Chương I
QUẢNG BÌNH
QUÊ HƯƠNG ĐỊNH
MỆNH
Trong
suốt quá trình lịch sử cận đại của nước ta, trên cả ba miền đất nước mà đặc
biệt tại miền Trung, khi nói đến cái “lò” cách mạng hay cái “nôi” văn học là
phải nói đến hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía Bắc Đèo Ngang, và hai tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi ở phía Nam Đèo Hải Vân. Những bậc hào kiệt tài danh
đứng đầu ngọn sóng cách mạng hoặc làm đẹp cho nền thi văn đất nước như các
cụ Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đều xuất thân
từ vùng đất Nghệ-Tĩnh; còn những tên tuổi của các cụ Phan Chu Trinh, Trần
Cao Vân, Trần Quý Cáp thì lại vươn lên từ vùng đất Nam-Ngãi, nơi được mang
danh là đất của “Ngũ Phụng Tề Phi” (năm con phượng cùng bay) nhờ kỳ thi Hội
năm Mậu Tuất (1898), ba tiến sĩ và hai phó bảng trong số mười tám vị chiếm
bảng vàng đều xuất thân từ tỉnh Quảng Nam, cho nên vua Thành Thái mới ban
cho năm vị tân khoa bốn chữ “Ngũ Phụng Tề Phi” vang rền đất nước.
Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, dưới thời Pháp thuộc, cũng chính là vùng đất bất
khuất, tiếp nối truyền thống cách mạng chống ngoại xâm của cha ông, vùng lên
đối kháng chính quyền bảo hộ Pháp mà điển hình là các cuộc đấu tranh của Văn
Thân và Cần Vương, là phong trào chống thuế ở Nam-Ngãi, là phong trào
Sô-Viết ở Nghệ-Tĩnh. Các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và một số các lãnh
tụ khác của đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng xuất thân từ lò luyện thép này.
Bên cạnh
vóc dáng và khí thế lẫy lừng của bốn tỉnh kể trên, Bình-Trị-Thiên là ba tỉnh
nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, vì quen nhọc nhằn chống lại
thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đòn gánh chính trị oằn vai vì
sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đã cưu mang trong sức
sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng Bình, tuy là
một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại
chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.
Từ đời
Hùng Vương, Quảng Bình đã là một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang, có tên
là Việt Thường với thủ đô là Phong Châu[1]. Vì là tỉnh cực Nam tiếp giáp với biên giới Chiêm
Thành nên suốt một thời gian dài trong quá trình dựng nước và mở nước, Quảng
Bình đã là chiến địa khốc liệt và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa
hai dân tộc Chiêm-Việt. Cho đến năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông xuất quân
đánh Chiêm Thành bắt được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa-Lý, Ma-Linh, và
Bố-Chính thì Quảng Bình (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn
thuộc về lãnh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho
đến bây giờ.
Tuy là
một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, và bề ngang, chỗ hẹp nhất, chỉ vào
khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường Sơn huyền
bí, mặt nhìn về biển Đông thét gào, đất cày lên không sỏi thì đá, nhưng tạo
hóa lại đền bù cho Quảng Bình nhiều danh lam thắng cảnh để tô điểm cho thêm
thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Lũy Thầy, Đèo Ngang, sông Linh
Giang, động Phong Nha… không những là kỳ tích của thiên nhiên mà còn là
những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng trong lịch sử nước nhà.
Đèo
Ngang nằm trên một rặng núi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vươn ra biển Nam
Hải như một bức trường thành hùng vĩ nên có lẽ vì thế mà rặng núi này được
gọi là Hoành Sơn. Sử chép rằng chúa Nguyễn Hoàng thời Lê Mạt trước khi vào
trấn nhậm Đàng Trong, có cho người đến thỉnh ý cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Cụ nhìn thấy một đàn kiến đang bò trên hòn giả sơn trước sân nhà, bèn nói
Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân (núi Hoành một dãy, vạn đời dung
thân). Câu chuyện thuộc về dã sử không rõ thực hư, nhưng kể từ năm 1558, khi
chúa Trịnh cho Nguyễn Hoàng vào Nam trấn nhậm cho đến khi nhà Nguyễn lập
quốc xưng vương vào năm 1802, rồi kéo dài cho đến năm 1945, khi vua Bảo Đại
thoái vị trao quyền lại cho ông Hồ Chí Minh, tổng cộng gần 400 năm kể cũng
là vạn đại lắm rồi.
Cảnh vật
Đèo Ngang như là nơi tao ngộ của trời mây non nước, đất đá cỏ cây, lại có
ải-quan trơ gan cùng ngày tháng, có Cổ Lũy pha đậm nét rêu phong, cảnh trí
vừa hùng vĩ, vừa nên thơ dễ làm động lòng khách du quan mỗi khi đi qua Đèo.
Vua Lê Thánh Tôn, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu… những thi
hào tên tuổi của Việt Nam dừng chân trên đỉnh đèo, động lòng hoài cảm trước
cảnh vật giao hòa đã để lại những vần thơ láng lai tình non nước. Người Việt
Nam không mấy ai không biết bài thơ hoài cảm Qua Đèo Ngang tức cảnh
của Bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá,
lá chen hoa.
Lom khom dưới núi
tiều vài chú,
Lác đác bên sông
rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng
con quốc-quốc,
Thương nhà mỏi
miệng cái gia-gia.
Dừng chân đứng
lại trời non nước,
Một mảnh tình
riêng ta với ta.
Cách Đèo
Ngang 15 cây số về phía Nam có con sông Gianh mà lòng sông vừa sâu lượng
nước lại vừa chảy mạnh. Sông Gianh bắt nguồn từ núi rừng Trường Sơn hiểm
trở, bạt núi xuyên ngàn tạo ra nhiều thác lắm ghềnh và đổ òa ra biển Đông,
cắt đôi đất nước thành hai miền riêng biệt. Bề ngang rộng lớn của dòng sông
và thế chảy mãnh liệt của dòng nước biến sông Gianh thành một trở lực thiên
nhiên hữu ích cho các nhà quân sự muốn tạo ra một thế bố phòng vững chắc vào
cái thời mà vũ khí và các phương tiện vận tải còn giới hạn.
Cửa sông
Gianh nước chảy xiết, khó bắc cầu, thuyền bè qua lại khó khăn nguy hiểm nên
dân gian mới ví von:
Bao giờ nước cạn Đồng Nai,
Sông Gianh bớt
chảy mới phai lời nguyền.
Tuy cửa
sông Gianh hiểm trở nhưng đây cũng lại là nơi phong cảnh hữu tình, nên thơ
với tiếng gió thổi lộng qua hàng dương liễu vi vu trỗi lên những bản nhạc du
dương trầm hùng, với những cánh buồm nâu trở về bến cũ khi bóng xế chiều tà,
với tiếng sóng dạt dào theo con nước thuỷ triều lên xuống. Khách lữ hành mỏi
mệt sau những chặng đường dài trên con đường thiên lý, đến cửa sông Gianh
dừng chân nghỉ lại trong những ngôi quán tranh của dân xóm Thanh Hà, phía
hữu ngạn sông Gianh, nếm mùi hải vị, uống chén chè tươi, ngắm nhìn bức tranh
thiên tạo, hưởng làn gió mát trước khi tiếp tục cuộc hành trình ngược Bắc
xuôi Nam.
Rời sông
Gianh, theo phương Nam mà đi gần 30 cây số nữa, khách lữ hành sẽ gặp Đồng
Hới, tỉnh lỵ Quảng Bình, có Động Hải, có sông Nhật Lệ, có cổng Bình Quan, có
cổ lũy Phú Ninh, có những tiền đồn của Lũy Thầy, những di tích còn sót lại
của thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
Tiếp tục
đi về phía Nam, băng qua sông Nhật Lệ, khách lữ hành sẽ tìm thấy những kiến
trúc rêu phong vốn là vết tích của Lũy Thầy, còn được gọi là Trường Thành
Định Bắc.
Lũy Thầy, chiến lũy vững vàng đã từng chận đứng rất nhiều chiến dịch Nam
tiến của quân chúa Trịnh, được xây từ năm 1629 do sáng kiến chiến lược của
vị quân sư tài ba và đầy mưu lược của nhà Nguyễn là ông Đào Duy Từ. Ông vốn
xuất thân từ một gia đình làm nghề hát xướng, cái nghề mà xã hội phong kiến
ngày xưa thường khinh bỉ gọi là “xướng ca vô loại”. Thủa thiếu thời, có lúc
ông phải đi ăn xin từ làng này qua làng khác và rất nhiều lần phải chăn trâu
cho các nhà phú hộ để đổi lấy bát cơm thừa. Trong hoàn cảnh khốn cùng đó,
tương lai lại còn bị chận đứng bởi bức thành giai cấp cổ tục, ông vẫn quyết
tâm sôi kinh nấu sử một mình để trau dồi trí đức và sau này trở thành một
bậc hiền tài mưu cao chí lớn được chúa Nguyễn Phúc Nguyên và các quan xem
như bậc thầy.
Lũy Thầy
dài ba trăm trượng, chạy từ chân núi Đầu Mâu, phía Tây huyện Lệ Thủy, đến
cửa sông Nhật Lệ thuộc phủ Quảng Ninh, đã là chiến lũy chận đứng được nhiều
cuộc tấn công của quân Đàng Ngoài. Vì thế mới có lời truyền tụng:
Khôn ngoan qua cửa sông La,
Dù ai có cánh khó qua Lũy Thầy.
Ngoài
những cảnh trí non nước đã được nhắc nhở nhiều trong sử sách ngàn đời của
dân tộc Việt, Quảng Bình còn có nhiều phong cảnh đem tự hào cho dân chúng
địa phương. Cách tỉnh lỵ Đồng Hới 17 cây số về phía Tây Nam, có động Phong
Nha thuộc huyện Bố Trạch, một thắng cảnh vô cùng kỳ vĩ. Muốn vào động phải
đi bằng thuyền, phải có đuốc dẫn đường; trong động có suối nước xanh màu
ngọc bích, có thạch nhũ nhô ra như những bàn tay Phật, có những kiến trúc
thiên nhiên như những toà lâu đài tráng lệ huy hoàng, lại có những sân khấu
do thợ Trời sắp đặt với phong cảnh trang trí, đào kép múa may thật diễm ảo
thần tiên. Những giọt nước từ nhũ đá rơi xuống suối nằm sâu trong lòng động
tạo thành những điệu nhạc trầm buồn và mỗi khi nước chao động đập vào ghềnh
đá thì có tiếng âm vang như tiếng chuông chùa. Theo dân chúng địa phương thì
những tiếng chuông chùa này chỉ ngân lên vào đêm Rằm và đêm mồng Một âm lịch
mà thôi.
Trời trên
vòm động có những đám mây ngũ sắc từ chóp núi Trường Sơn tụ lại làm cho cảnh
vật Phong Nha thêm huyền ảo, thanh kỳ khiến khách du quan tưởng mình như lạc
đến chốn Bồng Lai Tiên Cảnh.
Cụ Chu
Mạnh Trinh cho rằng động Hương Sơn ở Hà Tây là Nam Thiên đệ nhất Động,
còn học giả Thái Văn Kiểm (từng sống lâu năm và từng nghiên cứu về địa lý
dân tình tỉnh Quảng Bình và miền Trung) thì lại cho rằng Phong Nha là “Đệ
Nhất Kỳ Quan” của nước Việt Nam. Theo ông Thái Văn Kiểm thì ông Barton, nhà
chiêm tinh học người Anh, cho biết động Phong Nha không kém gì động Padirac
của Pháp hay Cuevas del Drach ở Mallorque của xứ Tây Ban Nha[2]. Chỉ tiếc rằng động Phong Nha, một kỳ quan của đất
nước quê hương, mà chỉ có người Âu Châu thăm viếng nhiều còn người Việt Nam
chưa mấy ai lui tới chỉ vì giao thông trắc trở, vì chiến tranh cản ngăn.
