|
PHỤ LỤC "E"
Mười một bài đọc thêm
Phụ lục E Mười một bài đọc thêm
1. Hội hè đình đám của người Thiên Chúa giáo
Hội hè Đình Đám-Toan Ánh
2. Bức thư Ngô Đình Thục gởi Toàn quyền Decoux
Tạp chí Lên Đường - Số ra mắt, Houston, Texas, Hoa Kỳ
3. Ngô Đình Diệm có một đứa con trai
Hồi ký Việt Nam Nhân Chứng - Trần Văn Đôn
4. Ngôi biệt thự mùa hè của bà Ngô Đình Nhu
Người Bình Dương - Tạp chí Tia Sáng số 26, Houston, Texas, Hoa Kỳ
5. Bản án tử hình Ngô Đình Cẩn
Tòa án Cách mạng - Tạp chí Tia Sáng số 21, Houston, Texas, Hoa Kỳ
6. Bức công điện tòa Đại sứ Mỹ đánh về Hoa Thịnh Đốn
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ - Sưu tầm của tướng Nguyễn Chánh Thi
7. Trương Đình Cát và Hà Như Chi
Hồi ký Việt Nam Một Trời Tâm Sự - Nguyễn Chánh Thi
8. Thư ngỏ gửi ông Hứa Hoành
Trần Ngọc Lý - Tạp chí Tia Sáng số 22, Houston, Texas, Hoa Kỳ
9. Luật sư, Nghề hay Nghiệp ?
Võ Văn Quan - Tạp chí Ngày Nay số 99, Kansas, Hoa Kỳ
10. Đầu hàng
Vân Xưa - Trích từ Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị
11. Giải tỏa về Cái chết của Tướng Trịnh Minh Thế
Trịnh Minh Sơn - Trích từ Tạp chí Góp Gió số 112, phát hành ngày
7-2-2003 và
www.dongduongthoibao.net/view.php?storyid=336
12. Lời Phân trần của Tướng Dương Văn Minh về ngày 30 tháng 4 năm 1975
Trần Viết Đại Hưng
(Hai bài “đọc thêm” số 11 và 12, như những chứng liệu lịch sử,
chỉ mới được thêm vào trong Ấn bản Điện tử 2007)
HỘI HÈ CỦA ĐỒNG BÀO THIÊN CHÚA GIÁO
* Tác giả: Toan Ánh
* Trích từ: Hội Hè Đình Đám của Toan Ánh
Nói đến hội hè đình đám của nhân dân ta, tôi muốn nói ít dòng về hội hè
của các đồng bào theo đạo Gia Tô. Đối với các đồng bào này, lẽ tất nhiên
đình đám không có, nhưng không phải vì thế mà không có hội hè. Những hội hè
này, tôi đã hân hạnh trình bày cùng bạn đọc trong “Tín Ngưỡng Việt Nam”
quyển hạ, khi nói về Thiên Chúa giáo từ trang 5 đến trang 74, nhất là trong
các mục lễ tiết và đám rước. Đấy là những dịp hội hè hàng năm về tôn giáo
của các đồng bào Thiên Chúa giáo.
Ngoài các hội hè hàng năm trên, các đồng bào Thiên Chúa giáo cũng còn có
những dịp khác để chung vui hội hè cùng nhau, thí dụ như khi một Cha được
vinh thăng Giám mục, hoặc khi Đức Giám mục được một ân hưởng gì của Tòa
Thánh, hoặc của Chính phủ.
Bắt đầu viết chương này, soạn giả vẫn có ý định tìm những tài liệu về các
hội hè của đồng bào Thiên Chúa giáo, trong những dịp bất thường. May mắn
Tổng Thư Viện Việt Nam đã có những tài liệu này trong tập Autour des
Fêtes du 3 Décembre 1940 à Phát Diệm (Chung quanh đại lễ ngày 3-12-1940
ở Phát Diệm).
Tập sách này có hai phần chữ Pháp và chữ Việt mang số M 1040 của Tổng Thư
viện Quốc gia nói về Đại Lễ Tấn Phong Đức Giám mục Phan Đình Phùng và lễ gắn
Bắc Đẩu Bội Tinh cho Đức Giám mục Nguyễn Bá Tòng. Sách do nhà in Ngô Tử Hạ
ấn hành và do Chánh, Phó Giám mục, Linh mục và các giáo hữu địa phận Phát
Diệm chủ trương.
“Chúng tôi in tập nhỏ này làm kỷ niệm cuộc lễ đã tổ chức tại Phát Diệm
ngày 3 Décembre 1940, và để thành thực cảm ơn các bậc vị trong đạo ngoài đời
đã quá yêu mà đến - có đấng bởi chốn xa xôi đến dự lễ này - để cám ơn những
đấng bậc vì nhẽ quan trọng bó buộc, không thể đến được; để cám ơn một số rất
đông các thân hào quý khách không đăng tên trong báo chương; và để cám ơn
các bậc ân nhân cùng hết thảy những người đã thịnh tình hộ giúp bất kỳ cách
nào cho cuộc lễ này được một cách rực rỡ xán lạn như nguyện” (trang 67).
Mấy dòng chữ nói trên đủ nói lên tính cách quan trọng của buổi lễ và sự
hân hoan của đồng bào Gia Tô giáo với sự thành công tưng bừng của buổi lễ.
Để tránh mọi sự sai lầm khi viết lại, cũng như để bạn đọc lĩnh hội hết
mọi sự quan trọng của cuộc hội hè, đại lễ này, soạn giả xin trích đăng
nguyên văn như sau đây bài tường thuật đã in trong cuốn Autour des Fêtes
du 3 Décembre 1940 à Phát Diệm trên từ trang 33 đến trang 41:
CUỘC ĐẠI LỄ TẤN PHONG GIÁM MỤC
VÀ GẮN HUY CHƯƠNG TẠI PHÁT DIỆM
Ngay từ chiều ngày 2 Décembre, khu nhà thờ Phát Diệm đã hiện ra trong
cảnh tưng bừng sáng sủa. Giữa những hàng cột cờ giáo sắc nhởn nhơ theo chiều
gió bay, giữa chừng chòm cây xanh biếc pha màu vàng nhạt, giữa các khải hoàn
môn mới dựng lên để nhắc lại cuộc thắng trận vẻ vang của tấm lòng bác ái và
đức hiếu hòa đạo Công giáo... Ngôi thánh đường đồ sộ, nguy nga đứng sững
trước mặt khán quan, hình như lôi hút hết tinh thần của nhân vật xung quanh.
Tòa thánh điện lịch sử đó hôm nay ra mắt với công chúng trong bộ áo chạm trổ
những cảnh rồng vờn, phượng múa, những thánh tích về tôn giáo... đầy vẻ linh
động, đầy tinh thần ái quốc, đầy mỹ thuật Việt-Nam, trông thực “uy phong
hùng tráng như đội quân xếp hàng ra trận”. Ngôi thánh đường đó tuy đã nhiều
tuổi, mà vẫn trẻ trung, sắc đẹp lộng lẫy càng thêm trẻ, trẻ như một vị công
chúa xiêm áo rực rỡ đợi ngày lễ tân hôn... Đứng ở lầu chuông mà ngắm nghía,
chúng tôi không khỏi chạnh lòng hoài cảm... nhớ ơn một linh mục, một bức
gương anh hùng dũng cảm, trung quân ái quốc trong lịch sử Rồng Tiên và thế
kỷ vừa qua: Cụ Trần Lục mà trong óc chúng tôi còn phảng phất như thấy dáng
người, tuy đã khuất núi... mà nay còn cao nhời kêu gọi xứ Bắc Kỳ: “Hãy cất
tiếng reo hò mừng rỡ, hỡi người xon sẻ không sinh, hãy hớn hở mừng vui khoái
trá” vì từ nay đây Bắc kỳ không còn thẹn mặt với Trung Nam. Ngày mai, lễ tấn
phong Đức cha Phan Đình Phùng, Bắc kỳ sẽ góp với Hội Thánh hoàn cầu một giám
mục đủ bề tài đức.
Mồng 3 Décembre - Từ lúc tinh mơ, chúng tôi nhận thấy quân quan nhà binh:
lính khố xanh, khố đỏ, lính kèn, lính thủy, lính thị vệ quan Thủ Hiến Đông
Dương... đã lục tục rẽ màn sương tới khu nhà thờ Phát Diệm một cách vui vẻ.
Hình như họ đã đến đưa tin cho Phát Diệm rằng: “Lúc này sự tối tăm còn bao
phủ mặt đất... Nhưng người hãy dậy đi, hãy thả hào quang ra... Thiên Chúa đã
giải sáng trên mình người... Kìa muôn dân theo ánh sáng đang tuôn lại với
ngươi... Ngươi hãy ngó chung quanh, vua chúa đang đến cùng ngươi...”. Thế
rồi một lúc sau, khi nhà binh đã dàn xếp xong để giữ trật tự, các ô tô theo
đàng quan lộ Ninh Bình, Phát Diệm nối đuôi nhau, rít còi chạy, đưa tới Phát
Diệm một lớp người thượng lưu, quan chức pha vào làn sóng bình dân, trên bến
dưới thuyền, đường rộng ngõ hẻm, đang cuồn cuộn đổ tới nhà thờ Phát Diệm.
Đúng bảy giờ rưỡi, một hồi chuông lanh lảnh gieo tiếng bạc trên không
trung, báo hiệu đã tới giờ hành lễ. Các vị Giám mục, hàng giáo sĩ, các sinh
viên thần học, lễ phục chỉnh tề, rước đức tân Giám mục ra nhà thờ. Vào thánh
điện vừa xong, thời đoàn xe quan Thủ Hiến Đông Dương, cùng với quý phu nhân
Decoux tới nơi. Đi theo ngài, có quan Thống sứ Grand Jean, quan Đổng Lý Văn
Phòng Gautier, quan Thanh Tra Chính Trị Erard, quan Chánh Văn Phòng phủ
Thống Sứ Queinec, quan Thủy Quân Trung úy De Trégomain, quan Chánh Văn Phòng
phủ Toàn Quyền: ông Sylvestre de Sacy, các quan sở Liêm Phóng theo hộ giá và
nhiều vị thượng quan. Đức Cha Nguyễn Bá Tòng dung nhan hớn hở, nụ cười vui
tươi lúc nào cũng như một, ra ứng tiếp quan Thủ Hiến. Các quan chức nhà binh
giàn hàng thi lễ, bồng súng chào. Hội Tây nhạc nhà binh cử bài quốc ca. Quan
Thủ Hiến vừa bước chân xuống xe, ngài tiến thẳng lại mồ cụ Trần Lục. Hai tay
kính cẩn đặt vòng hoa trên nấm mồ vị Nam tước. Một phút yên lặng: quan Toàn
Quyền cảm động kính điếu một vị anh hùng, một bậc quốc công danh vang bốn
bể... mà nay, lần thứ nhất, ngài mới được nhìn những công cuộc vĩ đại như
tiếng ca khen đức tài. Thực là một buổi nhất sơ, mà buổi nhất sơ này lại
được đứng trước mồ vị Nam tước Phát Diệm càng thêm cảm xúc ai tình... Vị Thủ
Hiến Đông Dương đưa cặp mắt đầy cảm động không thể giấu được, ngó chung
quanh lũ con dân chồng chịt như nêm cối, bao nhiêu con mắt đổ dồn vào Ngài.
Ngài cảm động hơn nữa, vì nghĩ tới Cụ Trần Lục, người cha đã giáo hóa con
dân biết trọng lễ nghi trật tự, kỷ cương, và là vị phúc tinh đã đem sự hòa
bình thân thiện cho dân tộc Pháp-Nam mà ngài vừa mắt thấy tai nghe những
chứng chỉ thành thực do những cuộc đón chào các hương lý phủ, huyện, đứng
chực hai bên đường Ninh Bình-Phát Diệm biểu diễn... Vẫn giữ nét mặt cảm động
và suy nghĩ, quan Toàn Quyền cùng với các quan khác theo Đức Cha Nguyễn Bá
Tòng hướng đạo tiến vào thánh đường.
Tám giờ rưỡi đúng, cử hành lễ tấn phong do Đức Cha Drappier Khâm Sứ chủ
sự. Hai vị Giám mục thụ phong là Đức Cha De Cooman, Giám mục Thanh Hóa và
Đức Cha Nguyễn Bá Tòng. Trên gian cung thánh trang hoàng rực rỡ, theo nền mỹ
thuật Việt-Nam, những ngọn nến trên bàn thờ thi nhau cháy, hình như cố công
để thắng át những tia sáng pha mầu sơn đỏ do bàn thờ và các khung ảnh chiếu
ra... Chúng tôi nhận thấy một ghế riêng gần ngai Giám mục, để kính biếu vị
Thủ Hiến Đông Dương. Bên Thánh Thư, chầu lễ có các vị Giám mục, các Đức Cha:
De Cooman Thanh Hóa, Eloy Vinh, Chaize Hà Nội, Artaraz Bắc Ninh, Gomez Hải
Phòng, Hồ Ngọc Cẩn Bùi Chu, Lemasle Huế, Vandael Hưng Hóa, Ngô Đình Thục
Vĩnh Long. Liền đó, chúng tôi nhận thấy các vị truyền giáo người Pháp, Tây
Ban Nha, Bỉ, Bồ Đào, các vị linh mục bản quốc Việt Nam rất đông. Các dòng
tu: dòng thánh Đa Minh, dòng Trappe, dòng Phanxicô, dòng Cứu Thế, các cha
Sulpiciens... đông đúc chầu lễ gần các Đức Cha. Các thầy dòng anh em trường
Công giáo cũng có ghế kinh riêng.
Nhà thờ Phát Diệm chật ních. Trong mấy hàng ghế đầu dưới bàn thánh, chúng
tôi nhận thấy quý phu nhân Decoux, cụ Võ Hiển Hoàng Trọng Phu, quan Thông Sứ
Grandjean, Đại úy Caux, Thanh tra Chính trị Erard, Thanh tra Chính trị Trung
kỳ; cụ Jardin đại diện quan Khâm sứ Trung kỳ Gratfeuil, quan Công sứ Ninh
Bình, Công sứ Thanh Hóa, Chánh Sở Liêm Phóng Bắc kỳ: ông Pujol, cụ Vi Văn
Định, các quan theo hộ giá quan Toàn Quyền, cụ Tổng Đốc Vũ Ngọc Hoành, quan
Thanh Tra Học Chính Bắc Kỳ Courtoux, cụ Hộ Pháp Huế, các quan Tuần Phủ, Tri
Phủ, Tri Huyện... và các công chức nhà nước đông vô kể. Ngay sau ghế Decoux
phu nhân có các bà nữ tu dòng Oiseaux, dòng Notre Dame des Missions và dòng
Thánh Giá. Liền đấy là anh em thân thích Đức Cha mới.
Lễ tấn phong khởi hành sau khi các quan an tọa. Các sinh viên Thần Học và
Hội Ca Nhạc Phát Diệm cử kính xin ơn Chúa, Thánh Thần, Đức Giám Mục chủ
phong, lễ phục uy nghiêm ngồi trên tòa quay xuống. Ngồi trên ghế phủ thảm
đối diện với ngài, là vị Giám mục sắp thụ phong. Sau khi đã cầu nguyện theo
nghi lễ, Đức Giám Mục chủ phong ngồi ghế trên phản bàn thờ quay ra. Vị Giám
Mục thụ phong thưa: có sắc phong. Ngài truyền cho một vị Linh mục cao tiếng
đọc cho công chúng nghe. Cha Lucas Lý, bề trên chủng viện Phúc Nhạc, vừa dứt
tiếng đọc xong đạo sắc, Giám Mục chủ phong đưa Deo Gratitas tạ ơn Chúa. Liền
đó tiếp theo nghi lễ “khảo hạch”. Hai Giám Mục thụ phong và Tân Giám Mục đọc
kinh cầu lễ, hành lễ một trật với vị tấn phong.
