Chương XVI
TỪ ĐỒNG MINH VỚI MỸ
ĐẾN THỎA HIỆP VỚI CỘNG
Trong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi thì trong giới chính trị và tình
báo tại Thủ đô Sài Gòn có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dõi gần như
công khai. Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu–Diệm nhằm
thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội và những tin tức về các cuộc đảo chánh có thể
xảy ra.
Sài Gòn như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả
thuyết đầy mâu thuẫn và những vận động ngầm sôi nổi. Đề tài về âm mưu thỏa
hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất vì không những nó liên hệ đến chế
độ Diệm mà còn trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam
Tự Do.
Sau cách mạng 1–11–1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam
và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ
thể để ta có thể nghiêm túc trình bày lại diễn tiến của âm mưu này, cũng như
để ta có thể chín chắn suy nghiệm về biến cố mà hai anh em Nhu–Diệm đang từ
theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng.
Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Hà Nội của chế độ Diệm là một
trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất,
thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1–11–63. để
ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình. Chính âm mưu này đã là nguyên động
lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà
không ngại ngùng, và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi thì các đoàn thể
quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một lòng yểm trợ cho cuộc cách mạng
lật đổ Ngô triều thành công.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chính sách
chống Cộng của hai anh em ông Ngô Đình Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại
trong bốn điểm chính: thứ nhất là sự chống đối càng lúc càng quyết
liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam; thứ
hai là áp lực càng lúc càng nặng nề của lực lượng chính trị võ trang của
kẻ thù Cộng Sản; thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ
mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và thứ tư, quan
trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của ông Ngô Đình
Nhu. Nếu chỉ có một, hay hai, hay cả ba nguyên nhân mà thôi thì chưa chắc
hai ông Diệm–Nhu đã thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng vì bốn nguyên nhân vừa
khách quan vừa chủ quan này đã, chậm chạp nhưng chắc chắn, cùng phối hợp với
nhau nên đã đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đình, dù từ lâu
mối thù giết anh ruột đã bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính
trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam.
-o0o-
Thật vậy, như tôi đã trình bày trong hai chương 11 và 12, cao trào chống
đối của quân dân miền Nam trước chính sách độc tài và đàn áp các lực lượng
quốc gia của chính quyền Ngô Đình Diệm càng lúc càng gia tăng với bản cáo
trạng lên án chế độ của nhóm Caravelle, với hoạt động đối kháng của Mặt Trận
Đoàn Kết do ông Nguyễn Tường Tam chủ xướng, của đảng Tự Do Dân Chủ do ông
Phan Quang Đán thúc đẩy, của Liên Minh Dân Chủ do nhóm các ông Phan Bá Cầm,
Xuân Tùng, Hoàng Cơ Thụy lãnh đạo,… và hai cuộc binh biến táo bạo cũng như
quyết liệt của binh chủng Nhảy Dù và vụ ném bom dinh Độc Lập. Đó là chưa nói
đến những cá nhân hoặc đoàn thể trước kia đã từng cộng tác, ủng hộ và nhiều
khi hy sinh cả đời người cho hoạt động chính trị của hai ông Nhu–Diệm thì kể
từ năm 1960 trở đi, cũng đã công khai lên án chế độ và bày tỏ thái độ chống
đối gia đình họ Ngô. Và đó cũng chưa kể đến sự công phẫn của quần chúng mà
điển hình là cuộc vận động cách mạng của Phật giáo bắt đầu lan rộng và biến
thành những hình thức đề kháng chế độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Những hoạt động chống đối đó đáng lẽ phải được nghiên cứu sâu sắc và truy
tầm nguyên nhân để rút ra những bài học tích cực hầu xây dựng dân chủ và sửa
sai chế độ thì hai ông Nhu–Diệm lại xem đó như những khiêu khích phản loạn
cần phải diệt trừ cho tuyệt hậu họa. Họ đã xem hành động đối lập của các
lực lượng quốc gia như hành động của kẻ thù tối nguy hiểm vì chính đối
lập mới thực sự đe dọa đến quyền hành và danh vọng của họ, quyền lợi và mạng
sống của họ. Họ lo lắng suy nghĩ và dành nhiều phương tiện cũng như nhân sự
của quốc gia để lo đối phó với những thành phần đối lập quốc gia còn hơn cả
đối phó với kẻ thù Cộng Sản. Nhưng như tôi đã trình bày và lịch sử giai đoạn
đó đã chứng minh, chế độ càng đàn áp thì sự chống đối càng gia tăng. Gia
tăng trên cả hai mặt mức độ cũng như số lượng đến nỗi đã dùng đến cả võ lực
(vụ ném bom) vốn là hình thức cao nhất và dứt khoát nhất của mọi cuộc đấu
tranh.
Tình trạng lớn mạnh của đối lập đó, trong những năm từ 1960 trở đi, tuy
chưa trực tiếp và tức thì đe dọa chế độ, nhưng hai ông Nhu–Diệm cũng đã phải
nhận rằng nếu tình trạng đó kéo dài thì chính các lực lượng chính trị đối
lập đó, chứ không ai khác, trong tương lai sẽ đập tan chế độ và uy quyền của
họ. Nhận định đó, khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 và nhất là khi
những áp lực của người Mỹ trở thành nặng nề hơn, mới trở thành một yếu tố
tác động lên quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội để hoặc là dùng Cộng
Sản như một phụ lực tiêu diệt đối lập, hoặc dùng Cộng Sản như một mối đe dọa
để làm chantage lực lượng đối lập. Kế hoạch hai mặt đó, hai ông
Nhu–Diệm nghĩ rằng nếu không làm tê liệt được quyết tâm thì ít nhất cũng
tiêu diệt được khả năng chống đối của người quốc gia.
Cho nên chính sự thất bại và bế tắc trong chính sách đàn áp đối lập cuối
cùng đã là nguyên nhân sâu sắc nhất nhưng lại ẩn tàng nhất đẩy hai ông
Diệm–Nhu vào vòng tay Cộng Sản để mong bảo đảm danh vọng và quyền lợi cho
họ.
Đó là nguyên nhân thứ nhất.
Nguyên nhân thứ hai là sự trưởng thành của lực lượng chính trị
quân sự Cộng Sản, một kẻ thù khác, đang rõ ràng công khai thách thức tư cách
chủ nhân miền Nam của chính quyền Ngô Đình Diệm và đánh phá sức mạnh đã bắt
đầu lung lay của chế độ. Sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
là cao điểm chính trị của Việt Cộng sau khi đã làm ung thối tình hình thôn
quê miền Nam mà những ấp chiến lược, những khu trù mật, những khu dinh điền,
những chính sách quân phân ruộng đất, những chiến dịch tố Cộng,… đã tạo ra
những phản tác dụng cho Việt Cộng khai thác và bành trướng.
Mặt khác, sự ra đời của Mặt Trận cũng chính thức hóa sự lệ thuộc của nó
vào hậu phương lớn Bắc Việt trên cả hai mặt chính trị lẫn quân sự, cho thấy
Mặt Trận chính là một bộ phận của Hà Nội và đánh Mặt Trận là trực tiếp đánh
Hà Nội. Trên mặt thuần túy quân sự, sự ra đời của Mặt Trận đã cho phép họ
thâu nhận nhiều yểm trợ khí cụ hơn cũng như kết nạp được nhiều nhân lực hơn,
ngay tại miền Nam, để thành lập những đơn vị chiến đấu lớn. Thất bại nặng nề
của Sư đoàn 13 tại Tây Ninh cuối năm 1960 đã là dấu hiệu đầu tiên của sự lớn
mạnh đó của Mặt Trận.
Hai ông Diệm–Nhu lẽ tất nhiên đã không xem Việt Cộng như những lực lượng
phiến loạn địa phương kiểu các giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo mà họ
đã từng dẹp yên được, lại càng không xem đó như những lực lượng võ trang
quốc gia đối lập kiểu chiến khu Ba Lòng của Đại Việt hay chiến khu Nam Ngãi
của VNQDĐ mà họ đã từng tàn bạo tiêu diệt một cách dễ dàng. Hai ông Diệm–Nhu
đã từng thấy được tính cách trường kỳ dai dẳng của Việt Minh thời chiến
tranh Pháp–Việt, cũng như bắt đầu thoáng thấy được sự vô hiệu của những
chiến lược chống Cộng của họ từ nhiều năm qua, thì hẳn họ cũng hiểu hơn ai
hết là thời gian không đứng về phía họ, nghĩa là trong cuộc chiến này,
càng về dài thì địch càng mạnh họ càng yếu. Cũng như càng về dài thì
ngôi vị, danh vọng, quyền lực, và ngay cả mạng sống của họ càng bị đe dọa mà
thôi.
Cho nên thay vì nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho lực lượng chống Cộng
khác, hoặc cải tổ chính quyền và thay đổi chính sách để đáp ứng hữu hiệu hơn
với sự đe doạ đó thì hai ông Nhu–Diệm, sau này, khi cùng một lúc bị những áp
lực khác đè nặng, đã như con đà điểu chui đầu xuống cát, tìm cách đầu hàng
bằng sự thỏa hiệp với kẻ thù.
Trước khi trình bày nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân mà tôi gọi là
sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ vào những năm đầu của thập niên
1960 khiến anh em Diệm–Nhu đã đi đến quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản, tôi
xin được rất thực tế nêu lên một số biến cố lịch sử để, qua đó, cụ thể phân
tách một khía cạnh rất đặc thù về chính sách ngoại giao của Mỹ đối với các
đồng minh trong sách lược chống Cộng toàn cầu của họ.
Lịch sử bang giao quốc tế từ thời xa xưa lúc các quốc gia bắt đầu thành
hình cho đến hiện đại, khi mà thế lưỡng cực Tư Bản – Cộng Sản càng lúc càng
gay gắt, đã cho thấy không thiếu những trường hợp một quốc gia này yêu cầu
một quốc gia khác đem quân đến giúp. Lời “yêu cầu” đó có thể thật hay là
giả, chính đáng hay không, hợp với công pháp quốc tế hay không, là tùy bản
chất của sự liên hệ giữa hai quốc gia. Cũng vậy, “giúp” đó là thật hay giả,
ngụy trang xâm lăng hay thật sự yểm trợ, là tùy tình trạng của biến cố đó.
Hoa Kỳ không những là một cường quốc, mà còn là một cường quốc lãnh đạo
một khối để trực đối với một khối khác, nên lại càng bị lôi cuốn vào những
tranh chấp tuy cục bộ nhưng lại ảnh hưởng đến tương quan lực lượng Tư Bản –
Cộng Sản. Do đó mà tuy mới 200 năm lập quốc, Hoa Kỳ đã nhiều lần phải dính
dự vào các biến cố nội bộ của các quốc gia thân hữu mà Hoa Kỳ xem là đồng
minh. Những dính dự đó hầu hết là để yểm trợ. Và dù những yểm trợ đó có lúc
bắt nguồn từ quyền lợi của nước Mỹ, cũng đã có lúc vụng về gây tai hại nhiều
hơn là đem đến ích lợi, nhưng nói chung thì những yểm trợ đó phản ánh đức
tính hào hiệp và vị tha của một dân tộc mà tôn giáo đã là một trong những
nguyên ủy lập quốc, mà những lý tưởng về Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền đã
là những sức mạnh duy trì sự cao cả của dân tộc họ. Đức tính hào hiệp và
những lý tưởng lập quốc đó đã chảy xuyên dòng lịch sử ngoại giao của Hoa Kỳ
như một thứ cốt tủy, dù phần thể hiện của nó là các chính sách ngoại giao,
có thay đổi theo thời đại hay theo từng nhiệm kỳ của mỗi vị Tổng thống.
Chúng đã thuộc về căn cước văn hóa của dân tộc Hoa Kỳ. Hay nói như Coral
Bell, một nhà nghiên cứu Úc, thì:
“Đạo đức và tinh thần thượng tôn pháp luật là hai tuyến lõi trung ương
của nền ngoại giao Hoa Kỳ kể từ khi quốc gia này ý thức được vai trò cường
quốc của mình” .
Thật vậy, Hoa Kỳ đã hai lần đưa quân đội vào nước Pháp giúp giải thoát
nước này khỏi gót giày xâm lăng của quân phiệt Đức. Sau thế chiến thứ hai,
Hoa Kỳ lại thực hiện kế hoạch viện trợ Marshall để giúp Pháp tái thiết xứ sở
và nhất là giúp các lực lượng dân chủ Pháp đánh bại mưu toan cướp chính
quyền của đảng Cộng Sản Pháp, lực lượng mạnh nhất lúc bấy giờ, mạnh đến nỗi
đã đánh bật vị anh hùng cứu quốc De Gaulle ra khỏi chính quyền năm 1946.
