Chương XVIII
BA NĂM XÁO TRỘN
Ngày 2 tháng 11 năm 1963,
vào khoảng 7 giờ sáng, đài phát thanh Sài Gòn loan tin dinh Gia Long đã bị
lực lượng Cách mạng chiếm, hai anh em ông Diệm-Nhu tự tử. Số người bị thương
vì lạc đạn là 145 người và 20 người chết cả quân lẫn dân. Tiếng súng êm dần,
nhân dân Đô Thành tiếp tục đổ trào ra đường phố để hoan hô quân đội, mua quà
bánh tặng các chiến sĩ, nói chuyện vui đùa với quân nhân trong niềm hoan lạc
chung. Nhà văn Đoàn Thêm mô tả cảnh tượng Sài Gòn ngày 2 tháng 11 năm 1963
như ngày hội lớn của quê hương đất nước... Nhiều đoàn thanh niên sinh viên
đến đập phá trụ sở Việt Tấn Xã và trụ sở chín tờ báo đã ủng hộ chế độ cũ.
Hai mươi sáu trụ sở cá nhân và các đoàn thể tay sai chế độ cũ cũng bị chung
số phận. Tượng Hai Bà Trưng vì giống bà Nhu và con gái nên đã bị sinh viên
kéo sập xuống, chặt đầu và lôi đi diễn hành trên nhiều đường phố. Buổi trưa
có tin hai anh em ông Diệm bị giết chứ không phải tự tử.
Cũng trong ngày hôm đó, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ra tuyên
cáo số 1 gồm 5 điểm:
- Quân đội đã làm cách mạng lật đổ một chế độ độc tài thể
theo ý nguyện của toàn dân.
- Cuộc cách mạng được toàn thể mọi tầng lớp nhân dân tham
gia.
- Sẽ thành lập gấp một chính phủ lâm thời để điều hành quốc
gia.
- Một Hội Đồng Nhân Sĩ sẽ được thành lập để cố vấn cho chính
phủ trong giai đoạn chuyển đổi.
- Khi các định chế dân chủ được thực hiện, Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng sẽ trao quyền cho quốc dân.
Trong tuyên cáo số 2, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cho biết
chủ trương của Hội đồng là không độc tài nhưng áp dụng một hình thức dân chủ
trong tinh thần kỷ luật, đoàn kết toàn dân. Các đảng phái được tự do hoạt
động, tôn trọng quyền tự do ngôn luận của báo chí, trả tự do cho những chính
trị phạm không Cộng Sản, tự do tín ngưỡng, các tôn giáo được đối xử bình
đẳng, Việt Nam vẫn đứng trong thế giới tự do và duy trì giao hảo với lân
bang và các nước bạn, tôn trọng các hiệp ước đã ký kết, tôn trọng tài sản và
tính mạng ngoại kiều.
Ngày 3 tháng 11, một quyết nghị khác lại ra đời, cho biết tạm
ngừng Hiến pháp 26-10-1956, giải tán Quốc Hội của chế độ cũ. Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng ra mắt báo chí và quốc dân với thành phần:
- Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh.
- Đệ nhất Phó chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn.
- Đệ nhị Phó chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính.
- Tổng thư ký kiêm ủy viên ngoại giao: Trung tướng Lê Văn
Kim.
- Uỷ viên chính trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu.
- Uỷ viên quân sự: Trung tướng Trần Thiện Khiêm.
- Uỷ viên kinh tế: Trung tướng Trần Văn Minh.
- Uỷ viên an ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.
- Các ủy viên khác: các Trung tướng Lê Văn Nghiêm, Mai Hữu
Xuân, các Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có.
Cũng trong ngày hôm đó, Đại sứ Ngô Đình Luyện ở Luân Đôn, em
ruột của Tổng thống Diệm, từ chức.
Ngày 4-11, Hiến Ước tạm thời số 1 được ban hành để xác định
rằng Việt Nam vẫn theo thể chế Cộng Hòa, quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, quyền hạn Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng , quyền Hành pháp ủy cho chính phủ lâm thời do Hội đồng
chỉ định và các luật lệ hiện hành vẫn tạm duy trì để bảo đảm an ninh và trật
tự công cộng.
Và chỉ bốn ngày sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng chỉ định ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng để thành lập
chính phủ lâm thời vào ngày 5-11. Ba ngày sau, nội các ra mắt đồng bào với
chủ trương “cách mạng ôn hòa”. Trong số 15 Tổng Bộ trưởng của tân nội các,
ta thấy có 6 nhân vật thuộc chế độ cũ và 5 sĩ quan cao cấp. Riêng ông Thơ,
tuy là Cựu Phó Tổng thống nhưng lại là bạn thân của tướng Minh (đã từng lôi
kéo ông Minh giúp Thủ tướng Diệm chống Pháp và Bình Xuyên vào những năm
1954-1955), và mấy tháng trước cuộc cách mạng đã liên lạc thường xuyên với
ông Minh trong việc vận động đảo chánh.
Cũng trong ngày 5-11 này, trong khi ba người con của ông Nhu
ở Đà Lạt được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng khoan hồng đưa đi Âu Châu để đoàn
tụ với bà Nhu thì tại Sài Gòn, hàng vạn dân chúng tham dự lễ an táng Thiếu
tá Bùi Quang Ngãi đã bỏ mình trong cuộc tấn chiếm dinh Gia Long.
Các quốc gia trên thế giới (mà nước đầu tiên là Mã Lai Á) bắt
đầu công nhận và thiết lập ngoại giao với tân chế độ (cho đến ngày
13-11-1963, có tất cả 21 quốc gia chính thức công nhận Việt Nam Cọng Hòa, kể
cả Hoa Kỳ và Tòa thánh Vatican).
Ngày 6-11, nguyên Cố vấn Chỉ đạo miền Trung Ngô Đình Cẩn bị
bắt và giải từ Huế vào Sài Gòn. Lệnh giới nghiêm được bãi bỏ và sắc lệnh
thành lập Hội Đồng Nhân Sĩ ra đời.
Ngày 7-11, Lực Lượng Đặc Biệt do nguyên Đại tá Lê Quang Tung
chỉ huy trở về quy thuận.
Ngày 8-11, những chính khách và quân nhân bị lưu đày tại Côn
Sơn dưới chế độ Diệm được trả tự do và đưa về Sài Gòn. Hàng vạn người tưng
bừng đón tiếp trọng thể tại bến Bạch Đằng. Các tướng Nguyễn Văn Vỹ và Dương
Văn Đức cũng từ Pháp trở về Việt Nam. Các chính khách lưu vong tại Cao Miên,
Lào đều lần lượt trở về.
Ngày 12-11, Uỷ Ban Lãnh Đạo Sinh Viên Liên Khoa đòi thanh
trừng hàng ngũ giáo chức bị coi là mật vụ của chế độ cũ. Cùng ngày này,
chính phủ bãi bỏ Phủ tổng ủy Dinh điền và Nông vụ để thay bằng Phủ Tân sinh
Nông thôn.
Ngày 15-11, các trường Cao đẳng và Đại học bị đóng cửa dưới
chế độ Diệm được mở lại.
Ngày 16-11, tân chính phủ thể theo ý nguyện của toàn dân,
thành lập một Uỷ ban Điều Tra Tội Ác các phần tử của chế độ cũ đã dựa vào
thế lực hay địa vị để bắt giam trái phép, tra tấn, hãm hiếp, sát nhân, và
một ủy Ban Điều Tra Tài Sản Thủ Đắc Phi Pháp cũng được thành hình.
Ngày 18-11, Tòa đại sứ Phi Luật Tân giao trả lại cho chính
phủ Việt Nam Cọng Hòa cựu Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu đã lánh nạn sau ngày
1-11-63. Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Cố vấn Quân sự cho chính phủ, và
Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Phạm Văn Liễu
cùng một số sĩ quan, sau ba năm lánh nạn ra ngoại quốc, trở về nước. Đường
Ngô Đình Khôi Sài Gòn được đổi thành đường Cách mạng 1-11.
Ngày 19, 20 và 22 tháng 11, học sinh Nông Lâm Súc, học sinh
các trường Trung học Huế và nhiều tỉnh khác biểu tình đòi các giáo sư đã làm
mật vụ cho chế độ cũ phải từ chức.
Ngày 12-12, một vị du tăng Khất sĩ tại Bình Định tự thiêu
cúng dường Tam Bảo, mừng Phật giáo thoát nạn.
Ngày 14 tháng 12, Thành Cộng Hòa tại trung tâm thành phố, một
căn cứ cũ của quân xâm lăng Pháp và Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng
thống thời ông Diệm, được giao cho Bộ Giáo Dục để thiết lập một khu Đại học
(mà sau này là Đại học Văn Khoa và Dược khoa). Đây là một trong những quyết
định sáng tạo của chính quyền nhằm bôi xóa những hình thức biểu tượng độc
tài và bạo trị của chế độ cũ. Nhất là trên mảnh đất đó, từ này sẽ là những
giảng đường trao truyền tinh thần và kiến thức đại học cho thế hệ Việt Nam
tương lai.
Ngày 16 tháng 12, chính phủ tịch thu tài sản của ông Ngô Đình
Diệm, gia đình ông ta, và thuộc hạ 21 người cùng với các đoàn thể ủng hộ chế
độ cũ như đảng Cần Lao Nhân Vị, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, Phong Trào
Liên Đới Phụ Nữ, Thanh Niên Cộng Hòa, Hội Việt Nam Cao Đẳng Giáo Dục.
Ngày 18 tháng 12, bãi bỏ luật 12/62 Bảo vệ Luân lý của bà
Nhu, cho mở lại các tiệm khiêu vũ nhưng cấm những điệu vũ đồi phong bại tục
và cấm các thanh niên dưới 18 tuổi vào các tiệm khiêu vũ. Hơn nữa, các tiệm
khiêu vũ phải đóng thuế xa xỉ đặc biệt thật nặng, 200 đồng cho mỗi khách và
mỗi lần vào tiệm.
Cũng ngày này, Đại sứ Trần Chánh Thành được cử sang Nam Vang
tiếp xúc với Sihanouk để tỏ thiện chí giao hảo của chính phủ Việt Nam.
Ngày 23 tháng 12, Thiếu tướng Cao Đài Lê Văn Tất và một đại
đội binh sĩ Cao Đài từ Cao Miên về nước hợp tác với tân chế độ.
Ngày 25 tháng 12, một sắc luật ra đời cho phép những người đã
bị kết án chống đối chế độ cũ có thể xin tái thẩm để bạch hóa hồ sơ.
Ngày 26 tháng 12 thành lập SONADEZI (Société Nationale Des
Zones Industrielles), công ty quốc doanh có mục đích tạo lập và khuếch
trương các khu kỹ nghệ để phát triển kinh tế và thu dụng nhân công.
Ngày 29 tháng 12, một phái đoàn thiện chí Cao Miên tới Sài
Gòn, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cọng Hòa tuyên bố sẵn sàng thương thuyết về mọi
vấn đề Miên Việt.
Ngày 30 tháng 12, sinh viên Kiến trúc phản đối sắc luật tháng
5/1963 của chế độ Diệm về thể lệ hành nghề quá ngặt. Cũng ngày này, bãi bỏ
lệ chào cờ trước khi chiếu bóng, diễn tuồng vì lễ này (được đặt ra từ khi
ông Diệm làm Tổng thống) bắt buộc khi chào cờ thì phải chào luôn cả chân
dung ông Diệm giữa lá quốc kỳ.
Ngày 31 tháng 12, Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo khai mạc tại
chùa Xá Lợi hợp nhất Nam-Bắc tông để soạn thảo một Hiến chương chung.
Ngày 2-1-64, khai mạc Hội Đồng Nhân Sĩ tại Hội trường Diên
Hồng. Hội Đồng gồm 60 người, gồm đa số các nhân vật tên tuổi được quốc dân
và sinh viên trọng vọng và đã từng trực tiếp hay gián tiếp chống đối nhà
Ngô.
Ngày 4-1, một Uỷ ban được thiết lập để điều chỉnh tình trạng
những công chức đã bị chế độ cũ trừng phạt oan hay thăng thưởng quá đáng.
Ngày 5-1, có một số đổi thay trong thành phần chính phủ:
Trung tướng Tôn Thất Đính giữ chức Tổng trưởng Nội vụ, Thiếu tướng Đỗ Mậu ủy
viên chính trị kiêm Tổng trưởng Thông tin, Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng
trưởng Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân đội, Trung tướng Lê Văn Kim Tổng thư ký
kiêm Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Trần Thiện Khiêm Tư lệnh Quân đoàn
III và Thiếu tướng Nguyễn Văn Quang Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội.
Cũng ngày này, lễ truy điệu văn hào kiêm cách mạng gia Nhất
Linh Nguyễn Tường Tam được cử hành vô cùng trọng thể tại vườn Tao Đàn, với
sự tham dự của rất đông sinh viên và dân chúng.
Ngày 10-1, Sihanouk đề nghị Miên và Việt cùng từ bỏ mọi yêu
sách về đất đai và chấm dứt mọi tranh chấp chủ quyền về các hải đảo. (Dưới
chế độ Diệm, Sihanouk đòi phải sửa biên giới Miên-Việt và đòi một số đảo của
Việt Nam tại Vịnh Thái Lan).
Ngày 12-1, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bầu Thượng
Tọa Thích Tâm Châu giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Ngày 13-1, sinh viên học sinh biểu tình lớn chống chính sách
trung lập nhân dịp Baudevan, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Pháp qua thăm Sài
Gòn.
Ngày 16-1, Hội Đồng Nhân Sĩ họp bàn về việc soạn thảo Tân
hiến pháp.
Ngày 17-1, thanh niên sinh viên biểu tình chống Pháp và chống
trung lập tại chợ Bến Thành và trước Trung tâm Văn hóa Pháp. Cùng ngày này,
khoảng gần 1.000 du đãng do chế độ Diệm để lại được chia ra làm nhiều hạng:
hạng nhẹ nhất được đưa đi huấn luyện quân sự tại Quang Trung, hạng thứ hai
được đem đi cải huấn tại trại Cải Huấn Thủ Đức, và hạng thứ ba thuộc loại
nguy hiểm được đưa an trí tại Côn Sơn.
Ngày 23-1, Hội Đồng Nhân Sĩ yêu cầu chính phủ đoạn giao với
Pháp. Ngày 27, thành lập Điện lực cuộc tại Việt Nam với nhiệm vụ kiến tạo và
khai thác cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng điện năng.
Ngày 28-1, chính phủ ra thông cáo xác nhận chống trung lập,
phản đối chính phủ Pháp đã thừa nhận Trung Cộng và quyết định có biện pháp
đối phó. Bộ Kinh Tế cấm nhập cảng hàng hóa Pháp, không cấp giấy phép nhập
cảng cho Pháp kiều hoặc người Việt có Pháp tịch. Cũng trong ngày này Bộ Y Tế
ban hành Nghĩa Vụ Luận cho giới y sĩ.
Ngày 29-1, sinh viên Sài Gòn ra quyết nghị yêu cầu chính phủ
phải quốc hữu hóa tài sản của Pháp ở Việt Nam. Đồng thời một số nhân vật
chính trị bị kết án sau vụ Bình Xuyên 1955 như các ông Nguyễn Văn Thành,
Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Hiếu được ân xá. (Nhà báo tên tuổi Trần Văn Ân,
học giả Hồ Hữu Tường và nhân sĩ Công giáo miền Nam, ông Trình Khánh Vàng,
mấy tháng sau mới được ân xá).
Nhìn chung thì sau ba tháng cầm quyền, Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng và chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đang cố gắng để vãn hồi trật tự xã
hội, cố gắng phát triển kinh tế và đặc biệt cố gắng xây dựng tình đoàn kết
quốc gia. Ngoài ra, cuộc cách mạng 1-11-1963 đã đem lại cho Việt Nam Cộng
Hòa hai thắng lợi nổi bật vô cùng tốt đẹp. Việc thứ nhất là Sihanouk tuyên
bố từ bỏ tranh chấp biên giới và việc thứ hai là sự trở về với cộng đồng
quốc gia của khối Cao Đài. Sihanouk từ lâu vì coi chế độ Diệm là kẻ thù
không đội trời chung nên đã tiếp tay cho Cộng Sản, còn 11 hệ phái Cao Đài
cũng vì bị anh em ông Diệm triệt phá mà hoạt động cho Việt Cộng (xem “Vietcong”
của giáo sư Douglas Pike và đã được trình bày trong vụ Việt Cộng tấn công sư
đoàn 13 cuối năm 1960) nay đều chủ trương hòa hiếu với tân chế độ thì quả
thật là một thành công lớn cho quốc gia. Không nói thì ai cũng biết hai biến
cố này sẽ làm cho Việt Cộng mất đi những đồng minh vô cùng đắc dụng và làm
nhẹ gánh chiến tranh cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiếc thay, cuộc chỉnh lý của
nhóm tướng Khánh sau đó, ba năm xáo trộn tiếp theo và chế độ Nguyễn Văn
Thiệu, một chế độ Diệm không Diệm ra đời đã đẩy Sihanouk và Cao Đài trở về
vị trí bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa như dưới thời Ngô Đình Diệm, làm hại
cho phe quốc gia sau này.
Riêng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và chính phủ
Nguyễn Ngọc Thơ lúc bấy giờ, vì chủ trương “Cách mạng ôn hòa”, vì khoan dung
quá đáng cho thành phần Cần Lao và nhân sự chế độ cũ nên đã phạm phải những
lỗi lầm vô cùng trầm trọng sau này.
Lỗi lầm thứ nhất là tướng Dương Văn Minh đã cử ông Nguyễn
Ngọc Thơ làm Thủ tướng, một vị Thủ tướng có quá trình là một cựu Đốc phủ sứ,
cựu Bí thư Toàn quyền Decoux, từng cộng tác chặt chẽ với người Pháp và là
cựu Phó Tổng thống của chế độ Ngô Đình Diệm. Mặc dù ông Thơ có công hoạt
động với tướng Minh thời tiền cách mạng, nhưng thành tích thân Pháp suốt
cuộc đời của ông và đặc biệt là việc ông kêu gọi tướng Ba Cụt về hàng để bị
anh em ông Diệm lừa và chặt đầu, đã gây căm phẫn cho các tôn giáo, đảng
phái. Đã thế trong chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ lại có đến sáu vị Bộ trưởng
thuộc chế độ Diệm, dù trong đó cũng có người có khả năng và liêm chính như
Bộ trưởng Trần Lệ Quang chẳng hạn, nhưng với một nội các gồm quá nhiều người
thuộc chế độ cũ thì trước mắt quốc dân và quốc tế, Tân chế độ gọi là Cách
Mạng chỉ là một chế độ Ngô Đình Diệm tái sinh.
Lỗi lầm thứ hai là việc thành lập Hội Đồng Nhân Sĩ (Commité
des Sages). Thành lập Hội Đồng Nhân Sĩ là một sáng kiến chính trị tuy không
mới mẻ gì nhưng lại rất thích hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Sự
kiện Hội Đồng Nhân Sĩ giữ nhiệm vụ và có quyền hạn của một cơ quan lập pháp
tạm thời trong lúc chờ đợi Hiến pháp và Quốc hội đã làm cho quốc dân thỏa
mãn. Ngoài ra, nó còn đóng vai đối lập với chính quyền, một vai trò cần
thiết để thể hiện dân chủ. Khốn nỗi, phần vì bị thúc bách bởi một tình thế
mới quá gấp rút, phần vì thiếu chuẩn bị do sự khó khăn trong việc tổ chức
cuộc cách mạng nên các tướng lãnh đã không biết lựa chọn nhân sĩ cho xứng
đáng với nhu cầu và điều kiện của tình hình lúc đó. Tuy họ đã biết mời một
số nhân vật tên tuổi như Cụ Trần Đình Nam, Phan Khắc Sửu, Giáo sư Phạm Biểu
Tâm, ông Trần Văn Văn, Cụ Đào Đăng Vỹ... chẳng hạn, nhưng họ đã bỏ sót một
số nhân sĩ lão thành tiếng tăm như quý Cụ Nguyễn Xuân Chữ, Ba Liệu, Trần Văn
Hương... Họ đã bỏ sót các lãnh tụ đảng phái tên tuổi như các ông Trần Quang
Vinh (Cao Đài), Phan Bá Cầm (Hòa Hảo), Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký (Đại
Việt), Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Văn Lực, Trương Bảo Sơn (Việt Nam Quốc Dân
Đảng), Tạ Nguyên Minh (Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội), Phan Quang Đán
(Dân Chủ), Nguyễn Văn Huyền (Thiên Chúa giáo), Trần Văn Quế, Mai Thọ Truyền
(Phật giáo), Lê Văn Thái (Tin Lành)... Họ đã không mời những “hiền tài” của
đất nước vừa nói trên, mà lại mời một số nhân vật chỉ là cộng sự viên cũ của
họ. Tệ hại hơn nữa, họ lại mời một số cựu “Cần Lao” mà tiêu biểu là ông Trần
Trung Dung, cháu rể nhà Ngô.
Lỗi lầm thứ ba là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã không gấp
rút thay thế các giám đốc cơ quan trung ương hoặc các cấp bộ địa phương mà
vẫn giữ lại số nhân viên và chức quyền cũ, trong đó đa số là thành phần Cần
Lao Công Giáo. Như ông Lê Nguyên Long trong bài “Bất đắc dĩ khơi lại đống
tro tàn” đã phân tích một cách đúng đắn rằng chính nhóm Cần Lao Công
Giáo này, bắt nguồn từ một ý thức muốn trả thù cho chủ cũ, đã có những thái
độ và hành động không những gây công phẫn cho nhân dân mà còn phá hoại đất
nước qua khẩu hiệu Nếu không có “Cụ” của chúng tao thì bọn bây chẳng làm
gì nên thân. Cũng vì chính sách ôn hòa, giữ lại các cấp bộ quân đội và
chính quyền cũ mà sau khi cách mạng thành công, Cao Văn Viên vẫn được chỉ
huy sư đoàn Dù để ba tháng sau ông ta tham dự vào cuộc chỉnh lý của tướng
Khánh và do đó mà Thiếu tá Nhung bị sát hại ngay giờ phút đầu tiên của cuộc
chỉnh lý.
Vì những lỗi lầm trên mà đảng phái và tôn giáo bắt đầu bất
mãn. Sự bất mãn trên đã biểu lộ qua các cuộc biểu tình của sinh viên, qua
luận điệu chỉ trích nặng nề giới Cần Lao của báo chí, qua tuyên ngôn của các
đảng phái như đã trình bày trong một đoạn trước. Ngoài ra việc các tướng
Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim cho tướng Nguyễn Văn Vỹ hồi hương một cách mau
chóng và có ý muốn trọng dụng nhóm Vương Văn Đông đã làm cho các tướng Dương
Văn Đức, Đại tá Nguyễn Chánh Thi bất mãn vì họ cho rằng tướng Vỹ và Trung tá
Đông là người của Pháp, là bạn thân của Nguyễn Văn Hinh và có liên hệ với
Trần Đình Lan, một thứ con Tây đang làm gián điệp cho Pháp.
Chính thái độ “thiếu cách mạng” của Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng đã là nguyên nhân chính yếu cho nhóm Nguyễn Khánh, Cao Văn Viên, Trần
Thiện Khiêm, những tướng tá Cần Lao cũ và nhóm Đại Việt của ông Nguyễn Tôn
Hoàn lấy lý do để làm cuộc chỉnh lý, một cuộc chỉnh lý mà Khánh tuyên bố là
vì HĐQNCM tạo ra tình hình suy sụp và chủ trương “thân Pháp và trung lập”.
Ngày 30-1-1964, từ sáng sớm, người ta thấy một số đơn vị quân
đội canh gác trên nhiều góc đường, có nơi có cả chiến xa. Một số tướng tá
họp tại Bộ Tổng Tham Mưu gồm Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Đức,
Lâm Văn Phát, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Chánh Thi, Dương Ngọc Lắm, Cao Văn
Viên, Trần Thanh Bền, Albert Cao, v.v... đề ra quyết định chấm dứt nhiệm vụ
của HĐQNCM. Các tướng Đôn, Kim, Vỹ bị bắt an trí tại Đà Lạt, tướng Mai Hữu
Xuân bị bắt an trí ở Huế. Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt và bị tướng
Đức làm nhục nhưng được trả tự do ngay.
Ngày 31 tháng 1, tướng Khánh họp báo tuyên bố: “Từ ba tháng
nay, tình hình suy sụp về mọi mặt, chính quyền tỏ ra bất lực. Về phần cách
mạng, một số tướng lãnh chạy theo thực dân, Cộng Sản (?) nên một lần nữa
quân đội lại phải can thiệp”. Tướng Khánh giải thích: “Không có đảo chánh,
chỉ có chỉnh lý để chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng”. Ông ta cũng
tuyên bố được Hội Đồng Quân Nhân cử làm Chủ tịch kiêm Tổng Tư lệnh Quân Đội.
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng được đổi tên thành “Hội Đồng Quân Đội Cách
Mạng”.
Những tướng tá chủ trương cuộc chỉnh lý này gồm nhiều thành
phần, tiêu biểu nhiều xu hướng, nhưng chủ lực ngoài tướng Khánh và một số sĩ
quan cấp tá thuộc đảng Đại Việt của bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và ông Hà Thúc Ký
còn một số tướng tá thuộc chế độ Diệm.
Cuộc chỉnh lý đó mở màn cho những xáo trộn chính trị tại miền
Nam làm lệch hẳn những ý nghĩa của ngày Cách mạng 1-11-63. Nhà văn Thế Uyên,
cháu của văn hào cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã có lời than trách
như sau để tiếc thương cho ngọn lửa Cách mạng sớm tắt:
... Một tháng sau, tôi xin được phép về Sài Gòn. Tôi cùng
Thi xuống nghĩa trang Giác Minh thăm mộ Ba tôi và mộ người Bác (Nguyễn Tường
Tam). Tàn hương ra về, tôi gặp Lam (nhà văn Duy Lam cũng là một nhà văn quân
đội như Thế Uyên). Hai đứa nhìn nhau, mặt Lam sắt lại, răng cắn chặt lấy
chiếc pipe: “Đã đến lúc phải làm một cái gì”. Câu nói ám ảnh tất cả con cháu
và tới cả những người khi Nhất Linh còn sống không đồng ý hoàn toàn với cả
đời sống của ông. Chiều 26 tháng 10 năm 1963, Lam từ Đà Lạt về và tôi từ
Pleiku xuống gặp nhau tại Sài Gòn. Ngồi trong khu rừng mía um tùm của mẹ
tôi, Lam bàn về cuộc đảo chánh đang chuẩn bị. Mật vụ bủa vây khắp nơi, xiết
chặt đến nỗi cả tôi lẫn Lam đều đồng ý: “Trong một tuần nữa, nếu không có
đảo chánh họ sẽ cho mình vào tù hết”. Chiều 28, an ninh cá nhân mong manh
đến độ Lam quyết định: “Thôi Du đi đi, Bác dặn phải tiết kiệm nhân lực. Để
mình anh ở lại, có thua đến lượt Du lần sau”. Sáng sớm hôm sau tôi lên đường
trở về đơn vị, suốt ngày quanh quẩn chiếc máy phát thanh. Hai ngày sau đảo
chánh, tôi nằm ôm máy phát thanh cho tới sáng. Bởi vì nếu lần này thất bại,
hẳn trong nghĩa trang Giác Minh sẽ thêm mộ Lam. Và không hẳn chỉ thêm một mộ
mà thôi. Đảo chánh thành công và Cách mạng thành công, khi người con thứ của
Nhất Linh bước vào phòng họp Bộ Tổng Tham Mưu, Trung tướng Dương Văn Minh
yêu cầu toàn thể HĐQNCM đứng mặc niệm một phút nhà văn Nhất Linh và cách
mạng gia Nguyễn Tường Tam. Và cuộc Cách mạng chấm dứt sau phút ấy. Sau đó
chính trị bắt đầu, thứ chính trị mà chính người được mặc niệm đã bao lần
chối bỏ trong đời
[1].
Thứ chính trị phản cách mạng mà Thế Uyên trình bày ở đây để
tiếc nuối chính nghĩa sáng rực của ngày 1-11-1963 là gì nếu không phải là
những hệ quả của đầu óc bè phái đã từng được sinh sôi và nuôi dưỡng từ dưới
chế độ Diệm mà trước hết là bè phái của dư đảng Cần Lao Công Giáo đang tìm
cách len lỏi lại vào những khe hở của một chính phủ còn yếu ớt. Riêng đối
với những nhóm Phật tử tranh đấu thì việc hạ sát thiếu tá Nhung còn là dấu
hiệu của sự trở lại chính quyền của người Công giáo và tàn dư của ông Diệm.
Vì vậy đã có những hành động làm cho sự hỗn loạn càng thêm trầm trọng
[2].
Ngày 1-2, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ bị giải tán, tướng Khánh
tiếp Ngoại giao đoàn và ban hành sắc luật đặt “chủ nghĩa Cộng Sản và chính
sách trung lập” ra ngoài vòng pháp luật. Cũng ngày này, chủ tịch Đại diện
Sinh viên từ chức, một Hội Đồng gồm 15 chủ tịch các phân khoa được cử lên
thay. Trong lúc đó, chính phủ Hoa Kỳ cũng tuyên bố chống giải pháp Trung lập
tại Việt Nam, và ngày hôm sau, Tổng thống Johnson gởi thư xác định với Trung
tướng Nguyễn Khánh là Mỹ vẫn tiếp tục giúp đỡ Việt Nam.
Ngày 5-2, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn về nước. Cùng ngày này, Hội
Đồng các Giám mục ra tuyên ngôn kêu gọi đoàn kết.
Ngày 7-2, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng quyết định cử tướng
Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng và cử tướng Khánh thành lập chính
phủ.
Ngày 8-2, chính phủ Nguyễn Khánh ra đời với thành phần nội
các dưới đây:
- Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh.
- Phó Thủ tướng đặc trách Bình Định: Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn
(Đại Việt miền Nam).
- Phó Thủ tướng đặc trách Kinh tế Tài chánh: Tiến sĩ Nguyễn
Xuân Oánh.
- Phó Thủ tướng đặc trách Văn hóa Xã hội: Thiếu tướng Đỗ Mậu.
- Quốc vụ khanh: Bác sĩ Lê Văn Hoạch (cựu Thủ tướng Cao Đài).
- Tổng trưởng Ngoại giao: Bác sĩ Phan Huy Quát (Đại Việt miền
Bắc).
- Tổng trưởng Nội vụ: Kỹ sư Hà Thúc Ký (Đại việt miền Trung).
- Tổng trưởng Công chánh: Kỹ sư Kiều lộ Trần Ngọc Oành (Công
giáo).
- Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục: Tiến sĩ Bùi Tường Huân (Phật
giáo).
- Tổng trưởng Quốc phòng: Trung tướng Trần Thiện Khiêm.
- Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn: Kỹ sư Nguyễn Công Hầu (Hòa
Hảo).
- Tổng trưởng Y tế: Bác sĩ Vương Quang Trường (độc lập).
- Tổng trưởng Lao động: Ông Đàm Sĩ Hiến (nguyên cố vấn các
nghiệp đoàn công nhân lao động).
- Tổng trưởng Thông tin: Ông Phạm Thái, một chiến sĩ VNQDĐ.
- Tổng trưởng Tài chánh: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh.
- Tổng trưởng Kinh tế: Tiến sĩ Âu Trường Thanh (trí thức cấp
tiến).
- Tổng trưởng Tư pháp: Luật gia Nguyễn Văn Mầu (Công giáo).
- Tổng trưởng Xã hội: Tiến sĩ Trần Quang Thuận (Phật giáo).
- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Luật sư Nghiêm Xuân Hồng (Duy
Dân).
Nhìn thành phần dân sự trên đây mà đại đa số là những chuyên
viên hoặc những người có quá trình đấu tranh khả tín, ta thấy chính phủ
Nguyễn Khánh quả đã tập họp được một “ê-kíp” có khả năng trên mặt điều hành
quốc gia cũng như có tính cách tiêu biểu cho sự đoàn kết dân tộc. Một điểm
cần lưu ý là dù đã ba tháng trôi qua, nhưng hình ảnh của những “người hùng
Cách mạng” và đặc biệt của tướng Dương Văn Minh, vẫn là những hình ảnh hùng
tráng mà quần chúng giữ rất nhiều cảm tình, thế mà cuộc chỉnh lý của tướng
Nguyễn Khánh cũng không gặp một phản ứng bất lợi nào cả.
Lẽ dĩ nhiên, ngoại trừ khối Công Giáo Cần Lao đang mong
chờ và đóng góp cho mọi xáo trộn để họ có thể hể hả với mối căm thù về việc
quân đội đã lật đổ ông Diệm, những thành phần còn lại của nhân dân đều,
ở một mặt nào đó, đồng ý với sự thay đổi chính phủ này vì những lý do sau
đây:
Trước hết vì Khánh đi đúng tâm lý quần chúng, nhất là đối với
giới sinh viên, đảng phái, tôn giáo, Hội Đồng Nhân Sĩ, và các lực lượng
chống Cộng khác khi Khánh đưa ra chiêu bài chống Trung lập, chống Pháp. Âm
mưu của anh em ông Diệm nhờ Pháp làm trung gian để thương thuyết với Hà Nội
vẫn ám ảnh nặng nề mọi người, trong khi đó thì chánh sách ngoại giao của
Pháp vẫn chủ trương hai miền Nam-Bắc Việt Nam phải thống nhất qua một cuộc
Tổng tuyển cử như đã quy đinh bởi Hiệp ước Genève, và riêng Tổng thống De
Gaulle càng ngày càng tỏ ra thân Hà Nội. Trong lúc đó Pháp kiều tại miền Nam
vẫn tiếp tục giúp đỡ Việt cộng, các đồn điền của Pháp vẫn tiếp tục chứa
chấp, nuôi dưỡng Việt cộng.
Đối với các đảng phái và tôn giáo thì chính phủ Nguyễn Ngọc
Thơ gồm nhiều nhân vật của chế độ cũ trong khi chính phủ Nguyễn Khánh lại
tập họp được nhiều nhân vật tiêu biểu đại diện cho các tôn giáo và đảng
phái. Phật giáo có các ông Bùi Tường Huân, Trần Quang Thuận, Công giáo có các ông Trần Ngọc Oành, Nguyễn Văn Mầu, Cao
Đài có ông Lê Văn Hoạch, Hòa Hảo có ông Huỳnh Công Hầu, Việt Quốc có ông
Phạm Thái, Đại Việt có các ông Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Huy Quát, Hà Thúc Ký,
Duy Dân có ông Nghiêm Xuân Hồng...
Điều thứ ba là mặc dù Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũ bị giải
tán nhưng nhiều nhân vật cốt cán trong việc lật đổ chế độ Diệm như các tướng
Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đỗ Mậu,... vẫn hiện diện trong chính quyền
mới. Sự hiện diện của ba vị tướng nói trên, dù nhiều khi chỉ có tính cách
tượng trưng, vẫn thỏa mãn được Phật giáo, sinh viên, và đại đa số quần chúng
chống đối chống chế độ Diệm.
Còn đối với Công giáo, tuy mang nặng mối thâm thù với các
tướng lãnh đã lật đổ chế độ Diệm nhưng cuộc chỉnh lý của tướng Khánh đã làm
họ thỏa mãn rất nhiều vì họ cho rằng cái hào quang của cuộc Cách mạng
1-11-63 đã bị sứt mẻ, cái huyền thoại “người hùng” của tướng Dương Văn Minh
đã bị đổ vỡ... Vả lại, các ông Cao Văn Viên, Albert Cao, Đặng Văn Quang,
Dương Ngọc Lắm, Ngô Du... những phần tử trung thành với ông Diệm, vẫn được
trọng dụng và việc Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung (người hạ sát ông Diệm) bị giết
tại trại Nhảy Dù của Cao Văn Viên cũng đã là yếu tố làm thỏa mãn khối Công giáo trên.
Đối với Mỹ, vốn đã có nhiều cảm tình với tướng Khánh từ lâu,
biết đó là vị tướng thông minh, có khả năng quân sự, lại thấy chính phủ của
tướng Khánh tiêu biểu cho sự “đoàn kết quốc gia” nên chính giới Mỹ đã bày tỏ
nhiều hy vọng.
Những yếu tố vừa nói trên đã củng cố địa vị cho tướng Khánh
và làm cho chánh tình miền Nam trong mấy tháng đầu dưới chính phủ Khánh
không gặp những xáo trộn trầm trọng nào.
Ngày 8-4, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara và tướng Taylor sang
Việt Nam quan sát tình hình. Đến Huế, Cần Thơ và các nơi khác, hai ông được
đón tiếp bằng những cuộc mít tinh rầm rộ. Hứng thú, MacNamara hô khẩu hiệu
“Việt Nam Muôn Năm” bằng tiếng Việt. Mỹ tuyên bố ủng hộ chính phủ Khánh và
gia tăng viện trợ cho Việt Nam. Hoa Kỳ giúp tăng quân số Việt Nam Cọng Hòa
thêm 50.000 người; tăng thêm 7.500 cán bộ Xây dựng Nông thôn, tăng cường lực
lượng Hải, Không quân với nhiều dụng cụ, vũ khí, tàu bè tân tiến. Tổng số
tiền viện trợ cho riêng quân sự và chương trình Bình định lên đến 50 triệu
đô la.
Tuy nhiên, không như Dương Văn Minh và Nguyễn Ngọc Thơ chỉ
muốn làm cách mạng ôn hòa, muốn tỏ thái độ đoàn kết với Cần Lao Công Giáo,
các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Đức, Đại tá Nguyễn Chánh
Thi, các sĩ quan Đại Việt, và thành phần chính phủ gồm đại đa số những nhân
vật từng chống đối chế độ Diệm, lại muốn nuôi dưỡng tinh thần Cách mạng
1-11-63 và tỏ thái độ cứng rắn với tàn dư của đảng Cần Lao theo đòi hỏi của
sinh viên, đảng phái, Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo. Do đó, Khánh cho mở những
cuộc triển lãm trưng bày tội ác nhà Ngô, ra lệnh truy lùng những nhân vật
quan trọng của chế độ cũ như cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần chẳng hạn, vẫn
giam giữ Ngô Trọng Hiếu, vẫn đưa Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông ra tòa với
bản án xử tử, và Đặng Sĩ, Dương Văn Hiếu... với bản án khổ sai. Chính phủ
Nguyễn Khánh cũng bãi bỏ Dụ số 10 bất công và ban hành sắc luật công nhận
Hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hiến chương Đạo Cao
Đài, để các tôn giáo này được bình đẳng với Giáo hội Công giáo.
Với hơn nửa năm thuận lợi cho chính phủ Nguyễn Khánh, giữa
một tình hình chính trị tương đối êm dịu, báo chí đã ví von Nguyễn Khánh với
Nasser, bởi vì sau khi quân đội Ai Cập do tướng Tổng Tham mưu trưởng cầm đầu
lật đổ vua Farouk, Trung tá Nasser (cũng như tướng Khánh) lật luôn vị chỉ
huy của mình rồi nắm lấy chính quyền để trở thành người hùng của Ai Cập.
Tuy nhiên, tình hình thuận lợi đó vẫn chưa đủ để chính phủ
Nguyễn Khánh bình thướng hóa sinh hoạt quốc gia và củng cố chế độ. Vì ở dưới
bề mặt bình lặng đó là những đợt sóng ngầm bắt đầu chuyển động, những đợt
sóng ngầm xuất phát từ phản ứng quá khích của một số tôn giáo, từ ý thức bè
phái quá nặng nề, từ những phá hoại của Việt cộng và từ những ấu trĩ chính
trị của một số giai tầng lãnh đạo mà từ mười năm qua đã bị tiêu hao hết ý
thức cách mạng.
Tại Huế, nhóm các ông Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Mai Văn
Lễ, Cao Huy Thuần, Lê Tuyên... (cha đẻ của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc sau
này) cho xuất bản báo Lập Trường làm cơ quan đấu tranh mà chiến thuật
đầu tiên là đả kích nặng nề chính phủ Nguyễn Khánh với những luận điệu khích
động và khuynh đảo. Còn tại Sài Gòn thì ông Hà Thúc Ký, Bộ trưởng Nội vụ lại
âm mưu đảo chánh lật đổ tướng Khánh. Vào đầu tháng Tư, sau một buổi họp của
Hội đồng Nội các, Thủ tướng Nguyễn Khánh bèn họp riêng với ba vị Phó Thủ
tướng và cho biết trường hợp của ông Hà Thúc Ký. Khánh đặc biệt nói thẳng
với Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn rằng: “Ông Hà Thúc Ký đã nhận lời mời của
tôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và đã có nhiều việc làm tai tiếng về tiền
bạc, thế mà ông lại âm mưu với một số sĩ quan định lật đổ tôi. Nếu tôi không
nể anh và đảng Đại Việt thì tôi đã bắt giam anh Hà Thúc Ký rồi”.
Những bí mật được tiết lộ dần dần sau đó cho biết đảng Đại
Việt chủ trương đưa ông Nguyễn Tôn Hoàn về để sẽ làm Thủ tướng, nhưng tướng
Khánh đã lợi dụng cơ hội đó để phối hợp cùng tiến hành cuộc chỉnh lý và dành
luôn chức Thủ tướng. Ông Ký bất mãn vì cho rằng những nhân vật tên tuổi như
ông, như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, từng lãnh đạo một đảng cách mạng có thành
tích chống Cộng, chống Pháp, chống Diệm mà lại phải phục vụ dưới quyền một
kẻ võ biền như Nguyễn Khánh. Tuy nhiên, trong lúc ông Ký chủ trương chống
tướng Khánh thì nhóm Bác sĩ Hoàn và ông Nguyễn Ngọc Huy lại thấy rằng đảng
Đại Việt chưa đủ thực lực để chi phối chính trường nên cần phải tạm thời hợp
tác với tướng Khánh, nắm lấy thời cơ “Bình định Nông thôn” để phát triển
đảng viên, bành trướng thế lực, tiêu diệt hạ tầng cơ sở Việt cộng trước đã
rồi sẽ nắm lấy chính quyền qua một cuộc bầu cử cho danh chánh ngôn thuận
hơn.
Vì quan niệm và chủ trương bị diệt, từ đó ông Hà Thúc Ký tách
rời khỏi đảng do ông Hoàn lãnh đạo, thành lập đảng mới lấy tên là Đại Việt
Cách Mạng mà chủ lực là khối đảng viên Trị Thiên và Phú Yên, hợp tác với
nhóm Tứ Ân Nguyễn Long Châu (thân Cộng, bị chế độ Diệm bắt giam, được Bộ
trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký trả tự do) và nhóm Cần Lao Công Giáo. Còn nhóm các
ông Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Ngọc Huy cải tổ bộ máy đảng và đổi tên là Tân
Đại Việt.
Tướng Lâm Văn Phát được cử làm Bộ trưởng Nội vụ thay ông Hà
Thúc Ký trong lúc người đồng chí và bạn nối khố của ông Ký là Đoàn Thái, vì
bất đồng chính kiến và vì những mâu thuẫn trong vụ tiền bạc giữa ông ta và
ông Ký, nên vẫn ở lại hợp tác với tân Bộ trưởng, lên án ông Ký quá khích,
tham nhũng, không thức thời.
Vụ “Đại Việt” nói trên và vụ báo Lập Trường ở miền Trung gây
lúng túng cho chính phủ, gây hoang mang cho quần chúng, do đó mà thế lực
sinh viên, quân đội, Phật giáo, Công giáo bắt đầu phát động những áp lực
chính trị cho quyền lợi và chủ trương của mình.
Về phía Phật giáo, những rạn nứt ngấm ngầm giữa Thượng tọa
Tâm Châu với các tăng sĩ miền Trung và miền Nam bắt đầu lộ ra đến nỗi ngày
15-5-1964, hai Thượng tọa Thích Tâm Châu và Trí Quang phải cùng ra thông
bạch: “Không hề có sự rạn nứt giữa các nhà lãnh đạo Phật giáo, nhất là giữa
hai anh em chúng tôi”. Nhưng thông bạch của hai Thượng Tọa đã không trấn an
nổi Phật tử mà còn xác định thêm những mâu thuẫn trong hàng tăng chúng, vì
nguyên nhân chính của sự mâu thuẫn là Thượng tọa Tâm Châu thì ôn hòa, muốn
thỏa hiệp với các chính phủ trong lúc khuynh hướng của Thượng tọa Trí Quang
thì chống lại sự phục hồi của khối Công Giáo Cần Lao.
Về phía Công giáo, tuy đã thỏa mãn với cuộc chỉnh lý nhưng
vẫn căm thù Phật giáo mà họ cho là nguyên nhân của cuộc lật đổ chế độ Diệm.
Đã thế, những vụ án tử hình ông Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông, những bản án
khổ sai dành cho một số cán bộ Cần Lao, cuộc triển lãm tội ác nhà Ngô, những
lời đả kích nặng nề chế độ Diệm đăng đầy trên các báo cũng như những khẩu
hiệu “Bài trừ Cần Lao” của sinh viên cũng làm cho khối Công giáo đang mang
đầy mặc cảm phạm tội trở nên xúc động, căm tức hơn. Một số họ đạo tại Huế đã
có những cuộc biểu tình “đả đảo cách mạng” đến nỗi tòa Tổng giám mục Sài Gòn
đã phải ra thông cáo minh định lập trường chung của Giáo hội Công giáo.
Ngày 23-5-1964, Tòa Tổng giám mục Sài Gòn, qua thái độ ôn hòa
của Giám mục Nguyễn Văn Bình, đã ra thông cáo: “Không ra lệnh tổ chức biểu
tình mà cũng không chấp nhận một cuộc biểu tình nào, giáo dân cần tránh biểu
tình nhân ngày Phật đản”. Nhưng rồi có lẽ vì bị áp lực của khối Công giáo di
cư nên ngày hôm sau, Giám mục Nguyễn Văn Bình lại phải ra thông cáo thứ hai:
“Chỉ khuyên tránh biểu tình trong ngày Phật đản mà thôi, còn thì giáo dân
được tự do phát biểu quan niệm chính trị của mình theo thể thức nào cho là
hợp lý nhất”.