Lễ làm gần tới bài Phúc Âm, thì khởi hành cuộc tấn phong, lễ nghi dài,
trang nghiêm, cảm động, khiến người dự lễ có lúc vui mừng hớn hở, lúc lại
trầm ngâm suy nghĩ... Tiếng hát Veni Carator... và kinh cầu các Thánh vọng
lên không, tiếng bổng tiếng trầm, hòa với điệu nhạc nhà binh, với tiếng phi
cơ reo cười trên làn sóng khí, déo dắt du dương... khiến người dự lễ có lúc
cao hứng hình như không còn nhớ mình ở vào cảnh nào! Đang khi đó, trên cung
thánh lễ tấn phong cứ lần lượt cử hành: xức dầu tay, xức trên đầu, làm phép
nhẫn, làm phép mũ gậy. Đức Giám Mục chủ phong trao mũ gậy cho tân Giám Mục,
chỉ quyền ngài coi sóc con chiên giáo hữu. Ngài trao nhẫn ngụ ý rằng đức tân
Giám Mục phải giữ lòng trung thành với Đức Tin, với Giáo Hội Roma, cũng như
người bạn trăm năm một dạ cầm sắt với phu quân mình. Ngài lại trao sách Phúc
Âm, chỉ quyền trao giảng giáo lý là phận sự của vị Giám Mục. Thế rồi Giám
Mục chủ phong và thụ phong cũng nhau tiến hành cho hết lễ Misa. Lễ xong, đức
Giám Mục chủ phong đội mũ vàng, trao gậy ngọc, xỏ nhẫn cho vị tân phong; đặt
ngài trên tòa mình và quay xuống cách oai nghiêm như mừng và giới thiệu Giám
Mục cho con chiên giáo hữu. Bấy giờ các sinh viên trường Thần Học và hội ca
vịnh cử bài Ta Deum ngợi khen tán tụng Chúa. Đồng thời, tân Giám Mục mũ gậy
uy phong tráng lệ đi làm phép cho dân. Hát xong bài ca tán tụng Chúa, Đức
Cha mới ban phép lành đầu tiên cho giáo hữu... Đức tân Giám Mục bái gối ba
lần cám ơn Đức Cha chủ phong chức, nhời vạn tuế “Thọ Tràng”. Kết thúc nghi
lễ tấn phong, ba vị Giám Mục chủ phong, thụ phong cùng với Tân Giám Mục theo
lễ nhạc trao đổi cho nhau những cái hôn thánh sạch, kèm nhời chúc tục.
Theo sau cuộc lễ tấn phong là lễ gắn huy chương cho Đức Cha Nguyễn Bá
Tòng do quan Toàn Quyền chủ sự. Vị Thủ Hiến Đông Dương và các Giám Mục cùng
quan khách từ nhà thờ tiến ra phương đình. Hội nhạc nhà binh cử bài hào vui
vẻ. Quan Toàn Quyền và phu nhân Decoux ngồi giữa hai Đức Cha Drapier và
Nguyễn Bá Tòng. Một viên thanh niên trong hội Nam Thanh Công Giáo bước ra
đọc một bài chúc từ cám ơn quan Toàn quyền đến thăm Phát Diệm, chỗ mấy chục
năm trước cha Trần Lục đã đón tiếp hai vị Toàn Quyền là De Lanessan và
Rousseau. Mừng quan Toàn Quyền đã nhờ tại ngoại giao lỗi lạc mà tránh cho xứ
Đông Dương một cơn khủng bố. Quan Toàn Quyền đứng lên nói ít nhời tỏ lòng
quyến luyến Phát Diệm và Đức Cha Nguyễn Bá Tòng. Ngay hôm mới gặp Đức Cha
lần đầu ở Tam Đảo, ngài đã cảm phục và hứa sẽ đến Phát Diệm thăm Đức Cha.
Nay được như ý sở nguyện, Ngài rất lấy làm thỏa dạ. Thỏa dạ vì trong buổi
đến thăm Đức Cha này Ngài lại được cái vui sướng tự tay gắn Bắc Đẩu Bội Tinh
cho Đức Cha. Ngài chúc cha vừa mới thụ phong được một cuộc tông đồ sung mãn.
Sau một hồi vỗ tay, quan Toàn Quyền mời Đức Cha Tòng xuống trước sân rộng
giữa đội lính thủy bồng súng chào. Sau một tiếng hô rất mạnh mẽ, Ngài tuốt
gươm bạc cầm trong tay và cứng cát tuyên bố thay mặt cho Thống Tướng Pétain,
quốc trưởng Pháp kính tặng Đức Cha Tòng Ngũ Hạng Bắc Đẩu Bội Tinh. Thế rồi
Ngài tiến đến Đức Cha hai tay kính cẩn gắn huy chương mà chính Ngài tặng Đức
Cha. Lùi ra mấy bước, Ngài cầm chiếc gươm bạc sẽ đặt lên hai vai của Đức
Cha. Hội nhạc cử bài quốc ca. Quan Toàn Quyền kết thúc lễ gắn huy chương
bằng một cái áp má thịnh tình và lòng trọng kính, Quan Toàn Quyền lên an
tọa. Đức Cha Tòng đọc bài diễn văn tỏ lòng cám ơn chính phủ, tỏ lòng trung
thành con dân Việt-Nam đối với Mẫu Quốc. Sau tràng pháo tay đáp lại bài chúc
từ của Đức Cha, các sinh viên trường Thần Học cùng với đội nhạc Thủy Quân cử
bài ca tụng Thiên Chúa và Chúa muôn dân. Điệu hát êm đềm pha mạnh mẽ cùng
với ý nghĩa trong bài hát khiêu gợi lòng cảm động vui mừng từ người cho tới
cảnh vật xung quanh. Các học sinh trường thầy dòng, 180 cậu bé tý hon, ăn
vận, gián sắc ra diễn thể thao khiến cho Đức Khâm Sứ, quan Toàn Quyền, các
Đức Cha và quan khách nâng cốc Champagne ngó ra tưởng đâu như mình đang đứng
trước vườn hoa xem đàn bướm chập chờn bay múa. Phải, đó thực là vườn hoa của
cụ cố Trần Lục, trong vườn vừa mới nở một bông hoa, vị Giám Mục tiên khởi
Bắc Kỳ, mà nay những con bướm linh thiêng kia rủ nhau bay nhởn nhơ để chào
hoa! Cạn cốc “Nam Sơn” chúc câu “Tràng Thọ” cho hai Giám Mục Phát Diệm, rồi
quan Toàn Quyền và các quan tùy hành đi thăm nhà chung Phát Diệm một lúc
đoạn lên xe đi Nam Định theo chương trình đã chỉ định.
Mười hai giờ trưa, trong một rạp nhớn dựng ở một khu vườn nhà chung, Đức
Cha Tòng có thiết đãi các Giám Mục, Linh Mục và các quan khách khắp ba kỳ.
Gian nhà lợp tranh, bài trí có vẻ mỹ thuật, và đúng tinh thần nhà tu. Trên
vách mỗi gian có treo những tấm huy chương khẩu hiệu của Đức Giáo Hoàng và
các vị Giám Mục dự tiệc hôm ấy chen lấn vào với cờ Tòa Thánh, cờ nước Pháp
và cờ vàng đỏ của triều Nam. Đàng trước có bầy vườn cảnh, đủ thứ hoa, cùng
với những bệ đá trưng bầy các pho tượng mỹ thuật làm cho hơn ba trăm khách
dự tiệc tưởng như mình đang ở giữa một vườn bách thảo. Chủ tiệc là Đức Cha
Khâm Sứ, dự tiệc có các Đức Cha và quan chức chúng tôi đã kể ở trên. Quan
Toàn Quyền vì không thể ở lại dự tiệc được, có phái đoàn Thanh Tra Chính Trị
Erard đại diện, Đức Cha Tòng và các cha nhà chung Phát Diệm, niềm nở tiếp
các vị thượng khách. Tiếp các món ăn có hội viên của Hội Thanh Niên Công
Giáo Phát Diệm dưới tay hướng dẫn khôn khéo của ông Nguyễn Bá Tụng, y sĩ
Ninh Bình. Chủ khách an tọa thì hội hát trường Thần Học cử bài “Les Martyrs
Aux Arènes” cái cung hát thực hay và cảm động, giọng hát mô tả được tài
thuật của nhà nhạc L. de Rilé mà ai cũng đã nghe danh. Khách dự tiệc ngừng
tay nghe hát, lòng cảm xuất không khỏi đem lòng thán phục những bậc anh hùng
Công Giáo ở nước ngoài cũng như ở nước ta, đã đổ máu để mua cho mình sự hòa
bình thân ái, mua cho mình bữa tiệc có tình gia thất hôm nay. “Tứ Hải Giai
Huynh Đệ” bữa tiệc pha chủng tộc, pha tôn giáo, pha giai cấp! Thực là một
bữa “Tiệc Lòng”. Vì bấy nhiêu trái tim cùng đổ một dịp theo với những nhịp
kèn nhà binh của đội thứ bốn lính khố đỏ Nam Định thổi mừng khi ăn tiệc.
Tiếng cười, tiếng nói, chén tạc chén thù một lòng thân thiện hợp quần. Vui
vẻ hơn nữa, lúc đó khách quan nghĩ tới hằng bốn năm nghìn anh em bần khổ
được nhà chung có nhã ý phát chẩn cho trong một khu chợ rộng gần sông Tri
Chính. Thế là khắp mọi giai cấp trong xã hội cùng chung vui trong dịp lễ
này.
Mãn tiệc, Đức Cha Drappier đứng ra chúc mừng hai Đức Giám Mục Phát Diệm.
Ngài ca tụng các thánh tử đạo và chúc cho Tân Giám Mục một bước tương lai
hưng thịnh theo nề nếp các thánh tử đạo. Tiếp nhời, Đức Cha Cooman cùng một
giọng điệu rất tự nhiên vui vẻ thay mặt cả địa phận Thanh Hóa mà chúc mừng
hai Đức Cha Phát Diệm và cả địa phận Phát Diệm. Ngài nhắc lại tình nghĩa xưa
kia lúc hai địa phận còn là một. Ngài nhắc lại câu xưa kia người đã chúc cho
Ngài cũng trong cái khu nhà chung Phát Diệm này mà chúc cho Đức Cha mới được
“Ad multos annos”. Đức Cha Nguyễn Bá Tòng trước hết mừng Đức Cha phó mới của
Ngài. Ngài rất cảm động mà tỏ lòng vui sướng vì từ nay Ngài đã yên ủi có một
người bạn, và hơn thế nữa có một người em thân tình cùng Ngài chia gánh nặng
mà ngày nay đã già yếu càng thấy nặng nhọc. Ngài hết lòng thành thực cám ơn
hết mọi đấng bậc đã tỏ mối thịnh tình đến dự lễ ngày hôm nay; cám ơn các
cha, các quan chức và các thân hào mọi nơi đã nhiệt thành cộng tác vào làm
cho cuộc lễ này được thập phần mỹ mãn. Sau bài chúc từ của cha Gellégo đọc
thay tất cả các cha về dòng Thánh Đa Minh, Đức Cha Phan Đình Phùng, cái vui
của bữa tiệc hôm nay, đứng lên cám ơn Đức Cha Khâm Sứ, các Đức Cha, các quan
khách, các cha trong các địa phận và thân hào các sứ đã tới dự cuộc lễ mừng
Ngài. Ngài không quên nhắc đến cụ Trần Lục và Đức Nguyên Giám Mục Marcou mà
tỏ dạ hăng hái đi sau Đức Cha Nguyễn Bá Tòng để nối dõi nề nếp chư vị anh
hùng đó. Sau một hồi pháo tay, ông Lê Văn Đức, hình như quá cảm động, tiến
ra giữa nhà tiệc hô hào và ca tụng tấm lòng hợp nhất của hai dân tộc
Pháp-Nam mà bữa tiệc hôm nay là một chứng chỉ. Liền đó hội hát các thầy Thần
Học hát bài giã tiệc. Điệu hát véo von, cảm động vẫn một vẻ vui, thế là hoàn
toàn.
Hồi 4 giờ chiều, Đức Cha mới ra công đường tiếp khách đại biểu các địa
phận. Sau khi các cha địa phận Phát Diệm và các địa phận khác mừng Ngài
xong, Ngài ra rạp dọn trước lầu chuông nhà thờ để các giáo hữu tới bái yết.
Năm giờ hơn, tại nhà thờ chính có chầu thánh thể long trọng hát kinh tạ ơn
Chúa.
Bước chân lên xe, bỏ Phát Diệm ra đi, chúng tôi bùi ngùi cảm động, lòng
nguyện chúc cho Đức tiên khởi Giám Mục mà thiên hạ đã tặng là “Nam Hải Phúc
Tinh” và Giám Mục thứ nhất Bắc Kỳ được niên tràng thọ cửu, để đem ánh sáng
tin lành trải ra khắp giải đất Lạc Hồng, khiến mọi người nhìn biết và yêu
mến cha chung ở trên Trời. Lòng chúng tôi cũng rất thán phục cách tổ chức
khôn khéo của Đức Cha Nguyễn Bá Tòng và các cha cùng thân hào Phát Diệm, làm
cho cuộc lễ tấn phong này được phần mỹ mãn: Chúng tôi đã đi xa mà lòng còn
bùi ngùi nhớ cảnh Phát Diệm...
Giang sơn cẩm tú nước nhà
“Địa Linh nhân kiệt” (*) quả là không sai
Thực Phát Diệm cảnh Bồng Lai
Hóa công dành để sinh người tài hoa.
(*) Bốn chữ trong bức cuốn thư rất đẹp của thân hào Trung Nam Bắc kính
mừng hai Đức Cha Phát Diệm nhân dịp lễ 3 Décembre 1940.
NHẬN ĐỊNH CỦA TẠP CHÍ ÁNH
SÁNG DÂN TỘC
Bài tường thuật buổi đại lễ tại Phát Diệm trên đây cho ta thấy giữa Thực
dân Pháp và người Thiên Chúa giáo Việt Nam đã có quá trình liên hệ mật thiết
như tình cha con ruột thịt. Không chỉ Tâm và Cảnh buổi lễ đã nhịp nhàng hòa
cùng một điệu mà văn chương tường thuật buổi lễ mô tả cái nghĩa nặng tình
dài đã ràng buộc mối thâm tình giữa người Pháp và người Thiên Chúa giáo
Việt Nam khó có một sức mạnh nào lay chuyển nổi. Hãy đọc đoạn văn trích
lại dưới đây để thấy mối ân tình đó sâu đậm khắn khít đến mức độ nào:
... Quan Thủ Hiến vừa bước chân xuống xe, tiến thẳng lại mộ cụ Trần Lục
hai tay kính cẩn đặt vòng hoa trên nấm mộ vị Nam Tước. Một phút yên lặng:
quan Toàn Quyền kính điếu một vị anh hùng, một vị quốc công danh vang bốn
bể... Quan Toàn Quyền Decoux cảm xúc ai tình. Ngài cảm động hơn nữa khi nghĩ
tới cụ Trần Lục là vị Phúc Tinh đã đem sự hòa bình thân thiện chi dân tộc
Pháp-Nam...
... Quan Toàn Quyền đưa cặp mắt đầy cảm động ngó chung quanh lũ con dân
chằng chịt như nêm cối, bao nhiêu con mắt đổ dồn về Ngài...
... Đức Cha Nguyễn Bá Tòng đọc diễn văn bày tỏ lòng cảm ơn chính phủ, tỏ
lòng trung thành con dân Việt Nam đối với Mẫu Quốc. Mừng quan Toàn Quyền nhờ
tài ngoại giao lỗi lạc mà tránh cho Đông Dương một cơn khủng bố.
... Những tấm huy chương khẩu hiệu của Đức Giáo Hoàng và các vị Giám Mục,
dự tiệc hôm ấy chen lấn vào với cờ Tòa Thánh, cờ nước Pháp và cờ vàng đỏ của
Triều Nam...
Hình như văn chương lâm ly của những bài diễn văn, những lời tuyên bố
chưa đủ bộc lộ hết sợi dây liên ái, người ta còn đặt tên cho buổi tiệc tiếp
theo buổi Đại Lễ là “Bữa tiệc hợp nhất pha chủng tộc, pha tôn giáo, bữa tiệc
gia thất, bữa tiệc lòng” để “mọi con tim cùng đổ một dịp theo với những điệu
kèn nhà binh của người đội lính khố đỏ” thứ lính bảo vệ cho quyền lực người
Pháp tại Đông Dương.