Cũng vậy, tháng 6 năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân qua Thái Bình Dương giúp Nam
Hàn chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn và Trung Cộng. Trong những ngày đầu
của trận chiến, tướng MacArthur đã khuyên Tổng thống Lý Thừa Vãn bỏ thủ đô
Hán Thành rút về miền cực Nam để bảo toàn lực lượng mà vị Tổng thống này vì
tự ái dân tộc đã không chịu nghe theo. Đến khi Bắc quân đánh xuống như thế
chẻ tre, ông mới rút về Phú San, để từ đó cùng với quân lực Mỹ của tướng
MacArthur phản công đuổi quân thù ra khỏi vĩ tuyến thứ 38. Sau khi hòa bình
vãn hồi, nhận rõ áp lực nặng nề vẫn đe dọa đất nước, Tổng thống Lý Thừa Vãn
đã yêu cầu quân Mỹ ở lại để bảo vệ biên giới phương Bắc, đồng thời thực thi
một nền tự do dân chủ có trách nhiệm để tạo những nền móng chính trị cho nền
độc lập và cho những phát triển kinh tế lẫy lừng sau này.
Cũng tại Á Châu và gần gũi với Việt Nam hơn, Phi Luật Tân đã bị Hoa Kỳ
chiếm đóng trong và sau đại chiến thứ hai. Nhưng trong khi các nước Á Phi
khác phải đổ rất nhiều xương máu và tốn rất nhiều thời gian để giành lại độc
lập thì ngược lại, Phi Luật Tân đã được Hoa Kỳ hào hiệp trao trả chủ quyền
đất nước ngày 4 tháng 7 năm 1946, khác hẳn với chính sách duy trì chế độ
thuộc địa của các đế quốc thực dân khác như Bỉ (ở Congo), Pháp (ở Việt Nam,
Algérie), Hòa Lan (ở Nam Dương).
Để bảo vệ nền độc lập trong trường hợp bị Trung Cộng xâm lăng và để tỏ
thiện chí cho mối giao hảo hầu mở đầu những bang giao kinh tế tốt đẹp sau
này, Phi Luật Tân đã nhượng cho Hoa Kỳ thuê (Cession and Bail) hai căn cứ
quân sự lớn là Clark Air Base và Subic Bay mà số ngoại tệ thu nhận được từ
hai căn cứ này đã đóng góp rất nhiều vào việc phục hưng nền kinh tế hậu
chiến của Phi Luật Tân. Trong suốt các thập niên 1950 và 60, Hoa Kỳ đã giúp
Phi Luật Tân tối đa trên cả hai mặt kinh tế lẫn chính trị để trở thành một
trung tâm vận động của vùng Đông Nam Á mà điển hình là các định chế kinh tế,
quân sự liên vùng như ADB Asia Development Bank (Ngân Hàng Phát Triển Á
Châu), SEATO Southeast Asia Treaty Organization (Tổ chức Minh Ước Liên Phòng
Đông Nam Á) đều đặt trụ sở hoặc bộ chỉ huy trung ương tại Manila.
Một trường hợp đặc biệt khác mà tôi muốn đề cập ở đây như một bài học
lịch sử là trường hợp của Nhật Bản. Trong đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ đã từng
tiến đánh và nhiều khi chiếm đóng các đảo của Nhật tại Thái Bình Dương để
trừng phạt quốc gia này đã tấn công Trân Châu Cảng và hợp tác với Đức Quốc
Xã của Hitler.
Sau sự tàn phá khủng khiếp của hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima và
Nagasaki, ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên soái hạm Missouri, đại diện Nhật
hoàng ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện trước mặt vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao
của Quân Đội Đồng Minh tại mặt trận Thái Bình Dương là tướng MacArthur.
Những Đô đốc, Tướng lãnh, Sĩ quan thường rất kiêu hãnh của quân đội Thiên
Hoàng đã để những giọt nước mắt từ từ rơi xuống ngay cả trước mặt quân thù.
Đó là những giọt lệ chân thành và chua xót nhất của kẻ chiến bại mà đã một
thời từng đánh tan hạm đội Nga Hoàng, từng tốc chiến tốc thắng tại Lư Câu
Kiều (Trung Hoa), từng tung hoành oanh liệt khắp vùng Đông Nam Á làm bàng
hoàng cả thế giới.
Trước đó, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng Hiro Hito đã ra lệnh chấm
dứt cuộc chiến. Tại các mặt trận, quân đội Thiên Hoàng phải hạ súng, rất
nhiều sĩ quan Nhật đã dùng gươm tự sát theo truyền thống của một võ sĩ đạo
để đền nợ nước, trả ơn vua và bảo vệ danh dự cùng khí phách của một quân
nhân. Lá cờ “mặt trời mọc” từ nay vắng bóng trên bốn bể năm châu, chỉ còn
trên mấy hòn đảo xứ Phù Tang nghèo nàn đổ nát.
Trước nỗi đau khổ nhục nhã vô cùng tận của quân dân, Nhật Hoàng đã thống
thiết kêu gọi dân chúng Nhật… Hãy chịu đựng cái không chịu đựng nổi và
hãy đau khổ cái không đau khổ nổi, và hãy hướng về tương lai. Sau đó
Nhật Hoàng cắt một phần đất của Hoàng thành, nơi mà Hoàng gia trải bao đời
yêu quí gìn giữ, để tặng lại cho dân chúng như một hành động tạ tội tượng
trưng với đồng bào.
Đối với quân đội chiếm đóng Mỹ, toàn thể dân chúng Nhật đều cố nén uất
hận và che dấu căm hờn mà tự nhiên đối xử một cách lễ độ. Hễ gặp một Mỹ
kiều, dù là thuộc thành phần quân nhân hay dân sự, họ đều nghiêng mình cúi
đầu xuống, chắp tay vái chào theo tục lệ của dân Nhật. Họ không để lộ thái
độ thù hận, chống đối quá khích. Khi bị áp lực của Mỹ phải ký Hòa Ước An
Ninh Hỗ Tương San Francisco (1951) mà trong đó có điều khoản bắt Nhật không
được tái võ trang quá giới hạn phòng vệ, chính giới Nhật Bản vẫn cam chịu để
đổ dồn hết ngân sách vào sức mạnh kinh tế. Thái độ ẩn nhẫn có vẻ khiếp nhược
đó, một phần do lời kêu gọi “tôn trọng kỷ luật đối với kẻ chiến thắng” của
nhà vua, một phần là do tính tình khôn ngoan, cẩn trọng, thức thời, và ý
thức chính trị sáng suốt của con cháu Thái Dương Thần Nữ. Họ dìu dắt nhau,
chỉ dẫn nhau trong ý thức “thất bại là mẹ thành công” để xây dựng lại quê
hương. Chính nhờ triệt để thể hiện cái ý thức khôn ngoan đó mà người Nhật
sớm thu lượm được những kết quả đầu tiên vô cùng to lớn mà ngay cả họ cũng
không ngờ tới.
Bài học lịch sử đó của dân tộc Nhật Bản là gì nếu không phải là bài học
về sự vận dụng sức mạnh của địch cho sự cường thịnh của chính mình. Và đàng
sau bài học đó là một bài học rất lớn khác cho chúng ta về lòng yêu nước
bằng một quan điểm sáng suốt và bằng một tinh thần thực tiễn, chứ không
phải chỉ bằng những xúc động mù quáng của một thứ tự ái dân tộc nhiều lúc
rất phản quốc.
Trường hợp của Nhật Bản cũng như trường hợp của Cộng Hòa Liên Bang Đức,
một kẻ cựu thù trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã biết mau chóng biến thù
thành bạn để cùng xây dựng một khối NATO hùng mạnh hầu ngăn chận sự bành
trướng nguy hiểm của Nga Sô. Các nhà lãnh đạo Đức, dù bảo thủ như Adenauer
hay chủ xướng Ostpolitik như Willy Brandt, đều biết vận dụng sự yểm trợ của
đồng minh lớn Hoa Kỳ để hùng cường hóa đất nước. Và dù quân đội của Mỹ có
đóng trên đất Đức, dù hỏa tiễn Pershing II có đặt căn cứ trên lãnh thổ Đức,
không ai có thể nói rằng Đức không có chủ quyền, không có độc lập.
Thật trái hẳn với trường hợp của nước ta đã không vận dụng được sức mạnh
đó để cứu nước chứ đừng nói đến dựng nước, mà lại còn mất chủ quyền, mất độc
lập nữa! Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ông Diệm đã không làm nổi một Nhật Hoàng
Hiro Hito, một De Gaulle, một Lý Thừa Vãn thì làm sao trách được sau này
Nguyễn Văn Thiệu không biến miền Nam thành một chư hầu trong quỹ đạo Hoa Kỳ.
Nêu lên một số sự kiện lịch sử trên đây từ Âu qua Á, từ bạn đến thù, tôi
chỉ muốn nói rằng sau Thế Chiến thứ Hai, trước mưu đồ bành trướng của Cộng
Sản quốc tế, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ dù là đối đầu (Confrontation),
ngăn chận (Containment), hay lật ngược (Rollover, chữ của tạp
chí Foreign Affairs), thì cũng đều nhằm đem sức mạnh quân sự, sức
mạnh tài lực, sức mạnh kỹ thuật của mình ra mà cứu bạn và xây dựng cho bạn
thì mới cứu được mình và mới xây dựng được mình.
Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ sau Đệ Nhị Thế Chiến
cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Ngay sau Thế chiến thứ nhì, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chủ trương
yểm trợ cho các phong trào “giải phóng dân tộc” của các quốc gia thuộc địa
trong khuôn khổ của phong trào giải thực toàn cầu mà Việt Nam là một thí
điểm kiểu mẫu. Ngay trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương, ngày 22 tháng
8 năm 1945, một phái đoàn Mỹ gồm năm sĩ quan do Thiếu tá Archimede L. Patti
cầm đầu đã nhảy dù xuống vùng thượng du Bắc Việt giúp ông Hồ Chí Minh kháng
Nhật, và chính phái đoàn Mỹ này đã về Hà Nội dự lễ Độc lập đầu tiên của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng khi ông Hồ Chí Minh và Việt Minh để lộ màu
sắc Cộng Sản thì phái đoàn Patti được lệnh chấm dứt mọi liên hệ để hồi
hương. Cuộc chiến tranh giữa Cộng sản Việt Nam vận dụng dân tộc và thực dân
Pháp đội lốt “quốc gia chống Cộng” bắt đầu ngay sau đó. Ngày 29 tháng 12 năm
1947, cựu Đại sứ Hoa Kỳ William Bullit viết trên tờ Life Magazine một
bài báo gọi trận chiến tranh Đông Dương là “trận chiến tranh buồn thảm nhất”
(the saddest war), ông kêu gọi Pháp phải trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam
dù là một Việt Nam do Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo.
Lời kêu gọi của William Bullit tuy ngây thơ nhưng phát xuất từ tâm thức
“giải phóng dân tộc”, bắt nguồn từ chính cuộc cách mạng lập quốc 1776 giải
phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Anh, đã đánh động được dư luận Hoa Kỳ, vì
vậy khi Điện Biên Phủ lâm nguy (tháng 5 năm 1954) và khi chính phủ Pháp yêu
cầu Hoa Kỳ yểm trợ bằng lực lượng không quân thì Tổng thống Eisenhower và
Ngoại trưởng Foster Dulles từ chối. Quan điểm của Ngoại trưởng Dulles lúc
bấy giờ là nếu Pháp muốn Hoa Kỳ cứu viện thì phải chịu hai điều kiện: một là
phải trả độc lập hoàn toàn cho thành phần quốc gia Việt Nam không Cộng Sản,
và hai là Mỹ phải giành lấy trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh Đông
Dương. Tuy nhiên, phần vì chính phủ Anh không chấp thuận việc đồng minh tham
chiến tại Đông Dương, phần khác vì cả Pháp lẫn khối Cộng Sản đều muốn giải
quyết mau chóng vấn đề Việt Nam nên chủ trương của Ngoại trưởng Dulles đã
không được thực hiện.