Đối với những phần tử Công giáo quá khích, thông cáo thứ hai
của Tòa Tổng giám mục không những đã được diễn dịch như một sự khuyến khích
mà còn là một hiệu lệnh. Ngày 7 tháng 6 năm 1964, 29 họ đạo Hố Nai và vùng
phụ cận Sài Gòn cùng hàng vạn giáo dân Đô thành đã biểu tình tại công trường
Lam Sơn với các biểu ngữ như “Lột mặt nạ bọn lợi dụng cách mạng để đàn áp
Công giáo”, “Mị dân là phản bội dân chủ”, “Ủng hộ cuộc tranh đấu của Công
giáo miền Trung”. Và ngày 15-6-64, tại Huế, hàng ngàn giáo dân xuống đường
biểu tình với cùng một lập luận như cuộc biểu tình của giáo dân tại Sài Gòn.
Hai cuộc biểu tình đầu tiên do Công giáo tổ chức đó đã tạo tiền lệ cho những
cuộc biểu tình, xuống đường sau này của sinh viên và Phật giáo.
Còn về phía sinh viên thì cho đến giữa năm 1964 chỉ mới có
những đám biểu tình nhỏ, đòi hỏi những quyền lợi liên hệ đến vấn đề giáo dục
hơn là chính trị, và cơ cấu tổ chức của các định chế lãnh đạo của sinh viên
chỉ mới trong giai đoạn phôi thai nên chưa vận động được những cuộc biểu
dương rầm rộ nào cả.
Tuy nhìn thấy những mầm mống nổi loạn đó nhưng tướng Khánh đã
không đánh giá đúng mức tầm quan trọng và viễn tượng công phá của nó sau này
nên vẫn không e ngại tình hình xáo trộn. Ngược lại, Khánh chỉ lo xây dựng vị
thế của mình bằng cách vô hiệu hóa uy tín của các tướng Đôn, Xuân, Kim,
Đính, Vỹ trong một cuộc xét xử tại Đà Lạt, và bằng cách thăng thưởng cho một
số Đại tá và giao cho họ những địa vị nòng cốt trong cả ba ngành Hải, Lục,
Không quân để mua chuộc cảm tình.
Đại tá Trần Thanh Bền, một cộng sự viên thân tín của tướng
Khánh được bổ nhiệm chức Tổng giám đốc Cảnh sát Công an ngay sau khi chỉnh
lý, còn chức Đô trưởng Sài Gòn thì do tướng Dương Ngọc Lắm (em rể của cựu
Dân biểu Đỗ Cao Minh của nhà Ngô), vốn là bạn thân của tướng Khánh và có
công trong cuộc chỉnh lý, nắm giữ. Tướng Khánh giải tán Hội Đồng Nhân Sĩ do
tướng Dương Văn Minh thành lập để triệt hạ tiếng nói chính thức của giới đối
lập hợp pháp. Để nắm báo chí vốn được tự do ngôn luận từ sau Cách mạng 1-11,
ông Khánh cho thành lập Hội Đồng Báo Chí để lập Quy chế Báo chí, mà trong đó
có điều lệ các chủ báo phải tốt nghiệp từ các trường báo chí hoặc đã hành
nghề báo chí từ 7 năm, phải ký quỹ và kê khai số vốn và nguyên lai. Ngày
1-7-64, ông Khánh cho thành lập đoàn Tuyên úy Phật giáo trong quân đội mà
suốt chín năm dưới chế độ Diệm chưa bao giờ tổ chức này được thiết lập dù
Công giáo hay Tin Lành đã có cơ quan Tuyên úy từ lâu.
Ngày 20-7-1964, để đánh dấu 10 năm ngày chia cắt đất nước,
một cuộc biểu tình vĩ đại chưa từng thấy tại thủ đô Sài Gòn đã được tổ chức
trọng thể tại công trường Lam Sơn để lên án thực dân, Cộng Sản và để kỷ niệm
ngày Quốc Hận (sẽ nói rõ ở đoạn sau).
Đêm 20 tháng 7, sinh viên Sài Gòn thắp đuốc diễn hành trên
nhiều đường lớn rồi tổ chức Đêm không ngủ tại trường Đại học Văn Khoa để hội
thảo về tình hình đất nước và để suy ngẫm về ngày đất nước bị chia đôi.
Sáng 21-7, hơn 100 sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp,
đốt xe và đập phá, gây một số thiệt hại khiến chính phủ Pháp gởi kháng thư
và đòi bồi thường.
Những hoạt động biểu dương đó của sinh viên dù một phần nào
đó có do các đảng phái và tôn giáo điều động thì ngược lại, đã làm cho người
Mỹ thỏa mãn. Đại diện cho chính phủ Mỹ tại Sài Gòn là Đại sứ Taylor và Đại
tướng Westmoreland đã tỏ ra phấn khởi thấy tinh thần chống Cộng của quân dân
miền Nam đã được phục hồi sau những hoang mang giao động của biến cố Phật
giáo.
Nắm vững được quân đội, được người Mỹ hết lòng ủng hộ, lại
được cảm tình của Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Khánh âm mưu thực hiện mộng
“mưu bá đồ vương”, tham vọng trở thành một Hồ Quý Ly của thế kỷ 20.
Thật vậy, để chuẩn bị tâm lý quần chúng, ngày 26-7-1964,
Khánh ký sắc lệnh định ngày 4 và 11 tháng 10 năm 1964 sẽ tổ chức cuộc bầu cử
các Hội đồng Nhân dân Địa phương, những hội đồng mà chế độ Diệm đã bãi bỏ từ
năm 1954 làm cho nhân dân rất bất mãn. Còn tại đô thị, nơi có thể có các
cuộc biểu tình chống đối, Khánh lợi dụng việc Việt cộng có thể gia tăng các
hoạt động, ban hành tình trạng khẩn trương tại Sài Gòn-Gia Định.
Ngày 7-8-64, Khánh cho tái lập chế độ kiểm duyệt báo chí.
Ngày 11-8-64, Khánh thăng Khiêm (đang là Bộ trưởng Quốc
phòng) lên cấp Đại tướng, thăng Thiếu tướng cho Cao Văn Viên, Tôn Thất Xứng,
Chung Tấn Cang, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu
Nhân, Cao Hảo Hớn, Ngô Du, và thăng Chuẩn tướng cho các Đại tá Nguyễn Đức
Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Albert Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh
Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm.
Đối với Phật giáo, Khánh hứa sẽ thẳng tay trừng trị những kẻ
còn chủ trương kỳ thị Phật giáo khi phái đoàn Thượng Tọa Thiện Minh đến gặp
Khánh để trình bày hồ sơ về vụ đàn áp Phật giáo ở các địa phương (bắt bớ ở
Đồng Xuyên, đốt nhà ở Tuy Phước, sát hại Phật tử ở An Thạnh...) do nhiều
nhóm Cần Lao miền Trung chủ động và được Chuẩn tướng Ngô Du (một Công giáo
Cần Lao) chỉ huy vùng Nam Ngãi yểm trợ.
Tin vào những yếu tố, những biến cố mà tướng Khánh cho là
thuận lợi đó, ngày 16-8-64, ông triệu tập một buổi họp các tướng lãnh ở Vũng
Tàu để ban hành một hiến chương mới và để bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm
Chủ tịch nước Việt Nam Cộng Hòa. Theo hiến chương này, Chủ tịch còn là Quốc
trưởng và tập trung nhiều quyền hạn đặc biệt; sẽ có một Quốc hội lâm thời
gồm 100 đại biểu dân sự, 50 đại biểu quân nhân, còn Hội Đồng Quân Đội Cách
Mạng (mà Khánh là Chủ tịch) vẫn là cơ quan chỉ đạo tối cao của quốc gia. Sau
đó, nhiều địa phương và đoàn thể gởi điện văn và kiến nghị “nhiệt liệt hoan
nghênh hiến chương ban bố đúng lúc”, “kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời
chúc mừng nồng nhiệt”, “nguyện đồng tâm nhất trí đoàn kết sau lưng Chủ tịch
và Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng”... (báo chí Sài Gòn có đăng tải những kiến
nghị và diễn văn này). Một số Quốc trưởng như Phi Luật Tân, Đại Hàn... gởi
điện văn mừng Chủ tịch Nguyễn Khánh.
Nhưng để tiếp nối truyền thống chống độc tài và trung ương
tập quyền mà thái độ đã từng biểu hiện qua ngày 1-11-63 mới cách đó 9 tháng,
ngày 19 và 20 tháng 8, sinh viên Sài Gòn tập họp đông đảo tại trụ sở đường
Duy Tân để hội thảo về lập trường và thái độ đối với Hiến chương Vũng Tàu.
Ngày 22, sinh viên xuống đường ồ ạt và kéo tới phủ Thủ tướng đưa kiến nghị
phản đối Hiến chương, đòi thành lập chính phủ mới, đòi tướng lãnh trở về
nhiệm vụ quân sự, đòi diệt trừ Cần Lao và Thực Cộng ẩn nấp trong chính
quyền.
Ngày 23, sinh viên học sinh biểu tình qua trường Jean Jacques
Rousseau (sau này được đổi tên là Trung học Lê Quý Đôn) kêu gọi học sinh
trường Pháp này tham dự cuộc tranh đấu, rồi tới Bộ Thông tin chất vấn Tổng
trưởng, đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí và đập phá một số đồ đạc. Cùng
ngày này, chừng vài trăm người (mà người ta nghi là một nhóm giáo dân quá
khích do tướng Dương Ngọc Lắm và Đại tá Trần Thanh Bền tổ chức) đi xe buýt
tới trụ sở sinh viên đường Duy Tân với gậy gộc, dao búa, đập phá đốt cháy
nhiều đồ đạc của trụ sở sinh viên.
Ngày 25-8-64, sinh viên, học sinh và hàng chục ngàn đồng bào
tập họp trước chợ Bến Thành để tưởng niệm nữ sinh Quách Thị Trang, rồi kéo
tới Phủ Chủ tịch ở đường Thống Nhất và đả đảo Hiến chương Vũng Tàu, đả đảo
độc tài. Trước khí thế đó, tướng Khánh đã phải ra gặp mặt đoàn biểu tình và
cũng hô “đả đảo độc tài”, và hứa sẽ xét lại gấp vấn đề. Cùng ngày này và
trước tình hình đó, HĐQĐCM phải họp khẩn cấp tại Bộ Tổng Tham mưu để thảo
luận.
Ngày 26, nhiều tin phá chùa và phá nhà thờ được đồn đãi khắp
Thủ đô, Phật tử đổ xô đến canh gác Viện Hóa Đạo và tượng Quách Thị Trang,
còn các khu Công giáo cũng sôi động chuẩn bị dao, búa, gậy gộc.
Trong lúc đó thì tại Đà Nẵng, một đoàn biểu tình của Phật
giáo khi kéo qua trước một trại quân Mỹ, và khi nghe tiếng súng của lính Mỹ
bắn chỉ thiên, đã hoảng hốt chạy tràn vào xóm Thanh Bồ gần đó, lực lượng tự
vệ Công giáo tưởng bị tấn công nên đối phó lại và sinh ra ẩu đả. Hai bên
chết 11 người và bị thương 42 người.
Cùng ngày, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng họp liên tục từ hôm
qua, ra tuyên cáo “thu hồi Hiến chương Vũng Tàu”, sẽ bầu nguyên thủ quốc gia
để thực hiện các cơ cấu dân chủ. Quân đội sẽ trở về cương vị quân sự và ủy
chính phủ hiện thời tạm điều khiển quốc gia.
Ngày 27-8-64, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng bầu Tam Đầu Chế gồm
ba tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm làm ủy Ban Lãnh
Đạo Quốc Gia, và giao cho chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ với công
tác khẩn cấp triệu tập một Quốc dân Đại Hội trong vòng hai tháng. Trong lúc
những tướng lãnh hội họp thì chừng hai ngàn giáo dân nhiều ngả kéo tới trước
Bộ Tổng Tham mưu với gậy, dao, búa đòi vào gặp Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng.
Họ trưng biểu ngữ “ủng hộ Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, chống Cộng Sản và
chống Trung lập, chống vụ phá hoại đài phát thanh và Bộ Thông tin, chống âm
mưu chia rẽ và chống Dương Văn Minh”. Quân cảnh ngăn cản nhưng đám người cứ
xông lên phá cửa chính nên đơn vị phòng vệ Bộ Tổng Tham mưu bắn chết bốn
người và làm bị thương 11 người, một binh sĩ bị chém và một bị thương. Cho
đến khi tướng Khánh sai tướng Huỳnh Văn Cao (người Công giáo) ra phủ dụ,
đoàn biểu tình mới chịu giải tán.
Vào khoảng hai giờ chiều, một đoàn biểu tình Công giáo khác
kéo tới đài phát thanh đòi truyền đi một bản tuyên ngôn, rồi kéo qua đường
Phan Đình Phùng khiêu khích học sinh trường Trung học Nguyễn Trường Tộ (thân
Phật giáo). Học sinh trường này bèn gọi cầu viện học sinh trường Cao Thắng
(thân Phật giáo) để chống trả lại đám biểu tình. Cuộc ẩu đả gây cho 13 người
bị thương, có hai học sinh bị đâm chết. Linh mục Hồ Văn Vui và Thượng tọa
Thích Tuệ Đăng phải tới hòa giải mãi tới 7 giờ tối mọi người mới chịu giải
tán.
Tối hôm đó, cả Đô thành trở nên căng thẳng. Các khu Công giáo
ở Trương Minh Giảng, Phú Nhuận báo động và được thanh niên Công giáo đứng
gác ở các đầu đường, còn tại Viện Hóa Đạo và chợ Bến Thành cũng nhan nhản
những thanh niên và Phật tử đứng canh.
Tòa Tổng Giám mục và Viện Hóa Đạo bèn ra thông cáo chung
khuyến cáo tín đồ hai bên phải bình tĩnh và tránh mọi xách động. Báo giới
Thủ đô và Tòa Đô chính cũng kêu gọi dân chúng giữ hòa khí và trật tự.
Ngày 28-8-1964, những cuộc xáo trộn rối ren giữa Đô thành vẫn
tiếp tục, ngoài Phật tử và giáo dân xô xát nhau, nhiều nhóm du đãng cũng lợi
dụng sự hỗn loạn để cướp bóc. Đêm 28, các cuộc đụng độ vẫn tiếp diễn đến nỗi
lính Nhảy Dù phải nổ súng làm cho hai người chết và 48 người bị thương.
Cùng ngày 28, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo đả kích các ông
Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký đã âm mưu đảo chánh. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân
Oánh được thừa ủy nhiệm Thủ tướng để điều khiển chính phủ. Tình trạng giới
nghiêm được ban hành.
Ngày 30-8, Bộ Tổng Tư Lệnh ra thông cáo “Quân đội quyết chống
các vụ biểu tình và phá hoại, và sẽ cương quyết nổ súng nếu cần”.
Ngày 1-9, Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Thượng Tọa
Thích Tâm Châu ra thông bạch “những việc xảy ra ngày 28 chứng tỏ Phật giáo
vẫn bị đe dọa, chính quyền phải dứt khoát với nhóm người thuộc chế độ cũ...
Nếu ngày 27 tháng 10 mà nguyện vọng của Phật giáo chưa đạt thì sẽ bãi thị
bãi khóa...”
Ngày 7-9, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch
Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Quốc Gia và Quân Lực.
Ngày 8-9, một Thượng Hội Đồng Quốc Gia được thành lập gồm 16
nhân sĩ tên tuổi là các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền,
Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ,
Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương
Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng.
Ngày 9-9, linh mục Hoàng Quỳnh, Chủ tịch Ủy Ban Tranh Đấu của
khối Công giáo gởi thư ngỏ cho Thủ tướng Nguyễn Khánh trách chính phủ không
quan tâm đến các vụ đàn áp Công giáo trong những ngày qua, và yêu cầu điều
tra vô tư, giải quyết các vụ ở Đà Nẵng, Quy Nhơn, và vãn hồi an ninh, nếu
không Công giáo sẽ tự vệ và không chịu trách nhiệm về các hậu quả có thể xảy
ra.
Cùng ngày này, các ông Bùi Tường Huân, Trần Quang Thuận và
các tướng lãnh trong chính phủ Nguyễn Khánh đưa đơn từ chức. Tướng Dương
Ngọc Lắm (Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn) được ông Trần Văn Hương thay thế, và
Đại tá Nguyễn Quang Sanh thay thế Đại tá Trần Văn Bền (Tổng giám đốc Công
an). Các tướng Xuân, Đôn, Kim, Đính, Vỹ được trả tự do trở về Sài Gòn.
Tình hình tưởng đã ổn định nhờ sự dàn xếp của các cấp lãnh
đạo Phật giáo và Công giáo, nhờ việc tướng lãnh trở về quân đội, nhờ sự hiện
diện của Thượng Hội Đồng Quốc Gia gồm nhiều nhân vật tên tuổi, nhờ sự trở
lại chức vị “lãnh đạo Quốc gia lâm thời” của tướng Dương Văn Minh, không ngờ
ngày 13-9 Trung tướng Dương Văn Đức và Thiếu tướng Lâm Văn Phát (Công giáo)
lại kéo quân về Sài Gòn-Gia Định chiếm đóng một số địa điểm, đả kích tướng
Nguyễn Khánh và nhân danh Hội Đồng Quân Dân Cứu Quốc tuyên bố tái lập trật
tự đã bị phá hoại cùng uy quyền quốc gia đã bị miệt thị. Có tin đồn vụ này
do lực lượng đảng Đại Việt và vài nhóm Công giáo phát động. Tướng Khánh đang
ở Đà Lạt vội lên đài phát thanh lên án hai tướng Đức và Phát, trong lúc
nhiều tướng khác nhóm họp tại Bộ Tư lệnh Không quân tìm phương thức đối phó.
Ngày 14-9-64, các tướng lãnh tiếp tục họp tại Bộ Tư lệnh
Không quân và ra lệnh cho tướng Đức phải rút quân về các vị trí cũ, nếu
không sẽ cho phi cơ đến tấn công. Tướng Đức nhượng bộ rút quân nên đã không
xảy ra vụ xô xát nào cả. Trong lúc đó thì sinh viên lại hội thảo và xuống
đường biểu tình đả đảo dư đảng Cần Lao đã mưu toan đảo chánh.
Ngày 16, Thủ tướng Khánh trở về Sài Gòn ra lệnh điều tra vụ
đảo chánh hụt, một số nhân vật dân sự Công giáo bị bắt. Ngày hôm sau, một số
tướng tá liên quan đến biến cố 13-9 bị cách chức trong đó có Trung tướng
Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, Đại tá
Huỳnh Văn Tồn và Trung tá Dương Hiếu Nghĩa.
Ngày 21, hàng ngàn thanh niên do Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
tại Huế xách động đánh chiếm đài phát thanh và nhiều cơ sở ở Huế và Quy
Nhơn, đồng thời lùng bắt Cần Lao. Ở Phan Thiết cũng hàng ngàn thanh niên
phát động phong trào tranh đấu diệt trừ Cần Lao và nhiều cuộc xô xát đã xảy
ra.
Ngày 27-9-64, ông Phan Khắc Sửu được bầu làm Chủ tịch Thượng
Hội Đồng Quốc Gia.
Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung phần lập “Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” để thanh toán Cần Lao.
Hội Đồng Chỉ đạo Sinh viên Học sinh quyết nghị và thông cáo
“Chống đảng phái chính trị xen lấn vào học đường và chống mọi sự lôi cuốn
sinh viên làm chính trị”.
Ngày 28-9, nhiều cuộc biểu tình bạo động tiếp tục xảy ra ở
Quy Nhơn.
Tổng Hội Sinh Viên nhóm họp phản đối các vụ gây rối của Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Trung phần, yêu cầu các giới đoàn kết, yêu cầu
trừng trị dư đảng Cần Lao.
Ngày 2-10, các Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc vẫn hoạt động quá
khích và định nhóm đại hội ở Huế để ấn định chính sách chung.
Ngày 5-10, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên họp tại rạp Thống Nhất
đả kích và lên án các Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc tại miền Trung.
Ngày 8-10, sáu sinh viên từ Huế vào họp báo tuyên bố ủng hộ
Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc.
Ngày 22-10, Thủ tướng Nguyễn Khánh tuyên bố tại Pleiku “Quân
đội là cha quốc gia”.
Ngày 24-10, Thượng Hội Đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch
Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bầu Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ làm Quyền Chủ
tịch Thượng Hội Đồng. Tướng Trần Thiện Khiêm được cử làm Đại sứ Việt Nam tại
Hoa Kỳ.
Ngày 26-10, Ban Lãnh Đạo Quốc gia Quân Lực (do tướng Dương
Văn Minh làm Chủ tịch) chính thức chuyển giao quyền hành cho tân Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu.
Ngày 30-10, giáo sư Trần Văn Hương được Quốc trưởng Phan Khắc
Sửu bổ nhiệm làm Thủ tướng.
Ngày 4-11, chính phủ Trần Văn Hương ra mắt với một thành phần
nội các hoàn toàn dân sự. Trung tướng Nguyễn Khánh được cử làm Tổng Tư lệnh
Quân đội. Tổng Hội Sinh viên nhóm họp, tỏ ý dè dặt về thành phần nội các
nhưng mong rằng chính phủ có chính sách cách mạng thật sự.
Ngày 5-11, bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch
Thượng Hội Đồng vì không đồng ý về sự thành lập chính phủ Trần Văn Hương.
Ngày 6-11, sinh viên Sài Gòn lại nhóm họp đả kích thành phần
nội các và đòi xét lại toàn diện vấn đề và chỉnh đốn Thượng Hội Đồng vì lý
do có nhiều phần tử gây chia rẽ. (Có ý cho rằng chính phủ của “người Nam
kỳ”).
Ngày 7-11, có nhiều tin đồn sinh viên và Phật tử sẽ xuống
đường phản đối chính phủ, cùng ngày này, Trung tướng Dương Văn Minh được cử
ra nước ngoài làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc.
Ngày 9-11, Bộ Thông tin tuyên bố “Chính phủ không cải tổ,
không từ chức”.
Ngày 11-11, sinh viên Sài Gòn tiếp tục hội thảo sôi nổi,
tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu một chính phủ
“chuyên viên già nua lại bị nhóm Tinh Thần giật dây”.
Ngày 13-11, Thủ tướng Trần Văn Hương trả lời mọi thắc mắc của
Thượng Hội Đồng và tuyên bố “Phải tái lập uy quyền quốc gia, tách rời chính
trị khỏi tôn giáo, đưa tôn giáo ra khỏi chính trị”.
Ngày 16-11, sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu
cầu giải tán chính phủ Trần Văn Hương. Cùng ngày, Thượng Hội Đồng quyết định
lập một Uỷ ban điều tra về thành phần chính phủ.
Ngày 18-11, luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ tịch Thượng
Hội Đồng Quốc gia.
Ngày 20-11, văn phòng Thủ tướng cho biết 148 nhà trí thức, ký
giả ủng hộ chính phủ và Thủ tướng.
Ngày 22-11, biểu tình lớn ở nhiều nơi với nhiều biểu ngữ đả
kích chính phủ Trần Văn Hương.
Ngày 24-11, Thượng Tọa Thích Tâm Châu gởi thư lên Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu và Thượng Hội Đồng yêu cầu có thái độ dứt khoát với cuộc khủng
hoảng hiện tại. Nhiều trường học bãi khóa. Cùng ngày này, hai tướng Dương
Văn Minh và Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng.
Ngày 25-11, học sinh trường Hồng Lạc đường Trần Quốc Toản bãi
khóa phản đối biện pháp bắt bớ những người biểu tình. Cảnh sát tới bị ném
đá. Nhảy Dù phải can thiệp. Buổi chiều, nhiều đám người khác lại gia nhập
lực lượng học sinh ném đá vào cảnh sát, quân đội lại phải can thiệp cho đến
9 giờ đêm mới giải tán: 85 người bị thương, 238 người bị bắt, cùng ngày này,
các trường học lại bị đóng cửa cho đến khi có lệnh mới.
Ngày 27-11, chính phủ ban hành lệnh thiết quân luật tại Sài
Gòn-Gia Định trong một tháng. Viện Hóa Đạo tuyên bố tạm thời đóng cửa ngưng
hoạt động.
Ngày 28-11, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố “không lùi
bước, phải dùng mọi cách tái lập trật tự”. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ họp báo
tuyên bố: “... cùng với nhiều đảng phái để thành lập một Hội Đồng Dân Tộc
Cách Mạng để cứu vãn tình thế”.
Ngày 4-12, các tướng lãnh họp tại Đà Lạt tuyên bố ủng hộ một
chánh phủ dân sự lành mạnh yêu nước không bị một áp lực nào, đồng thời dự bị
thiết lập một Hội Đồng Quân Lực.
Ngày 8-12, Thủ tướng Trần Văn Hương phản đối sự chỉ định một
ủy ban của Thượng Hội Đồng để xét lại thành phần chính phủ.
Ngày 13-12, có tin Đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết, các
Thượng Tọa Trí Quang và Tâm Châu tuyệt thực 24 giờ.
Ngày 17-12, một số tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng và
trình bày về việc cho một số tướng già về hưu.
Ngày 18-12, “Hội Đồng Quân Lực” được thành lập do một huấn
lệnh của Tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh với mục đích “giúp đỡ Tổng Tư lệnh với tư
cách cố vấn và xóa bỏ mọi bất công để thực hiện một chính sách sử dụng nhân
sự công bằng trong quân đội”. (Thành lập Hội Đồng Quân Lực, Khánh âm mưu sử
dụng nó như một cơ quan tối cao đại diện quân đội về mặt chính trị). Cùng
ngày này, Bộ Giáo Dục ra một thông cáo đại ý cảnh cáo trường nào được mở cửa
lại mà vẫn lộn xộn sẽ bị đóng cửa hẳn. Đã có 60 trường nộp đơn xin mở cửa
lại.
Ngày 20-12, Hội Đồng Quân Lực ra thông cáo “không tín nhiệm
Thượng Hội Đồng Quốc Gia vì đã gây chia rẽ, đã mua chuộc một số tướng lãnh,
có óc bè phái”, rồi tuyên bố giải tán Thượng Hội Đồng. Sáu hội viên của
Thượng Hội đồng, tướng Đỗ Mậu và 14 chính khách, giáo sư, sinh viên bị bắt
lên Kontum, Pleiku để quản thúc.
Cùng ngày này, tướng Khánh ra nhật lệnh tuyên bố: “Quân lực
không thực hiện chính sách ngoại bang nào cả. Thà thanh bạch trong độc lập
còn hơn là giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang”. (Lưu ý rằng trong
thời gian này, Hoa Kỳ và đặc biệt Đại sứ Taylor đã tỏ thái độ chống đối việc
tướng Khánh và quân đội xen lấn vào chính trị). Cả hai tòa đại sứ Hoa Kỳ lẫn
Anh Quốc và khối Công giáo tại Việt Nam đều công khai ủng hộ Thủ tướng Trần
Văn Hương.
Ngày 25-12, Đại tướng Khánh tuyên bố với báo New York Herald
Tribune: “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng được, ông
muốn dùng áp lực đối với giới hữu trách Việt Nam. Nếu ông không khéo xử thế
thì Việt Nam sẽ mất. Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ này.
Ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà
dân Việt Nam không muốn”. (Lời tuyên bố của tướng Khánh hàm ý chỉ có Hội
Đồng Quân Lực mới có thực lực, do đó chỉ có ông mới là xứng đáng là người
lãnh đạo quốc gia).
Ngày 18-1-1965, sau nhiều âm mưu hậu trường và nhiều thỏa
hiệp chia ghế, chính phủ Trần Văn Hương tuy chưa bị lật đổ nhưng phải cải tổ
lại với sự tham gia của bốn tướng là Nguyễn Văn Thiệu (Đệ nhị Phó Thủ
tướng), Trần Văn Minh (Minh nhỏ) Tổng trưởng Quân Lực, Linh Quang Viên (Tổng
trưởng Tâm lý chiến), Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên Thể thao). Tuy
nhiên, từ ngày chính phủ Hương cải tổ thì khối Phật giáo lại hoạt động chống
đối mạnh liệt hơn. Ngày 20, các Thượng tọa Trí Quang, Tâm Châu, Pháp Tri,
Thiện Hoa, Hộ Giác bắt đầu tuyệt thực trong lúc Tăng Ni Phật tử tiếp tục
biểu tình. Ngày 22, họ kéo đến trước Tòa Đại sứ Mỹ với biểu ngữ “Hãy để cho
dân tộc Việt Nam tự quyết”.
Ngày 23, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân, kêu
gọi mọi người lãnh trách nhiệm với tình thế, tránh các vụ xách động rồi lên
án “lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục Tăng Ni...” và gọi những hoạt động
đấu tranh của Phật giáo là “những trò khỉ”. Cùng ngày này, có những cuộc tụ
tập trước Viện Hóa Đạo và một giáo sư khi thấy con gái mình trong đám đông
biểu tình đã yêu cầu một Đại tá đánh cho ba roi. Quân đội nhân dịp đó đánh
luôn 69 cô khác, mỗi cô ba roi rồi đuổi về. Đêm 23 tại Huế, một đoàn biểu
tình kéo tới phòng Thông tin Hoa Kỳ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ với 5.000
cuốn sách. Phó lãnh sự Mỹ tới chữa cháy bị ném đá. Sinh viên đại học Huế đặt
chướng ngại vật chận các lối vào lớp học. Tại Nha Trang, 300 Tăng Ni tuyệt
thực. Các cuộc biểu tình xáo trộn do Phật giáo, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
và sinh viên gây ra vẫn tiếp diễn cho đến ngày 27 tháng Giêng năm 1965 mới
tạm thời lắng dịu.
Ngày 27-1, Hội Đồng Quân Lực tuyên cáo “Quân đội đã trả quyền
từ ngày 27 tháng 10 cho phía dân sự nhưng tình thế mỗi ngày mỗi rối ren”.
Sau ba ngày thảo luận, Hội Đồng Quân Lực quyết định ủy nhiệm tướng Nguyễn
Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng, triệu tập ngay một Hội Đồng Quân Dân gồm
20 đại diện các tôn giáo, nhân sĩ và quân lực.
Ngày 28-1, theo quyết định của Hội Đồng Quân Lực, Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu được lưu nhiệm, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm
quyền Thủ tướng. (Hình như Thủ tướng Trần Văn Hương đã bị các tướng lãnh đem
đi cô lập ở Vũng Tàu).
Cùng ngày này, Thượng tọa Trí Quang họp báo cho biết chỉ muốn
đừng dung thứ những phần tử xấu thuộc chế độ cũ và đừng coi Phật giáo là
Cộng Sản. Phật giáo không chống Mỹ nhưng Việt Nam cũng không thể bị hiểu lầm
(là tay sai của Mỹ).
Ngày 11-2-65, Đức Giáo Hoàng Paul VI, vị Giáo Hoàng nổi tiếng
thân Nga Sô và thân Hà Nội
[3] kêu gọi ngưng chiến ở Việt Nam.
Ngày 14 tháng 2, Đại sứ Taylor tuyên bố trong một cuộc phỏng
vấn “Nhân dân Việt Nam đã chán ngán vì bị tấn công mãi mà không được trả
đũa. Không còn có thể coi Bắc Việt là sào huyệt an toàn nữa”. Từ đó Mỹ bắt
đầu ném bom Bắc Việt và soạn sửa đem quân vào miền Nam.
Ngày 16-2-65, thừa ủy nhiệm Hội Đồng Quân Lực, Đại tướng
Nguyễn Khánh Tổng Tư lệnh Quân đội VNCH ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan
Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng thành
lập chính phủ mới. Trong nội các mới này, Công giáo có thêm Trung tướng
Nguyễn Văn Thiệu, Phật giáo có bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên, giáo sư Trần Quang
Thuận và kỹ sư Ngô Trọng Anh.
Ngày 17-2, Hội Đồng Quân Lực ra quyết định thiết lập Hội Đồng
Quốc Gia Lập Pháp gồm 20 đại diện đủ thành phần tôn giáo và sáu tướng tá.
Chủ tịch Hội Đồng là tướng Phạm Xuân Chiểu.
Ngày 19-2-65, Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Công giáo) kéo một lực
lượng Bộ binh và chiến xa về Sài Gòn chiếm đóng trại Lê Văn Duyệt, đài phát
thanh và bến Bạch Đằng.
Theo tin đài phát thanh buổi chiều thì một số đoàn thể thuộc
Lực lượng Bảo vệ Dân tộc (Công giáo) nổi dậy chống tướng Nguyễn Khánh để
thành lập một chính quyền dân sự.
Các tướng lãnh họp ở phi trường Tân Sơn Nhất, tướng Kỳ bay
trên Thủ đô quan sát tình hình và ra lệnh cho quân đội nổi dậy phải rút lui
nếu không sẽ bị ném bom. Trong lúc đó thì đài phát thanh Ba Xuyên truyền
lệnh của Đại tướng Khánh cho các binh sĩ bị lôi cuốn vào cuộc nổi dậy hãy
trở về đơn vị. Tại Huế, Lực lượng sinh viên học sinh lên án Lực lượng Bảo vệ
Dân tộc và những “Phần tử Cần Lao” trong cuộc nổi dậy của Đại tá Phạm Ngọc
Thảo.
Ngày 20, trên đài phát thanh Nha Trang, Thượng tọa Tâm Châu
kêu gọi Phật tử ủng hộ “Hội Đồng Quân Lực”. Tướng Nguyễn Chánh Thi từ Huế
vào Sài Gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Giải phóng Thủ đô, tái chiếm các cơ sở bị
quân của Phạm Ngọc Thảo chiếm hôm qua, ra lệnh cho Đại tá Thảo và 13 sĩ quan
khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những
nhân vật Công giáo đều đã trốn. Cùng ngày này, Hội Đồng Quân Lực nhóm họp và
quyết định thay thế Đại tướng Nguyễn Khánh bằng tướng Trần Văn Minh trong
chức vụ Tổng Tư lệnh Quân đội vì cho rằng tướng Khánh âm mưu xáo trộn để trở
lại nắm chính quyền.
Ngày 21, tướng Nguyễn Chánh Thi ra thông cáo nhấn mạnh đến
ước vọng cách mạng của quân lực VNCH là Dân chủ, Công bằng và Hòa bình. Hai
tướng Kỳ và Thi bắt đầu kết hợp với nhau để chống Khánh.
Ngày 22-2-65, tướng Khánh được bổ nhiệm chức Đại sứ Lưu động
và Trung tá Phạm Văn Liễu (bạn thân của các tướng Thiệu, Thi và Kỳ) được cử
giữ chức Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia.
Ngày 25-2-65, tướng Nguyễn Khánh được tặng Đệ nhất hạng Kim
Khánh rồi mang theo một nắm đất rời khỏi Việt Nam với lời hẹn một ngày nào
đó sẽ trở về lại quê hương. Quân lực Việt Nam cho đến ngày hôm đó có bốn vị
Đại tướng, một ông chết và ba ông ra đi, dù ra đi với chức Đại sứ, mà sự
thật là bị nhóm tướng trẻ đuổi ra khỏi Việt Nam. Việc tướng Khánh ra đi đã
đặt Quân Lực VNCH hoàn toàn nằm trong tay nhóm tướng trẻ Young Turk
sau khi các “tướng già” đã bị hoặc cho về hưu sớm từ ngày 31-12-64, hoặc bị
đuổi ra khỏi Việt Nam. Một số “tướng già” còn lại như Trần Văn Minh, Phạm
Xuân Chiểu, Linh Quang Viên, Phạm Văn Đổng... là chỉ để cho các tướng trẻ
điều động đặt đâu ngồi đó, việc quốc gia đại sự, việc lãnh đạo chiến tranh
từ nay hoàn toàn nằm trong tay các tướng trẻ, đặc biệt là hai tướng Thiệu và
Kỳ.
Ngày 27-2, giữa Thủ đô Sài Gòn, một số người nhân danh “Phong
Trào Bảo Vệ Hòa Bình” (thân Cộng) rải truyền đơn, gởi kiến nghị tuyên truyền
về vấn đề hòa bình tại Việt Nam. (Thượng tọa Thích Quảng Liên có chân trong
Phong trào này).
Ngày 3-3-65, Hội Đồng Quân Lực công bố thành lập Uỷ ban
Thường vụ: Tổng thư ký, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu; Uỷ viên Ngoại giao,
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Uỷ viên Chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên;
Uỷ viên An ninh, Thiếu tướng Phạm Văn Đổng; Phụ tá Tổng thư ký, Thiếu tướng
Huỳnh Văn Cao. Cùng ngày này, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ công bố một bức tâm
thư gởi đồng bào và chiến hữu, phân tách hiện tình đất nước, nhắc lại nỗi
thống khổ và thất vọng của dân tộc suốt thời kỳ Pháp thuộc và suốt chín năm
dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Bức thư cho biết Quân lực sẽ chỉ trương thực hiện
cuộc cách mạng toàn diện trên mọi lãnh vực.
Ngày 8-3-65, 1.500 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên tới Đà
Nẵng. Cũng cần nhắc lại rằng dưới chế độ Diệm, tổng số quân Mỹ tại Việt Nam
là 17.000 người, 14 tháng sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, quân số Mỹ tại miền
Nam là 23.000 người.
Ngày 11-3-65, Viện Hóa Đạo ra thông cáo: “Phong Trào Tranh
Thủ Hòa Bình” của Thượng tọa Quảng Liên không liên quan gì đến Phật giáo
cả... Phong trào do Thượng tọa thành lập với tư cách cá nhân”. Bộ Nội vụ
công bố danh sách 358 người đã ký kiến nghị của “Uỷ Ban Vận Động Hòa Bình”
trong đó có 24 sinh viên, 77 học sinh, 78 lao động, 67 người buôn bán, 22
công chức, 20 giáo viên, 11 ký giả, 5 kỹ sư, 5 bác sĩ, dược sĩ, 3 luật sư.
Cùng ngày này, ông Hà Minh Trí, cán bộ Cao Đài, người ám sát hụt Tổng thống
Ngô Đình Diệm năm 1957 được trả tự do. (Ông Hà Minh Trí bị giam lâu ngày mà
không chịu khai toàn bộ tổ chức ám sát của Cao Đài).
Ngày 17-3-65, Thượng tọa Quảng Liên từ chức Chủ tịch Phong
Trào Bảo Vệ Hòa Bình.
Ngày 21-3-65, Đại đức Thích Nguyên Từ tự thiêu để phản đối
Việt cộng chiếm chùa cùng ruộng chùa và bắt đi 17 Phật tử tại Bình Tuy.
Ngày 23-3-65, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp ra tuyên ngôn tán
thành việc Mỹ gởi Thủy Quân Lục Chiến sang tham chiến tại Việt Nam. Nếu
“dưới chế độ Diệm, khi Tổng thống Kennedy quyết định gởi 12.000 lính Mỹ tới
Nam Việt Nam chắc chắn đã tạo được ảnh hưởng tốt đối với tinh thần người dân
và người lính miền Nam, không phải theo nghĩa hoàn toàn trông mong người Mỹ
đánh giặc hộ, mà là theo nghĩa nhìn thấy dấu vết cụ thể sự quyết tâm của Mỹ
trong lời cam kết giúp Nam Việt Nam”
[4], thì năm 1965, khi Mỹ bắt đầu gởi Thủy Quân Lục
Chiến vào Nam Việt Nam và ném bom Bắc Việt, người quốc gia chống Cộng chẳng
những trông thấy quyết tâm của Mỹ trong việc giúp miền Nam mà còn tin rằng
Bắc Việt sẽ bị sụp đổ để đưa lại chiến thắng cuối cùng cho Việt Nam Cọng
Hòa. Vì thế, cả chính phủ Việt Nam, cả Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, và quân
đội Việt Nam Cọng Hòa đã chào mừng quyết tâm của Tổng thống Jonhson trong
việc leo thang chiến tranh.
Cùng ngày 23, Hội đồng chính phủ quyết định chia 160 triệu
bạc tịch thu của họ Ngô cho đồng bào, học sinh và gia đình binh sĩ nghèo,
ngoài ra còn bán đấu giá các bất động sản và xí nghiệp cùng trái khoán tịch
thu của nhà Ngô.
Ngày 2-4-65, ni cô Thích Huệ Thiện tẩm xăng vào người toan tự
thiêu tại chùa Từ Vân Gia Định vì thấy những đau khổ do chiến tranh gây ra
nhưng các Phật tử đã kịp thời cứu được.
Ngày 8-4, tại Vỏ Xu, Bình Tuy, Việt cộng lại bắt đi Đại Đức
Thích Bảo Huệ và một số Phật tử.
Ngày 12-4, lễ giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức vô cùng trọng
thể tại sân vận động Cộng Hòa, rất đông nhân sĩ, trí thức, đảng phái, sinh
viên tham dự.
Ngày 20-4, Sa di Thích Giác Thanh tự thiêu sau Viện Hóa Đạo
vì thấy cảnh tang tóc và chiến tranh.
Ngày 4-5, Hội đồng Chính phủ Phan Huy Quát quyết định chấm
dứt chương trình phát thanh của phái bộ Văn hóa Pháp tại Việt Nam vì đại
diện Pháp tại SEATO đã có thái độ bất thân thiện với Việt Nam, đồng thời
trục xuất thông tín viên Ageorges của Pháp tấn xã.
Ngày 5-5, Hội Đồng Quân Lực tuyên bố tự giải tán để các tướng
lãnh trở về địa vị quân sự thuần túy.
Ngày 21-5, Phủ Thủ tướng thông cáo rằng cơ quan an ninh đã
bắt được 17 quân nhân và 12 dân sự âm mưu đảo chánh ngày hôm qua. Những quân
nhân trên đây cũng đã từng liên can đến vụ biểu dương lực lượng của ông Phạm
Ngọc Thảo ngày 19-2. Một sĩ quan trong nhóm bị bắn tử thương. (Nhóm này
thuộc ảnh hưởng Công giáo).
Ngày 25-5, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ. Giữa
buổi trình diện, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không thể ký bổ nhiệm
các ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Vinh vì lẽ các ông Nguyễn Hòa Hiệp
và Nguyễn Văn Vinh không từ chức.
Cùng ngày này, Thượng tọa Thích Quảng Liên, nguyên Chủ tịch
Phong Trào Bảo Vệ Hòa Bình, sau cuộc du hành tại Nhật về tới Tân Sơn Nhất
thì được Bộ Nội vụ yêu cầu đừng về nước vì có thể bị lợi dụng, nên ông phải
đáp phi cơ đi thẳng đến Thái Lan và ở luôn tại đó.
Ngày 26-5, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy
Quát bày tỏ những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế Bộ trưởng.
Ngày 27-5, một phái đoàn đại diện Lực Lượng Đoàn Kết Công
Giáo do Linh mục Hoàng Quỳnh hướng dẫn đã yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng
Quốc gia Lập pháp, đưa kiến nghị không tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát và
yêu cầu chỉ định Thủ tướng khác. Lý do viện dẫn: chính phủ Quát gây chia rẽ,
không chống Cộng hữu hiệu và thân Pháp (?).
Ngày 1-6-65, trong lúc cuộc khủng hoảng về việc cải tổ nội
các chưa giải quyết thì Linh mục Hồ Văn Vui hướng dẫn 60 đại diện của Mặt
Trận Công Giáo Việt Nam đến yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia Lập
pháp, đưa kiến nghị tương tự như kiến nghị của Linh mục Hoàng Quỳnh, yêu cầu
giải tán chính phủ Phan Huy Quát.
Từ ngày 2-6-65, một số Linh mục, chính khách thuộc các tôn
giáo và đảng phái gởi kiến nghị lên Quốc trưởng bất tín nhiệm Thủ tướng Phan
Huy Quát.
Ngày 3-6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp cùng một số tướng lãnh
để thảo luận về việc khủng hoảng nội các và sau đó, cùng các tướng lãnh sang
yến kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Trong lúc đó thì một số nhân vật khác
lại nhân danh các đoàn thể (11 đoàn thể) gởi kiến nghị lên Quốc trưởng và
Hội đồng Quốc gia Lập pháp chống chia rẽ và tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy
Quát. Theo tin UPI thì chính phủ Hoa Kỳ vẫn tín nhiệm chính phủ Phan Huy
Quát.
Ngày 4-6, nhiều truyền đơn chống chính phủ Quát được tung ra
trên nhiều ngả đường.
Đêm mồng 5-6, vài trăm người (Công giáo) chống đối chính phủ
Quát tụ họp trên đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Gia Định. Họ đốt
một xe hơi, hành hung 5 và gây thương tích cho hai cảnh sát viên.
Ngày 7-6, 200 cụ già thuộc các đoàn thể Công giáo tới dinh
Gia Long yết kiến Quốc trưởng cùng Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp, yêu
cầu giải quyết gấp cuộc khủng hoảng rồi ngồi lại trong Dinh từ 16 đến 22 giờ
mới chịu ra về.
Ngày 8-6, hơn 100 thanh niên, sinh viên, học sinh thuộc các
đoàn thể Thanh Niên Đại Đoàn Kết và sinh viên học sinh Tự Dân (Công giáo)
tới dinh Gia Long yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng và cũng ở lại đó từ 10
giờ đến 16 giờ mới về. Trong lúc đó, Lực lượng Đại Đoàn Kết (Công giáo) tổ
chức họp báo tại Gia Định, xác nhận lập trường chống đối chính phủ Phan Huy
Quát của khối Công giáo.
Ngày 9-6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích về cuộc
khủng hoảng. Ông thuật lại các nỗ lực hòa giải của ông mà vẫn không thành,
trình bày chi tiết về âm mưu đảo chánh đêm 10-6-65 (của phe Công giáo) và âm
mưu lập chính phủ liên hiệp trung lập của phe “Hòa Bình”, đồng thời ông cũng
trả lời các luận điệu chỉ trích rồi kết luận rằng ông yêu cầu quân đội đứng
ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính
quyền dân cử.
Ngày 10-6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ kêu gọi chiến sĩ Không
quân giữ bình tĩnh sau vụ hiểu lầm ở Tân Mai. (Thanh niên Công giáo đi biểu
tình rồi xô xát với binh sĩ Không quân tại Biên Hòa).
Ngày 11-6, các tướng lãnh nhóm họp tại Sài Gòn để xét thư của
Thủ tướng Quát yêu cầu Quân đội làm trung gian điều giải về vụ khủng hoảng
nội các. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: cuộc khủng hoảng không do
lỗi chính phủ mà do sự thiếu sót của hiến chương ngày 16-8-1965.
Cùng ngày này, Quốc trưởng, Thủ tướng và Hội đồng Quốc gia
Lập pháp đều ra tuyên cáo xác định rằng những cơ cấu và thể chế quốc gia
hiện tại không còn phù hợp với tình thế nữa nên giao trả cho quân đội trách
nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia, và Hội Đồng Quân Lực chấp nhận đơn từ
chức của Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát.