Nếu động
Phong Nha đã tô điểm cho huyện Bố Trạch thành một vùng giang sơn cẩm tú thì
núi Đầu Mâu và đầm Hạc Hải ở Lệ Thủy và Quảng Ninh lại là nơi tụ hội của
khí thiêng sông núi hun đúc nhân tài tỉnh Quảng Bình. Núi Đầu Mâu cao
vút, quanh năm mây mù bao phủ đầu non, hình chóp núi nhọn như ngòi bút, còn
đầm Hạc Hải hình thể như cái nghiên mực có lạch riêng cho thuyền bè qua lại,
phía Đông Nam bao bọc bởi những động cát chập chùng, phía Tây Bắc có vách
núi Trường Sơn làm thành quách. Cảnh vật Đầu Mâu và Hạc Hải trông giống như
ngòi bút và đĩa nghiên cho nên tiền nhân mới gọi Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải
vi nghiên, làm biểu tượng cho nền văn học tỉnh Quảng Bình. Quanh Đầu Mâu
và Hạc Hải có nhiều động, nhiều hang thiêng liêng, thần bí khác, đặc biệt là
động Chấn Linh được tiền nhân ca ngợi là chốn đào nguyên hạ giới, người trần
tục không nên lui tới: Động môn vô tỏa thực, tục khách bất tàng lai
[3].
Quảng
Bình, quê hương tôi, còn rất nhiều sơn kỳ, thủy tú. Có lẽ vì tạo hóa đặc
biệt ân thưởng để đền bù cho một vùng đất vốn không được ưu đãi về mặt kinh
tế như các vùng khác của đất nước, lại gặp quá nhiều đau khổ vì ách nước tai
trời, vì chinh chiến triền miên theo dọc chiều dài lịch sử. Trong thời xa
xưa, Quảng Bình liên tiếp đã là bãi chiến trường của hai quốc gia
Chiêm-Việt; đến đời nhà Lê, Quảng Bình lại đắm chìm trong can qua vì cuộc
phân tranh của hai nhà Trịnh-Nguyễn. Trong thời Pháp thuộc, vùng Tuyên Hoá
phía Tây Quảng Bình là chiến khu của vua Hàm Nghi, vùng tả hữu ngạn sông
Gianh trở thành chiến địa giữa nghĩa quân Cần vương và quân đội viễn chinh
của thực dân, giữa người Lương chống Pháp và người Giáo theo Pháp. Thời
chiến tranh Pháp-Việt, 1945-1954, vùng Bắc Quảng Bình là biên giới của hai
phe lâm chiến, nhiều trận giao phong ác liệt đã xảy ra nơi vùng tiền tuyến
của hai bên. Thời chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng (1954-1975) Quảng Bình là
tuyến đầu của quân đội miền Bắc, được sử dụng như một căn cứ tiền phương với
nhiệm vụ tình báo, tồn trữ quân nhu, quân cụ và là xuất phát điểm của những
chiến dịch xâm nhập hay tấn công quân đội miền Nam, nên đất và dân Quảng
Bình đã phải hứng chịu nhiều trận mưa bom hãi hùng, bất tận của không quân
Mỹ-Việt.
Ông bà
xưa thường nói người khôn của khó. Câu nói đó áp dụng đúng cho trường
hợp nhân dân Quảng Bình. Dân Quảng Bình nghèo khó, dân Quảng Bình gặp tai
ương triền miên, nhưng người Quảng Bình lại thông minh, khí phách, can
trường và nhất là dám sống chết cho lý tưởng.
Tuy Quảng
Bình không có những nhân vật nổi tiếng về văn học và cách mạng như các danh
sĩ Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, nhưng số người đỗ đạt khoa giáp lại rất nhiều, đặc
biệt là tại hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh. Quảng Trạch có bốn đại xã văn
học là SƠN (Lệ Sơn), HÀ (La Hà), CẢNH (Cảnh Dương), THỔ
(Thổ Ngọa). Quảng Ninh có bốn đại xã là VĂN (Văn La), VÕ (Võ Xá), CỔ (Cổ
Liễu), KIM (Kim Nại). Tên của tám xã góp lại thành hai vế của một câu đối là
Sơn Hà Cảnh Thổ đối với Văn Võ Cổ Kim, đã đem lại danh dự cho
dân chúng Quảng Bình. Ngoài hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy
cũng là một quê hương có nhiều nhân tài khoa hoạn, nhiều tiến sĩ, phó bảng.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết từ đời nhà Lê cho đến đời nhà Nguyễn,
Quảng Bình có rất nhiều người đỗ đạt và làm quan phục vụ cho dân, cho nước
mà toàn là những người nổi tiếng về khí tiết, đức độ, liêm chính, tài năng,
mưu lược. Có những nhân vật đức độ được ca ngợi là Phật sống, là Bồ Tát, có
những nhân vật văn võ vẹn toàn, có những người đa mưu túc trí được so sánh
với Khổng Minh, với Lưu Bá Ôn, những nhân tài đời Hán, đời Minh bên Trung
Quốc. Có những người chỉ xuất thân từ hàng sĩ tốt, nhờ tài thao lược, nhờ
dũng khí, can trường làm nên đến Đô Thống, Quận Công. Quảng Bình tỉnh nhỏ,
người thưa mà lại có nhiều vị khoa giáp, tài đức, học hành toàn vẹn được
nhiều đời Vua mời vào cung giữ chức “Phụ Đạo”, làm thầy dạy học cho các
Hoàng Tử, Hoàng Đệ như Nguyễn Đăng Tuấn, Ngô Đình Giỏi, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn
Hàm Ninh. Có người như Nguyễn Tử Kính làm quân sư cho vua Lê đánh đuổi giặc
Tàu, như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân lãnh đạo nghĩa quân Cần Vương, phò vua
Hàm Nghi đánh Pháp. Có người như Nguyễn Hàm Ninh (bạn tri kỷ của Cao Bá
Quát) nửa đường công danh không muốn tiếp tục vào lòn ra cúi, cởi áo từ quan
về nhà sống cuộc đời thanh bần. Lại có người như tiến sĩ Phạm Phi Diệu đỗ
đạt rồi mà không màng lợi danh, chỉ muốn sống cuộc đời ẩn dật vui với non
nước, cỏ cây chốn thôn dã bần hàn:
Bảng chiếu dương Ngô mai bạch tuyết,
Tâm lao hậu bỉ Thảo, Huyền nhân.
Ý muốn
nói là thi đỗ rồi chỉ muốn bồi dưỡng tâm hồn cho trắng như tuyết, cho sạch
như mai, không nhọc lòng làm kẻ viết kinh Huyền, kinh Thảo[4].
Đến thời
cận đại, khi nền giáo dục Tây phương theo chân quân xâm lăng tràn vào bờ cõi
để đánh bật tận gốc rễ nền giáo dục Nho Hán và thay vào đấy bằng một nền
giáo dục gọi là Tây học thì Quảng Bình, trong cơn chuyển đổi ngặt nghèo,
cũng sản xuất ra được những nhân vật tiếng tăm lẫy lừng như giòng họ Ngô
Đình chẳng hạn, giòng họ đã có người làm đến Tổng Đốc Thượng Thư dưới thời
bảo hộ Pháp, có người làm đến Tổng thống, Tổng giám mục dưới thời ảnh hưởng
Mỹ. Cũng trong thời kỳ này, khi chiến tranh bao phủ non sông và bao nhiều
người con yêu của tổ quốc đều chọn binh nghiệp làm lẽ sống thì Quảng Bình
cũng có người làm đến Đại tướng hay Bộ trưởng như ông Võ Nguyên Giáp chẳng
hạn, tạo ra những chiến công hiển hách trong quân sử nước nhà. Quảng Bình
cũng còn nằm trong bộ phận đại quần chúng để cung cấp cho dân tộc những nghệ
sĩ biết rung động với thiên nhiên và thời đại, những kỹ thuật gia biết vận
dụng năng lực sáng tạo để khắc phục khó khăn.
Lật trang
sử cũ, ta thấy Quảng Bình quả thật là quê hương địa linh nhân kiệt,
vùng đất vốn chật hẹp, nghèo nàn mà núi sông lại hùng vĩ, phong cảnh lại hữu
tình, sản xuất không biết bao nhiêu là văn tài, võ tướng, hào kiệt, trượng
phu, tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà. Nhưng rồi như cổ nhân đã dạy
dân có vận, nước có tuần, đến giữa thế kỷ 20, chính những người con dân
Quảng Bình lại là những người chủ trương gây cảnh huynh đệ tương tàn, chiến
tranh suốt 30 năm trời, quê hương núi xương sông máu, mà tiêu biểu rõ ràng
nhất là hai nhân vật Ngô Đình Diệm và Võ Nguyên Giáp.
Ý nghĩa
lịch sử đích thực của cuộc chiến tranh đó nhìn bằng con mắt của 50 triệu
người dân Việt và đặt nó nằm trong dòng sinh mệnh gần 5000 năm ngút ngàn của
tổ quốc Việt Nam thì chỉ là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Vì dù
có nhân danh bất kỳ một chủ nghĩa nào (Cộng sản hay Tư bản), dù có biện minh
bằng một nguyên ủy nào (Giải phóng hay Tự do), thì rõ ràng chính máu
xương của người Việt đã đổ ra, chính người Việt này đã giết người Việt kia
không bằng sự tỉnh táo và tự do của một con người Việt bình thường mà ước
vọng về cuộc sống thì thật là giản dị. Người Việt đã không phát kiến ra
những hệ ý thức để mâu thuẫn nhau, lại càng không phát minh ra những vũ khí
để tiêu diệt nhau. Đi tìm nguồn gốc lịch sử sâu xa của cuộc chiến Quốc Cộng
là phải đi xa hơn nữa vào chiều dài của lịch sử, kể từ lúc ngọn gió dữ
phương Tây quái ác cuộn vào đất nước làm bật tung cây cổ thụ văn hóa của dân
tộc, cây cổ thụ đã được vun trồng bởi Quốc Tổ Hùng Vương, và được tưới
bằng máu của biết bao anh hùng liệt nữ trải dài gần 5000 năm văn hiến, và
cây cổ thụ đã một thời xanh tốt vững chãi bằng đất lành khí mát của nền Tam
giáo đồng nguyên.
Năm 1558,
khi Nguyễn Hoàng được phép anh rể là Trịnh Kiểm vào Nam trấn nhậm, ông ra đi
mang theo cái mộng trả thù cho cha anh và cái chí mưu bá đồ vương, anh hùng
một cõi. Ông lập nên nghiệp Chúa ở Đàng Trong, mở mang bờ cõi đến tận Châu
Đốc, Hà Tiên, xây dựng một giang sơn riêng biệt quyết chí đương đầu với chúa
Trịnh ở phương Bắc. Từ đó Việt Nam bị chia đôi bằng dòng sông Gianh của tỉnh
Quảng Bình và dân tộc Việt Nam phải chịu hai hệ thống cai trị. Tất nhiên
cuộc Nam Bắc phân tranh đã phải xảy ra giữa hai họ Trịnh Nguyễn, với hệ quả
tất yếu là cuộc nội chiến giữa Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, kéo dài
cho đến năm 1802 khi Gia Long thống nhất đất nước mới chấm dứt. Trong giai
đoạn này, từ ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, dân tộc Việt đã phải gánh chịu
cảnh cốt nhục tương tàn trên 200 năm trời.
Gia Long
chấm dứt 200 năm nội chiến và thống nhất sơn hà phần lớn nhờ vào sức mạnh
của vũ khí Tây phương qua sự vận động của các giáo sĩ Kitô giáo. Cho nên
nội chiến chấm dứt rồi, sơn hà thống nhất rồi mà dân ta vẫn chưa được hưởng
thái bình an lạc vì các giáo sĩ Kitô giáo, khi đến Việt Nam, không phải chỉ
có một mục đích rao giảng tin mừng của Thiên Chúa mà còn có một mục đích xâm
thực văn hóa nữa. Mục đích xâm thực này phù hợp hoàn toàn với mục đích chiếm
đất giành dân của chính quyền thực dân Pháp để cấu kết với nhau trở thành
một chiêu bài mà họ gọi là “nhiệm vụ khai hóa” (mission
civilisatrice).