Quy ước của Hội nghị Genève 1954 đã tạm thời chia đôi đất nước tại vĩ
tuyến 17. Phản ánh đúng đắn đường lối ngoại giao của mình, Hoa Kỳ can thiệp
mạnh mẽ vào vấn đề Đông Dương mà cụ thể là giúp ông Diệm về nước để xây dựng
một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á. Vì tiền đồn đó, nếu muốn đóng vai
trò chống Cộng hữu hiệu thì phải thật sự tự do, dân chủ trên mặt chính trị,
và phải thật sự hùng mạnh trên mặt kinh tế và quân sự, nên Hoa Kỳ đã không
ngại ngùng dùng mọi kế sách và phương tiện để ủng hộ cho miền Nam, kể cả
việc không tôn trọng hai điều khoản quan trọng của hội nghị Genève về vấn đề
Tổng Tuyển Cử (năm 1956) và về vấn đề quân đội ngoại nhập. Quân viện và kinh
viện Hoa Kỳ đổ vào miền Nam như thác đổ, chuyên viên và phương tiện Hoa Kỳ
như một kho tàng bất tận cho nhà cầm quyền miền Nam sử dụng; tiếc thay, anh
em ông Diệm đã không biết vận dụng sức mạnh đó để bổ túc cho sức mạnh cốt
lõi của dân tộc hầu chống Cộng cứu nước và phát triển quốc gia. Đã thế, khi
không chống nổi Cộng Sản và trước những áp lực chính đáng của Hoa Kỳ đòi cải
tiến chế độ, họ lại phản bội cả dân tộc lẫn đồng minh để thỏa hiệp với chính
kẻ thù Cộng Sản. Năm 1963 ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố rất rõ ràng:
“Tôi chống Cộng trên quan điểm ý thức hệ, tôi không phải là người
chống Cộng trên quan điểm chính trị hay nhân bản. Tôi xem những người
Cộng Sản như anh em, như những con chiên lạc đàn. Tôi không theo đuổi một
cuộc thánh chiến chống lại Cộng Sản vì nước tôi chỉ là một nước nhỏ bé.
Chúng tôi chỉ muốn sống trong hòa bình” .
Ở đây tôi không bàn đến sự nông cạn trí thức của ông Nhu về ý thức hệ
Cộng Sản khi tách phạm trù chính trị và nhân bản ra khỏi ý thức hệ này; tôi
cũng không cần bàn đến sự ngây thơ chính trị rất chủ quan của ông Nhu khi
cho rằng vì là một nước nhỏ bé nên không chống Cộng, tôi cũng chưa nhắc lại
tại sao năm 1955 anh em ông Diệm không chịu thực hiện một quy chế Trung lập
Hòa bình cho miền Nam mà nay lại muốn thỏa hiệp với Cộng Sản để được hòa
bình, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến lập trường của ông Nhu, người lãnh tụ
chính trị thực sự của miền Nam tự do, qua chính lược không chống Cộng Sản
nữa vì họ là người “anh em”. Trước khi đi sâu vào sự thay đổi đột ngột về
lập trường của ông Nhu và sau khi đã nhìn một cách tổng lược và khái quát về
chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với các quốc gia thân hữu hoặc đồng
minh, đặc biệt là Việt Nam, tôi xin trở lại với nguyên nhân thứ ba là sự
căng thẳng trong mối bang giao ruột thịt giữa chính quyền Mỹ và chế độ Ngô
Đình Diệm.
Để hiểu thêm về bản chất và cường độ thực sự của tình trạng căng thẳng
này, tôi xin được trình bày một số sự kiện liên hệ đến chính sách của các
chính quyền Mỹ đối với chế độ Ngô Đình Diệm, một chính sách đặt nặng tính
khuyến cáo xây dựng để chính phủ Diệm sửa sai hầu phát huy chính nghĩa chống
Cộng hơn là áp lực độc đoán để tước đoạt chủ quyền của miền Nam:
- Thứ nhất là sự kiện thay đổi một vị Đại sứ trực tính và nhằm phục vụ
cho miền Nam bằng một vị Đại sứ mềm dẻo hơn và chỉ muốn làm hài lòng ông
Diệm.
Ngay từ năm 1957, vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Ellridge Durbow đã
thấy ông Diệm tiến hành một chính sách độc tài trong việc quản trị miền Nam
cũng như đã hành xử một cách quan liêu phong kiến, khiến cho nhân dân bất
mãn và làm đình trệ các chương trình phát triển kinh tế, xã hội. Ông Durbow
cũng đã thấy được thái độ lộng quyền thất nhân tâm và phản tuyên truyền của
bà Nhu, nên đã khuyến cáo ông Diệm nhiều lần. Đặc biệt ông đề nghị giảm bớt
các hình thức làm dân bất mãn và tạo cơ hội cho địch tuyên truyền như giảm
thiểu đoàn xe hộ tống đông đảo ồn ào, như đừng bắt dân bỏ công ăn việc làm
cả ngày để chờ chực đón chào Tổng thống, như không nên ngồi chễm chệ trên
ghế bành đặt trên thuyền để sĩ quan lội nước đẩy thuyền. Ông cũng khuyên nên
để bà Nhu ra nước ngoài một thời gian hầu xoa dịu lòng căm phẫn của dân
chúng.
Nhưng những lời khuyến cáo của Đại sứ Durbow đã không có hiệu quả nào vì
lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn vẫn còn tin tưởng vào “uy tín và tài năng” của ông
Diệm nên không muốn tạo ra những mâu thuẫn cá nhân giữa hai người, làm
phương hại đến mối giao hảo đang tốt đẹp giữa hai quốc gia. Đã thế, ông Diệm
lại bày tỏ sự bất mãn đối với Hoa Thịnh Đốn về thái độ của Đại sứ Durbow mà
ông cho là “hay sinh sự” để Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm áp lực ngược lại ông
Durbow.
Quan hệ giữa ông Diệm và Đại sứ Durbow càng lúc càng trở nên căng thẳng
và lên đến cao điểm sau biến cố ngày 11–11–1960, biến cố mà vì những hằn học
cá nhân ông Nhu cứ nhất định cho là do Mỹ chủ xướng và Đại sứ Durbow là
người đóng vai trò quan trọng. Dù lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn đã thấy sự suy
sụp của chế độ mà Đại sứ Durbow từng báo trước từ lâu, nhưng vì muốn duy trì
mối liên hệ ruột thịt giữa chế độ Diệm và Hoa Kỳ cũng như vì muốn làm hài
lòng ông Nhu, Tổng thống Kennedy đã kéo Đại sứ Durbow về nước và cử Đại sứ
Nolting qua Sài Gòn thay thế, dù ông này không có nhiều hiểu biết hoặc kinh
nghiệm về Việt Nam cũng như về Đông Nam Á.
Đại sứ Nolting là một nhà trí thức hòa nhã, một nhà ngoại giao tế nhị mà
Bộ Ngoại Giao đã chỉ thị nên dùng những thái độ mềm mỏng trong khi khuyến
cáo chính phủ Diệm để khỏi chạm tự ái của những nhà lãnh đạo miền Nam. Ông
Nolting đã thi hành quá chỉ thị của thượng cấp đến độ tại Hoa Thịnh Đốn
người ta có cảm tưởng ông ta bị lôi cuốn bởi bà Nhu để trở thành một vị Đại
sứ của ông Diệm bên cạnh người Mỹ hơn là một vị Đại sứ của Mỹ tại Sài Gòn
. Cảm tưởng đó hẳn
không sai lầm vì ông Nhu đã thành công trong việc điều động viên Đại sứ dễ
vận dụng này và đã có lần khen ông Nolting là vị Đại sứ thông minh nhất của
Hoa Kỳ tại miền Nam từ trước đến nay.
Mãi cho đến tháng 3 năm 1963, khi cờ gần tàn cuộc, ông Nolting mới bắt
đầu “thức tỉnh”, làm cho một đồng nghiệp của ông, Đại sứ Pháp Roger
Lalouette, phải chế diễu: “Đại sứ Mỹ Nolting quả thật đang kẹt lắm. Nào là
những hiểu lầm giữa ông ta và Bộ Ngoại giao Mỹ, giữa ông ta và các phụ tá,
giữa ông ta và các tướng lãnh Mỹ. Ông Nolting lại đang kẹt với báo chí Mỹ,
với gia đình và chính phủ Diệm, với tất cả mọi nhà ngoại giao khác tại Sài
Gòn. Tất cả những điều kẹt đó chứng tỏ ông Nolting bắt đầu chớm hiểu”
.
Sự kiện thay thế ông Durbow bằng ông Nolting này biểu hiện một cách rất
rõ ràng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng nhượng bộ và làm thỏa mãn anh em ông Diệm dù sự
nhượng bộ đó, về dài, có làm suy yếu chính sách ngoại giao của họ tại miền
Nam nói riêng và sách lược chống Cộng tại Đông Nam Á nói chung. Ta có thể
phê phán người Mỹ thiếu cứng rắn, kém tâm lý, hoặc ta có thể phê phán họ
ngây thơ, nhưng có một điều chắc chắn mà ta phải công nhận là họ đã nhượng
bộ để làm hài lòng hai ông Diệm–Nhu khi quyết định việc thay đổi nhân sự
này.
- Thứ hai là sự kiện người Mỹ đã tìm mọi cách để nâng uy tín ông Diệm lên
cao, một uy tín đang bị sụp đổ và đang cần phải xây dựng lại gấp hầu duy trì
khả năng chống Cộng của chính quyền miền Nam.
Thật vậy, vừa làm lễ nhậm chức cuối tháng Giêng năm 1961 thì ngày 15
tháng 5, Tổng thống Kennedy đã gởi vị Phó Tổng Thống của mình qua miền Nam
để thẩm định lại tình hình tại chỗ, một tình hình không mấy lạc quan vì sự
gia tăng hoạt động của Việt Cộng và những báo cáo bi quan về các thất bại
chính trị của chính quyền miền Nam. Đồng thời Tổng thống Kennedy cũng nhờ
ông Johnson trao lại một lá thư riêng cho ông Diệm tái xác định quyết tâm
của Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ ông Diệm và yểm trợ nhân dân miền Nam chống Cộng…
Lá thư nói rõ rằng Hoa Kỳ chỉ giúp phương tiện và ngân phí mà thôi, còn việc
chiến đấu bảo vệ quê hương là do chính nhân dân miền Nam nhận lấy trách
nhiệm.
Trong chuyến viếng thăm này, để làm hài lòng bản chất tự tôn và tính kiêu
hãnh của vị lãnh đạo miền Nam, ông Johnson khi đến Sài Gòn đã không ngại
ngùng công khai ca ngợi “Tổng thống Diệm là Churchill của thập niên này”.
Nếu ta so sánh cuộc đời cũng như sự nghiệp chính trị của Thủ tướng Churchill
và ông Diệm thì ta sẽ thấy lời đề cao quá lố này chỉ là một lời tuyên bố
thuần túy thuộc ngôn ngữ ngoại giao, rất cần thiết nhằm gây lại uy tín cho
ông Diệm vốn đã suy sụp quá nhiều, và đồng thời vừa để chứng tỏ cho Cộng Sản
cũng như nhân dân miền Nam biết rằng Hoa Kỳ vẫn cương quyết ủng hộ chế độ
Ngô Đình Diệm dù những sai lầm và thất bại của chế độ đó.
Lời tuyên bố đó cần thiết đến độ Johnson đã phải dùng một sự so sánh
không những sai lầm trên mặt lịch sử mà còn hoàn toàn ngược hẳn với sự đánh
giá thầm kín của chính ông ta. Thật vậy, cũng trong chuyến viếng thăm
này, khi ngồi trên phi cơ bay thị sát các quân khu và bị ký giả Mỹ chất vấn
về lời tuyên bố đó, Phó Tổng thống Johnson đã trả lời: “Xì ! Diệm là đứa
duy nhất mà ta có ở đây” (Shit ! Diem’s the only boy we’ve got out
there”) .
Loại ngôn ngữ ngoại giao đầy thủ đoạn chính trị đó, sau này, cũng đã được
ông Nixon dùng để khen ông Thiệu là “một trong bốn lãnh tụ tài ba nhất thế
giới” tại vườn hoa Tòa Bạch Ốc vào năm 1973. Nhưng điểm khác biệt đáng chú ý
là ông Nixon khen ông Thiệu để khuyến khích thi hành hiệp định Paris cho Mỹ
có thể giải kết khỏi miền Nam trong “danh dự”, và ông Thiệu biết lời
khen đó là giả dối, còn ông Johnson khen ông Diệm là để mong tạo uy tín thêm
cho ông Diệm hầu cuộc chiến chống Cộng có thể thành công, trong lúc trong
thâm tâm thì lại nghĩ khác, nhưng ông Diệm lại không biết điều đó. Vì
không biết, nghĩa là không phát hiện ra sự giả dối và không thấy uy tín mình
đang bị mất nên ông Diệm mới dại dột tuyên bố trong một bài diễn văn đáp từ
Johnson rằng: Biên giới của Thế giới Tự Do chạy dài từ Alaska đến sông
Bến Hải, tạo cơ hội cho đài phát thanh Hà Nội lợi dụng tuyên truyền về
bản chất tay sai của chính quyền miền Nam trong quan hệ Mỹ– Diệm, và đã đập
tan cái luận cứ độc lập và dân tộc chống Cộng của chính nghĩa miền Nam trong
nhân dân.
