thất bại của Thượng tọa Trí Quang và
Phật giáo qua gần hai năm xáo trộn trên đây không phải là điều không đáng
phê phán.
Thượng tọa Trí Quang là một tăng sĩ mà, như một nhân viên Tòa
Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trình bày cho Đại sứ Lodge là một người Việt Nam
trước khi là một nhà sư như các ký giả Mỹ đã biết, là một “lãnh tụ Phật
giáo chống Cộng theo đường hướng của Phật giáo”. Nhưng các lực lượng do ông
điều động-Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc và sinh viên Huế, “những kẻ bụng đầy
chữ nghĩa nhưng lại thiếu ý thức chính trị, chủ quan và vọng động, xuẩn
động”- đã làm cho ông thất bại. Vì vậy, khác với cuộc đấu tranh hào hùng năm
1963, chính nghĩa đấu tranh chống lại sự phục hồi uy thế Công Giáo Cần Lao
của ông trong năm 1964-65 đã bị hiểu lầm, bị xuyên tạc và đưa đến sự thất
bại trong năm 1966 mà tôi sẽ nói đến sau này.
Khi các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn
Viên,... chỉnh lý cuối tháng Giêng năm 1964 thì tôi đang là ủy viên Chính
trị của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũ và đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông
Tin của chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ.
Độ một tuần lễ trước cuộc chỉnh lý, tướng Khánh từ Quân đoàn
II về Sài Gòn ghé lại thăm tôi tại nhà riêng với thái độ rất thân mật, nhưng
tuyệt nhiên không đề cập đến chính trị. Việc ông Khánh đến thăm tôi là một
hành động rất lạ vì trước kia tuy có gặp gỡ, giao thiệp vì công vụ, nhưng
trong suốt thời gian dưới chế độ Diệm, ông Khánh chỉ đến nhà tôi có một lần
nhân bữa tiệc tôi thết đãi một số Bộ trưởng, thân hữu, và ông Chủ tịch Quốc
hội Phạm Văn Nhu vốn là thầy học cũ của tôi và quen thân với nhạc gia tôi
lúc ông làm Huấn Đạo tại Phủ tôi ở. Sau này, khi ông Khánh chỉnh lý tôi mới
hiểu hành động xã giao đó là để lôi kéo, mua chuộc tôi vì ông cho tôi là
người có ý thức chính trị hơn phần đông các tướng lãnh khác, người có uy tín
đã gác tình riêng để tham gia Cách mạng 1-11-1963, và cũng vì ông Khánh
tưởng lầm tôi là một nhân sĩ quan trọng của Phật giáo.
Sau chỉnh lý vài hôm, ông Khánh yêu cầu tôi giữ chức Phó Thủ
tướng đặc trách Văn hóa Xã hội, phối hợp các Bộ Giáo dục, Y tế, Xã hội, và
Lao Động. Tôi thành thật cám ơn ông nhưng nhất định từ chối vì tự nghĩ là
người học hành ít ỏi, lại không có bằng cấp cao trong một xã hội còn nặng
tinh thần khoa bảng. Ông Khánh tha thiết nói: “Anh tưởng tôi không biết
trình độ văn hóa của anh hay sao? Trước khi nói chuyện với anh tôi đã nghĩ
kỹ. Trong giai đoạn khó khăn phức tạp này, phải có một vị tướng lãnh mới có
thể ổn định được kỷ luật học đường. Vì nếu cứ để học sinh sinh viên gây xáo
trộn rối ren, tố cáo các giáo sư, đòi hỏi thay đổi ban giám đốc, thí sinh
quân nhân làm loạn trường thi, đánh đập giám khảo, thì làm sao nền văn hóa
giáo dục nước nhà có thể phát huy tốt đẹp được? Lại nữa, mà đây mới là điều
quan trọng, hơn ai hết anh biết rõ sách lược xâm nhập cán bộ Cộng Sản vào
các cơ quan chính quyền, do đó nhiệm vụ chính yếu của anh là nhiệm vụ hướng
dẫn chính trị, phần chuyên môn thì bộ nào đã có thành phần trí thức và
chuyên viên của bộ đó. Trách nhiệm trước tiên của anh là chận đứng nội tuyến
của Việt cộng, triệt tiêu các phần tử thân Pháp, thân Trung lập, thân Cộng
len lỏi vào các bộ, nhất là hai bộ Giáo Dục và Lao Động, nơi mà Việt Cộng dễ
dàng lũng đoạn hàng ngũ quốc gia, phá hoại đường lối chống Cộng của chúng
ta. Huống chi tri thức miền Nam đa số là “trí thức phòng trà” nặng đầu óc
phe phái, ganh tị lẫn nhau, họ không thể đối phó nổi với tình hình rối rắm.
Lúc này, chúng ta cần một vị tướng cứng rắn hơn là một nhà khoa bảng nhu
nhược. Mong anh nghĩ kỹ”.
Thật là khó xử cho tôi khi phải cầm đầu ngành văn hóa giáo
dục nước nhà, phải điều động các nhà khoa bảng trí thức. Thời Đệ I Cộng Hòa,
tôi đã gặp một lần khó xử khi ông Diệm cử tôi giữ chức Tổng Giám đốc hai
ngành Công Binh Tạo Tác và Công Binh Chiến Đấu hợp nhất, còn vào thời điểm
này, thực trạng xã hội buộc tôi phải suy nghĩ rất nhiều, lời mỉa mai trí
thức miền Nam toàn là trí thức phòng trà của Khánh tuy có cách miệt thị quá
đáng nhưng cũng không xa sự thật bao nhiêu. Một số trí thức tâm huyết hiếm
hoi đã phải chịu thất bại hay đầu hàng tình thế. Còn đa số trí thức thì hay
sợ hãi và chỉ biết tính toán lợi hại, dùng cấp bằng của mình làm giá áo túi
cơm!
Thật vậy, sau khi mất nước sống lưu vong nơi xứ người mà trí
thức quốc gia vẫn còn bị phê phán nặng nề, đủ thấy thái độ nhút nhát của
giới trí thức miền Nam thời chưa mất nước. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã phê
bình:
“Trí thức quốc gia không đủ sức hiểu ý nghĩa của chính trị,
không chịu tìm hiểu thực tế. Họ tự hào với một mớ kiến thức mà không có tư
cách của kẻ sĩ nên luôn luôn đứng ngoài và “đứng trên” các tổ chức chính
trị, và do đó họ không có hậu thuẫn quần chúng. Còn những trí thức chạy theo
đảng Cần Lao thời Đệ I Cộng Hòa hay sau này chạy theo đảng Dân Chủ Đệ II
Cộng Hòa thì chỉ vì quyền lợi trước mắt. Cho đến khi những trí thức bị Cộng
Sản bắt vào trại cải tạo, bị Cộng Sản nêu cá |