Cho nên
Phong kiến không tự nó đẻ ra được Cộng sản trong trường hợp nước ta mà chính
Thực dân đã đẻ ra Cộng sản. Và sau này, cũng chính hai sản phẩm này của nền
văn minh Tây phương là Thực dân và Cộng sản đã thôi thúc dân ta rơi vào cảnh
huynh đệ tương tàn.
Vì vậy,
bất hạnh thay cho dân tộc Việt, đúng 25 năm trước cuộc Nam tiến của Nguyễn
Hoàng, vào năm 1533 thời vua Lê Trang Tôn, các giáo sĩ Kitô giáo Tây phương
đã đi đường biển lẻn vào nước ta để giảng đạo. Nếu hoạt động của các giáo sĩ
Tây phương chỉ cốt để truyền giáo mà thôi, như Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến
Hà Đông năm 580 để truyền bá đạo Phật chẳng hạn, thì có lẽ không có cái hậu
quả 30 năm chiến tranh Quốc Cộng 1945-1975 sau này. Khốn nỗi họ lợi dụng
việc truyền giáo, toa rập với các lực lượng Thực dân và Đế quốc phương
Tây, để mưu đồ thôn tính Việt Nam. Không những họ đã làm đảo lộn cương
thường đạo lý, tập tục cổ truyền của nền văn hóa dân tộc, mà họ còn gây căm
thù chia rẽ giữa người Việt với người Việt, họ xây dựng một đạo quân thứ 5
bản xứ làm đội quân mai phục đưa đường dẫn lối cho quân đội Pháp sau này.
Đây không phải là một biệt lệ cho trường hợp Việt Nam mà là một chính sách
toàn cầu của đạo Công giáo La Mã được Toà thánh Vatican thực hiện một cách
hiệu quả đến mức giáo hoàng John Paul II ngày nay phải đi nhận tội và xin
lỗi ở khắp nơi từ Nam Mỹ đến Phi Châu.
Dưới thời
chúa Nguyễn Ánh, giám mục Pigneau de Béhaine đã cùng với Hoàng tử Cảnh, con
trai đầu lòng của Nguyễn Ánh, đến Pháp bệ kiến vua Louis 16 để xin viện trợ
và ký hiệp ước Versailles, hiệp ước đầu tiên bán nước Việt Nam cho
Pháp. Hiệp ước Versailles tuy không được áp dụng, nhưng từ đó và nhờ đó,
Pigneau de Béhaine, các giáo sĩ và các sĩ quan hiếu động, nhiều tham vọng
của Pháp đã khai thác cơ hội để thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam. Với
những mưu đồ đen tối, với những thủ đoạn xảo quyệt, họ đã thúc đẩy được
chính phủ Pháp đem quân xâm chiếm Việt Nam, đặt nền đô hộ gần suốt 100 năm
trời.
Trong tác
phẩm nghiên cứu lịch sử nổi tiếng Việt Nam Pháp Thuộc Sử (in lại tại
Mỹ gần đây), giáo sư Phan Khoang đã đưa ra những sử liệu rất rõ ràng về vai
trò của các giáo sĩ Kitô giáo.
“Nói về nước Pháp thì sau cuộc chiến tranh
bảy năm, đã mất nhiều thuộc địa, ở Ấn Độ chỉ còn năm nơi thương phụ, vậy
muốn khôi phục thế lực ở Á Đông, người Pháp phải gắng kiếm thêm đất đai ở
bên này mới được.
Một giáo sĩ Pháp sẽ tìm cơ hội can thiệp
vào nước Việt Nam và đặt viên đá đầu tiên cho cuộc xâm nhập nước mình”
(trang 32).
và cũng trong cuốn Sử đó, ông đã đi vào
chi tiết rõ hơn:
“Những người đề xướng đầu tiên cuộc chinh
phục nước Nam là mấy sĩ quan hải quân của hạm đội Pháp ở biển Trung Quốc như
các ông Cécille, Rocquemaurel, Fourichon, Jaurès Maison-Neuve, mấy đại diện
ngoại giao kế nhau ở Toà lãnh sự Pháp ở Macao như các ông Forth Rouen, De
Courcy, Bourboulon; các ông ấy đã nhiều lần đề nghị với chánh phủ đem quân
can thiệp ở nước Nam.
Nhưng hoạt động hăng hái hơn cả để làm cho
chánh phủ Pháp quyết định là các Giáo sĩ, nhất là giáo sĩ Huc, Giám mục
Retord, Giáo sĩ Libois và Giám mục Pellerin.
Giáo sĩ Huc trước đã dâng vua Napoléon III
một kế hoạch thành lập một công ty để lo việc chinh phục và khai thác các xứ
Cao Ly, Đà Nẵng, Madagascar; năm 1857 lại dâng một bức thư nhắc lại Pháp-Nam
hiệp ước 1857 và sự cần thiết phải thiết lập gấp một căn cứ ở nước Nam.
Chính lá thư ấy đã làm cho chánh phủ vua Napoléon III quyết định đặt một ủy
ban để Nghiên Cứu vấn đề Nước Nam (Commission de la Cochinchine), trong ủy
ban ấy, Giáo sĩ Huc đã tỏ bày ý kiến. Sau khi dâng bức thư kia, Giáo sĩ Huc
được vua vời đến diện yết, và Giáo sĩ đã làm cho vua tin tưởng ở lời nói
mình.
Giám mục Pellerin thì trong các năm 1851,
1855 đã xin chánh phủ Pháp giúp đỡ các giáo sĩ, giáo đồ đương bị bạc đãi và
giết hại. Như ta đã thấy, năm 1856, Giám mục lén đến Đà Nẵng, gặp thuyền
trưởng tàu Capricieuse.
Nhân đó, Giám mục có dự cuộc thương thuyết
của Montigny và các quan ta, rồi về Pháp bày tỏ trước công chúng những cảnh
tượng bi thảm mà Giáo hội ở nước Nam đã phải trải qua. Giám mục có ra trước
Ũy ban Nước Nam, được diện yết vua Napoléon III nhiều lần và dâng lên vua
hai tờ điều trần dài.” (trang 115-117)
Hai tờ
điều trần mở đầu cho tàu chiến súng đạn Pháp xâm lăng nước ta.
Tuy nhiên
âm mưu xâm chiếm Việt Nam thật ra đã có từ thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes
kể từ khi ông ta đến Việt Nam (1624), nghĩa là hơn 200 năm trước.
Ánh sáng
của sự thật càng ngày càng được chiếu rọi vào hồ sơ mật trong các văn khố
của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp và đã cho phép các sử gia xác định âm mưu
thôn tính Việt Nam của Thiên Chúa giáo vốn có từ thời Cố đạo Alexandre de
Rhodes chứ không phải dưới thời Pigneau de Béhaine và Nguyễn Ánh, như một số
người chưa chịu nghiên cứu kỹ vẫn bị nhầm lẫn.
Alexandre
de Rhodes đến Việt Nam năm 1624 và vĩnh viễn rời Việt Nam năm 1645. Thời
gian ở Việt Nam ông viết rất nhiều sách giúp người Âu Châu tìm hiểu tình
hình chính trị, địa hình, địa vật, sông núi, sản phẩm, tài nguyên, v.v… của
xứ Việt Nam. Ông cũng hoàn bị công trình của các Giáo sĩ Bồ Đào Nha trưóc
đó, dựa vào chữ La tinh mà chế ra chữ Quốc ngữ, để trước hết là cho giáo dân
dễ học Kinh thánh và dễ dàng giao thiệp với những thừa sai ngoại quốc. Nhiều
lần ông đã bị chúa Trịnh đuổi đi, nhưng từ Áo Môn, năm 1640 ông tìm cách trở
lại Việt Nam để hoạt động cho đến năm 1645:
Năm đó, cấp trên bảo ông trở về Âu châu để
xin viện trợ vật chất và tuyển người truyền giáo mới. Ông đến La Mã năm 1649
đúng lúc Toà thánh cố tách rời việc truyền giáo tại châu Á ra khỏi quyền
hành thế tục của Bồ Đào Nha. Ông trình bày trước Hiệp Hội Truyền Giáo
“Congrégations Propaganda Fide”, kế hoạch thiết lập tại Việt Nam một giáo
đoàn thoát khỏi sự bảo trợ của Bồ Đào Nha. Được Giáo hoàng hân hạnh tiếp
nhận. Vị tu sĩ dòng Tên xứ Avignon được lựa chọn trong mục đích đó,
Alexandre de Rhodes bèn quay về Pháp.
Ông viết: “Tôi tin rằng Pháp, vì là nước
ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để đi chinh phục
toàn thể phương Đông. Cũng như ở đó tôi sẽ có cách có nhiều Giám mục vốn là
các Cha và các Thầy của chúng ta ở trong nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày
11-9-1652 với ý định đó.”
Về Paris, Alexandre de Rhodes gặp một nhóm
linh mục trẻ liền quyết tâm biến việc đào tạo này thành sự vụ riêng của Pháp
(affaire Francaise). Đó là thời kỳ chính trị Pháp bắt đầu chịu ảnh hưởng sự
thu hút của biển cả. Được Hoàng hậu Pháp và một nhân vật cao cấp ủng hộ, kế
hoạch bị Bồ Đào Nha tấn công mạnh mẽ, họ viện dẫn sự bảo trợ hoàn toàn mà
năm 1493 Giáo hoàng Alexandre Borgia đã giao cho họ. Alexandre de Rhodes
chết năm 1660 khi chưa thấy được kế hoạch của mình thực hiện, nhưng cố gắng
của ông đã thành tựu. Năm 1658 La Mã bổ nhiệm hai vị đại diện Tông Toà người
Pháp là Francois Pallu (1626-1684) và Lambert De la Motte (1637-1693) đại
diện trực tiếp Giáo hoàng… Lịch Sử của Hội này (Hội Truyền Giáo Hải Ngoại
Pháp) sẽ gắn liền chặt chẽ với lịch sử chiếm đóng của Pháp tại Việt Nam (La
Société des Missions Etrangères fut alors créée dont l’histoire allait être
intimement liée avec celle de l’implantation francaise au Vietnam). (Xem
Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam, luận án tiến sĩ của
Cao Huy Thuần, bản Việt văn trang 47, 48, bản Pháp văn trang 9, 10).
Giáo sư
sử học Joseph Buttinger trong Vietnam a Political History (trang 63,
64) cũng có những nhận định như của tiến sĩ Cao Huy Thuần, được tạm dịch ra
như dưới đây:
Công cuộc phát triển đạo Thiên Chúa tại
Đông Dương trở thành công tác đặc biệt của một tổ chức Pháp được gọi là Hội
Truyền Giáo Hải Ngoại (Society of Foreign Mission) thành lập năm 1664 tại
Paris. Tổ chức này đi song hành với Công ty Đông Ấn Pháp do các giáo
sĩ Paris, Rouen thành lập. Ông viết:
“Các tổ chức song hành “thương mãi-tôn
giáo đó” mở một trang sử khó quên cho nền thực dân Tây phương
(A memorable chapter in the history of Western Colonialism) được thành lập
vào khoảng 1650. Người Pháp mở một trung tâm thương mãi Pháp Việt ở Hà Nội
nhưng những người cư ngụ trong trung tâm đó là những giáo sĩ cải trang thành
thương nhân người Pháp. Có vài dịch vụ trao đổi hàng hóa nhưng mục đích
chính là để che đậy công tác bí mật nhằm tổ chức người cải đạo (Some trade
was made but it served mainly as a cover for clandestine proselytizing).