Thử hỏi người tín đồ Thiên Chúa giáo nào khi đọc bài tường thuật buổi đại
lễ tại Phát Diệm, nơi được coi là thủ đo tinh thần của Thiên Chúa Giáo Việt
Nam, lại không xúc cảm ngậm ngùi, lại không tự hào kiêu hãnh? Xúc cảm ngậm
ngùi vì được là hậu duệ của người cha chung là linh mục Trần Lục, tự hào
kiêu hãnh vì được làm con dân hiếu thảo của Decoux, của Pétain, của Mẫu Quốc
Pháp.
Nhà văn Toan Ánh bảo rằng người Thiên Chúa giáo vô cùng hân hoan với buổi
đại lễ quan trọng đó cho nên khi đăng bài tường thuật buổi lễ vào quyển Hội
Hè Đình Đám ông đã cẩn thận nói rõ ông trích nguyên văn từ quyển “Autour
des Fêtes du 3 Décembre 1940 à Phát Diệm” để khỏi mang tiếng sai lầm,
xuyên tạc.
Buổi lễ vĩ đại và long trọng thật nhưng thái độ hân hoan cao độ của người
Thiên Chúa giáo lại tạo ra nhiều thắc mắc cho đại khối dân tộc Việt Nam,
những thắc mắc cần phải được giải tỏa để sự thật của lịch sử khỏi bị bóp
méo, đó là mục đích của bài nhận định này.
Trước hết là trường hợp của Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, vị Giám Mục Việt Nam
cao cấp nhất thời bấy giờ được toàn quyền Decoux thay mặt Quốc trưởng Pétain
gắn Bắc Đẩu Bội Tinh.
Bắc Đẩu Bội Tinh là thứ huân chương cao quý nhất của nước Pháp và chỉ
được trao tặng cho những ai có sự nghiệp lớn lao đối với nước Pháp, vậy Đức
Cha Tòng là nhà tu hành Việt-Nam đã có công nghiệp vĩ đại nào mà lại được
Chính phủ Pháp đền ơn bằng cái vinh dự to lớn đó? Phải chăng công nghiệp
của ngài là đã theo chân cố Linh mục Trần Lục xây dựng cho chế độ thuộc địa
của Pháp tại Đông Dương một hậu thuẫn gồm khối người Thiên Chúa giáo Việt
Nam chỉ biết trung thành với Mẫu Quốc Pháp, một khối người trở thành con dân
của nước Pháp như chính Ngài đã long trọng tuyên bố trước sự hiện diện
của đông đảo Giám Mục, Linh Mục, bà sơ và hàng vạn giáo dân và cũng để thực
hiện chính sách Đồng Hóa của các cố đạo ngoại quốc như Alexandre de Rhodes,
Pigneau du Béhaine, Puginier v.v... đã chủ trương.
Thứ hai là trường hợp Linh Mục Trần Lục. Ông là ai và đã làm gì mà được
người Pháp và giáo dân Thiên Chúa giáo Việt Nam hết lòng trọng vọng, được
tôn vinh là Nam Tước, là Quốc Công, là Phúc Tinh, là anh hùng danh vang bốn
bể...?
Theo tác phẩm “Dieu et Cesar” phần nói về “Les Catholiques dans
L’histoire du Vietnam" của Linh Mục Trần Tam Tĩnh (Librairie Sud Est
Asie, Paris 75005), thì cụ Trần Lục nguyên là linh mục tại Phát Diệm, sau
khi giúp Pháp dẹp tan các phong trào kháng Pháp tại hai tỉnh Thanh Hóa và
Nghệ An, ông còn lập được một chiến công vĩ đại là triệt hạ được chiến
khu Ba Đình của lãnh tụ Cần Vương Đinh Công Tráng, một chiến khu kiên cố
từng làm cho quân Pháp nhiều phen bị thiệt hại nặng nề.
Theo quyển “Những Trận Đánh Pháp” của Lãng Nhân (Zeiklers Hoa Kỳ
xuất bản) thì trong trận đánh phá chiến khu Ba Đình, các giáo đoàn Phát
Diệm, Kẻ Sở, Điền Hộ, Bồ Xương đã cung cấp cho đạo quân Thực dân Pháp
5.000 giáo dân để lo việc đào hầm và vận lương. Tất nhiên Ba Đình thất
thủ.
Cũng theo sách này thì Trần Lục khi làm Linh Mục ở Phát Diệm hay ỷ thế hà
hiếp dân chúng, nên nhân một vụ lộng hành bị cụ Phan Đình Phùng, lúc còn
làm Tri Phủ Yên Khánh (Ninh Bình) nọc ra đánh, vì thế cụ đã bị thuyên
chuyển về Kinh. Sau đó cụ trở thành một lãnh tụ Cần Vương, 10 năm gian lao
kháng Pháp. Sự nghiệp và tên tuổi của anh hùng Phan Đình Phùng, Đinh Công
Tráng v.v... được ghi vào sử xanh dân tộc hàng ngàn năm chói lọi và được đặt
tên cho các đại lộ, công viên, trường học từ Bắc chí Nam để nhân dân muôn
đời ghi nhớ. Hai tiếng “Ba Đình” lừng lẫy cũng được đặt cho công trường lớn
nhất, đẹp nhất tại Thủ đô Hà Nội khi toàn dân vùng lên đáp lời thề sông núi,
bảo vệ quê hương mùa Thu năm 1945.
Cũng cần nói thêm rằng trong bức thư Giám Mục Ngô Đình Thục gởi cho Toàn
Quyền Decoux tháng 8 năm 1944, ông kể lể việc thân phụ của ông là Ngô
Đình Khả đã theo Nguyễn Than cầm quân đánh phá chiến khu của cụ Phan Đình
Phùng và sau khi tiêu diệt được chiến khu này ông đã đào mả cụ Phan Đình
Phùng lấy xác trộn với thuốc súng bắn đi cho mất tích (Tạp Chí Lên
Đường số ra mắt, ngày 1/10/88, Houston). Vấn đề được đặt ra là nếu cụ
Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng là anh hùng dân tộc thì tại sao linh mục
Trần Lục, một tay sai đắc lực của quân xâm lăng Pháp đã tiêu diệt các phong
trào Cần Vương kháng Pháp lại được người Thiên Chúa giáo tôn vinh là Phúc
Tinh, là anh hùng danh vang bốn bể...?
Nếu cụ Phan Đình phùng, Đinh Công Tráng và hàng vạn lãnh tụ, đảng viên
của phong trào Cần Vương vốn thân là những người yêu nước kháng Pháp, thì
tại sao quyển giáo sử của Linh mục Phan Phát Hườn và báo chí của người Thiên
Chúa giáo, nhất là trong vụ phong Thánh Tử Đạo năm 1988, lại chửi rủa phong
trào Văn Thân, Cần Vương?
Nếu Trần Lục làm tay sai đắc lực cho Pháp, được tôn vinh là Phúc Tinh, là
Anh Hùng thì ta có thể đặt câu hỏi là 117 Tử Đạo được phong thánh có thật
là tử vì đạo hay có thể đã tử vì cầm súng theo giặc Tây sát hại đồng bào?
Nếu Trần Lục, Ngô Đình Khả, Trần Bá Lộc, Huyện Sĩ, Tạ Văn Phụng và vô số
linh mục, con chiên theo lệnh các giáo sĩ ngoại quốc và quân xâm lăng Pháp,
giúp Pháp xâm chiếm Việt Nam như hàng trăm sách sử ngoại quốc và Việt Nam đã
mô tả đầy đủ và rõ ràng, thì tại sao ông Trần An Bài lại bảo rằng người
Thiên Chúa giáo bị xuyên tạc (thư gửi Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, phản kháng
bang giao Mỹ-Việt Cộng ngày 19-5-1989)? Tại sao ông Cao Thế Dung bảo rằng
“Cha ông người Công giáo hiện nay không mang tội phản quốc?” (bài thuyết
trình trước Phong trào Công giáo Quốc dân).
Thứ ba là tại sao Giám mục Nguyễn Bá Tòng trong buổi Đại Lễ tại Phát Diệm
lại cất cao lời ca tụng toàn quyền Decoux “đã nhờ tài ngoại giao lỗi lạc mà
tránh cho Đông Dương một cơn khủng bố”.
Có phải tài ngoại giao đó là việc Decoux đã nhượng bộ quân đội Nhật Bản
(tháng 6 năm 1941) một sự nhượng bộ để Nhật trả giá bằng sự bán đứng lực
lượng Phục Quốc của cụ Trần Trung Lập tại biên giới Hoa-Việt, một sự nhượng
bộ để quân đội Nhật được vào chiếm đóng Đông Dương gây cho nhân dân Việt Nam
phải chịu cảnh một cổ đôi ba tròng và một trận đói làm chết hàng triệu người
(1945), một sự nhượng bộ để Pháp tiếp tục làm chủ nhân của đất nước ta chờ
ngày quân đồng minh đổ bộ đánh đuổi quân Nhật.
Vấn đề còn phải đặt ra là trước cao trào giải thực khắp thế giới và trong
lúc toàn thể các đảng phái cách mạng, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo lợi
dụng cuộc thế chiến thứ hai (1939-1945) làm lung lay các đế quốc, lợi dụng
Đông Dương mất liên lạc với chính quốc, lợi dụng sự tranh dành quyền lực
giữa Pháp và Nhật tại Đông Dương để đồng loạt, bí mật hay công khai hoạt
động chống Pháp để dành lại độc lập cho nước nhà, thì tại sao Thiên Chúa
giáo Việt Nam lại vẫn khư khư ôm chân giặc Pháp, chỉ muốn Pháp làm chủ đất
nước Việt Nam, lại còn tự nguyện làm con dân Mẫu Quốc Pháp như bài tường
thuật buổi Đại lễ tại Phát Diệm đã xác định, như lời tuyên bố của Giám Mục
Nguyễn Bá Tòng trước mặt vợ chồng Toàn Quyền Decoux?
Nêu ra những thắc mắc trên đây chúng tôi chỉ muốn làm sáng tỏ một số sự
kiện lịch sử. Và nếu sự thật lịch sử được hóa giải thì chúng ta có quyền hi
vọng một sự hòa đồng tôn giáo, một sự hòa hợp dân tộc, khơi dậy tình tự quê
hương... để “người trong một nước phải thương nhau cùng”...
Trước năm 1975, một trí thức Thiên Chúa giáo, ông Lý Chánh Trung khi viết
quyển “Tìm về dân tộc” và quyển “Tôn giáo và dân tộc”, kêu gọi
người Thiên Chúa giáo Việt Nam nên từ bỏ nếp sống của người khách lạ sống
chính ngay trên quê hương mình, ông đã thẳng thắn bộc lộ tâm tư, tâm tư của
một tín đồ Thiên Chúa giáo sùng Đạo, nhưng biết đặt quyền lợi của Tổ Quốc
lên trên tôn giáo và trên Vatican của một con chim lạc đàn chỉ muốn tìm về
tổ ấm:
... Không tránh né một khía cạnh nào dẫu là một khía cạnh có thể gây ra
bực dọc cho một số đồng đạo của tôi và cho riêng tôi nhiều nỗi khổ tâm...
Muốn hóa giải thật sự không nên che dấu mà trái lại phải bộc lộ rõ rệt những
mâu thuẫn ở mức độ sâu xa nhất của chúng...
Tiếc thay những lời kêu gọi trầm thống đó chẳng những đã không làm suy
giảm mức độ mâu thuẫn và hận thù chỉ sâu sắc thêm. Lỗi tại ai? Mười năm dưới
chế độ Thiên Chúa giáo trị của Ngô Đình Diệm, mười năm dưới chế độ Nguyễn
Văn Thiệu, một chế độ Diệm không Diệm, 15 năm tại hải ngoại với cái gọi là
Phong trào Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm mà bản chất chỉ là gây hận thù
và chia rẽ, 15 năm với chiến dịch xuyên tạc nhục mạ những lực lượng dân tộc
nhất là chưởi rủa phong trào Cần Vương, Văn Thân kháng Pháp nhân lễ Phong
Thánh cho 117 tử đạo và cuối cùng là với âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản Hà
Nội của Vatican (xem bài thuyết giảng của Linh mục Việt Châu “Ngày về Rất
Gần”, một bài thuyết giảng mà báo Tia Sáng đã có lý khi nhận định rằng
Linh mục Việt Châu đã tạo ra một bức tường ngăn cách và khinh thường những
thành phần khác của dân tộc Việt Nam, và do đó nhắc nhở người ta nghĩ tới
Giáo Hội Thiên Chúa giáo Việt Nam với truyền thống trước đây... luôn luôn
cộng tác với đế quốc thực dân hay các bạo quyền bản địa), thì mâu thuẫn,
hận thù, chia rẽ chỉ chất ngất thêm mà thôi!
Thật thế! Có lẽ vì cảm nhận được sự hận thù mâu thuẫn giữa đồng bào Lương
và Giáo sẽ trầm trọng nguy kịch thêm chỉ có lợi cho Cộng Sản kéo dài nền bạo
trị nên ông Cao Thế Dung, một trí thức Thiên Chúa giáo đã dõng dạc lên tiếng
trước đại hội “Phong trào Công giáo Quốc dân” nhóm họp tại Nữu Ước tháng 5
năm 1989 với những lời lẽ vô cùng đanh thép:
Phải chống đối đến cùng việc Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ viện trợ cho Việt
Nam Cộng Sản và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ viện
trợ cho Việt Nam lúc này là một hành động cực kỳ nguy hiểm. Viện trợ riêng
cho Công giáo Việt Nam lại càng nguy hiểm hơn. Chúng ta không thể chấp nhận
để Công giáo Việt Nam trở thành một thứ giai cấp ưu đãi dưới chế độ tàn
ngược lang sói. Đó là điều quan hệ nhất, quan hệ sinh tử đến danh dự và vận
mệnh của Công giáo Việt Nam khiến chúng ta phải tích cực chống lại...
Không ngại búa rìu dư luận của nhóm đồng đạo cuồng tín, ông Cao Thế Dung
còn phân tích rành mạch bài học đau thương quá khứ:
... Chúng ta không bao giờ quên bài học đau thương của Bá Đa Lộc và Chúa
Nguyễn Ánh. Xin anh em dâng lời cầu nguyện để Đức Tổng Giám Mục Mahoney
không thể nào trở thành Bá Đa Lộc của thời hiện đại. Tuy hoàn cảnh thật khác
xưa, tuy túi bạc đô la khác với tàu đồng súng sắt của thực dân Pháp nhưng
hậu quả cũng rõ như nhau-sẽ cô lập người Công giáo Việt Nam với đại khối dân
tộc và sẽ tạo nên thù nghịch bất hạnh nhất, sai trái nhất giữa người Công
giáo và đồng bào các giới nhất là các tôn giáo bạn là nạn nhân cùng khốn khổ
của Cộng Sản Việt Nam...” (chúng tôi sẽ chất chính bài thuyết trình của ông
Cao Thế Dung trong Ánh sáng Dân tộc số 3).
Cho nên khi viết lời nhận định cho bài “Hội Hè Đình Đám” của giáo
sư Toan Ánh, chúng tôi không giám làm công việc khơi lại đống tro tàn của
dân tộc trong quá khứ mà hậu quả là cuộc đô hộ của Cộng Sản ngày nay để một
lần nữa kêu gọi các đồng bào Công giáo nào thật tâm muốn Tìm Về Dân Tộc nên
xét lại thái độ trước chính sách thỏa hiệp của Vatican, chính sách có hại
cho Dân Tộc Việt để tất cả người Việt chúng ta: Lương cũng như Giáo đồng tâm
nhất trí chung lo đại sự quang phục quê hương, một quê hương đã tan nát do
Phong Kiến, Thực Dân và Cộng Sản gây ra triền miên từ nhiều thế kỷ. Mong lắm
thay !
BẢN DỊCH THƯ VIẾT BẰNG PHÁP NGỮ
CỦA GIÁM MỤC
NGÔ ĐÌNH THỤC GỬI ĐÔ ĐỐC
JEAN DECOUX, TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG
* Trích từ: Tạp chí Lên Đường, số Ra mắt, Houston
Tòa Truyền Giáo Vĩnh Long, ngày 21 tháng 8 năm 1944
Vĩnh Long (Nam Kỳ)
Thưa Đô đốc,
Một Linh mục từ bổn Tòa được phái đi Saigon để lo việc cho chủng viện vừa
cho tôi biết rằng hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. Vì đã lâu
không nhận được tin tức gì từ Huế, tôi không biết là điều tôi vừa được báo
cáo có đúng sự thật hay không.
Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc chắn là
Đô Đốc đã cảm thấy - nếu sự truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư
này để bày tỏ với Đô Đốc nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.
Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước
Pháp thì - với tư cách của một Giám Mục, của một người An-nam, và với tư
cách là người con của một gia đình mà phụ thân đã phục vụ nước Pháp ngay
từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp
trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống
lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an, Hà-tịnh -
tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận (hoạt động của các em tôi).
Thưa Đô Đốc, tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị
cá nhân của tôi: bởi vì nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương
hại đến quyền lợi của đạo (Thiên Chúa), tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Tòa Giám Mục
nầy ngay.
Lời tuyên bố của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô Đốc thấy rằng lòng tin
tưởng trìu mến của Đô Đốc (đối với tôi) đã không bị đặt vào một kẻ bất xứng
hay vô ơn.
Thưa Đô Đốc, tôi chưa bao giờ tiếc là đã xa Huế như thế nầy. Giá có mặt ở
đấy thì tôi đã có thể khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy đến
tôi đã có thể chống lại các chủ đích của các em tôi, nếu quả thật các em tôi
có nghĩ đến những dự định có thể gây hại cho chính quyền lợi của nước Pháp.
Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin -
cho đến khi được chứng minh ngược lại - rằng các em tôi đã phản lại truyền
thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn
liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây
giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy
có lợi.
Ngay chính các em tôi đã từng liên tục đưa mạng sống ra vì nước Pháp,
trong cuộc nổi loạn của Cộng Sản. Diệm, người em kế tôi, suýt đã phải ngã
gục dưới những phát súng của một Hoa kiều Chợ Lớn được phái đến Phan-rang
với mục đích hại Diệm, Phan-rang là nơi mà Diệm đã mãnh liệt chống giữ lối
xâm nhập vào An-nam của các cán bộ Cộng Sản được từ Nam Kỳ phái đến.
Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều
nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu
sự bất cẩn nầy được chứng tỏ là điều đã gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không
nghĩ là tôi đã làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót
thương của Đô Đốc hầu xét với hảo ý trường hợp các em tôi. Đô Đốc không phải
là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều nầy
khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục
vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu
dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy
vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống
của mình cho nước Pháp.
Thưa Đô Đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi
trong vụ nầy, tôi xin Đô Đốc vui lòng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng
nhất của tôi.
Ngô Đình Thục
NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ MỘT ĐỨA CON TRAI
Trích từ: Tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc số 1 tháng
5-1989, Fresno.
L.T.S. Đoạn văn dưới đây rút từ cuốn hồi ký “Việt Nam Nhân Chứng” của
cựu Tướng Trần Văn Đôn. Tạp chí Ngày Nay ở Texas, Thằng Mõ ở San Jose và một
số báo chí khác ở Nam Cali đã đăng tải. Có báo không đăng hoặc đã đăng đoạn
nói về cuộc đảo chánh 1-11-1963 mà thôi như Hồn Việt chẳng hạn.
Dư luận đồn đại cuốn Việt Nam Nhân Chứng cũng sẽ là một quả bom nguyên
tử làm nổ tung nhiều bí ẩn lịch sử động trời nhất là những bí ẩn nói về gia
đình họ Ngô, và vụ nhà Ngô âm mưu bắt tay với Cộng Sản Hà Nội. Điều lạ lùng
là khi gặp gỡ báo chí tại Santa Ana, Tướng Đôn tuyên bố sách của ông sẽ ra
mắt độc giả vào tháng 11 năm 1988 nhưng mãi đến nay vẫn chưa thấy sách xuất
hiện. Trong lúc đó có tin một nhóm người có giây mơ rễ má với nhóm Cần Lao
thời Diệm vận động với Tướng Đôn đục bỏ đoạn nói về việc ông Diệm có một đứa
con trai. Đồng thời báo chí thuộc phe ông Diệm mở chiến dịch bôi nhọ và hăm
dọa Tướng Đôn và một số cựu Tướng lãnh khác. Họ dùng chiến thuật “tiên hạ
thủ vi cường”, đánh phủ đầu để làm nhụt nhuệ khí tác giả cuốn “Việt Nam Nhân
Chứng”. Trước cuộc tấn công hung hãn đó, có người đoán rằng có thể Tướng Đôn
sẽ đình chỉ vĩnh viễn việc cho phát hành cuốn hồi ký, có thể giảm thiểu sự
thật khủng khiếp của nhiều biến cố, nhiều sự kiện, nhiều bí ẩn dưới triều
Ngô Đình Diệm sẽ làm choáng váng và nhức nhối cho một số người nào đó.
Chúng ta hãy chờ xem!
Ánh Sáng Dân Tộc
Sáng ngày 3-11-1963, tôi sai ông Lê Soạn cho lính vào dọn dẹp và góp nhặt
tất cả giấy tờ, tài liệu trong dinh Gia Long vì ông Võ Văn Hải, Chánh văn
phòng đặc biệt của ông Diệm, cho biết trong dinh Gia Long có nhiều tài liệu
mật, đại sự không nên để lọt vào tay ai. Dương Văn Minh ký giấy ra lịnh cho
Đại úy Đặng Văn Hoa đến dinh Gia Long gặp ông Võ Văn Hải và ông Quách Tòng
Đức, cựu Đổng lý văn phòng ông Diệm để nhận hồ sơ và tài liệu.
Chính trong số tài liệu này mà tôi được biết ông Ngô Đình Diệm có một đứa
con trai.
Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng Ngô Đình Diệm không biết đến đàn bà,
nhưng đâu mấy ai biết được Ngô Đình Diệm có đứa con trai. Sau đảo chánh 1
tháng 11 năm 1963, Võ Văn Hải, Chánh Văn phòng Đặc Biệt điện thoại cho tôi
ngỏ ý muốn giao cho tôi một số hồ sơ mật về đại sự quốc gia. Võ Văn Hải nói:
- Tôi muốn giao cho Trung tướng để Trung tướng giữ cho kỹ!
Tôi đem về để trong văn phòng tôi ở bộ Tổng Tham mưu. Hàng ngày, sĩ quan
văn phòng tôi trình tôi một số hồ sơ chọn lọc. Một hôm tôi được xấp hồ sơ,
trong đó có một lá thư và một tấm hình chụp người đàn bà đứng bên một đứa
con trai khoảng 13, 14 tuổi. Trong lá thư vắn tắt cho biết đứa con trai
trong hình là con trai của Ngô Đình Diệm. Nếu không phải là con của Ngô Đình
Diệm thì không một người đàn bà nào có gan vu khống như vậy được. Và nếu
không phải là con thì Ngô Đình Diệm đâu cất giữ thư từ hình ảnh trong tủ tài
liệu quan trọng?
Năm năm sau, tôi được cô T.N. cho tôi biết Ngô Đình Diệm có một đứa con
trai, làm tôi sực nhớ đến lá thư và tấm hình. Hỏi ra thì mới biết lá thư và
tấm hình kia là thân nhân của cô T.N., đem chuyển vào tận tay cho Ngô Đình
Diệm năm 1958. Chồng dì thứ bảy của cô T.N. là bạn học của Ngô Đình Diệm, vì
vậy khi Ngô Đình Diệm bổ vào làm Tuần Vũ ở Phan Thiết, giao du rất thân
thiện với gia đình này. Người bạn học của Ngô Đình Diệm là Hoàng Tỷ làm Giám
đốc trường Trung học ở Sài Gòn. Giám học của trường này là Antoine Lê Cang
Đảm. Thỉnh thoảng Hoàng Tỷ lái xe về quê chơi và ưa chở Ngô Đình Diệm về nhà
mình ở Sài Gòn. Hai người rất thân nhau, có lần Hoàng Tỷ lục bóp thấy Ngô
Đình Diệm ít tiền nên biểu vợ lén bỏ tiền vào bóp cho Ngô Đình Diệm tiêu.
Ngô Đình Diệm biết cho nên khi lên Tổng thống, lần nào ra kinh lý Phan
Thiết, Ngô Đình Diệm đều đến mộ Hoàng Tỷ cúi đầu tưởng niệm, và năm nào đến
28, 29 tết cũng điện ra cho Trung tá Tỉnh Trưởng Bình Thuận, lúc ấy là
Nguyễn Quốc Hoàng, cho người mang tiền đến để bà Hoàng Tỷ cúng chồng.
Năm 1958, cô T.N. có tiếp một người đàn ông quen biết với các anh chị cô,
cho cô biết Ngô Đình Diệm có đứa con trai 14 tuổi. T.N. hỏi:
- Đứa nhỏ đang ở đâu?
- Má nó dắt nó ra đây rồi và chúng tôi định nhờ dì cô là bà Đốc Tỷ chuyển
tin này vào cho Tổng thống biết rằng ông đang có đứa con trai.
- Lấy nhau từ lúc nào? Tại sao ông Diệm lại không biết mình có một đứa
con?
- Họ lén lút lấy nhau trong lúc ông Diệm bôn đào trốn Pháp. Rồi ông Diệm
trốn ra Huế trong khi đất nước loạn ly nào giặc Nhật, chiến tranh Pháp-Việt,
ông Diệm đi luôn ra ngoại quốc...
- Bà ấy quê ở đâu?
- Hậu Giang, con gái của một gia đình trí thức.
- Ông Diệm đi đâu xuống đó?
- Cô không biết Giám Mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long à?
- A! Nhưng tại sao để đến bây giờ mới cho biết?
- Lúc đầu để ông Diệm ổn định tình thế, khi ông Diệm lấy trọn được quyền
hành thì cố vấn Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn có quyền hành nhiều quá, nếu
gởi thơ thẳng cho ông Diệm chưa tới tay ông mà có thể đứa nhỏ bị các anh em
ông Diệm thủ tiêu để giữ tròn danh tiếng cho Tổng thống. Vì vậy mà bà ấy
không giám tiết lộ với ai. Biết dì của cô là chỗ thân tình với Tổng thống
nên tôi đưa mẹ con bà ấy ra đây để nhờ bà Đốc mang giùm thư và hình vào dinh
trao tận tay cho Tổng thống.
Nhưng bà Hoàng Tỷ không muốn đi. Em gái của bà Hoàng Tỷ đem thư và hình
vô đưa cho con trai của bà Antoine Lê Cang Đảm là Francois Lê Cang Đảm. Ông
Diệm lặng lẽ xuất dinh lên xe của Francois Lê Cang Đảm chở ra nhìn mặt thật
sự của Sài Gòn-Chợ Lớn về đêm.
Trước khi đem thơ và hình đứa con trai vào cho Ngô Đình Diệm, em bà Hoàng
Tỷ có nói cho Tỉnh trưởng Bình Thuận lúc đó là Lưu Bá Châm, và ông Trưởng ty
Cảnh sát chuyện đứa con trai Ngô Đình Diệm. Nhưng ai ai cũng không giám can
dự vào vì sợ chết lây.
Lá thư đó đến tay của Ngô Đình Diệm gần một tuần lễ rồi mà không thấy tin
gì. Nên bà mẹ đành dắt đứa con trai về Hậu Giang sống âm thầm với kỷ niệm
đau thương. Bà nhớ lại lúc mình đã có thai thì tin tức Ngô Đình Diệm vắng
bặt, gia đình bà cảm thấy nhục nhã vì đứa con gái chửa hoang nên đuổi ra
khỏi nhà. Bà sống cơ cực, thiếu thốn mọi thứ. Bây giờ cha của đứa con bà
đang làm Tổng thống, nhưng vì danh dự mà bỏ rơi hẳn giọt máu duy nhất của
mình. Năm 1965, T.N. gặp lại người đàn ông, hỏi thăm tin tức cậu con trai
của Ngô Đình Diệm thì được biết cậu ta trở thành một chiến sĩ tầm thường
trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
ĐÂY NGÔI BIỆT THỰ MÙA HÈ CỦA BÀ NHU TẠI ĐÀ LẠT
* Tác giả:
Người Bình Dương
* Trích từ: Tạp chí Tia Sáng, số 26, Houston.
Đã có nhiều nhà viết sử Việt Nam và ngoại quốc đề cập đến ngôi biệt thự
mùa hè của bà Ngô Đình Nhu tại Đà Lạt, nhưng chưa có ai mô tả đầy đủ chi
tiết như ký giả Howard Sochurek của tạp chí National Geographic.
Năm 1964, ký giả Howard Sochurek đến miền Nam Việt Nam để điều tra tình
hình.
Đến Quảng Trị, ông nhận thấy “Dẫy phố buồn thiu” được người Pháp đặt tên
trong chiến dịch Camargue (năm 1953), 10 năm sau vẫn buồn thiu như trước.
Ông được biết cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, năm 1954 khi mới lên cầm quyền,
việc làm đầu tiên là triệt hạ các thành phần đối lập. Ông gặp được ông Hậu,
một tín đồ Hòa Hảo vì chống chế độ Diệm phải trốn lên Cao Miên và mới trở về
Việt Nam. Ông cũng gặp được ông Hoàng Xuân Tửu, một đảng viên Đại Việt vừa ở
tù 7 năm ra và hiện đang giữ chức tỉnh trưởng Quảng Trị. Ông Tửu cho biết
cán bộ của chế độ Diệm vừa tham nhũng mà lại vừa sợ Việt Cộng.
Về đến Chí Hòa Sài Gòn, ông đến thăm ông Nguyễn Ngọc Lâm, một cấp chỉ huy
của ngành Hỏa Xa. Ông biết được từ năm 1955, mặc dù Hoa Kỳ viện trợ cho
ngành này 25 triệu Mỹ Kim nhưng tình hình tài chính vẫn nguy ngập. So với
thời chiến tranh Pháp - Việt Minh thì sự phá hoại của Việt Cộng dưới thời Đệ
Nhất Cộng Hòa còn trầm trọng hơn nhiều. Tại Chí Hòa, ông tham dự lễ Phật Đản
năm thứ 2508 với 218 thanh niên trong đoàn Phật tử Chánh Phước, những thanh
thiếu niên này là con cháu của 75 nhân viên Hỏa Xa đã bị giết năm 1946.
Tuy nhiên, trong cuộc viếng thăm miền Nam Việt Nam, ký giả Sochurek đặc
biệt điều tra kỹ càng về ngôi biệt thự mùa hè của bà Nhu tại Đà Lạt.
Ông cho biết biệt thự bà Nhu được xây cất trên một ngọn đồi thông nhìn
xuống một thung lũng ngoạn mục, ngọn đồi ấy được đặt tên là Lâm Ngọc
“Forest-Jewel”. Ngày nay, biệt thự đã trở thành một bảo tàng viện, ai muốn
vào xem phải trả 13 xu. Một trụ cao có chòi canh để giữ an ninh cho toàn bộ
khuôn viên ngôi Biệt Thự.
Ngôi nhà chính có 5 lò sưởi, trên mỗi lò sưởi đều trang trí bằng đầu con
thú (trophies) do ông Nhu săn bắn được. Cái bếp làm bằng thứ thép sáng loáng
với cái lò nấu Hồng ngoại tuyến rất lớn trị giá 20.000 đô la.
Một vườn hoa gồm toàn thảo mộc nhập cảng, mỗi thứ đều mang bảng tên. Có
tất cả 100 loại hoa được chuyên chở bằng máy bay từ khắp nơi trên thế giới.
Tại vườn hoa lại có hồ tắm nước nóng sang trọng và rộng lớn. (Có lẽ đây là
hồ tắm tư nhân đầu tiên tại Việt Nam vì từ trước Vua Chúa cũng như quan toàn
quyền Đông Dương không hề có hồ tắm riêng như bà Nhu: ghi chú của người
viết). Năm mươi thợ vườn lo săn sóc vườn này, mỗi người được trả 20 đô la
mỗi tháng theo lời kể lại của ông Phạm Văn Mỹ, một thợ vườn cũ.
Phải mất 5 năm với nhân công của 100 thợ mộc, thợ nề và chuyên viên mới
hoàn tất được ngôi Biệt Thự lộng lẫy này. Cổng chính phải xây đi xây lại 8
lần và một cửa ở góc một căn phòng phải sửa đến 5 lần mới vừa ý bà Nhu.