Nhưng dù lời tuyên bố của ông Johnson có giả dối thì rõ ràng nó cũng phát
xuất từ chính sách của Mỹ muốn cho ông Diệm mạnh thêm và muốn cho miền Nam
vững thêm. Một lần nữa, ta có thể phê phán ông Johnson theo chiều hướng nào
cũng được, nhưng chắc chắn là lời tuyên bố đó phản ánh chính sách thân thiện
và ủng hộ của người Mỹ lúc bấy giờ.
- Sự kiện thứ ba là mặc dầu uy tín và sức mạnh chính trị bắt đầu bị tổn
thương sau vụ thất bại tại “Vịnh Con Heo” ở Cuba vào tháng 4 nhưng Tổng
thống Kennedy cũng đã theo lời yêu cầu của ông Diệm, tiến hành chiến dịch
tăng cường quân nhân tham chiến (ngụy trang dưới hình thức cố vấn quân sự và
chuyên viên cứu trợ nạn lụt) tại miền Nam Việt Nam sau chuyến điều nghiên
của Tướng Maxwell Taylor và Cố vấn Walt Rostow vào tháng 10 năm 1961. Chiến
dịch này đã được ông Diệm và chính quyền Mỹ đồng thuận thi hành một cách
tích cực mà sự ra đời của Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự Mỹ (American
Military Assistance Command) vào ngày 6 tháng 2 năm 1962 đã cho phép ông
Diệm nhận thêm từ 700 “cố vấn” lên đến 12.000 “cố vấn” vào giữa năm 1962.
Nghĩa là gia tăng 1.700 phần trăm trong vòng 8 tháng ! Sự gia tăng đó
mạnh mẽ cả về mặt ý chí lẫn sức mạnh đến nỗi Trưởng phái đoàn Ba Lan trong
Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến khi đến Bắc Kinh cũng đã nhận thấy “cấp
lãnh đạo Trung Cộng rất lo lắng về sự can thiệp càng lúc càng gia tăng của
người Mỹ tại Việt Nam” .
Tất cả chiến dịch đó đã được chính quyền Mỹ khôn khéo trốn tránh chính
Quốc Hội và báo chí Hoa Kỳ (vốn đang bắt đầu có khuynh hướng chống việc gửi
quân nhân Mỹ tham chiến tại ngoại quốc sau vụ thất bại tại Cuba) để mạo hiểm
một mặt thỏa mãn lời yêu cầu của chính phủ Diệm, và mặt khác để bảo đảm sự
thành công của cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam.
Thật vậy, mặc dù trong cuộc thảo luận với Phó Tổng thống Johnson trước đó
năm tháng ông Diệm đã không muốn đem quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, nhưng
khốn nỗi vào tháng 10, khi tướng Taylor đang trên đường đến Sài Gòn thì Việt
Cộng phát động các đợt tấn công dữ dội vào tỉnh lỵ Phước Thành, đốt phá các
cơ sở, giết hại cả Tỉnh trưởng lẫn Phó Tỉnh trưởng và rất nhiều binh sĩ, cán
bộ, công chức; đồng thời Việt Cộng lại tấn công nhiều quận lỵ của tỉnh
Darlac và tung ra nhiều đơn vị lớn đánh phá khắp miền Nam, công hãm các đồn
bót chiến lược dọc quốc lộ số 4 và gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng Việt
Nam Cọng Hòa. Tình hình an ninh suy sụp đó khiến cho ông Diệm sợ hãi một
cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng nên ông bèn đưa ra lời tuyên bố chính thức
rằng chiến tranh thật sự đã xảy ra tại miền Nam.
Vì không còn giữ ý định chống lại việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền
Nam nữa nên ông Diệm đã yêu cầu Mỹ đem một số “quân chiến đấu tượng trưng”
vào miền Nam và lớn tiếng kêu gọi Hoa Kỳ cùng với Việt Nam Cộng Hòa ký một
hiệp ước phòng thủ song phương .
Trước lời kêu gọi đó của ông Diệm, và trước tình hình an ninh suy thoái một
cách trầm trọng của miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu Hoa Kỳ cũng khuyến cáo Tổng
thống Mỹ nên gởi quân qua Việt Nam tham chiến. Ý kiến này được Thứ trưởng
Quốc phòng William P. Bundy ủng hộ mạnh mẽ vì theo ông Bundy, sách lược “tốc
chiến tốc thắng” có thể giúp ông Diệm nhiều may mắn hơn và có thể lật ngược
thế cờ. Nhưng vì việc quân đội Mỹ công khai tham chiến tại Việt Nam có thể
gây nhiều phức tạp trong nội bộ chính trị Hoa Kỳ cũng như có thể gây các
phản ứng quốc tế nguy hiểm, nên Tòa Bạch Ốc bề ngoài đã phải giảm thiểu
những thúc giục ồn ào tại cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn, bằng cách giả vờ lộ
một số tin tức cho nhật báo New York Times, tiết lộ rằng “các cấp
lãnh đạo ở Ngũ Giác Đài cũng như Đại tướng Taylor đều tỏ ra miễn cưỡng về
việc gởi các đơn vị chiến đấu Mỹ sang Đông Nam Á”. Bài báo này đã chận đứng
được những tuyên bố quá lộ liễu của ông Diệm.
Những sự kiện trên đây cho thấy mới giữa năm 1961 mà tình hình chiến sự
tại miền Nam đã đến độ nguy ngập như tôi đã trình bày trong một chương
trước. Sự kiện trên đây cũng cho thấy ông Diệm đã hoảng sợ, phải yêu cầu Mỹ
tăng viện, kể cả việc đem quân chiến đấu ngoại quốc vào miền Nam (sự
thật lịch sử này đã bị nhóm Công Giáo Cần Lao bóp méo với luận điệu cho rằng
ông Diệm bị Mỹ giết vì không chịu cho quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước
mình). Sự thật rõ ràng là chẳng những ông Diệm đòi quân Mỹ vào miền Nam, mà
còn nhờ Mỹ vận động với Trung Hoa Dân Quốc gởi một sư đoàn qua Việt Nam tham
chiến. Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài dưới đây tiết lộ một bản mật điện của
Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gởi về Hoa Thịnh Đốn, trình bày về cuộc thương
thảo giữa Đại sứ Nolting và ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Quốc Phòng kiêm
Bộ trưởng Phủ Tổng Thống, cho thấy những bí ẩn đó:
# 25 Những Đòi Hỏi Vào Năm 1961 Của Nam Việt Nam Về Những Đơn Vị Tác
Chiến Hoa Kỳ.
Điện văn từ Tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gởi Bộ Ngoại Giao / 13-10-1961 / Về
những đòi hỏi của Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng của Nam Việt
Nam / Bản sao gởi Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương và Tòa đại sứ Mỹ tại
Bangkok Thailand và Taipei Taiwan / .
Trong buổi họp 13-10 Thuần đã đưa ra những đòi hỏi sau đây:
1. Thêm phi đoàn AD-6 thay vì phi đoàn T-28 như đã dự định và gởi qua
càng sớm càng tốt.
2. Yêu cầu cung cấp phi công dân sự Mỹ để lái máy bay trực thăng, và phi
cơ C-47 để bay những phi vụ tác chiến.
3. Nhiều đơn vị tác chiến Hoa Kỳ, hoặc những đơn vị gọi là “huấn luyện
tác chiến” vào Nam Việt Nam. Một phần để đóng ở phía Bắc gần vĩ tuyến 17 để
thay các lực lượng Quân Đội VNCH ở đó phải bận đi chống du kích ở vùng cao
nguyên. Và cũng để đóng ở nhiều tỉnh của vùng Cao nguyên Trung Việt.
4. Phản ứng của Hoa Kỳ về dự định của Việt Nam yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia
gởi một sư đoàn tác chiến cho mặt trận Tây Nam.
Thuần nhắc đến những tập nhật ký lấy được từ những sĩ quan Việt Minh bị
giết ở miền Trung, trong đó có tin tức về những dự án và kỹ thuật của Việt
Minh. Những tài liệu này đang được phân tích, dịch ra và sẽ được chuyển về
(Hoa Kỳ). Thuần nói: ông Diệm, vì thấy hiện tình của Lào, sự xâm nhập (của
Việt Minh) vào Nam Việt Nam và việc Tổng thống JFK gởi Taylor (qua Việt
Nam), đã yêu cầu Hoa Kỳ xét gấp những đòi hỏi của Nam Việt Nam.
Về việc đòi hỏi gởi những đơn vị huấn luyện tác chiến Mỹ, Nolting hỏi xem
ông Diệm có xét kỹ vấn đề chưa vì đã có nhiều chống đối liên tiếp đòi hỏi
này. Thuần xác nhận rằng có, và rằng ông Diệm đã đổi ý kiến (muốn
Hoa Kỳ gởi quân qua Việt Nam) vì tình hình càng ngày càng tệ hại hơn.
Thuần muốn Hoa Kỳ biểu dương lực lượng gần vĩ tuyến 17 để ngăn ngừa
Cộng Sản tấn công, và để thay thế lực lượng VNCH ở đó. Cũng cần những đơn
vị Hoa Kỳ đóng ở những tỉnh cao nguyên, cho cùng một mục đích: thay thế
cho quân lực VNCH ở đó.
Nolting nói (tại sao lại có) những đòi hỏi này ngay sau khi ông Diệm yêu
cầu có một thỏa ước của cả hai phe, như vậy có phải ông Diệm muốn thay thế
thỏa ước bằng những đòi hỏi trên hay không? Thuần trả lời những đòi hỏi trên
(giải quyết vấn đề) nhanh hơn thỏa ước. Rằng việc gởi quân sang sẽ thỏa mãn
Nam Việt Nam và thích ứng hơn một thỏa ước. (Về việc thỏa ước này, rõ ràng
Thuần chưa suy nghĩ kỹ, cũng như đã chưa bàn với ông Diệm).
Bàn về Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, Nolting nói rằng Nam Việt Nam
trước đây đã coi trọng sự hiện diện của UHQTKSĐC. Thuần đồng ý nhưng nghĩ
rằng những đòi hỏi trên không vi phạm vì những đơn vị Hoa Kỳ gởi sang để
canh phòng chứ không phải để tác chiến, ngoại trừ khi bị tấn công. Cho nên
có thể dùng những đơn vị này mà vẫn giữ được UHQTKSĐC ở Việt Nam. Nolting
nói rằng ông nghi ngờ điều này nhưng có thể thử xem (McGarr và tôi lưu ý hai
điểm: về những đơn vị dự định cho mục đích huấn luyện chỉ là một sự giả mạo
- một cái cớ - chứ không phải mục đích thật. Nếu có gởi những đơn vị Hoa Kỳ
thì các đơn vị đó phải đủ mạnh vì chắc chắn Việt Cộng sẽ tấn công).
Về lực lượng Trung Hoa, Thuần nói rằng Tưởng Giới Thạch đã có dấu hiệu
muốn giúp đỡ (tôi thấy điều này không chắc). Thuần nói chính phủ Việt Nam
không muốn quyết định về việc này nếu không có phản ứng từ Hoa Kỳ. Ý định là
dùng khoảng 10 ngàn quân (Trung Hoa) ở phía Tây Nam càng xa vĩ tuyến 17 càng
tốt. Thuần nghĩ rằng có lẽ nên đưa quân Trung Hoa vào một cách bí mật, nhưng
thấy không được sau khi phân tách lại vấn đề. Nolting nói: ông nghĩ rằng
Trung Hoa chắc sẽ muốn một quyền lợi nào đó trong việc này, có thể là phương
diện chính trị (giảm bớt áp lực chính trị) nếu gởi quân vào Á Châu lục địa
(Nolting nghĩ là chỉ để thử mà thôi).
Vấn đề chắc chắn sẽ được đặt lại với Taylor. Rõ ràng chính phủ Nam Việt
Nam không thể để mất cơ hội đòi hỏi viện trợ nhiều hơn vì sự chú ý và lo
lắng của chúng ta đã gia tăng. Nhưng tình hình quân sự và tâm lý đã đi đến
hồi mà vấn đề phải được xem xét một cách nghiêm chỉnh và nhanh chóng
.
Sau hai tuần lễ quan sát tại chỗ và thảo luận với các nhà chức trách Việt
Nam Cộng Hòa, tướng Taylor đưa ra đề nghị: tăng quân số các cố vấn quân sự
Mỹ, tăng cường chuyên viên về máy móc, gia tăng các dụng cụ tối tân cho mọi
ngành thuộc quân binh chủng VNCH, đặc biệt là việc tối tân hóa ngành truyền
tin, gởi gấp qua miền Nam trực thăng chiến đấu, thiết vận xa M–113 để tạo
lưu động tính cho các đơn vị chiến đấu miền Nam, thay thế phi cơ T–28 bằng
phi cơ AD–6, và nhiều vũ khí, dụng cụ tối tân khác… Đồng thời với đề nghị
trên đây, tướng Taylor cũng “lưu ý riêng” Tổng thống Kennedy là nên gửi qua
miền Nam 8 ngàn quân chiến đấu Mỹ, ngụy trang thành những đội chuyên viên
giúp miền Nam đối phó với trận lụt đang đe dọa vùng châu thổ sông Cửu Long.