“…Pallu và De la Motte cố gắng tiếp tục
công việc của Rhodes đã bỏ dở mặc dù bị các chính phủ Đàng trong và Đàng
ngoài cấm giáo sĩ ngoại quốc xâm nhập vào Việt Nam. Họ chiến đấu bằng sự cải
trang thành thương nhân để lo chuyện thương mãi, nhưng khi các dịch vụ
thương mãi bị đình trệ thì số phận của họ lại phải tuỳ thuộc vào sự hoạt
động tôn giáo tại Việt Nam. (“Vietnam a Political
History”, Joseph Buttinger trang 64)
Buttinger còn viết:
“Đặc biệt Pallu là một
nhà kế hoạch chính trị, thường đi xa hơn các chỉ thị của cấp trên. Có thể
gọi ông ta là người sáng chế mô thức thuộc địa trong đường lối chính trị
tại Paris với phương sách “đã rồi” (accomplished facts). Ngoài những
công việc đã thực hiện tại Á Châu trong khuôn khổ của Hội truyền Giáo mới
thành lập, Francois Pallu còn lo việc tại Pháp, hợp tác với chính phủ
khuếch trương ảnh hưởng Pháp tại Viễn Đông.
Như vậy
chính Alexandre de Rhodes là người đầu tiên đã âm thầm hoạt động cho mưu đồ
thực dân Pháp và lộ rõ vào năm 1649 khi được yết kiến Giáo Hoàng. Tuy nhiên,
mưu đồ chưa thành hình thì ông đã chết, sự nghiệp thực dân của ông ta được
giáo sĩ Pallu tiếp nối.
Còn ông Yoshiharu
Tsuboi, giáo sư đại học Đông Kinh xuất thân từ Đại học Paris, trong cuốn “L’Empire
Vietnamien Face à la France et à la Chine” (trang 31-57) đã viết như
sau:
“…Sau hết người ta đã
thảo luận dài dòng về những nguyên nhân của sự can thiệp và xâm chiếm
thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, tác giả này thì nhấn mạnh vào những
nguyên nhân chính trị, tác giả khác lại chú ý tới những nguyên nhân kinh tế.
Phần chúng tôi, chúng
tôi muốn tập trung sự chú ý vào những người Pháp từng làm việc tại Việt Nam,
qua đó và căn cứ vào quá trình truyền thông những tin tức về mọi mặt có liên
quan đến Việt Nam để đưa về Pháp. Làm thế nào để cho nổi rõ những nguồn
thông tin từng thúc bách chính phủ Pháp phải can thiệp vào Việt Nam và chiếm
lấy nước này làm thuộc địa (…de mettre en évidence les sources de
renseignements qui ont déterminés l’intervention des gouvernements Francais
au Vietnam et la colonisation de ce pays). Rút lại, tôi muốn đưa ra mấy yếu
tố để trả lời một câu hỏi đơn giản song quan trọng: Tại sao không phải Anh
Cát Lợi, Hòa Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha mà chỉ có một mình nước Pháp “gắn
bó” với Việt Nam? Và mặt khác tại sao không phải Phi Luật Tân, Triều Tiên,
Nhật Bản, Xiêm La mà chỉ có nước Việt Nam bị Pháp gắn bó?”
“Trong công cuộc “Phúc
âm hóa” nước Việt Nam có một tổ chức và năm giáo sĩ người Pháp đã giữ một
vai trò quan trọng: Hội Thừa Sai Paris và các giáo sĩ Alexandre de Rhodes,
Francois Pallu, Pigneau de Béhaine, Francois Marie Pellerin và Paul Francois
Puginier”.
Như vậy
là từ khi đến Việt Nam năm 1624, Alexandre de Rhodes đã nghiên cứu tình hình
chính trị, kinh tế, địa dư nước Việt Nam, huấn luyện và tổ chức những tập
đoàn tín đồ Thiên Chúa giáo bản xứ trung thành với Toà thánh Vatican rồi trở
về Âu châu năm 1645 và qua năm 1646 trình bày kế hoạch Phúc âm hóa
Việt Nam với Giáo Hoàng và trình bày kế hoạch thôn tính Việt Nam với
chính phủ Pháp.
Nói tóm
lại, âm mưu thôn tính Việt Nam đã do các giáo sĩ sắp đặt từ 1649 (nếu không
muốn nói là từ 1624) chứ không phải từ khi có cuộc gặp gỡ lịch sử giữa
Nguyễn Ánh và Pigneau de Béhaine năm 1776 (hay 1777) như nhiều người đã vô
tình hay cố ý bóp méo sự thật.
Tuy
nhiên, dân tộc Việt Nam vốn hào hùng bất khuất, vốn có truyền thống chống
ngoại xâm như một truyền thống dựng nước và giữ nước, đã từng ba lần chiến
thắng quân Mông Cổ, thì đời nào chịu làm thân nô lệ cho ngoại bang. Do đó,
từ ngày Pháp đặt được nền đô hộ, truyền thống đề kháng chống ngoại xâm bùng
lên và những cuộc nổi dậy chống đối đã liên tục xảy ra từ Bắc chí Nam để thể
hiện quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp.
Những
cuộc nổi dậy lúc đầu chỉ do người Việt lãnh đạo như phong trào Văn Thân, Cần
Vương, như Việt Nam Quang Phục Hội,… nhưng đến thượng bán thế kỷ 20 thì chủ
nghĩa Mác-Lê âm thầm len lỏi vào Việt Nam, cho nên từ đó những cuộc nổi dậy
chống đế quốc Pháp lại có thêm lực lượng của phong trào Cộng Sản quốc tế
nữa.
Trước
đó, trong phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp (1885-1898), Nho giáo và
Phật giáo đã là hai lực lượng yểm trợ chủ yếu. Giới tăng sĩ liên kết với các nho sĩ trung
quân ái quốc phát động nhiều cuộc đấu tranh chống Pháp và tay sai bản xứ.
Điển hình là vụ tăng sĩ Võ Trứ liên kết với nho sĩ Trần Cao Vân để thực hiện
cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên (1898) mà Pháp và bọn tay sai đã gọi là “giặc thầy
chùa”. Ở miền Bắc có tăng sĩ Vương Quốc Chính tổ chức “Hội Trương Chí” thiết
lập một màng lưới tổ chức trong các ngôi chùa từ Nghệ An tới Bắc Ninh dấy
động một phong trào nhân dân chống quân đội Pháp và chống văn hoá Pháp; ở
miền Nam, nhiều tổ chức kháng Pháp như các tổ chức Nghĩa-Hoà, Thiên Địa Hội,
Nhân Hòa Đường,… kết hợp lòng yêu nước với mẫu số chung tín ngưỡng Phật giáo
qua các cơ sở quần chúng của Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài để liên tục chống
giặc Pháp xâm lăng [5].
Đau đớn
thay, trong lúc các lực lượng của nền Tam giáo tiếp tục hy sinh đấu tranh
cho nền Độc Lập nước nhà thì khối Công giáo vẫn cứ làm tay sai cho Thực dân
Pháp. Bài “Hội hè của đồng bào Thiên Chúa giáo” (xem tác phẩm “Hội Hè
Đình Đám” của Toan Ánh và lời nhận xét của tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc số 2
tháng 11 năm 1989) được trích đăng vào phần Phụ Lục cuốn sách này chứng minh
một cách hùng hồn việc người Công giáo Việt Nam vẫn cứ ôm chặt chân người
Pháp, vẫn coi nước Pháp là Mẫu quốc và vẫn vinh danh cố linh mục Trần Lục
(Phát Diệm), kẻ đã làm tay sai đắc lực cho quân đội Pháp trong cuộc xâm lăng
Việt Nam, đặc biệt là đã cùng với 5000 giáo dân giúp Pháp triệt phá chiến
khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng.
Trong
khung cảnh đất nước lúc bấy giờ, và thể hiện rõ ràng trong đời sống ở thôn
quê cũng như ở thị thành, ở trong chính quyền cũng như ở ngoài quần chúng,
ba luồng ý thức đối nghịch nhau như nước với lửa, như đêm với ngày, chi phối
toàn bộ sinh hoạt quốc gia Việt Nam là ý thức dân tộc nhân bản của
nền Tam giáo, ý thức độc thần của Kitô giáo, và ý thức duy vật
của chủ nghĩa Mác-Lê. Thời đô hộ, những mâu thuẫn ý thức dưới hình thái văn
hoá đó chỉ xảy ra ngấm ngầm giữa ba thành phần dân chúng nhưng chưa đến nỗi
khốc liệt vì lực lượng Công giáo Việt Nam vẫn còn nắm được ưu thế tuyệt đối
nhờ có bộ máy quyền lực của thực dân che chở bảo vệ.
Nhưng
cuộc tranh chấp của ba luồng ý thức bổng bộc phát mãnh liệt và trở thành một
cuộc sống mái tay đôi sau Đệ Nhị Thế Chiến khi thế lực thực dân đế quốc bắt
đầu suy yếu và khi nền móng của nền Tam Giáo bắt đầu lung lay.
Thật vậy,
trong cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất (1945-1954), Cộng Sản kiểm soát
và điều động kháng chiến trong phong trào Việt Minh, hô hào toàn dân chống
xâm lăng giành độc lập cho nước nhà và trở thành một lực lượng quần chúng
lớn. Còn thực dân Pháp thì mượn chiêu bài chống Cộng để che dấu âm mưu tái
chiếm Việt Nam bằng cách dựa vào một chút chính danh của hư vị triều đình
nhà Nguyễn và một chút chính nghĩa từ hậu thuẫn của hầu hết giáo dân Việt
Nam để cũng trở thành một lực lượng (chính quyền) lớn. Riêng Phật giáo và
những đại bộ phận khác của dân tộc, thế không thể dựa được vào ngoại
bang, lực không kết tụ được thành sức mạnh, đành nằm trong cảnh trên đe
dưới búa và chuyển địa bàn ý thức và ảnh hưởng vào nông thôn với lòng hoài
vọng về một ngày thành công của kháng chiến Việt Nam.
Cho đến
năm 1954, khi cả Việt Minh và Pháp đều kiệt quệ trên cả hai mặt quân sự lẫn
chính trị sau trận đánh tại lòng chảo Điện Biên Phủ và sau gần mười năm quần
thảo, thì Pháp muốn cầu hoà rút khỏi Đông Dương để giải quyết nội tình băng
hoại của nền Đệ Tứ Cộng Hòa, đồng thời củng cố vùng ảnh hưởng tại Bắc Phi;
còn Việt Minh thì trước áp lực của Nga Sô và Trung Cộng, và vì nhu cầu ổn
định để bồi dưỡng thực lực, bèn thỏa hiệp với nhau qua Hiệp Ước Genève. Đất
nước lại hai phần chia cách, người dân lại hai miền ly biệt vì hiệp ước này
trao miền Bắc cho Cộng Sản quản lý, còn miền Nam thì tạm thời vẫn thuộc
quyền người quốc gia chống Cộng trong lúc chờ đợi hai miền tổng tuyển cử
thống nhất đất nước theo qui định của Hiệp Ước.
Trong lúc
đó, Hoa Kỳ đã có chủ định riêng, họ không ký vào bản Hiệp định vì đã thủ sẵn
lá bài Ngô Đình Diệm do Hồng y Spellman và Công giáo quốc tế bảo đảm, lá bài
vốn đã được khai sinh và nuôi dưỡng tại Mỹ từ cuối năm 1950. Mỹ dùng
lá bài Ngô Đình Diệm để nhảy vào miền Nam trong ý đồ thiết lập một tiền đồn
tại Đông Nam Á hầu chặn đứng sự bành trướng của Cộng Sản quốc tế. Vì vậy,
cuộc chiến tranh Quốc Cộng lại tái diễn trên đất nước Việt Nam, chỉ thay đào
đổi kép cho một vở tuồng cũ mà thôi! (Xem thêm The Life
and Times of Francis Cardinal Spellman, trang 238 đến 245)
Phần đầu
của cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai này là một cuộc chiến đã được cả hai
phe lâm chiến tô vẽ cho một bản chất ý thức hệ mà một bên là ý thức Mác-Lê
duy vật, và một bên là ý thức Kitô giáo độc thần. Nghĩa là một bên do đảng
Cộng Sản Việt Nam với những lãnh tụ Mác xít như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp
lãnh đạo tại miền Bắc, một bên do một gia đình Công giáo của ông Ngô Đình
Diệm, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục và đảng Cần Lao gồm hầu hết là người có
đạo Công giáo cai trị miền Nam.