Tất cả những cửa phòng quan trọng của Biệt Thự đều có hệ thống bí mật dẫn
tới một đường hầm chạy suốt đến dưới hồ tắm tại vườn hoa. Dưới giường ngủ
của bà Nhu có một hầm lớn bằng sắt và một cái tủ sắt. Dưới bếp cũng có một
đường hầm riêng nối liền với hệ thống thoát thân dưới mặt đất.
Ông Phạm Văn Mỹ cho ký giả Sochurek biết bà Nhu là một người đàn bà
trưởng giả nhưng khó tính, luôn luôn la hét mỗi khi ra lệnh cho những người
làm vườn, nhưng lại rất sợ các con sâu, con dun. Ngược lại thợ vườn thường
bắt sâu, bắt dun để lên cây lá để làm cho bà hoảng sợ.
Cứ mỗi hai tuần lễ, Tổng thống Diệm đến thăm biệt thự một lần và được bà
Nhu dẫn đi xem cây cảnh. Ông Diệm thì yên lặng nhưng bà Nhu mỗi lần giận giữ
lên là đòi chặt đầu thợ làm vườn.
Dưới tấm hình ngôi biệt thự của bà Nhu trên tạp chí National Geographic
(số tháng 9 năm 1964) ký giả Sochurek ghi chú: “Ngôi biệt thự mùa hè của bà
Ngô Đình Nhu tại Đà Lạt cho bà ta hưởng thụ sự xa hoa lộng lẫy kiểu đế vương
dù trong thời chiến tranh. Ngôi nhà với những đường hầm thoát thân bí mật,
hồ tắm nước nóng, vườn hoa độ 50 thợ vườn là nơi nghỉ mát của người em dâu
vị Tổng thống đã bị sát hại, người đàn bà quyền uy dưới chế độ của ông ta”.
Montreal, tháng 2 năm 1988
Người Bình Dương
BỨC CÔNG ĐIỆN
CỦA TOÀ ĐẠI SỨ MỸ (SÀI GÒN)
XÁC NHẬN ÔNG DIỆM ĐÃ XIN QUÂN MỸ
VÀO CỨU TRONG BIẾN CỐ 11-11-60
Tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ do Tướng Nguyễn Chánh Thi sưu tầm,
phát hiện việc ông Diệm, trong chính biến Nhảy Dù 11-11-60, đã yêu cầu Tòa
Đại sứ Mỹ gửi Thủy Quân Lục Chiến đến Sài Gòn. Tuy nói “để bảo vệ kiều dân
Mỹ” nhưng thật sự ông Diệm muốn quân lực Hoa Kỳ can thiệp để chống quân Nhảy
Dù Việt Nam và “chiếm giữ phi trường Sài Gòn” để, nếu cần, thì có điểm cất
cánh an toàn hầu bay thoát ra nước ngoài.
Vị Đại sứ Mỹ còn không thấy cần thiết bảo vệ kiều dân mình thì ông
Diệm lại yêu cầu Thủy Quân Lục Chiến của họ đến để làm gì ?!
218. Công điện từ Đại sứ tại Việt Nam (Durbrow)
Gửi cho Bộ Ngoại Giao 1
Sài Gòn ngày 11 tháng 11 năm 1960 - 3 giờ chiều.
1015. Từ nhiều... phúc trình của Tòa Đại sứ, tình hình rõ ràng vẫn
còn nhiều thay đổi mặc dù cho đến 12 giờ 40 trưa, những báo cáo (Embtel 1012
2) có vẻ chắc chắn rằng Tướng Tỵ và Tường Hoàng, Tư lệnh
Biệt khu Thủ Đô, những người đã bị bắt giữ bởi Đại tá Thi 3,
Tư lệnh Nhảy Dù và có lẽ là lãnh tụ cuộc binh biến, đang điều đình với Diệm
tại Dinh Độc Lập. Tôi chưa biết rõ những mục tiêu của Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng mặc dù nội dung những buổi phát thanh của họ trên đài Sài Gòn và
các thông tin khác đều nói lên lập trường chống Cộng và đều muốn đoàn kết
toàn dân miền Nam chống Cộng Sản. Có vẻ như Hội Đồng không muốn cần thiết
phải loại trừ hẳn Diệm, nhưng buổi phát thanh của Hội Đồng thì lại xác định
rằng “quân đội đứng lên để lật đổ chính phủ Diệm”.
Qua... liên lạc với Đại tá Thi... tôi đang tìm cách hiểu rõ hơn những mục
tiêu của Hội Đồng 4. Chỉ sau đó tôi mới hy vọng xác định
được liệu Diệm có đủ khôn khéo chấp nhận hầu hết những mục tiêu này để từ đó
cho phép một hình thức hợp tác nào đó giữa Hội Đồng và Diệm.
Điều này có thể dẫn đến những thay đổi quan trọng như việc loại trừ ông
bà Nhu, v.v..., và cả tôi, Tướng McGarr, lẫn các viên chức Hoa Kỳ cao cấp
khác đều sẽ không hành xử như người trung gian. Biện pháp này cũng sẽ được
áp dụng cho cả những sĩ quan cấp dưới...
Từ sáng sớm nay, Tổng thống Diệm đã nhờ Linh mục Bỉ De Jacger 5,
người từng đóng vai liên lạc bán chính thức giữa Diệm và cộng đồng Hoa kiều
địa phương, chuyển đến lời yêu cầu “Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đến để bảo vệ
kiều dân Mỹ và chiếm giữ phi trường Sài Gòn” (hình như phi trường nầy đã
bị quân nổi dậy chiếm đóng rồi). Tôi tin rằng hành động này rõ ràng không
còn cần thiết nữa. Sẽ cố gắng thông báo cho Diệm biết điều nầy. Cho đến 1
giờ 50 chiều, vẫn không có báo cáo về người Mỹ nào bị thương tích.
Durbrow
(1) Nguồn tin: Bộ Ngoại Giao, Hồ sơ Lưu, 751K 00/11-1160. Mật. Lập lại
bản tin để chuyển đến Manila cho Đô Đốc Felt và CINCPAC PolAd. Chuyển qua
OSD, Bộ Lục, Hải, Không Quân. Nhận lúc 9 giờ 05 sáng.
(2) Theo công điện 1012 đánh từ Sài Gòn lúc 1 giờ sáng ngày 11 tháng 11
(nhận được tại Washington lúc 2 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 11) thì Gardiner
thuộc USOM được Phó Tổng thống Thơ cho biết rằng Tướng Tỵ và Tướng Hoàng đã
bị quân nổi dậy bắt giữ và đã cùng với người lãnh đạo cuộc nổi dậy nầy là
Đại tá Thi, điều đình với Diệm tại dinh Độc Lập. Thơ biết được điều nầy từ
ba nguồn tin đáng tin cậy.
(3) Đại tá Thi, Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù.
(4) Theo công điện Critic 10 ngày 11 tháng 11 gửi từ Sài Gòn, nhận được
lúc 6 giờ 11 sáng, thì dù có chấp thuận thỏa hiệp với Chính phủ Diệm, Thi
cũng vẫn bắt Diệm phải từ chức. (Bộ Ngoại Giao, Hồ sơ Lưu, 751K.00/11-1160).
(5) Đức Cha Raymond J.De Jacger, Tổng Đại diện Tổ chức Thái Bình Dương Tự
Do, Khu vực Viễn Đông.
TRƯƠNG ĐÌNH CÁT VÀ HÀ NHƯ CHI
Nguyễn Chánh Thi viết về Hà Như Chi và Trương Đình Cát
Trong Hồi ký Việt Nam Một Trời Tâm Sự
* Trích từ: Tạp chí Ánh sáng Dân tộc số 1, 31/5/89,
Fresno
LTS: Bài viết dưới đây là một đoạn ngắn trích từ chương bổ túc “Việt
Nam Một Trời Tâm Sự” của Cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi sắp tái bản. Ánh
Sáng Dân Tộc xin giới thiệu cùng bạn đọc và xin cám ơn Trung tướng Nguyễn
Chánh Thi...
Sau ba năm dài trôi nổi trên xứ Chùa Tháp trở về miền Nam, tôi có đi thăm
hai người bạn trong tù: Anh Trương Đình Cát và Hà Như Chi. Họ vừa là bạn vừa
cùng phục vụ dưới chế độ nhà Ngô trước kia. Trương Đình Cát là người có tinh
thần Quốc gia, chống Cộng triệt để và đầy đủ sĩ khí.
Cát là người cộng tác mật thiết với anh Võ Văn Hải, Bí thư văn phòng Thủ
tướng Ngô Đình Diệm, khi ông vừa ở Pháp về lập Chính phủ 1954.
Cát bị giam ở Lao xá Nha Trang khi cuộc Cách mạng 1963 bùng lên.
Còn Hà Như Chi dân biểu của Ngô Gia, một thời nổi danh là người tình của
bà Cố Vấn Lệ Xuân, thì bị giam cầm ở nhà lao Chí Hòa.
Trung tướng Mai Hữu Xuân lúc đó là Đô Trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn bảo nhỏ tôi:
“Ông Thi nên cẩn thận kẻo thiên hạ hiểu lầm”. Tôi hiểu ý ông ta vắn tắt trả
lời: “Đây là chỗ quen biết xa xưa nên có ý thăm hỏi nhau lúc gặp hoạn nạn
thôi”. Độ nửa giờ sau, Cảnh sát đã đón Hà Như Chi đến tại văn phòng của
tướng Mai Hữu Xuân cho chúng tôi gặp thăm nhau. Câu chuyện hỏi han về sức
khỏe diễn ra khoảng 10 phút và tôi trao cho anh ta gói quà gồm mấy thức ăn
lặt vặt.
Thế rồi sau ngày chỉnh lý, mãi đến 11-9-1964, nhận thấy tình hình chính
trị sôi động nên Chính phủ yêu cầu tôi đến thăm nhà lao Chí Hòa và các tội
nhân liên hệ đến họ Ngô. Chính phủ có ý định đưa bọn họ đi Côn Đảo.
Nhìn qua chỗ ăn ở của bọn họ thì thật quá đầy đủ, đồ ngon vật lạ, cam táo
ngoại quốc không thiếu thức gì. Bọn họ chụm năm chụm ba nhìn tôi với những
con mắt lo ngại. Tôi đứng trước Hà Như Chi hỏi vài ba câu, bỗng nhiên Trần
Kim Tuyến lò dò đi đến dơ tay muốn bắt tay tôi. Tôi từ chối và chỉ hỏi anh
ta có ý kiến chi không? Tuyến trả lời: “Bây giờ thì chúng ta nên phải đoàn
kết để làm việc lớn (!)”. Tôi mỉm cười quay qua bắt tay Hà Như Chi nói chung
một đôi lời với bọn chúng rồi ra về.
Hai hôm sau, anh hạ sĩ tài xế cho tôi biết, có bà Hà Thúc Lãng là mẹ của
Hà Như Chi muốn vào thăm (năm 1937-1938 ông Hà Thúc Lãng, thân phụ của Hà
Như Chi, cũng là thầy học của tôi tại trường Tiểu học Đồng Hới Quảng Bình và
tôi quen Hà Như Chi và Hà Thúc Cần từ đó).
Bà mẹ của Hà Như Chi hơi ngập ngừng khi mở đầu câu chuyện với tôi.
Tôi nghĩ đến ông thầy học cũ của mình nên giữ nguyên cung cách đối xử ân
cần: “Xem cô vẫn khỏe mạnh, cô đến chơi hay có việc chi? Mấy tháng trước
thấy sinh viên và học sinh Huế biểu tình có ý định đến phá phách nhà thầy
cô, nên tôi đã đích thân đến yêu cầu họ giải tán, kêu gọi họ quên sự thù hận
đã qua để cùng nhau xây dựng lại đất nước”.
Tưởng cũng nên nhớ lại cho rõ: vào hơn một năm trước đó, bà Hà Thúc Lãng
đại diện cho phụ nữ Huế có đọc một bài diễn văn tâng bốc bà Ngô Đình Nhu
trong đó có câu bất hủ là: “Dân chúng cố đô Huế nên xây một cây cầu bằng
vàng từ Huế đến Sài Gòn để rước Đệ Nhất phu nhân đến thăm cố đô Huế”.
Bà mẹ Hà Như Chi chớp chớp mắt như tuồng cảm kích và đi thẳng vào việc:
“Hôm ni tôi đến thưa chuyện với anh và mong anh thông hiểu giúp cho Chi,
chúng tôi nghe tin Chính phủ có ý định đưa họ ra Côn Đảo thì phải?”.
Tôi chỉ nhìn bà ta mà chưa có câu trả lời thì bà lại tiếp: “Anh nên nghĩ
chỗ bạn bè, bà con quen biết mà cố giúp cho Chi thì vợ chồng tôi không bao
giờ quên” và bà nhắm mắt như muốn khóc.
Tôi đáp: “Thưa cô đó là chuyện của chính phủ, chuyện chính trị ngột ngạt
lắm. Như cô đã biết tôi vào ra thăm anh Chi và có hẹn cần chi tôi sẽ cố gắng
hết sức của tôi, và chắc cũng chưa đến nỗi chi để đưa ra Côn Đảo”.
Có thể nghe tôi nói làm bà hơi yên tâm và chầm chậm ngồi xuống ghế, nói
tiếp: “Bà Nhu mà ai không biết, cả xứ Huế và cả nước biết ! Thằng Chi nó
đẹp trai học giỏi, được đàn bà quắc thước quyền hành hiến thân cho thì làm
răng từ chối được”.
Nói xong bà ta mỉm miệng cười và nhìn vào tôi ra chiều kiêu hãnh?!
Tôi mời bà uống chén nước trà và xin cáo lỗi vì bận việc phải chia tay.
Chuyện Hà Như Chi là như vậy: Nhưng chuyện anh Trương Đình Cát người bạn
học thân với tôi tại trường Phú Xuân vào năm 1939, 1940-1941. Anh người
thông minh, điềm đạm và cẩn thận trong mọi việc. Tôi tự ngạc nhiên với tôi,
vì tôi và Trương Đình Cát tính tình thật trái ngược thế mà chúng tôi lại
thật thân nhau?
Trước năm 1954, Trương Đình Cát hoạt động phò nhà Ngô sao đó nên bị bắt
giam vào Thừa phủ Huế và khi ông Diệm về thì Trương Đình Cát làm tại văn
phòng Thủ tướng trở thành một trong đám Cần Lao thân tín hoàn toàn tin vào
chế độ nhà Ngô.
Năm 1955, Trương Đình Cát ở đường Hiền Vương, tôi Lê Văn Duyệt gần nhau,
cứ mỗi lần rảnh rỗi lại ghé thăm nhau để hàn huyên. Có lúc có cả anh Phan
Thụy Dung làm cho USIS nữa, ngày xưa cũng là bạn học. Ngoài ra tôi ghé thăm
Võ Văn Hải và Trương Đình Cát tại văn phòng của họ trên lầu dinh Độc Lập.
Tôi thầm nghĩ là công việc của anh Cát sẽ tiếp nối như thế mãi. Thế nhưng
đùng một cái tôi được tin anh ta phải đi nhận nhiệm vụ mới khẩn cấp.
Thì ra câu chuyện hi hữu họa vô đơn chí này đây. Cứ thường lệ, mỗi buổi
sáng sớm Tổng thống Ngô Đình Diệm sau khi dùng điểm tâm thì Võ văn Hải hoặc
Trương Đình Cát đem hồ sơ vào trình. Rủi cho Trương Đình Cát, một buổi mai
khoảng 7 giờ tay ôm tập giấy tờ nặng, tay khác mở cửa thì ngạc nhiên thấy
bà cố Nhu đang quàng tay vào cổ Ngô Tổng thống mà hôn!
“Tôi thật choáng váng ngạc nhiên, khó nghĩ, không khí quả là nặng nề cho
đến khi tôi rời khỏi phòng giấy vừa là phòng ngủ của ông Diệm” (lời của anh
Cát): “Hai ba ngày lặng lẽ trôi qua, đầu óc tôi cứ đảo lộn cứ cho là chiêm
bao”. Cát không muốn tin là chuyện có thật. Thế rồi, điều Cát chờ đợi cứ
phải đến. Vào một buổi chiều thứ Tư xế đông, anh Cát nhận được lệnh thuyên
chuyển đi làm Phó Tỉnh trưởng Nha Trang.