Ngày 14-6-65, Hội Đồng Quân Lực thành lập ủy ban Lãnh Đạo
Quốc Gia do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ tịch (Quốc trưởng),
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ tịch ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ
tướng), và Trung tướng Phạm Xuân Chiểu giữ chức Tổng thư ký.
Cùng ngày này, Ni cô Quảng Liên Diệu Tịnh, 22 tuổi, tự thiêu
để cúng dường Tam bảo tại chùa Linh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 16-6, Tòa án Quân sự Mặt trận tại Nha Trang tuyên phạt
tù từ 2 đến 16 năm khổ sai 18 người đã tham gia Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
miền Trung và liên quan đến các vụ khủng bố, hành hung hồi tháng 9-64 tại
tỉnh Bình Định.
Ngày 19-6, một Ước pháp mới ra đời gồm 7 thiên 25 điều, thiết
lập Đại Hội Đồng Quân Lực VNCH, Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Hội Đồng Kinh Tế
và Xã Hội, Thượng Hội Đồng Thẩm Phán. Các tướng Thiệu, Kỳ, Chiểu được xác
nhận là thành viên của Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, còn Hội Đồng Quốc Gia Lập
Pháp cũ giải tán. Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ ra đời với nhiều nhân vật dân sự
tên tuổi như bác sĩ Trần Văn Đỗ (Tổng ủy viên Ngoại giao), Luật sư Lữ Văn Vi
(Tổng ủy viên Tư pháp), giáo sư Trần Ngọc Ninh (Tổng ủy viên Văn hóa Giáo
dục), thẩm phán Trần Minh Tiết (Bộ trưởng Nội vụ)...
Từ sau khi tướng Nguyễn Khánh và các tướng lãnh đưa ra hiến
chương Vũng Tàu vào tháng 8 năm 1964 tạo nên bao nhiêu xáo trộn, thì ý
nguyện của toàn dân, của các tôn giáo, đảng phái, sinh viên và cả Hoa Kỳ là
muốn miền Nam có một chính phủ dân sự bền vững để quân đội trở về với nhiệm
vụ quốc phòng thuần túy. Tiếc thay, hai chính phủ dân sự Trần Văn Hương và
Phan Huy Quát đã ra đời trong một tình trạng khó khăn với những cuộc xáo
trộn, tranh chấp, biểu tình do quân đội, sinh viên, Phật giáo, Công giáo gây
ra để rồi cuối cùng quân đội trở lại cầm quyền. Sự bất đồng ý kiến giữa Quốc
trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát về việc thay đổi hai vị Bộ
trưởng đã có thể giải quyết dễ dàng nếu khối Công giáo không cố tình trầm
trọng hóa vấn đề, mà mục tiêu thật sự là để lật đổ chính phủ Quát vì họ cho
rằng chính phủ này thân Phật giáo. (Có phải thế không ông Bộ trưởng Phủ Thủ
tướng Bùi Diễm, và ông Chủ tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp Phạm Xuân
Chiểu!?)
Như vậy, từ sau khi chính phủ Quát và Quốc trưởng Phan Khắc
Sửu rút lui, chính quyền miền Nam lại trở về tay các tướng lãnh. Câu tuyên
bố “Quân đội là cha quốc gia” của tướng Nguyễn Khánh tuy trắng trợn nhưng
thật là thấm thía. Tôn giáo, đảng phải, chính khách, trí thức, sinh viên...
cuối cùng chỉ như những hình nộm quay cuồng chung quanh ngọn lửa hồng của
chiếc đèn kéo quân mà thôi.
-o0o-
Những gì tôi vừa trình bày trên đây có thể xem như là giai
đoạn một của ba năm xáo trộn, giai đoạn kể từ khi nhóm tướng Nguyễn Khánh
làm cuộc chỉnh lý (30-1-64) cho đến ngày Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia ra đời
(6-65). Từ Cách mạng 1-11-63 cho đến ngày hai tướng Thiệu-Kỳ lên cầm quyền,
trong khoảng thời gian gần 20 tháng đó, miền Nam Việt Nam đã phải trải qua 6
chính phủ: Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Nguyễn Xuân Oánh
(chính phủ ủy nhiệm 5 ngày), Phan Huy Quát và Nguyễn Cao Kỳ.
Tôi muốn kể chi tiết và những biến động theo thứ tự thời gian
với ước mong những nhà viết sử tương lai nhìn rõ thực trạng đất nước để phân
tách công tội của những thành phần đã tạo nên xáo trộn mà chính yếu trong đó
là: Phật giáo, Công giáo, tướng tá, sinh viên và đảng Đại Việt của các ông
Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký.
Tuy tất cả thành phần trên đây đều gây ra xáo trộn nhưng thật
ra thì sinh viên, quân đội và đảng Đại Việt đều bị chi phối, bị lợi dụng
bởi hai tôn giáo là Công giáo và Phật giáo trong chủ trương tranh chấp
của hai khối này. Sinh viên dựa vào công trạng chống chế độ Diệm năm 1963,
nay gặp phải tình hình hỗn loạn nên muốn chứng tỏ thế hệ trẻ phải được tham
dự vào việc nước. Nhưng chỉ vì là một lực lượng ô hợp nên sinh viên đã trở
thành công cụ cho các tôn giáo và đảng phái lợi dụng mà thôi. Hành động nổi
bật nhất của sinh viên là vụ chống đối Hiến chương Vũng Tàu buộc tướng Khánh
phải từ chức, nhưng sau biến cố đó rồi thì sinh viên cũng không giúp ổn định
được tình hình mà chỉ lên đường xuống đường làm bung xung múa rối, trong lúc
nội bộ lại phân hóa.
Các tướng tá thì bản chất vốn đã võ biền, lại thấy đảo chánh
và chỉnh lý quá dễ dàng vì chỉ dựa vào võ lực, vào tình hình chiến tranh mà
quân đội đang là lực lượng chống Cộng chính yếu, nên đã hành xử một cách hỗn
loạn để nắm quyền hành và giành địa vị. Sự bất lực của các tôn giáo, đảng
phái và thành phần trí thức lại đã gia tăng thêm tham vọng của các tướng tá.
Đảng Đại Việt mang tham vọng nắm chính quyền, đó là điều
chính đáng và cần thiết của mọi đảng chính trị, nhưng thực lực còn quá yếu,
lại còn phân hóa nội bộ cho nên không thể là địch thủ của các tôn giáo và
quân đội trong cuộc tranh chấp quyền lực chính trị, nên cuối cùng đành phải
bị tan biến trong cơn lốc của một chính trường rối rắm hỗn loạn.
Về phần lực lượng Công giáo, với bản chất hiếu động và quá
trình gắn bó với mọi quyền lực, rồi bị mất quyền lợi do cuộc lật đổ chế độ
Diệm gây ra, và lại bị toàn dân lên án là “Cần Lao”, là “tay sai của chế độ
Diệm”, nên căm thù Phật giáo và nhóm tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng cũ, do đó họ cần phải tích cực biểu dương sức mạnh bằng những cuộc
biểu tình quá khích và những cuộc biểu dương lực lượng quân đội của tướng tá
Công giáo để phục hồi danh dự và để trả mối hận thù cho chủ cũ.
Chỉ đáng tiếc và đáng trách cho Phật giáo Việt Nam cũng đã là
nguyên nhân tạo ra tình trạng hỗn loạn mà trước hết tôi muốn nêu lên một vài
bí ẩn trong giai đoạn xáo trộn này.
Bí ẩn thứ nhất là vụ chống đối Thủ tướng Trần Văn Hương vào
tháng 10 năm 1964. Vụ biểu tình chống đối Thủ tướng Trần Văn Hương là hoàn
toàn do Phật tử của Thượng tọa Tâm Châu, mà lúc này tuy Thượng tọa Tâm Châu
và các Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Hoa chưa công khai mâu thuẫn
nhưng đã có những rạn nứt âm thầm trong nội bộ mà Thủ tướng Trần Văn Hương
không biết được.
Nguyên khi thành lập chính phủ, cụ Hương có mời riêng Thượng
tọa Tâm Châu đến họp bàn về thành phần chính phủ tại nhà một thương gia tên
là Nguyễn Hữu ở Gia Định. Hai bên đã bất đồng ý kiến vì Thượng tọa Tâm Châu
cho rằng một số nhân vật được Thủ tướng Hương mời không xứng đáng làm Bộ
trưởng (sau này báo chí có chỉ trích thành phần chính phủ Hương, để trả lời
cụ Hương đã tuyên bố: “Đi chợ, không có tôm tươi cá tươi thì phải mua tôm
ươn cá ươn vậy”), và nghe nói Thượng tọa đòi cho Phật giáo bốn Bộ mà cụ
Hương chỉ bằng lòng dành cho người của Thượng tọa hai Bộ mà thôi.
Nguồn tin này phù hợp với những tin đồn trong giới chính trị
tại Sài Gòn lúc bấy giờ về sự tham chánh cần thiết của khối Phật giáo sau
những năm dài vắng mặt trong các cơ quan quyền lực quốc gia. Cần thiết đem
người vào nội các đến độ chính Thủ tướng Hương cũng đã phải than là “họ
chỉ muốn kiểm soát chính phủ” như báo chí quốc tế đã ghi nhận sau đây:
Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất long trọng tuyên bố trước thế
giới rằng chúng tôi tránh tất cả mọi hoạt động có tính cơ hội chủ nghĩa, gây
chia rẽ và mang tính chính trị.
Gần một tuần trước khi có lời tuyên bố đó, phát ngôn viên
của khối Phật giáo là Thượng Tọa Thích Tâm Châu đã tuyên bố một cách dứt
khoát rằng chính phủ của Thủ tướng Hương phải ra đi (Buddhist spokeman Thích
Tâm Châu had flatly announced the South Vietnamese government of Premier
Trần Văn Hương “will have to go”). Ba ngày sau đó, một thông tư của khối
Phật giáo gọi Thủ tướng Hương là “ngu xuẩn, phản bội, là một người phì nộn,
ngoan cố và chẳng có chính sách gì cả” (stupid, a traitor, a fat, stubborn
man without any policy). Tại Sài Gòn, ông Hương đã trả lời thẳng thừng rằng
“Nếu tình hình quá lộn xộn, chúng tôi lại sẽ phải sử dụng võ lực. Họ chỉ
muốn kiểm soát chính phủ. Việt cộng cũng đang cố gắng lật đổ chính phủ.
Chúng ta không thể để cho các nhà lãnh đạo Phật giáo làm chuyện này hộ cho
Việt cộng” (... They simply want to control the government... We can’t allow
the Buddhist leaders to do this for them). (Tuần san Time, số ra ngày
11 tháng 12 năm 1964).
Thấy Thượng tọa bất mãn, một nhóm Phật tử Bắc di cư cầm đầu
bởi hai chuyên viên xách động tại Sài Gòn là Khang (người Bắc) và Nguyễn Đức
Mão (người Vinh) tổ chức biểu tình để chống Thủ tướng Hương. Cuộc biểu tình
nổ ra dữ dội để chứng tỏ sự bất mãn của cấp lãnh đạo Phật giáo trước thái độ
cứng rắn của Thủ tướng Hương đã giới hạn sự tham dự của nhân sự Phật giáo
vào nội các:
- Ngày 22/11/1964, biểu tình lớn ở nhiều nơi, chợ Bến
Thành, đường Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Sài Gòn có nhiều biểu ngữ đả
kích Thủ tướng Hương (cảnh sát giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Bọn người biểu
tình ném đá lung tung, nhiều người bị thương).
- Ngày 24/11/1964, Thượng tọa Tâm Châu gửi lên Quốc trưởng
Phan Khắc Sửu và Thượng Hội Đồng Quốc Gia yêu cầu có thái độ dứt khoát với
chính phủ, chấm dứt bắt bớ, thả những người bị giam, ra lệnh không được đàn
áp. (“Việc Từng Ngày”, Đoàn Thêm, Sài Gòn, tr.417, 418).
Khanh nguyên là cộng sự viên của ông Hà Đức Minh, Uỷ viên
Trung ương đảng Cần Lao, còn Mão người thấp, mặt đen và rỗ (biệt hiệu Hùm
Xám, thời Nguyễn Văn Thiệu, Mão làm chủ nhiệm nhật báo Tranh Đấu một
thời gian và thường phải trốn tránh vì bị công an lùng bắt vì chống Thiệu).
Cuộc biểu tình chống Thủ tướng Hương xuất phát từ Viện Hóa Đạo ở đường Trần
Quốc Toản, nhưng vì cụ Hương không biết rõ nội tình của Phật giáo, không
biết xuất xứ của các cuộc biểu tình nên Cụ đã có lời tuyên bố khiếm nhã đối
với Phật giáo như: Bọn trọc, làm trò khỉ. Lời tuyên bố “vơ đũa cả nắm” đó đã
làm cho toàn khối Phật giáo bất mãn. Cụ Hương còn tuyên bố thêm: “Tôi không
thể để cho tụi con nít làm loạn. Chính trị và học đường cần phải tách rời,
cũng như chính trị và tôn giáo không thể đi đôi với nhau được. Tôi không thể
để cho những tên học trò ỉa bậy, đái bậy”. Vì lời tuyên bố đó mà Thượng tọa
Thiện Minh (dù đã có những bất đồng ý kiến với Thượng tọa Tâm Châu) đã phải
trả lời: “Nếu Cụ muốn cho các em học sinh không ỉa bậy, đái bậy thì ít nhất
Cụ phải làm cầu tiêu cho chúng trước đã”. Và cũng từ đó, khối Phật tử thuộc
Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh nhập cuộc trong cuộc đấu tranh chung chống
Thủ tướng Trần Văn Hương.
Tôi cần mở một dấu ngoặc ở đây để nói về thái độ mâu thuẫn lạ
lùng của Hòa thượng Tâm Châu đối với lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Phật
giáo nói chung và đối với tôi nói riêng.
Số là sau khi cuốn Hồi ký Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi
nầy ra đời (ấn bản 1986), tôi có gởi tặng Hòa thượng một cuốn vì giữa Hòa
thượng và tôi có nhiều kỷ niệm với nhau, và vì Hòa thượng là một nhân chứng
lịch sử của giai đoạn Phật giáo đấu tranh chống nhà Ngô. Thế rồi hai năm
sau, Hòa thượng viết bài trên báo Văn Nghệ Tiền Phong (số 289 ngày
1-15 tháng 2/1988), tờ báo của nhóm mật vụ cũ của nhà Ngô mà từ ngày ra Hải
ngoại chuyên đánh phá, xuyên tạc, nhục mạ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất, tờ báo đã bảo trợ cho Trần Trung Quân phát hành cuốn “Trong Lòng
Địch” để vu khống, bôi bẩn nhiều vị sư cao cấp và chụp mũ Thượng tọa Trí
Quang là Cộng Sản, mà trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng
tại Houston (số 31 tháng 12/1988)-chính Hòa thượng đã xác quyết Thượng tọa
Trí Quang không phải là Cộng Sản.
Bài báo trên Văn Nghệ Tiền Phong đã chỉ trích tôi viết không
đúng sự thật về Hòa thượng trong việc Hòa thượng đòi Thủ tướng Trần Văn
Hương bốn bộ cho Phật giáo, cũng như phủ nhận cuộc biểu tình do Phật tử
người Bắc tổ chức chống Thủ tướng Hương. Hòa thượng còn nói rằng vì kính
trọng cụ Hương là nhà cách mạng nên Hòa thượng không chống Cụ. Hòa thượng
gán cho tôi, hoặc “bộ Tham mưu” của tôi, đã “lồng sự kiện trên cho cân bằng
sự lỗi lầm trong thời gian ấy của Thượng tọa Trí Quang”.
Ông cựu luật sư Nguyễn Văn Chức, người trí thức Công giáo mà
cuốn “Lột mặt nạ những con thò lò chính trị” của Lê Trọng Văn mô tả
như một thứ Thượng Nghị sĩ huênh hoang có tài “luồng gió bẻ măng”, bèn sử
dụng bài báo của Hòa thượng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong như một tài liệu khả
tín để gán cho tôi là gian trá, và hàm ý cho Thượng tọa Trí Quang là “đại
nghịch tặc, đại vô đạo, đại vô luân mà chỉ bọn Cộng Sản vô thần và tay sai
mới dám làm”.
Thưa Hòa thượng Tâm Châu! Nếu Hòa thượng không đòi bốn bộ,
không chống cụ Hương, không có biểu tình thì tại sao Hòa thượng lại đòi Quốc
Trưởng và Thượng Hội Đồng có “thái độ dứt khoát” với chính phủ Trần Văn
Hương (hàm ý đòi phải giải tán chính phủ), và tại sao lại có cuộc biểu tình
ngày 22 tháng 11 năm 1964 xẩy ra gần Việt Nam Quốc Tự trên các đường phố
đông dân cư người Bắc như “Việc Từng Ngày” của Đoàn Thêm và như bài
tường thuật của tuần báo Time đã mô tả.
Trong giai đoạn này, có hai điểm đáng lưu ý là tuy chính phủ
Trần Văn Hương là một chính phủ dân sự nhưng vai trò và quyền lực của các
tướng lãnh trong chính sách quốc gia vẫn giữ ưu thế. Ngoài ra, những mầm
mống mâu thuẫn về sách lược giữa hai khối Phật giáo (Tâm Châu và Trí Quang)
đã bắt đầu thành hình: khuynh hướng Thượng tọa Tâm Châu nhằm đấu tranh hòa
hoãn trong chiều hướng có thể hợp tác với chính quyền, còn khuynh hướng của
hai Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh thì quyết đấu tranh triệt để để thực
hiện một cuộc cách mạng toàn diện, đặc biệt là phải triệt hạ nhóm Cần Lao.
Khối Công giáo, phần thì tiếc Thủ tướng Hương (người đã nặng
lời đả kích Phật giáo) phải rút lui, phần thì nghi ngờ Thủ tướng Phan Huy
Quát được Phật giáo ủng hộ, đã lợi dụng tình trạng tranh chấp giữa Quốc
trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát để liên tiếp tổ chức nhiều
cuộc biểu tình, bám sát dinh Quốc trưởng và vận động một số chính khách đối
lập Thủ tướng Quát ra tuyên ngôn, kiến nghị quyết lật đổ Thủ tướng Quát cho
được. Cuộc biểu dương lực lượng của Phạm Ngọc Thảo và Lực Lượng Bảo Vệ Dân
Tộc (Công giáo) ngày 19-2-1965 cùng âm mưu đảo chánh đêm 20-5-1965 do Đại tá
Bùi Dinh và một số nhân vật Công giáo cầm đầu, đều có mục đích lật đổ Thủ
tướng Quát để khối Công giáo có thể nắm ưu thế chính trị mà lên cầm quyền.
Nhân vật quan trọng trong âm mưu lật đổ Thủ tướng Quát là
Linh mục Hoàng Quỳnh, vốn là vị chỉ huy đội dân vệ Phát Diệm trước khi đất
nước chia đôi (1954). Vào thời chiến tranh Pháp-Việt, người Công giáo miền
Bắc thường có những áp lực đối với chế độ Bảo Đại để tranh giành quyền lợi
như Jean Lacouture đã mô tả trong “Le Vietnam Entre Deux Paix” mà tôi
đã đề cập đến trong một chương trước đây. Nhưng khi ông Nguyễn Hữu Trí, một
lãnh tụ Đại Việt miền Bắc làm Thủ hiến Bắc Việt, và ông Phan Huy Quát, một
đồng chí của ông Trí làm Bộ trưởng Quốc phòng, thì hai nhân vật này thường
đối phó cứng rắn và không thỏa mãn hết những đòi hỏi của giáo phận Bùi-Chu
Phát-Diệm. Từ những ân oán quá khứ đó, nay lợi dụng cơ hội rối loạn thuận
tiện, Linh mục Hoàng Quỳnh bèn tìm mọi phương cách triệt hạ cho được Thủ
tướng Phan Huy Quát. Giai đoạn này đánh dấu sự trỗi dậy của lực lượng Công
giáo dưới hình thức các cuộc đấu tranh chính trị. Trong quá khứ, những ưu
thế của khối này trên mặt xã hội, kinh tế, tài chánh,... thật ra chỉ là kết
quả tất nhiên của ưu thế chính trị với một gia đình Công giáo toàn quyền
lãnh đạo Quốc gia; cho nên khi trở lại chính trường miền Nam trong một khung
cảnh mới, họ cũng đánh vào mặt trận quan yếu nhất là mặt trận chính trị,
nhất là khi mặt trận đó đã được nhân cách hóa bằng vị Thủ tướng Phan Huy
Quát mà họ cho là có khuynh hướng thân Phật giáo.
Bí ẩn thứ hai là thái độ của Thượng tọa Trí Quang trước cuộc
chỉnh lý của nhóm tướng Nguyễn Khánh.
Sau khi chiến thắng được chế độ Diệm, sinh lực của Phật giáo
chưa được phục hồi cho nên các cấp lãnh đạo chưa có sách lược chính trị nào
ngoài việc lo củng cố nội bộ, lo việc thống nhất Giáo hội, thiết lập các cơ
cấu lãnh đạo như Viện Tăng Thống, Viện Hóa Đạo, và gấp rút nhất là việc xây
dựng Hiến chương, quy chế cho Giáo hội. Vì thế, dù chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ
gồm cả nhân sự cũ của chế độ Diệm, Thượng tọa Trí Quang cũng không có một
chống đối nào. Ông cũng biết rằng trong cuộc thay cũ đổi mới sau một năm
trời đất nước rối ren (1963), tướng Dương Văn Minh và Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng còn gặp rất nhiều khó khăn, nhiều vấn đề cần phải đối phó.
Nhưng sau khi tướng Khánh chỉnh lý, thấy đảng Đại Việt và
người Mỹ âm mưu đưa ông Nguyễn Tôn Hoàn là một nhân vật Công giáo từ Pháp về
nắm chức Thủ tướng, và thấy uy thế Công giáo đang được phục hồi mà thể hiện
trắng trợn đầu tiên là việc giết Thiếu tá Nhung, thì một mặt, Thượng tọa bí
mật yểm trợ cho tướng Khánh giành lấy chức Thủ tướng, một mặt để cho báo Lập
Trường và Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ra đời làm phương tiện đối phó với tình
thế mới. Thật ra thì ông Nguyễn Tôn Hoàn chỉ là lãnh tụ tượng trưng, chính
hai ông Hà Thúc Ký và Nguyễn Ngọc Huy, những Phật tử thuần thành mới là
người lãnh đạo đảng Đại Việt. Đảng Đại Việt lại cũng đã cùng với Phật giáo
chống đối nhà Ngô và đã đóng góp công lao rất lớn cho Phật giáo trong cuộc
đấu tranh chống Diệm năm 1963. Nhưng thái độ quá khích và kỳ thị của Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, cộng thêm lập trường chống ông Nguyễn Tôn Hoàn của
Thượng tọa Trí Quang, đã tạo ra xích mích và đối lập giữa Phật giáo và Đại
Việt. Và cũng vì chống việc trỗi dậy của Cần Lao Công Giáo mà thể hiện là
nhiều tướng lãnh chế độ cũ nắm những địa vị then chốt chung quanh tướng
Khánh, nên Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc và sinh viên Huế mới truất phế Linh
mục Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học dù chỉ trước đó độ một tháng họ đã
đón rước Linh mục trọng thể vì Linh mục đã từng đứng về phe Phật giáo và
sinh viên trong biến cố Phật giáo chống lại hai ông Thục-Diệm.
Có thể nói một cách chắc chắn rằng chủ trương chống đối Công
giáo Cần Lao phục hồi là chủ trương chung của tất cả tôn giáo, đảng phái và
sinh viên, báo chí, chứ không riêng gì của Thượng tọa Trí Quang, của sinh
viên Huế, hay của “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”.
Tiếc thay, những sai lầm lãnh đạo của cấp lãnh đạo Phật giáo
và thái độ quá khích, manh động của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc và sinh viên
Huế đã làm cho Phật giáo thất bại trong giai đoạn xáo trộn thứ nhất, giai
đoạn từ khi Khánh chỉnh lý cho đến khi Thiệu-Kỳ thành lập ủy Ban Lãnh Đạo
Quốc Gia.
Trước hết là vì Thượng tọa Trí Quang không nắm vững việc lãnh
đạo nhóm đấu tranh để cho họ trở thành một lực lượng ô hợp, thiếu lãnh đạo,
nhất là lãnh đạo để đấu tranh cách mạng.
Hai là vì danh từ “Cứu Quốc” làm cho những người quốc
gia liên tưởng đến những đoàn thể “cứu quốc” của Cộng Sản, từ đó người ta
nghi ngờ “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” là khí cụ ngụy trang của Cộng Sản.
Những khẩu hiệu “chống Mỹ” do Hội đồng và tờ Lập Trường nêu
lên lại càng làm cho người quốc gia lo sợ, nhất là trong tình trạng chiến
tranh Quốc-Cộng đang mỗi ngày một gia tăng.
Cuộc xuống đường của khối Phật giáo Tâm Châu tại Sài Gòn
chống lại Thủ tướng Trần Văn Hương, một nhân vật được đa số trí thức, đảng
phái, nhất là người Nam Kỳ coi như là kẻ sĩ tạo thêm nỗi bất mãn cho nhân
dân.
Những rối rắm xáo trộn do Công giáo, Phật giáo, sinh viên gây
ra tại thủ đô cũng như các cuộc đảo chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng
của quân đội làm cho nhân dân vô cùng chán nản, cho nên hành động có tính
cách phá rối của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc tại Huế và miền Trung chỉ làm
nhân dân thêm bất bình chán ghét mà thôi.
Tinh thần “độc tôn cách mạng” của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc
và hành động kỳ thị đối với hai đảng Đại Việt và Việt Quốc ở miền Trung càng
đốt thêm ngọn lửa chia rẽ giữa Phật giáo và các đoàn thể trên, đóng góp thêm
vào sự sứt mẻ uy tín của Phật giáo.
Cũng vì thiếu lãnh đạo, thiếu chính sách, lại hoạt động có
tính cách phá rối cho nên nhiều phần tử của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Quy
Nhơn, Phan Thiết bị chính quyền đưa ra tòa mà lực lượng đấu tranh không giám
can thiệp, phản ứng. Thảm bại hơn nữa là việc ông Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc, bác sĩ Lê Khắc Quyến, bị tướng lãnh bắt lên Pleiku an trí
(20-12-1964) trong ba tháng trời, càng làm mất thể giá của hội đồng do ông
ta lãnh đạo.
Dù sao thì giai đoạn xáo trộn trên đây là điều không tránh
khỏi cho bất kỳ một quốc gia nào sau khi một chế độ độc tài, bằng cách này
hay cách khác, bị chấm dứt. Các chế độ độc tài, một khi không còn nữa là để
lại một khoảng trống chính trị, tạo nên xáo trộn một thời gian cho quốc gia.
Khoảng trống chính trị của miền Nam Việt Nam sau khi chế độ Diệm bị lật đổ
càng tác hại to lớn hơn vì suốt chín năm nhà Ngô cai trị, tất cả tôn giáo,
đảng phái bị tiêu diệt hay bị vô hiệu hóa. Xáo trộn càng trầm trọng hơn khi
nhà Ngô đã tạo ra nền kỳ thị xung đột tôn giáo, gây nên căm thù sâu đậm giữa
Công giáo và Phật giáo. Xáo trộn càng trầm trọng hơn nữa khi nhà Ngô và Công
giáo suốt chín năm trời giành lấy độc quyền chống Cộng mà lại bất lực để cho
Việt cộng nắm lấy ưu thế tại miền Nam.
Đã đành là vậy, nhưng sự thất bại của Thượng tọa Trí Quang và
Phật giáo qua gần hai năm xáo trộn trên đây không phải là điều không đáng
phê phán.
Thượng tọa Trí Quang là một tăng sĩ mà, như một nhân viên Tòa
Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trình bày cho Đại sứ Lodge là một người Việt Nam
trước khi là một nhà sư như các ký giả Mỹ đã biết, là một “lãnh tụ Phật
giáo chống Cộng theo đường hướng của Phật giáo”. Nhưng các lực lượng do ông
điều động-Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc và sinh viên Huế, “những kẻ bụng đầy
chữ nghĩa nhưng lại thiếu ý thức chính trị, chủ quan và vọng động, xuẩn
động”- đã làm cho ông thất bại. Vì vậy, khác với cuộc đấu tranh hào hùng năm
1963, chính nghĩa đấu tranh chống lại sự phục hồi uy thế Công Giáo Cần Lao
của ông trong năm 1964-65 đã bị hiểu lầm, bị xuyên tạc và đưa đến sự thất
bại trong năm 1966 mà tôi sẽ nói đến sau này.
Khi các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn
Viên,... chỉnh lý cuối tháng Giêng năm 1964 thì tôi đang là ủy viên Chính
trị của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũ và đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông
Tin của chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ.
Độ một tuần lễ trước cuộc chỉnh lý, tướng Khánh từ Quân đoàn
II về Sài Gòn ghé lại thăm tôi tại nhà riêng với thái độ rất thân mật, nhưng
tuyệt nhiên không đề cập đến chính trị. Việc ông Khánh đến thăm tôi là một
hành động rất lạ vì trước kia tuy có gặp gỡ, giao thiệp vì công vụ, nhưng
trong suốt thời gian dưới chế độ Diệm, ông Khánh chỉ đến nhà tôi có một lần
nhân bữa tiệc tôi thết đãi một số Bộ trưởng, thân hữu, và ông Chủ tịch Quốc
hội Phạm Văn Nhu vốn là thầy học cũ của tôi và quen thân với nhạc gia tôi
lúc ông làm Huấn Đạo tại Phủ tôi ở. Sau này, khi ông Khánh chỉnh lý tôi mới
hiểu hành động xã giao đó là để lôi kéo, mua chuộc tôi vì ông cho tôi là
người có ý thức chính trị hơn phần đông các tướng lãnh khác, người có uy tín
đã gác tình riêng để tham gia Cách mạng 1-11-1963, và cũng vì ông Khánh
tưởng lầm tôi là một nhân sĩ quan trọng của Phật giáo.
Sau chỉnh lý vài hôm, ông Khánh yêu cầu tôi giữ chức Phó Thủ
tướng đặc trách Văn hóa Xã hội, phối hợp các Bộ Giáo dục, Y tế, Xã hội, và
Lao Động. Tôi thành thật cám ơn ông nhưng nhất định từ chối vì tự nghĩ là
người học hành ít ỏi, lại không có bằng cấp cao trong một xã hội còn nặng
tinh thần khoa bảng. Ông Khánh tha thiết nói: “Anh tưởng tôi không biết
trình độ văn hóa của anh hay sao? Trước khi nói chuyện với anh tôi đã nghĩ
kỹ. Trong giai đoạn khó khăn phức tạp này, phải có một vị tướng lãnh mới có
thể ổn định được kỷ luật học đường. Vì nếu cứ để học sinh sinh viên gây xáo
trộn rối ren, tố cáo các giáo sư, đòi hỏi thay đổi ban giám đốc, thí sinh
quân nhân làm loạn trường thi, đánh đập giám khảo, thì làm sao nền văn hóa
giáo dục nước nhà có thể phát huy tốt đẹp được? Lại nữa, mà đây mới là điều
quan trọng, hơn ai hết anh biết rõ sách lược xâm nhập cán bộ Cộng Sản vào
các cơ quan chính quyền, do đó nhiệm vụ chính yếu của anh là nhiệm vụ hướng
dẫn chính trị, phần chuyên môn thì bộ nào đã có thành phần trí thức và
chuyên viên của bộ đó. Trách nhiệm trước tiên của anh là chận đứng nội tuyến
của Việt cộng, triệt tiêu các phần tử thân Pháp, thân Trung lập, thân Cộng
len lỏi vào các bộ, nhất là hai bộ Giáo Dục và Lao Động, nơi mà Việt Cộng dễ
dàng lũng đoạn hàng ngũ quốc gia, phá hoại đường lối chống Cộng của chúng
ta. Huống chi tri thức miền Nam đa số là “trí thức phòng trà” nặng đầu óc
phe phái, ganh tị lẫn nhau, họ không thể đối phó nổi với tình hình rối rắm.
Lúc này, chúng ta cần một vị tướng cứng rắn hơn là một nhà khoa bảng nhu
nhược. Mong anh nghĩ kỹ”.
Thật là khó xử cho tôi khi phải cầm đầu ngành văn hóa giáo
dục nước nhà, phải điều động các nhà khoa bảng trí thức. Thời Đệ I Cộng Hòa,
tôi đã gặp một lần khó xử khi ông Diệm cử tôi giữ chức Tổng Giám đốc hai
ngành Công Binh Tạo Tác và Công Binh Chiến Đấu hợp nhất, còn vào thời điểm
này, thực trạng xã hội buộc tôi phải suy nghĩ rất nhiều, lời mỉa mai trí
thức miền Nam toàn là trí thức phòng trà của Khánh tuy có cách miệt thị quá
đáng nhưng cũng không xa sự thật bao nhiêu. Một số trí thức tâm huyết hiếm
hoi đã phải chịu thất bại hay đầu hàng tình thế. Còn đa số trí thức thì hay
sợ hãi và chỉ biết tính toán lợi hại, dùng cấp bằng của mình làm giá áo túi
cơm!
Thật vậy, sau khi mất nước sống lưu vong nơi xứ người mà trí
thức quốc gia vẫn còn bị phê phán nặng nề, đủ thấy thái độ nhút nhát của
giới trí thức miền Nam thời chưa mất nước. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã phê
bình:
“Trí thức quốc gia không đủ sức hiểu ý nghĩa của chính trị,
không chịu tìm hiểu thực tế. Họ tự hào với một mớ kiến thức mà không có tư
cách của kẻ sĩ nên luôn luôn đứng ngoài và “đứng trên” các tổ chức chính
trị, và do đó họ không có hậu thuẫn quần chúng. Còn những trí thức chạy theo
đảng Cần Lao thời Đệ I Cộng Hòa hay sau này chạy theo đảng Dân Chủ Đệ II
Cộng Hòa thì chỉ vì quyền lợi trước mắt. Cho đến khi những trí thức bị Cộng
Sản bắt vào trại cải tạo, bị Cộng Sản nêu cái “tội” theo Mỹ-Ngụy, phản “Cách
mạng”, bị Cộng Sản “giáo dục” mới thấy rằng chính trị là cần thiết, dù chỉ
sinh hoạt trong các ngành chuyên môn”
[5].
Ngoài giáo sư Nguyễn Ngọc Huy còn có nhiều người như học giả
Hoàng Văn Chí (trên báo Dân Quyền) hoặc như trí thức Đào Sĩ Phu, lên
án trí thức quốc gia gắt gao hơn:
Trong mọi biến chuyển xã hội, văn
hóa, chính trị, kinh tế, phần trách nhiệm tối hậu vẫn do thành phần trí thức
gánh vác trong mọi dân tộc. Nhưng một số đông trí thức không chịu thi hành
nhiệm vụ cao cả của họ, không chịu lãnh phần trách nhiệm lịch sử của họ,
không chịu nỗ lực làm công việc giáo dân, truyền lại những gì đã được học
hỏi và quan sát. Một số đông trí thức đã im lặng sống qua ngày hay chỉ lo
tìm tư lợi hay theo hùa với giới cầm quyền để chấm mút ít nhiều.
[6]
Nói cho đúng
ra thì sự sa đọa của trí thức quốc gia trước hết là do hậu quả của thực dân
để lại:
Nhìn vào dĩ vãng, nền văn minh của
dân tộc đã sớm thực sự đạt tới cao độ từ thế kỷ 11, tương ứng với thời Trung
cổ Tây phương, thời mà các nước này còn ở trình độ văn hóa thô sơ lắm. Hãy
khơi sâu vào nền văn học thời Lý, tư tưởng đạt đạo của Vạn Hạnh Thiền sư,
của Mãn Giác Thiền sư, có thể làm lệch cán cân của mấy thế kỷ Tây phương gộp
lại... Tôi nói như vật chỉ có ý nhấn mạnh rằng hiện giờ chúng ta vẫn lẩn
quẩn trong ngu đần, vụng dại, là do kết quả của 80 năm nô lệ. Chẳng qua vì
thực dân kềm hãm trí thức nên chúng ta mới lâm vào hoàn cảnh “Hổ phụ sinh
cẩu tử” như ngày nay.
[7]
Hậu quả của
nền văn hóa nô lệ do Thực dân để lại chưa kịp gột rửa thì đến chính sách văn
hóa ngoại lai, văn hóa “làm sáng danh Chúa” do nhà Ngô áp đặt lên đầu dân
tộc. Đó là thứ văn hóa đập phá chùa chiền, đền miếu, thứ văn hóa đúc tượng
mẹ con bà Nhu làm tượng Hai Bà Trưng, thứ văn hóa bỏ rơi Quốc Tổ Hùng Vương,
văn hóa “Pháo Đài Tinh Thần Quốc gia” là nhà thờ Đức Mẹ La-Vang... Với một
nền văn hóa như thế thì những trí thức miền Nam nào cúi đầu thần phục nhà
Ngô trong 9 năm hẳn là sẽ không còn tư cách và ngôn ngữ văn hóa để đối thoại
nữa.
Còn về Giáo dục, nhà Ngô đã tiến hành chính sách triệt hạ nền
giáo dục dân tộc, nhân bản để cũng thay thế bằng nền giáo dục “làm sáng danh
Chúa”. Họ đã thiết lập Trung Tâm Nhân Vị do ông Ngô Đình Thục làm Giám đốc,
do các linh mục làm giảng viên để cải tạo tư tưởng công chức và quân nhân,
họ còn thiết lập Viện Đại Học Đà Lạt cũng do Ngô Đình Thục điều khiển để đào
tạo cán bộ trung cấp hầu ngoan ngoãn thi hành chính sách của chế độ. Thế mà
vẫn chưa vừa lòng, họ còn muốn kiểm soát, chi phối các trường Đại học công
lập, mà bắt đầu là Đại Học Huế. Miền Trung là nơi có đến 90% dân số theo đạo
Phật, đạo Khổng, Huế là thành trì của nền văn hóa dân tộc, thế mà Viện Đại
học của Cố đô lại giao cho một linh mục từng công khai bày tỏ lập trường
phản dân tộc như Cao Văn Luận làm Viện trưởng (sẽ nói rõ hơn về ông linh mục
này ở chương sau).
Đặt một linh mục làm Viện trưởng một trường đại học tại một
địa phương mà đa số dân chúng tôn sùng đạo Phật, nhà Ngô muốn thi hành chính
sách trồng người bằng cách tạo ảnh hưởng Thiên Chúa giáo vào lớp sinh viên
và đào tạo họ thành những cấp chỉ huy trong các ngành sinh hoạt quốc gia sau
này. Ngoài ra họ còn dùng chính sách “thi ân” cho một số sinh viên du học để
khi về nước sẽ chiếm giữ những địa vị quan trọng trong bộ máy chính quyền.
Những sinh viên đã chịu ơn nhà Ngô, vô tình hay cố ý, đều phải thực hành
chính sách Công giáo hóa miền Nam của nhà Ngô như đã nói trong các chương
trước. Ngoài chính sách “tằm ăn dâu” trên đây, họ còn lợi dụng việc chống
Cộng để kiểm soát các trường tư thục Phật giáo (nhưng thực sự là để giới hạn
và kiểm soát việc phổ biến kinh điển Phật giáo) cũng như của các tôn giáo
khác với mục đích phát triển văn hóa, giáo dục Thiên Chúa giáo (thời nhà Ngô
trị vì, tất cả các tôn giáo đều không có trường Đại học, ngoại trừ Công
giáo).
Nói ra một vài đặc điểm của nền văn hóa giáo dục dưới thời
nhà Ngô không phải tôi có ý lên án Thiên Chúa giáo, vì tôn giáo và giáo hội
là hai phạm trù khác nhau (mà đôi khi còn phản nhau).
Thiên Chúa giáo dựa trên niềm tin Chúa là đấng toàn năng,
toàn quyền, toàn thiện và vĩnh cửu. Chúa tạo ra vũ trụ và loài người, Chúa
có quyền thưởng phạt, và đến ngày phán xét cuối cùng, Chúa sẽ quyết định cho
linh hồn của con người mãi mãi lên thiên đường hay mãi mãi xuống địa ngục.
Niềm tin ấy đã chi phối mạnh mẽ hành vi của tín đồ Công giáo trên mọi lãnh
vực. Nhưng niềm tin đó, dù đúng hay sai, khai phóng hay giáo điều... là một
niềm tin có tính cách cá nhân nên không thể đem nó áp đặt cho người khác.
Huống gì niềm tin đó không phù hợp với nền văn hóa hòa đồng, khai phóng và
nhân bản của dân tộc, huống gì những người theo niềm tin đó chỉ là một thiểu
số mười phần trăm trong cộng đồng dân tộc. Cho nên khi áp đặt là sẽ có những
nổi loạn chính trị, xã hội và văn hóa như ta đã thấy dưới chế độ Diệm.
Một cách sơ lược, văn hóa, như giáo sư Nghiêm Toản trong
Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu hay như học giả Đào Duy Anh trong Việt
Nam Văn Hóa Sử Cương đã nói, là sự thể hiện sống động của trình độ sinh
hoạt chung của cả dân tộc hay của loài người về đủ mọi phương diện kinh tế,
chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, sinh trưởng ở một vùng địa lý.
Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh trong “Tương Lai Văn Hóa Việt Nam” chỉ
dùng hình ảnh thằng Cu và con Hĩm mà cũng định nghĩa được rõ ràng bản chất
của văn hóa dân tộc. Sau khi trình bày nội dung của nền văn hóa Việt, ông
kết luận:
Con có là một trang thiếu niên anh tuấn, tài ba lỗi lạc hơn
người thì con vẫn là một thằng Cu xưa kia của ruộng lúa quê nhà. Và con có
là một thiếu nữ nhan sắc mặn mà, đức hạnh và sự nghiệp làm rạng danh cho xứ
sở thì con vẫn là một con Hĩm xưa kia từng vào ra vào nơi cầu ao xóm cũ. Hãy
nhớ tới gốc rễ của con và hãy can trường đi tới. Điều ta muốn dặn hai con,
ta đã gói kỹ trong từng tế bào cơ thể của hai con rồi.
Chất liệu của văn hóa Việt đã phát sinh ngay từ huyền thoại
Tiên Rồng, từ thủa Hùng Vương mở nước, từ tinh thần dân chủ, hòa đồng, vị
tha khi Vua và Tôi đều tự trồng khoai sắn lấy mà ăn, tôn ti trật tự, kỷ
cương triều đình chỉ có trong những khi hành lễ quốc gia mà thôi. Chất liệu
văn hóa Việt đã tiềm tàng trong những câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương, Chử
Đồng Tử, Sơn Tinh Thủy Tinh, câu chuyện Bánh Chưng Bánh Dày, Trầu Cau, Quả
Dưa Đỏ... thủa Tổ tiên dựng nước. Ý nghĩa sống thực của những câu chuyện đó
không nằm chết trên trang sách cổ mà đã được vận dụng sáng tạo qua bao nhiêu
thời đại, để trong mỗi thời đại đều thấm sâu vào nếp suy tư, lối hành xử của
mỗi người dân.
Vì văn hóa là sống, sống tỉnh thức, sống không ngưng nghỉ nên
văn hóa Việt đã là sức mạnh sống động, uyển chuyển nâng dân tộc dậy khi bị
quỵ ngã, đẩy dân tộc đi khi ngập ngừng. Và vì trong văn hóa đã có tính biến
động nên chúng ta không phải chỉ lo khư khư bảo vệ lấy nó mà không biết tiếp
nhận và tinh lọc những nguồn văn hóa cao đẹp khác để bồi đắp thêm phong phú
cho nền văn hóa nước nhà. Nhưng tiếp nhận mà vẫn duy trì cái cốt lõi đặc thù
của chúng ta, không lệch lạc, không biến tính, không mất gốc.
Là một kẻ ít học, không xuất thân từ con đường khoa bảng, mà
lại cầm đầu ngành văn hóa giáo dục, tôi biết sẽ nhận lấy những búa rìu dư
luận đương thời. Nhưng trước cuộc chiến tranh mất còn với một kẻ thù tối
nguy hiểm, trước một cuộc khủng hoảng nhân tâm của quốc gia, trước tình
trạng sinh lực bị hao mòn của dân tộc, đã không có một Nguyễn Trãi dâng Tâm
Công Sách giúp kẻ áo vải đất Lam Sơn đánh đuổi quân xâm lăng, đã không có
một Sơn La Phu Tử giúp nhà vua ít học Quang Trung có một chính sách tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ, thì ít nhất tôi cũng có thể làm võ tướng Hoàng Cái
đời Tam Quốc nhà Hán, dẹp qua một bên bọn hủ nho Giang Đông bụng chứa đầy
chữ nghĩa mà chỉ biết tranh luận suông, bàn xuôi nói ngược, khua môi múa mép
khi đại quân Tào Tháo đang đe dọa bờ cõi.
Sau khi nhận nhiệm vụ điều khiển ngành văn hóa giáo dục, tôi
cần phải kiểm điểm lại gia tài và định giá lại những sinh hoạt văn hóa do
chế độ cũ để lại. Chế độ cũ đã từng có những đại hội văn hóa và giáo dục, có
đại hội văn nghệ chống đối văn nghệ miền Bắc, có hai năm phát giải thưởng
văn chương, có hội Khổng học, có đồ án thiết lập Trung Tâm Văn Hóa trên khu
đất cạnh dinh Gia Long... Về giáo dục, nhờ viện trợ Mỹ, nhất là nhờ thiện
chí của giáo sư Buttinger, chế độ Diệm đã xây cất Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh, Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, Trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh tại
Đà Lạt, và Viện Đại Học Huế,...
Nhìn bề ngoài thì nền văn hóa giáo dục dưới chế độ Diệm cũng
có vẻ “trăm hoa đua nở”, nhưng nó chỉ nở một loại hoa và một loại hương khó
ngửi mà thôi. Một loại hương khó ngửi chẳng hạn như Đại Học Văn Khoa không
được tự do phát triển trong tinh thần đa dạng của nền quốc học, vì Đại Học
còn nhiều phân khoa dùng toàn tiếng Pháp dù cấp trung học đã được Việt hóa.