Những sắp đặt trên đây, theo quan niệm của tướng Taylor, là một sự tham dự
giới hạn của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam theo tinh thần “limited
partnership”, nghĩa là “những cố vấn quân sự Mỹ tiến đến gần hơn (nhưng
chưa hẳn là) một bộ chỉ huy hành quân trên một chiến trường”
.
Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài trên đây và sự gia tăng nhảy vọt của số
lượng “cố vấn” Mỹ tại chiến trường Việt Nam sau đó, không những đã cải chính
sự huyênh hoang tội nghiệp của những phần tử Cần Lao Công Giáo đang cố bám
víu vào cái huyền thoại “Ngô Tổng thống không chịu cho quân Mỹ vào Việt Nam
nên bị Mỹ lật”, mà còn làm nổi bật lên một sắc thái đặc thù của liên hệ
Mỹ–Việt vào năm 1962 của chính phủ Ngô Đình Diệm: đó là dù ông Diệm có bất
lực trong việc chống Cộng, chính phủ Mỹ vẫn yểm trợ, bảo bọc ông Diệm. Và
ông Diệm đã công nhận, đã chấp thuận sự bảo bọc đó một cách quá trớn, nhất
là trong trường hợp can thiệp lộ liễu của “cố vấn” Mỹ trong những quyết định
quân sự, đến nỗi sau này, lúc hồi tưởng lại năm 1961, khi còn làm phóng viên
tiền tuyến theo dõi các cuộc hành quân, ký giả Ngô Đình Vận đã viết: “Tôi
thấy rõ quân đội trong thời đệ I Cộng Hòa đã không thực sự có được độc lập,
có được đầy đủ sự chủ động ngay cả trong lúc giao tranh với địch quân”
.
Sự yểm trợ và bao che đó lại càng nổi bật hơn nữa trong trận Ấp Bắc mà
kết quả thảm bại, dù rất rõ ràng hiển nhiên, đã được ông Diệm và bà Nhu đổi
ngược thành chiến thắng và, trong liên hệ thắm thiết Mỹ–Việt lúc bấy giờ, đã
được một số nhân vật chủ yếu của chính quyền Kennedy đồng lõa công nhận.
Thật vậy, từ đầu năm 1962, khi các cố vấn quân sự Mỹ và số khí cụ tối tân
mới được tăng viện cho miền Nam trong kế hoạch Taylor–Rostow thì quân đội
Việt Nam Cộng Hòa đã thu lượm được một số chiến thắng tại châu thổ sông Cửu
Long, và lần đầu tiên đã tiến được vào chiến khu D, rừng U Minh, vốn là
những căn cứ bất khả xâm phạm của Việt Cộng. Những chiến thắng thuần túy
quân sự đó đã gây phấn khởi cho cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn. Để yểm trợ cho
mặt trận tuyên truyền tại Hoa Kỳ, ông Diệm đã cho phép Đại Tá Huỳnh Văn Cao,
Tư lệnh Sư đoàn 7, diễn hành tại thủ đô Sài Gòn với sự tham dự của một số
Dân biểu Quốc hội. Trong lúc đó tại Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara họp
báo tuyên bố miền Nam Việt Nam của ông Diệm đang lật ngược thế cờ.
Nhưng những chiến thắng đó chỉ như bọt sóng bắn lên tung tóe rồi sau đó
tan vỡ mất vì ngay cả chỉ trên mặt thuần túy quân sự mà thôi, ưu thế lưu
động của hai chiến thuật trực thăng vận và thiết vận xa M–113 đã không được
khai thác đúng mức, hơn nữa chúng lại không hiệu dụng trong một trận chiến
mà kẻ thù đã khôn khéo phối hợp được các kỹ thuật du kích chiến với những vũ
khí tối tân do Nga viện trợ. Nhưng đó vẫn chưa phải là lý do chính khiến cho
Việt Cộng dành lại được ưu thế trên chiến trường mà lý do chính là vào những
năm đầu thập niên 1960, tinh thần chiến đấu của binh sĩ đã không còn hăng
say nữa. Tình cảm bất mãn chế độ, bất mãn cấp lãnh đạo là gia đình ông Ngô
Đình Diệm phát xuất từ những sự kiện rất thực tế trước mắt, rất liên hệ trực
tiếp đến bản thân của sĩ quan và binh sĩ, đã làm suy giảm rất nhiều tinh
thần hăng say và quyết tâm chiến đấu của quân lực.
Giữa năm 1962, hai phi công Quốc và Cử ném bom dinh Độc Lập định giết cả
nhà, tức là cả chế độ, của ông Ngô Đình Diệm lại càng nung nấu và càng làm
lan rộng sự bất mãn đó. Đầu năm 1963, ba cán bộ Cần Lao Công Giáo của ông
Diệm là Tư lệnh Vùng 4 Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bùi Đình Đạm và
Thiếu tá Tỉnh trưởng Định Tường Lâm Quang Thơ, với quân số đông hơn, với vũ
khí hiện đại hơn, lại hứng chịu thảm bại nhục nhã tại Ấp Bắc trước tiểu đoàn
514 của địch không đến 400 quân. (Xin xem thêm “The Bright Shining Lie”
của Neil Sheehan. Bản dịch Việt ngữ “Sự Lừa Dối Hào Nhoáng” của Nhà Xuất Bản
Hồng Lĩnh, 1991).
Thảm bại rõ ràng này không những đã khiến cho tướng Lê Văn Tỵ phải đích
thân xuống điều tra tại chỗ mà chính các cố vấn quân sự Mỹ, đặc biệt là
Trung Tá John Paul Vann – người phối hợp các phương tiện hỏa lực gồm M–113,
trực thăng UH–1A, trực thăng CH–21, các đơn vị quân đội Mỹ trong vùng cho
trận Ấp Bắc này – đã phải nhục nhã gọi là “một thành tích khốn nạn”
vì tướng Cao đã “chọn lựa tăng cường sự thất bại thay vì nỗ lực để chiến
thắng” (“A miserable damn performance… They choose to reinforce defeat
rather than to try for victory”) .
Báo chí Mỹ tức giận vì sự bất lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và sự vô
hiệu của các chiến cụ viện trợ, đã phanh phui sự thất bại đó và còn quá
khích đòi hỏi chính quyền Mỹ phải giành lấy quyền lãnh đạo chiến tranh tại
Việt Nam để tiêu diệt Cộng Sản. Thảm bại đã rõ ràng như thế, nhưng để tránh
cho cuộc khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn khỏi lan rộng thêm vì một thất
bại quân sự nặng nề, ông Diệm – và ngay cả bà Nhu, người không có thẩm quyền
về các vấn đề quân sự – đã tuyên bố rằng Ấp Bắc là một chiến thắng oai hùng
của Sư đoàn 7.
Các nhà lãnh đạo Mỹ, đặc biệt là Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, Đại sứ
Nolting, Đại Tướng Tư lệnh Quân Đội Mỹ tại Việt Nam Paul Harkins, đành phải
bênh vực ông Diệm bằng cách xác nhận đó là một chiến thắng
. Thái độ bưng bít
sự thật để tiến hành chính sách – mà trong giai đoạn đó là chính sách ủng hộ
“người hùng” Ngô Đình Diệm – còn tiếp diễn dài dài sau này suốt cuộc chiến
Việt Nam. Ở đây tôi không phân tích về những lợi và hại của thái độ đó, mà
tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng qua thái độ đó thì cho đến đầu năm 1963, mối
liên hệ giữa các nhà lãnh đạo Mỹ và ông Diệm vẫn rất thắm thiết. Thắm thiết
đến độ phải nói láo để bênh vực cho cái thế và cái lực của một con tốt vô
dụng vào lúc cờ tàn.
- Sự kiện thứ năm là sự đồng lõa của một số viên chức cao cấp Hoa Kỳ nhằm
che dấu những thất bại của quốc sách ấp chiến lược hầu bảo vệ ông Diệm.
Chương trình Ấp Chiến Lược là do sáng kiến của ông Thompson người Anh, Cố
lấn Du Kích chiến của Tòa Bạch Ốc. Chương trình này đã được Tổng thống
Kennedy hết lòng yểm trợ và đặt hết hy vọng vào hiệu quả của nó mà sự thành
công đã được chứng nghiệm tại Mã Lai dù điều kiện ứng dụng có khác. Khi Mỹ
đề nghị thực hiện chương trình này trong mục đích tiêu diệt hạ tầng cơ sở
của Việt Cộng tại nông thôn thì bị ông Ngô Đình Nhu bác bỏ. Mỹ phải vận động
mãi và đặc biệt phải tăng tài phí lên rất cao ông Nhu mới chấp thuận. Khi
tiền viện trợ bắt đầu được tháo khoán, ông Nhu đích thân nắm lấy việc điều
khiển thực hiện chương trình và cho áp dụng kế sách riêng của ông ta theo
đường hướng của chủ nghĩa “nhân vị” và đặc biệt để tạo một bộ máy nhân sự
trung thành với chế độ .
Mà bộ máy trung thành đó có mục đích quyết liệt nhất là gì nếu không phải là
nhân danh công cuộc chống Cộng để phát động và thực hiện cho được âm mưu
Công giáo hóa nhân dân trong các Ấp Chiến Lược như tôi đã trình bày ở một
chương trước.
Nếu công cuộc thực hiện chương trình Ấp Chiến Lược được tiến hành một
cách thực tế hơn, nghĩa là dựa trên thực tế chính trị quân sự cũng như thực
tế xã hội nhân văn của miền Nam, và nếu được thực hiện bởi một cơ cấu nhân
sự trong sạch và vì dân chứ không phải tham nhũng và vì bè phái mà cụ thể là
đừng bắt dân đóng góp vật liệu, đừng bắt dân chúng lao động cực nhọc suốt
đêm ngày không công, đừng quá cứng rắn trong việc bắt dân dời nhà cửa vườn
tược của ông cha họ để lại, nghĩa là đừng làm mất lòng dân quá đáng, thì có
lẽ kế hoạch Ấp Chiến Lược cũng đã có thể thu hoạch được phần nào thành quả.
Khốn nỗi, chương trình Ấp Chiến Lược lại được chỉ đạo và kiểm soát bởi một
Ngô Đình Nhu bệnh hoạn nên mới trở thành một hỏa diệm sơn thù hận chế độ và
làm suy yếu luôn sức mạnh chống Cộng ở miền Nam.
Trước sự thất bại và hệ quả nguy hại rõ ràng đó, ông Rufus Phillips, nhân
viên cao cấp nhất của Mỹ đặc trách về chương trình Ấp Chiến Lược, đã phải
phúc trình trực tiếp với Tổng thống Kennedy để yêu cầu tái xét lại ngay cả
sự cần thiết của chương trình này. Nhưng một lần nữa, những nhân vật rường
cột của chánh sách Mỹ tại Việt Nam như Ngoại trưởng Rusk, Bộ trưởng
McNamara, Đại sứ Nolting, Tướng Harkins, và ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao
Roger Hillsman (người sau này quyết liệt ủng hộ việc lật đổ chế độ Diệm) vẫn
bênh vực ông Diệm và cho rằng chương trình Ấp Chiến Lược đã thành công.
Mặc dầu thái độ của họ phát xuất trước hết từ những động cơ khác như vì
quyền lợi của Mỹ, như vì chính sách chống Cộng toàn cầu, như vì muốn giới
hạn vai trò của báo chí… nhưng thái độ đó – khi che dấu sự thật và nhận định
trái ngược hẳn với chính người trực tiếp phụ trách công tác là ông Rufus
Phillips – cũng phát xuất từ ý định nâng đỡ và bao che cho chế độ Ngô Đình
Diệm, nếu không muốn nói là bênh vực và chiều thuận chế độ đó.
-o0o-
Nhìn mối bang giao Mỹ–Việt, đặc biệt là liên hệ giữa chế độ Diệm và các
cấp lãnh đạo Hoa Kỳ, trong suốt chín, mười năm trời cai trị miền Nam, anh em
ông Diệm đã phạm không biết bao nhiêu lỗi lầm trầm trọng, ta thấy dù những
lỗi lầm đó đã đưa đất nước từ thanh bình đến rối loạn, từ cảnh an ninh đến
tình trạng chiến tranh thật sự, thế mà người Mỹ vẫn một lòng ủng hộ ông Diệm
và chế độ của ông ta. Người Mỹ đã chân thành khuyến cáo để anh em ông Diệm
sửa sai, khuyến cáo không nổi thì nhượng bộ, chiều lụy, thế mà ngược lại anh
em ông Diệm vẫn cứ chê trách chống báng. Mà sự chống báng đó thật ra không
phải phát xuất từ thể diện quốc gia (còn gì mà thể diện khi đã được khai
sinh và nuôi dưỡng) hay độc lập dân tộc (còn gì mà độc lập khi quân viện và
kinh viện đã tràn ngập đất nước) mà phát xuất từ bản chất phong kiến,
quan liêu, tự tôn, tự đại của anh em dòng họ Ngô Đình.