“Với đôi mắt khó chịu. Ngô Đình Diệm nhìn tôi khi tôi đến cáo từ ông để
đi đến nhiệm sở mới”. Cát tâm sự với tôi thế và dặn dò tôi nên thương lấy
anh ta mà giữ kín đáo chuyện này cho... “thật là buồn và quá chán chường”,
lời của Cát khi bắt tay từ giữa tôi ngày ấy.
Tôi phải tin vào lời những người anh em trung thực, ngay thẳng của mình.
Họ lại là tay chân thân tín của Diệm Nhu. Từ Võ Văn Hải đến Trương Đình Cát
hễ gặp tôi thì chưởi rủa vợ chồng Nhu hết lời. Họ đều nghĩ rằng vợ chồng Ngô
Đình Nhu sẽ làm hỏng cơ đồ nhà Ngô và ông Ngô Đình Diệm là nạn nhân chính.
Đến Trần Kim Tuyến khôn ngoan dè dặt đến thế mà có lúc không dằn được, phải
thổ lộ “ông cụ thì chả nói làm gì, chứ vợ chồng Ngô Đình Nhu thì quá lắm,
cao ngạo, khinh người cứ tưởng ngoài mình ra không còn ai nữa: đem chúng nó
thả ra ngoài biển là vừa”.
Nguyễn Chánh Thi
THƯ NGỎ
GỬI ÔNG HỨA HOÀNH
* Tác giả: Trần Ngọc Lý
* Trích từ: Tạp chí Tia Sáng số 22, tháng 10/1987
Thành phố Dallas ngày 18-10-1987
Kính gửi ông Hứa Hoành,
Trước hết tôi xin được giới thiệu: Tôi là một độc giả rất thích đọc những
bài ông viết về lịch sử và địa lý nước nhà. Những bài viết vô cùng hữu ích
của ông đã gợi lại trong tôi nhiều kỷ niệm êm đẹp của thuở xa xưa trên quê
mẹ thân yêu và nhắc nhở tôi về bổn phận của người dân mất nước đối với dân
tộc, đối với đồng bào. Được biết ông mới định cư tại Hoa Kỳ mà đã vượt được
những khó khăn buổi ban đầu để góp phần hâm nóng lòng người vong quốc thật
vô cùng đáng khen ngợi. Tuy nhiên, trong số báo Xây Dựng số 91 phát
hành ngày 1-10-87 tại Houston, ông có viết bài “Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình
Thục ở Vĩnh Long” để ca tụng đức hạnh cũng như công ơn của Đức Cha Thục. Bài
này thật đã làm tôi vô cùng thất vọng vì tôi rất tiếc là ông đã từng là giáo
sư Sử Địa trường Võ Bị Quốc Gia mà sự lý luận lại không chính xác làm cho
người đọc có cảm tưởng ông Hứa Hoành muốn viết lại lịch sử theo một chiều
hướng khác. Một điều mà chúng ta đang đau buồn khi người Cộng Sản đã và đang
viết để ngụy tạo lịch sử nước ta theo chiều hướng của chúng. Do đó, tôi xin
được phép mạn đàm cùng ông mấy điểm sau đây:
I. VỀ BÀI VIẾT CỦA ÔNGTrước hết xin xác nhận với ông rằng Vĩnh Long chỉ là một địa phận nên dạo
đó Đức Cha Thục chỉ là Giám mục chứ không phải là Tổng Giám mục như ông đã
viết.
Suốt bài ông có dụng ý ca tụng Đức Cha là người hiền hòa, đạo đức, ít
nói, ít xuất hiện trước công chúng (tức là khiêm tốn) nhưng cũng chính ông
tự mâu thuẫn với mình.
A. Ông đã viết: ... Cuối năm 1954 tổ chức Lễ Giáng Sinh rất trọng thể
có đức cha Ngô Đình Thục đến làm chủ lễ... Đây là một buổi lễ long trọng
khác thường... các họ đạo làm đám rước đức cha Ngô Đình Thục quy mô vĩ đại
vì cha là bào huynh của thủ tướng Ngô Đình Diệm. Cũng từ đó người dân Vĩnh
Long cảm thấy vai trò của đức cha nổi bật hẳn lên...
Trước lễ cha Thục cho chở mấy xe cam nhông sữa bột Mỹ viện trợ để phát
cho học sinh các họ đạo cùng các gia đình giáo dân...
Đọc đoạn này ta thấy rõ ràng cha Thục không khiêm tốn tí nào cả! Một điểm
cần nêu lên là sữa bột Mỹ viện trợ cho toàn dân miền Nam sao đức cha lại đem
phát riêng cho học sinh các họ đạo và gia đình các giáo dân? Đây là một chi
tiết rất quan trọng phản ánh trung thực một giai đoạn lịch sử: Trong những
năm đầu chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng tất cả đồ viện trợ Mỹ (sữa bột,
quần áo, v.v..) để mua chuộc đồng bào ta theo đạo Thiên Chúa.
B. Về đồ án mở mang tỉnh Vĩnh Long
Ông đã viết: ...Phần kiến thiết quan trọng nhất của việc mở mang nầy,
theo dân chúng địa phương, là do giáo hội Vĩnh Long xuất ngân sách xây dựng.
Gồm: một dãy phố nữa hình chữ U từ cuối bến xe mới vòng ra lộ cái quẹo về
hướng Cần Thơ, nằm trên đường chính, lúc đó là đại lộ Ngô Đình Thục cho đến
cuối năm 1963 mới đổi lại là đại lộ Nguyễn Huệ. Dãy phố này 40 căn và hậu
diện cũ của nó là 40 căn phố trệt, đâu mặt vào nhau, chính giữa có đường
trải đá, dùng làm phố gia cư cho công chức, tiểu công chức mướn. Phố trệt có
chiều sâu 16m, ngang 4m cho mướn giá 700$ một tháng, còn dãy đối diện có
chiều sâu ngắn hơn, giá 500$ một tháng. Các dãy phố nầy được dân chúng quen
gọi là "Phố Đức Cha".
Đọc đoạn nầy, tôi xin có mấy ý kiến:
- Tổng số tiền xây dựng công trình đồ sộ như vậy thì chỉ có ngân sách
quốc gia hay ngân sách ngoại viện mới đài thọ nổi thế mà giáo hội Vĩnh Long
lại xuất ngân sách xây dựng? Sao giáo hội lại giàu đến như vậy?
- Đất của công, giáo hội chiếm cứ, xuất tiền (?) xây nhà cho công chức,
tiểu công chức cho thuê để lấy tiền. Rõ ràng chính quyền Việt Nam Cộng Hoà
thời đệ nhất đã đồng hoá giáo hội Thiên Chúa với chính quyền.
- Một người còn sống, dù công đức đối với một địa phương có cao dày mấy
đi chăng nữa thì cũng không nên lấy tên mình đặt tên đường hoặc tên công
viên v.v.. vậy mà tại Vĩnh Long, chính quyền tỉnh - thuộc hạ của em đức cha
đang là Thủ tướng - lấy tên đức cha Ngô Đình Thục đặt tên cho một đại lộ thì
quả thật là một điều quái dị không thể tưởng tượng được! Và điều đó chứng tỏ
đức cha Thục chẳng hề khiêm tốn tí nào cả!
C. Ông đã viết: ...Đức cha Thục yêu cầu chính phủ Ngô Đình Diệm thiết
lập 3 cơ sở giáo dục qui mô lớn cùng một lúc: Trường Sư phạm, trường Kỹ
thuật, và Đại chủng viện Xuân Bích, nằm gần nhau trên đại lộ Ngô Đình
Thục... Trường huấn luyện nhân vị để đào tạo khoá sinh trong hàng ngũ cán bộ
quốc gia. Họ là các công chức trong phong trào cách mạng quốc gia, giáo sư,
giáo viên. Khoá đầu tiên khai giảng trọng thể có sự xuất hiện của đức cha
trên hàng ghế danh dự cùng với các cha giảng viên như cha Tư, cha Quang...
Đọc đoạn này tôi xin có mấy ý kiến:
- Trường sư phạm, trường kỹ thuật là nằm trong kế hoạch mở mang dân trí,
phát triển đất nước thì Thủ tướng Diệm phải có bổn phận lo xây cất chứ tại
sao Chính phủ lại xây cất một cơ sở riêng cho một tôn giáo?
- Các khóa gọi là “tu nghiệp nhân vị” dành cho công chức Chính phủ sao
các giảng viên chỉ thấy toàn là quý vị linh mục? Phải chăng dưới thời chính
phủ Ngô Đình Diệm chính quyền tức là giáo quyền? (Thiên Chúa)
- Đức cha Thục luôn luôn có mặt trong buổi lễ thế mà đoạn trên ông lại
bảo là “Ngài ít xuất hiện trước công chúng”.
II. VỀ TÀI LIỆU LỊCH SỬ
Thưa ông Hứa Hoành,
Người viết lịch sử, người giảng dậy lịch sử phải lấy lập trường dân tộc
làm căn bản, không thể vì tình cảm, phe phái hoặc vì giai đoạn mà nói lệch
hoặc nhận định sai lịch sử. Muốn nghiên cứu về lịch sử đất nước dưới thời Đệ
Nhất Cộng Hòa, muốn biết rõ về đức hạnh của đức cha Thục tôi đề nghị ông nên
tìm đọc các cuốn Bên Dòng Lịch Sử của cha Cao Văn Luận, Nhật Ký Đỗ
Thọ của Đỗ Thọ, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu, Làm
thế nào để giết một Tổng thống của Cao Thế Dung và Việt Nam: Một trời
tâm sự của Nguyễn Chánh Thi.
Tôi xin tạm trích ra đây những ghi nhận thuộc hai khuynh hướng: bênh vực
và đả phá liên quan đến chế độ đệ I Cộng Hòa và nhất là đến đức cha Thục:
1. Trong Bên Giòng Lịch Sử cha Cao văn Luận đã viết:
... Vào khoảng tháng 3-1963, nhiều ông dân biểu, bộ trưởng và những người
tai mắt trong chính quyền thành lập ủy ban mừng Ngân Khánh, 25 năm thụ phong
giám mục của đức cha Thục. Một buổi sáng cuối tháng 3 vào khoảng 7 giờ, đức
cha Thục đến gặp tôi tại nhà và nói thẳng với tôi:
- Cha Luận à, bây giờ anh em ở Sài Gòn có lập một ủy ban mừng lễ Ngân
Khánh của tôi do ông chủ tịch quốc hội đứng đầu gồm cả ông bộ trưởng giáo
dục Nguyễn Quang Trình, ông viện trưởng đại học Sài Gòn Lê Văn Thới với ngài
bộ trưởng khác nữa. Cha là viện trưởng đại học Huế cha nên vào ủy ban đó...
Tôi hơi ngạc nhiên về việc đích thân đức cha Thục đến gặp tôi nói chuyện
đó. Tôi nghĩ rằng đáng lý đức cha nên để người nào đó trong ủy ban tổ chức
sơ khởi bàn với tôi thì đúng hơn.
Vào tháng 4, tôi nhận thấy việc chuẩn bị mừng lễ Ngân Khánh của đức cha
Thục tiến đến một quy mô khá rộng lớn và có thể trở thành một quốc lễ chính
thức. Các tỉnh đều lập ra tiểu ban tổ chức mừng lễ Ngân Khánh và dĩ nhiên
ông tỉnh trưởng đứng đầu và có những trò quyên tiền góp bạc rồi tất nhiên là
phải xảy ra nhiều trường hợp cưỡng bách hay ít nhất là có sự áp lực đóng
tiền cho tiểu ban. Dư luận bắt đầu xôn xao bàn tán, chế nhạo...
2. Trong Nhựt Ký Đỗ Thọ ông Đỗ Thọ viết:
... Vì từ lâu, nhiều tăng ni Phật tử vẫn có thành kiến là tổng thống Ngô
Đình Diệm kỳ thị tôn giáo. Sự thực thì ông Diệm hết sức né tránh nhưng vì
quá kính nể đức cha nên ông đã ký giấy phép cho ông Thục khai thác rừng gỗ ở
Định Quán (Long Khánh), đã không dám xin ông Thục đừng biến lễ mừng Ngân
Khánh của ông thành một quốc lễ. Đáng lẽ một người tu hành như ông Thục phải
coi thường danh lợi thì ông lại là người ham danh lợi hơn ai hết. Ông Thục
muốn được phong Hồng Y giáo chủ và hân hoan thấy bọn gia nô đứng ta lập một
uỷ ban mừng lễ Ngân Khánh của ông...
3. Trong Việt Nam: Một Trời Tâm Sự, tác giả Nguyễn Chánh Thi kể
lại những điều tai nghe mắt thấy của ông khi lữ đoàn Dù do ông làm Tư lệnh
hành quân vào chiến khu D khoảng tháng 12-1959 như sau:
... Ngay khi cuộc hành quân mới phát động, chúng tôi đã vô cùng ngạc
nhiên thấy chung quanh ranh giới chiến khu D từng đoàn xe chở gỗ vẫn đi lại
bình thường, rộn rịp và nhiều toán thợ rừng đông đúc vẫn làm việc yên ổn như
đây là một khu vực an ninh vậy. Sau khi thẩm vấn đám thợ rừng, chúng tôi
được biết họ là công nhân của ông Sáu Tộ, người hùn vốn với đức cha Thục,
độc quyền khai thác rừng già như của tư nhân... Với cơ sở kinh tài nầy, số
lời hàng năm có thể lên tới hàng tỷ bạc...
Để đổi sự yên ổn kinh doanh, bọn này không những chịu nạp thuế mà nhận
luôn cả phần tiếp tế cho cộng sản... Trong căn cứ của chúng, Việt cộng ăn
thứ gạo hạng tốt, thắp đèn bằng dầu hôi và xăng, dùng một số xa xỉ phẩm nhập
cảng như xà phòng thơm, thuốc đánh răng ngoại hoá, thuốc lá thơm Anh Mỹ. Để
ấn hành các tài liệu tuyên truyền chúng dùng máy Ronéo và có đủ các loại
giấy tốt. Những lúc cần, Việt Cộng chỉ cải trang thành nhân công theo xe chở
gỗ về tận Sài Gòn. Các xe này thường được gọi là xe chở gỗ của "Đức Cha" và
các cơ quan kiểm soát không bao giờ dám động đến...
Đọc ba trích dẫn trên đây, nếu là người có lý trí bình thường, dù có là
một con chiên ngoan đạo đến mấy đi chăng nữa, chúng ta cũng không thể nào
chấp nhận một đức cha mà lòng tham và tính háo danh đến độ kỳ quái như vậy,
hoặc dù có cảm tình với cá nhân cố tổng thống Ngô Đình Diệm đến mấy đi nữa
chúng ta cũng không thể nào chấp nhận một chính quyền chỉ để phục vụ cho một
gia đình, một tôn giáo như thời Đệ nhất Cộng hoà.
Kính thưa ông Hứa Hoành,
Như tôi đã trình bày ở phần đầu bài viết là tôi rất mến mộ ông qua những
bài viết của ông đăng rải rác đó đây và tôi cũng nghĩ là ông chỉ muốn gợi
lại những kỹ niệm "một thời vang bóng" của thành phố Vĩnh Long, nơi chôn
nhau cắt rún của ông mà thôi. Tuy nhiên, bài viết của ông vì đã để cho tình
cảm lôi cuốn mà bỏ mất đi cái nhận xét vô tư, trung thực của lý trí mà một
người cầm bút - dù không chuyên nghiệp như ông - cần phải có. Nếu phần góp ý
của tôi có gì không phải, xin ông bỏ qua cho và rất mong được đọc tiếp những
bài viết mới của ông.
Trần Ngọc Lý
LUẬT SƯ, NGHỀ HAY NGHIỆP
Vài cảm nghĩ và
kỷ niệm về một thời hành nghề Tác giả: Võ Văn Quan
Trích từ: Tạp chí Ngày Nay (Kansas) số 99, tháng 4
năm 1992.