Việc cho sinh viên du học nước ngoài đầy dẫy những bất công... Đã thế, các
giáo sư lại bị theo dõi, tài liệu giáo khoa lại bị kiểm soát gắt gao. Tư
tưởng đã bị kềm kẹp thì làm sao văn hóa giáo dục có thể phát huy, làm sao ý
thức được khai phóng và kiến thức được phong phú. Nhà văn kiêm sử gia Lê Văn
Siêu đọc thuyết trình trong một buổi họp các nhà văn nghệ tại Trung Tâm Văn
Bút đã lên tiếng than phiền: “Dưới chế độ bảo hộ Pháp mà văn nghệ sĩ còn
được tự do hơn dưới chế độ được gọi là độc lập”. Văn hào Nhất Linh Nguyễn
Tường Tam lên án chính sách văn nghệ của chế độ Diệm là độc tài văn nghệ
cũng như độc tài chính trị đều khả ố như nhau
[8]. Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ dạy ở các trường Jean
Jacques Rousseau và Marie Curie, giảng giải sự thật về cuộc xâm lăng Việt
Nam của Pháp là do các cố đạo Thiên Chúa giáo mở lối đưa đường, liền bị bắt,
bị giam vào khám Chí Hòa; các nhà văn hóa như Hiếu Chân, Mặc Thu, Doãn Quốc
Sỹ, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan... lúc đầu đã cộng tác với chế độ trong
thiện chí muốn xây dựng nền văn hóa tự do, cũng đành phải nửa chừng bỏ cuộc.
Từ khi Cách mạng 1-11-1963 thành công, những người cầm bút
được tự do, phóng khoáng, do đó trong làng văn làng báo mới có những người
lương thiện, chân chính muốn “làm sạch văn chương, văn nghệ”. Một chiến dịch
tố cáo nhau đã xảy ra trong giới cầm bút: Người này là “đĩ văn chương”, là
“côn đồ văn nghệ”, kẻ kia là “văn nô, văn công của chính quyền”, là “chỉ
điểm văn nghệ”, là “đi đêm với chính quyền”,...
[9].
Đặc biệt và đáng chú ý hơn cả là lời Hiệu triệu các nhà văn
các nhà báo do ba nhân vật đàn anh trong văn, báo giới là Hiếu Chân, Chu Tử
và Từ Chung đại diện ký tên, trong đó có đoạn:
“Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho tự do, dân
chủ, giải phóng con người, vậy mà trong thời gian vừa qua, vì cơm áo, khiếp
nhược đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội sự
thật, phản bội dân tộc, đang tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô. Dù chúng ta có
viện bất cứ lẽ gì để bào chữa, chúng ta cũng không thể chối cãi được tội lỗi
của chúng ta đối với đồng bào và lịch sử. Cách mạng 1-11 là cơ hội duy nhất
để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút phi cầm phi thú, cơ hội duy nhất
để chúng ta trở lại làm người đã tới... Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi văn
nghệ sĩ, bằng máu và nước mắt mồ hôi, đem ngòi bút viết lại thiên lịch sử
dân tộc mà trong chín năm qua, bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố.[10]
Một vài nhận định, một vài lời than trách của giới văn nhân
trí thức trên đây đã phản ảnh đầy đủ về nền văn hóa phi nhân bản và phản dân
tộc của chế độ Diệm rồi.
Văn hóa chẳng những là linh hồn của dân tộc mà mặt trận văn
hóa tư tưởng còn là mặt trận đấu tranh lâu dài và phức tạp. Không một nhà
văn hóa nào có thể một mình áp đặt đường lối, chủ trương xây dựng nền văn
hóa giáo dục theo quan điểm riêng của mình được.
Những quan niệm cá nhân chủ quan và thiếu nghiên cứu sâu sắc
chỉ tạo ra xáo trộn trong môi trường văn hóa giáo dục quốc gia (mà tôi còn
nhớ tác phẩm lịch sử Việt Nam Thời Khai Sinh năm 1965 của linh mục
Nguyễn Phương, cho rằng người Việt Nam và người Trung Hoa là đồng chủng, đã
gây ra nhiều thảo luận sôi nổi trong giới sử học. Dưới chế độ Thiệu cũng đã
có những tranh chấp sôi nổi vì mảnh bằng M.A. của Mỹ và mảnh bằng Tiến sĩ Đệ
III cấp của Pháp).
Do đó, sau khi hội ý kỹ càng với các cộng sự viên, tôi chủ
trương phải xây dựng một nền văn hóa giáo dục có nội dung nhân bản và dân
tộc, phải khởi đi từ nền móng của nền văn hóa gốc rễ dân tộc, lấy con người
làm bản vị, để từ đó nghiên cứu nội dung văn hóa hiện đại mà tổng hợp thành
hướng đi cho văn hóa Việt Nam. Muốn như vậy, phải có sự đóng góp trí tuệ của
nhiều nhà văn hóa đủ các bộ môn thân thiết với đời sống tổng thể của cả
nước, để từ đó đặt nền tảng cho nền văn hóa giáo dục Việt Nam, tránh tình
trạng mỗi lần thay đổi chính phủ là mỗi lần thay đổi chính sách văn hóa giáo
dục. Do đó, sau khi nhận chức Phó Thủ tướng Văn hóa, tôi cho mời một số nhà
trí thức có thực tài và đạo đức, âm thầm soạn thảo chương trình vận động cho
một đại hội văn hóa giáo dục mà tôi sẽ triệu tập trong tương lai. Ông Bùi
Tường Huân, Bộ trưởng Giáo dục của chính phủ Khánh, đã hết sức hoan nghênh
quyết định này. Để cho giai đoạn vận động và chuẩn bị phải thật cẩn trọng và
chu đáo, tôi đã đòi hỏi chính phủ yểm trợ một ngân quỹ lớn (36 triệu đồng)
để chi phí cho đại hội này và để cho các nhà văn hóa của tất cả bộ môn có đủ
phương tiện và thì giờ sưu tầm, nghiên cứu thật kỹ lưỡng công cuộc xây dựng
căn bản cho nền văn hóa giáo dục quốc gia. Kế hoạch dài hạn của tôi cụ thể
còn bao gồm việc thành lập Hàn Lâm Viện Quốc Gia, một thư viện lớn tại Thủ
đô, nhiều thư viện nhỏ tại các địa phương, một cuốn Tự điển Bách khoa, và
những công trình nghiên cứu quy mô về lịch sử nước nhà. Tham vọng của tôi là
muốn xây dựng thêm nhiều trường ốc, mua sắm thêm nhiều dụng cụ và tuyển thêm
nhiều giáo chức cho các làng mạc xa xôi để giảm thiểu nạn mù chữ. Muốn thế,
tôi chủ trương phải lấy học phí cấp trung học mà miễn phí cấp tiểu học trong
tinh thần người đi trước kéo tay người đi sau và thành thị yểm trợ nông
thôn, để thành phần trẻ em bị thiệt thòi nhất nhưng lại đông đảo nhất
tại thôn quê được tiếp tục việc học. Chủ trương này lúc bấy giờ có nhiều dư
luận chống đối, nhưng ngày 6-4-1965, chính phủ Phan Huy Quát thiết lập trở
lại dự án này.
Việc cấp tốc thứ hai là phải khơi lại nguồn suối tình tự dân
tộc và ý thức trách nhiệm uống nước nhớ nguồn cho thế hệ trẻ mà chính sách
“làm sáng danh Chúa” của nhà Ngô đã làm cho một phần lớn sinh ra vọng ngoại,
dù sống trên quê hương mình mà suy nghĩ và hành xử như một người ngoại quốc.
Chế độ Diệm đã bỏ rơi việc thờ cúng Quốc Tổ, không có luôn cả ngày nghỉ lễ
Hùng Vương. Tôi bèn phối hợp với Bộ Thông Tin và Báo Chí phát động “Phong
Trào Về Nguồn” mà trước hết là làm sống lại ngày Giỗ Tổ. Nhân ngày giỗ Tổ
năm 1964, tôi đã tổ chức và đến chủ tọa ngày lễ trọng thể này tại Nhà Văn
Hóa (Quốc Hội cũ) với sự tham gia của rất đông trí thức, sinh viên và thanh
niên. Tôi kêu gọi toàn dân hãy phát động phong trào xây đền thờ Tổ tại Sài
Gòn, tại các tỉnh và tại khắp nơi trên miền Nam tự do, để lấy ngày giỗ Tổ
làm ngày hội lớn của quốc gia. (Sau đó, tôi còn nhờ nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã
viết một bài rất sâu sắc đề nghị lấy ngày Giỗ Tổ làm ngày Quốc Khánh). Trong
lúc chính phủ làm ngày lễ Giỗ Tổ tại Nhà Văn Hóa thì sinh viên đại học cũng
làm lễ Giỗ Tổ theo nghi thức cổ truyền tại trường Đại Học Văn Khoa. Đây là
lần đầu tiên sinh viên Việt Nam được làm lễ Giỗ Tổ và buổi lễ đã thu hút
được sự tham dự đông đảo của các bậc lão thành, các nhân sĩ, các nhà trí
thức và giới thanh niên. (Có đúng như vậy không, ông Uỷ viên Thanh Niên
Nguyễn Văn Kiểu và ông Thanh Hùng ?).
Việc giỗ Tổ và xây dựng đền thờ Tổ không phải chỉ nằm trong
mục tiêu “uống nước nhớ nguồn” tìm về dân tộc mà thôi, mà còn để xây dựng
tình đoàn kết, nghĩa đồng bào, nhắc nhở cho người miền Nam, người của xứ
thuộc địa cũ: Họ cũng là con cháu của Hùng Vương, họ cũng là anh em cùng
giống nòi với người miền Bắc, vì chia rẽ là chết, đoàn kết là sống, cái khẩu
hiệu đã được cả nước hô hào mấy chục năm rồi mà chưa bao giờ được thực hiện.
Thật thế, nhà văn Võ Phiến đã viết:
Người dân trong Nam nhớ thương đất Thuận Hóa như chim nhớ
tổ, như nước nhớ nguồn; còn người dân ngoài Bắc thì họ sống tại cội nguồn,
còn mơ tưởng về đâu nữa. Chung quanh họ, nào những đền Hùng, những núi Tản
Viên, làng Phù Đổng... chứng tích buổi hồng hoang sơ khai của dân tộc hãy
còn gần gũi bên mình. Những cái đó người trong Nam đâu có biết.
Thật vậy, trước kia, sau thời Nam-Bắc phân tranh cách biệt,
và trước khi cái học quốc ngữ với những sách giáo khoa của các ông Trần
Trọng Kim, Bùi Kỷ... được phổ biến, có lẽ trong đám bình dân lam lũ thất
học, quanh năm lo xông pha khai phá miền sình lầy Cà Mâu, U-Minh,... trong
đám người ấy ít ai nghe nói đến Hùng Vương, Phù Đổng... Có nghe chăng những
chuyện đó cũng xa xôi, viễn vông, mơ hồ, Hùng Vương dựng nước không rõ ràng
bằng Chúa Nguyễn mở nước...
Đó là chuyện cũ, bây giờ thì khác. Bây giờ không những
chính quyền giỗ Tổ Hùng Vương ở Sài Gòn mà dân chúng ở tận Long Khánh, Tây
Ninh, Phước Tuy... còn có dự án dựng đền Hùng ở núi Chứa Chan, núi Bà Đen, ở
Vũng Tàu...[11]
Từ sau lễ Giỗ
Tổ đầu tiên năm 1964 do tôi chủ xướng, các chính quyền tiếp theo hằng năm cứ
tiếp tục cử hành ngày quốc lễ đó song song với buổi lễ của các nhân sĩ, sinh
viên tại sân Hoa Lư. Trong lúc đó, nhiều hội đoàn văn hóa ở Sài Gòn bắt được
nhịp đập của lòng dân nên xướng xuất việc xây cất đền thờ Tổ; tại nhiều tỉnh
cũng bắt đầu dựng Quốc miếu cho địa phương như ông Võ Phiến đã kể. Tôi tin
rằng những người Việt dân tộc đều đồng ý với tôi về việc làm sống lại ngày
giỗ Tổ và xây dựng đền thờ Quốc Tổ. Tự nó chẳng những là một hành động văn
hóa cần thiết mà, trong giai đoạn đó, còn là một cuộc tấn công chính trị
quan trọng. Nếu không khơi lại tình tự dân tộc để khỏi giao động, nếu không
khơi lại việc “uống nước nhớ nguồn” để tìm lại niềm kiêu hãnh thì quân dân
hy sinh đánh giặc cho ai? cho cái gì? (Xã hội phân hóa, đạo đức sa đọa và
tinh thần chủ bại của dân tộc Hiệp Chủng Hoa Kỳ và các quốc gia văn minh Tây
phương chẳng là một bài học đáng suy gẫm cho chúng ta hay sao? Cộng Sản sau
khi chiếm đoạt miền Nam đã vội vã tái thiết đền Hùng tại Phú Thọ và mở triển
lãm “Hùng Vương” tại Sài Gòn thì tại sao người Việt dân tộc lại bỏ rơi Quốc
Tổ?).
Việc thứ ba là đánh động quyết tâm chống Cộng cho nhân dân,
nung chí diệt thù cứu nước cho giới thanh niên, sinh viên. Như giáo sư
Buttinger đã nói trong Vietnam, A Political History mà tôi đã trích
dẫn lại trong một chương trước:
Bản chất của chế độ Diệm không thể thuyết phục được sự tham
dự của giới trí thức thanh niên, sinh viên và các đảng phái quốc gia vào
công cuộc chống Cộng, đã thế biến cố Phật giáo năm 1963 lại là cơ hội để
sinh viên và thanh niên dồn mọi nỗ lực chống Diệm hơn là chống Cộng, cho nên
việc phục hồi tinh thần chống Cộng cho các giới là một việc cần làm ngay.
Ngày 20-7-1964, tôi đã tổ chức một cuộc biểu tình vĩ đại tại
Công trường Lam Sơn để lên án Cộng Sản và kỷ niệm ngày Quốc Hận hầu nêu lên
lời thề Bắc tiến. Hai mươi năm qua, Sài Gòn đã có những cuộc biểu tình lớn
như thời Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, thời chính phủ Trần Văn Hữu
khi Trò Ơn chết, nhưng chưa có cuộc biểu tình nào vừa to lớn, vừa tập hợp
được tất cả đảng phái, tôn giáo, sinh viên, đồng bào các giới đông đảo như
cuộc mít tinh Quốc Hận 1964. Những khối tín đồ đại diện cho bốn tôn giáo
lớn là Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo và Phật giáo, và các đảng Đại Việt, Việt
Quốc, Dân Xã, Phục Quốc, Duy Dân, Việt Cách, tấp nập kéo về địa điểm hành lễ
với cờ và biểu ngữ của mọi đoàn thể. Điểm đặc biệt là hai mươi năm qua, Phật
giáo chưa bao giờ tham dự một cuộc biểu tình tố Cộng nào của chính quyền mà
năm nay Phật giáo lại góp mặt hùng hậu với các tôn giáo bạn. Đại diện Phật
giáo là Thượng tọa Thiện Minh cũng lên diễn đàn bày tỏ quyết tâm của mình mà
tôi còn nhớ mãi câu nói:
Vũ khí sắc bén nhất để chiến thắng Cộng Sản là lòng dân.
Lòng dân là thành trì bảo vệ mọi chế độ, lòng dân là phên dậu che chở cho
biên giới quốc gia...
Số người tham dự cuộc biểu tình được
ký giả quốc tế ước tính là nửa triệu, còn theo báo chí Việt ngữ là 800.000
người, chiếm trọn công trường Lam Sơn, đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Tự Do và
còn ra đến đường Trần Hưng Đạo và bến Bạch Đằng. Độ 10 giờ sáng, Đại tá
Nguyễn Ngọc Loan có nhiệm vụ bay trực thăng trên bầu trời Sài Gòn để theo
dõi biến chuyển của cuộc mít tinh còn báo cáo cho tôi biết những dòng thác
người vẫn đang từ các cửa ngõ Đô thành tuôn về trung tâm thành phố. Tướng
Lâm Văn Phát, Bộ trưởng Nội vụ, có nhiệm vụ chỉ huy an ninh trật tự, gặp tôi
tỏ mối lo âu trước cuộc tập họp vô cùng đông đảo của sinh viên và dân chúng.
Chuẩn tướng Albert Cao (hiện ở Pháp), Đổng lý Văn phòng Phủ Thủ tướng, được
ông Khánh cho đến trước để dò xét tình hình vì Khánh vốn là người đa nghi, e
ngại cuộc mít tinh Quốc Hận sẽ biến thành cuộc mít tinh đả đảo Khánh. Albert
Cao gặp tôi ngỏ lời khâm phục về cuộc tổ chức và sự tập họp đông đảo của “cả
một rừng người”.
Hai mươi năm qua, Sài Gòn chưa hề có một cuộc mít tinh Tố
Cộng nào có sự hiện diện của những nhân vật lãnh đạo quốc gia, thế mà trong
cuộc mít tinh hôm nay, trên khán đài danh dự có đủ mặt Quốc trưởng, Thủ
tướng và toàn thể nhân viên chính phủ. Đầy đủ Ngoại giao đoàn cũng tham dự
để quan sát và đánh giá tình cảm căm thù Cộng Sản của người Việt sống ở miền
Nam. Đứng trên bục cao, mỗi lần tôi hô “Đả đảo Cộng Sản, Việt Nam độc lập,
tự do muôn năm” là mấy trăm ngàn miệng cùng hô theo, mấy trăm ngàn cánh tay
cùng dơ cao như cùng hòa với tiếng vọng Diên Hồng năm xưa trong quyết tâm
diệt thù cứu nước.
Tối hôm đó, sinh viên Sài Gòn tổ chức “Đêm không ngủ” và diễn
hành trên các đường phố với hằng ngàn bó đuốc thắp sáng thủ đô như tôi đã
nói trên kia.
Thanh niên Việt Nam trải bao thế hệ đã chịu đựng những thăng
trầm đớn đau nhất nhưng cũng hào hùng nhất của vận nước. Thế hệ 1945 là thế
hệ gác bút nghiên đáp lời sông núi sau gần 100 năm dân tộc quê hương đắm
chìm trong tăm tối, tiếc thay họ đã bị lãnh tụ Cộng Sản Hồ Chí Minh lừa dối;
thế hệ 1954 khoán trắng việc quốc gia cho “chí sĩ Ngô Đình Diệm” để rồi bị
tê liệt bởi chính sách tôn giáo trị và gia đình trị của chế độ; thế hệ 1963
lại vùng lên như vũ bão để phá xiềng xích độc tài, bất chấp khủng bố và lao
tù. Nhưng sau ngày cách mạng 1963, như đám người từ trong bóng tối lao đầu
ra ánh sáng, thiếu kỹ thuật đấu tranh, thiếu lý thuyết cách mạng, thanh niên
bị tha hóa vì nhiều thế lực. Do đó, với cuộc biểu tình hôm nay, tôi muốn trả
lại cho thanh niên cái hùng khí để cùng vào đường đấu tranh chung, mà trước
hết là khước từ những mê hoặc của Cộng Sản và khước từ đầu óc phe phái của
phía “quốc gia”, để cùng nhau đoàn kết tạo dựng một chủ lực sắt đá cho quốc
gia trong công cuộc chống Cộng cứu nước và xây dựng lại quê hương.
Việc cấp bách thứ tư là tạo lại thế chủ động cho người Việt
chống Cộng tại hải ngoại mà đặc biệt là tại Pháp. Nước Pháp có thể coi như
là cha đẻ của Hội nghị Genève, của hiệp ước chia đôi đất nước, là ngã tư
chính trị quốc tế do De Gaulle đang cầm quyền, một nhân vật có nhiều uy tín
trong những vận động quốc tế mà lại chủ trương thống nhất hai miền Bắc-Nam
Việt Nam theo những điều khoản của hiệp định Genève, tức là làm lợi cho Cộng
Sản Hà Nội.
Dưới chế độ Diệm, ảnh hưởng của Tòa đại sứ Việt Nam Cọng Hòa
tại Pháp không ra khỏi hai tòa nhà số 45 và 89 trên con đường De Villiers
tại Paris quận 17. Đại sứ Phạm Duy Khiêm, tuy là trưởng một nhiệm sở ngoại
giao Việt Nam nhưng hoàn toàn bị chính quyền Pháp điều động, đến nỗi ngay cả
chuyện nhỏ như phương tiện di chuyển cũng không giám sử dụng một loại xe nào
khác hơn là thứ xe Citroen do Pháp chế tạo. Sau ông Phạm Duy Khiêm lại đến
ông Phạm Khắc Hy, một vị Đại sứ tham nhũng bị Pháp coi thường. Suốt gần 9
năm dưới thời hai ông Đại sứ nói trên, Việt kiều và sinh viên tẩy chay Tòa
đại sứ, người quốc gia không giám nhận mình là người của chế độ miền Nam.
Mỗi lần cần đến Tòa đại sứ vì những vấn đề lãnh sự hay vì chuyển ngân, họ
phải đến âm thầm vì sợ người đồng hương biết được.
Tòa đại sứ có đỡ đầu một Tổng Hội Sinh Viên do anh Tống Song
cầm đầu, nhưng chỉ có một số sinh viên rất nhỏ theo Tổng hội này, còn đa số
sinh viên đều tẩy chay vì họ cho rằng Tống Song là tay sai của Tòa đại sứ,
nghĩa là tay sai của chế độ Diệm. Thái độ bất mãn chế độ Diệm của sinh viên
quốc gia tại Paris bùng nổ dữ dội khi phái đoàn bà Nhu đi giải độc đến Paris
sau vụ tấn công chùa chiền đêm 20-8-63. Dân biểu Hà Như Chi (hiện ở San
Jose) đại diện bà Nhu cùng với đại sứ Phạm Khắc Hy đến Viện Pháp-Việt
(Institut Franco Vietnamien) ở số 269 đường Saint Jacques tại Paris để
thuyết trình. Nhưng ông Hà Như Chi vừa mới lên diễn đàn thì bị cúp điện, cà
chua trứng thối dồn dập ném vào ông ta và Đại sứ Phạm Khắc Hy, khiến hai
nhân vật đại diện cho chế độ Diệm phải tháo lui chạy trốn.
Dưới chế độ Diệm, sinh viên quốc gia tại Pháp chẳng những đã
không gia nhập vào Tổng Hội Sinh Viên do Tòa đại sứ tổ chức mà lại còn chia
ra nhiều nhóm chỉ lo hoạt động thân hữu và văn nghệ mà thôi (Hội Sinh Viên
Tương Thân, Nhóm Bảy Ngành Nghệ Thuật, Hội Sinh Viên Nhà Đông Dương...) Họ
ra đi từ miền Nam tự do và có tinh thần chống Cộng rất cao, nhưng họ không
tổ chức hoặc tham gia vào các sinh hoạt chống Cộng, đã thế một số “con ông
cháu cha” lại gia nhập Hội Liên Hiệp Việt Kiều của Cộng Sản tại Pháp. Hội
này được tổ chức Công giáo thân Cộng của linh mục Nguyễn Đình Thi yểm trợ
nên Cộng Sản Việt Nam hoạt động tại Pháp rất mạnh, mặc dù họ không có Tòa
đại sứ như VNCH.
Trước tình trạng tê liệt và nhục nhã của người quốc gia tại
Pháp, một xứ mà nền ngoại giao khôn khéo của họ vẫn ảnh hưởng nặng nề đến
tương lai số phận Việt Nam Cọng Hòa, tôi chủ trương phải tạo lại thế chủ
động cho kiều bào và sinh viên quốc gia hầu đánh tan uy thế của Hà Nội trên
đất Pháp. Năm 1964, tôi đề nghị với chính phủ Nguyễn Khánh gia tăng số sinh
viên du học tại Pháp mà giảm bớt số sinh viên du học tại Hoa Kỳ, Úc Đại
Lợi... Đề nghị của tôi lúc đầu bị một số Bộ trưởng phản đối vì sợ quốc gia
sẽ mất đi một số ngoại tệ lớn. Các vị Bộ trưởng đó không nghĩ đến những lợi
điểm chính trị tuy họ có biết vụ hai ông Ngô Đình Nhu và Ngô Trọng Hiếu đã
tốn khá nhiều tiền bạc và hàng trăm ký vàng cho Sơn Ngọc Thành, Sam Sary,
Đáp Chuồn mà chỉ mua lấy sự thất bại chính trị và quân sự cho quốc gia.
Nhưng rồi cuối cùng, tướng Khánh và một số nhân viên chính phủ thấy vấn đề
chống Cộng của Việt kiều trên đất Pháp là cấp thiết nên đã chấp thuận cho
trên 800 sinh viên ra đi, mà lần này đa số là các sinh viên đã từng theo học
chương trình Việt ở bực Trung học chứ không phải hoàn toàn từ các trường Tây
như trước.
Trước khi các sinh viên này lên đường, tôi đặc biệt mời một
số mà tôi tin là họ có thể trở thành cán bộ đấu tranh nồng cốt đến văn phòng
hay nhà riêng của tôi để vừa khuyến khích họ chăm lo học hành vừa động viên
tinh thần đấu tranh chống Cộng của họ. Tôi thiết tha nói với họ rằng nếu
chẳng may đất nước rơi vào tay Cộng Sản thì dù họ có trở thành nhà khoa
bảng, mảnh bằng cấp của họ cũng chỉ sẽ có giá trị của một chứng minh thư
hành nghề của kẻ đi làm thuê, đi làm công... cho thiên hạ mà thôi.
Quả thực họ đã không phụ công tôi đã đấu tranh với chính phủ
Khánh để họ được ra đi, nhất là họ cũng đã không phụ lòng kỳ vọng âm thầm
của riêng tôi. Họ ra đi với mớ tuổi còn non trẻ chưa đến 20, họ ra đi với mớ
tiếng Pháp còn bập bẹ, họ đến một môi trường xa lạ, bỡ ngỡ nhưng nhờ một số
lớn được trang bị bằng hương khói của những buổi lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và
bằng không khí của cuộc biểu tình ngày Quốc Hận, cho nên dù họ mới ra đi vào
tháng 8, tháng 9 năm 1964 mà đầu năm 1965 họ đã đem lại luồng gió mới cho
khối người Việt quốc gia đang trú ngụ nơi quê hương ông De Gaulle.
Hai mươi năm qua tại Pháp và đặc biệt tại Paris, Cộng Sản
Việt Nam chiếm độc quyền chính trị và độc chiếm rạp Maubert Mutualité (Quận
5) làm diễn đàn công kích người quốc gia, trong lúc người Việt quốc gia, kể
cả những thành phần đối lập với cả hai chính quyền Bắc-Nam, vẫn như những kẻ
mang mặc cảm tội lỗi, chỉ hoạt động âm thầm, lẻ tẻ, đơn độc để mặc cho Cộng
Sản thao túng hoành hành. Lá cờ vàng ba sọc chỉ được phất phới nơi trụ sở
của Tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi.
Nhưng đến đầu năm 1965, với sự cộng tác của một số ít sinh
viên đi trước, với sự dìu dắt của các bậc đàn anh như bác sĩ Nguyễn Ngọc Quỳ
(hiện ở Pháp) như giáo sư Lê Văn Hùng (hiện ở Mỹ) và với quyết tâm đem
chuông đi đánh xứ người, nhóm sinh viên trẻ tuổi 1964 đã lật ngược được thế
cờ, san bằng được cái ưu thế độc quyền chính trị của Việt Cộng. Họ đã tổ
chức được buổi văn nghệ tưng bừng rộn rã lần đầu tiên tại rạp Maubert với sự
tham gia đông đảo của kiều bào chiếm trọn 2.000 chiếc ghế mà còn tràn ra các
ngõ đường lân cận.
Với thành công đầu tiên làm phấn khởi kiều bào, làm ngạc
nhiên người Pháp, nhóm sinh viên trẻ tuổi kia như cánh buồm được gió, thừa
thắng xông lên, họ tổ chức Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Paris và bắt đầu mở
những đại hội thể thao, đại hội văn nghệ và các cuộc họp chính trị lôi kéo
được sự tham dự của rất đông kiều bào và sinh viên Việt Nam có mặt trên toàn
Âu Châu. Nhờ số sinh viên 1964, Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Paris tập họp
được một lực lượng chống Cộng mạnh mẽ, từ đó sinh hoạt chính trị trở thành
sôi nổi mà nhiều phen, những cuộc thư hùng, đụng độ đẫm máu đã xảy ra giữa
hai phe sinh viên Quốc-Cộng.
Tôi có thể nói mà không sợ cải chính rằng từ khi có số sinh
viên 1964 đến Pháp, tiếng nói và sự hiện diện của người quốc gia Việt Nam
mới có nơi xứ Âu Châu này.
Viết lại đoạn hồi ký này, lòng tôi rộn lên niềm thống khoái,
tự cho trong cuộc đời 30 năm hoạt động của mình đã có nhiều sáng kiến chính
trị độc đáo đóng góp phần công lao khiêm tốn với các chiến sĩ quốc gia trong
cuộc đấu tranh cứu nước. Tuy nhiên, niềm thống khoái chỉ đến như một làn gió
nhẹ thoáng qua vì sự căm giận lại trở về đập mạnh vào tâm trí khi nhớ đến
những kẻ lãnh đạo quốc gia thiếu đức, vô tài.
Chế độ Ngô Đình Diệm với gần 9 năm cai trị, có Tòa đại sứ, có
Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia Hải Ngoại, có tổ chức bí mật của bác sĩ Tuyến
tại Âu Châu, có những hoạt động của Cha Thuận, cha Giảng và bà Susanne
Labin, có sự yểm trợ của những nhân vật Pháp trong Phong Trào Cộng Hòa Bình
Dân và những tu sĩ người Pháp trong Hội Truyền Giáo Hải Ngoại, và với vô số
tiền bạc, phương tiện mà đành chịu khuất phục trước tổ chức Cộng Sản tại
Pháp vốn không có Tòa đại sứ làm nơi nương tựa. Tôi muốn hỏi quý Cụ Trần
Thanh Quan, Hứa Văn Ngọ và nhiều chức quyền của Tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa
tại Pháp lúc bấy giờ (hiện ở hải ngoại) xem những lời trình bày của tôi trên
đây có đúng hay không?
Sau chế độ Diệm lại đến chế độ quân phiệt, tham nhũng của
Thiệu-Kỳ mà riêng cung cách xử sự của ông Nguyễn Cao Kỳ tại Pháp cũng đã đủ
làm mất quốc thể và mất niềm tin của đồng bào rồi. Năm 1968, Phó Tổng thống
Nguyễn Cao Kỳ đến Paris với nhiệm vụ điều khiển, theo dõi những hoạt động
của phái đoàn Việt Nam tại Hòa Hội Paris. Được dịp sống nơi kinh đô hoa lệ,
đầu óc tếu và máu cao bồi của ông Kỳ lại nổi lên làm cho ông quên mình là
“phương diện quốc gia”. Ông Kỳ không nghĩ đến nỗi thống khổ của đồng bào nơi
quê nhà mà cũng không để ý đến những hy sinh của anh em sinh viên tại Âu
Châu vừa đi học vừa phải đi làm để sinh sống, vừa dấn thân đấu tranh cho đại
cuộc. Ông Kỳ lại đem vợ đi sắm sửa chưng diện nơi tiệm may Dior, tiệm may
sang nhất và đắt nhất của kinh đô ánh sáng; đưa vợ đi trượt tuyết nơi vùng
núi xa xôi và du hí tiêu xài vung vãi. Ông không nghĩ đến bổn phận của mình,
không giữ tác phong của nhà lãnh đạo làm cho quốc tế chê cười và đối phương
có thêm cơ hội tuyên truyền tạo chánh nghĩa cho Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam.
Cũng vì cấp lãnh đạo quốc gia như thế cho nên vào khoảng năm
1973, khi bác sĩ Nguyễn Ngọc Quỳ và giáo sư Lê Văn Hùng gặp tôi tại Sài Gòn,
tôi đã trình bày cho họ biết bệnh tình miền Nam đã hết thuốc chữa. Bác sĩ
Quỳ và giáo sư Hùng vốn chưa bao giờ quen biết tôi nhưng khi về nước tham
quan họ ghé đến thăm tôi. Tôi còn nhớ hình ảnh bình dị và những lý luận
chính trị sắc bén của bác sĩ Quỳ khi ông ngồi đàm đạo với tôi suốt ba bốn
tiếng đồng hồ tại góc sân nhà tôi nơi đường Gia Long trong đêm tối. Tôi còn
nhớ nhà khoa học danh tiếng Lê Văn Hùng đã làm cho tôi hết sức ngạc nhiên
khi ông đến thăm tôi vào một trưa hè nắng chói bằng chiếc xe đạp cọc cạch và
bộ áo Kaki bạc màu. Tôi khen thầm hai ông xứng đáng là những chiến sĩ gương
mẫu, nhưng vì vận nước đảo điên, sau này hai ông đều trở thành những người
thất chí tự chấm dứt mọi hoạt động chính trị.
Còn đối với các sinh viên trẻ, họ đau đớn chấp nhận cái bất
hạnh của quốc gia do những kẻ tự xưng là nhà lãnh đạo gây ra, họ vẫn kiên
cường với lý tưởng đấu tranh chống Cộng. Họ vẫn giữ được truyền thống kẻ sĩ
của dân tộc, vừa học tập vừa phục vụ đất nước, nhờ vậy mà họ vẫn bảo tồn
được ý chí đưa hoạt động của Tổng Hội Sinh Viên Paris lên đến cao điểm vào
năm 1975 khi họ kiên trì tiếp nối và đẩy mạnh mặt trận đấu tranh với bạo
quyền Hà Nội. Tập san “Nhân Bản”, ban Văn Nghệ Tổng Hội, những cuộc
biểu tình rầm rộ, và vào năm 1985, cựu Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Trần Văn
Bá hy sinh đền nợ nước... đã là những đóa hoa sáng chói mà hạt nhân vốn nẩy
mầm từ những khai vở của nhóm sinh viên ra đi vào năm 1964.
Đành rằng văn hóa thì muôn hồng nghìn tía phô tỏa khắp tứ
thời, nhưng trong sinh hoạt quốc gia và đặc biệt về mặt điều hành bộ máy
chính quyền thì chính trị và văn hóa phải đi song hành. Huống chi trong bối
cảnh đất nước lúc bấy giờ thì chính trị có “an cư”, văn hóa mới “lạc
nghiệp”; còn nếu chính trị cứ ở trong tình thế loạn ly, nhân dân thiếu định
hướng thì chắc chắn nỗ lực xây dựng văn hóa sẽ phải chịu thảm cảnh “dã tràng
xe cát”, cho nên tôi phải cấp tốc đưa ra những thực hiện trên để có thể đặt
nền móng cho một nền văn hóa nhân bản, dân tộc lâu dài.
Tuy nhiên, mới đảm nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng Văn hóa Xã hội
trong khoảng thời gian quá ngắn ngủi, từ đầu tháng Hai đến cuối tháng Bảy
năm 1964, và chưa thực hiện được gì cho đại cuộc thì đầu tháng Tám, tướng
Khánh, tướng Khiêm cử tôi đi Đại Hàn tham dự lễ Độc Lập của nước bạn và để
cảm ơn đã giúp đỡ Quân đội Việt Nam Cọng Hòa một số dụng cụ thuốc men. Trong
chuyến công du này, ông Nguyễn Thái, nguyên Tổng Giám đốc Việt Tấn xã thời
Diệm, và Đại tá Vũ Đức Nhuận tháp tùng trong phái đoàn của tôi. Ông Nguyễn
Thái còn là thông dịch viên cho tôi trong các cuộc đàm thoại với các nhà
lãnh đạo nước bạn.
Đến Đại Hàn, tôi hội đàm với Tổng thống Park Chung Hee, Thủ
tướng Chính phủ, và Chủ tịch Quốc hội. Đã nghiên cứu về thân thế và sự
nghiệp của Tổng thống Park Chung Hee nên tôi thành thật bày tỏ lòng kính mến
ông. Tổng thống Park là một nhà độc tài, nhưng lại độc tài cho dân cho nước,
và riêng cá nhân ông lại là một nhà lãnh đạo liêm chính và sáng suốt. Phu
nhân là một người đàn bà gương mẫu và khiêm tốn, bà không tham dự vào việc
chính trị của chồng mà chỉ xuất hiện khi phải tiếp tân, hoặc khi nghi thức
bắt buộc phải có sự hiện diện của vị Đệ nhất Phu nhân. Tôi đã nhân dịp này
gắn Đệ Nhất Bảo Quốc Huân Chương cho vị Tổng thống nước bạn, một số Kim
Khánh cho Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ
trưởng Quốc phòng. Tổng thống Park cũng trao tặng cho tôi tấm Huân Chương
cao quý nhất của quốc gia Đại Hàn và mời đi thị sát vĩ tuyến 38 chia đôi
Nam-Bắc, thăm Bàn Môn Điếm, và được vị tướng bốn sao Tư lệnh Quân đội Đồng
minh tại Đại Hàn thuyết trình về khả năng phòng thủ giới tuyến. Nhờ đó, tôi
rút tỉa thêm một số kinh nghiệm về tình thế của những quốc gia bị phân tranh
Quốc-Cộng, bị chia đôi lãnh thổ.
Nhớ lại thời Tổng thống Lý Thừa Vãn qua thăm Việt Nam, ông
Diệm cho tôi biết Tổng thống họ Lý có hứa sẽ gửi quân qua giúp Việt Nam Cọng
Hòa khi cần đến, nên trong cuộc hội đàm mật cuối cùng với Tổng thống Park,
với Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng, để chuẩn bị cho tình trạng chiến
tranh đang trên đà mở rộng, tôi đã đặt vấn đề tham chiến của quân đội Đại
Hàn tại miền Nam Việt Nam. Tổng thống Park và chính phủ của ông rất hoan
nghênh và hứa với tôi sẽ gửi ngay một Sư đoàn đầu tiên khi miền Nam Việt Nam
cần đến, vì Nam Hàn và Nam Việt Nam đều cùng cảnh ngộ nên dễ dàng cảm thông
trong việc cứu giúp lẫn nhau. Tuy nhiên Nam Hàn may mắn hơn Nam Việt Nam là
nhờ sau khi giành lại Độc lập đã được lãnh đạo ngay bởi một nhà chính trị
yêu nước yêu dân như Tổng thống Lý Thừa Văn; còn Nam Việt Nam thì lại bị cai
trị bởi một vị quan lại phong kiến và độc tài như ông Ngô Đình Diệm. Đã vậy
Nam Hàn lại được bao bọc ba bề bởi đại dương nên dễ dàng kiểm soát vĩ tuyến
38, trong lúc miền Nam Việt Nam bị liên sơn liên ranh với các nước Lào và
Cao Miên nên quân Bắc Việt xâm nhập dễ dàng. Các chính phủ nối tiếp sau Lý
Thừa Văn lại không chủ trương kỳ thị tôn giáo, không tham nhũng thối nát như
Việt Nam Cọng Hòa nên được đại đa số nhân dân ủng hộ.
Ngày từ giã Đại Hàn, tôi được chính phủ nước bạn tặng một bộ
ghế trường kỳ cẩn xà cừ rất đẹp rất quý, tương tự như đồ cổ Hà Nội hoặc Huế
thời xưa, nhưng tôi đã từ chối. Nam Hàn mỗi ngày một hùng cường và có lẽ
không đợi đến khi thế kỷ 20 chấm dứt, quốc gia này sẽ không thua Pháp, Anh
hoặc các nước kỹ nghệ Tây phương tiền tiến.
Rời Đại Hàn, tôi về Nhật Bản ghé thăm vị Ngoại trưởng Nhật dù
chương trình công du của tôi không trù liệu cuộc viếng thăm này. Sau khi
trình bày những khó khăn về kinh tế và xã hội của Việt Nam Cộng Hòa cho vị
Ngoại trưởng nước bạn, tôi yêu cầu ông tìm cách viện trợ thêm cho miền Nam.
Ông hứa với tôi là trong khi chờ đợi một kế hoạch viện trợ lâu dài, chính
phủ Nhật Bản sẽ cứu xét và có thể giúp cho Việt Nam Cọng Hòa 20 triệu đô la
(số tiền này đến thời chính phủ Phan Huy Quát mới nhận được). Ngoại trưởng
Nhật lại có nhã ý mời tôi thăm viếng một số cơ sở kỹ nghệ. Nhân thăm hãng xe
Honda, biết được cuộc đời của vị chủ nhân Giám đốc, tôi lại càng cảm phục
tinh thần cầu tiến và nhẫn nại của dân tộc Phù Tang. Ông Honda nguyên là một
trung sĩ Không quân thời Đệ nhị Thế chiến, sau khi Nhật chiến bại ông được
giải ngũ về nhà làm nghề sửa xe gắn máy. Với một số bù-loong cũ, vài chiếc
kềm, ông bắt đầu sự nghiệp dưới một tấm tôn đặt tại một góc đường. Nhờ kiên
nhẫn, kỹ lưỡng, siêng năng và khiêm tốn, biết chìu khách hàng, “tiệm sửa xe”
của ông mỗi ngày một phát đạt. Mấy năm sau, khi kiếm được số vốn 280 đô la,
ông kêu gọi bạn hữu chung cổ phần để xây dựng cơ sở kỹ nghệ xe hơi Honda.
Sau không đầy 20 năm, hãng Honda đã có chi nhánh nhiều nơi và có thị trường
khắp thế giới. Điều làm cho tôi cảm phục là tinh thần xã hội của các nhà tư
bản Nhật: chủ và thợ coi nhau như anh em, tiền thưởng, tiền trợ cấp xã hội
dành cho thợ khá cao. Tôi tự hỏi biết bao giờ người Việt Nam mới thể hiện ra
thành thực tế cái tinh thần “Bầu ơi thương lấy bí cùng” như con cháu Thái
Dương Thần Nữ.
Tôi đang dự định đi thăm Hoàng Thành của vua Hiro Hito và Cố
đô Kyoto thì bỗng nhận được công điện của tướng Khánh gọi về ngay. Về đến
Sài Gòn, nhìn quang cảnh Thủ đô xáo trộn do Hiến chương Vũng Tàu gây ra, tôi
chua xót nhìn quê hương đắm chìm trong gió bụi hận thù và phân hóa. Bây giờ
thì tôi hiểu vì sao Khánh và Khiêm không cử ông Đệ Nhất, Đệ Nhị Phó Thủ
tướng đi Đại Hàn mà lại cử tôi vốn chỉ là Đệ Tam Phó Thủ tướng. Thì ra họ
nghi ngờ tôi có thể dựa vào lực lượng sinh viên và Phật tử để chống đối lại
Hiến chương Vũng Tàu vô chính trị và độc đoán của họ. Chả trách ngay sau
ngày chỉnh lý, họ đưa Đại tá Lê Nguyên Khang từ Phi Luật Tân về thay thế
cháu tôi là Trung tá Nguyễn Bá Liên (đang là Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến).
Lê Nguyên Khang từ Phi Luật Tân về, đi thẳng bằng trực thăng đến Kiến Hòa
nơi cháu tôi đang chỉ huy một cuộc hành quân quan trọng, đòi phải được bàn
giao tức khắc chức Tư lệnh và Liên phải về ngay Sài Gòn bằng chiếc trực
thăng của Khang. Thiếu tá Trần Văn Nhật, người bạn thân của cháu tôi cũng bị
thuyên chuyển ra khỏi binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và phải cùng vơi cháu
tôi đi phục vụ tại Manila trong văn phòng Tùy viên Quân sự. Thì ra tuy họ
muốn lợi dụng tên tuổi và uy tín của tôi nhưng vẫn e ngại nên đã âm mưu vô
hiệu hóa các bạn hữu và con cháu của tôi ngay khi họ vừa chỉnh lý xong. Chả
trách họ đẩy tôi đi Đại Hàn để gạt đi một phần tử có thể chống đối họ trong
việc múa may quay cuồng tung hô lẫn nhau tại Vũng Tàu, chung quanh cái Hiến
chương quái đản đó.
Nhớ lại khoảng thời gian tám tháng trước đó, ngày 31-1-1964,
hai tướng Khánh và Khiêm gọi tôi đến Bộ Tổng Tham mưu “có việc cần”. Chỉ đến
lúc đó tôi mới biết cuộc chỉnh lý do Khánh, Khiêm và Viên cầm đầu đã xảy ra.
Khánh trình bày những lý do buộc ông ta và một số tướng trẻ phải làm cuộc
chỉnh lý. Hai tướng Khánh và Khiêm cũng cho tôi biết “bọn Đôn, Kim, Xuân, Vỹ
đi với Tây”, chủ trương trung lập. Nhưng khi tôi tỏ vẻ hoài nghi thì họ bảo
rằng có đầy đủ bằng cớ và việc “nhóm đó” cho phép Nguyễn Văn Vỹ và dự định
cho phép Trung tá Trần Đình Lan về Việt Nam là một. Hai tướng Khiêm và Khánh
còn nói thêm: tướng Dương Văn Đức ở Pháp về có đủ hồ sơ về “những hoạt động
trung lập”, những hoạt động cho Pháp của Vỹ và Lan. Mấy tháng sau, khi các
tướng Đôn, Xuân, Kim, Đính, Vỹ bị đem ra xét xử tại Đà Lạt trong suốt hai
ngày đêm ròng, tôi mới biết tướng Vỹ được các tướng Đôn, Kim mời về trước
hết vì Vỹ đã từng chống đối chế độ Diệm và chỉ vì tình bạn với các tướng
Kim, Đôn. Tướng Vỹ có tinh thần thân Pháp nhưng lại có lập trường chống
trung lập và chống giải pháp thống nhất hai miền của Tổng thống De Gaulle.
Trớ trêu thay, những kẻ cùng với Khánh lên án tướng Vỹ là chủ trương trung
lập trong đó có ba ông Thiệu, Khiêm, Viên sau này lại mời tướng Vỹ giữ chức
Tổng trưởng Quốc phòng khi họ trở thành những nhà lãnh đạo quốc gia, thứ
lãnh đạo quốc gia tham nhũng, trong lúc tướng Vỹ vẫn là người liêm chính. Vụ
án “ngân hàng quân đội” mà tướng Vỹ phải chịu trách nhiệm chỉ là vụ án “có
ít xít ra nhiều”. Chẳng qua Hoa Kỳ không muốn quân đội Việt Nam có một số tư
bản to lớn nên đã buộc ông Nguyễn Văn Thiệu phải giải tán ngân hàng quân
đội.
Chỉnh lý xong, hai tướng Khánh và Khiêm bèn nhờ tôi đến gặp
tướng Dương Văn Minh tại dinh Hoa Lan đường Hồng Thập Tự để mời ông giữ chức
Quốc trưởng. Vì chưa nắm vững tình hình nên tôi muốn nhân dịp này biết thêm
chi tiết, tôi bèn ghé nhà tướng Minh thì gặp thêm cả các tướng Lê Văn
Nghiêm, Phạm Xuân Chiểu đang ngồi bàn bạc chuyện trò trong căn nhà bị quân
lính của nhóm chỉnh lý canh gác. Sau khi nghe tôi trình bày chủ trương của
tướng Khánh, tướng Minh với vẻ mặt trầm ngâm nhờ tôi về nói lại với Khánh là
ông sẽ suy nghĩ và trả lời Khánh sau. Tôi bèn về thẳng nhà tôi và điện thoại
cho Khiêm biết ý kiến của tướng Minh.