Năm sự kiện tiêu biểu mà tôi vừa kể trên kia đã chứng minh thái độ chịu
đựng của người Mỹ trước sự ngoan cố của anh em ông Diệm. Lời trình bày của
ký giả Robert Shaplen dưới đây còn mô tả rõ hơn nỗi chán chường và khổ tâm
của người Mỹ trong việc giao thiệp với những nhà lãnh đạo của miền Nam Việt
Nam:
Đến tháng Giêng năm 1962, sau những cuộc thảo luận kéo dài, một bản thông
cáo ra đời cho thấy rõ ràng Diệm và Nhu đã thu hoạch tất cả những gì họ muốn
về vấn đề tăng viện quân sự và kinh tế, mặc dầu không có dấu hiệu nào cho
thấy họ cố ý thật sự thực hiện những cải cách. Đây là khúc quanh cuối cùng
trong liên hệ lâu dài và đau đớn giữa chúng ta và Diệm. Những ai trong chúng
ta đã từng ở Trung Hoa vào năm 1946 và có theo dõi cố gắng của người Mỹ
trong việc lôi kéo Tưởng Giới Thạch chấp nhận thực hiện cải cách thì có thể
làm một sự so sánh ở đây. Mỗi lần chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang đạt được
thành quả với Tưởng Giới Thạch và đang dễ dãi với thành phần cấp tiến của
Quốc Dân Đảng, thì vô tình chúng ta đã làm cho thành phần bảo thủ chung
quanh Tưởng Giới Thạch có thể thuyết phục ông ta không nên thực hiện bất cứ
chương trình cải cách nào mà người Mỹ muốn, bởi vì chúng ta (người Mỹ) đã
gián tiếp xác định rằng chúng ta sẽ tiếp tục hỗ trợ cho ông ta trong cuộc
chiến chống Cộng Sản. Ở Sài Gòn vào khoảng thời gian thương thảo 1961-1962,
Nhu cũng đã giữ vai trò giống như vai trò của thành phần phản động trong
Quốc Dân Đảng. Nhu đã nói với Diệm rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ chế độ (Diệm), và
do đó không cần phải nghe theo những đòi hỏi cải cách của Mỹ. Hệ quả của
việc để cho Diệm ở vị trí ưu thế này là người Mỹ ở Sài Gòn, một lần nữa lại
bị bắt buộc phải lễ độ trong việc thuyết phục và khuyến cáo. Điều đó cho
thấy thế đứng của chúng ta lúc bấy giờ bị yếu hẳn, và rồi cuối cùng sẽ không
tránh khỏi rối loạn. Chúng ta đã cho người Việt Nam điều kiện để họ lạm dụng
ý niệm “chủ quyền”, một người chán nản đã nói như vậy. Bề ngoài thì Tòa đại
sứ làm bộ như đang thấy có những tiến bộ tại Việt Nam. Một nhân viên cao cấp
khác đã nói với tôi vài tháng sau đó: “Thời gian rất cần thiết, chúng ta
chưa sẵn sàng để thấy đứa bé ra khỏi bồn tắm. Tôi hy vọng thấy đứa bé sẽ ăn
nhiều hơn từ tuần này qua tuần nọ.” Tuy nhiên, lúc riêng tư, thì hầu hết các
nhân viên đều nói rõ sự bất mãn của họ đối với tình trạng đang suy sụp dần.
Một nhân viên nữa của Tòa đại sứ đã nói một cách tuyệt vọng rằng: “Chúng ta
đã hiến mình quá nhiều cho Diệm rồi, nhưng chúng ta cũng phải giữ thế quân
bằng. Có nhiều cách để làm áp lực: một cách là chúng ta có thể chận lại
nhiều chương trình như Diệm-Nhu đã chận và không cho Diệm-Nhu những gì họ
đòi hỏi. Hay nói thẳng với họ: “Các ông không muốn làm như vậy à? Ok, vậy
thì chúng tôi cũng sẽ không làm như vậy”. Có thể gọi đó là lối phản kháng
tiêu cực, cũng như đó là lối chơi theo kiểu Đông phương xưa, và đã đến lúc
chúng ta cũng phải học cách chơi theo kiểu đó” .
Ngoài Robert Shaplen đã có nhận định trên, ký giả
Karnow còn có ý kiến sâu sắc hơn:
...Trong thời gian đó, Diệm chống lại khuyến cáo của Hoa Kỳ trong việc
cải cách chế độ bởi vì Diệm biết rằng Hoa Kỳ cần Diệm để chống Cộng. Như một
giới chức Mỹ ở Sài Gòn đã nói: “Diệm là một thứ bù nhìn tự kéo lấy dây” (a
puppet who pulled his own strings). Diệm dùng phương tiện Mỹ cho những nhu
cầu riêng tư, ông ta không quan tâm nhiều đến một quân đội chống du kích mà
lại lo thành lập những đơn vị để bảo vệ ông ta chống lại những người quốc
gia đối lập tại Sài Gòn .
Những nhận định này nói lên thủ đoạn của anh em ông Diệm lợi dụng chính
sách chống Cộng trong chủ thuyết Domino của người Mỹ để thao túng các kế
hoạch quân viện và kinh viện, và nhất là để có thể khước từ những khuyến cáo
thực thi dân chủ và hiệu dụng hóa khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam
Cọng Hòa mà người Mỹ đã nhiều lần thúc giục. Những nhận định đó cũng nói
thêm một điểm rất cơ bản khác là cho đến trước khi xảy ra vụ tấn phá chùa
chiền vào tháng Tám năm 1963, người Mỹ vẫn tiếp tục “ngậm đắng nuốt cay”
chịu đựng chế độ Ngô Đình Diệm, một chế độ đang bị chính nhân dân và quân
đội miền Nam căm phẫn, một chế độ đang bị chính giới và công luận Hoa Kỳ lên
án.
Phân tích dưới đây của một người bạn Mỹ rất thân của ông Diệm lại trình
bày rõ hơn về những thăng trầm trong liên hệ Việt–Mỹ qua suốt gần mười năm
dan díu:
Giải quyết vấn đề dân di cư đã cho thấy sự phối hợp giữa cấp chỉ huy địa
phương, tài nguyên quốc gia, và viện trợ của Mỹ có thể làm được việc. Nhưng
chính sự thành công trong lãnh vực này lại làm nổi bật lên sự yếu kém về
phương thức điều hành của chế độ Diệm trong việc giải quyết các vấn đề kinh
tế, xã hội, hành chánh và quản trị quốc gia.
Sự sống còn của quốc gia được đặt căn bản trên những kế hoạch kinh tế, xã
hội, và chính trị nhằm mục đích lôi kéo sự trung thành của nhân dân và làm
cho nhân dân quyết tâm bảo vệ chế độ chống lại những cuộc nổi dậy bằng bạo
lực. Tuy mức độ ủng hộ của nhân dân đối với Diệm không thể đo lường được dễ
dàng, những chắc chắn giữa năm 1955 và 1957, Diệm đã tạo được nhiều tiến bộ.
Ngay cả những kẻ chỉ trích chế độ khó tính nhất cũng đã phải nhận rằng, dù
ngắn ngủi, Diệm đã hưởng được sự ủng hộ của nhân dân, và điều này chứng tỏ
rằng lịch sử đã cho Diệm một cơ hội thực sự.
Nếu mức độ ủng hộ Diệm (ở Việt Nam) không chắc chắn, thì sự ủng hộ ở Hoa
Kỳ lại rất vững chãi. Viện trợ của Mỹ rất quan yếu cho Nam Việt Nam đến nỗi
có những người Mỹ ở Hoa Kỳ đã xem sự viện trợ này thay thế - chứ không phải
là một điều kiện – cho sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam. Ngay cả ông Diệm
cũng xem điều này như vậy khi ông nhận ra rằng ông đã không lôi kéo được
khối quần chúng và khối tri thức Việt Nam ủng hộ ông.
Mặc dù tinh thần quốc gia chống Cộng dưới sự lãnh đạo của ông Diệm có một
lúc có vẻ như là một thế lực khả dĩ có thể chống lại được ảnh hưởng của Việt
Cộng, nhưng đến 1960 thì rõ ràng Diệm đã không sử dụng viện trợ Mỹ để tranh
thủ lòng dân. Nhưng vì sao mà Diệm vẫn thành công trong việc duy trì được sự
ủng hộ của Hoa Kỳ trong nhiều năm mặc dù tình trạng suy sụp về sức mạnh
chính trị của ông ta đã biểu lộ rõ ràng? Và tại sao rất nhiều người Mỹ, dù
biết rõ vẫn đề và dù có cái nhìn chính trị tinh tế, lại vẫn cứ tiếp tục bênh
vực ông ta trong nhiều năm!
Để hiểu dễ dàng hơn sự tin tưởng kiên cố của những người Mỹ này, ta có
thể chia chín năm cai trị của Diệm thành ba giai đoạn. Giai đoạn Một
kéo dài khoảng một năm, trong đó, ngược lại với mọi dự đoán, Diệm đã thành
công trong việc giữ vững vị thế và đặt nền móng cho nền cai trị của ông ta.
Sự tin tưởng rằng tất cả đều tốt đẹp và rằng phép lạ đã xảy ra đã đâm rễ
trong giai đoạn hai, và sự tin tưởng đó kéo dài không quá hai năm sau đó.
Thật vậy mọi nghi ngờ về sự vững chắc của địa vị ông Diệm đã biến mất hoàn
toàn sau hai năm đầu tiên của giai đoạn Hai này, và mặc dù chế độ bắt
đầu để lộ ra những khuynh hướng chính trị tạo rắc rối cho nền cai trị, nhưng
niềm tin về khả năng hành xử theo chiều hướng xây dựng của chế độ vẫn cứ
được nẩy sinh và duy trì chính trong giai đoạn này.
Khó nói được giai đoạn Ba bắt đầu từ lúc nào. Ở Việt Nam thì sự
bất mãn chế độ đã lan rộng vào năm 1957, ở Hoa Kỳ thì những kẻ ngưỡng mộ
Diệm hồi trước đã ngưng ủng hộ ông ta sau năm 1960. Tuy nhiên giới chính
quyền Mỹ, cho đến khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 mới lên án sự
thất bại của chế độ Diệm.
Sở dĩ có một số người Mỹ lạc quan về Diệm là vì chính những người Mỹ này
cần nuôi dưỡng lạc quan cho chính họ. Chỉ có “good news” từ Sài Gòn mới giữ
được niềm tin rằng phép lạ tại Việt Nam là thật chứ không phải là một ảo
ảnh. Nhu cầu “good news” đã làm cho nhiều quan sát viên chống Cộng mang một
cái nhìn hời hợt, hay ít nhất đã bỏ qua những thất bại của Diệm, và sự kiện
này đã làm cho những báo cáo về thành quả của Diệm trở thành vô giá trị
.
Giáo sư Buttinger, được xem như “khai quốc công thần” của chế độ Diệm,
rồi giáo sư Fishel, Đại tá Lansdale, Thượng Nghị sĩ Mansfield,… những người
vừa là bạn vừa là nhân vật đỡ đầu của ông Diệm trong chính sách Mỹ, từ năm
1960, lần lượt chán nản xa rời ông Diệm trong cái tâm trạng “bỏ thì thương
mà vương thì tội”. Ngay Tổng thống Kennedy, từ trước năm 1954 và còn kéo dài
sau đó, cũng đã từng triệt để ủng hộ ông Diệm, rồi cuối cùng người ân nhân
tối quan trọng đó cũng đã bị ông Diệm phản bội khi ông bắt tay với Cộng Sản
Hà Nội.
Phần mà tôi vừa trình bày ở trên về chính sách của người Mỹ đối với các
quốc gia nhược tiểu chống Cộng, và đặc biệt đối với chế độ Ngô Đình Diệm, đã
nói lên rất rõ ràng rằng cho đến tháng Tám năm 1963 (nghĩa là cho đến ngày
ông Nhu cuồng dại tấn công các cơ sở của Phật Giáo Việt Nam), giới lãnh đạo
Mỹ chẳng những đã không tạo một áp lực nào phương hại đến sự sinh tồn của
chế độ Diệm (ngoài những khuyến cáo xây dựng để củng cố thêm chế độ) mà
ngược lại chính anh em ông Diệm đã tạo ra những căng thẳng trong mối bang
giao bằng thủ đoạn “chantage” nhân danh nhu cầu chống Cộng của người Mỹ.