BIỆN HỘ TRONG VỤ ÁN CARAVELLE HAY LÀ TÂM ĐẦU Ý HIỆP
Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dầu sai hay đúng cũng là thừa
Vũ Hoàng Chương
(Kinh Kha sang Tần)
Vào năm 1960, sự bất mãn đối với chánh quyền Tổng thống Diệm càng ngày
càng gia tăng khiến sự cải tổ đường lối càng thêm cần thiết, nhưng chánh phủ
vẫn bất kể. Xáo trộn nội bộ làm gia tăng hiểm họa Cộng Sản. Trước tình thế
nguy ngập ấy, 18 nhân vật thuộc nhóm “Tự Do Tiến Bộ” họp báo tại khách sạn
Caravelle cạnh trụ sở Quốc Hội, ra Tuyên ngôn cực lực phản đối chế độ độc
tài, gia đình trị và tham nhũng. Lời lẽ trong bản Tuyên ngôn rất cương quyết
mạnh bạo, đả kích rằng Quốc Hội do đầu phiếu phản dân chủ đưa lên chỉ là
công cụ của Hành pháp, các đảng phái bị đàn áp diệt trừ, quân đội thì bị
chánh trị lũng đoạn khiến cho tinh thần chiến đấu giảm sút, dân chúng thì bị
áp bức và bóc lột, nên đất nước bị đưa tới bờ vực thẳm. Trong phần kết luận,
các nhân sĩ ấy bảo rằng vì có bổn phận đối với tổ quốc, họ gióng lên tiếng
chuông cảnh cáo chánh quyền mặc dầu biết sẽ nhận hậu quả tai hại.
Một số đông trong nhóm “Tự Do Tiến Bộ” ấy đã từng là bạn thân và ân nhân
của ông Diệm lúc ông còn bôn ba hải ngoại. Có vài người đã làm bộ trưởng
giúp ông Diệm lúc mới lập một chánh quyền còn mong manh.
Vì báo chí trong nước không dám đăng bản Tuyên ngôn nên các nhân vật đó
gởi bản Tuyên ngôn đến các Tòa Đại Sứ ngoại quốc. Để tránh bị công an mật vụ
cản trở bắt bớ trước khi đọc bản Tuyên ngôn, họ mở cuộc họp báo tại khách
sạn Caravelle để phổ biến lập trường.
Chánh quyền ông Diệm đã đáp ứng Tuyên ngôn ấy... không phải về phần đòi
hỏi sửa đổi chánh sách, nhưng về phần hứng chịu hậu quả tai hại của sự phản
đối. Họ bị truy tố về tội “phá rối cuộc trị an” quy định trong bộ Hình Luật
Canh Cải của thời Pháp thuộc. Sau một thời gian bị giam cầm và thẩm vấn (có
người còn bị tra tấn nữa, trong đó có bác sĩ Huỳnh Kim Hữu) họ được cho tự
do tạm, chờ ngày ra toà xét xử.
Bác sĩ Huỳnh Kim Hữu từng là bạn thân của anh thủ lãnh Khương từ thuở còn
cùng nhau du học bên Pháp. Ông đến nhờ anh Khương biện hộ. Anh Khương bảo
rằng tôi đảm nhận các hồ sơ hình sự trong văn phòng nên giới thiệu ông Hữu
cho tôi.
Vóc dáng cao ráo, da dẻ hồng hào, trán cao, miệng rộng, mắt sáng, nụ cười
đôn hậu, giọng nói chân thành, nét mặt hiền hoà, tánh tình cởi mở, ông Hữu
đã chiếm sự mến phục của tôi ngay từ lúc sơ khởi.
Ông Hữu thuật lại rằng thời ông Diệm còn lưu vong, ông Hữu đã bỏ công
việc tại phòng mạch để tích cực hoạt động cho "giải pháp Ngô Đình Diệm". Khi
ông Diệm về nước làm thủ tướng, ông Hữu giữ một bộ trong nội các xây dựng
quốc gia. Rồi ông đứng vào thế đối lập, gia nhập nhóm Caravelle. Cũng vì đó
mà người trước đây được ông tận tâm ủng hộ bây giờ ra lịnh bắt bớ, giam giữ,
tra tấn ông. Ông Hữu nhờ tôi khi biện hộ làm sao nói lên hoài bão của ông
muốn tiếp tục đóng góp cho quốc gia và sự uất hận của ông đối với chánh
quyền độc tài và bội bạc.
Cũng trong vụ này, một bị can khác, ông Trần văn Hương đã can trường nói
với luật sư Lê văn Thu được chỉ định biện hộ cho ông: "Luật sư muốn biện
hộ thế nào cũng được, nhưng luật sư đừng xin khoan hồng cho tôi, không có
vấn đề van lơn gì hết."
Nhứt định dùng phiên xử để làm diễn đàn chánh trị chớ không chịu van xin
khoan hồng, những người can trường đó, cũng như Kinh Kha, dầu sa cơ thất thế
nhưng cũng đã nói lên được chí khí của mình.
Phiên xử đó kéo dài từ sáng cho tới khuya.
Mặt tiền của Toà Quân Sự nhìn ra bến Bạch Đằng, với bờ sông có những hàng
cây đại thọ rì rào trong gió, những bãi cỏ được gìn giữ xanh tươi, giòng
sông Sài Gòn trầm lặng trôi, và bên kia bờ là những vườn tược thôn dã xanh
um của xóm Thủ Thiêm. Bên ngoài cảnh vật tĩnh lặng và nên thơ. Nhưng trong
phòng xử không khí thật sôi nổi, gay cấn. Hơn mười bị can, đa số là những
chánh khách nói năng hoạt bát. Người nào cũng có ít nhất là một lụât sư biện
hộ. Gần hai mươi luật sư lần lượt đưa ra những lý lẽ, luận cứ giống nhau
trong đại cương, nhưng cố gắng khác nhau trong tiểu tiết để gây sự chú ý
tránh nhàm chán. Trước giòng thác lũ biện hộ ấy, ông Chánh thẩm nhiều lần
ngắt lời các bị can và luật sư, không muốn cho phiên xử kéo dài. Tôi còn nhớ
khi luật sư Phạm văn Toàn (đã từng là một thẩm phán cao cấp, về sau ra hoạt
động chánh trị) vừa đứng ra biện hộ có mấy câu thì ông Chánh thẩm phán chận
lại và nói: "Xin luật sư vắn tắt."
Luật sư Toàn điềm tĩnh và lịch sự mỉm cười nhìn lên ông Chánh thẩm, chậm
rãi nói:
- Nếu ông Chánh thẩm hứa tha bổng thân chủ tôi thì tôi xin dứt lời tại
đây.
Tòa đành phải để ông tiếp tục biện hộ.
Về phần tôi, tôi suy tính muốn đưa ra một sự biện hộ khác biệt để tránh
sự nhàm chán và đồng thời nói lên sự uất hận của ông Hữu đối với ông Diệm,
tôi phải dùng điển tích lịch sử để bóng gió ám chỉ chánh quyền ông Diệm thì
mới tránh không bị ông Chánh thẩm ngăn chận khi nhận thấy tôi có lời xúc
phạm chánh phủ. Trong một phần của cuộc biện hộ, tôi nói đại khái như vầy:
- Cuộc điều tra không đem lại bằng cớ cụ thể nào chứng minh có một sự
xách động, xúi giục quần chúng nhằm phá rối cuộc trị an. Rốt lại chỉ có bản
kiến nghị gởi đến chánh quyền và cuộc họp báo để các bị can giải thích với
dư luận những điểm trong bản kiến nghị đó. Không có sự phá rối cuộc trị an
mà trái lại có sự tích cực đóng góp ý kiến với chánh quyền để sửa sai đường
lối - chính cái đường lối sai lầm đó của chánh quyền mới là phá rối cuộc trị
an, gây nguy hại cho đất nước.
Còn nếu lý luận rằng đưa ra bản kiến nghị và họp báo để giải thích ý kiến
đó, khiến dân tâm xao xuyến, là một cái tội, thì cùng lắm đó chỉ là một
délit d’opinion (tội phạm vì phát biểu ý kiến) một tội trạng không hề có quy
định trong luật pháp của những quốc gia dân chủ tự do.
Đó là về phương diện pháp lý. Về tình lý, tôi xin có đôi lời này: lúc chí
sĩ Ngô Đình Diệm bôn ba nơi hải ngoại, bác sĩ Hữu đã bất chấp sự đe dọa của
thực dân và những lực lượng thù địch khác, tích cực tranh đấu cho “giải pháp
Ngô Đình Diệm”. Sau đó ông Hữu đã tham gia chánh phủ, đối phó với bao nhiêu
trở lực trong những bước đầu tiên xây dựng chế độ. Nhưng về sau, vì sự bất
đồng ý kiến, ông đã rời chánh trường trở về với phòng mạch bác sĩ của ông.
Ông đã có thể như Nguyễn Công Trứ khi về hưu, ung dung tự tại với cái thú:
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
Nhưng khi thấy vận nước đảo điên vì những sự sai lầm của chế độ, ông cảm
thấy vẫn còn nặng nợ nước nên đã cùng với những người đồng một chí hướng
gióng lên tiếng chuông báo động, giúp chánh quyền sửa sai. Đền đáp lại, họ
bị bắt bớ, giam cầm, truy tố, căn cứ trên một điều khoản của Bộ Hình Luật
Canh Cải, tàn tích của Pháp để lại, điều luật trừng phạt cái gọi là tội phá
rối cuộc trị an của chế độ thực dân, chính cái chế độ mà Tổng thống Ngô Đình
Diệm và ông Hữu đã từng cùng nhau sát cánh chống đối.
Thật là một sự mỉa mai! Thật là cả một nỗi uất hận!
Thời Đông Châu, khai quốc công thần Ngũ Tử Tư đã thân bại danh liệt chỉ
vì quốc vương say mê Tây Thi và nghe lời bọn nịnh thần. Trước cảnh nước nhà
sắp mất, ông uất ức căn dặn người nhà sau khi ông tử tiết phải treo đầu của
ông lên cửa thành ngó về phía của đoàn quân nước Việt sẽ tiến đánh. Nhưng
điều ấy cũng không làm tỉnh ngộ được Ngô Phù Sai.
Quả nhiên khi nghe nói đến họ Ngô, ông Chánh thẩm vội vã đưa tay ngăn
chận: "Luật sư không được nói như vậy". Nhưng tôi đã nói những điều gì mà
ông Hữu, và chính tôi cũng muốn nói: ông vua chuyên chế Ngô Phù Sai tức là
Ngô Đình Diệm, cung nữ Tây Thi tức là người đàn bà chỉ là vợ của ông cố vấn
mà thôi nhưng quyền uy còn lớn hơn các đệ nhứt phu nhân trong một xứ dân
chủ, bọn nịnh thần của nhà Ngô ngày xưa tức là lũ gia nô của nhà Ngô ngày
nay.
Sau khi nghị án tới khuya, chắc chắn không phải để bàn luận về tình tiết
của vụ án mà là để chờ sự quyết định của "bề trên". Toà trở ra tuyên bố tha
bổng các bị can. Dĩ nhiên đó không phải là vì lời biện hộ của luật sư.
VỤ BÁC SĨ NGUYỄN VĂN MẪN, THỊ TRƯỞNG ĐÀ NẴNG
Tháng 2 năm 1965, sau vụ đảo chính hụt của tướng Lâm văn Phát, Phạm Ngọc
Thảo và Nguyễn Bảo Kiếm, các tướng trẻ làm áp lực nên Nguyễn Khánh phải xuất
ngoại. Chánh quyền được giao cho bác sĩ Phan Huy Quát. Nhưng sau cuộc đảo
chánh hụt của đại tá Bùi Dinh, nội các Phan Huy Quát từ chức và trao chánh
quyền lại cho quân đội. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Uỷ Ban Hành
Pháp Trung Ương và thành lập "Nội Các Chiến Tranh". Trung tướng Nguyễn văn
Thiệu giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.
Tướng Kỳ, dưới áp lực của chánh phủ Mỹ để lập một chánh quyền dân chủ mà
quần chúng Huê Kỳ đòi hỏi, tuyên bố sẽ trao quyền hành lại cho một chánh phủ
dân cử trong thời hạn ngắn. Nhưng sau khi dự hội nghị Honolulu, tin rằng
mình được sự ủng hộ mạnh mẽ của Tổng thống Lyndon Johnson, tướng Kỳ không
thi hành lời cam kết ấy. Các phe nhóm nổi lên, mạnh nhứt là nhóm Phật Giáo,
đòi tướng Kỳ phải từ chức. Sau khi Thượng toạ Thích Tâm Châu ủng hộ chánh
phủ của tướng Kỳ, Phật tử chia làm hai khối Ấn Quang và Vĩnh Nghiêm rồi xung
đột nhau trong vụ tranh giành Việt Nam Quốc Tự, Thượng toạ Thích Trí Quang
ra Huế lãnh đạo cuộc tranh đấu của Phật Giáo miền Trung. Tướng Nguyễn Chánh
Thi, tư lịnh Quân đoàn I, cùng một số đông quân nhân và công chức ủng hộ
cuộc tranh đấu ấy đòi phải có Hiến pháp và một chánh quyền dân cử. Bác sĩ
Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng Đà Nẵng, mặc dầu là người Thiên Chúa giáo, cũng
tích cực tham gia cuộc tranh đấu của Thượng Toạ Trí Quang. Tướng Kỳ gạt mời
tướng Thi vào Sài Gòn họp rồi bắt giữ lại. Cuộc tranh đấu tại miền Trung
càng sôi sục hơn nữa. Tướng Kỳ lại tuyên bố sẽ từ chức sau khi có một Quốc
Hội Lập Hiến do sự bầu cử sẽ tổ chức trong vòng 5 tháng. Cuộc tranh đấu của
Phật giáo lắng dịu. Nhưng sau đó, tướng Kỳ lại tuyên bố sẽ không từ chức và
sẽ cầm quyền ít lắm là một năm nữa. Tranh đấu bạo động lại tiếp tục. Tướng
Kỳ, với sự tiếp tay của tướng Nguyễn Ngọc Loan, dùng quân lực đánh dẹp cuộc
biến loạn miền Trung, bắt và giải vô Sài Gòn giam một số quân nhân và thường
dân trong đó có bác sĩ Mẫn.
Tôi nhận biện hộ vì dầu sao luật sư nào cũng thích được biện hộ trong một
vụ án quan trọng. Một lý do nữa là tôi muốn nhân dịp cãi trước tòa mà nói
lên sự công phẫn đối với những người nắm vận mạng quốc gia nhưng không từ bỏ
mưu đồ bất chánh để thỏa mãn tham vọng cá nhân...
Sau đó mấy ngày, một buổi sáng, tôi đang ngồi tiếp một thân chủ thì người
thơ ký vào cho tôi biết “có một ông thầy chùa” muốn gặp tôi. Tôi đoán biết
là ai rồi vì Giao có nói Thượng tọa Trí Quang luôn luôn muốn giữ hành tung
bí mật. Tôi không kiếu từ ngay người thân chủ đang dở dang bàn công chuyện
nên một lúc sau tôi mới bước ra. Có lẽ vì phòng tiếp khách của tôi nhỏ hẹp
như một cái hộp quẹt nên Thượng tọa Trí Quang bực bội không tiếp tục ngồi
chờ được, ông ra đứng tại góc đường Gia Long và Nguyễn Trung Trực nơi mặt
tiền văn phòng. Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt ông sau khi đã thấy ảnh của
ông trên báo chí. Ông mặc áo dài màu xám của tu sĩ, đơn sơ, rất sạch và được
ủi ngay ngắn. Phong cách của ông tỏa ra một cái gì khác thường (hay là uy
tín của ông làm tôi có ảo tưởng như vậy?). Vóc dáng của ông trung bình. Nước
da ngăm ngăm. Đầu cạo trọc bóng láng. Nổi bật là cái trán cao, cặp mắt sáng
quắc dưới đôi chân mày rậm rạp và cái cằm vuông quả cảm, râu tuy cạo sạch
nhưng vẫn lún phún xanh rì từ cằm lên đến mang tai. Tôi chợt có ý nghĩ hóm
hỉnh rằng nếu để râu, ông sẽ có bộ râu quai nón như hình của Trương Phi in
trong mấy bộ truyện Tam Quốc. Ông đứng thản nhiên mỉm cười một mình, nhìn
thiên hạ qua lại. Sau lưng có một chú tiểu cũng mặc đạo phục màu xám. Hai
bên, hơi dang ra xa, có hai người thoạt tiên tôi tưởng là hộ vệ của ông,
nhưng nhìn thấy vật cộm cộm bên hông của họ dưới chiếc áo chemise bỏ thòng
ra ngoài quần tây dài, tôi biết họ là nhân viên mật vụ. Có lẽ quá quen với
sự theo dõi thường trực ấy nên ông vẫn ung dung, thỉnh thoảng lại còn cười
cười nói nói vài câu với hai công an viên đó như là nói chuyện với người
nhà. Thật là một quang cảnh ngộ nghĩnh.