Phật
giáo Việt Nam, lực lượng đại đa số trong cộng đồng quốc gia, từ sau khi đất
nước bị chia đôi, đã nhận thức rõ vai trò áp đảo của Cộng Sản trong mặt trận
Việt Minh, bèn bỏ hẳn chủ trương thân Việt Minh trước kia như hầu hết các
đảng phái quốc gia khác. Nhưng bất hạnh cho Phật giáo, muốn tránh vỏ dưa lại
đạp phải vỏ dừa, vì miền Nam lại bị cai trị bởi gia đình ông Diệm và đảng
Cần Lao Công giáo, vốn chủ trương tiêu diệt các đảng phái quốc gia, kì thị,
khủng bố và đàn áp các tôn giáo trong đó có Phật giáo. Bị kẹt giữa hai kẻ
đối nghịch, Phật giáo phải chịu đựng thống khổ nhục nhã suốt gần 9 năm trời
dưới chế độ độc tài Công giáo trị Ngô Đình Diệm. Cho đến 1963, tình trạng
không thể chịu đựng được nữa, lại nhân vì ông Ngô Đình Diệm ra lệnh hạ cờ
Phật giáo nhân dịp lễ Phật Đản, Phật tử, dưới sự lãnh đạo của Giáo hội Phật
giáo, buộc phải vùng lên đấu tranh đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, đòi hỏi tự do
hành đạo như bên Công giáo, mở đầu cho một cuộc vận động cách mạng dân tộc.
Cuộc đấu tranh của Phật giáo là cuộc đấu tranh bất bạo động và hợp lòng dân
nên đã mang một tầm vóc rộng lớn vì được sự ủng hộ của đa số nhân dân của
tất cả các tỉnh, thị miền Nam.
Cuộc
tranh chấp công khai của người Việt Nam trước đây chỉ có hai phe lâm trận,
nay lại có thêm phe thứ ba là Phật giáo. Cuộc tranh chấp ý thức hệ này từ
nay được lãnh đạo bởi ba lý thuyết chánh trị rõ rệt: lý thuyết cực tả của
Cộng Sản quốc tế, lý thuyết cực hữu của Kitô giáo quốc tế và lý thuyết trung
dung của Phật giáo dân tộc. Thật ra, nếu anh em ông Diệm biết đặt quyền lợi
tổ quốc và dân tộc trên quyền lợi của Công giáo La Mã, nếu ông Diệm tự coi
mình mang trách nhiệm của một vị nguyên thủ quốc gia hơn là trách nhiệm
của một tông đồ và biết tạo sự đoàn kết giữa người quốc gia, thì trận
chiến tranh Việt Nam đã chỉ là trận chiến tranh giữa phe dân chủ tự do với
phe Cộng Sản độc tài, và hai tôn giáo lớn tại Việt Nam đã có thể hài hoà
sống chung để cùng rao giảng từ bi, bác ái. Bất hạnh cho miền Nam, gia đình
ông Diệm, và do đó chế độ của ông ta, lại là kẻ thừa kế đích thực của ba tệ
hại lớn nhất: tệ hại phong kiến quan lại của thời Nguyễn Mạt, tệ hại hủ
nho của một nền Tống Nho đã đến lúc suy tàn và sâu đậm nhất, tệ hại độc tôn
giáo điều của một giáo hội Công giáo Việt Nam đang lên đến cao điểm nhờ sự
khai sinh và nuôi dưỡng của thực dân Pháp từ hơn 100 năm và nhờ sự thừa nhận
của Thiên Chúa
giáo quốc tế
(Vatican và Mỹ) như sức mạnh chống Cộng độc nhất ở Việt Nam. Cho nên ông
Diệm và gia đình của ông cũng đi con đường “Công giáo hóa” miền Nam như các
cố đạo trước. Vì thế, hậu quả khốc liệt đã đến với gia đình ông và với miền
Nam sau này.
Như đã
nói, định mệnh trớ trêu đưa đẩy dòng lịch sử của dân tộc đến một giai đoạn
tranh chấp giữa ba xu hướng từ tầng chính trị bước lên kích thước văn hóa
trong suốt những năm giao động của hai thập niên 50 và 60. Ba xu hướng này
va chạm vào nhau và nổ bùng thành những cơn lốc chính trị và được lãnh đạo
bởi ba nhân vật cùng một quê quán Quảng Bình. Đó là ông Võ Nguyên Giáp quê
làng An Xá, ông Ngô Đình Diệm quê làng Đại Phong và Thượng Toạ Thích Trí
Quang quê làng Diêm Điền.
Làng An
Xá cách làng Đại Phong hai con suối nhỏ và một cánh đồng lầy lội, còn làng
Diêm Điền thì nằm chếch hẳn một bên và cách đều hai làng này khoảng 20 cây
số. Ba nhân vật trên đây, từ đời nội tổ trở lên chỉ là những dòng họ khố
rách áo ôm thuộc hàng bần dân nghèo dốt. Đến đời thân phụ ông Diệm là ông
Ngô Đình Khả, nhờ theo các cha cố và chính quyền bảo hộ Pháp mới được làm
quan. Ông Võ Nghiễm, thân phụ ông Võ Nguyên Giáp chỉ vươn lên tới được chức
cửu phẩm là chức thấp nhất trong hệ thống quan lại Nam triều, và phụ thân
của Thượng Tọa Thích Trí Quang thì mãi vào những năm đầu của thế kỷ 20 mới
bắt đầu ăn nên làm ra.
Trong
khung cảnh của một vùng đất khốn khổ và dân tình nghèo đói như tỉnh Quảng
Bình, 40 năm về trước, có ai ngờ ba đứa bé mở mắt chào đời vào buổi bình
minh của thế kỷ thứ 20 lại có thể trở nên những nhân vật lẫy lừng làm chao
nghiêng lịch sử và làm sụt sùi dân tộc. Có ai ngờ một cậu ấm tử sinh trưởng
trong một gia đình quan lại của một chế độ phong kiến mục nát lại trở nên
Tổng thống của một quốc gia, dù nội dung thực sự là gì, thì hình thức cũng
là của một chế độ Cộng Hòa Dân Chủ kiểu Tây phương; có ai ngờ một chú sa di
đầu tròn áo vuông lại trở nên linh hồn của một phong trào tôn giáo quần
chúng lớn “làm rung chuyển nước Mỹ” với tham vọng thực hiện cuộc Tổng Hợp Đề
văn hóa để hòa giải dân tộc; và có ai ngờ một cậu học trò áo vải chân đất ê
a mấy chữ a, b, c trong làng quê của một nước thuộc địa lại trở nên một nhân
vật quân sự lẫy lừng, cầm chân và đánh bại được hai bộ máy chiến tranh hiện
đại của Pháp rồi Mỹ.
Ba nhân
vật tiếng tăm của đất Quảng Bình nghèo khó nhưng lạ lùng đó, mỗi người có
tham vọng riêng, có quyền thế riêng, có hậu thuẫn riêng và dĩ nhiên có chỗ
đứng riêng trong chiều dài lịch sử nước ta cũng như trong chiều sâu của lòng
dân tộc ta. Họ có lý do để chống đối nhau và tiêu diệt nhau vì chủ nghĩa, vì
lý tưởng, vì đặc quyền, đặc lợi phe đảng hay vì bất cứ một cái “vì” nào
khác, còn kẻ viết thì cũng xuất thân từ vùng đất cày lên sỏi đá xơ xác đó,
nên hình như cũng đã được định mệnh an bài để không thể trở thành một kẻ
đứng bên dòng lịch sử, bàng quan và lạc lõng, mà lại bị cuốn hút vào cơn
cuồng phong của thời đại, nên đều liên hệ với cả ba nhân vật này mà đặc biệt
là liên hệ khắng khít với ông Ngô Đình Diệm từ những ngày đầu tiên khi còn
là một trong những cán bộ tiên phong và nòng cốt của cái tổ chức mới manh
nha của ông ta. Nhưng rồi sau suốt 22 năm trời kể từ 1942, chia sẻ với nhau
những giây phút vinh quang và khốn khổ của bao cuộc thăng trầm vinh nhục,
trở thành chiến hữu trung kiên và cốt cán của tổ chức (và sau này của chế
độ), cuối cùng kẻ viết lại trở thành một nhân vật trọng yếu trong công cuộc
lật đổ và chấm dứt chế độ của ông Diệm vào năm 1963 để cho lý tưởng ban
đầu của mình vẫn là lý tưởng keo sơn với dân tộc, để cho chuyển mình của
mình gắn bó với chuyển mình của thời đại.
Ôn lại
dĩ vãng, và bây giờ ở vào cái tư thế có thể nhìn lại một cách sáng suốt và
tự do hơn chuỗi biến cố của lịch sử đất nước kể từ khi làn gió dữ Tây phương
cuộn thổi vào quê hương trải dài thành gần trăm năm đô hộ Pháp và hơn 30 năm
chiến tranh Quốc Cộng, lại được dịp lần giở kinh xưa sách cũ và đàm luận
cùng những người bạn hiền thầy giỏi cùng thế hệ, kẻ viết lại chủ quan thấy
thấm thía hơn về cái thuyết “Vô Thường” của đạo Phật và cái thuyết “Lý Số”
của đạo Nho, để từ đó chấp nhận như là nhân sinh quan khoáng đạt và giải
thoát của chính mình.
Trong
cuốn Nho Giáo, học giả Trần Trọng
Kim đã sơ giải cái Tổng Hợp Đề cần thiết cho sự Đồng Nguyên huyền diệu của
Tam Giáo ở nước ta khi ông viết:
Có một điều ta nên chú
ý là cái tư tưởng của Nho Giáo đời Tống có lắm chỗ phảng phất tương đồng với
Lão Giáo và Phật Giáo. “Số” là cái uyên nguyên của Nho Giáo do Kinh Dịch mà
ra, mà Kinh Dịch là sách bàn về Lý Học, chung cả bên Lão lẫn bên Nho. Dịch
Học cho cái đầu của vũ trụ do “Động, Tĩnh” mà biến thành Âm Dương rồi sinh
ra vạn vật, vạn vật chung quy lại trở thành Thái Cực. Đó là cái lý “Đồng quy
nhi thù đồ, Nhất trí nhi bách lự” của Khổng Tử đã nói trong Hệ từ. Lý Thái
Cực ấy bên Lão Giáo gọi là ĐẠO, bên Phật Giáo gọi là BHUTA TATHATA danh hiệu
tuy khác nhưng cùng đồng một thể. Bởi cái lý đồng cho nên các học thuyết ấy
đều theo một chủ nghĩa “Thiên địa vạn vật nhất thể”. Song mỗi học thuyết đi
ra một đường là vì cách lập giáo và sự hành đạo khác nhau.
Ý niệm
ấy lại được triển khai và lý giải rõ ràng hơn và hiện đại hơn qua Lê Văn
Siêu trong cuốn “Việt Nam Văn Minh Sử Cương”, qua Nguyễn Đăng Thục
trong cuốn “Tư Tưởng Việt Nam” và qua Phạm Văn Diêu với những tài
liệu giảng huấn tại đại học Văn Khoa Sài Gòn v.v…
Có lẽ
chính cái quan niệm Vô thường và Lý số, tuy bàng bạc và đại chúng hơn trong
dân dã, nhất là cái dân dã tuyệt đại đa số và tuyệt đại nghèo khổ của nước
ta đã tạo nên sức mạnh của dân tộc. Cái sức mạnh đã giúp dân ta vẫn kiên
cường trước sự tàn bạo của thiên nhiên và của quân thù, cái sức mạnh đã giúp
dân ta khoan dung và nhân nghĩa trước những bạc bẽo và hận thù của đời sống.
Và có lẽ
chính nhờ được nuôi dưỡng và lớn lên trong dòng suối văn hóa Đông phương vốn
mang tính chất Tổng hợp và Hướng nội, kẻ viết mới cảm nhận và thông hiểu
được qua lăng kính của hai thuyết Vô thường của nhà Phật và Lý số của nhà
Nho, những thảm cảnh nghiệt ngã và bèo bọt về cảnh ngộ của cụ Võ Hiển Nguyễn
Hữu Bài, và đặc biệt của gia đình ông Ngô Đình Diệm mà kẻ viết sẽ ghi lại
trong tập sách này, những nhân vật và gia đình đại vọng tộc, bỗng một phút
định mệnh, tán gia bại sản đời đời chuốc lấy oán cừu.