Quen biết và làm việc chung với tướng Khánh lâu ngày, tôi
biết ông là người thông minh, quyền biến, mưu cơ. Đã hai lần ông tỏ thái độ
cứng rắn làm tôi khâm phục. Lần thứ nhất sau biến cố Nhảy Dù vào ngày
12-11-1960, Khánh ra mặt khinh mạn bà Nhu, người đàn bà mà Tổng thống Diệm
còn phải vâng lời kiêng nể. Và lần thứ hai, Khánh quyết liệt yêu cầu ông Nhu
phải cách chức Tư lệnh Quân đoàn IV của Huỳnh Văn Cao, người “con nuôi” của
gia đình họ Ngô. Ông Khánh tố cáo Huỳnh Văn Cao là bất tài, bất lực làm cho
ông Nhu phải xuống nước: “Hãy để cho Cao thử thách một thời gian nữa rồi sẽ
hay”. Ông Khánh có nhiều quan điểm độc đáo như “Trí thức miền Nam là trí
thức phòng trà chỉ lo tranh dành địa vị mà không thấy rõ hiểm họa Cộng Sản”.
Trong cuộc họp báo chiều ngày 2-2-64 sau khi vừa chỉnh lý, Khánh lại đề cao
báo chí “một ngòi bút là một sư đoàn”. Sau này Khánh còn có dịp đề cao quân
đội “là cha quốc gia”. Khi bà Nhu ở Pháp công kích các tướng lãnh, Khánh đã
gián tiếp trả lời “vấn đề nói thì không ai nói hơn đàn bà. Nhưng bà Nhu là
thứ đàn bà đặc biệt mà ta phải thắng”.
Tôi đã biết ông Khánh vốn không thuộc phe đảng nào dù khi
chỉnh lý ông có liên hệ với đảng Đại Việt của ông Nguyễn Tôn Hoàn. Sau cuộc
chỉnh lý, tướng Khánh hứa với tôi nhất định phải làm Cách mạng và sẽ tiếp
tục bảo vệ tinh thần ngày 1-11-1963. Với thái độ chính trị độc lập của ông,
với việc tướng Dương Văn Minh chịu làm Quốc trưởng, tôi nghĩ tướng Khánh có
thể ổn định tình hình để làm việc lớn cho nên tôi bằng lòng hợp tác với
Khánh và Khiêm. Tôi so sánh cái thông minh, quyền biến và cơ mưu của Khánh
như một thứ Hồ Quý Ly thời nay với hy vọng Khánh có thể trở thành một Nasser
của Việt Nam Cọng Hòa...
Trước cảnh xáo trộn của đất nước, ngày 30-9-1964 tôi quyết
định cạo đầu như một cách bày tò thái độ, rồi từ chức Phó Thủ tướng và trở
về quân đội, trở lại cuộc đời học trò ngày hai buổi đến trường sinh ngữ quân
đội học thêm Anh văn. Bài học Ngô Đình Diệm, bài học tướng lãnh đã làm cho
tôi thấm thía nên quyết định xa lánh chính trường. Nhưng rồi một hôm, tôi
được Khánh mời vào dinh Thủ tướng và yêu cầu tôi đi Pháp hai tháng để quan
sát tình hình vì “Pháp đang có những âm mưu vận động đưa vấn đề Việt Nam ra
trước một hội nghị quốc tế ”. Khánh cung cấp 10.000 quan Pháp cho việc chi
phí tại Pháp trong hai tháng đó. Tôi nghĩ thầm Khánh muốn đẩy tôi ra khỏi
nước nên từ chối ngay với lý do tôi đã từng là thành phần “persona non
grata” của chính quyền Pháp. Khánh bảo tôi cứ về suy nghĩ lại. Vài hôm sau
Albert Cao đến nhà tôi mang theo vé máy bay đi Pháp và cái ngân phiếu 20.000
quan: “Trung tướng Khánh nhất định nhờ Thiếu tướng đi Pháp và tăng tiền chi
phí cho Thiếu tướng lên 20.000 quan”. Tôi bảo Cao: “Anh về thưa lại với
Trung tướng rằng tôi không đi đâu hết đừng đem tiền bạc mà dụ tôi. Tôi ngồi
đợi để Trung tướng cho quân cảnh đến bắt. Tôi biết ông ta muốn đẩy tôi ra
nước ngoài”. Cao ra về và sau đó không thấy Khánh nhắc lại vụ đi Pháp nữa.
Nhưng độ một tháng sau, Khánh lại cho mời tôi vào văn phòng để yêu cầu tôi
cùng với lãnh tụ Tự Do Khmer Sơn Ngọc Thành đi Thái Lan trong mười ngày để
quan sát công cuộc chiến đấu chống Sihanouk và giao thiệp với cơ quan tình
báo hải ngoại của Thái Lan hầu thiết lập kế hoạch trao đổi tin tức tình báo
giữa hai chính phủ như tôi đã nói trước kia. Tôi biết Khánh lại muốn đẩy tôi
ra khỏi nước nhưng tôi vẫn bằng lòng đi vì tin tưởng rằng đi Thái Lan thì
việc trở về nước không khó khăn gì. Tôi đem theo cháu tôi là Đại úy Đỗ Hải
làm sĩ quan tùy viên.
Khi lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất, tôi ngạc nhiên
thấy Thiếu tá Hữu, một cựu cán bộ Cần Lao Công Giáo từng làm việc với bác sĩ
Tuyến trong Sở Nghiên cứu Chính trị đi theo. Hữu cho tôi biết đi Thái Lan là
để liên lạc với cơ quan tình báo Việt Nam tại Bangkok nhưng tôi biết Hữu
vâng lệnh của Khánh đi để theo dõi tôi. (Thiếu tá Hữu dưới chế độ Nguyễn Văn
Thiệu giữ chức Tỉnh trưởng Cam Ranh nổi tiếng là một tay tham nhũng).
Đến Bangkok, tôi cùng với Đại sứ Thái Quang Hoàng đến thăm xã
giao Thủ tướng Sarit Thanarat và sau đó hội họp mấy ngày liền với các cơ
quan tình báo Thái và thăm tổ chức của Sơn Ngọc Thành. Lợi dụng những lúc
rảnh rỗi, tướng Hoàng dẫn tôi đi thăm viếng phong cảnh xứ Thái và chiêm
ngưỡng một số chùa tháp danh tiếng. Gần 10 ngày sau, tôi nhận được công điện
của Khánh yêu cầu phải rời Thái Lan đi Mã Lai hai tháng để nghiên cứu về du
kích chiến của xứ này. Biết rằng Khánh muốn đẩy mình đi xa hơn, tôi bèn
quyết định trở về. Tôi đến gặp Thái Quang Hoàng và cho biết sẽ trở về Việt
Nam ngay. Hoàng đắn đo hỏi tôi: “Bác về bằng cách gì?”, tôi trả lời liền:
“Tôi sẽ về bằng ghe Thái Lan, đổ bộ lên Hà Tiên hay Rạch Giá rồi về Sài
Gòn”. Từng là bạn thân lâu năm, biết rõ nhau qua nhiều hoạt động quân sự và
chính trị dưới nhiều chế độ, tôi biết Hoàng là con người khí phách can
trường. Hoàng lo lắng cho tôi: “Bác về như vậy sợ nguy hiểm. Tôi sẽ cấp vé
máy bay cho Bác về thẳng Sài Gòn. Khi nào Bác đặt chân xuống phi trường Tân
Sơn Nhất, tôi sẽ đánh điện báo cho chính phủ”. Sợ liên lụy đến địa vị của
Hoàng, tôi từ chối nhưng Hoàng nài nỉ khuyên tôi phải trở về bằng phi cơ,
rồi tiễn tôi ra tận máy bay. Về Sài Gòn, tôi đợi đến sáng hôm sau mới vào
gặp Khánh. Khánh không tỏ vẻ tức giận nhưng với cái mỉm cười đầy bí hiểm,
Khánh đùa: “Thế là hai lần anh đã không tuân lệnh tôi”. Ít lâu sau, tướng
Hoàng cũng mất chức Đại sứ VNCH tại Thái Lan.
Chính tình Việt Nam vẫn sôi động, những xáo trộn vẫn liên
tiếp xảy ra tại Sài Gòn và Huế, rồi ông Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng,
ông Trần Văn Hương làm Thủ tướng, Thượng Hội Đồng Quốc Gia ra đời, Trung
tướng Nguyễn Khánh trở về quân đội giữ chức Tổng Tư lệnh, hai Đại tướng
Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm đi ra nước ngoài. Do áp lực của một số
tướng trẻ với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, các tướng “già” (trong đó có tôi)
buộc phải về hưu kể từ 30-12-1964.
Rời khỏi chính trường, rời khỏi quân đội tôi mừng thầm từ đây
thoát vòng cương tỏa, sẽ được yên thân dù biết rằng nhà tôi vẫn bị những
nhân viên an ninh theo dõi. Tôi tiếp tục các thú vui bình nhật như đọc sách,
uống trà, đánh tổ tôm, tài bàn vui với bạn hiền và đến nhà các thầy Tử vi để
nói và nghe chuyện đời.
Không ngờ vào khoảng ba giờ đêm 20-12-1964, Đại tá Nhiêu, một
cộng sự viên của Khánh và đang là Giám đốc Sở Trung Ương Tình Báo, đi xe
jeep cùng với ba binh sĩ võ trang đến nhà riêng của tôi mời tôi đến gặp Hội
Đồng Tướng Lãnh đang nhóm họp tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi biết việc chẳng lành
lại xảy ra nên dặn vợ con cứ yên tâm ở nhà vì tin chuyến này ra đi thì còn
lâu lắm mới trở về.
Đại tá Nhiêu mời tôi vào ngồi trong phòng khách nhà tướng
Khánh trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, gần cổng chánh. Trong một phòng bên
kia, Khánh và các tướng trẻ đang hội họp. Họ để Chuẩn tướng Sang vừa ngồi
nói chuyện vừa canh chừng tôi. Độ năm giờ sáng, cuộc họp vừa tan thì Nguyễn
Văn Thiệu, rồi Nguyễn Chánh Thi đến chào và nói vài câu chuyện đãi bôi. Đến
bảy giờ sáng, tướng Nguyễn Hữu Có, lúc bấy giờ là Tư lệnh Quân đoàn II đóng
ở Pleiku, vào gặp tôi và cho biết: “Tôi được lệnh Hội Đồng Tướng Lãnh mời
anh em lên cao nguyên ở một thời gian”. Tướng Có mời tôi lên xe và đưa ra
phi trường Tân Sơn Nhất. Tại đây, tôi thấy một số chính khách, một số ủy
viên Hội Đồng Quốc gia, một số sinh viên và ba người bạn thân của tôi là nhà
báo Vũ Ngọc Các, luật sư Trần Thanh Hiệp, và học giả Mai Ngọc Liệu. Biết là
đồng hội đồng thuyền, các ông Các, Hiệp, Liệu và tôi nhìn nhau mỉm cười. Đến
Pleiku, bác sĩ Lê Khắc Quyến bị giữ lại gần Bộ Tư lệnh Quân đoàn, ông Nguyễn
Văn Lực bị chuyển đi Nha Trang, các chính khách và sinh viên khác đi Kontum,
còn riêng tôi thì tướng Có dành cho ngôi dinh thự cũ của viên Công sứ Pháp,
biệt phái cho tôi một binh sĩ để phục vụ. Từ đó, tôi ở vào tình trạng “quản
thúc vô hạn định” trên thành phố đìu hiu này. Thỉnh thoảng, tướng Có đến
chuyện trò hoặc đích thân lái xe đưa tôi đi thăm phong cảnh Pleiku nhưng
tuyệt nhiên không bao giờ đề cập đến việc quản thúc của tôi hoặc thảo luận
về tình hình chính trị của đất nước. Trong hơn hai tháng, chúng tôi bị quản
thúc thì cụ Trần Văn Hương cũng mất chức Thủ tướng và nghe nói bị an trí tại
Vũng Tàu, chính phủ Phan Huy Quát ra đời, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Lực Lượng
Bảo Vệ Dân Tộc và Lực Lượng Đại Đoàn Kết của khối Công giáo nổi dậy chống
chính phủ. Tướng Khánh phản ứng trong tuyệt vọng vì Hội Đồng Quân Lực cho
rằng những xáo trộn đều do Khánh gây nên, nên cách chức tướng Khánh. Sau màn
trình diễn như thăng chức lên Đại tướng và gắn Đệ nhất Kim khánh cho Khánh,
Hội đồng Tướng lãnh buộc tướng Khánh phải ra khỏi nước. Ngày 25-2-1965,
Khánh lên phi cơ rời đất Tổ mang theo một nắm đất quê hương và hẹn ngày trở
lại. Nhưng ông Khánh đi mãi mà không có ngày về dù miền Nam còn hơn 10 năm
trời sống sót. Ông Khánh xin cư trú tại Mỹ nhưng bị từ chối nên đành phải
đến Pháp với tất cả nỗi lòng chua chát của một con người nhiều thủ đoạn, đã
mê hoặc được cả hai anh em ông Diệm-Nhu, đã vận dụng được cả đảng Đại Việt,
đã lừa được tất cả những tướng lãnh để cuối cùng phải ngâm câu “chữ Tài liền
với chữ Tai một vần”.
Tướng Khánh ra đi, chính phủ Phan Huy Quát chỉ kéo dài được
từ 16-2-65 đến 11-6-65, nghĩa là không đầy bốn tháng, rồi vì sự chống đối
của Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và của khối Công giáo, chính quyền lại về tay
các tướng trẻ với tướng Thiệu làm Chủ tịch ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, tướng
Kỳ làm Chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp, tướng Có giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng,
tướng Thi giữ chức Tư lệnh Quân đoàn I. Còn tôi, sau ba tháng bị cô lập ở
Pleiku, được trả về Sài Gòn.
Từ ngày bị an trí tại Pleiku trở về, vốn mang tâm hồn bảo
thủ, tôi trở lại cuộc đời bình dị, mang chiếc áo lương đen dài, bắt chước
người xưa làm nhà ẩn dật, ngồi nhìn mưa nắng hai mùa mặc cho thế sự thăng
trầm...
Tôi không tham gia cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1966 mặc
dầu tôi đồng ý về căn bản với lập trường chính trị của Thượng tọa Trí Quang.
Tuy nhiên dù tôi không liên hệ gì đến cuộc đấu tranh của Phật
giáo và cũng chẳng dính dự gì đến những biến động lúc bấy giờ nhưng các
tướng trẻ và Bộ Tham mưu Công giáo của Thiệu vẫn cứ e ngại nên họ lấy lý do
tình hình xáo trộn để một lần nữa tạo thêm gian truân cho tôi. (Sau này
tướng Nguyễn Hữu Có đến thăm tôi tại nhà riêng và cho biết từ ngày tôi về
hưu trí những tướng nào thường có thái độ thù hằn tôi. Đại tá Phạm Văn Liễu
sau khi thôi chức Tổng giám đốc Cảnh sát cũng ghé thăm và cho tôi biết vụ
bắt bớ tôi năm 1966 là do lệnh của Nguyễn Văn Thiệu).
Một hôm, tôi được viên Thiếu tá Chánh văn phòng của Chủ tịch
ủy Ban Hành Pháp Nguyễn Cao Kỳ đến mời vào gặp ông ta trong Dinh Thủ Tướng.
Ngày hôm sau, tôi vào Dinh đợi khoảng hơn một tiếng đồng hồ mới thấy Kỳ đến.
Kỳ đi thẳng vào văn phòng và bắt tôi đợi thêm một giờ đồng hồ nữa mới ra
phòng tiếp tôi. Ngồi chờ lâu, tôi suy nghĩ miên man đoán rằng có lẽ mình đã
làm điều gì đụng chạm nên Kỳ mới có thái độ cao ngạo như thế. Cuối cùng tôi
đoán có lẽ vì chuyện đám cưới của Kỳ mà tôi đã không tham dự có thể đã làm
cho Kỳ tức giận chăng.
Mùa xuân năm ngoái, Thiếu tướng Tư lệnh Không quân Nguyễn Cao
Kỳ làm lễ thành hôn với người đẹp nữ tiếp viên phi hành Đặng Tuyết Mai. Đám
cưới Kỳ-Mai là một trong những đám cưới linh đình nhất Việt Nam từ mấy chục
năm nay, chỉ thua đám cưới ông Trần Trung Dung, cháu rể của Tổng thống Diệm
và dĩ nhiên phải thua đám cưới ái nữ của Tổng thống Thiệu và con trai ông
Nguyễn Tấn Trung, những đám cưới mang hình thức quốc lễ.
Theo báo chí và những bạn bè tôi kể lại thì đám cưới Kỳ-Mai
gồm một buổi đại tiệc tại Chợ Lớn cho hai họ và bà con bạn bè, rồi một buổi
đại tiệc thứ hai tại khách sạn Caravelle cho hàng ngàn quan khách tham dự
như Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, Thủ tướng Trần Văn Hương, toàn bộ nhân viên
chính phủ, tướng lãnh và các chỉ huy trưởng các đơn vị của ba ngành
Hải-Lục-Không quân đang có mặt tại Sài Gòn, Ngoại giao đoàn, và rất đông
nhân vật cao cấp văn võ Mỹ-Việt. Nghe nói rượu sâm banh đến hơn bảy trăm
chai nổ kêu đôm đốp liên hồi. Tân lang trong chiếc áo dài dạ hội màu đỏ đã
tặng giai nhân chiếc nhẫn to bằng đầu ngón tay. Nghe nói tướng Khánh đã tặng
cho Nguyễn Cao Kỳ một số tiền rất lớn để Kỳ lo liệu đám cưới. Đêm hôn lễ của
cặp Mai-Kỳ tại khách sạn Caravelle quả thật là một đại dạ hội tưng bừng hiếm
có giữa Sài Gòn xáo trộn, báo hiệu cái thế giá đang lên của một nhân vật
đang gặp thời vì chỉ nửa năm sau Nguyễn Cao Kỳ đã trở thành Thủ tướng: Thủ
tướng của một chính phủ, mỉa mai thay được chính Kỳ mệnh danh là “Chính phủ
của dân nghèo”.
Trong quá khứ, Kỳ vốn coi tôi như người anh ruột thịt và sự
túng thiếu của Kỳ nhiều khi làm vợ chồng tôi bùi ngùi. Trước ngày cưới,
chẳng những Kỳ gửi hồng thiệp báo tin mừng mà còn đến tận nhà đích thân mời
vợ chồng tôi dự tiệc. Cẩn thận hơn, gần ngày hôn lễ Kỳ còn gọi điện thoại
nhắc nhở lần cuối cùng. Nhưng sau khi nhìn thấy cuộc Cách mạng 1-11-63 đang
đi chệch khỏi những mục đích đẹp đẽ ban đầu, lại thêm những xáo trộn chính
trị liên miên xảy ra, tất cả đã làm cho tôi chán chường không muốn chen lấn
vào những nơi tụ họp đông đảo của hạng người trưởng giả nữa. Chúng tôi chỉ
mua một bộ đồ trà đơn giản giao cho sĩ quan tùy viên đến nhà tặng Kỳ làm kỷ
niệm mà không đến dự tiệc tại nhà hàng Caravelle.
Đang miên man suy nghĩ về chuyện tình nghĩa ngày xưa thì bỗng
Kỳ vào ngồi cạnh tôi và hỏi: “Thiếu tướng có mạnh không? Thiếu tướng ở nhà
làm gì?” Tôi đáp: “Từ ngày bị các tướng trẻ bắt đi cô lập ở Pleiku về, tôi ở
nhà nghỉ ngơi, chưa có dự định gì cả”. Tôi đợi xem Kỳ có bàn bạc gì về tình
hình chính trị không thì bỗng Kỳ nói: “Lâu ngày không gặp nên tôi chỉ mời
Thiếu tướng vào thăm thế thôi”. Tôi cám ơn rồi ra về, Kỳ còn nhắn theo: “Cho
tôi gửi lời hỏi thăm Đỗ Hảo và Đỗ Hải”. (Tôi có ba đứa cháu là Đỗ Thọ, Đỗ
Hảo và Đỗ Hải rất thân thiết với Kỳ thời Kỳ còn là Thiếu tá, Trung tá).
Về đến nhà, tôi suy nghĩ mãi về cách cư xử lạ lùng của Kỳ đối
với tôi. Nếu quả Kỳ còn nhớ chút tình cố cựu, tại sao trong vụ Khánh và các
tướng trẻ bắt tôi đi cô lập tại Pleiku, Kỳ không phản đối. Còn nếu Kỳ đã bỏ
rơi tình cũ nghĩa xưa thì tại sao hôm nay lại mời tôi đến để thăm hỏi. Tôi
lại nghĩ nếu quả Kỳ còn kính mến tôi thì tại sao Kỳ không đến nhà riêng thăm
viếng mà lại mời tôi vào dinh Thủ tướng. Tôi vẫn còn phân vân về thái độ khó
hiểu của Kỳ thì ngày hôm sau, Trung tá Nguyễn Văn Khuyến, Chánh sở An Ninh
Quân Đội Thủ Đô đến mời tôi vào gặp Thiếu tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh
Quân khu Thủ đô kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định. Sự kiện hai tướng trẻ đều
mời tôi liên tiếp trong hai ngày như điềm bất thường báo trước sắp có chuyện
chẳng lành xảy ra.
Gặp Khang, Khang cho biết được lệnh Hội Đồng Quân Lực mời tôi
ra “tạm trú” tại Nha Trang trong một thời gian cho đến khi nào tình hình
chính trị ổn định. Rồi Khang giao cho tôi sự vụ lệnh và vé máy bay. Tôi nghĩ
thầm thế là tôi được các ông tướng trẻ bắt đi quản thúc một lần nữa. Tôi cám
ơn Khang rồi đứng dậy ra về. Khang tiễn tôi ra tận xe còn nói tiếp: “Xin
Thiếu tướng hiểu cho lòng em, em chỉ biết thừa lệnh cấp trên”. Tôi mỉm cười
rồi lên xe. Tôi có trách gì tướng Khang đâu, vì tự biết mình đang gặp vận
hạn rắc rối và đang sống giữa cảnh đất nước loạn ly thì phải chìu theo cảnh
ngộ, Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế. Vế
đối của kẻ sĩ Ngô Thời Nhiệm để đáp lại kẻ đắc thời Đặng Trần Thường tôi
thuộc nằm lòng thì có trách móc kêu ca cũng chẳng được, lại còn thêm mất
tiết tháo của mình. Huống chi đời tôi đã bao phen lao lung, tù đày vì Thực
dân và Cộng Sản thì việc phải đi an trí có thấm thía gì đâu.
Ngày Khang còn làm Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến thời ông Diệm,
Khang cũng coi tôi như một người anh. Cũng như Cao Văn Viên, ngày tết Khang
thường đến chào tôi thật sớm để tỏ lòng kính mến. Khang là một sĩ quan ít có
tham vọng chính trị nhưng lại mang tính ba phải nên không được các tổ chức
đảo chánh ông Diệm tín nhiệm. Trước ngày đảo chánh, tướng Đôn và tướng Khiêm
giao cho cháu tôi chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến, mượn cớ hành quân ở Bến Cát
để đánh lừa ông Nhu. Vì thế, đêm 1-11 ở Bộ Tổng tham mưu, Khang tỏ vẻ lo
ngại. Đêm đó ngồi giữa tướng Lê Văn Nghiêm và tôi, Khang thì thầm: “Xin
Thiếu tướng và Đại tá bảo bọc cho em với”. Tôi trấn an Khang: “Anh có tội
tình gì mà phải ngại, có tôi anh đừng lo”. Tôi vẫn luôn luôn thương mến
Khang, vì thế nên ngày hôm sau, trong cuộc thảo luận về số phận ông Diệm ở
hành lang trước văn phòng Đại tướng Tỵ, tôi đã kéo Khang và Trung tá Thiện
bỏ họp ra đi khi tôi không đồng ý việc giết ông Diệm như tôi đã nói trước
kia.
Sau khi Cách mạng thành công, tướng Đôn và Khiêm cử cháu tôi
chính thức giữ chức Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến và bổ nhiệm Khang đi làm tùy
viên quân sự tại Phi Luật Tân. Việc công cử này tôi không hề hay biết cho
đến khi Nguyễn Bá Liên được quyết định của Bộ Tổng Tham mưu. Việc công cử
này không phải là sai lầm nếu đứng về khía cạnh Cách mạng vì trong hoàn cảnh
thay cũ đổi mới sau một cuộc binh biến, sự bổ nhiệm người hoàn toàn tín
nhiệm vào chức vụ then chốt cho tân chế độ lúc ban đầu là chính sách mà ai
cũng phải làm. Tuy nhiên, có thể Khang lấy cớ bị đổi đi Phi Luật Tân làm
buồn lòng rồi thù oán tôi chăng.
Sau 6 tháng bị an trí ở Nha Trang, tôi mới được Kỳ đánh điện
cho trở về Sài Gòn. Sống ở miền Nam tự do, bây giờ tôi mới được tự do đi
lại!
Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt, câu thơ ảo
não của thi sĩ Vũ Hoàng Chương quả đã nói đúng tâm sự, tình cảnh của tôi,
tôi quyết định từ đây không vương vấn đến chính trường, chỉ lo việc sinh
sống cho gia đình vợ con. Nhiều nhân vật thuộc đảng phái, nhiều chính khách
nhân sĩ đến khuyên rủ tôi ra ứng cử Dân biểu, Nghị sĩ tôi đều từ chối hết.
Ngay cả cụ Nguyễn Xuân Chữ, một bậc kỳ lão tiếng tăm xứ Bắc Hà xưa kia, đích
thân đến nhà mời tôi đứng chung một liên danh Nghị sĩ với các đồng chí của
Cụ tôi cũng xin khước từ. Vì thế, rất nhiều tướng tá như Trần Văn Đôn, Tôn
Thất Đính, Thái Quang Hoàng, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Văn Chuân, Lê Văn Nghiêm,
Tôn Thất Xứng... đều ra tranh cử Thượng Viện, riêng tôi nằm nhà nhâm câu thơ
cũ:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao...
-o0o-
Việc quân đội trở lại với các tướng Thiệu, Kỳ, Có, Chiểu,
Viên nắm quyền lãnh đạo quốc gia ngày 19 tháng 6 năm 1965 tạm chấm dứt giai
đoạn xáo trộn lần thứ nhất. Tình trạng này nói lên sự thất bại của Phật
giáo, của sinh viên và đảng phái. Kẻ đắc thắng công khai là lớp tướng trẻ mà
báo chí ngoại quốc gọi là “Young Turk” và kẻ đắc thắng sau hậu trường chính
trị là khối Công giáo.
Dù sao thì “Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” chỉ là giải pháp thỏa
hiệp chuyển tiếp, cho nên trong lúc tướng Kỳ với tư cách Thủ tướng chính phủ
lo thực hiện những chính sách quốc gia thì tướng Thiệu vốn người cẩn trọng
và thủ đoạn, cùng với Bộ Tham mưu Công giáo của ông ta lo tổ chức nội bộ,
sắp đặt kế hoạch lâu dài trong ý đồ quật ngã Nguyễn Cao Kỳ mà Thiệu biết rõ
là đối thủ số một trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ. Thực tế sau này trong
việc tranh chấp quyền hành, mà trước hết là tranh làm ứng viên Tổng thống,
và sau đó là đẩy Kỳ ra khỏi chính quyền đã nói lên những âm mưu, thủ đoạn
của Nguyễn Văn Thiệu và nhóm Công giáo thời đó.
Từ ngày lên nắm chính quyền, ông Nguyễn Cao Kỳ đã có một số
hoạt động nhiều ý nghĩa, thỏa mãn phần nào ý nguyện của đại đa số nhân
dân...
Ngày 24-6-1965, chính phủ Kỳ họp báo tuyên bố “Tình trạng
chiến tranh”, đoạn giao với Pháp, đóng cửa các trường Pháp để chuyển đổi dần
dần thành các trường Việt ngữ hầu tránh tình trạng chỉ có “con ông cháu cha”
hoặc con nhà giàu mới được học trường Tây như dưới chế độ Diệm.
Ngày 12-7, chính phủ Kỳ công nhận Hiến chương của Phật giáo
Hòa Hảo và Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để hai Giáo hội này từ nay có quy chế riêng
của họ. Tổng quát hơn, từ nay tất cả mọi tôn giáo tại Việt Nam đều bình đẳng
chứ không có một tôn giáo nào còn chịu lệ thuộc vào đạo dụ bất công số 10
như dưới thời Ngô Đình Diệm chỉ dành đặc quyền đặc lợi cho Công giáo.
Ngày 16-7, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, người chủ mưu biến cố
19-2-65 bị Lực lượng An ninh phục kích bắt được gần một nhà thờ ở Biên Hòa
đem về giam tại nha An Ninh Quân Đội. Sau đó có tin Thảo chết trong trường
hợp còn mang nhiều bí ẩn.
Ngày 10-10, Toà án Quân sự Mặt Trận vùng III Chiến thuật xử
vụ cựu Đại Tá Bùi Dinh (Công giáo) liên can tới âm mưu lật đổ chính phủ Quát
đêm 20-5-1965.
Ngày 2-11, thể theo ý nguyện của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn
và dư luận các giới, Tổng ủy viên Văn hóa Giáo dục (Giáo sư Trần Ngọc Ninh)
đại diện chính phủ đặt viên đá kỷ niệm Cách mạng 1-11-63 tại thành Cộng Hòa
cũ, vốn là trại quân của Lữ đoàn Liên Binh Phòng vệ của ông Diệm lúc trước.
Ngày 15-2-1966, giáo sư Trần Ngọc Ninh trao tặng 5 triệu rưỡi
đồng cho Giáo hội Theravada để xây trường Pali. Chủ tịch Sơn Thái Nguyên
tuyên bố “Từ nay Giáo hội Theravada không còn thống thuộc Nam Vang nữa”.
Những hoạt động chính trị, xã hội trên đây chứng tỏ Nguyễn
Cao Kỳ có thiện chí muốn thực hiện một chính sách công bằng tôn giáo, một
yếu tố tối cần thiết cho đời sống chính trị ở miền Nam trong giai đoạn đó vì
mấy năm trước đây, chính sự bất công và bất bình đẳng tôn giáo đã là nguyên
nhân khiến người quốc gia tuy cùng một lý tưởng chống Cộng nhưng lại xâu xé
nhau như kẻ thù, đúng với quy luật “chia rẽ là chết”.
Ngoài ra, chính sách bóc lột, tham nhũng của anh em ông Diệm
(mà Kỳ lên án nặng nề trong hồi ký Hai mươi năm, hai mươi ngày) đưa
anh em ông Diệm vào tử lộ cũng là bài học thấm thía cho Kỳ. Vì thế Kỳ tuyên
bố “Phải làm Cách mạng”, tuyên bố chính phủ của ông ta là “chính phủ của dân
nghèo”, đồng thời Kỳ thiết lập pháp trường để xử tội gian thương... (Pháp
trường cát trơ gan với thời gian trên một năm trời nhưng chỉ có một người
Tàu là Tạ Vinh đền tội).
Tôi vốn quen thân với Kỳ lâu ngày nên biết rõ tâm tính của
Kỳ. Kỳ trực tính nên hay tuyên bố “vọng ngôn” và hành xử phóng khoáng quá độ
nên nhiều khi bị ví von là “cao bồi”; nhưng theo tôi thì Kỳ vẫn là thứ người
hào hiệp, dám nói dám làm, trong một vài trường hợp cũng có thể gọi được là
thứ người “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Kỳ lại thuộc một gia đình theo
Tam giáo mà bà thân mẫu và nhạc mẫu là những người rất mộ đạo Phật. Thời cầm
quyền, Kỳ vẫn trung thành với tinh thần Cách mạng 1-11-1963, cuộc cách mạng
mà Kỳ đã tham gia tích cực, vẫn giữ ngày kỷ niệm này làm ngày Quốc khánh và
đã ra lệnh đặt bảng kỷ niệm tại thành Cộng Hòa như đã nói trên. Kỳ cũng muốn
“uống nước nhớ nguồn”, thứ nguồn gốc dân tộc Việt phát xuất từ địa phận Sơn
Tây, nơi chôn nhau cắt rốn của Kỳ tại miền Bắc. Do đó Kỳ đã tổ chức lễ Giỗ
Tổ Hùng Vương vô cùng trọng thể, đích thân đến chủ tọa để nhắc nhở quốc dân
ghi nhớ công ơn vua Hùng dựng nước hầu làm tương phản với anh em ông Diệm cố
tình quên đi nguồn gốc Lạc Hồng.
Tuy nhiên, dù ông Nguyễn Văn Thiệu và nhóm “Công Giáo Cần Lao
Phục Hồi” chưa nắm thực quyền và dù ông Nguyễn Cao Kỳ tỏ ra có thiện chí,
nhất là thiện chí muốn bảo tồn tinh thần Cách mạng 1-11-1963, “chiến lược
gia Thích Trí Quang” lại có cái nhìn khác. Cái nhìn của ông đã được thể hiện
qua lời tuyên bố: “Cần Lao mà cầm chính quyền thì chỉ đem chính nghĩa lại
cho Cộng Sản, quân phiệt mà cầm quyền thì chỉ là tay sai cho ngoại bang”.
Thực tế 10 năm dưới chế độ quân phiệt sau đó cho thấy quả thực Thượng tọa
Thích Trí Quang đã có cái nhìn chính trị vô cùng sắc bén, sáng suốt.
Cho nên sau khi Thiệu-Kỳ cầm quyền được ít tháng, Thượng tọa
Trí Quang phát động phong trào “đòi thực hiện dân chủ, đòi tướng lãnh trở về
với nhiệm vụ quân đội, đòi tuyển cử tự do...” Phong trào đấu tranh âm ỷ rồi
nổ bùng kể từ đầu năm 1966, tạo thành giai đoạn xáo trộn lần thứ hai, đặc
biệt là tại quân khu I do tướng Nguyễn Chánh Thi giữ chức Tư lệnh.
Trong thời gian chống chế độ Diệm vào năm 1963, ta chỉ thấy
mục đích của Phật giáo và của Thượng tọa Trí Quang là đòi hỏi “bình đẳng tôn
giáo, tự do hành đạo”, nhưng từ sau khi chế độ Diệm bị lật đổ và nhất là từ
khi cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh mở màn cho sự phục hồi của Công giáo Cần
Lao thì ta thấy Phật giáo và Thượng tọa Trí Quang thực sự dấn thân vào đấu
tranh chính trị. Vậy lập trường chính trị và thái độ của Thượng tọa Trí
Quang đối với hiện tình đất nước như thế nào?
Một số ký giả, học giả ngoại quốc đặc biệt nghiên cứu “bộ mặt
mới” của Phật giáo Việt Nam, từng theo dõi các cuộc đấu tranh của Phật giáo
hoặc được gần gũi, phỏng vấn Thượng tọa Trí Quang và nhận xét của họ như
sau. Theo Jerrold Schecter thì:
Lập trường của Trí Quang là chống đối những kẻ khai thác
việc chống Cộng. Ông ta nhấn mạnh rằng “Phật giáo chẳng những là nạn nhân
của những kẻ lợi dụng việc chống Cộng. Hiện nay ở trong nước có ba lực
lượng: Việt Cộng, những kẻ lợi dụng việc chống Cộng, và thứ ba là quần
chúng”. Trí Quang nói rằng “Người Mỹ quan niệm người Việt Nam nên chấp nhận
và chịu đựng những chính phủ xấu bởi vì tình hình Việt Nam đang nguy ngập do
Việt cộng gây nên. Trái lại Phật giáo nhất định chống đối những chính phủ
xấu vì những chính phủ này chỉ làm lợi cho Cộng Sản”. Trí Quang nói tiếp:
“Tôi mạnh mẽ tin tưởng Cộng Sản sẽ không bao giờ thành công, tôi cũng tin
tưởng mạnh mẽ rằng chủ nghĩa Cộng Sản không phải là lý tưởng của nhân loại.
Nhân loại còn có những triết thuyết cao hơn”. Trí Quang cho rằng Hoa Kỳ chỉ
chú ý đến những cấp lãnh đạo chính quyền mà không nghĩ đến quần chúng nhân
dân. Hỏi Trí Quang có muốn Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam không thì ông ta trả lời
“Dân Việt Nam chịu đau khổ hàng ngày, không ai muốn chiến tranh kéo dài, tuy
nhiên dân Việt Nam không ai muốn bị đặt trước một giải pháp như trường hợp
nước Lào vì giải pháp đó là phương thức hợp thức hóa chiến tranh”. Được yêu
cầu giải thích rõ hơn, Trí Quang trả lời: “Nếu các ông nằm trong da thịt
người Việt Nam, các ông sẽ hiểu rằng người Việt Nam không ai muốn chiến
tranh hết, tuy nhiên, người Việt Nam cũng không muốn giải pháp nào chỉ làm
lợi cho kẻ phiến loạn có cái thế để tấn công một chính phủ được dựng lên với
đầy đủ pháp lý. Một giải pháp tạo dựng cho kẻ phiến loạn có pháp lý không
bao giờ được Phật giáo chấp thuận”. Được hỏi thêm có phải như vậy là ông
không chấp nhận MTGPMN, Trí Quang trả lời: “Tôi không muốn nêu rõ tên ai,
nhưng bất cứ ai nhìn trận chiến này theo quan điểm riêng của họ sẽ không
được dân chúng Việt Nam ủng hộ”
[12].
Ký giả Jerrold Schecter còn cho biết
thêm:
Trí Quang biết được vai trò của Phật giáo cũng chỉ có giới
hạn nên ông ta nói thêm rằng “Phật giáo chúng tôi không muốn gì hết. Nói
rằng Phật giáo muốn thế này thế kia là sai. Tất cả điều chúng tôi muốn là
một chính phủ không đàn áp Phật giáo. Phật giáo không bảo trợ cho một chính
phủ nào. Không thể một mình Phật giáo mà chống nổi Cộng Sản. Muốn chống Cộng
Sản phải có quân đội và một bộ máy chính trị có sự hợp tác của các tôn giáo”
[13].
Trong một cuộc phỏng vấn khác với ký giả Nhật Bản Takashi
Oka, Thượng tọa Trí Quang đã nói:
“Cộng Sản chống chúng tôi vì Phật giáo nằm trong lòng dân
tộc. Cộng Sản luôn luôn muốn tổ chức quần chúng mà Phật giáo lại là quần
chúng. Điều đó gây khó khăn cho cả Cộng Sản lẫn cho cả chúng tôi”.[14]
“Rõ ràng Phật giáo đã đứng trong tư thế quần chúng Việt
Nam, cùng chia sẻ vinh quang và tủi nhục, cùng cam chịu đau khổ và nhọc nhằn
với dân tộc. Nếu phải chọn một con đường thì đó là “con đường Trung Đạo, vừa
là đạo Ông Bà, vừa là đạo Âm Dương”... Những kẻ đi sai đường Trung Đạo, đều
là những kẻ theo chủ nghĩa Tây phương phiến diện”.[15]
Nhìn lại thực
tế lịch sử vận động dân chủ của Phật giáo, ta có thể tóm tắt lập trường
chính trị của Thượng tọa Trí Quang gồm sáu điểm chính yếu sau đây:
1. Không hợp tác với Cộng Sản và Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam.
2. Chống các chế độ độc tài và quân phiệt.
3. Chống sự phục hồi Công Giáo Cần Lao.
4. Chống chính sách áp đặt cấp lãnh đạo quốc gia theo ý muốn
của Hoa Kỳ và chống văn hóa đồi trụy Tây phương du nhập vào Việt Nam.
5. Chống chiến tranh và đòi hỏi Hòa Bình.
6. Đấu tranh cho miền Nam Việt Nam một chế độ thật sự dân chủ
thể hiện qua các cuộc bầu cử tự do, nghiêm chỉnh.
Cần phải biết thêm rằng trước khi Thượng tọa Trí Quang nêu rõ
lập trường Hòa Bình của Phật giáo Việt Nam thì ngày 11-2-1965, Giáo Hoàng La
Mã đã kêu gọi ngưng chiến tại Việt Nam. Cũng trong năm 1965, Giáo Hoàng Paul
VI liên tiếp kêu gọi tín đồ cầu nguyện cho Hòa Bình Thế Giới vào ngày
11-7-1965. Qua ngày 4-10-1965, Giáo Hoàng đích thân đến thăm Hoa Kỳ, hội đàm
với Tổng thống Johnson, bàn về tình hình thế giới và chiến tranh Việt Nam.
Sau khi rời Nữu Ước, Giáo Hoàng Paul VI bước vào giai đoạn
cuối của một chiến dịch khéo léo để mang lại một nền hòa bình bằng thương
thảo tại Việt Nam. Những văn phòng thông tin của Vatican được tổ chức lại để
nhấn mạnh hơn vào đường giây liên lạc trực tiếp với đại diện Vatican tại
Đông Nam Á.. La Mã tăng cường phái bộ ngoại giao tại Á Châu, đặc biệt tại
những nước có quan hệ trực tiếp với Trung Quốc và Hà Nội. Tổng Giám mục
Igino Cardinale, đại diện Tòa thánh tại Luân Đôn, liên lạc với những người
đại diện Việt Nam tại Âu Châu. Đại diện Tòa thánh tại Ba Lê, Tổng Giám mục
Paolo Bertoli, làm việc chung với chính phủ Pháp, để áp lực cả Hà Nội lẫn
Sài Gòn. Vatican lại cũng rất xông xáo tại các thủ đô Đông Âu như Budapest,
nơi người được gọi là Giám mục Đỏ Endre Hamvas, vốn được bổ nhiệm với sự
chấp thuận của chế độ Cộng Sản, đã nỗ lực đóng vai trò trung gian. Đại diện
Vatican tại Cam bốt cũng được báo cáo là liên hệ thẳng với Việt Cộng. Từ
khắp nơi trên thế giới, tin tức tình báo đổ tràn về Vatican qua các nhà
ngoại giao, các vị giáo phẩm, các nhà truyền giáo, và qua các tín đồ Thiên
Chúa giáo; và ngay cả Giáo Hoàng cũng trao đổi công điện trực tiếp với ông
Hồ Chí Minh”. (The American Pope, John Cooney-Time Books 1984, trang
293).
Như thế là cả Phật giáo lẫn Công giáo đều mong muốn chấm dứt
chiến tranh, thực hiện Hòa Bình. Có khác chăng là cuộc vận động ngưng
chiến của Tòa thánh La Mã có tầm vóc quốc tế, có ảnh hưởng đến đường lối
chính trị của Hoa Kỳ, có lợi cho Cộng Sản. Trái lại, nguyện vọng Hòa Bình
của Phật giáo Việt Nam chỉ nằm trong biên giới miền Nam và có lợi cho dân
tộc Việt Nam mà thôi. Không nói thì ai cũng biết ảnh hưởng chính trị của
Giáo hoàng trên trường quốc tế to lớn như thế nào, ảnh hưởng đó đã giúp cho
Cộng Sản Hà Nội giải phóng được miền Nam (việc mà tôi sẽ nói rõ ở một chương
sau). Trong lúc đó thì chủ trương Hòa Bình, Trung lập, Hòa giải của Thượng
tọa Trí Quang là để tránh sự thôn tính miền Nam của Cộng Sản Hà Nội nhưng
lại không tạo được một ảnh hưởng nào đối với người Mỹ và chính phủ Thiệu-Kỳ.
Nhưng dù sáng kiến Hòa Bình do bất kỳ ai đưa ra thì cuộc vận
động đưa đến Hòa Bình không phải dễ dàng và tất nhiên còn đòi hỏi rất nhiều
thời gian và trải qua nhiều thử thách, lừa lọc giữa các phe lâm chiến. Huống
chi chiến tranh Việt Nam là thứ chiến tranh ủy nhiệm mà bộ não chiến tranh
thật sự nằm tại Moscow và Washington.
Riêng đối với Thượng tọa Trí Quang thì dù chiến tranh hay Hòa
Bình, trước hết miền Nam Việt Nam phải được lãnh đạo bởi những nhà lãnh
đạo do nhân dân lựa chọn trong tự do và dân chủ. Quan niệm của ông là
chính phủ phải do nhân dân hoàn toàn tự do bầu lên trong một thể chế thật sự
dân chủ, và có như vậy miền Nam mới có đủ uy tín và thực lực để nói chuyện
Chiến Tranh hay Hòa Bình. Ông đã nói rõ cho các ký giả quốc tế biết là ông
cũng không chống lại hai tướng Thiệu-Kỳ ứng cử chức Tổng thống. Ông chỉ đòi
hỏi bất cứ tướng lãnh nào muốn làm chính trị, muốn vào chính quyền thì phải
cởi áo nhà binh trước đã và phải qua một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, nghiêm
chỉnh.
Đường lối cứu nước của Phật giáo và của Thượng tọa Trí Quang
rất minh bạch, chủ trương chiến lược của ông thật là sáng suốt, tiếc thay
cuộc đấu tranh cho dân chủ của ông năm 1966 bị thất bại mà nguyên nhân trước
hết là vì tình hình nội bộ của phong trào đấu tranh:
- Tổ chức ô hợp.
- Tinh thần quá khích, cơ hội chủ nghĩa, đầu óc phiêu lưu của
nhóm tranh đấu trong “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” và sinh viên Huế.
- Hậu quả xáo trộn trong giai đoạn Một còn ám ảnh tinh thần
nhân dân và quân đội, do đó đưa đến sự thiếu thiện cảm và sự ủng hộ của nhân
dân đối với cuộc đấu tranh 1966 của Phật giáo.
- Tiềm lực đấu tranh chỉ thu hẹp trong thành phố Đà Nẵng và
Huế, làm cho cuộc tấn công của quân chính phủ được thực hiện dễ dàng.
- Tình hình chiến tranh sôi động, cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ
vào Việt Nam, quyết tâm ủng hộ các tướng Thiệu-Kỳ và quyết tâm leo thang
chiến tranh của Tổng thống Johnson gây tâm lý lạc quan cho các đảng phái và
các phần tử chống Cộng. Từ đó, họ nghi ngờ phong trào đấu tranh của Thượng
tọa Trí Quang là phong trào tay sai của Cộng Sản.