Ông tươi cười bắt tay rồi theo tôi vào văn phòng. Chú tiểu và hai viên
công an viên vẫn đứng trước cửa.
Sau câu chuyện vắn tắt, tôi tiễn ông ra trước cửa văn phòng. Người công
an viên gọi một xe cyclo đi ngang qua, ông lên ngồi trên xe với chú tiểu,
hai công an viên lái xe gắn máy chạy theo hai bên xe cyclo. Tôi cười nhìn
theo cảnh ngộ nghĩnh ấy với đôi chút cảm tình trước phong thái giản dị của
người mà báo chí có lần so sánh với giáo chủ Makarios.
Phiên tòa xử các bị can trong vụ gọi là “Biến Động Miền Trung” này cũng
rất náo nhiệt, phóng viên quốc nội và quốc tế đến theo dõi khá đông. Một
diễn tiến tôi còn nhớ là Thượng tọa Trí Quang nhờ tôi đưa một văn thơ của
ông cho ông Chánh Thẩm. Để chắc chắn rằng nội dung văn thơ ấy được phổ biến
nên trước khi trao, tôi lớn tiếng đọc trước Tòa. Trong thơ, Thượng tọa tuyên
bố sẵn sàng ra tòa khai rõ về những việc đã xảy ra tại miền Trung và đảm
nhận tất cả trách nhiệm vì chính ông lãnh đạo cuộc tranh đấu ấy.
Dĩ nhiên toà không mời Thượng toạ Trí Quang ra làm nhân chứng để ông
không dùng phiên toà làm diễn đàn chánh trị. Còn truy tố ông, nếu "họ" dám
làm thì đã làm từ lâu.
Dầu sao, tôi cũng sử dụng lời lẽ trong văn thơ đó trong sự biện hộ của
tôi.
Được toà trao lời, tôi trình bày đại khái như sau:
Điều hiển nhiên là các bị can tranh đấu đòi phải thành lập Quốc Hội Lập
Hiến, Quốc Hội này thảo Hiến Pháp làm nền tảng pháp lý cho các cơ quan lãnh
đạo quốc gia thành hình sau một cuộc bầu cử. Không ai có thể bảo rằng đòi
hỏi ấy là yêu sách không chánh đáng, bất hợp pháp. Chính những người tìm
cách lẩn tránh, không chịu đáp ứng sự đòi hỏi ấy, mới là người hành động bất
chánh.
Trong tình thế của miền Nam này sự đòi hỏi ấy còn cần thiết hơn nữa. Cần
thiết trong cuộc tranh đấu một mất một còn với cộng sản độc tài; lợi khí sắc
bén của chúng ta là chánh nghĩa dân chủ, tự do. Cần thiết đối với quốc tế để
nêu cao uy tín của Việt Nam Cộng Hoà và tranh thủ sự ủng hộ tích cực của các
đồng minh trong thế giới tự do. Cần thiết đối với chính dân chúng trong nước
để có một chánh nghĩa xứng đáng với sự tranh đấu và hy sinh của họ.
Dưới chế độ Ngô Đình Diệm ít ra còn có một hình thức dân chủ - tôi xin
nói rõ: hình thức; nội dung ra sao ai cũng biết. Nhưng sau chế độ ấy, người
ta thấy những gì?
Từ ba năm nay, 1964 đến 1966, không có một Hiến Pháp do Quốc Hội Lập Hiến
soạn thảo, không có những cơ chế dân cử. Năm 1964 có cái quái thai gọi là
Hiến Chương Vũng Tàu, chỉ 10 ngày sau, vì có sự phản đối mãnh liệt của quần
chúng đã phải bị huỷ bỏ. Ngoài cái hiến chương đoạ thai ấy, không! - không
có gì hết! Chỉ có những quân nhân cao cấp lên nắm chánh quyền sau những biến
động quá nhiều đến nỗi phải đặt nhiều danh xưng cho đỡ nhàm chán: cách mạng,
chỉnh lý, đảo chánh, biểu dương lực lượng. Biến động không phải là bầu cử tự
do, không thể tạo nền tảng pháp lý của chánh phủ được.
Trong cuộc đấu tranh cho chánh nghĩa, các bị can đã bị dồn trong bước
đường cùng. Họ không có cuộc bầu cử để lập một Quốc Hội và những cơ chế lãnh
đạo khác đúng với nguyện vọng chánh đáng của họ. Họ không có một khuôn khổ
hợp hiến, hợp pháp, để tranh đấu cho lập trường của họ. Họ chỉ còn một con
đường bạo động tranh đấu cho lý tưởng dân chủ và tự do của họ. Đó không phải
là một cái tội.
Nếu đó là một cái tội thì tại sao Thượng toạ Thích Trí Quang, người lãnh
đạo sự tranh đấu ấy, người đã gởi văn thư xác nhận phân minh trước quý toà
rằng ông lãnh đạo sự tranh đấu, lại không bị truy tố?
Người lãnh đạo, kẻ chủ mưu không bị truy tố thì tại sao những người chỉ
có đi theo sự lạnh đạo ấy lại bị truy tố?
Tôi xin quý tòa tha bổng các bị can.
Tôi không nhớ rõ tòa tha bổng bác sĩ Mẫn hay chỉ phạt một án tù không quá
thời gian ông bị giam cầm. Nhưng tôi nhớ là ông đã được trả lại tự do sau
phiên xử vì mấy ngày sau đó Thượng tọa Trí Quang gởi thơ cho biết các bị can
đã đến chùa chào ông. Ông cám ơn tôi và mời tôi khi nào rảnh rỗi tới Ấn
Quang để trước là viếng chùa cho biết và sau nữa là đàm đạo với ông...
Mấy tuần sau, vì hiếu kỳ, tôi đến chùa Ấn Quang. Trong phần làm chỗ trú
ngụ của các vị đại đức và thượng tọa, đi trong hành lang qua những căn phòng
của những vị ấy, cửa mở trổ ra hành lang, tôi thấy các thiện nam tín nữ xôn
xao, rộn rịp ra vào, nói cười. Phòng của Thượng tọa Trí Quang ở riêng biệt
nơi cuối hành lang. Mấy thước trước khi tới đó có một chú tiểu ăn mặc sạch
sẽ chỉnh tề ngồi tại một cái bàn nhỏ để đón khách, hay đúng ra là để ngăn
chận những người không có phận sự không được tới, vì tôi thấy chỗ đó hoàn
toàn vắng lặng.
Sau khi vào trình với Thượng tọa, chú tiểu trở ra mời tôi vô phòng, Căn
phòng có vẻ rộng hơn phòng của các tu sĩ kia đôi chút và rất sạch sẽ ngăn
nắp, gạch bông đen trắng được chùi láng bóng, sách vở sắp xếp ngay hàng
thẳng lối. Ông cũng mặc áo dài màu xám như lúc đến văn phòng tôi, sạch sẽ và
ngay ngắn. Trong phòng chỉ có một mình ông. Không khí thật trang nghiêm tĩnh
lặng.
Hai bên nói chuyện sơ lược về vụ án đã qua và về thời sự. Ông than phiền
người ta đồn ông thân Cộng và chống Mỹ. Ông nói chủ tâm của ông là bảo tồn
văn hóa, nền nếp cổ truyền và đạo đức của xử sở để không bị cộng sản vô thần
hủy diệt và văn minh vật chất của Âu Mỹ làm cho bại hoại. Theo phép lịch sự,
hay là vì không muốn nói thêm nữa về mình, ông xoay qua hỏi tôi về nghề luật
sư và những vụ án tôi đã biện hộ. Tôi nói sơ lược một chút rồi đứng dậy kiếu
từ vì thấy chú tiểu gõ cửa rồi nhìn vào để ngầm cho biết là có người đến gặp
Thượng tọa.
Đó là lần thứ nhì và lần cuối cùng tôi gặp Thượng tọa Trí Quang.
Tôi không biết con người khó hiểu đó có phải là Việt Cộng nằm vùng hay là
kẻ thân Cộng hay không. Đối với tôi về điểm này vẫn còn sự thắc mắc vì tôi
không nghe nói ông ra mặt hoạt động hay giữ chức vụ gì của Cộng sản sau năm
1975 như ni sư Huỳnh Liên chẳng hạn, và lại có tin đồn rằng ông bị Cộng sản
giam giữ.
Võ Văn Quan
ĐẦU HÀNG
Tác giả: Vân Xưa
Trích từ: Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị
Nhà Xuất Bản Việt Nam, San Diego, California, 1991
Rảnh rỗi mấy tháng ở Úc, thừa thì giờ nên đọc tập hồi ký Bên Giòng
Lịch Sử của linh mục Cao văn Luận viết từ hai mươi mấy năm trước, để tán
dương Ngô Đình Diệm, sau khi ông Diệm bị lật đổ. Chưa hề xem, nên xem thử
một lần.
Vân Xưa quen biết ông Luận nhiều, từ 1949 đến 1954, ở Huế. Ông được giới
thiệu là một tu sĩ Thiên Chúa giáo tiền tiến, du học từ trước 45, rồi hành
đạo nhiều năm ở Pháp, sau đó, năm 48/49 về nước, phục vụ tông đồ và xứ sở.
Vân Xưa kém linh mục quãng mười tuổi, nên trọng ông như thầy, và đãi nhau
như bạn, Cùng một ưu tư về tương lai đất nước, cùng chưa rơi trong vòng thế
lợi, thành ra dễ thông cảm với nhau.
Nhưng đến 54, vì chọn lựa khác nhau nên chế độ Ngô Đình Diệm đã ngăn cách
đôi bờ, không còn dịp gặp nhau đến một lần, trong suốt chín năm ông Luận
phục vụ ông Diệm, trong tư thế cố vấn, ở địa vị Viện trưởng viện Đại học
Huế. Tháng 12-63, gặp lại nhau một lần duy nhất, trong bữa cơm một luật sư
bạn chung thết, để tiễn ông Luận lên đường sang Hoa Kỳ. Cố nhiên phải đề cập
tới chuyện ông Diệm bị lật đổ. Vân Xưa nửa đùa, nửa thực, khen: linh mục
thay đổi nhanh và kịp thời quá! Rồi thôi, cho đến khi ông mất trong năm
qua, chẳng còn gặp lại nhau nữa, và cũng chẳng buốn xem hồi ký ông cho ấn
hành nhiều lần, từ năm 67 thì phải.
Ở Úc quay về Pháp, Quê Mẹ cho xem hồi ký Việt Nam Máu Lửa Quê Hương
Tôi, tướng cũ Đỗ Mậu mới xuất bản. Xem mất ba ngày.
Vân Xưa có biết ông Mậu, cũng ở Huế, nhưng không quen nhau như với ông
Luận, không hề là bạn với nhau. Cả đời gặp nhau có hai bận. Bận trước, năm
1954, ba mươi ba năm trước đây, trong một cuộc hội thảo, cả hai cùng tham
dự, giữa một số trí thức cố đô, theo yêu cầu của Ngô Đình Nhu, để đưa ra một
đường lối cầm quyền mới cho chính phủ ông Diệm sắp thành lập. Đóng góp của
Vân Xưa về vấn đề "Nam kỳ cũ" có vẻ được ông Mậu chú ý, nên sau ba ngày xong
công việc, trong cuộc rượu kết thúc cuộc hội thảo, ông Mậu mang ly đến gần,
nói vài lời ân cần ngỏ ý muốn làm quen với nhau. Rồi cũng hệt như Linh mục
Luận, chế độ Diệm đã ngăn cách, vì chọn lựa khác nhau. Có khác chăng là ông
Mậu không phải bạn, như ông Luận, nên không còn đi lại với nhau cũng là
chuyện thường.
Bận thứ hai, mà cũng là sau cùng, hai mươi lăm năm trước đây, vài tuần lễ
trước ngày 1-11-63. Ông Mậu đến tìm, để bàn với Vân Xưa việc quân đội định
đảo chánh ông Diệm. Với một người không phải là bạn, chỉ gặp nhau có một
bận, chín năm trước, ông Mậu, đang cầm đầu ngành An Ninh Quân Đội, không
ngần ngại gặp lại một lần thứ hai để nói chuyện âm mưu chết sống ấy của
mình, quả thật ông đã gan tày liếp!
Không rõ có phải ông Mậu nhớ đến phần đóng góp của Vân Xưa, trong cuộc
hội thảo ở Huế chín năm trước, để không ngại tiết lộ âm mưu của mình với một
người trong đời mình nay mới gặp lần thứ hai, và sau đó không còn gặp một
lần nào khác.
Trong phần đóng góp ấy, Vân Xưa nêu vấn đề “Nam Kỳ cũ”, ghi nhận đất đai
và dân tình ở đây là điều kiện tiên quyết cho tương lai của chế độ Sài Gòn,
trong hoàn cảnh đất nước qua phân: Miền Nam thắng hay bại, tùy thuộc quần
chúng Nam kỳ cũ, tùy thuộc ở dân quê miệt vườn, trí thức thành thị, anh em
kháng chiến quốc gia, và các giáo phái, chứ không phải tùy thuộc hoàn toàn ở
cá nhân người lãnh đạo chính quyền quốc gia.
Có lẽ ông Mậu, lúc bấy giờ, đã nhận ra được nguồn cơn thất bại và sụp đổ
của chế độ nhà Ngô, nên đã không ngại lậu chuyện mà cả gan tìm đến người
chín năm trước đã từng nêu rõ cái lẽ mất còn này của miền Nam chăng? Ông Mậu
còn đó, chắc có thể trả lời cho câu hỏi này, về tâm sự hai mươi lăm năm cũ
của ông chăng?
Cuộc đảo chánh thành tựu, có tiếp tục liên lạc với nhau trong hai tháng
liền, qua trung gian, rồi thôi. Cho đến nay, cùng ly hương, nhưng mỗi bên
một ngả, và nay được xem “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”.
1950-1954-1963-1975, Cao văn Luận cũng như Đỗ Mậu đều là những người của
thời cuộc. Hơn nữa, những người đã làm thời cuộc. Viết hồi ký là chuyện họ
phải làm. Vân Xưa được xem những gì mỗi người hồi ký, thấy có bổn phận trình
bày bạn đọc mục mình đảm trách, cảm nghĩ về những gì đã xem.
Ở Úc, đọc hồi ký của một người, dù sao cũng đã từng là bạn, Vân Xưa thấy
ngao ngán cái tinh thần Ngô Đình Diệm Linh mục Cao Văn Luận nêu cao
trong Bên Giòng Lịch Sử, như sau:
“Những ai từng có địa vị, vai vế trong nền Cộng Hòa Nhân Vị đều mang
ơn nặng được ông Diệm đưa từ bóng tối ra ánh sáng, cho nên kẻ đã lật đổ ông
Diệm đều thuộc hạng phản chủ, phản thầy”
Thì ra ông, ông Linh mục thấm nhuần nhân vị tính của nền Cộng Hòa
Ngô Đình Diệm, đã hồi ký cho mọi người là chế độ nhân vị này chỉ gồm toàn
đầy tớ, học trò của ông Diệm, một bọn người chỉ biết gọi dạ, bảo vâng!
Không còn chịu dạ, chịu vâng, mà lại lật đổ thầy mình, chủ mình, thì chỉ là
một bọn phản chủ, phản thầy.
Cộng Hòa: chế độ chủ và thầy. Nhân vị: một bọn học trò, tôi
tớ!
Linh mục Luận biết mình cũng chỉ là một đầy tớ và học trò của ông Diệm,
như mọi người khác đang phục vụ nhà Ngô, theo định nghĩa của chính ông, vì
ông cũng là người đã từng được ông Diệm đưa từ bóng tối ra ánh sáng. Nhưng
trong thâm tâm, Linh mục Luận hẳn muốn người xem hồi ký liệt linh mục nằm
ngoài bọn người phản chủ, phản thầy này. Tuy có một giai đoạn, dù chỉ
vài năm, sau ngày 1-11-63 và trước khi viết hồi ký, ông phô trương việc ông
đã góp phần lật đổ chế độ Diệm, trong tư cách Viện trưởng Đại học Huế (xin
xem phát biểu của ông Viện trưởng về biến cố tháng 11-63, trữ ở Viện Đại học
Huế) |