Văn hóa
Tây phương, mà bây giờ con em ta đang hấp thụ, dù là Tây phương tư bản hay
Tây phương Cộng Sản, vốn có đặc tính phân tích và hướng ngoại, thì khó mà
cảm nhận và giải thích được những hiện tượng nhân sinh này, lại càng khó mà
hiểu biết và chấp nhận được quan niệm Vô thường và Lý số của Đông phương, dù
gần đây, trước bế tắc nhân văn của con người và bên bờ vực thẳm của một cuộc
chiến tranh hạch tâm khốc liệt, đã có nhiều nỗ lực tìm về phương Đông để tìm
câu trả lời cho cuộc khủng hoảng nhân văn toàn cầu.
Những nỗ
lực đó không những được thể hiện nơi các nghiên cứu của các nhà xã hội học
và triết gia Tây phương như Paul Mus (Thousand Armed Kannon, A Mystery Or
A Problem, 1964), John Blofeld (Bodhi Satva Of Compassion, 1978),
Frederic J. Strend (Understand Religious Man, 1969)… mà còn nổi bật
rõ ràng hơn nơi các nhà khoa học tự nhiên, vốn là thành phần rường cột và
được ưu đãi của xã hội Tây phương thuần lý và thuần kỹ thuật. Đứa con trai
út của kẻ viết, trong thời gian học về vật lý không gian có tặng cho kẻ viết
cuốn “The Tao of Physics” của giáo sư khoa học gia Fritjof Capra mà
kẻ viết trích dẫn một vài đoạn sau đây để chứng minh rằng xu hướng tìm về
nguồn suối triết học nhân bản của Đông phương càng lúc càng mạnh mẽ nơi xã
hội độc thần, duy lý và duy vật này.
Julius
Robert Oppenheimer (cha đẻ bom nguyên tử Hoa Kỳ) tác giả cuốn “Science
and the Common Understanding” cho rằng:
Những khái niệm tổng
quát về sự hiểu biết của con người, được biểu hiện bằng những khám phá trong
ngành vật lý nguyên tử, không phải là những khái niệm có bản chất xa lạ, mới
mẻ hay chưa bao giờ được nhắc đến. Ngay cả trong nền văn hóa của chúng ta,
những khái niệm này đã từng có một lịch sử vững vàng. Trong hệ thống tư
tưởng của Phật giáo và Ấn Độ giáo, những khái niệm này còn giữ một địa vị
rường cột và quan trọng hơn nữa, đem đến cho chúng ta một tấm gương sáng để
noi theo, một niềm khích lệ tinh thần và sự kiện toàn của nền triết lý Đông
phương sáng suốt [6].
Werner
Heisenberg (trong tác phẩm “Physic and Phylosophy” trang 202) cho
rằng:
Một đóng góp lớn lao
của Nhật Bản từ cuối Thế chiến thứ 2 cho lý thuyết vật lý là đã cho thấy một
sự tương quan nào đó giữa những tư tưởng triết lý của truyền thống văn hóa
Viễn Đông và chất triết lý trong lý thuyết vật lý tư tưởng.[7]
Niels
Bohr, bác học gia Đan Mạch, giải thưởng Nobel, (tác giả cuốn “Atomic
Physics and Human Knowledge”) cho rằng:
Các tư tưởng gia đã
đạt đến mức thành công như Phật Thích Ca hay Lão Tử đã từng phải đối diện
với những khó khăn đó khi ta cố hòa hợp hai thế đứng (vừa là khán giả vừa là
diễn viên) của ta trong vở kịch vĩ đại của kiếp nhân sinh. Có thế ta mới có
thể so sánh được với bài học rút tỉa từ lý thuyết của ngành vật lý nguyên
tử.[8]
Tất
cả quan niệm đó đã được Fritjof Capra, tác giả cuốn sách, tổng kết lại trong
một nhận định chắc nịch rằng:
Với triết học phương
Tây, môn luận lý và sự suy luận đã luôn luôn là những phương tiện chính để
phát biểu tư tưởng triết lý, kể cả theo Bertrand Russel, những tư tưởng
thuộc lãnh vực tôn giáo. Ngược lại, đối với Đông phương huyền bí, ai cũng
vốn hiểu được rằng sự thật được thể hiện một cách sâu xa hơn khả năng diễn
đạt của ngôn ngữ bình thường: các nhà hiền triết Đông phương đã không e
ngại gì mà không vượt quá sự hợp lý và những quan niệm thông thường. Tôi
nghĩ rằng đây là lý do chính khiến cho những mẫu mực của Đông phương đã gầy
dựng được một nền tảng triết lý kết hợp với nền vật lý ngày nay hơn là những
mẫu mực của triết lý Tây phương.[9]
Tuy
nhiên, những nghiên cứu và hiểu biết của kẻ viết, dù đến từ kinh xưa sách
cũ, hay tích luỹ từ bạn hiền thầy giỏi vẫn không phải là và chưa đủ là những
kiến thức xây dựng thành quan niệm nhân sinh của kẻ viết, nếu những kiến
thức lý thuyết đó đã không được đối chiếu với những kinh nghiệm thực tế
của chính cuộc sống kể từ ngày người viết còn là một đứa trẻ nghèo khó
trong một gia đình thanh bần của đất Quảng Bình xơ xác, kinh qua bao lên
xuống của cuộc đời và trôi nổi trong thăng trầm của nhân thế cho đến nay, ở
vào cái tuổi thất tuần, sống xa vời cố quận mà hồn thì vương vấn quê xưa.
Chính
những kinh nghiệm thực tế xương máu đó, những mồ hôi và nước mắt, những vinh
quang và tủi nhục, những thù hận và độ lượng, những phản trắc và nhân ái,
những tà niệm và tỉnh thức… đã là những xác tín làm cho kẻ viết tin tưởng
hơn vào tính cách vô thường của cuộc đời và những vận động cơ cấu của lý số
cho kiếp nhân sinh. Chính trong cái nhìn Vô thường đó của Đạo Phật và cái
nhìn Lý số đó của Đạo Nho mà người viết sẽ trang trải lại trên những trang
giấy sau một phần cuộc đời của mình có liên hệ với cuộc đời của ông Ngô Đình
Diệm và của đất nước.
Những
thiếu sót và sai lầm nếu có là do kiến thức chưa thực thâm sâu hoặc do ký ức
bắt đầu phai nhạt chứ nhất định không phát xuất từ thiên kiến giáo điều hoặc
cố tâm muốn bóp méo sự thật. Những cảm xúc và nhận định mà người đọc thấy
thấp thoáng trên những trang sách là những cảm xúc và nhận định chủ quan và
riêng tư, nhưng có lẽ nhờ vậy mà sẽ chân thành và trung thực.
Những
thiếu sót và sai lầm, xin được các bậc cao minh chỉ giáo và bổ khuyết. Còn
những cảm xúc và nhận định, nếu có đóng góp được gì cho một cái nhìn lịch sử
đúng đắn và chính xác hơn về một giai đoạn truân chuyên của dân tộc thì xin
được trao gởi cho thế hệ Việt Nam tương lai, thế hệ mà trên cả hai miền đất
nước cũng như bây giờ trong và ngoài nước, những phản trắc và lừa lọc, những
gian dối và ngụy tạo đã làm lung lay niềm tin của họ vào con người, vào lịch
sử và cả vào dân tộc.
-o0o-
Tôi vốn
quê làng Thổ Ngọa, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, vùng có địa danh là Ba
Đồn, và đã từng được ghi vào sử sách dân tộc vì nơi đó đã xảy ra nhiều trận
chiến giữa quân Pháp xâm lăng và quân Cần Vương kháng chiến. Quê tôi nằm
trên tả ngạn sông Linh Giang, tục gọi là sông Gianh, cách phía Nam đèo Ngang
25 cây số, nơi mà ngay từ cuối đời Hùng Vương cho đến thời nước nhà bị Pháp
đô hộ đã liên tiếp là vùng chiến địa. Quê tôi vốn là vùng nước mặn đồng
chua, hàng năm thường bị tai trời ách nước, lại bị chiến tranh liên miên xảy
ra nên quê tôi nghèo lắm. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, nhân một chuyến Nam du,
khi ngang qua đây, thấy dân chúng địa phương quá nghèo khổ đã phải tỏ lời
thở than:
…
Xe hơi đã
tới Đèo Ngang
Ấy qua Hà Tĩnh
đường sang Quảng Bình
Danh sơn gặp
khách hữu tình
Đèo
Ngang ơi hỡi là mình với ta.
…
Dừng xe lên đỉnh ta trông
Mặt ngoài biển nước bên trong núi rừng.
…
Nhỏ to mả trắng
bên đường,
Xa xa mé bể cồn
vàng thấp cao.
Dọc đường dân
chúng biết bao,
Ruộng tình hữu
ái như rào trận mưa.
Rồng Tiên cũng
họ từ xưa,
Ba mươi năm mới
bây giờ gặp nhau.
Nhân xem áo vải
quần nâu,
Gái trai già
trẻ một màu không hai,
Văn minh rày đã
bán khai,
Mà đây còn hãy
như đời Hùng Vương…
Quê tôi
nghèo đến độ dân chúng bốn mùa chỉ bận quần nâu áo vải, và chỉ trừ những
ngày Tết, Lễ, được ăn cơm, còn thì phải trộn khoai mà ăn với mắm cà rau
muống suốt năm. Nhưng hình như Tạo hóa có luật thừa trừ: đã bắt dân chúng
đói nghèo, cực khổ thì bù lại họ có cái tiết tháo, thông minh. Quê tôi tuy
nghèo nhưng lại là một đại xã nổi tiếng về văn học, buổi tiền triều khoa
giáp rất đông. Làng Thổ Ngọa của tôi là một trong tám làng của tỉnh Quảng
Bình có nhiều người đỗ đạt, nhiều người làm quan, và cũng nổi tiếng vì có
nhiều vị khoa bảng làm quan nửa chừng rồi cởi áo từ quan về làng sống cảnh
an bần lạc đạo.
Có lẽ vì
làng tôi có nhiều nhà Nho, nhiều bậc sĩ phu vốn trọng nền Tam Giáo cho nên
dân làng tôi không một ai cải đạo, mặc dầu phủ tôi vì gần với căn cứ quân sự
Pháp nên có nhiều làng theo đạo Công giáo hơn. Và có lẽ vì thấm nhuần sâu
đậm tư tưởng Khổng Mạnh, mang khí tiết, danh dự kẻ sĩ cho nên đã một thời
tuy ở rất gần nhiều đồn lính Tây và bị bao vây bởi những làng theo đạo Công
giáo mà vào những năm 1885, 1886 phần đông dân làng tôi đều theo nghĩa quân
Cần Vương dưới quyền lãnh đạo của vị anh hùng Lê Trực. Ông đã biến làng tôi
thành một tiền đồn trực tiếp đối đầu với quân Pháp, che chở cho chiến khu
của Vua Hàm Nghi trong rừng già Thanh Lạng, vùng giáp giới hai tỉnh Hà Tĩnh
và Quảng Bình.
Nội tổ
của chúng tôi cũng đã từng theo đòi nghiên bút, theo đường khoa danh như hồi
ký của cháu tôi là Đại úy Đỗ Thọ, sĩ quan tùy viên của Tổng Thống Diệm
[10] đã trình bày; nhưng vì thời thế loạn ly, ông bỏ
đèn sách mà theo việc kiếm cung và trở thành viên tướng tiên phong cho vị
lãnh tụ Cần Vương là cụ Đề Lê Trực. Nội tổ chúng tôi bị tấn công bởi lính
Pháp, lính Đạo, có giáo sĩ Tortuyaux từ Đồng Hới ra làm kẻ chỉ đường nên bị
thất trận, giặc Pháp giết không toàn xác và ném thây xuống sông mất tích.