- Sự xâm nhập dĩ nhiên của các phần tử thân Cộng vào hàng ngũ
đấu tranh hầu chia rẽ, ly gián phe quốc gia, phá hoại phong trào đấu tranh
để gây phân hóa thêm cho quần chúng.
Nhớ lại trong chín năm cai trị của nhà Ngô, hơn nơi nào hết,
dân chúng miền Trung, đặc biệt là Phật tử và các đảng viên Việt Quốc và Đại
Việt là chứng nhân, nạn nhân, đối tượng đau khổ nhục nhã nhất của chính sách
tàn ác vô độ của lãnh chúa Ngô Đình Cẩn, của tập đoàn hung thần trong cơ
quan công an mật vụ, trong ban Công Tác Đặc Biệt miền Trung, trong trại Chín
Hầm; là chứng nhân, nạn nhân, đối tượng đau khổ nhục nhã nhất của nền kỳ thị
tôn giáo hiểm độc và trắng trợn của ông Ngô Đình Thục, Phạm Ngọc Chi và nhóm
Công Giáo Cần Lao; là chứng nhân, nạn nhân, đối tượng đau khổ nhục nhã nhất
của nạn bóc lột vơ vét, tham nhũng, nạn hối mại quyền thế của hai hai ông
Thục, Cẩn, và bộ hạ tay sai. Chín năm sống dưới chế độ Diệm, thân phận người
dân miền Trung chẳng khác nào bùn lầy, rác rơm, sâu bọ:
Trong nệm ấm kẻ bạo tàn đâu có biết
Bao thân người chui rúc dưới tanh hôi
Và nghe hồn khóc kể mãi không thôi...
Câu thơ của cô Ái Huyên, nữ sinh trường Đồng Khánh Huế, chỉ
mới lột tả một phần nào kiếp sống “Địa ngục Trần gian” của những người dân
thấp cổ bé miệng nơi quê hương vốn đã mùa Đông thiếu áo, mùa Hè thiếu cơm.
Nhớ lại như thế để thấy rằng càng bị áp bức khủng bố gay gắt
thì càng căm thù và phản ứng quyết liệt. Nhưng không phải vì thế mà những
người trong Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, gồm đại đa số trí thức mang danh
cách mạng, cứu quốc lại có thể manh động làm hỏng chủ trương cao đẹp của
mình và Phật giáo.
Những yếu tố trên đây đã làm cho Thượng tọa Trí Quang không
làm chủ được tình hình và không kiểm soát nổi hoạt động của cán bộ, của cộng
sự viên mà một số đã có sẵn hậu ý chính trị riêng tư.
Thêm vào đó, chủ trương triệt hạ không nương tay cuộc đấu
tranh Phật giáo của nhóm tướng lãnh cầm quyền với sự giúp đỡ của người Mỹ và
một số phần tử đảng phái phản động, đã đưa cuộc đấu tranh đến thất bại, tê
liệt hóa hoạt động của Thượng tọa Trí Quang trong niềm tiếc thương và uất
hận của Phật giáo đồ Việt Nam, đặc biệt là của khối Phật tử đông đảo miền
Trung.
Nhưng thời gian là vị thần công lý, thời gian lột trần những
bí ẩn để những bộ mặt phản bội, bất nhân phải đối diện với ánh sáng của sự
thật mà tôi muốn đưa ra đây vài dự kiện để chứng minh:
Nhân buổi nói chuyện về Ngày Quân Lực 19/6/1988 được tổ chức
tại Orlando (Florida), ông Nguyễn Cao Kỳ thú nhận đã bỏ ra 20 triệu bạc cho
Nguyễn Lương, một cán bộ Việt Quốc miền Trung để y tổ chức những vụ đánh phá
Phật giáo (tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc, Fresno California, số 30, ngày
15/9/1988). Tiền đâu mà Kỳ có nhiều đến thế! Ông Kỳ đã học sách lược của ông
Ngô Đình Nhu dùng thủ đoạn ngầm để đánh phá Phật giáo tạo hoang mang cho
đồng bào, những kẻ dễ tin, để hiểu lầm hành động đầy chính nghĩa của Phật
giáo.
Về mặt quân sự, nhóm Nguyễn Cao Kỳ đã mất hết lương tri khi
đối phó với đồng bào Phật tử như với kẻ thù Cộng Sản. Hãy đọc đoạn hồi ký “Những
Sự Thật Đau Lòng” của Phụng Hồng để thấy hành động tàn bạo của nhóm quân
phiệt chỉ biết vì danh lợi mà bất cần xương máu của nhân dân. Nhân chứng
Phụng Hồng viết rằng:
“Cuộc chiến cốt nhục giữa quân nhân Phật tử và quân nhân
phe Thiệu-Kỳ đã xảy ra khốc liệt tại Thành phố Đà Nẵng từ chiều ngày 16
tháng 6. Ông Kỳ đã đưa ra Đà Nẵng nhiều Tiểu đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục
Chiến gồm những quân nhân Công giáo để đàn áp quân nhân Phật tử theo Viện
Hóa Đạo Ấn Quang, thường dân bị lạc đạn và chiến sĩ đôi bên bị thương và
chết vô số kể...
“Một tuần sau đó, tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng ủy viên Chiến
tranh, ra thăm và ủy lạo “nạn nhân của mấy thầy” (danh từ ông nói khi xuống
máy bay Đà Nẵng). Mỉa mai thay, sau đây là mẩu đối thoại nhỏ mà tôi nghe
được để rồi xót xa trong lòng cho mãi đến ngày nay.
Đến một giường bệnh, ông Có hỏi một Trung sĩ Biệt Động Quân
đang bị băng mắt:
- Em bị thương tại chùa Tỉnh Hội do “đạn từ chùa” bắn ra
phải không?
- Dạ không, tôi bị thương tại Thạch Trụ
Ông Có chau mày một hồi rồi hỏi:
- Thạch Trụ ở đâu?
- Ở Quảng Ngãi. Tôi được nghỉ 29 ngày tái khám chưa lành
vết thương ở chân bị gãy thì nay lại bị thương ở đầu do đạn của Thủy Quân
Lục Chiến bắn vào chùa lạc sang nhà tôi.
Cả phái đoàn đi theo ông Có đều im lặng, kể cả ông Có.
Riêng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi lúc đó họ có biết hổ thẹn với lương tâm hay
không? Ba tháng sau xuất viện, ông Trung sĩ Liên đó bị thuyên chuyển đi Khe
Sanh.
Chao ôi! Ông làm Tổng trưởng Quốc Phòng mà không rõ địa
thế, không biết Thạch Trụ ở đâu. Lại khi hỏi người ta, ông luôn luôn chủ
quan hướng dẫn câu hỏi “từ trong bắn ra” nghĩa là do quân của mấy Thầy, mấy
Thượng Tọa quá khích (lời của ông Có) bắn từ trong Chùa. Ông đâu có biết
rằng quân nhân Phật tử lúc đó đã án binh bất động tại các chùa và đã rút lui
tản mác ra ngoài vì không muốn gây đổ máu với đồng đội vì họ biết ở trong
đám Dù, Thủy Quân Lục Chiến đó cũng còn chút máu mủ. Ông đâu có biết “quân ở
ngoài” đã bắn vào chùa làm hư hại và thương vong rất nhiều vì họ đã được ông
Kỳ hứa sẽ cho tiền thưởng khi dẹp xong “loạn Phật giáo miền Trung” (danh từ
báo chí hồi đó).
Phụng Hồng, tác giả đoạn Hồi ký trên đây (tạp chí Hồn Việt,
Xuân Kỷ Tỵ, 1989), là ông Tạ Thúc Phú, cựu Trung tá Bác sĩ Quân Y tại bệnh
viện Duy Tân (Đà Nẵng), nhân chứng bằng xương bằng thịt của biến cố “nồi da
xáo thịt” do nhóm Kỳ Thiệu gây ra, không phải là người của Ấn Quang, nên bài
kể trên đây chắc chắn là vô tư, không phe phái. Bài này cũng gián tiếp bác
bỏ luôn luận điệu xuyên tạc của linh mục Cao Văn Luận trong hồi ký Bên
Giòng Lịch Sử, khi ông cố tình vu khống Phật tử của Thượng tọa Trí Quang
phá hoại các làng Công giáo ở Đà Nẵng. Linh mục Cao Văn Luận viết rằng:
... Nhóm ông Tâm Châu thì ủng hộ chính phủ Quốc gia trong
khi nhóm ông Trí Quang thì hoàn toàn chống chính phủ Quốc gia và nhất là
chống Mỹ...
Tướng Nguyễn Chánh Thi thì hoàn toàn theo Thượng Tọa Trí
Quang. Cho nên vào thời kỳ ông Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Thủ tướng thì ở Huế,
tướng Nguyễn Chánh Thi đã gây ra chuyện các Phật tử vào phá các làng Công
giáo ở Đà Nẵng là những làng của dân di cư Công giáo từ Nghệ An và Hà Tĩnh
vào. Ở hai làng Thanh Bồ và Đức Lợi, nhóm Phật giáo đã vào đốt phá mà tướng
Nguyễn Chánh Thi cứ nhắm mắt làm ngơ. Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã phải đem quân
ra dẹp yên vụ đó và cách chức tướng Nguyễn Chánh Thi. Tướng Thi lìa bỏ Việt
Nam và sang Mỹ tạm trú. (“Bên Giòng Lịch Sử, Việt Nam 1940-1975”, Cao
Văn Luận, 1983, California, tr.331).
Những dự kiện ông Luận viết trên đây
nằm trong cả một chiến dịch xuyên tạc và có ác ý của khối Công giáo tại hải
ngoại, và đã bị phản bác nhiều lần trên báo chí, kể cả trên cuốn “Lột Mặt
Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị” của tác giả Lê Trọng Văn:
Tác giả họ Cao viết thêm đoạn văn kể trên không đúng với
thời điểm xảy ra sự việc. Vì vụ Tam Hòa, Thanh Bồ, Đức Lợi ở Đà Nẵng xảy ra
vào năm 1964, lúc đó ông Kỳ chưa làm Thủ tướng và lúc đó ông Thi mới được
lên Chuẩn tướng mấy ngày và đang là Tư lệnh Sư đoàn 1 tại Huế, nên ông Thi
không có trách nhiệm gì ở Đà Nẵng cả. Giai đoạn đó, Đà Nẵng thuộc quyền ông
Thị trưởng Đại tá Lê Quang Mỹ và ông Tư lệnh Quân đoàn là Thiếu tướng Tôn
Thất Xứng. Làm sao mà tác giả họ Cao lại có thể đoan quyết tướng Thi ở Huế
mà có thể gây ra chuyện các Phật tử vào phá hoại các làng Công giáo ở Đà
Nẵng và tướng Thi làm ngơ. Tướng Nguyễn Cao Kỳ lên làm Thủ tướng vào ngày
14/6/1965 (“Việc Từng Ngày”, Đoàn Thêm, tr.86).
Tác giả Cao Văn Luận viết lịch sử mà chỉ có một sự việc đã
lẫn lộn tới ba thời điểm khác nhau. Viết như vậy tác giả họ Cao chỉ với mục
đích vu oan giá họa cho người và lấy lòng những kẻ hoài Ngô ở hại ngoại nầy
thôi. (“Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”, Lê Trọng Văn, Hoa Kỳ,
năm 1991, tr.292-293).
Nhưng điều chua xót cho Phật giáo Việt Nam hơn cả trong vụ
đấu tranh miền Trung 1966 là việc Hòa thượng Tâm Châu đang là Viện Trưởng
Viện Hóa Đạo mà lại ủng hộ chính phủ Nguyễn Cao Kỳ. Ông hoàn toàn đi ngược
lại với đường lối chống quân phiệt và đòi dân chủ của đại khối Phật giáo đồ
gồm cả các nhà sư Bắc, Trung, Nam (với những nhà sư Bắc tên tuổi như Thích
Đức Nhuận, Thích Quảng Độ,...). Một lần nữa, thời gian lại cho ta biết một
bí ẩn lịch sử khác, đó là việc Hòa thượng Tâm Châu ủng hộ Nguyễn Cao Kỳ vì
có liên hệ qua hôn nhân. (“Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí”, Chánh
Đạo Vũ Ngự Chiêu, Houston, 1993, tr.499).
Chua xót hơn nữa cho hàng ngũ Phật tử là sau khi miền Nam rơi
vào tay Cộng Sản do chính nhóm quân phiệt Thiệu, Kỳ, Viên, Khiêm gây ra,
đáng lẽ làm thân lưu vong biệt xứ, Hòa thượng Tâm Châu nên ăn năm sám hối
thì ông lại viết thư đăng trên tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, tờ báo
chuyên đánh phá Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, để gán cho việc đem
bàn thờ Phật xuống đường trong cuộc đấu tranh 1966 là hành “hành động bất
lợi cho chính nghĩa quốc gia” (Văn Nghệ Tiền Phong, số 289, ngày
1/2/1989).
Luận điệu “chống Ấn Quang, bênh Nguyễn Cao Kỳ” của Hòa thượng
đã giúp ông cựu Thượng Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức, nhân vật coi Phật giáo,
Thượng tọa Trí Quang và phong trào Cần Vương, Văn Thân như kẻ thù (xem “Việt
Nam Chính Sử” của ông Chức) có tài liệu để ông ta gán cho cuộc đấu tranh
Phật giáo năm 1966 bằng lời lẽ xấc láo, độc địa không tưởng tượng nổi là “hành
động đại nghịch tặc, đại vô đạo và đại vô luân, mà chỉ bọn Cộng Sản vô thần
và tay sai mới dám làm. Và “họ” đã dám làm”. (“Việt Nam Chính Sử”,
tr.17). Cũng như ông Chức đã dựa vào luận điệu xuyên tạc của ký giả ngoại
quốc thân nhà Ngô để gọi những vụ tự thiêu dành quyền sống cho Phật giáo là
“Một tổ tự thiêu, cũng gọi là một ban tuyển mộ tự thiêu được thành lập,
để tuyển mộ ứng viên tự thiêu. Những ứng viên nầy bị tuyên truyền, bị lừa
bịp, bị tẩy não, bị nhồi sọ rồi bị xô vào lửa”. (“Việt Nam Chính Sử”,
tr.136).
Viết như thế, ông Chức đã không hiểu biết gì hết về vận động
dân chủ, lại càng không hiểu gì về đạo Phật cả. Trời lạnh Phật tử còn mang
tượng Phật ra đốt để sưởi ấm, Phật tử có thể nói “gặp Phật giết Phật, gặp Tổ
giết Tổ” thì sá gì cái bàn thờ bằng gỗ, cái lư hương bằng kim loại mà không
đem ra chắn lối xe quân phiệt độc tài. Tôi muốn hỏi thêm ông Chức việc tín
đồ Công giáo Việt Nam tại San Jose đem thánh giá xuống đường, có khi còn
nhảy lên bệ Chúa để la hét trong vụ đấu tranh chống Giám mục Dumaine mà
nhiều khi cảnh sát Mỹ phải đem đội quân khuyển đến để đối phó có là hành
động đại nghịch tặc, đại vô đạo, đại vô luân,... hay không?
Tuy nhiên, trong lúc ông cựu Luật sư Nguyễn Văn Chức gay gắt
lên án cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1966 thì cựu luật sư Võ Văn Quan, vị
luật sư đã từng biện hộ nhiều vụ án chính trị nổi tiếng như vụ án Chủ tịch
sinh viên Huế Nguyễn Hữu Giao, vụ án Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn (vụ miền Trung
1966) lại có cái nhìn về vụ đấu tranh của Phật giáo và Thượng Tọa Trí Quang
hoàn toàn trái ngược với cái nhìn của ông cựu Luật sư Chức. Một bài trong
Hồi Ký “Luật sư: Nghề hay Nghiệp” của luật sư Quan đăng trên tạp chí
Ngày Nay được tôi trích và ghi lại trong phần Phụ Lục tập sách này,
như một tài liệu lịch sử để độc giả thấy thái độ chính trị và phong thái kẻ
sĩ nơi con người Luật sư Quan, hoàn toàn khác biệt với lập trường và tư cách
của Luật sư Chức, một trí thức tín đồ Công giáo.
Ông Nguyễn Văn Chức, từ khi phải chạy ra nước ngoài đã không
tiếc lời đả kích tướng lãnh trên báo chí, đặc biệt là hai tướng Thiệu Kỳ,
những kẻ mà Thượng tọa Trí Quang, năm 1966, đòi phải rút lui khỏi chính trị
để thiết lập một chế độ dân chủ cho miền Nam, cũng bị ông Chức chưởi rủa.
Vậy thì tại sao ông Chức lại gán cho Thượng tọa Trí Quang đã có hành động
đại nghịch tặc, đại vô đạo, đại vô luân và vu khống cho Thượng tọa là Cộng
Sản.
-o0o-
Vào đầu tháng 6 năm 1966, cuộc đấu tranh của Thượng tọa Trí
Quang coi như bế tắc và thất bại, quân đội của chính phủ kiểm soát tình hình
Đà Nẵng và Huế. Hàng ngàn sinh viên, Phật tử, công chức và quân nhân bị bắt.
Thượng tọa Trí Quang bị “mời” vào Sài Gòn. Ông dự định tuyệt thực vô thời
hạn nhưng sau 100 ngày, Đức Tăng Thống ra lệnh phải chấm dứt. Ông trở về
chùa Ấn Quang, từ đó tu ẩn không có một hoạt động chính trị nào. Cho đến
cuối năm 1974, đầu năm 1975, khi miền Nam thực sự đứng trên bờ vực thẳm, khi
Nguyễn Văn Thiệu bất lực để cho Hoa Kỳ giải kết khỏi miền Nam qua Hiệp định
Paris 1973, khi quân đội Việt Nam Cọng Hòa các quân khu I, II, III đã hoàn
toàn bị động bỏ dần đất đai cho Cộng Sản tấn chiếm, Thượng tọa mới xuất hiện
lại để thành lập Lực lượng thứ ba với chủ trương Hòa hợp Hòa giải
Dân tộc.
Trở lại với cuộc đấu tranh đòi hỏi dân chủ của Phật giáo năm
1966, ta thấy một điều chua xót là quân phiệt đã không bị lật đổ mà còn được
củng cố qua việc tổ chức bầu cử các cơ cấu Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp, các
Hội đồng hàng Tỉnh, hàng Xã... Ngày 3 tháng 9 năm 1967, hai tướng Thiệu-Kỳ
đắc cử Tổng thống và Phó Tổng thống.
Điều trớ trêu là trước khi cùng đắc cử, hai tướng Thiệu và Kỳ
đã tranh chấp nhau quyết liệt để giành nhau làm ứng cử viên Tổng thống. Cuộc
tranh chấp tưởng đã gây ra đổ máu nếu không có Hoa Kỳ và tướng lãnh can
thiệp dàn xếp. Điều kiện để cho Nguyễn Cao Kỳ đồng ý thỏa hiệp với Thiệu là
một cộng sự viên của Kỳ phải làm Thủ tướng (ông Nguyễn Văn Lộc) trong lúc
Thiệu nắm trọn quyền lãnh đạo quốc gia và Tổng Tư lệnh Quân Đội. Khốn nỗi,
chức Thủ tướng chỉ là chức vụ bấp bênh vì do Tổng thống chỉ định cho nên chỉ
mấy tháng sau, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc bị giải nhiệm và Kỳ chẳng còn quyền
lực gì nữa ngoài chức Phó Tổng thống “ngồi chơi xơi nước” cho đến hết nhiệm
kỳ rồi bị Thiệu đẩy ra khỏi chính quyền vĩnh viễn. Ngay từ khi Thủ tướng Lộc
mất chức, Kỳ đã biết Thiệu lừa mình nên từ đó Kỳ đâm ra thù hằn tìm cách
chống phá Thiệu. Nhưng ông Thiệu đã có đa số tướng trẻ và toàn khối Công
giáo ủng hộ nên đành hành động chống phá của ông Kỳ chỉ còn là hành động
tuyệt vọng không mang lại kết quả nào cả.
Về cuộc bầu cử năm 1967, không cần phải là nhà tiên tri cũng
biết được liên danh Thiệu-Kỳ nhất định phải thắng. Họ đã thắng với 35% tổng
số phiếu cử tri đi bầu và tất nhiên số cử tri đó chỉ là cử tri quân đội,
công an, nhân dân tự vệ và khối Công giáo mà thôi, bởi vì Phật giáo thì đã
tẩy chay bầu cử, còn các thành phần quốc gia khác thì đã dồn phiếu cho các
nhân vật dân sự tên tuổi, đặc biệt là các ông Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương,
Trương Đình Du, Hà Thúc Ký...
Đến nhiệm kỳ thứ nhì năm 1971, lúc đầu còn có hai liên danh
Tổng thống của Dương Văn Minh và Nguyễn Cao Kỳ tranh cử, nhưng gần phút chót
hai liên danh này biết Thiệu sẽ tổ chức bầu cử gian lận nên rút lui. Thiệu
phải bày trò độc diễn làm trò cười cho quốc tế, làm mất niềm tin của chính
giới và nhân dân Hoa Kỳ, tăng thêm chính nghĩa cho các phong trào phản chiến
và đẩy Việt Nam Cọng Hòa vào thế cô lập suy yếu.
Cũng cần phải nói thêm rằng từ khi ông Kỳ đè bẹp được cuộc
đấu tranh của Phật giáo, ông đã quên những lời tuyên bố hứa hẹn cách mạng
cũ. Ông Kỳ với phe nhóm và chị ruột là bà Nguyễn Thị Lý thực hiện việc làm
giàu riêng tư qua các hành động tham nhũng, buôn lậu, hối mại quyền thế, và
đặc biệt là buôn thuốc phiện lậu. Sau Kỳ đến Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện
Khiêm, Đặng Văn Quang, Cao Văn Viên, và nhiều tướng lãnh khác nữa, tất cả đã
làm cho tệ trạng tham nhũng và buôn thuốc phiện lậu mang một kích thước vĩ
đại bao trùm cả nước, các Dân biểu Công giáo Cần Lao tay chân của ông Thiệu
cũng lợi dụng các vụ xuất ngoại để buôn lậu vàng, thuốc phiện, đô la. Trong
mười năm trời cầm quyền, nhóm quân phiệt và nhóm Công giáo Cần Lao tay chân
của ông Thiệu theo vết chân cũ của anh em nhà họ Ngô phá nát quốc gia về cả
mọi mặt: uy tín, kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Suy sụp đó của cấp
lãnh đạo Việt Nam đã là một trong những lý do chính làm cho Hoa Kỳ thay đổi
chính sách để dàn xếp bắt tay với Hà Nội, hầu giải kết khỏi vũng bùn Việt
Nam. Năm 1974, 1975 các phong trào chống đối chiến tranh, chống đối chính
quyền nổi lên trong lúc lực lượng hai triệu tín đồ Cao Đài giữ thế trung lập
giữa Việt Nam Cọng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Tổng kết một số hình ảnh đen tối trên đây để thấy cuộc đấu
tranh đòi hỏi dân chủ của Thượng toạ Trí Quang chống độc tài, chống quân
phiệt, chống sự phục hồi của Công giáo Cần Lao là hợp lý, là chính nghĩa. Cứ
nhìn vào việc Thiệu-Kỳ tranh chấp phá hoại nhau, cứ nhìn vào việc các tướng
tá truất phế lẫn nhau, cứ nhìn vào nền tham nhũng khủng khiếp của Thiệu-Kỳ
và các tướng lãnh, cứ nhìn vào việc chế độ quân phiệt không chống nổi Cộng
Sản, cứ nhìn vào việc toàn dân chống đối Nguyễn Văn Thiệu và đòi hỏi ông
Thiệu từ chức, cứ nghe lời tuyên bố của ông Thiệu “khi nào Mỹ không viện trợ
nữa thì tôi sẽ từ chức”, cứ nhìn vào tư cách của Thiệu, Khiêm, Viên bỏ quân
đội, bỏ nhân dân ra đi khi binh sĩ vẫn còn tiếp tục chiến đấu (1975), cứ
nhìn vào việc đại đa số người Công giáo ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu, cứ nhìn vào
cái hiệp ước bán nước 1973, thì ta đủ thấy chính nghĩa đấu tranh của Thượng
tọa Trí Quang năm 1966 sáng rực như mặt trời. Tôi cần nhắc lại lời tuyên bố
của Thượng tọa thời đó: “Hễ Cần Lao Công Giáo mà cầm quyền là đem chính
nghĩa lại cho Cộng Sản, hễ quân phiệt mà cầm quyền là làm tay sai cho ngoại
bang”.
Tuy nhiên, điều chua xót là trong lúc Thượng tọa Trí Quang
nắm vững chính lược và chiến lược, nhìn tương lai đất nước bằng cặp mắt sắc
bén thì Phật giáo lại bước vào thời Mạt-Pháp sau giai đoạn huy hoàng 1963.
Năm 1966, Thượng tọa Trí Quang vào chùa tu ẩn. Phong trào đấu
tranh bị dẹp tan là dấu hiệu suy nhược hoàn toàn của Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất. Sự chia rẽ thành hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang càng
làm cho hàng ngũ Phật tử hoang mang giao động, làm cho quốc dân mất niềm tin
vào lực lượng dân tộc đông đảo nhất của miền Nam Việt Nam. Thế rồi, trong
nhiệm kỳ I của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Phật giáo “Ấn Quang” tẩy chay tất cả các
cuộc bầu cử. Nếu cuộc tẩy chay đó là sai lầm chiến thuật trong cuộc trường
kỳ tranh đấu, trong một đất nước cần có tiếng nói đối lập của phe đa số, thì
trái lại thái độ tẩy chay vẫn dành cho Phật giáo cái uy tín là vẫn kiên
cường với lập trường “bất hợp tác” với chế độ quân phiệt. Ngoài ra, nếu “tẩy
chay” để sửa sai, để củng cố lại nội bộ, để đoàn ngũ hóa lại lực lượng Phật
tử làm thế đứng vững chắc cho Phật giáo trong những cuộc đấu tranh chính trị
tương lai, thì cuộc tẩy chay mới thật sự có ý nghĩa. Tiếc thay, sau nhiệm kỳ
của Một của các cơ cấu Thượng, Hạ viện, Hội đồng Tỉnh, Xã, đến nhiệm kỳ Hai,
một số nhà sư lại điều động những “con bài” của mình tham dự vào chính
trường mà điển hình là liên danh Hoa Sen do ông Vũ Văn Mẫu cầm đầu. Đến đây
thì Phật giáo Ấn Quang đã tự hạ mình ngang hàng với các đảng phái, các đoàn
thể nhỏ, tranh dành quần chúng với các đảng phái để giành giật các chức vụ
dân cử (đặc biệt với hai đảng Đại Việt và Việt Quốc tại miền Trung). Do đó,
thái độ bất hợp tác chính trị với chế độ Thiệu-Kỳ trước kia không còn ý
nghĩa cao đẹp ban đầu nữa mà chỉ còn được suy diễn như một thái độ giận lẫy
vô trách nhiệm không hơn không kém.
Sự “tham chánh” này, nếu muốn gọi nó là tham chánh, đã tạo ra
tinh thần hủ hóa cho nhiều nhà sư, nhiều cư sĩ, nhiều Phật tử. Nhiều nhà sư
còn nặng lòng trần đã tự biến thành lãnh tụ chính trị, nhiều Phật tử danh
lợi đã chạy theo chính quyền, nhiều cư sĩ manh động đã tự biến thành Phật tử
trá hàng, Phật tử cơ hội, nhiều chùa chiền đã biến thành trụ sở chính trị
nơi ban phát ân huệ, nơi mua bán danh lợi... Lịch sử Phật giáo gặp nhiều
thời kỳ Mạt-Pháp, nhưng chưa bao giờ mạt pháp vì “xôi thịt” như thời Mạt
pháp từ 1970-1971 trở đi, làm xót xa cho hàng triệu Phật tử thuần thành,
trung kiên mà lời than trách của ông Võ Văn Ái sau đây mô tả đầy đủ nỗi đau
lòng nhục nhã của những người Phật tử chân chính đó.
Trong “Lá thư ngỏ gởi người Phật tử Việt Nam”, ông Võ
Văn ái, một học giả quen thuộc của quần chúng Phật giáo, từng là biên tập
viên Nguyệt san Liên Hoa (cơ quan ngôn luận của giáo hội Tăng già tại
Huế) và là tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Nguyễn Trãi Sinh thức và Hành
Động”, chủ nhiệm nguyệt san Quê Mẹ tại Pháp, đã thẳng thắn lên án
thành phần Phật tử đã nói trên mà tôi xin trích lại đây vài đoạn ngắn để làm
dẫn chứng:
“Từ chính biến 1963 trở đi, hai hạng Phật tử mới xuất hiện
trong hàng ngũ Phật giáo của chúng ta. Một phần đến từ giới trí thức tỉnh
ngủ nhìn thấy như phao cứu, như một lý tưởng cứu nguy, họ nương mình cộng
tác. Trong số này, nhiều người đã tỏ ra ưu tư và chí thành, nhưng một phần
khác tỏ ra nông nỗi và manh động. Đối với họ, chỉ có hoạt động, hậu quả, kết
quả tức thì: họ bất chấp thực tại cùng những điều kiện tạo sự việc hay tâm
lý; thực cảnh khác với điều họ suy tưởng, thế nhưng họ vẫn chưa giác ngộ,
trầm chìm mãi trong mạnh động. Thực cảnh chứa đầy những gian dối, tráo trở,
hầm ngầm. Đối diện với một thực cảnh to quá tầm vóc của sự hiểu biết của họ,
họ giao động, họ nhảy từ núi này sang núi khác, thiếu căn bản tu học, không
được vũ trang tinh thần, không được thực chứng trong đời sống hằng nhật, họ
hốt hoảng đem những sở học nông cạn, phi Phật giáo, mà xã hội cũ đã tiêm
chích vào họ ra hành hoạt. Sự sa ngã thất bại của họ kéo theo sự khốn đốn
của tổ chức họ tham gia. Hạng Phật tử đó đến với một hậu ý chính trị.
Đường hướng Hòa bình và Hòa giải của đạo Phật đã bị những
Phật tử hoạt đầu, cơ hội và đầu lưỡi phá phách không ít. Chính hạng Phật tử
ngụy trang này đã bao vây một số các vị tăng sĩ. Chúng lợi dụng tấm lòng vị
tha không giới tuyến của các tăng sĩ để ly gián nội bộ Phật giáo, đồng thời
hướng các Thầy về những mục tiêu thời thượng. Có vị thì chúng đem sự giàu
sang, của cải, sung túc ra bủa vây, có vị thì chúng nêu lý tưởng dân tộc,
dân chủ, hòa bình, yêu nước,... làm bàn đạp đẩy các vị tăng sĩ vào quỹ đạo
của chúng.
Bản chất đạo Phật không chống kích ai, không chống kích chủ
nghĩa nào cả vì đạo Phật có con đường của đạo Phật nhưng không vì thế mà đạo
Phật bước vào con đường a dua giai đoạn. Các vị tăng sĩ tuy tâm đắc hướng
dẫn tâm linh nhưng không kinh nghiệm việc đời với thói thường xảo trá, giảo
hoạt nên đã hơn một lần ngoại nhân thành công trong chủ đích ly gián của
chúng. Sự kiện đã gây ra thiệt hại lớn: một là quần chúng mất tin tưởng, quý
vị tăng sĩ bất hòa ắt dư luận hoang mang. Quần chúng vốn chờ đợi ở giới lãnh
đạo tăng sĩ, ở một lực lượng tâm linh những gì khác hơn là sự tranh chấp
đảng phái hoành hành chính trường từ 30 năm nay. Hai là vì sự bao vây trên,
các vị tăng sĩ bỏ rơi những Phật tử nồng cốt, trung kiên.
Biết bao người Phật tử trung kiên âm thầm nhìn cảnh những
con rối diễn trò trên khung cảnh của chùa viện và tiếc nuối thời cơ bị bỏ
rơi như nước tuôn qua kẽ tay. Biết bao người Phật tử trung kiên chỉ còn biết
âm thầm nhìn Phật mà ngậm ngùi hay nhìn cảnh bọn hoạt đầu “Thầy, Thầy, Con,
Con” trong vài giờ là đủ biến tâm tư một số quý Thầy lay động.
Dư luận nhìn thấy trên phông cảnh tăng sĩ chống tăng sĩ
nhưng kỳ thực ở hậu trường và từ bản chất từng phân khối Phật tử hoạt đầu
chống nhau, từng phân khối chính trị chống nhau, từng phân khối thủ lợi
tranh nhau... Chúng trá hàng để lũng đoạn Phật giáo, chúng phân tổ chức
thành từng khu chiến lược, chúng thúc chúng ta sỉ vả nhau, khiến chúng ta
“quên mất” yếu tố cứu độ quần sanh của mình”
[16].
Thật ra, trước ông Võ Văn Ái, năm 1973, nghĩa là 10 năm sau
cuộc cách mạng 1-1-1963, tôi cũng đã có một lá thư tương tự gởi riêng cho
Hòa Thượng Trí Thủ, bấy giờ là Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và Thượng tọa Thích
Đức Nhuận, Tổng thư ký Viện Tăng thống với mục đích nhỏ bé là giải tỏa mọi
ẩn ức của mình trước thời cuộc, một thời cuộc mà đáng lẽ Phật giáo đã đóng
được vai trò chỉ đạo trong công cuộc cứu nước từ sau biến cố 1963, một biến
cố mà tôi có nhiều công lao đóng góp chấm dứt được chế độ kềm kẹp của Ngô
triều.
Đành rằng tôi không phải là một Phật tử quy y, tôi cũng từ
chối không chịu đứng vào liên danh Hoa Sen mà các ông Nghị sĩ Trần Quang
Thuận và Nguyễn Duy Tài đều biết rõ (hai ông này hiện sống ở ngoại quốc).
Tôi cũng không tham dự vào các cuộc đấu tranh từ 1964 đến 1966 của Phật giáo
và cũng biết rằng sau mọi chế độ độc tài nhất là thứ độc tài gia đình trị,
Công giáo trị của nhà Ngô, thì khoảng trống chính trị cho quốc gia phải xảy
ra, xáo trộn xã hội phải xảy ra, nhưng với tinh thần “thất phu hữu trách” và
là người sùng mộ đạo Phật, tôi viết lá thư gởi đến các bậc chân tu là chỉ để
nói lên mối ưu tư của mình trước thời cuộc, trước cơn Mạt Pháp của đạo Phật,
một nền đạo mà tôi ngưỡng mộ cung kính, một nền đạo mà tôi tự hào với triết
lý cao thâm hơn tất cả các triết lý khác của nhân loại, một nền đạo đã có
công lao sự nghiệp to lớn trong việc cứu nước dựng nước, một nền đạo đã tô
điểm vàng son cho lịch sử dân tộc nước nhà, một nền đạo mà chưa một lần rước
voi về dày mả tổ, mà suốt dòng lịch sử nước nhà chưa một lần làm tay sai cho
ngoại bang.
Không ngờ Thượng tọa Thích Đức Nhuận có lẽ cảm thông với nỗi
lo âu của tôi, đã giao lá thư Mười năm Vật vã của Phật tử Việt Nam
cho các anh Lý Đại Nguyên và Hà Thế Ruyệt (Hà Thế Ruyệt hiện ở hải ngoại)
đăng tải lên mặt báo Sóng Thần. Do đó Hòa Thượng Trí Thủ cũng công
khai trả lời tôi trên mặt báo ấy với lời lẽ hòa ái của một bậc cao tăng.
Ngài công nhận Phật giáo đang trải qua một cơn Mạt Pháp mà theo Ngài cơn Mạt
Pháp ấy không phải chỉ do Cộng Sản, do kẻ ngoại nhân ngoại đạo gây nên, mà
còn do những con nội trùng trong thân thể sư tử làm đau đớn chính con sư tử
ấy.
Trái với thiện tâm thiện ý của bậc chân tu, tờ nhật báo
Công Luận do ông Minh Tâm (tức Lê Tuyên, người đã từng là một cấp lãnh
đạo trong “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”) làm chủ biên đã liên tiếp trong 10
ngày đả kích tôi thậm tệ, đem đời tư tôi ra mà phê phán mặc dù họ chỉ biết
đời tư tôi rất mù mờ... Họ hỏi tôi đã có công nghiệp gì cho Phật giáo, cho
Giáo hội mà giám chê bai Phật tử, trí thức, và dám trách móc các Thầy.
Lý Đại Nguyên và Hà Thế Ruyệt đề nghị tôi trả lời nhưng tôi
từ chối vì lý do giản dị là trong lúc tôi nói chuyện đại sự quốc gia, bàn về
thăng trầm của Phật giáo thì nhóm Công Luận lại nói về đời tư của tôi. Hai
thái độ, hai cung cách xử sự tự nó đã là một sự giải thích rồi, huống chi
nếu trả lời thì tôi buộc lòng phải phơi bày đời tư của ông Lê Tuyên ra, kể
cả những lời khai của ông trong nha An Ninh Quân Đội thời Thiếu tướng Vũ Đức
Nhuận, mà cộng sự viên của tôi đã cho tôi một xấp hồ sơ đầy đủ. (Ông Lê
Tuyên bị bắt sau biến cố 1966).
Viết lại câu chuyện trên đây tôi không cố ý khơi lại chút tro
tàn mà chỉ ghi lại chút kỷ niệm để bổ túc cho những nhận định của ông Võ Văn
Ái trong lá thư ngỏ đầy tâm huyết của ông gởi cho hàng Phật tử như đã nói
trên kia. Lại nữa ngày nay, khi đã cùng sống kiếp lưu vong nơi đất khách quê
người thì kẻ trí thức như ông Lê Tuyên hay người võ biền như tôi đều đau xót
đều nhục nhã như nhau, đều tiếc nuối cho Phật giáo đã bỏ rơi một cơ hội, một
cơ hội mà Phật giáo có thể cứu vãn miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản.
Nếu tôi có muốn nói thì nói đến những trí thức, những cây bút
sắc bén của tờ Lập Trường, cơ quan ngôn luận của nhóm Cứu Quốc tại
Huế độ nào. Những bài báo nẩy lửa của họ thật sự đã gây xúc động cho thanh
niên sinh viên dấn thân bào cuộc đấu tranh cách mạng. Tiếc thay, họ không có
ý thức chính trị, không nắm vững tình hình thời cuộc, không xây dựng nổi một
tổ chức đấu tranh, cho nên họ đã xuất hiện như những chàng hiệp sĩ nhưng khi
rút về thì hiện nguyên hình thành những nho sinh mặt trắng mà thôi.
Ông bà ta xưa quả đã là khôn ngoan khi dạy chúng ta rằng
chiếc áo không làm nổi thầy tu. Hoạt cảnh 30 năm ly loạn cho phép ta nói
thêm “mảnh bằng cấp không làm nên người trí thức”. Thật thế, chiếc áo chùng
đen chỉ tạo cho ông Ngô Đình Thục thêm tham, sân, si như Jean Lacouture, như
Hilaire du Berrier đã mô tả trong tác phẩm của họ. Mảnh bằng của trường
Chartres chỉ giúp ông Ngô Đình Nhu trở thành một chính khách xa lông với
những lý thuyết mơ hồ rỗng tuếch, và “chỉ có tài làm trùm mật vụ để tiêu
diệt đảng phái, tôn giáo đối lập, dò xét kiểm soát gắt gao công chức và quân
nhân”. Đã có lớp trí thức như vậy thì đừng trách tướng lãnh như Khánh,
Thiệu, Kỳ, Khiêm, Quang, Viên khinh thị trí thức và nắm lấy quyền hành lãnh
đạo quốc gia.
-o0o-
Đau đớn nhìn lại lịch sử, tôi không khỏi không cảm phục
Thượng tọa Trí Quang, một nhà sư mang tâm chất của con người “trước khi là
nhà sư là một người Việt Nam trước đã, một người Việt Nam chỉ biết yêu
thương quê hương”. Một người đã không lật ngược được thế cờ mà còn bị cuốn
hút vào cơn lốc chính trị để trở thành con người thất chí, và cuối cùng đã
trở thành một “tù nhân” của Cộng Sản sau khi đã là tội nhân của Thực dân
Pháp, của chế độ Diệm, chế độ Thiệu-Kỳ... Đã thế, sau khi mất miền Nam, báo
chí Cần Lao Công Giáo tại hải ngoại còn xuyên tạc, vu khống ông đủ điều, đặc
biệt đã trắng trợn gọi ông là cán bộ Cộng Sản nằm vùng (xem “Trong Lòng
Địch” của Trần Trung Quân). Cuộc chiến tranh Quốc-Cộng 30 năm là một
cuộc chiến vô cùng phức tạp mà vũ khí tối tân, binh lực hùng hậu của Pháp,
Mỹ, Việt đều phải chịu thất bại trước chủ trương địch vận, binh vận, trí
thức vận, tôn giáo vận... của kẻ thù.
Ngay cả dưới chế độ Diệm cũng như chế độ Thiệu, không thiếu
gì những cán bộ nằm vùng ngay trong hàng ngũ chính quyền, quân đội để phá
nát hàng ngũ quốc gia như chính ông Cao Thế Dung, một trí thức Công giáo, đã
tự thú dưới loạt bài “Những bài học xương máu về họa phân hóa chia rẽ”
mà tôi đã nhắc lại trong chương “Tệ Trạng Tham Nhũng”
[17]. Dưới chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, với
những cán bộ cao cấp Cộng Sản như Phạm Ngọc Thảo, Hoàng Trọng Bá, Tạ Kim
Điền, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Đinh Hòe, Lê Hữu Thúy,... nằm
trong não bộ cơ quan tình báo dinh Độc Lập và được Linh mục Hoàng Quỳnh
trọng vọng, được ông Ngô Đình Nhu, rồi ông Nguyễn Văn Thiệu trọng dụng, hoàn
toàn tin cẩn, coi như anh em ruột thịt,... như trường hợp Vũ Ngọc Nhạ, một
gián điệp khét tiếng Hà Nội gởi vào hoạt động tại miền Nam... thì tôn giáo
và đảng phái làm sao lại không có cán bộ Cộng Sản lọt vào.
Phạm Ngọc Thảo là một trường hợp rõ ràng nhất: Thảo là một sĩ
quan tình báo cao cấp của Hà Nội
“... do sự đồng ý của Cục Trung Ương Tình Báo Hà Nội, Thảo
đã đến trình bày với cha Thục là Thảo có khả năng bình định tỉnh Bến Tre.
Cha Thục liền đề nghị lên Tổng thống Diệm thăng Thiếu tá và bổ nhiệm Thảo
làm Tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bến Tre... Vì
thân sinh Tổng thống Diệm mất sớm, người anh cả Ngô Đình Khôi cũng vậy, nên
chỉ còn Cha Thục được coi là quyền huynh thế phụ. Hơn nữa đây là một gia
đình ngoan đạo, nên mọi người đều coi Cha Thục là bề trên. Vì vậy, khi Thảo
được cha Thục tin cậy đề bạt thì Tổng thống Diệm đương nhiên chấp thuận, mặc
dầu khi Thảo được đề cử giữ chức vụ trên thì Nha An Ninh Quân Đội (khi đó do
Đại tá Đỗ Mậu làm Giám Đốc) đã làm phiếu trình lên Tổng thống với ý kiến
không chấp thuận vì lý lịch Thảo rất đáng nghi ngờ. (“Đại tá Phạm Ngọc
Thảo, Điệp viên Nội tuyến Cộng Sản”, bài viết của cựu Thiếu tá An Ninh
Quân Đội Trần Ngọc Giang, Phụ Nữ Diễn Đàn, số 112, tháng 5/93).
Nói ra như vậy để thấy trong hàng ngũ Phật giáo cũng không
thể tránh khỏi những phần tử thân Cộng hay những cán bộ Cộng Sản len lỏi vào
để lũng đoạn mà Thượng tọa Trí Quang cũng như các cấp lãnh đạo khác không
thể biết được.
Trong hàng ngũ đấu tranh Phật giáo, trước hết có các ông Lê
Khắc Quyến, chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là một phần tử thân Kháng
chiến mà nhiều người ở Huế biết rõ. Nhưng từ khi ông Diệm lên cầm quyền thì
bác sĩ Lê Khắc Quyến lại được nhà Ngô trọng dụng, mời làm thầy thuốc riêng
cho thân mẫu của Tổng thống. Ông Quyến ra vào dinh Phủ Cam hàng ngày như ra
vào nhà riêng của ông ta, lại được nhà Ngô mời dạy tại viện đại học Huế rồi
cất nhắc lên làm Khoa trưởng Y Khoa. Ông Lê Văn Hảo, một trí thức từng hoạt
động cho Hội Liên Hiệp Việt Kiều của Cộng Sản tại Pháp lại cũng được Linh
mục Cao Văn Luận và nhà Ngô trọng dụng cho dạy tại đại học Huế, cho chỉ huy
văn khố và thư viện của nhà trường. Thế là chính nhà Ngô đã hợp thức hóa “tư
cách quốc gia” của họ. Chính nhà Ngô đã cho họ cái uy thế và điều kiện để họ
có thể nắm lấy lực lượng sinh viên. Chính nhà Ngô đã chắp cánh cho họ bay,
đã tạo nanh vuốt cho họ cắn phá thì còn trách ai, xuyên tạc ai. Ngoài hai
nhân vật trên đây còn có anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan,
những sinh viên thân Cộng đã đốt Tòa lãnh sự Hoa Kỳ, việc mà Thượng tọa Trí
Quang vô cùng tức giận. Rất nhiều sinh viên và Phật tử Huế biết rõ thái độ
giận dữ của Thượng tọa Trí Quang khi ông nghe tin cơ sở của Hoa Kỳ bị đốt
cháy mà ông chỉ tưởng là việc làm xuẩn động của nhóm sinh viên quá khích,
bởi vì gia đình Hoàng Phủ chưa bao giờ bị các cơ quan Công an, Mật vụ, của
các chính quyền điều tra, đòi hỏi, bắt bớ,... Do đó, việc tấn công vào trụ
sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hội An trong biến cố 1966 cũng chỉ có thể
là do bàn tay li gián phá hoại của Cộng Sản mà Thượng tọa Trí Quang cũng như
sinh viên Phật tử miền Trung không tài nào biết được.
Trong vụ biến động miền Trung năm 1966, cục An ninh Quân
Đội trực tiếp điều tra về nội vụ, mục tiêu của cơ quan điều tra là cấp thời
tạm giữ toàn thể những nhân vật đầu não đấu tranh như Thượng Tọa Trí Quang,
Thiện Minh và một số Thượng Tọa khác...