Mãi cho đến đầu năm 1963, trước cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng tại
miền Nam Việt Nam mà hệ quả có thể là sự suy sụp toàn diện sức mạnh chống
Cộng của cả nước, và trước những áp lực của quần chúng Hoa Kỳ, của chính
giới Hoa Kỳ, của công luận thế giới, của các nước đồng minh, của tòa thánh
Vatican,… giới lãnh đạo Mỹ mới bắt đầu áp dụng những biện pháp cứng rắn
trong lãnh vực chính trị và viện trợ để vừa làm áp lực vừa giúp đỡ chính
quyền miền Nam sửa sai.
Nói chung, về chính trị, người Mỹ đòi chế độ phải tôn trọng và thực thi
nguyên tắc phân quyền và chính sách tản quyền để tránh tình trạng trung ương
tập quyền đang làm mù quáng và tê liệt khả năng điều hành của dinh Gia Long.
Cụ thể là để cho thành phần đối lập được tự do sinh hoạt tại nghị trường
Quốc hội cũng như trong chính giới, xét lại hệ thống bổ nhiệm nhân sự ở các
địa phương để tránh tình trạng lạm dụng quyền hành nhờ có liên hệ đặc biệt
với gia đình Tổng thống, các cuộc bầu cử từ trung ương đến địa phương phải
thực sự tự do và trong sạch… Lẽ dĩ nhiên những đòi hỏi này chỉ được người Mỹ
trình bày dưới hình thức khuyến cáo để tránh tình trạng “can thiệp vào nội
tình của nước khác”, ngược hẳn với những biện pháp khác táo bạo và mạnh mẽ
hơn trong việc kiểm soát việc sử dụng tài phí viện trợ. Vấn đề kiểm soát
tiền viện trợ này không phải chỉ vì chính quyền Mỹ muốn hiệu năng hóa công
cuộc chống Cộng mà còn vì muốn biện minh với Quốc hội Hoa Kỳ trong những
buổi điều trần về tình trạng tham chiến tại Đông Dương.
Đặc biệt, chính quyền Mỹ muốn được biết về số tiền tài trợ cho Lực Lượng
Đặc Biệt, các cơ quan công an, mật vụ, và những mật phí có được sử dụng đúng
đắn cho các công tác tình báo chống Cộng không. Đòi hỏi này đã bị ông Nhu
xem như là một áp lực của Hoa Kỳ nhằm kiểm soát những bí mật quốc phòng và
đã bị ông quyết liệt từ chối, vì ai cũng biết phần lớn của số tiền đó được
chi tiêu để xây dựng bộ máy đàn áp đối lập, xây dựng những tổ chức kinh tài
cho anh em ông và cho những hoạt động mờ ám khác.
Trong quân đội, các cố vấn Mỹ tỏ ra khắt khe hơn trong việc sử dụng các
phưong tiện của Hoa Kỳ khi hành quân, và họ cũng tham dự nhiều hơn và trực
tiếp hơn vào những trận đụng độ càng lúc càng lớn với quân Việt Cộng. Tình
trạng này đã tạo ra nhiều va chạm giữa sĩ quan Việt Nam và sĩ quan cố vấn Mỹ
về chiến thuật giao tranh với kẻ thù. Cho nên, trong thời gian đó, đã có
những sĩ quan Việt Nam không cần tiếp vận của Mỹ và vì tự ái dân tộc đã sáng
tạo ra những chiến thuật tiêu diệt địch oai hùng, nhưng cũng có rất nhiều
đơn vị trưởng khác, nhất là các sĩ quan thuộc hệ thống Cần Lao chuyên lạm
quyền để thủ lợi, không dám hành quân mà chỉ lui về thế phòng ngự giữ chặt
lấy các tỉnh lỵ cho an toàn, và để mặc nông thôn cho Việt Cộng thao túng.
Phân tích những biện pháp chính trị và quân sự, tài chánh và điều hành
của Hoa Kỳ, ta có thể nói rằng trước khi xảy ra vụ tấn công các chùa vào
tháng 8 năm 1963, người Mỹ đã không tạo ra những áp lực nặng nề nào cả mà
chỉ thể hiện những khuyến cáo của mình bằng một số biện pháp rất cụ thể để
nâng cao hiệu năng đối đầu với Cộng Sản của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Nhưng ông Ngô Đình Nhu thì không nghĩ như thế. Và dù chính Mỹ đã khai
sinh và nuôi dưỡng chế độ Diệm từ năm 1953, dù người Mỹ trong các cơ quan
then chốt đã đóng những vai trò quan trọng trong các chính sách từ nhiều năm
qua… nhưng đến khi cần chống Mỹ thì ông Nhu lại nêu lên những khuyến cáo và
những biện pháp đó làm lý do để cho rằng “bị Mỹ làm áp lực, bị Mỹ chen vào
nội tình quốc gia” dù đã 8, 9 năm đè đầu dân tộc nhờ tiền bạc và thế lực của
Mỹ.
Đến đây thì nguyên nhân thứ tư của quyết định thay đổi lập trường
từ thân Mỹ đến chống Mỹ, từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng của ông Ngô
Đình Nhu bắt đầu thành hình, mà sự thành hình đó bắt nguồn từ chính bản chất
nội tại của con người ông ta.
Những bản tính đặc biệt đó của ông Nhu là gì?
Trước hết ông Nhu là một người Việt có một tâm hồn rất Tây, thứ
Tây trí thức chuộng lý thuyết và đắm chìm trong những lý tưởng đến nỗi quên
mất thực tại. Nền giáo dục từ chương nặng nề của Pháp vào thập niên 1930 và
40, cũng như nội dung giảng huấn của trường Chartres đã bủa màng lưới lý
thuyết vây kín óc sáng tạo và tính khách quan của người thu nhận. Ông Nhu
say sưa đọc sách, càng nhiều càng tốt, mà không biết đối chiếu với thực tại
để khai mở một triết lý hành động cho chính mình cũng như cho chính quốc gia
sau này. Do đó mà những tác phẩm lý thuyết mà ông Nhu là cha đẻ sau này như
Hiến pháp Đệ nhất Cộng Hòa, Thuyết Nhân Vị, v.v… chỉ là một sự chắp vá gượng
ép của rất nhiều trào lưu tư tưởng lúc bấy giờ mà chẳng có một nội dung đặc
thù nào, lại càng không phù hợp với hiện thực chính trị và xã hội của miền
Nam Việt Nam chút nào cả.
Khi về nước phụ trách quản thủ thư viện tại Hà Nội rồi Huế, ông Nhu chỉ
là một công bộc của bộ máy cai trị Tây, suy tư và hành xử như Tây chẳng khác
một con cá biển sống thoải mái trong nước mặn. Do đó, ta không lạ gì khi
thấy ông Nhu chỉ giao du với những thành phần thuộc giai cấp thượng lưu trí
thức, và đến khi thành hôn thì cũng lấy con gái một gia đình trưởng giả
trong nếp sống phóng đãng của Hà Nội bị Âu hóa. Văn hóa Pháp chi phối mạnh
mẽ tâm hồn ông Nhu, mạnh mẽ đến nỗi khi diễn đạt, ông Nhu không dùng nổi
tiếng Việt mà phải nhờ tiếng Pháp để nói và viết. Bài “Hội Mùa Xuân tại Hà
Nội thời Hậu Lê” (La Fête de Printemps à Hanoi du temps des Lê Posterieurs),
cũng như các diễn văn của ông Diệm sau này, ông Nhu đều viết tiếng Pháp và
Võ Văn Hải dịch ra Việt văn. Con cái thì chỉ học trường Tây trường Đầm, và
trong nhà thì chỉ đối đáp với nhau bằng Pháp ngữ.
Rõ rệt hơn nữa là khi mới có chính quyền, vợ chồng Nhu đã vội chuyển tiền
ra ngoại quốc và chỉ chuyển qua Pháp hoặc Thụy Sĩ. Mua sắm nhà cửa thì cũng
tại Pháp và Ý, tạo mãi cơ sở kinh doanh dĩ nhiên cũng tại Pháp. Ba lần công
du chính thức, ông Nhu đều tìm cách ghé qua Pháp, riêng bà Nhu thì đi Pháp
hàng năm, có khi trong một năm đi hai, ba lần. Chỉ năm 1957, ông Ngô Đình
Nhu có viếng thăm Hoa Kỳ và đã được Tổng thống Eisenhower tiếp kiến.
Do đó, chính nếp sống Tây hóa, và quan điểm chính trị bị Tây hóa này đã
làm cho ông Ngô Đình Nhu, trong sự hỗn loạn của tình hình lúc bấy giờ, đã
trở nên chủ bại trong ý thức và trở về với lập trường khuynh tả của giới
trí thức Âu Châu để chấp nhận chủ nghĩa của Marx như một chủ nghĩa nhân
bản về mặt triết lý và là một hệ ý thức thuần lý về mặt sử quan, đến nỗi đã
công khai tuyền bố “Tôi không phải là người chống Cộng trên quan điểm chính
trị hay nhân bản. Tôi xem những người Cộng Sản như anh em…”
Từ tình cảm thân Tây, phục Tây và trọng Tây trên mặt tư tưởng cũng như
nếp sống đó, tâm lý chống Mỹ, khinh Mỹ, ghét Mỹ của ông Nhu chỉ là một hệ
luận tất yếu mà thôi. Và ông Nhu bị rơi vào cái vòng nhị nguyên đối đãi của
một thứ lựa chọn cứng nhắc: càng trọng Tây thì càng khinh Mỹ, càng chống Mỹ
thì càng thân Tây, chứ không tìm được cho mình một chọn lựa đặc thù nào
trên nền tảng dân tộc, để khỏi vật vờ trong thế tranh hùng ngoại bang
Tây–Mỹ.
Ngoài đặc tính nặng lý thuyết (mà là lý thuyết Tây phương) đến độ viển
vông này, ông Nhu còn bị bệnh chủ quan của một người tưởng mình quán thông
kim cổ, của một người khinh thế ngạo vật, xem trí thức và nhân sĩ miền Nam
như cỏ rác. Ông Nhu chủ quan đến độ không nhận ra rằng anh mình được làm
Tổng thống trước hết là nhờ Mỹ và tòa thánh La Mã chứ không phải nhờ những
vận động chính trị đầy tính thỏa hiệp của ông Nhu tại Sài Gòn. Ông chủ quan
đến nỗi không nhận ra rằng sau những năm đầu của chế độ, lòng dân đã bắt đầu
dao động và những tình cảm cũng như sự tín nhiệm ban đầu của nhân dân đã bắt
đầu biến đổi từ dè dặt đến nghi ngờ, từ nghi ngờ đến chống đối. Ông cũng chủ
quan đến nỗi không biết rằng những sách lược và những tổ chức của mình như
Ấp Chiến Lược, như Thanh Niên Cộng Hòa, như đảng Cần Lao Công giáo, như Lực
Lượng Đặc Biệt, như trại giam P42 không đủ khả năng để chống đỡ cho chế độ
đang bị ung thối từ trong cốt lõi. Ông cũng chủ quan đến độ vào những tháng
cuối cùng của chế độ, khi biết được tin có những vận động nhằm lật đổ chế
độ, ông vẫn dửng dưng xem thường và đánh giá rất thấp âm mưu đảo chánh của
các sĩ quan.
Tôi còn nhớ vào dạo đó, trong mấy tuần liên tiếp, cứ mỗi thứ năm từ 9 giờ
sáng đến 12 giờ trưa, ông Nhu đến câu lạc bộ Tổng Tham mưu để thuyết trình
cho khoảng 50 sĩ quan cấp Tướng và Tá gồm các chỉ huy trưởng và giám đốc
nha, sở có mặt tại Sài Gòn. Tự cho mình là trí thức khoa bảng và với uy thế
của vị Cố vấn Chính trị em ruột Tổng thống, ông Nhu đã xem các sĩ quan cao
cấp đó như những kẻ võ biền không có ý thức chính trị nên ông thao thao bất
tuyệt, dùng mọi lý luận để đả kích Phật giáo bằng những lời lẽ hung hăng,
công kích sự tham dự quá mức của người Mỹ vào nội tình Việt Nam, đề cao một
cách sống sượng các kết quả thống kê của quốc sách Ấp Chiến Lược và úp mở đề
cập đến một nước Việt Nam thống nhất trong hòa bình.