Thủ hạ của ông chạy thoát được về báo cho gia đình. Sau này con cháu họ Đỗ
chúng tôi phải lập đền thờ cho đấng tiền nhân tiết liệt. Cũng sau này, con
cháu họ Đỗ chúng tôi phải lập đàn cầu cơ, hỏi người hồn phách siêu lạc, vất
vưỡng phương nào để con cháu xây bia lăng chôn “mình dâu, đầu gáo” và lập
đền thờ cho đấng tiền-nhân tiết-liệt.
Khi cơ lên, Nội tổ
chúng tôi cho biết ông đã bị mắc mưu bội phản nên bị quân Tây sát hại. Ông
đã viết trên mâm gạo trắng một bài thơ dài, tả tâm sự và cảnh ngộ của mình,
lời thơ vô cùng ảo não thương tâm. Con cháu chúng tôi học thuộc lòng để mỗi
khi cúng kỵ cùng tụng lên theo tiếng mõ hồi chuông như tụng kinh trước bàn
thờ Phật. Bài thơ này chính là chúc thư cách mạng đầu tiên cho tôi để sau
này lớn lên biết yêu nước, yêu dân, và biết theo lẽ phải giữ gìn khí tiết:
“Phật
tự Liên Hoa nhân mạc kiến,
Tăng như Lô
thảo thế nan tầm.
Gẫm cuộc đời
thêm nhớ bạn tri âm,
Nhìn thế sự
khôn cầm cơn lệ ngọc.
Ví thuở trước
bụi hồng không lăn lóc,
Thì có đâu
những lúc hiện thời.
Cũng vừa may
nhờ lượng Bửu Đài,
Nên mới đặng
vãng lai nơi cố quận.
Nay gặp buổi
phong hòa vũ thuận,
Xét phàm trần
trắc ẩn tiền nhân.
Vậy mua vui
dạo ít cung đờn,
Mượn bút ngọc
phô trương sự tích:
Nhớ thuở trước
tiền triều niên lịch,
Buổi thiếu thời
chỉ thích cao ngôi,
Chốn văn chương
cửa Thánh trau giồi,
Đường võ bị
theo đòi cung kiếm.
Chí những tưởng
đăng khoa bút điểm,
Trổ tài hoa
đoạt chiếm công danh,
Ai ngờ đâu
duyên phận mỏng manh,
Trong phút chốc
tan tành sự nghiệp.
Ấy cũng bởi quá
tin tình nghĩa hiệp,
Hóa xui nên
thân kiếp biệt ly trần.
Hận mình mang
gánh nặng quân ân,
Mà khổ nỗi nợ
nần chưa báo đáp,
Thì đã vội gió
vùi mưa dập,
Mộng ngàn thu
chôn lấp tấm hồn trung.
Kể từ đây bốn
bể vẫy vùng,
Cho thỏa chí
anh hùng khi tử tiết.
Đức Thượng Đế
đoái thương người tuấn kiệt,
Sắc phong cho
Trung Liệt Hiển Nhơn Thần,
Dưới Hoành Nam
đi lại kiểm tuần,
Theo Liễu Chúa
tùy thân hậu giá.
Nay gặp hội
thừa nhàn thư thả
Mượn bút đào
lược tả thành chương,
Vẫn rằng đây
“Tổ thúc Đỗ Đường”,
Đem tâm sự phô
trương tỏ rõ.
Ai là kẻ đem
lòng ngưỡng mộ,
Xét đơn tâm báo
bổ độ trì,
Bằng như ai ăn
xổi ở thì,
Cũng thây kệ
thiên tri phó mặc.
Kìa lồng lộng
trăng soi vằng vặc,
Cảnh tuần hoàn
có chắc gì đâu,
Xanh kia vẫn
đội trên đầu
Khuyên đừng
điên đảo mang câu tội tình.
Kiếp trần ấy,
kiếp phù sinh!”
Theo tinh thần bài thơ thì ông Nội tôi vì hy sinh cho chính nghĩa dân tộc
nên được Thượng Đế phong sắc làm Thần và được theo Bà Chúa Liễu Hạnh đi kiểm
tuần ở vùng phía Nam núi Hoành Sơn (Đèo Ngang). Theo giáo sư Nguyễn Đăng
Thục thì bà Chúa Liễu Hạnh là vị tiên chúa đại diện cho nguyên lý “Mẫu”
cũng như Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) đại diện cho nguyên lý “Phụ”.
Bà Chúa Liễu Hạnh tượng trưng cho sự trong trắng, sự khôn ngoan, hiền thảo
của người đàn bà nên được dân chúng Việt Nam tôn thờ như Quốc Mẫu, có đền
thờ ở Sòng Sơn (Bắc Việt) và được vua chúa các triều đại phong sắc. Trong
dân gian có câu tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ, Cha là Đức Thánh
Trần, Mẹ là Tiên Chúa Liễu Hạnh.[11]
Vì Nội
tổ chúng tôi là một vị thần linh nên dân làng bảo trợ cho con cháu lập đền
thờ ở quê làng để hàng năm Xuân Thu nhị kỳ cùng đến làm lễ cúng kỵ. Khi đất
nước bị chia đôi vào năm 1954, họ chúng tôi di cư vào Nha Trang, lại lập đền
thờ trong khuôn viên ngôi nhà anh ruột tôi là ông Đỗ Toàn mà nhiều bạn bè
của gia đình chúng tôi ở Nha Trang đã từng đến chiêm ngưỡng.
Nói về
quân Cần Vương ở quê tôi, sử gia Trần Trọng Kim đã viết:
Vua Hàm Nghi bấy giờ
phải ẩn nấp ở vùng huyện Tuyên Hóa có các con của Tôn Thất Thuyết là Tôn
Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp cùng với đề đốc Lê Trực và cử nhân Nguyễn Phạm
Tuân hết sức giữ gìn và đem quân đi đánh phá ở mạn Quảng Bình và Hà Tĩnh.
Tháng Giêng năm Bính
Tuất (1886), trung tá Mignot đem quân ở Bắc Kỳ vào Nghệ An rồi chia làm hai
đạo. Một đạo do thiếu tá Pelletier theo sông Ngàn Sâu vào mạn Tuyên Hóa, một
đạo thì trung tá Mignot tự đem quân đi đường quan lộ vào giữ thành Hà Tĩnh
rồi vào đóng ở sông Gianh.
Ở Huế lại sai trung tá
Metzniger đem một toán quân ra tiếp ứng các đạo. Quân Pháp đóng ở chợ Đồn
(Ba Đồn) và ở Minh Cầm rồi trung tá Metzniger đem ông Cố Tortuyaux đi làm
hướng đạo để lên lấy đồn Vé. Thế quân Pháp tiến lên mạnh lắm, quân Cần Vương
chống không nổi, phải tan ra.
Quân Pháp triệu các
đạo quân về chỉ đóng giữ ở Quảng Khê (cửa sông Gianh), ở Ròn, ở Ba Đồn mà
thôi. Quân Cần Vương thấy quân Pháp rút đi lại trở về đóng ở đồn cũ.
Người Pháp cũng biết
là thế lực của đảng vua Hàm Nghi chẳng được là bao nhiêu, cốt tìm đường mà
chiếm dần địa thế, bởi vậy cho nên không dùng đến đại binh.
Trước, đại úy Mouteaux
ở Quảng Bình đã cùng với ông cố Tây Tortuyaux đem quân đi đánh lấy đồn của
Lê Trực ở Thanh Thủy, nhưng quân của ông ấy vẫn không tan, cứ đánh phá mãi.
Đại úy Moutaux biết ông Lê Trực là người có nghĩa khí cho nên đại úy vẫn có
ý trọng lắm, đưa thư dụ ông về đầu thú. Ông Lê Trực trả lời: “Tôi vì vua vì
nước chết sống cùng một lòng, không tham sống mà quên việc nghĩa.”
Từ khi quân Pháp đóng
đồn Minh Cần, ông Lê Trực ra mạn Hà Tĩnh, ông Nguyễn Phạm Tuân về đóng phía
Nam sông Gianh, ông bị trúng đạn, sống được mấy ngày thì chết, quân của ông
bị vây rồi bị bắt cả.[12]
Theo phụ
thân tôi và các bậc tôn trưởng trong làng kể lại thì sau khi Nội tổ bị sát
hại, quân Cần Vương tan rã, lính đạo của các cố Tây và dân các làng Công
giáo kế cận như Đơn Sa, Diên Hòa, Diên Phúc, Hướng Phương,… đến bao vây làng
tôi, giết hại có hàng trăm người, đốt phá đình chùa, miếu vũ. Những ai đã
từng đi qua làng tôi đều thấy dọc theo bờ sông Gianh hàng mấy trăm nấm mồ vô
chủ, ngổn ngang như gò đống, đó là những ngôi mả của dân làng chết vì tham
dự quân đội Cần Vương hay vì bị dân các làng theo đạo Công giáo sát hại. Vốn
sinh sống nơi vùng đất quê nghèo, sau cuộc kháng Pháp, dân làng tôi vốn đã
nghèo khổ lại càng nghèo khổ, gian truân hơn.
Vùng tả
hữu ngạn sông Gianh là nơi quân Pháp đã đóng nhiều đồn bót khi họ đánh chiếm
Quảng Bình cho nên vùng này có trên hai mươi làng theo đạo Công giáo… Giáo phận này có cả tiểu chủng viện ở
làng Hướng Phương, quê hương của linh mục Nguyễn Phương, tác giả cuốn “The
Parade of American Puppet”, cuốn sách suy tôn Tổng Thống Diệm anh minh
và hằn học mạt sát tướng lãnh trong quân đội đã lật đổ ông ta.
Thời kỳ
kháng Pháp (1946-1954), trong khi tất cả các làng khác theo tiếng gọi non
sông tham gia kháng chiến thì các làng theo đạo Công giáo ở hai bên bờ sông
Gianh đều rào làng, xây chòi canh tự nguyện thành lập những đội Partisans để
phụ lực cho đội quân viễn chinh Pháp, biến vùng này thành một dãy tiền đồn
cho quân Pháp an toàn đóng ở Đồng Hới, hướng về Liên khu Tư của Việt Minh.
Linh mục Nguyễn Phương đã từng là dân vệ trong đội quân Partisans của làng
Hướng Phương trước khi ông vào Huế tiếp tục học hành. Còn linh mục Cao Văn
Luận, nguyên viện trưởng viện Đại Học Huế dưới chế độ Ngô Đình Diệm, từ Hà
Nội vào ở tại vùng này một thời gian trước khi vào Huế xin thủ hiến Phan Văn
Giáo dạy học ở trường trung học Khải Định. Khi quân đội Pháp rút bỏ dãy tiền
đồn ở vùng tả hữu ngạn sông Gianh thì hầu hết thanh niên những làng theo đạo
Công giáo cũng sợ hãi rút theo. Phần đông những thanh niên này gia nhập vào
bộ đội Việt Binh Đoàn miền Trung rồi trở thành quân đội quốc gia dưới chế độ
Quốc trưởng Bảo Đại. Sau này, phần đông số binh sĩ đó được tuyển chọn vào Lữ
Đoàn Liên binh Phòng vệ phủ Tổng Thống, họ được ông Diệm đặc biệt lưu tâm ưu
đãi vì họ thuộc thành phần trung kiên nhất đối với ông Tổng thống người
Quảng Bình mộ đạo này.