Cuộc điều tra kéo dài trên năm tháng, xuyên qua ba giai
đoạn:
a. Sưu tra văn khố Sở Công An Trung kỳ của Pháp để lại, hồ
sơ tại Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, hồ sơ tại Cục ANQĐ về cá nhân của Thượng
Tọa Trí Quang và một số nhân vật khác.
b. Thâu thập tập trung tất cả tin tức của các nguồn tin có
giá trị cao, kể cả những tin tức của gián điệp nhị trùng hoạt động cho cả ta
và địch.
c. Thẩm vấn, đối chất trực tiếp các nghi can.
Kết quả cuộc điều tra sâu rộng và thật vô tư cho thấy không
có một bằng chứng nào khả dĩ phát hiện Thượng Tọa Trí Quang và một số Thượng
Tọa khác có hoạt động cho Cộng Sản hoặc là cán bộ Cộng Sản. (“Thượng Tọa
Thích Trí Quang, Quốc Gia hay Cộng Sản?”, bài viết của cựu Thiếu tá Cục
An Ninh Quân Đội Trần Ngọc Giang, tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn số 112, tháng
5/93).
Ngoài ra, khi báo chí Công Giáo Cần Lao tại hải ngoại (sau
1975) xuyên tạc Thượng tọa Trí Quang là Cộng Sản, họ lại cố tình im lặng
không kết tội Nguyễn Văn Thiệu (chế độ Diệm không Diệm) đã không dứt khoát
triệt hạ nhóm bà Ngô Bá Thành, nhóm ni sư Huỳnh Liên, nhóm các linh mục phản
chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ... hoành hành ngay tại thủ đô
Sài Gòn, làm lợi cho Cộng Sản. Xin lưu ý rằng nhóm ni sư Huỳnh Liên tại Việt
Nam cũng như nhóm ni sư Mạn Đà La và nhà sư Thích Thiện Châu tại Pháp không
thuộc vào hệ thống lãnh đạo của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất.
Không cần phải là người có ý thức chính trị cao, không cần
phải là nhà tình báo đại tài cũng biết được rằng Phật giáo Việt Nam là tôn
giáo không chấp nhận Cộng sản, khác với kiểu chống Cộng của Công Giáo Cần
Lao, của Marcos, của Somoza,...
Làm sao phong trào tranh đấu của Phật giáo tại Huế cũng như
tại Sài Gòn có thể là Cộng Sản được khi mà trong Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc,
khi mà trong giới lãnh tụ sinh viên đều là những phần tử chống Cộng như Tôn
Thất Hanh, Mai Văn Lễ, Hoàng Văn Giàu, Lê Tuyên, Vĩnh Lữ, Vĩnh Kha, Phan
Quang Tuệ, Nguyễn Đông Giao, Vĩnh Hồ, Bạch Hoa Mai, Võ Văn Khiết, Lê Hữu
Bôi,... và tại Sài Gòn như Tôn Thất Tuệ, Nguyễn Hữu Doãn, Nguyễn Trọng
Nho,... Sau này, khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, kẻ thì phải cấp tốc trốn
ra nước ngoài, kẻ thì bị nhốt vào trại cải tạo, có người sau mười năm lưu
đày mà vẫn chưa được thả về. Gán cho Thượng tọa Trí Qung cũng như phong trào
đấu tranh Phật giáo là Cộng Sản chẳng những là hành động “ngậm máu phun
người” mà còn là việc làm hạ nhục hàng triệu Phật tử Việt Nam vốn biết rõ
lập trường dân tộc của Thượng tọa, biết rất rõ cuộc sống và đường đi nước
bước của Thượng tọa. Xuyên tạc cuộc đấu tranh của Thượng tọa Trí Quang là
Cộng Sản còn là việc làm bôi nhọ lịch sử dân tộc và sự nghiệp cứu nước, dựng
nước của Phật giáo.
Lại bảo rằng vì Phật giáo đấu tranh làm xáo trộn xã hội là
làm lợi cho Cộng Sản, vậy tại sao không hỏi vì ai, vì đâu mà Phật giáo và
sinh viên phải xuống đường, phải xương rơi máu đổ. Nhóm Công Giáo Cần Lao
trách Phật tử đấu tranh mà không nhớ đến “cây gươm tinh thần” của thánh Phao
Lồ đã biến thành “cây gươm nhuộm máu”. Trách họ đấu tranh có khác nào trách
Chúa Giê Su đã chịu đóng đinh trên thập tự giá, trách Jeanne d’Arc đã phải
bước lên giàn hỏa thiêu cho hoa Thiên Chúa giáo được bảo tồn. Và tại Ái Nhĩ
Lan, Công giáo bị chính phủ Anh và dân Tin Lành kỳ thị đàn áp, có ai dám gán
cho Công giáo Ái Nhĩ Lan là Cộng Sản không?
Tuy nhiên vẫn có những nhân vật tên tuổi mang hậu ý riêng tư
viết sách xuyên tạc Thượng tọa Trí Quang là Cộng Sản. Từ sau 1975, ra nước
ngoài, dựa vào những cuốn sách đó, nhóm Cần Lao Công Giáo viết sách viết báo
xuyên tạc cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chế độ nhà Ngô là do Cộng Sản
giật dây, hay là có Cộng Sản đứng trong bóng tối. Những kẻ đó là Cựu Hoàng
Bảo Đại, cựu Tổng thống Richard Nixon, nữ tiến sĩ Ellen Hammer và nữ ký giả
Margueritte mà tôi sẽ lần lượt phân tách dưới đây những sai lầm gian dối
trong các tác phẩm của họ.
* Ông Bảo Đại
viết rằng:
Người ta đã nói về những cuộc hy sinh của tăng sĩ. Nhưng
vấn đề tăng sĩ là một vấn đề giả tạo. Phần đông các tăng sĩ chân chính đã
trở về chùa. Vậy thì những kẻ gây rối đó là ai và họ từ đâu đến? Làm sao mà
biết rằng họ không đến từ Hà Nội hay Bắc Kinh? Họ không như các linh mục bên
Công giáo mà người ta có thể truy tầm gốc gác vì các linh mục được biết rõ
và có danh tánh ghi trong sổ bộ. (“Le Dragon d’Annam”, Plon, tr.349,
350).
Đoạn văn trên đây muốn ám chỉ nhà sư “gây rồi đến từ Hà Nội
hay Bắc Kinh” là Thượng tọa Trí Quang, người nổi tiếng lãnh đạo các phong
trào đấu tranh của Phật giáo mà tên tuổi đã vang lừng khắp thế giới. Đoạn
văn đã để lộ sơ hở chứng tỏ người viết không nắm vững thời cuộc Việt Nam,
cũng như không nắm vững cuộc đời và hành hoạt của Thượng tọa. Vì lẽ dĩ nhiên
Thượng tọa Trí Quang không “đến từ Hà Nội hay Bắc Kinh”, trái lại ông thường
có mặt tại Huế, tại miền Trung và dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ông thường lui
tới với Ngô Đình Cẩn. Dù sao thì đoạn văn trên cũng đã để lộ thái độ chống
đối Phật giáo Việt Nam của Cựu Hoàng Bảo Đại mà ta cần tìm ra nguyên nhân
nào đã thúc đẩy ông viết những điều đáng tiếc đó.
Mới 8 tuổi đầu, cậu bé Bảo Đại đã xa lìa tổ Quốc qua Tây du
học, lại được nuôi dưỡng dạy dỗ bởi vợ chồng viên Khâm sứ hồi hưu tên là
Jean Charles, một tên thực dân nổi tiếng. Thời làm Công sứ, Charles đã đánh
phá Phong trào Duy Tân ở Quảng Nam. Thời làm Khâm sứ Trung kỳ, y đã quyết
định hạ bệ vua Duy Tân và đày hai cha con Duy Tân ra khỏi Việt Nam. Lại nên
nhớ rằng Khải Định (cha Bảo Đại) nhờ vậy đã được lên ngôi sau khi Duy Tân bị
đi đày.
Suốt 12 năm trời sống tại Pháp, nhân cách và tư duy của chàng
thanh niên Bảo Đại đã bị điều kiện hóa trong cuộc sống văn minh vật chất Tây
phương giữa một quốc gia ngoan đạo với những ngôi giáo đường, những tòa
chủng viện nguy nga lộng lẫy, giữa những lâu đài, kiến trúc, kỷ niệm huy
hoàng của những triều đại vua chúa toàn là tín đồ Thiên Chúa giáo. Ông cũng
đã thành nhân giữa một xã hội mà Cha, Cố, Bà Xơ, Thầy Dòng là một giai tầng
có thế lực khiến các đảng phái chính trị và cả các chính quyền phải kiêng
nể. Đầu óc ngây thơ lại được tắm gội lâu ngày trong một môi trường Thiên
Chúa giáo, Bảo Đại như được đẩy vào cái thế chỉ biết hướng về niềm tin Thiên
Chúa giáo. Cho nên khi về nước, Bảo Đại đã cãi lời mẹ, cãi lại truyền thống
nhà Nguyễn, cãi lại Hội đồng Hoàng tộc để chỉ còn nghe theo thực dân mà cưới
một người nữ tín đồ đạo Ki Tô làm vợ.
Vì Thị Lan có đạo Ki Tô, gây nhiều trở ngại. Ngô Đình Thục
cực lực chống đối, vì theo đúng phép đạo Ki Tô, Bảo Đại phải “rửa tội” rồi
mới được thành hôn. Sau đó, Pháp dàn xếp cho một giáo sĩ ngoại quốc bí mật
làm lễ cưới theo phép đạo. Như thế, Bảo Đại trở thành vua Ki Tô giáo đầu
tiên trong lịch sử Việt Nam. (“Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí”,
Chánh Đạo Vũ Ngự Chiêu, sđd, tr.36-37).
Cuộc hôn nhân dị giáo đã kết thúc một cách mỹ mãn vì Giáo Hội
La Mã có thêm một tín đồ mới, lúc bấy giờ vợ chồng cựu Khâm sứ Charles mới
về Pháp như Bảo Đại đã khoe khoang trong cuốn Hồi ký của ông ta. (Le soir du
marriage, nous invitons Mr. et Mme Charles à diner. Estimant leur mission
accomplie, ils vont partir pour la France). Điều này một lần nữa chứng tỏ
thực dân Pháp nhất định biến Bảo Đại thành ra một tín đồ Công giáo. Và đó là
một “mission” (công tác) chính trị mà lễ hôn phối của Công giáo là
một công cụ chính trị mà thôi.
Như vua Bảo Đại đã thú nhận, ông thường liên lạc với Khâm
mạng Tòa thánh La Mã mà không hề một lần nào tiếp xúc với các nhà sư dù mẹ
là một Phật tử thuần thành, dù các vua chúa tiền triều có công dựng chùa đúc
chuông. Vua cha là Khải Định cũng có xây dựng một ngôi chùa ở ngoại thành để
lui tới cầu kinh gõ mõ nhưng Bảo Đại không bao giờ thăm viếng ngôi chùa này.
Đọc chương “Conservateur des Rites” (Bảo tồn nghi lễ) từ trang 62 đến trang
68 trong cuốn “Le Dragon d’Annam” ta thấy Bảo Đại hoàn toàn xa lìa
đạo Phật. Cũng vì mặc cảm đó, ông đã mượn Khổng giáo để biện hộ cho tư cách
tín đồ Công giáo của mình. (A tel point qu’un moine catholique d’origine
orientale a pu recemment affirmé: “Je suis catholique parce que confucéen”).
Nhưng ông Bảo Đại không lừa được ai vì quan niệm vũ trụ giữa Khổng giáo và
Thiên Chúa giáo hoàn toàn đối nghịch. Thượng đế của Khổng giáo là sự kết hợp
linh khí của Âm Dương, trong lúc Thượng Đế của Thiên Chúa là một Thần Linh
toàn năng ngồi ở đâu đó trên Thiên đàng và quyết định số mạng của muôn loài
muôn vật. (?!)
Bây giờ thì ta biết tại sao ông Bảo Đại không có cảm tình với
Phật giáo và đưa ra những lời lẽ hồ đồ, vô căn cứ, vô trách nhiệm để chỉ
trích cuộc đấu tranh của Phật giáo và sự hy sinh của các tăng sĩ. Và bây giờ
ta cũng có thể hiểu vì sao khi mới giữ chức Quốc trưởng năm 1949, vị đại sứ
đầu tiên được vua Bảo Đại đề cử là Đại sứ Việt Nam bên cạnh Tòa thánh
Vatican, cũng như vì sao vua Bảo Đại đã đồng ý với Phủ Toàn Quyền Pháp cho
ra đời dụ số 10 đặt Phật giáo ngang hàng với các hiệp hội trong khi Công
giáo thì không bị ràng buộc bởi một quy chế nào. Đạo dụ này đã bị Phật giáo
lên án nên đã làm cho Bảo Đại buồn phiền và căm giận.
Lại cho rằng tăng sĩ Phật giáo không có sổ bộ nên không được
kiểm soát đàng hoàng như các linh mục bên Công giáo, Bảo Đại đã không biết
gì đến công cuộc chấn hưng, phát triển, cải tiến của Phật giáo từ năm 1929,
đặc biệt là tại miền Trung từ khi có Tổng Hội Phật giáo. Lại càng không biết
rằng trong hàng ngũ Công giáo có nhiều linh mục, giám mục dù biết được “gốc
gác và có tên trong sổ bộ” nhưng vẫn hoạt động cho Cộng Sản; không biết rằng
Giáo Hoàng Paul VI và nhiều Hồng y, Giám mục, Linh mục dưới triều đại của
ông là những tay sai đắc lực của Nga Xô và Trung cộng như cuốn “Times and
Life of Frances Cardinal Spellman” đã mô tả. Viết như thế, Bảo Đại cũng
không biết rằng vào thời điểm này, tuy các linh mục, giám mục được kiểm soát
gắt gao nhưng số linh mục, giám mục lấy vợ, hiếp dâm, thâm lạm tiền bạc, dụ
dỗ nữ tín đồ vào đường tội lỗi, chạy theo phong trào “đồng tính luyến ái”
mỗi ngày một nhiều đến nỗi Tòa thánh La Mã cũng vô phương kiểm soát.
Tuy nhiên, vấn đề cần phải được đặt ra là có thật ông Bảo Đại
đã viết cuốn “Le Dragon d’Annam” hay không? Những bí ẩn được tiết lộ
sau khi cuốn “Le Dragon d’Annam” ra đời độ một năm cho biết chính một
cựu tướng lãnh Pháp soạn cho ông cuốn Hồi ký rồi vua Bảo Đại đưa cho một
người khác viết lại, tạo ra một cuộc kiện tụng về tác quyền. (“Việt Nam
Niên Biểu Nhân Vật Chí”, sđd, tr. 47 và xem thêm cuốn “Lột mặt nạ
những con thò lò chính trị” của Lê Trọng Văn, đoạn viết về ông Nguyễn
Văn Chức).
Một khi mà Hồi ký Bảo Đại do người Pháp viết thì chuyện thù
hận đối với Phật giáo không làm sao tránh khỏi. Người Pháp quên sao được
việc Phật giáo chống ông Diệm đã đưa đến việc lật đổ chế độ làm hỏng kế
hoạch thống nhất hai miền Nam Bắc có lợi cho nước Pháp của Tổng thống De
Gaulle (xin xem lại chương “Từ đồng minh với Mỹ đến thỏa hiệp với Cộng
Sản”).
* Nhân vật thứ hai xuyên tạc Phật giáo và Thượng tọa Trí
Quang là cựu Tổng thống Richard Nixon. Trong cuốn “No More Vietnam”,
ông nhận định rằng dưới thời Ngô Đình Diệm không có chánh sách đàn áp hoặc
kỳ thị Phật giáo!
Cuốn sách này, cũng như luận điểm đó, sẽ được tôi phân tách
và trả lời rốt ráo trong phần Kết Luận (chương 20) để vạch rõ tâm thức và ý
đồ gian hiểm của tác giả. Ở đây, tôi chỉ muốn trình bày con người Nixon mà
tên tuổi đã bị lịch sử và dân tộc Mỹ đồng hóa với sự gian dối xão quyệt.
Cũng gian trá và vô sỉ như Marguerite Higgins (xem tuần báo
Parade Magazine, ngày 28-12-1986) chuyên xuyên tạc lịch sử để bênh vực nhà
Ngô, Richard Nixon là loại chính khách xảo quyệt mà nghị sĩ Cộng Hòa Barry
Goldwater, tiểu bang Arizona đã tố cáo:
“Đời tôi chưa hề gặp một người nào hết sức gian trá như ông
ta. Tổng thống Nixon dối trá với vợ, với gia đình, với bạn bè, với đồng
nghiệp lâu năm tại Quốc Hội Mỹ, với những đảng viên của chính Đảng ông ta,
với nhân dân Hoa Kỳ, và với cả thế giới...” (In his 1988 autobiography,
Goldwater, the former US senator from Arizona and 1964 Presidential
candidate of the Republican Party writes of Richard Nixon as follows: “He
was the most dishonest individual I ever met in my life. President Nixon
lied to his wife, his family, his friends, long time colleagues in the US
Congress, lifetime members of his own political party, the American people
and the world...) (trích tuần báo Parade Magazine ngày 30-9-1990).
Mọi người đều biết “Vụ án Watergate”
đã làm cho Nixon vì sợ Quốc Hội bãi nhiệm nên đã từ chức Tổng thống. Mới
đây, ngày 12 tháng 6 năm 1992, người ta lại khám phá thêm vụ gian dối khác
của Nixon trong thời tranh cử với Tổng thống với Thượng Nghị sĩ George
McGovern.
Trong số 49 vị nguyên thủ quốc gia của Hoa Kỳ, Nixon được
liệt vào hàng Tổng thống tồi tệ nhất nước Mỹ, chỉ hơn có Tổng thống Warren
Harding. (Fresno Bee, ngày 11 tháng Giêng năm 1992).
Tôi còn nhiều tài liệu khác nữa nói
về sự man trá của Nixon, đặc biệt là vụ Nixon phản bội Đồng minh Việt Nam
Cọng Hòa và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) để bắt tay với Trung Cộng và nâng
Trung Cộng lên hàng Ngũ cường có quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quốc đề quyết
định vận mạng thế giới.
Trung Cộng đang là và sẽ là đại họa cho Việt Nam do tội của
Nixon, nhưng vì cuốn “No More Vietnam” của Nixon bênh vực Ngô Đình
Diệm và đánh phá Phật giáo Việt Nam nên giới Công Giáo Cần Lao, đặc biệt là
cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức, trong “Việt Nam Chính Sử”, đã dựa vào
lời lẽ sai lầm của Nixon để đánh phá Thượng tọa Trí Quang. Trong lúc đó,
giới trí thức và báo chí Mỹ lại không tha cho Nixon cái tội bịp bợm, xảo
trá.
Dưới đề mục “Đánh giá nặng nề về Nixon” (Richard Nixon’s
Tough Assessment) ký giả William A. Henry II của tạp chí Time (số tháng 4
ngày 15 năm 1984) đã có những nhận xét không tốt đẹp gì về Nixon và tác phẩm
của ông, mà sau đây là một vài điểm tiêu biểu:
- Đề nghị của
Nixon được ca ngợi là hợp lý nếu không muốn nói là độc đáo, nhưng những thẩm
định về thành quả lãnh đạo của chính ông nhiều khi quá rộng lượng hơn là
đúng sự thật.
- Người ta có
thể tín nhiệm tầm hiểu biết của ông với tư cách một cựu Tổng thống, nhưng
sách ông không ghi dẫn xuất xứ rõ ràng. Chẳng hạn độc giả tự hỏi làm sao ông
có thể quả quyết là Tổng thống Ngô Đình Diệm có thể thắng ông Hồ Chí Minh
hay bất cứ đối thủ nào khác nếu tổ chức được một cuộc bầu cử thật sự tự do
tại Việt Nam.
- Sách ông mang
ít tính chất lịch sử hơn là một lời kêu gọi đầy nhiệt tình chống lại những
kẻ chủ trương cô lập nước Mỹ hay những kẻ thiên hữu nhìn đâu cũng thấy bàn
tay của Nga Xô.
- Luận cứ của
Nixon đặt căn bản trên một xác quyết khó chứng minh là hầu như tất cả thành
phần cách mạng ở Nam Việt Nam đều là cán bộ Bắc Việt. Ông bác bỏ ý kiến cho
rằng có những lực lượng đối lập đáng kể xuất phát từ miền Nam và có một cuộc
nội chiến thật sự. Nhưng một vài bằng chứng do chính ông dẫn ra đã chứng tỏ
điều ngược lại: sự kiện Bắc Việt giam giữ một số cựu kháng chiến quân Nam Bộ
cho thấy những người này được coi như là những phần từ quốc gia nguy hiểm.
- Ông thừa nhận
rằng Hiệp định ngưng chiến (1973) mà vẫn cho phép hàng vạn lính Cộng Sản
được ở lại miền Nam, được tái võ trang sẽ chắc chắn tạo thành một gánh nặng
Quốc phòng cho Nam Việt Nam, từ đó vận mệnh miền Nam sẽ tùy thuộc vào viện
trợ hơn một tỷ Mỹ kim mỗi năm (thời giá 1975) mà Quốc hội đã khước từ phê
chuẩn. Trong khi đó thì Bắc Việt đã trắng trợn vi phạm hiệp định. Thành ra
Nixon nên viết rằng Hiệp định 1973 đưa đến chỗ “chúng ta ngừng và họ tiếp
tục bắn”.
Ký giả Wiliam A. Henry đã phải than rằng: “Đọc xong, nhiều
người muốn quên Việt Nam nhưng nhiều người muốn quên luôn ông Nixon” để kết
tội Nixon, thế mà nhóm Cần Lao Công Giáo, đặc biệt là ông Nguyễn Văn Chức,
vẫn tiếp tục xem Nixon là một nhân vật khả tín cần trích dẫn và học hỏi.
* Nhân vật thứ ba bênh vực nhà Ngô và đả kích Thượng Tọa Trí
Quang và tướng lãnh đảo chánh ông Diệm là nữ tiến sĩ Ellen Hammer, tác giả
cuốn “A Death in November”.
Cuốn sách này đã được tạp chí Tia
Sáng, số 26 ngày 15/4/1988 tại Houston, phê bình bằng cách vạch trần
thái độ thiên kiến bênh vực nhà Ngô không ngượng ngập qua một số điểm chính
sau đây:
1. Ellen Hammer chọn tương quan Việt Mỹ làm nền tảng cho sự
phân tích, và từ đó, diễn dịch để quy lỗi cái chết của ông Diệm vào sự thất
bại của thời gian hậu Cách mạng 1/11/1963 và cho Mỹ, vấn đề Việt Nam không
đơn giản ngoại hướng như vậy. Nếu tác giả có một cái nhìn quán triệt và Đông
phương hơn thì sẽ thấy được cốt lõi vấn đề Việt Nam nhưng mang nhiều tính
nhân văn hơn là những thủ đoạn chính trị đoản kỳ, liên hệ nhiều hơn đến vị
trí của ông Diệm trong lòng dân tộc Việt Nam. Từ đó sẽ xác định ông Diệm (và
gia đình ông ta) đã phục vụ hy sinh cho dân tộc hay đã phản bội để rồi bị
dân tộc khước từ.
2. Là một người ngoại quốc, lại chọn giai đoạn rối rắm này
của Việt Nam để nghiên cứu, hẳn tác giả đã phải nhận chân được mức độ phức
tạp và mâu thuẫn của vấn đề. Thế nhưng thay vì chọn một thái độ bình tĩnh và
một cái nhìn công bằng tối thiểu của một kẻ đứng ngoài, tác giả lại sử dụng
tĩnh từ mang nhiều thành kiến ngay từ trang giới thiệu. Hơn thế nữa Quốc huy
“Tiết trực tâm hư” của ông Diệm lại sử dụng để trang trí bìa sách. Đây quả
là một điều mâu thuẫn với cái tựa “A Death in November” hàm ý khách quan của
câu tục ngữ Việt Nam “cái quan định luận”.
3. Điểm quan trọng nhất làm giảm giá trị cuốn sách là việc
tác giả Hammer đã sử dụng rất nhiều tài liệu hay nguồn tài liệu thuộc phe
phái chế độ Diệm khi phê phán về chế độ đó, ví dụ như tờ báo Hòa Bình của
một linh mục thân nhà Ngô, từ sách của tác giả Margueritte Higgins, người đã
dám “mời” bà Nhu đến nhà riêng để “dạy dỗ”, và từ cuộc phỏng vấn của Bộ
trưởng Nguyễn Đình Thuần tay chân của nhà Ngô. Đã đành ai cũng có quyền và
bổn phận sử dụng mọi tài liệu, nhưng vấn đề đặt ra là cách diễn dịch và suy
luận của tác giả về tài liệu ấy có đưa đến sự thật hay không hay lại hùa
theo sự man trá. Ví dụ điển hình cho điều nầy là việc tác giả Hammer đã
trích dẫn báo Hòa Bình về nguồn tin cho rằng CIA đã nổ trái bom tại đài phát
thanh Huế làm chết người, gián tiếp thúc đẩy Phật giáo đấu tranh chống chế
độ nhà Ngô. Cuối phần trích, tác giả lại thêm câu “người viết không thể kiểm
chứng được sự kiện kể trên là đúng hay không đúng”. Khi thêm vào câu này
không biết tác giả Hammer có còn vô tư hay không hay chỉ để trốn chạy trách
nhiệm.
4. Bà Hammer đã kể lại vụ tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức
một cách chính xác: Hòa thượng đã hoàn toàn tỉnh táo và chủ động tự đốt thân
xác mình. Nhưng tiếc thay, sau đó, Hammer lại hùa theo Margueritte Higgins
để cho rằng danh từ “nướng thịt” (barbecue) do con gái bà Nhu nghe được từ
các nhà báo ngoại quốc và bà Nhu chỉ lập lại v.v...
Trên đây là bốn ví dụ rất tiêu biểu trong nhiều ví dụ khác
đầy dẫy trong “A Death in November”. Viết về một cuốn sách như Ellen Hammer
đã viết, nhằm phân tách nguyên nhân và hậu quả của một biến cố lịch sử nước
người mà không chịu nhìn sâu vào quá khứ để nhận diện và phân tách các mắt
xích trong toàn bộ vận hành của lịch sử để thấy các động lực xa và gần, để
cảm thông với những phản ứng sâu và rộng của quần chúng thì quả thật là một
thiếu sót đáng trách và đáng tiếc. Trong khung cảnh Việt Nam trước tháng 11
năm 1963 với bao nhiêu nhà tù và bao nhiêu nạn nhân của chế độ, có lẽ “A
Death in November” nên đổi ra là “The death before November”.
Bà Ellen Hammer thương tiếc cho cái chết của ông Diệm, nhưng
nếu bà đọc được lời phê bình của ký giả nổi tiếng, có mặt nhiều năm tại Việt
Nam, là ký giả Neil Sheehan (trong “The Bright Shining Lie”): “lần
đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, dân chúng Sài Gòn tự phát hoan hô binh
sĩ VNCH” (sau khi lật đổ ông Diệm) thì chắc bà đã thông hiểu hơn với nỗi
thống khổ, chết chóc triền miên của dân Việt Nam suốt chín năm anh em ông
Diệm hơn là cái chết tháng 11 của anh em nhà Ngô.
Nhưng tại sao bà Hammer lại tiếc cho cái chết của anh em ông
Diệm? Theo tướng Trần Văn Đôn thì bà là bạn thân của giáo sư Bửu Hội, nhân
vật vừa khâm phục Hồ Chí Minh, vừa thân Pháp, vừa là người đã giúp đỡ nhà
Ngô trong vụ đàn áp Phật giáo và trong vụ nhà Ngô âm mưu bắt tay thỏa hiệp
với Hà Nội. Cái chết của ông Diệm, mà một trong những nguyên nhân chính là
cuộc đấu tranh của Phật giáo, đã chận đứng âm mưu thỏa hiệp hai miền Nam Bắc
vốn là mục tiêu chính trị của Cộng Sản và của Tổng thống De Gaulle, nên bà
mới viết sách để lên án Phật giáo và tướng lãnh Việt Nam đảo chánh nhà Ngô
để vinh danh người bạn thân Bửu Hội của bà ta.
* Nhân vật thứ tư là nữ ký giả Margueritte Higgins với cuốn “Our
Vietnam Nightmare”. Đây là cuốn sách đầy dẫy những lời lẽ bênh vực nhà
Ngô một cách không ngượng ngùng. Đồng thời đó cũng là cuốn sách lên án cuộc
đấu tranh của Phật giáo năm 1963 bằng những lời lẽ xuyên tạc, ngụy tạo, vu
khống trắng trợn. Đọc “Our Vietnam Nightmare” người ta có cảm tưởng
Margueritte Higgins là thứ đàn bà có tài “thương vay khóc mướn”, có tài “mồm
loa mép giải” của những kẻ không còn biết thẹn thùng trơ trẽn là gì.
Hãy đọc cách đặt tiểu mục như “Madame Nhu: Dragon Lady or
Joan d’Arc”, như “The war: Heads you win, Tails I lose?” như “Plots and
Plotters Vietnamese-American Style” v.v... cũng đủ thấy tài dùng chữ hấp dẫn
của Higgins và khả năng đổi trắng thay đen các sự kiện hay các biến cố lịch
sử.
Cuốn “Our Vietnam Nightmare” chồng chất những sai lầm
nầy đến gian trá khác ngay từ “Lời nói đầu” (Prologue), nhưng ở đây tôi chỉ
đưa ra vài thí dụ tiêu biểu làm dẫn chứng trước khi tìm hiểu con người thật
của Higgins để biết tại sao sách bà ta đã có thể mê hoặc được một số chính
khách, tướng lãnh Hoa Kỳ như trường hợp Richard Nixon, Ellen Hammer nói trên
kia.
- Trang 6: Higgins viết: Hồ Chí Minh cũng như Ngô Đình Diệm
đều sinh trưởng trong kỷ cương, trong nề nếp của một gia đình quan lại, thứ
kỷ cương của nhà khoa bảng, triết gia, nhà cai trị, nhà thơ.
Không biết M. Higgins dựa vào đâu mà dám đưa ra sự so sánh
hoàn toàn ngược ngạo đến thế.
Thân phụ ông Hồ Chí Minh mồ côi cha mẹ từ thời 3 tuổi, ông có
tinh thần tự lập nên lớn lên đã cố công sách đèn, đỗ được Cử nhân rồi Phó
bảng. Làm tri huyện một thời gian ngắn, ông rời bỏ quan trường về làm nghề
thầy thuốc để độ thân. Trong lúc thân phụ ông Diệm nhờ là tín đồ Công giáo
nên được các cố đạo Pháp đem đi học ở Penang, khi về nước được Pháp bổ làm
Thông ngôn cho Tòa Khâm sứ Huế và sau đó theo Nguyễn Thân cầm quân triệt phá
chiến khu Phan Đình Phùng, đào mả cụ Phan lên lấy thuốc súng trộn với thi
hài bắn đi cho mất xác. Một bên cụ Nguyễn Sinh Sắc (Huy), cha ông Hồ Chí
Minh, sôi kinh nấu sử tên chiếm bảng vàng rồi ra làm quan nhưng lại chán
cảnh quan trường. Một bên cụ Ngô Đình Khả nhờ người ngoại quốc mà được học
hành để làm tay sai cho thực dân xâm lược. Thế mà Margueritte Higgins lại
xếp hạng hai nhân vật kia đều là nhà khoa bảng, đều là triết gia, là nhà cai
trị, là nhà thơ.
Đến đời ông Hồ Chí Minh thì ông là người xả thân cho công
cuộc chống xâm lăng, một nhân vật anh hùng tạo thời thế trong lúc ông Ngô
Đình Diệm xuất thân là một thành phần quan lại, tay sai của Pháp như chính
bức thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi cho Toàn quyền Decoux (xem phần Phụ
Lục). Thế mà Margueritte Higgins dám so sánh hai người cùng nấc thang giá
trị.
- Trang 15: M. Higgins viết: “Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm đều
sinh ra cùng một tỉnh”. Dữ kiện hoàn toàn sai lầm bởi vì ông Hồ Chí Minh
sinh quán tại Nghệ An, còn ông Ngô Đình Diệm quê quán tại Quảng Bình, sinh
tại Huế, cách xa đến bốn tỉnh chứ không “cùng một tỉnh”.
- Trang 15: M. Higgins đặt câu hỏi: “Không lẽ một người được
chánh án Douglas mô tả 10 năm trước là một anh hùng (sic) mà 10 năm sau
người đó bỗng nhiên trở thành con quái vật?” Viết thế Higgins quên rằng
trong thiên hạ không thiếu kẻ “lên voi xuống chó”, không thiếu kẻ hôm qua
còn công hầu khanh tướng mà hôm nay bị gậy ăn mày. Hai mươi năm trước Thống
chế Petain là anh hùng Verdun cứu nước Pháp thoát khỏi gót giày quân xâm
lăng Đức, 20 năm sau ông trở thành kẻ phản quốc làm Quốc trưởng bù nhìn cho
quân đội Quốc xã, bị nhà cứu quốc De Gaulle kết án chung thân lưu đầy. Sáu
năm trước Nixon hai lần đắc cử Tổng thống vô vùng vẻ vang, sáu năm sau trở
thành kẻ gian lận phải từ chức Tổng thống để khỏi bị đưa ra tòa.
- Trang 31: M. Higgins viết: “Theo những chức quyền cao cấp
Mỹ thì Thích Trí Quang được huấn luyện làm luật sư và như thế đúng là Trí
Quang đã hành nghề luật sư tại miền Bắc Cộng Sản”. Không thấy Higgins nêu
tên chức quyền cao cấp Mỹ nào đã gán cho Trí Quang là được làm nghề luật sư
và hành nghề luật sư tại Bắc Việt. Trái lại chính quyền Mỹ vì biết Trí Quang
không hề là Cộng Sản nên họ mới ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo chống
nhà Ngô do Trí Quang phát động và tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã để cho Trí
Quang tị nạn.
- Trang 44: M. Higgins viết: “Người ta chỉ trích Công giáo
được phép xây nhà thờ trong các căn cứ quân sự trong lúc Phật tử thì không.
Lời chỉ trích đó không phải là sai. Nhưng ở Việt Nam có nhiều chuyện bất
thường rất dễ thấy mà đây là một chuyện: nhà sư được quyền miễn quân dịch
theo lệnh ông Diệm trong lúc linh mục không được miễn”. Thật ra vì chính
sách kỳ thị tôn giáo mà ông Diệm không cho Phật giáo tổ chức ngành tuyên úy,
không cho binh sĩ Phật tử xây chùa trong căn cứ quân sự, thế mà Higgins lại
bảo rằng ông Diệm miễn quân dịch cho các nhà sư.
Chỉ cần đọc 5 điểm trên đây cũng đã thấy ngòi bút tráo trở,
xuyên tạc, vu khống, đổi trắng thay đen... của Margueritte Higgins. Mặc dù
Higgins chỉ mới ở Việt Nam trong một thời gian rất ngắn, khả năng viết tin
thất thiệt và thêu dệt của Higgins vừa kể trên đây cũng đã có lúc đem lạc
quan lại cho Washington DC nhưng đồng thời cũng đem lại khốn đốn cho một số
ký giả Hoa Kỳ trong hoạt động tại Việt Nam.
Trong lúc tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Cộng đã có
lưu động tính cấp Tiểu đoàn thì Margueritte Higgins dựa vào lời biện bác của
một vị tướng Cố vấn để nói rằng Việt Cộng không có xe, không có phi cơ,
không có máy truyền tin, không có hỏa tiễn, không có mooc chê như quân đội
Việt Nam Cộng Hòa thì không thể có lưu động tính được. Halberstam cho rằng
như thế là ngay cả những tướng lãnh cao cấp Mỹ cũng không biết rằng Việt
Cộng có cái khả năng kiểu Đông Phương để có thể xâm nhập kín đáo vào thôn
quê mà không bị phát giác. Một đêm có thể di chuyển 25 dặm bằng đi bộ hay
bằng thuyền, rồi tập kích mau lẹ và rã hàng trước khi quân chính phủ có thể
phản công. Đó chỉ là thứ lưu động tính mà Việt Cộng có nhưng lại là thứ lưu
động tính tuyệt vời hơn của quân chính phủ.
Còn ký giả Neil Sheehan lại tố cáo Margueritte Higgins, tướng
Harkins và chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sự cấu kết để cố tình lấp liếm,
che đậy những xấu xa, thất bại của chế độ nhà Ngô:
Sự phiền trách những phóng viên thường trực cứ bịa đặt ra
những tin tức xấu trở nên ngộ nghĩnh hơn vào mùa hè 1963, khi mà đa số ký
giả có văn phòng ở Á Châu thường viếng thăm Việt Nam cũng nhận thấy tình
hình tồi tệ như chúng tôi thấy. Những ký giả đó gồm có Ralisher và Bernard
Kabol của CBS, James Robinson của NBC, Stanley Karnow của
Times và Saturday Evening Post, Pepper Martin của US News
Report và Charles Mohr trưởng văn phòng Times Đông Nam Á. Những
người đó không phải dễ dàng để bị bầy chó sói đánh lừa. Tòa Đại sứ, bộ Tư
lệnh của Harkins và chính phủ Diệm không bao giờ vừa lòng với những tường
trình của hầu hết đại diện cơ quan truyền thông quốc tế. Diệm vừa trục xuất
Robinson một tháng sau khi gia đình Diệm tống cổ Francois Sully của tờ
Newsweek ra khỏi nước và suốt 9 tháng không cho Robinson trở lại Việt
Nam.
Nếu những đại diện của cơ quan truyền thông tại Đông Nam Á
đã thấy như chúng tôi thấy thì, tại Hoa Kỳ, lại có một số người bực tức,
phải bênh vực chính phủ Sài Gòn. Sự thất bại quân sự và thiếu khả năng lãnh
đạo tại miền Nam to lớn quá đến nỗi họ cần một phóng viên tên tuổi, một
khuôn mặt có thớ để phản công lại chúng tôi như khuôn mặt Margueritte
Higgins của New York Herald Tribune, một phóng viên quốc ngoại nổi
tiếng. Bà ta đã được giải thưởng Pulitzer năm 1951 về những phóng sự chiến
trường Cao Ly.
Bộ tham mưu Hoa Kỳ bèn giới thiệu người ký giả “chín chắn
và có trách nhiệm” đó, người ký giả có thành tích nghề nghiệp để đi Việt Nam
sửa sai “những câu chuyện điên loạn” (to correct the hysterical stories) của
các ký giả tại chỗ. Higgins bằng lòng đi Việt Nam và đến Sài Gòn vào tháng 8
năm 1963. Đến Sài Gòn mới trong vòng 4 tuần lễ Higgins đã gởi một loạt tin
tức về Mỹ nói rằng biến cố Phật giáo chỉ là sáng chế của nhóm nhà sư quỷ
quyệt và của những ký giả dễ bị lừa, còn Việt Cộng thì đang bị tướng Harkins
và ông Diệm đánh bại. Những ký giả tại đây chỉ muốn chúng ta thua trận để
chứng tỏ họ đúng... (“A Bright Shining Lie”, Neil Sheehan, tr. 347).
Sheehan còn cho biết đã có lần David Halberstam giận dữ cấp
trên của ông ta ở New York vì họ cứ nhắc đến tên của Margueritte Higgins để
gán cho những báo cáo của Halberstam là sai lầm. Halberstam đã phải trả lời
bằng một bức điện tín đầy giận dữ: “Gerstenzang, nếu anh còn nêu tên mụ đàn
bà ấy một lần nữa thì tôi sẽ từ chức, nhắc lại, từ chức có nghĩa là tôi nói
từ chức là từ chức”.
Ở đây tôi cần ghi nhận nhân cách và sự nghiệp của David
Halberstam với những tác phẩm như “The Making of a Quagmire” và “The
Best and The Brightest” cũng như Neil Sheehan với những tác phẩm như “The
Pentagon Papers” và “A Bright Shining Lie”. Đó là những ký giả đã
trở thành học giả và bước lên đài danh vọng huy hoàng nhờ tài năng nghề
nghiệp và lương tâm trong sáng của họ, và từ đó tự hỏi Margueritte Higgins
là ai mà đã làm cho một số chính khách, tướng lãnh Mỹ và một số trí thức
Công giáo Việt Nam phải mê muội đến nỗi phải dựa vào sách của bà ta mà tham
khảo để bênh vực nhà Ngô.
Margueritte Higgins là nhà báo, sinh năm 1920 chết năm 1966,
đã có chồng là tướng Wiliam Hall và hai con. Để trả lời thắc mắc của một độc
giả đang viết luận văn về một nữ ký giả chiến trường “đã là tình nhân của
nhiều tướng lãnh Lục quân Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến, trong chiến tranh Cao
Ly và chiến tranh Việt Nam” (to have had numerous affairs with numerous US
Army generals during World War II, the Korean conflict and the war in
Vietnam), báo Parade (The Sunday Newspaper Magazine) ngày 28/12/1986
đã viết như sau:
Người ký giả được đề cập đến là bà Margueritte Higgins
(1920-1966), một nữ ký giả chiến trường cao lớn, nhiều đường cong, khêu gợi
tình dục (tall, curvaceous, sexy) của Tạp chí New York Herald Tribune, và đã
được giải thưởng Pulitzer về ký sự quốc tế năm 1951. “Maggie” Higgins là một
người đàn bà đẹp choáng váng, nhiều tham vọng và nổi tiếng là không thấy gì
có hại khi phải dùng đến vốn liếng của mình-kể cả tài nghệ trong phòng
the-để tiến thân nghề nghiệp ký giả (who reputedly saw no harm in using her
assets-among them a bedroom talent-to advance her spectacular career in
journalism). Bốn tác phẩm về Higgins, về các đồng nghiệp và về thời đại của
bà ta mà quý độc giả nên tìm đọc là hồi ký “News in a singular thing”,
cuốn “Witness to War” của Antoinette May, “The Paper: the Life and
Death of the New York Herald Tribune” của Richard Kluger, và truyện dài
“Shriek with Pleasure” của Toni Howard được gợi hứng từ những thành
tích và kinh nghiệm dục tình của Higgins (inspired by Maggie Higgins’
sexploits and sexperiences).
Với tư cách cá nhân và những liên hệ “đặc biệt” với các tướng
lãnh Mỹ như thế, ta có thể hiểu tại sao trong cuốn “Our Vietnam Nightmare”
Higgins đã bênh vực lập trường thân nhà Ngô của các tướng Harkins và Krulak,
và tại sao mới đến Sài Gòn vào tháng 8, 1963 và chỉ mới sống tại Việt Nam
vài tháng mà Higgins đã có được những luận điệu quỷ quyệt để bênh vực nhà
Ngô. Nếu ông Ngô Đình Nhu đã có mật vụ tổ chức và chụp hình gái lầu xanh ăn
nằm với nhân viên Liên Hiệp Quốc điều tra vụ Phật giáo để làm áp lực họ, thì
bà Nhu ngại gì mà không “tiêm” cho Higgins những tài liệu thất thiệt để
Higgins đánh phá Phật giáo bằng những luận điệu đảo ngược dư luận Mỹ có lợi
cho nhà Ngô.
Điều đáng nói thêm là thứ đàn bà hư thân mất nết, thứ ký giả
gian trá như Margueritte Higgins lại là nguồn trích dẫn khả tín của Công
Giáo Cần Lao, đặc biệt là giới trí thức như Nguyễn Văn Chức. Nguyễn Văn Chức
và Nguyễn Trân đã dựa vào tài liệu ngụy tạo của “Our Vietnam Nightmare”
để viết sử thì thử hỏi nền sử học Việt Nam tương lai sẽ phải khổ công như
thế nào để phân biệt thực hư, chính tà!
Năm 1975, ký giả Karnow sau khi đi Hà Nội về, xác nhận một
lần nữa rằng Thượng tọa Trí Quang không phải là Cộng Sản mà chỉ bị vu khống
xuyên tạc theo kiểu giả tưởng mơ hồ (sheer fantasy). Ông Lê Duẫn đã thú nhận
với Karnow là đã không khai thác được vụ tranh đấu của Phật giáo năm 1966.
Ông Lê Duẫn đã rất tiếc bỏ mất một cơ hội chỉ vì hệ thống cán bộ Cộng Sản
nằm vùng tại Huế lúc bấy giờ còn quá yếu ớt. Cũng theo Karnow thì năm 1975,
sau khi Cộng Sản chiếm đoạt miền Nam, Thượng tọa Trí Quang liền bị Cộng Sản
cô lập một thời gian
[18].
Đầu năm 1985, ký giả lão thành Robert Shaplen thăm viếng Việt
Nam trong ba, bốn tháng để nghiên cứu về tình hình “chủ nghĩa xã hội”, đã
cho biết rằng khi ở Thành phố Hồ Chí Minh ông có xin gặp Thượng tọa Trí
Quang mà không được. Ông đã tự hỏi không biết Thượng tọa không muốn gặp hay
vì chính quyền Cộng Sản cấm Thượng tọa giao thiệp. Theo cuộc điều tra của
Robert Shaplen thì trước sau Thượng tọa vẫn là người chống Cộng Sản, chống
Hoa Kỳ và chống chiến tranh. Ông ta cho biết từ sau khi Cộng Sản chiếm miền
Nam, Thượng tọa bị cô lập một năm rưỡi rồi mới được trở về chùa Ấn Quang
[19].
Thật thế, nếu Thượng tọa Trí Quang là Cộng Sản như những lời
xuyên tạc, vu khống, thì tại sao chính quyền Hà Nội sau khi chiếm được miền
Nam lại không sử dụng Thượng tọa, một vị lãnh đạo được đa số Tăng Ni và quần
chúng Phật tử kính phục và tín nhiệm, để thành lập “Phật giáo yêu nước”,
“Phật giáo thống nhất”, mà lại dùng Thượng tọa Thích Minh Châu vốn không
được tín đồ tin tưởng, khiến cho cuộc đấu tranh của Phật tử chống lại hai tổ
chức đó kéo dài. Và nếu Phật giáo là Cộng Sản thì tại sao đầu năm 1975, khi
gần mất Huế, Đức Tăng thống của Giáo Hội lại phải vào ngay Sài Gòn không ở
lại vùng Cộng Sản như Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê đã ở lại Hà Nội từ năm
1954 để vừa làm tay sai cho chế độ miền Bắc vừa giúp Vatican dễ dàng bắt cá
hai tay trong ván bài Việt Nam.
Nói tóm lại, vì không nhìn được tương lai đất nước đi về đâu,
vì mang tinh thần chống Cộng một chiều theo kiểu con đà điểu chui đầu vào
cát, vì không lý hội được viễn ảnh của một nền Hòa Bình trong Trung lập, cho
nên khi nghe Thượng tọa Trí Quang đòi hỏi Trung lập và Hòa bình, khi nghe
Phật giáo nêu khẩu hiệu Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc (việc mà Giáo hoàng Paul
VI đã vận động từ năm 1965 và cả Giáo chủ Phạm Công Tắc đã đòi hỏi từ năm
1954-1955) cho nên cả hai chế độ Đệ I và Đệ II Cộng Hòa cũng như nhóm Công
Giáo Cần Lao đã gán cho Thượng tọa là thân Cộng. Gán cho Thượng tọa Trí
Quang là thân Cộng, nhóm Công Giáo Cần Lao còn có mục đích trả thù, còn có ý
đồ chạy tội trước lịch sử. Sự diễn dịch bừa bãi đó chỉ có thể giải thích
bằng một đầu óc giáo điều, hẹp hòi và thù hận, với những định kiến đã bám
chặt từ lâu vào tâm thức của họ mà thôi.
Giáo sư Trần Ngọc Ninh, một nhà văn
hóa tên tuổi của Việt Nam đã đưa ra một khẳng định khúc chiết như sau:
Có nhiều người nghi ngại và lo sợ rằng Phật giáo có thể đi
với Cộng Sản, Cộng Sản có thể dùng được Phật giáo, những người này không
hiểu gì về Phật giáo cả, và cũng không hiểu gì về Cộng Sản nữa.
Chủ nghĩa Cộng Sản đặt căn bản ở chủ nghĩa Duy Vật Biện
chứng và Duy Vật Lịch sử nhưng thuyết này công nhận tính Tuyệt đối của Lịch
sử. Người Cộng Sản tự nhận là cách mạng, làm cách mạng và họ cho là cùng
nghĩa với làm Lịch sử tức là thuận chiều đẩy bánh xe lịch sử cho nhanh hơn,
để thực hiện một giai đoạn mới của lịch sử theo Duy Vật biện chứng. Xong rồi
tới đâu nữa? Chủ nghĩa Cộng Sản chưa bao giờ có câu trả lời.
Giáo lý của đức Phật cũng dạy rằng sự “động” tạo ra “phản
động” có thể đây là một biện chứng pháp. Thật ra biện chứng này là một khía
cạnh của Luật Nhân Quả.
Lịch sử trong quan niệm của Phật giáo là sự vận chuyển
không ngừng của Luật Vô Thường và Luật Nhân Quả, nhưng đức Phật không hề nói
rằng con người phải chịu mặc cho lịch sử xoay vần, hay phải thúc đẩy cho
lịch sử chóng sang một kiếp Vô thường khác; cuộc cách mạng nằm trong giáo lý
đức Phật là một sự chống đối lại lịch sử do lòng tham, sân, si chuyển vận để
giải thoát con người ra khỏi cái thế gian đau khổ vô cùng tận này.
Hơn nữa, trong đạo Phật, sự giải thoát của loài người có
thể đạt tới và phải tới ngay trong cõi đời hiện tại. Đức Phật, và sau Ngài,
hằng hà sa số Phật đã sinh ra ở thế giới vô minh của loài người và đã đi tới
mức cuối cùng của sự giải thoát.
Chủ nghĩa Cộng Sản đã thành hình trên một dòng tư tưởng
thuần lý và kết hợp triết lý Duy lý của Hegel và triết lý Duy vật của
Feuerbach. Tất cả các ý niệm của Cộng Sản đều cực đoan đến mức thiên lệch và
độc ác vô tận.
Đạo Phật, ngược lại, tránh tất cả những sự cực đoan. Con
đường đức Phật là con đường Trung Đạo, Phật pháp đòi hỏi cả Tâm và Trí: Đức
Phật là đấng Vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác và cũng là đức Đại từ Đại bi.
Sự toàn giác của đạo Phật không chỉ do ở lý trí mà bao gồm cả Trí lẫn Tâm.
Kể làm sao cho hết được tất cả những sự khác biệt giữa Phật
giáo và Cộng Sản. Sự trái ngược ở ngay trong ý thức hệ, ở trong căn bản
triết lý của đạo Phật và học thuyết Cộng Sản. Qua địa bàn thực hành, ta thấy
Cộng Sản chủ trương bạo động: Bạo động để đấu tranh giai cấp (Karl Marx).
Bạo động để cướp chính quyền (Lenine). Bạo động để thanh trừng nội bộ
(Staline). Bạo động để gieo rắc mầm mống Cộng Sản ở các nước khác (Mao Trạch
Đông).
Tinh thần Phật giáo là bất bạo động, phương châm của đạo
Phật là tự giác, giác tha và tùy duyên, phương tiện không thúc đẩy, không
bắt buộc, không bạo hành, không man trá, không thiên lệch.
Vậy thì tại sao lại có một sự hiểu lầm về thực chất Phật
giáo Việt Nam? Có rất nhiều lý do tạo ra sự ngộ nhận ấy.
Lý do thứ nhất là vì một số người ngoại quốc chưa hiểu rõ
giáo lý đạo Phật và chỉ hiểu Phật giáo qua bề ngoài, đã tạo ra trên báo chí
và bằng lời nói một sự nghi kỵ đối với phong trào quần chúng Phật giáo.
Một lý do nữa là tinh thần Hòa Bình của Phật giáo đã một
phần trùng hợp với chiến dịch Hòa bình của Cộng Sản tung ra làm một lợi khí
tâm lý trong một giai đoạn khó khăn của họ.
Ngoài ra cũng còn một lý do nữa phải nói tới là Phật tử
Việt Nam chưa có một cương vị chính trị rõ ràng và vững chắc để hoạt động
trong nước một cách chân chính minh bạch.
Những lý do nầy làm cho những hiểu lầm về thực chất của
Phật giáo Việt Nam không còn nữa khi mọi người hiểu rằng không ở nước nào và
trên địa hạt nào của Phật giáo có thể chấp nhận được Cộng Sản, và riêng ở
Việt Nam thì ngay từ lúc khởi thủy, khuynh hướng chính trị của Phật tử đã có
tính cách dân tộc và cách mạng rõ rệt.
[20]
Cuộc Cách mạng 1-11-1963 đã đưa lại cho toàn dân miền Nam
niềm hoan lạc vô biên và đã làm cho ông Hồ Chí Minh phải công nhận “cái uy
tín to lớn”, cái “được lòng dân” của quân đội như tuần báo Mỹ US News &
World Report số tháng 10 năm 1983 đã trình bày, hoặc như cựu Đại sứ Ba
Lan đã viết rõ ràng trong Hồi ký War of the Vanquished của ông. Nhưng
rồi gần ba năm xáo trộn và chế độ Nguyễn Văn Thiệu tiếp theo đã làm phai mờ
ngọn lửa cách mạng âm ỉ trong lòng dân chúng. Ký giả Robert Shaplen, một ký
giả lão thành từng theo dõi tình hình Việt Nam từ 1945, từng có cảm tình với
cuộc Cách mạng 1-11-1963 khi viết sách về chế độ Diệm và cuộc cách mạng đó,
đã phải đặt tên cho tác phẩm là “cuộc Cách mạng thất bại” (The Lost
Revolution). Còn một chứng nhân người Việt khác đã từng suốt đời đấu
tranh cho lý tưởng cách mạng, thì lại tiếc thương cho một trang sử huy hoàng
bị xé rách và trách móc sự bất lực của ông Dương Văn Minh nên gọi Cách mạng
1-11-1963 là “một cuộc Cách mạng nửa vời, là một chính biến hơn là một cuộc
Cách mạng”.
Lưu vong nơi đất khách quê người, dưới đề mục “Bất đắc dĩ
khơi đống tro tàn”, chứng nhân Lê Nguyên Long đã viết một bài dài lên án
nặng nề chế độ bạo tàn, độc ác của anh em ông Diệm rồi kết luận:
Cuộc lật đổ nhà Ngô năm 1963 đáng lý “là một cuộc cách
mạng” vì đã nối tiếp tinh thần quật khởi chống bạo quyền của dân Việt, nối
tiếp những hành động “Đại nghĩa Hy sinh” liên tục của chiến sĩ quốc gia dưới
thời Diệm trị.
Ta có nên kể lại từ một thanh niên Cao Đài hành động như
Kinh Kha tại Ban Mê Thuột năm 1957, từ các sĩ quan Nhảy Dù bao vây dinh Độc
Lập năm 1960, từ hai sĩ quan phi công ưu tú Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử
bắn phá dinh Độc Lập năm 1962, và biết bao nhiêu vụ mưu sát bạo chúa bất
thành mà chỉ có mật vụ nhà Ngô biết rõ, cho đến khi Đại úy Nhung và Thiếu tá
Nghĩa căm phẫn trả thù các đồng chí của họ.
Lật Diệm năm 1963 đáng lý là một cuộc Cách mạng vì đã giải
thoát hàng vạn người quốc gia trong các ngục tù trên toàn quốc, giải thoát
hàng triệu nhân dân đang nghẹt thở dưới một chế độ thối nát học thói độc
tài. Toàn dân đã bừng bừng phấn khởi... Nhưng hỡi ơi, hương của Cách mạng
chỉ bùng lên vài ba tuần đầu rồi dần dần tắt ngấm chỉ vì người cầm đầu Dương
Văn Minh nhu nhược chỉ muốn cuộc cách mạng ấy là một cuộc binh biến hay
chỉnh lý mà thôi...[21]
Quy mối thất
bại cho tướng Dương Văn Minh tuy không phải là không đúng, vì dù sao thì
trong một thời gian ngắn trước ngày Cách mạng 1-11-1963 và một thời gian gần
ba tháng sau đó, ông là người cầm đầu Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và gần
như có toàn quyền điều hành quốc gia. Nhưng nếu đặt con người Dương Văn Minh
vào bối cảnh lịch sử lúc đó và phê phán ông bằng một cái nhìn thông suốt
theo chiều dài của lịch sử thì Tướng Minh cũng như các nhân vật chủ yếu của
Hội Đồng chỉ là những quân nhân, chưa bao giờ hoạt động chính trị, lại càng
chưa bao giờ học hỏi hay hành xử như một chiến sĩ cách mạng. Họ chỉ làm cái
công việc phải làm của một công dân yêu nước, của một người không chịu cảnh
áp bức thì vùng lên đạp đổ nó. Những chính trị gia từng trải của chính
trường miền Nam, những “cách mạng gia” lão luyện của mấy mươi năm lăn lộn,
những trí thức khoa bảng làu thông lý thuyết cách mạng... đã không dám làm
hoặc không làm được việc đó thì người quân nhân phải làm!
Thật thế, suốt 30 năm trời quê hương khói lửa, dù quân đội có
những sai lầm trầm trọng nhưng người quân nhân vẫn là thành phần hy sinh hơn
ai hết. Họ đã phải xa lìa mái ấm gia đình, nằm gai nếm mật nguy hiểm gian
lao, họ đã mang tấm thân tàn phế hay bỏ xác nơi sa trường. Sau tháng 4 năm
1975, họ lại là thành phần lao lý nhục nhằn nhất trong các trại cải tạo Cộng
Sản. Trong lúc đó thì hàng ngũ trí thức đã làm gì? Một số không muốn làm tôi
tớ, tay sai cho các bạo quyền thì tự nguyện chọn kiếp sống Bá Di, Thúc Tề,
hay bỏ nước ra đi làm thân lưu vong, một số khác khí phách, can trường hơn
thì vùng lên chống đối nhưng rồi cũng đành phải thất bại để mang thân tù
tội. Tiếc thay số “kẻ sĩ” này chỉ thưa thớt như lá mùa thu. Trong lúc đó thì
đa số lại đầu hàng thời cuộc tìm sự yên thân qua ngày, hoặc đầu hàng bạo
quyền để được vinh thân phì gia. Cũng vì đại đa số trí thức quốc gia như thế
cho nên Hoàng Văn Chí tiên sinh, một trí thức không chịu làm tôi tớ cho chế
độ Ngô Đình Diệm, mới lên án hàng ngũ trí thức thời đại như sau đây:
Nguyễn Trãi có thù nhà nợ nước. Giới thượng lưu trí thức
sau nầy là con ông cháu cha, không có thù nhà mà cũng chẳng quan tâm đến nợ
nước.
Nguyễn Trãi uyên thâm cả về Khổng giáo, Lão giáo và Phật
giáo, tức là học tam giáo một cách đầy đủ.
Nguyễn Trãi là người trí thức số một của thời đại, ấy thế
mà ông sẵn sàng tình nguyện phò tá Lê Lợi, một người có nghĩa khí, có tài
lãnh đạo và có uy tín với nhân dân nhưng chỉ là “anh hùng áo vải” không
thuộc giới trí thức. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Trãi không tự cao tự đại về cái
trí thức của mình mà chỉ lo mang cái vốn kiến thức đã thu thập được dùng vào
công cuộc giải phóng dân tộc.
Nguyễn Trãi học rộng nhưng cái học của ông không đóng khung
trong lý thuyết, trong sách vở, ông không thuộc loại trí thức mà Lão Tử phê
bình “Bác giả bất tri, tri giả bất bác” nghĩa là người học rộng mà không
hiểu gì cả, người hiểu nhiều là người không học rộng.
Những anh hùng cứu nước như Lê Lợi, Nguyễn Huệ đều là “anh
hùng áo vải” xuất thân nơi thôn dã ít học. Phải chăng vì ít học nên không
mắc bệnh giáo điều, mắc bệnh Tống Nho, hãy còn sáng suốt để đối phó với thời
cuộc, không sùng mộ Tàu quá mức nên hãy còn đầy đủ tinh thần dân tộc.
Lê Lợi thành công vì may mắn được một vị trí thức là Nguyễn
Trãi phò tá. Nguyễn Huệ cũng gặp được một Ngô Thời Nhiệm sáng suốt. Hồ Quý
Ly phát động cuộc đại cách mạng mà chẳng được ai trong giới “đại trí thức”
ủng hộ nên thua sớm.[22]
Trong ba mươi
năm chiến tranh, phe quốc gia cũng có những vị anh hùng áo vải như Trình
Minh Thế, lãnh tụ phong trào kháng chiến Cao Đài Liên Minh; như Lê Quang
Vinh, lãnh tụ nghĩa quân kháng chiến Phật Giáo Hòa Hảo, thế mà không có một
hậu duệ nào của Nguyễn Trãi phò tá cả. Vì không có một trí thức nào phò tá
nên t ướng
Trình Minh Thế mua lấy cái chết bí ẩn sau khi bị ông Diệm tỏ thái độ khinh
rẻ và vong ân, cho nên ông Lê Quang Vinh bị ông Diệm lừa bắt và giết chết
một cách tức tưởi.
Cũng như Trình Minh Thế và Lê Quang Vinh, nhóm tướng lãnh
Dương Văn Minh đã lật được một chế độ phản dân tộc, giải thoát cho toàn dân,
nhưng rồi cũng như Hồ Quý Ly, không có được một trí thức nào kiểu Nguyễn
Trãi hay Ngô Thời Nhiệm phò tá nên cuộc cách mạng đành phải dang dở.
Đó là chưa nói đến trong suốt gần chín năm dưới chế độ Diệm,
quân đội bị xem như một thứ “tôi tớ” của gia đình họ Ngô với hai bài học
chính trị lớn của Nha Chiến Tranh Tâm Lý là Suy tôn Ngô Tổng thống và
Xin ơn trên ban phước lành cho chúng ta. Trong suốt thời gian ngắn
ngủi chuẩn bị cuộc binh biến để làm cách mạng, các sĩ quan bị kiểm soát,
theo dõi, canh chừng gắt gao và phải dồn mọi nỗ lực cho cuộc đấu trí sống
chết với bộ máy mật vụ của cả ông Ngô Đình Nhu lẫn ông Ngô Đình Cẩn, thì làm
sao có thì giờ và điều kiện để nghiên cứu và thiết kế một kế hoạch hậu cách
mạng hữu hiệu được. Sự đóng góp khiêm nhường của thành phần đấu tranh dân sự
đã không giúp được gì nhiều cho quân đội mà suốt chín năm vốn chỉ là một thứ
quân đội phe phái, bị đảng viên Công Giáo Cần Lao chi phối, thưởng phạt bất
minh, sử dụng theo cung cách chia để trị, theo tiêu chuẩn liên hệ với gia
đình họ Ngô nên đã tạo ra nghi kỵ giữa các sĩ quan, giữa các tướng lãnh,
giữa các đơn vị, giữa các binh chủng. Do đó mà sau này, khi đảo chánh xong
rồi không biết ai ngay an gian, ai bạn ai thù, ai công ai tội.
Cho nên nói cho đúng thì vì nhìn thấy cơn suy vong của đất
nước, nhìn thấy nỗi thống khổ triền miên của đồng bào, nhìn thấy anh em ông
Diệm định bắt tay với ông Hồ Chí Minh mà bất đắc dĩ quân đội phải vội vã
đứng lên làm tên lính tiên phong cho dân tộc chận đứng cơn Hồng thủy. Nhưng
vì hậu quả quá nặng nề do chế độ Diệm để lại, nhất là mối oán cừu thù hận
đằng đằng giữa khối Công giáo và các tôn
giáo khác, cho nên những tướng lãnh tuy có lòng với quê hương dân tộc nhưng
lại không có tài an bang tế thế làm cho cuộc Cách mạng 1-11-1963 phải dở
dang.
Đứng trên bình diện truyền thống dân tộc và ở khía cạnh chống
độc tài bạo trị, thì cuộc nổi dậy của tướng Dương Văn Minh và các tướng lãnh
đồng chí với ông ta để lật đổ chế độ Diệm có khác nào hành động của Biện
Nhạc ở Vân Đồn và hai người em Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ nổi dậy chống tên quyền
thần tàn ác, tham nhũng Trương Phúc Loan và chống chúa Nguyễn. Lại bảo rằng
vì lật đổ chế độ Diệm mà xảy ra ba năm xáo trộn và mất miền Nam về tay Cộng
Sản thì có khác nào bảo vì cuộc lật đổ Trương Phúc Loan mà nội chiến ly
loạn, chết chóc tang thương liên tục 31 năm trời từ 1771-1802, ngày Gia Long
nhờ sự giúp đỡ của các cố đạo Pháp chiến thắng Tây Sơn thống nhất sơn hà để
sau đó Việt Nam bị Pháp đô hộ.
Chỉ có nhóm sử gia tay sai của nhà Nguyễn mới lên án anh em
Tây Sơn là phiến loạn và xuyên tạc cuộc cách mạng Tây Sơn, cũng như chỉ có
nhóm Công Giáo Cần Lao mới xuyên tạc chính nghĩa cuộc cách mạng 1963 và cuộc
đấu tranh của Phật giáo.
Ta không thể không kính phục sử gia Trần Trọng Kim sống dưới
triều đại nhà Nguyễn mà vẫn chê trách Gia Long, ca ngợi những người anh hùng
áo vải đất Tây Sơn. Ta không thể không kính phục người trí thức trẻ tuổi Tạ
Chí Đại Trường sống dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu, một Tổng thống Công giáo,
mà vẫn vạch tội Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp, cha đẻ Giáo hội Công giáo Việt Nam qua tác phẩm Lịch Sử Nội Chiến Việt
Nam 1771-1802.
Trách ông Dương Văn Minh và nhóm tướng lãnh lật đổ chế độ
Diệm tạo ra ba năm xáo trộn vậy có nên trách Tổng thống Yeltsin lật đổ chế
độ Nga Sô tạo ra tình trạng tan vỡ của Nga Sô thành nhiều quốc gia và đưa
nền kinh tế Nga vào cơn khủng hoảng hay không?
Ngoài ra, cuộc Cách mạng 1-11-1963 lại xảy ra vào lúc mà
chiến tranh tại miền Nam đã bắt đầu sôi động, một thứ chiến tranh nhân dân
phối hợp các hình thái quân sự, chính trị, tình báo, kinh tế, xã hội vô cùng
phức tạp, chi phối bởi rất nhiều ý thức hệ và giăng mắc bởi rất nhiều cạm
bẫy quốc tế. Cho nên tôi nghĩ rằng việc lên án sự thất bại của cuộc cách
mạng 1-11-1963 một cách giản dị đơn sơ e không khỏi mang nhiều tính bất công
nếu không muốn nói rằng bất lương.
Huống gì lịch sử cách mạng thế giới đã chứng minh rằng tất cả
những cuộc lật đổ các chế độ phong kiến độc tài đều kéo theo những khoảng
trống chính trị, những xáo trộn rối ren, nhiều khi kéo dài trên hàng chục
năm đẫm máu vẫn chưa chấm dứt. Mọi vật đều có giá: hoa Cách mạng giá càng
đắt hơn! Không cần phải kể đến những cuộc cách mạng vô sản do người Cộng Sản
chủ xướng mà bạo lực đã là một cứu cánh như Cách mạng Nga Sô (1917), Cách
mạng Trung Hoa (1927), Cách mạng Việt Nam (1945)... mà ngay cả những cuộc
cách mạng tại các quốc gia có truyền thống tín ngưỡng sâu đậm và có quá
trình vun xới mầm mống Tự do Dân chủ lâu dài hơn cũng đều kéo theo thăng
trầm, va chạm, mâu thuẫn để dù Cách mạng có ở cao trào hay thoái trào thì
vẫn có những biến loạn, thanh toán, va chạm đẫm máu.
Nghiên cứu về cuộc cách mạng Dân quyền 1789 vĩ đại của Pháp,
ta thấy rằng cho tới đầu tháng 5-1789, khi các quốc dân đại biểu được vua
Louis XVI triệu tập vẫn không có một lãnh tụ nào nghĩ tới chuyện lật đổ đế
chế để thiết lập nền Cộng Hòa. Ngay cho tới ngày 14-7-1789, sau khi dân
chúng Ba Lê võ trang đánh chiếm ngục Bastille và chặt đầu viên Thống đốc Ba
Lê bêu lên ngọn giáo, vẫn không có một người nào nghĩ tới chuyện đạp đổ đế
chế... Hoài vọng của các đoàn đại biểu lúc đó chỉ là đạt được một bản hiến
pháp để giới hạn bớt uy quyền của nhà vua cùng những đặc quyền đặc lợi quá
đáng của giai cấp tu sĩ và quý tộc... Nhưng một khi đã phát động, cuộc xung
đột càng ngày càng trở nên gay gắt, cho đến khi phải đối phó với thái độ
ngoan cố và cao ngạo của những đẳng cấp được ưu đãi, với thái độ vừa nhu
nhược vừa thủ đoạn của nhà Vua, các tầng lớp dân chúng mới lấy những biện
pháp quyết liệt, hoặc quá khích hơn với thời kỳ khủng bố kinh hồn năm 1793!
Do đó, chính cuộc Cách mạng 1789 đã mở màn cho truyền thống bạo lực mà sau
này các lãnh tụ Nga Sô vẫn tự hào cho mình là kẻ thừa kế. Và ở mặt khác,
cũng chính cuộc Cách mạng này, vì được tiến hành bởi nhiều tầng lớp xã hội
khác biệt, nên các khuynh hướng đã nhiều phen va chạm khốc liệt, khai sinh
ra một thứ chiến tranh giai cấp tạo tiền lệ cho các cuộc tranh chấp quyền
lực sau này.
“Cuộc Cách mạng Pháp xảy ra từ 1789 mà cho đến ngày 21
tháng 1 năm 1793, vua Louis XVI mới lên đoạn đầu đài. Vua Louis XVI chết
rồi, chính trường Pháp vẫn xáo trộn, phái Bảo Hoàng (chế độ cũ) hoạt động
gắt gao trong vụ tuyển cử. Do sự thoái trào của cách mạng, phái Bảo Hoàng
thâu hoạch được nhiều thắng lợi. Tình thế trở nên nguy ngập do sự tràn lấn
của phái Bảo Hoàng..., thanh toán lại tiếp diễn rồi Bonaparte trở về thanh
toán Cách mạng vào tháng 9-1797 để mấy năm sau ông ta cầm quyền và tái lập
nền đế chế”
[23].
Cách mạng Dân quyền Pháp để lật đổ
Quân chủ, sau gần 10 năm loạn ly, xáo trộn, cuối cùng lại trở về với Đế
chế!!
Những người chủ xướng cuộc cách mạng Pháp lúc đó cũng như
những người chủ xướng cuộc Cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, không quan
niệm được tính triệt để và toàn diện của Cách mạng, lại “nhân nghĩa”
quá độ nên không những đã đánh mất quyền lãnh đạo trong cuộc kháng chiến
1945 chống Pháp mà còn mất luôn cơ hội xây dựng sau tiến trình Cách mạng
1-11-1963 lật đổ chế độ Diệm.
Sở dĩ tôi đề cập đến Cách mạng 1789 của Pháp vì nó có nhiều
điểm tương đồng với cuộc cách mạng 1963, tuy khung cảnh và cường độ có khác
nhau.
Cách mạng Pháp mở màn trước khi vua Louis XVI lên đoạn đầu
đài cũng như cách mạng 1963 mở màn từ biến cố cấm treo cờ Phật giáo lúc ông
Diệm còn làm Tổng thống. Cách mạng Pháp lật đổ vua Louis XVI và tập đoàn của
ông ta, từ Marie Antoinette đến gia cấp quý tộc, giai cấp tu sĩ, giai cấp tư
sản thụ hưởng thì cuộc Cách mạng 1963 cũng lật đổ ông Diệm và tập đoàn của
ông ta từ ông bà Nhu, Giám mục Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Cẩn, anh em bà
con ông Diệm (quý tộc), và giới Công Giáo Cần Lao (tư sản hưởng thụ). Cách
mạng Pháp mở ngục Bastille thì Cách mạng 1963 mở khám Chí Hòa và Côn Đảo để
giải thoát cho những người quốc gia bị nhà Ngô giam giữ. Khi vua Louis XVI
chết thì nhóm Bảo Hoàng nổi lên cũng như khi ông Diệm chết thì nhóm Cần Lao
Công Giáo lại nổi lên. Nhóm Bảo Hoàng chiếm đa số trong Quốc dân Đại hội thì
nhóm Công Giáo Cần Lao cũng chiếm đa số trong Nghị trường dưới chế độ Thiệu.
Và sau khi vua Louis XVI chết, chính trường Pháp liên tiếp xáo trộn cũng như
sau khi ông Diệm chết thì xáo trộn liên tiếp xảy ra cho miền Nam.
Nếu có những khác biệt giữa hai cuộc Cách mạng thì đó là thái
độ của hai nhân vật bị lật đổ: Vua Louis XVI khi lên đoạn đầu đài, ông tự
tay cởi áo và cà vạt rồi im lặng để người ta trói mình, ông chỉ kêu lên “vô
tội” và nói lời cuối cùng là Tôi tha thứ cho kẻ thù của tôi và tôi cầu
Chúa để máu tôi khỏi gây họa cho dân chúng. Ông Diệm thì trái lại: Vào
những ngày ngắn ngủi còn lại trong cuộc đời mà ông đang cảm thấy cái chết sẽ
đến mình, ông đã đưa ra lời tuyên bố mang đầy tính hận thù: Tôi tiến thì
tiến theo tôi, tôi lùi thì bắn tôi, và tôi chết thì trả thù cho tôi.
Lời trối trăn của ông Diệm như chất cường toan để lại cho nhóm Công Giáo Cần
Lao nuôi dưỡng mối hận hung hãn, và tăng thêm tính phá hoại cho những xáo
trộn chính trị không thể tránh được sau này.
Cũng khác biệt nữa là nếu cuộc Cách mạng Pháp có rất nhiều
đầu rơi máu chảy không những của tàn dư phe đảng cầm quyền (là lẽ dĩ nhiên)
mà còn của các lãnh tụ cách mạng nữa, thì trong cuộc Cách mạng 1-11-1963 chỉ
có thêm hai người em của ông Diệm và bốn cán bộ của ông ta là Hồ Tấn Quyền,
Lê Quang Tung, Lê Quang Triệu và Phan Quang Đông. Còn tất cả tàn dư Cần Lao
và lực lượng công cụ một thời hét ra lửa của họ đều được khoan hồng sống
sót.
Cuộc Cách mạng 1789 không tạo được ổn định và không duy trì
được chính quyền cách mạng trong một thời gian dài nhưng tinh thần Tự do,
Bình đẳng và Huynh đệ của cuộc cách mạng đó vẫn sống mãi và đã là ngọn lửa
phát động cho nhiều cuộc cách mạng khác trên thế giới. Cũng vậy, cuộc Cách
mạng 1963 cũng không đem lại trật tự và phát triển cho miền Nam nhưng tinh
thần chống độc tài, chống bạo quyền của cuộc cách mạng đó cũng đã xác định
tính liên tục của truyền thống cách mạng chống áp bức của dân ta và
để lại một tiếng vọng nhắc nhở thôi thúc trong lòng người dân miền Nam từ
sau mùa Xuân 1975, khi nền chính trị chuyên chế của Cộng Sản chụp xuống đời
sống của người dân.
Biến cố 30-4-1975 không phải là một sự kéo dài của ngày Cách
mạng 1-11-1963 vì rất nhiều lý do nhưng đặc biệt là vì tính năng đặc thù của
chúng: Một ngày thì dìm miền Nam xuống vực thẳm, một ngày thì nâng miền Nam
lên vinh quang. Nếu có sự liên hệ trong thời gian và sự bất hạnh cho dân tộc
là sau gần ba năm xáo trộn, đất nước lại rơi vào tay Nguyễn Văn Thiệu,
một chế độ Diệm không Diệm, một chế độ Công Giáo Cần Lao phục hồi, lúc
mà dân chủ chưa được thực thi, dân chúng chưa được tự do tham gia vào chính
quyền.
Lịch sử lại cũng chứng minh rằng không những chỉ các cuộc
cách mạng mới kéo theo những rối rắm xáo trộn, những va chạm đột biến, những
thanh toán đẫm máu mà đến các cuộc chính biến, binh biến, đảo chính trong
thời cận đại cũng không thoát khỏi cái quy luật “biến động sau cơn khai phá”
đó. Từ những cuộc lật đổ vua Farouk của Ai Cập, vua Hailé Sélassé của
Ethiopie, đến những cuộc đảo chính lật đổ độc tài Batista của Cuba, Sokarno
của Nam Dương, Lý Thừa Vãn của Đại Hàn, Pahlavi của Iran, Somoza của
Nicaragua... đều kéo theo thời kỳ khủng hoảng, phản đảo chính, trả thù,
tranh chấp, xáo trộn. Chế độ trước đó càng áp bức nặng nề thì tình hình
sau đó càng hỗn loạn gay gắt.
Quy luật biến động đó lại càng đúng cho các quốc gia mà hầu
hết dân chúng đều theo Công giáo La Mã như Bồ Đào Nha hoặc Y Pha Nho. Hai
quốc gia này từng được cai trị bởi các nhà độc tài Công giáo suốt 40 năm
trời (Salazar ở Bồ và Franco ở Tây Ban Nha), thế mà sau khi họ nằm xuống, dù
không phải vì một cuộc đảo chánh hay cách mạng, các quốc gia ấy (nhất là Tây
Ban Nha) vẫn bị xáo trộn khủng hoảng trầm trọng. Các vụ bắt cóc, ám sát, phá
hoại, các vụ nổi dậy của dân thiểu số Basque, nhiều tướng tá bị thải hồi, bị
tù tội, và hỗn loạn nhất là hai cuộc đảo chính do những sĩ quan trung thành
với Franco chủ trương.
Ý Đại Lợi là một trường hợp điển hình rất đáng chú ý vì đó là
một quốc gia Công giáo với Tòa thánh Vatican ngự trị ngay tại thủ đô La Mã,
thế mà từ sau khi nhà độc tài Mussolini bị xử tử (1945), Ý đã triền miên
sống trong bạo động và biến loạn từ kinh tế đến chính trị, từ trật tự xã hội
đến an ninh quốc gia.
Thật vậy, sau thời kỳ độc tài độc đảng của Mussolini, đến
thời kỳ đa đảng chính trị xuất hiện mà Đảng Cộng Sản Ý lại là đảng Cộng Sản
mạnh nhất trong các nước ngoài khối Cộng Sản. (Đó là một hiện tượng mới nhìn
thì khó hiểu vì hầu hết dân Ý đều theo Công giáo La Mã chống Cộng Sản vô
thần, nhưng xét thật kỹ, nhất là nắm vững được bản chất quyền lực và các
sách lược chính trị của Vatican trong giai đoạn sau thế chiến II, thì ta sẽ
chẳng thấy gì khó hiểu cả). Ngoài các đảng chính trị hoạt động công khai, Ý
còn có những tổ chức bí mật ngoài vòng luật pháp như Tổ chức Phục hồi Danh
dự Mussolini, Tổ chức Thân Phát xít, Tổ chức Mafia, và các tổ chức khủng bố
cả Tả lẫn Hữu, như Red Brigade là tổ chức kinh khiếp nhất thế giới.
Những vụ bắt cóc, thủ tiêu, ám sát, đặt bom, tống tiền, phá
hoại đẫm máu liên tiếp xảy ra mà nạn nhân đều là những nhân vật quan trọng
trong giới chính trị, quân sự, tư pháp, cảnh sát, tư bản. Thủ tướng Moro,
một chính trị gia Công giáo tên tuổi bị bắt cóc và dù Giáo Hoàng Paul VI đã
quỳ xuống ngỏ lời xin tha mà Moro vẫn bị giết. Mới đây Giáo Hoàng John Paul
II cũng bị bắn ngay tại công trường “Thánh Peter”. Người con gái 15 tuổi có
cha làm việc trong Tòa thánh bị bắt cóc, Giáo Hoàng John Paul II ngỏ lời xin
quân khủng bố trả lại tự do cho em bé mà vẫn không được đáp ứng.
Từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt cho đến năm 1983, chính
trường Ý luôn luôn bất ổn đến nỗi trong vòng 37 năm mà Ý Đại Lợi đã phải
trải qua 45 chính phủ dù 44 thì đã thuộc về đảng Dân Chủ Thiên Chúa giáo
(trung bình mỗi chính phủ không kéo dài quá 9 tháng, có chính phủ chỉ kéo
dài một vài tuần lễ). Xáo trộn chính trị lên đến cao điểm khi mà một quốc
gia không ở trong tình trạng chiến tranh nhưng lại sử dụng bạo lực để giải
quyết mâu thuẫn, nhất là khi bạo lực đó lại được vị giáo chủ cao cấp nhất
của giáo hội Vatican vinh danh:
Bọn khủng bố bắt cóc nhân vật uy tín nhất của nước Ý sau
khi giết sạch toán cận vệ của ông. Chúng đòi đổi tù, chuộc các lãnh tụ của
chúng ra khỏi nhà giam. Chính quyền Ý cứng rắn từ khước. Cảnh sát, công an,
mật vụ tung ra khắp nước lùng tìm người bị bắt cóc. Hàng tháng trôi qua, các
ông “cớm” thuộc loại “mắt chó giấy” tìm không ra manh mối. Điều đó chưa đáng
nhục. Nhục hơn cả là Đức Giáo Hoàng lên tiếng van xin bọn khủng bố: “Tôi xin
quỳ xuống van xin các người hãy phóng thích Moro!”
Chưa bao giờ bạo lực được vinh danh đến thế! Khỏi cần ngoan
đạo, khỏi cần giữ mười điều răn, chỉ cần có súng ống, có gan liền dí súng
vào đít thiên hạ đặt điều kiện, thế là được vị chức sắc cao cấp nhất của một
tôn giáo lớn nhất thế giới quỳ xuống van xin! Quỷ Sa Tăng sáng giá đến thế
sao?
Có lẽ Đức Giáo Hoàng có một hậu ý khác người. Ngài chịu
khuất mình một chút để cho sự phẫn nộ của loài người trước bạo lực thêm kích
thích chăng? Để cho bản án nhân loại thêm xác quyết chăng? Hay đó chỉ giản
dị là một sự đầu hàng trước bạo lực? Cái đó chỉ có Đức Giáo Hoàng hiểu lấy
mà thôi.
Thực tế trước mặt là: sau khi Đức Giáo Hoàng quỳ lạy thì
bọn khủng bố trả lời bằng cách trả xác chết Moro về trong cốp một chiếc xe
hơi đậu ở ngoài đường.
Đức Thánh Cha bèn làm lễ cho nạn nhân, nhưng bà vợ nạn nhân
không đến dự lễ cầu hồn ấy. Có lẽ bà ấy ước mơ được thấy một Pio XII tái
sinh hơn là một Paul VI quỳ lạy trước bạo lực, dù với một dụng ý gì.
[24]
Dụng ý gì nữa:
Giáo Hoàng Paul VI là một nhân vật đầu hàng sức mạnh bạo lực của Nga Sô cho
nên thái độ chính trị đó không ngoài mục đích làm hài lòng Cộng Sản cho các
Giáo hội địa phương được dung tha mà thôi.
Nhưng thái độ đầu hàng nhục nhã đó dù sao cũng là vấn đề
riêng của Giáo hoàng, của Giáo hội La Mã và của những kẻ chỉ biết cúi đầu
trước sức mạnh. Nó hoàn toàn không biểu tượng được cái truyền thống “uy vũ
bất năng khuất” của một người có sĩ khí, của một dân tộc quật cường.
Nước Ý đã từng bị cai trị bởi một nhà độc tài phát xít là
Mussolini, đồng thời lại có một Giáo hoàng Pio XII thân Mussolini và thân
Nazi không dám lên án chính sách tàn bạo của Đức quốc xã (theo tin của hãng
thân tống UPI, 21-9-1981). Tòa thánh Vatican lại là nơi chứa chấp, che chở
những tội phạm của nhân loại, những nhân viên cao cấp của đội xung kích SS
của Nazi như tên Walter Rauff chẳng hạn đã bị tình nghi giết 250.000 dân Do
Thái (theo tin UPI, 10-5-1984). Cho nên sau khi các nhân vật phong kiến, độc
tài, cực hữu đó chết đi thì đảng Cộng Sản và đội khủng bố cực tả phải ra đời
theo quy luật chính trị về bạo động và luật vay trả của nhân thế.
May cho nước Ý là từ ngày 22-7-1983, chính phủ Xã hội đầu
tiên do Thủ tướng Benito Craxi cầm đầu với một chính sách cởi mở, đặc biệt
nhất là việc ký kết với Tòa thánh một thỏa ước chấm dứt quyền hành của Tòa
thánh trên lãnh thổ Ý, trừ địa phận của Vatican (theo tin AP, 18-2-1984),
chính tình Ý mới bắt đầu đi vào nề nếp quy củ phần nào. Tuy nhiên, sự ổn
định xã hội và chính trị này còn phải đợi thời gian trả lời vì dù sao thì
mầm mống của bạo lực cũng đã ăn sâu vào xã hội nước Ý rồi.
Ngoài những quốc gia vừa kể trên, những biến động, xáo trộn,
bất ổn sau một cuộc chính biến vẫn còn xảy ra cho nhiều quốc gia khác tại
Trung và Nam Mỹ, và đặc biệt tại Phi Luật Tân. Phi là một quốc gia hoàn toàn
Công giáo tại Đông Á và là niềm tự hào của Tòa Thánh La Mã, nhưng chẳng may
gần 20 năm nay lại bị cai trị bởi vợ chồng nhà độc tài Marcos (một tín đồ
Công giáo). Cho nên ta có thể tiên đoán rằng khi vợ chồng Marcos nằm xuống
hay ra đi thì Phi cũng sẽ chịu hậu quả xáo trộn rối ren như miền Nam Việt
Nam, sau khi anh em ông Diệm bị lật đổ và bà Ngô Đình Nhu ra đi.
Những chứng minh thực tiển và hùng hồn trên đây cho thấy rằng
tất cả những chế độ độc tài phong kiến mỗi khi bị sụp đổ đều để lại xáo
trộn rối ren cho đất nước. Những đợt sóng ngầm tùy sâu hay cạn, to hay
nhỏ khác nhau nhưng rồi sẽ cuồn cuộn nổi lên để va chạm, xoáy mạnh mỗi khi
thay đổi thủy triều. Tất nhiên cuộc cách mạng thay đổi chế độ độc tài Công
giáo trị của anh em ông Diệm cũng không tránh khỏi quy luật đó:
... Chế độ Ngô Đình Diệm cũng không tránh khỏi những lỗi
lầm trên dù cố gắng nhập cảng vào Việt Nam chủ thuyết “Nhân vị”, tổ chức
“Thanh Niên Cộng Hòa”, “Ấp Chiến Lược”. Chủ thuyết cần được giải bày sâu
rộng, phù hợp với tình trạng chính trị, xã hội ở quốc nội lẫn ở bình diện
thế giới. Nó cần được giới đề xướng áp dụng trước tiên ít ra là trên đại
cương. Chế độ phong kiến, quan lại, gia đình trị, đảng trị, kỳ thị của Ngô
Đình Diệm không ích lợi gì cho xã hội Việt Nam, nhất là từ 1958 trở về sau,
không dính dấp gì tới chủ thuyết “Nhân vị” hay ho trên giấy tờ cả! Trái lại,
hậu quả sai lầm của chế độ Diệm là một xâu tướng tá lên nắm quyền chính trị,
tôn giáo chơi nhau
[25].
Hậu quả sai lầm đó đã đẻ ra ba năm xáo trộn mà trong đó tướng
lãnh, tu sĩ, trí thức, sinh viên, đảng phái,... đã thao túng để tranh quyền
đoạt lợi cho bè phái của mình hay cho những ước mơ nhiều lúc không chính
đáng nhưng luôn luôn tạo thêm hỗn loạn!
Nếu đợt thủy triều Cách mạng 1-11-1963 đã thành công trong
việc đập tan chế độ độc tài Ngô Đình Diệm thì nó lại thất bại trong việc
cuốn đi những rác rớm của chế độ đó để khi sóng yên biển lặng, những cặn bã
của chế độ cũ lại nổi lên mặt nước làm ung thối thêm miền Nam.
Những cặn bã đó đã được Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cảnh báo như
sau.
Đối với những ai từng tham dự vào sinh hoạt chính trị sau
khi Diệm bị lật đổ thì còn phải nhìn thấy một đặc điểm khác. Đó là sự kiện
người Công giáo vẫn rất uy quyền, và sau một thời gian vắng bóng ngắn ngủi,
họ lại xuất hiện trên chính trường. Những kẻ hoạt động tích cực nhất đều
bênh vực Ngô Đình Diệm, và những ai từng chống đối Diệm đều bị họ coi như là
kẻ thù của người Công giáo (For those involved in the political activities
after Diem’s fall, there is another consideration to take into account. The
Catholics remained powerful and after a short eclipse, appeared again on the
stage. The most active among them strongly defended Diem’s memories, and
those who opposed him risked being considered the Catholic’s enemies)
[26].
Ba năm xáo trộn, mà nguyên nhân chính là tàn dư của Công Giáo
Cần Lao, đã làm suy nhược thêm sức mạnh chính trị của miền Nam với kết quả
cuối cùng là đem một chế độ quân phiệt lên cầm quyền để tái lập một chế
độ Diệm không Diệm: chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa của Nguyễn Văn Thiệu.
[1] Thế Uyên, Chân
Dung Nhất Linh, tr. 127.
[2] Stanley, Karnow, Vietnam: A History,
tr. 339.
[3] Đoàn Thêm,
Việc Từng Ngày, 1968,
tr. 30 và Tuần báo Paris Match (số 1527, ngày 1-9-78).
[4] Phạm Kim Vinh, Lịch Sử Chiến Đấu Của Quân Lực VNCH, tr. 50, 51.
[5] Nguyễn Ngọc Huy, Sự Thiếu Ý thức và Trí thức của
Người Việt Nam Không Cộng Sản Kể Cả Trí Thức Trong Giai Đoạn Trước Năm 1975, trong báo Đường Mới (1984).
[6] Đào Sĩ Phu, bài phê bình cuốn “Những Bí ẩn
Về Cái Chết Của VNCH” của Phạm Kim Vinh đăng trong nguyệt san Nhân Bản
(số 16 ngày 1-7-78). [7] Doãn Quốc Sĩ,
Người Việt Đáng Yêu, tr. 108.
[8] Hoàng Phi Hổ, Nguyễn Tường Tam: Nhà Văn, Nhà Cách Mạng Dân Tộc, tạp chí Khai Phóng,
(số 5 ngày 1-9-81). [9] Thế Phong, Nhà
văn, Tác Phẩm, Cuộc Đời. NXB Đại Nam Văn Hiến, Sài Gòn 1965.
[10] Nhật báo Ngôn Luận, (số ngày 4-11-63).
[11] Võ Phiến, Đất
Nước Quê Hương, tr. 97, 98.
[12] Jerrold Schecter, The Fusion Of Religion
and Politics In Comtemporary Buddhism, tr. 158.
[13] Jerrold Schecter, The Fusion Of Religion
and Politics In Comtemporary Buddhism, tr. 158.
[14] Frances
Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 286.
[15] Frances Fitzgerald, Fire in the Lake,
tr. 276.
[16] Đặc san Quê Mẹ, Xuân Cố Hương (1980), tr. 43, 45.
[17] Nguyệt san Độc
Lập, số tháng 10-1984, tr. 15.
[18] Stanley Karnow, Vietnam: A History,
tr. 446-449.
[19] Robert Shaplen, A Reporter At Large, Return To Vietnam, tuần báo The New Yorker (số ngày
29-4-83) tr. 92.
[20] Trần Ngọc Ninh, Phật giáo và Cộng Sản,
Nguyệt san Phật giáo (số 3 tháng 8-78).
[21] Lê Nguyên Long, Bất Đắc Dĩ Khơi Đống Tro
Tàn, tạp chí Khai Phóng (số 7) tr. 38.
[22] Nguyệt san Dân
Quyền (số 77 và 78 tháng 8-84) tr. 29.
[23] Nghiêm Xuân Hồng,
Cách mạng và Hành động, tr. 12, 13.
[24] Trần Thủy, Vinh
Danh Bạo Lực, bán Nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại (số 25 ngày 1-6-78) tr.
65-67.
[25] Đào Sĩ Phu, bài Phê bình cuốn “Những Bí ẩn
Về Cái Chết Của VNCH” của Phạm Kim Vinh, nguyệt san Nhân Bản (số 16 ngày
1-7-78).
[26] Nguyễn Ngọc Huy,
The Story Of Diem’s Overthrow and Murder, “Displaced Person”, Center
Information Service, tài liệu đã dẫn.
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|