Sống
giữa thời ly loạn, mà cha chú, bà con phần đông bị giặc Pháp cầm tù hay sát
hại, nước nhà thì mất chủ quyền, cha tôi, một nho sĩ nghèo nàn chỉ còn biết
kéo dài cuộc đời bất đắc chí. Tôi ra đời giữa khung cảnh đất nước đó, trong
một gia cảnh thanh bần và giữa một làng quê bùn lầy nước đọng. Mẹ tôi vì lao
tâm lao lực, một nắng hai sương làm lụng cực nhọc để nuôi chồng và một đàn
con đông đảo, mình mang trọng bệnh lại thiếu tiền thuốc thang, nên bà đã từ
giã cõi đời khi tôi vừa lên bốn tuổi, bỏ lại cha con tôi với thảm cảnh gà
trống nuôi con. Tuy nhiên, qua mấy đời, giòng họ con cháu đều theo đòi ít
nhiều kinh sử, cho nên khi tôi lên năm, cha tôi cũng cố cho tôi theo học chữ
Hán trường ông Tú gần nhà. Cho đến khi lên chín thì tôi được gởi lên trường
Phủ học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Thời gian theo bậc tiểu học, tôi đã không
có những phút êm đềm của tuổi học trò thơ ấu, lại càng không có những mộng
mơ hồn nhiên của tuổi đến trường, mà cứ mỗi độ hè đến là phải đi chăn trâu,
ngày nghỉ là phải ra đồng mót lúa, đào khoai hay xuống sông mò tôm bắt cá
kiếm thêm miếng ăn cho gia đình. Sau khi đỗ tiểu học, tôi định bỏ ngang sự
học vì thời bấy giờ muốn vào trung học thì phải vào Huế, phải tốn tiền ăn,
tiền nhà trọ, tiền sách vở áo quần, tiền xe cộ đi về. Với gia cảnh bần hàn
mà ngay cả mỗi miếng ăn đói, mỗi manh áo rách đều là kết quả nhọc nhằn của
mồ hôi và nước mắt của toàn gia đình, cha tôi biết lấy gì để chu cấp cho tôi
theo đuổi việc học hành mà tốn kém hàng tháng cũng phải đến 6 đồng bạc, một
số tiền lớn giá trị độ 6,7 chục ngàn thời 1970.
May mắn
thay, khi tôi vừa đỗ tiểu học thì có bà cô họ vốn biết tính ham học của tôi
bèn từ Huế về làng, xin cha tôi cho tôi vào Huế tiếp tục việc học hành.
Chồng cô tôi là một ông Đề lại đã về hưu, có một ngôi nhà vườn rộng với
nhiều cây ăn trái ở chợ Cống, con cái đã thành gia thất và đều đi làm việc
cho chính phủ ở các tỉnh xa. Cô tôi đem tôi về, vừa để giúp tôi tiếp tục
việc học hành, vừa có thêm đứa cháu cho cảnh nhà bớt phần quạnh quẽ. Tôi
theo học trường trung học tư thục Hồ Đắc Hàm, ngày nghỉ về nhà giúp cô dượng
tôi nhổ cỏ, tưới cây, quét tước cửa nhà, vườn tược. Ở cái tuổi 15, đáng lẽ
tôi đã có thể vẽ được cho mình – dù là viển vông – những ước mơ cao xa và
những hoài bão to lớn, nhưng nhìn lại hoàn cảnh gia đình và trong bối cảnh
của một quê hương rách nát tang thương, tôi chỉ ao ước được học hết 4 năm,
lấy mảnh bằng Thành Chung để xin vào ngạch thư ký tòa Sứ, ngạch trợ giáo hay
ngạch thừa phái Nam triều như ước mơ của hầu hết thanh niên nghèo lúc bấy
giờ, không đủ điều kiện học lên tú tài. Nhưng có lẽ vận số giòng họ nhà tôi
chưa có mả phát về văn học, nên sắp bước vào năm thứ 4 thì cô tôi qua đời.
Dượng tôi, phần thì tuổi già, phần thì thiếu người nội trợ, nên cho thuê
ngôi nhà để đi theo con làm y tá ở Phan Thiết, và không thể tiếp tục làm
mạnh thường quân giúp tôi ăn học nữa, tôi đành phải dang dở việc học hành,
trả lại giấc mơ giản dị và tội nghiệp cho nhà trường để trở lại làng xưa.
Về đến
Đồng Hới, tôi vào ty kiểm học để nộp đơn xin một chức giáo viên sơ học thì
được cụ Kiểm học Trần Kinh, thân phụ của giáo sư Trần Vỹ, thâu nhận vào làm
giáo viên sơ học của một làng trong Phủ với số lương hàng tháng là 12 đồng
do ngân sách hàng tỉnh đài thọ.
Trong
khi việc học của tôi dang dở như vậy thì người bạn châu quận của tôi là anh
Phan Xứng, vốn cùng tuổi và cùng học với tôi ở trường Phủ, lại may mắn được
tiếp tục học cho đến khi đỗ bằng Thành Chung rồi thi vào ngạch thư ký toà
Sứ. Tôi nhắc đến anh Phan Xứng, người bạn tri kỷ của tôi, vì sau này, qua
bao nhiêu biến cố đổi thay của thời cuộc, anh với tôi trở nên hai đồng chí
trên trường chính trị kể từ năm 1948, khi chúng tôi cùng tích cực hoạt động
cho tổ chức của ông Diệm dù lúc bấy giờ ông Diệm mới chỉ là một chính khách
trùm chăn đợi thời.
Tôi dạy
học được một năm, xét thấy nghề giáo viên trường làng với số lương quá thấp,
vừa không đủ nuôi thân vừa không giúp được gì cho gia đình, nên nhân có mấy
người bạn cùng học trước kia ở trường Phủ rủ nhau gia nhập quân đội, tôi bèn
nhận lời theo họ. Tôi thích đời quân ngũ một phần vì lương bổng cao hơn,
tương lai bảo đảm hơn, có thể thăng quan tiến chức và phần khác, vì là quân
nhân thì sẽ biết tác chiến, có được nhiều bạn đồng ngũ, hợp với sở thích
hiếu động của tôi. Hơn nữa, và đây mới là điều quan trọng nhất, khi gia nhập
quân đội tôi sẽ vừa có tiền nuôi thân lại vừa có tiền giúp đỡ cha già mỗi
ngày thêm già nua bệnh hoạn.
Thời
Pháp thuộc, bên Nam triều, có những ngạch lính riêng như lính Lệ, lính Giản,
lính Hộ Thành, lính Khố Vàng, còn bên Bảo Hộ có lính Chính quy, tức là lính
Khố Đỏ, lo việc chống ngoại xâm và lính Bảo An tức là lính Khố Xanh (Garde
Indochinoise) lo việc trị an trong nước. Thật ra tôi thích đi lính Khố Đỏ
hơn vì nghe nói đi lính ấy sẽ được dịp xuất ngoại, sẽ được đi Tây, biết được
những chân trời xa lạ cho thỏa chí giang hồ, nhưng vì người tôi ốm yếu không
đủ cân lượng làm một người lính chính quy nên tôi đăng vào ngạch lính Khố
Xanh ở cơ Bảo An Hà Tĩnh.
Trong
nhà binh thời Pháp thuộc, những quân nhân có trình độ trung học như tôi đều
làm việc ở văn phòng, khỏi phải làm tạp dịch nặng nề. Đến năm thứ sáu, tôi
đi học lớp hạ sĩ quan tại cơ Lưu động Huế, nơi đào tạo hạ sĩ quan cho toàn
thể xứ Trung kỳ. Sau năm tháng học tập, thi mãn khóa tôi đỗ đầu nên được
người Pháp giữ lại làm huấn luyện viên cho các lớp hạ sĩ quan tiếp theo. Tôi
cùng Hồ Văn Tố (cựu Thiếu tướng Quân đội Việt Nam Cọng Hòa) đã dạy ở đây mấy
năm trường. Hiện nay tại hải ngoại có rất nhiều người đã từng học lớp hạ sĩ
quan Huế do chúng tôi làm huấn luyện viên. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa họ đã
giữ những chức vụ trọng yếu trong quân đội hay các cơ quan chính quyền,
chẳng hạn như Đại tá Phùng Ngọc Trưng, Giám đốc nha Quân nhu Quân Đoàn I,
cựu Đại tá Lê Khương từng là Tỉnh trưởng Quảng Nam và Tổng Giám đốc Bảo An,
ông Lê Kim Ân từng là nhân viên cao cấp ngành Công An Cảnh Sát Quốc Gia, vân
vân… (Ba nhân vật trên hiện ở hải ngoại). Năm 1942, năm dạy lớp hạ sĩ quan
tại Huế, tôi vừa đúng 25 tuổi.
Nhìn lại
hai mươi lăm năm của thời kỳ đầu tiên trong cuộc đời, 25 năm ngậm đắng nuốt
cay của một đứa trẻ mồ côi mẹ, lớn lên trong lũy tre làng xơ xác của một
làng quê xác xơ, 25 năm nền móng để xây dựng nên cốt cách và nhân phẩm của
mình sau này, tôi sung sướng và hãnh diện được sinh ra trong khung cảnh của
một nông thôn nghèo nàn, của một gia đình nho phong khí tiết. Chính những mồ
hôi nhọc nhằn đổ ra trên ruộng lúa cằn cỗi, sau này, đã dạy cho tôi bài học
về giá trị của lao động; chính những đêm buốt giá mà manh chiếu không đủ để
che thân, sau này, đã dạy cho tôi bài học về chống bất công, chống độc tài.
Và cũng chính những ân tình của xóm làng gia tộc đã dạy cho tôi về nhân
nghĩa, về lòng độ lượng và bao dung. Cho nên những thực tại đó của cuộc
đời, những kinh nghiệm sống thật đó của bản thân, hơn tất cả những bài học ở
trường, hơn tất cả những sách vở mà tôi đã nghiên cứu, mới là hành trang
quý giá và thân thương nhất giúp tôi xông pha vào đời với một lương tâm
trong suốt và với một con tim tràn đầy nhiệt huyết.
Hai mươi
lăm năm đầu tiên đó của cuộc đời lại cũng là khoảng thời gian mà tôi mở mắt
nhìn, lắng tai nghe kiếp sống đáy tầng của một dân tộc bị trị. Kiếp sống mà
“theo đạo Chúa, làm cho Tây” thì tính mạng được an toàn và cơm áo
được tươm tất, kiếp sống mà sĩ khí không mua được lon gạo, tiết nghĩa không
đổi được lít dầu!
Cảnh nhà
khốn khổ của thời ly loạn đã khiến tôi dang dở việc học để lăn vào đời sớm
hơn những thanh niên khác. Nhưng dang dở việc học mà tôi không ân hận vì đã
được mang những nhọc nhằn của mình ra phần nào báo hiếu cho cha già; lăn vào
đời sớm mà tôi không xót xa vì chính cuộc đời đã tôi luyện chí khí và nhân
cách cho mình vào cái thời kỳ còn trong trắng nhất, còn chưa hệ lụy vào lý
thuyết trừu tượng và giáo điều. Cho nên sau này, trước bao nghịch cảnh của
cuộc đời, tôi vẫn hoài niệm về 25 năm đầu tiên đó của mình, tôi vẫn hoài
niệm về cha già gà trống nuôi con, tôi vẫn hoài niệm về làng Thổ Ngọa tiêu
điều đó như là những năng lực tuyệt vời giúp tôi vượt thoát lên trên mọi
giông bão.
Nhưng
vào thời điểm của những năm đầu của thập niên 40, những ước mơ, những cao
vọng, những rung cảm của tôi mới chỉ là những ước mơ tầm thường và tội
nghiệp của một người dân tội nghiệp và tầm thường. Nghĩa là phải chiến thắng
sự nghèo khổ cho chính gia đình mình, còn những Độc Lập, những ái Quốc,
những Kháng Chiến, những Chống Xâm Lăng… đều là những tiếng gọi mơ hồ và xa
lạ.
Tôi
những tưởng cuộc đời của tôi như thế là đã được an bài, sẽ lớn lên trong
lòng quân đội Pháp, vô thức làm một công cụ cho chế độ thực dân và hài lòng
với những đảm bảo kinh tế của một người dân bị trị cho đến ngày nhắm mắt.
Nhưng
định mệnh đã đưa đẩy ném tôi vào những chuyển mình lớn lao của lịch sử như
bao nhiêu người trai trẻ của thế hệ đó để trong một cơ may hiếm hoi của đời
người, tôi bừng tỉnh và theo đòi những hoạt động cách mạng vào những ngày mà
tình hình thế giới đang căng thẳng mở màn cho thế chiến thứ hai.
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|