Suốt năm trời vì quá lo âu bày mưu tính kế đối phó với Phật giáo và Mỹ
nên mặt ông Nhu trông hốc hác, cặp môi đã thâm lại thâm thêm, cặp mắt vốn mờ
đục bấy giờ lại bị các quầng đen làm sâu hẳn. Ông không biết rằng càng nói
càng làm cho hội trường thêm chán ghét và căm thù. Những hứa hẹn cũng như
những đe dọa mà ông trình bày bằng một giọng lè nhè vì uống quá nhiều rượu
whisky, chỉ làm cho hội trường thêm chán nản. Làm sao ông có thể đề cập đến
lòng yêu nước và xây dựng quốc gia khi chính ông đang âm mưu thỏa hiệp với
Cộng Sản và đang làm ung thối liên hệ đồng minh với một nước bạn chống Cộng
? Nhưng ông Nhu cũng say sưa nói, và vẫn chủ quan tin rằng mình đang thuyết
phục được một hội trường vốn đã biết khá rõ về âm mưu của ông cũng như đang
có những vận động đối chọi kịch liệt với ông.
Cái bệnh chủ quan này trước đó đã dẫn ông Nhu vào thế cờ tàn mà Hà Nội
giăng bẫy và sau này dẫn ông Nhu đến cửa tử của kế hoạch Bravo.
Bản tính thứ ba của ông Nhu là liều lĩnh. Không phải liều lĩnh trong cái
nghĩa can đảm, biết trước được những khó khăn mà vẫn làm, nhưng lại là cái
nghĩa cuồng tín của một người làm mà không cần biết hậu quả sẽ xảy ra
cho mình hay cho đất nước như thế nào.
Sự liều lĩnh đó bắt nguồn từ niềm tin có tính cách tín ngưỡng về vai trò
lãnh đạo mà “ơn trên” đã ban cho, từ mặc cảm tự tôn cho mình không bao giờ
lầm lẫn và từ ảo tưởng rằng các bộ máy công an, mật vụ, các lực lượng chính
trị, tôn giáo và quân sự đã được đảng Cần Lao kiểm soát. Sự liều lĩnh đó
cũng bắt nguồn từ bản chất cá nhân của ông Nhu luôn luôn thích bạo động,
thích âm mưu, thích khuynh loát, thích thủ đoạn,… và say sưa với những bạo
động, âm mưu, khuynh loát, thủ đoạn đó.
Một linh mục người Pháp vốn biết rất rõ về con người của ông Nhu, từ năm
1959, đã nói rằng: “Nhu có đầy đủ khả năng để bắt tay với Cộng Sản. Nhu sẽ
thỏa hiệp với Cộng Sản khi nào cảm thấy bị dồn vào chân tường. Nhu là thứ
người hành xử hoàn toàn theo chính sách “sau ta là trận đại hồng thủy”
(après moi, c’est le deluge) . Sau này tính liều lĩnh đó đã thể hiện rõ ràng hơn khi:
… sự chống đối của tướng lãnh, của người Mỹ, và của Phong trào Phật giáo
đã không cho Nhu một chọn lựa nào khác hơn để bám lấy chính quyền ngoài cách
liều lĩnh thỏa hiệp với Hà Nội. Với Nhu thì không có gì là mất thể diện. Tất
cả mọi nhân chứng đều cho thấy nhà mưu sĩ của chế độ, vì sống riêng biệt
trong căn phòng bọc gấm và xa rời thực tế nông thôn, cứ tưởng chương trình
Ấp Chiến Lược là một thành công. Những phúc trình của các sĩ quan khúm núm
và các công chức sợ sệt đã cứ lải nhải (về sự thành công) như thế, còn Việt
Cộng thì họ hiểu rằng nếu có thỏa hiệp, chắc chắn họ sẽ có lợi
.
Vừa chuộng lý thuyết vừa nặng đầu óc chủ quan, lại tính liều lĩnh nên khi
bị dồn vào thế đường cùng thì ông Nhu không thể làm gì khác hơn là quay về
thỏa hiệp với kẻ thù Cộng Sản, một kẻ thù mà vì đầu óc tiêm nhiễm những lý
thuyết khuynh tả Tây phương, ông Nhu đã không thấy nó phi nhân bản và phản
tiến hóa, một kẻ thù mà nặng đầu óc chủ quan, ông Nhu đã không đánh giá được
một tương quan lực lượng rất bất lợi cho miền Nam, một kẻ thù mà vì tính
liều lĩnh thủ đoạn, ông Nhu đã không cần biết những hậu quả gì sẽ xảy ra sau
khi thỏa hiệp.
-o0o-
Bốn nguyên nhân mà tôi đề cập ở trên có thể xem như là những sức đẩy
hăm dọa sự an toàn của chế độ: Nhân dân miền Nam đẩy ông Nhu ra khỏi tư thế
lãnh đạo, Việt Cộng đẩy ông Nhu ra khỏi vị trí đại diện chính đáng, chính
quyền Mỹ đẩy ông Nhu ra khỏi tác phong độc tôn độc tài, và bản chất chủ quan
đẩy ông Nhu ra khỏi những khôn khéo chính trị tối thiểu của một người nắm
vận mệnh đất nước. Trước những sức đẩy đó, ông Nhu hạ tay đi thế cờ tội ác
chót: Thỏa hiệp với Cộng Sản để hóa giải mọi sức đẩy đang làm lung lay chế
độ, đang đe dọa sự an toàn của bản thân ông Nhu, của gia tộc Ngô Đình và của
bè phái Cần Lao.
Thật vậy, thỏa hiệp được với Hà Nội thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sẽ
không còn vai trò để đóng, Mỹ sẽ không có lý do để áp lực, nhân dân miền Nam
sẽ không còn tư thế để thay ông Nhu chống Cộng, và riêng cá nhân ông Nhu sẽ
kiêu hãnh làm được nhiệm vụ lịch sử hòa hợp với những người “anh em” bên
kia. Cũng trong con tính thỏa hiệp liều lĩnh này, ông Nhu tin chắc rằng Mỹ
sẽ không bao giờ bỏ miền Nam mà phải trở nên “dễ bảo” hơn để quân bình ảnh
hưởng của Cộng Sản; các sức mạnh của ông Nhu như đảng Cần Lao, Ấp Chiến
Lược, khối Công giáo di cư, các bộ phận võ trang trong quân đội, mật vụ,
công an,… sẽ đủ tư cách và đủ sức mạnh để thực hiện sách lược thỏa hiệp mà
không bị phản bội.
Ông Nhu chủ quan và liều lĩnh tính toán như vậy, nhưng còn ông Diệm thì
sao? Lập trường của ông và thái độ của ông như thế nào trong toàn bộ âm mưu
thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội của người em cật ruột ?
Ông Diệm là một tín đồ Công giáo có một niềm tín ngưỡng đậm đà nhưng
không sâu sắc, ông tin tưởng tuyệt đối vào sứ mạng thiêng liêng tiêu
diệt Cộng Sản mà ông cho là hiện thân của Satan. Lập trường chính trị của
ông chỉ là một thể hiện tự nhiên những xác tín tôn giáo của ông chứ không
phải từ một chứng nghiệm hay nghiên cứu chính trị sâu sắc về chủ nghĩa
Mác–Lê, phong trào Cộng Sản và bối cảnh của dân tộc Việt Nam. Đối với ông
Diệm, là người Công giáo thì tự nhiên phải chống Cộng. Và cũng từ đó mà ông
quan niệm chắc nịch rằng chỉ có người Công giáo mới chống Cộng thật sự mà
thôi. Toàn bộ quan điểm chống Cộng của ông Diệm cũng như đa số những người
đồng đạo của ông ta bắt nguồn từ cái sứ mạng tông đồ tiêu diệt ma quỷ để
làm sáng danh Chúa, hơn là từ những tình cảm hoặc ý thức dân tộc, nhân
quyền, bình đẳng, tự do… Vì thế cho nên khi quân đội Pháp trở lại Việt Nam
vào năm 1945–46 dưới quyền chỉ huy của một vị tu sĩ là Đô đốc Thierry d’
Argenlieu thì hầu hết người Công giáo Việt Nam đều chọn lựa theo ủng hộ đạo
quân xâm lược mượn chiêu bài chống Cộng này, chứ không có một chút ngần ngại
chính trị nào giữa hai chọn lựa “theo Kháng Chiến chống Tây” hay “theo Tây
chống Cộng Sản” như tình trạng khá phổ quát của đa số các bộ phận khác của
dân tộc lúc bấy giờ. Dó đó, nhiều đạo Thân binh hợp tác với quân đội viễn
chinh Pháp lúc bấy giờ còn được gọi là Lính Đạo, và năm 1946, khi lực lượng
Công giáo cho phổ biến “Lá Thư Luân Lưu” và thành lập “Liên Đoàn Công giáo
Việt Nam” thì nội dung và động cơ của nó cũng lấy chủ điểm là đặc tính Vô
Thần của chủ nghĩa Cộng Sản.
Về mặt chính trị, không những cá nhân ông Diệm có mối thù máu với Cộng
Sản đã giết cha con ông Ngô Đình Khôi và giam tù ông tại Thái Nguyên, mà
chính sự nghiệp chính trị cũng như những quyền lực và danh vọng của ông đều
được xây đắp nhờ chủ trương chống Cộng của ông, do những thế lực chống Cộng
Việt Nam cũng như ngoại quốc ủng hộ. Ngày 7 tháng 12 năm 1961, ông Diệm đã
gửi cho Tổng thống Kennedy một lá thư dài trình bày tình trạng bi đát của
nhân dân miền Nam do Cộng Sản gây ra để kêu gọi vị Tổng thống nước bạn giúp
đỡ . Lá thư này đã
hợp pháp hóa và chính đáng hóa quyết định gửi quân Hoa Kỳ tham chiến tại
Việt Nam của Kennedy và củng cố thêm lập trường chống Cộng quyết liệt của
ông Diệm lúc bấy giờ. Ngay những tháng cuối cùng của chế độ, lúc ông cho tấn
công các cơ sở Phật giáo và đàn áp Tăng Ni thì ông cũng nhân danh sự đe doạ
của Cộng Sản để biện minh cho chính sách tàn bạo đó thì tại sao từ cái lập
trường thân Mỹ, chống Cộng sắt đá như thế ông lại hoán chuyển tương quan thù
bạn để chủ trương đuổi đồng minh Mỹ và bắt tay với kẻ thù Cộng Sản mà nay
ông gọi là “anh em”.
Tôi là một cán bộ trung kiên với ông Diệm vì lập trường yêu nước và chống
Cộng Sản, thì việc chuyển đổi tư tưởng và lập trường của ông đã tạo cho tôi
một nỗi băn khoăn, thắc mắc rất quan yếu. Tôi cứ tự hỏi chủ trương thỏa hiệp
với Hà Nội là chính của ông Diệm hay của ông Ngô Đình Nhu. Tôi thật tâm nghi
ngờ rằng ông Diệm đã bị ông Nhu thuyết phục lôi kéo vì ông Diệm thiếu quyết
đoán mà lại cả nể ông Ngô Đình Nhu. Thật thế, cuộc đời chính trị của ông
Diệm đã cho thấy thời làm quan Nam triều ông nổi tiếng là nhờ thái độ “cần
kiệm liêm chính” chứ không phải nhờ tài năng trí tuệ, vì mọi chính sách và
hoạt động đều đã có quan Tây chỉ bảo. Ông chỉ cần thi hành đúng đắn đường
lối cai trị và chính sách đô hộ của người Pháp là đủ để được thăng quan tiến
chức rồi. Từ ngày làm Tổng thống, vì thiếu khả năng lãnh đạo, lại mang
tính tình bất thường khi nhu khi cương, đầu óc lộn xộn, nên ông đã phải nhờ
quá nhiều vào sự giúp sức của anh em, vì vậy sau đó hoàn toàn bị anh em chi
phối điều động. Từ sau biến cố Nhảy Dù cuối năm 1960, người ta thấy tương
quan của hai anh em ông Diệm–Nhu trong Phủ Tổng thống không khác gì thời vua
Lê chúa Trịnh, dù bề ngoài ông Diệm vẫn cố giữ cái thể thống của một vị
nguyên thủ quốc gia. Từ sau cuộc đảo chánh Nhảy Dù, nhất là từ ngày dọn về
dinh Gia Long (sau cuộc ném bom dinh Độc Lập), những người trong Dinh thường
thấy ông Diệm hàng ngày kẹp hồ sơ xuống văn phòng ông Nhu ở tầng dưới để bàn
công việc, tham khảo ý kiến. Người ta có cảm tưởng ông Diệm đã hành xử như
một viên chức thừa hành mang hồ sơ đến trình bày công việc với thượng cấp là
ông Nhu. Trong biến cố Phật giáo, ông Diệm đóng vai trò của một ống loa để
tuyên bố, còn tất cả kế hoạch đối phó với cuộc khủng hoảng đều do ông Ngô
Đình Nhu thiết kế và quyết định; mà ông Nhu thì lại vốn là người quá nể vợ,
nếu không muốn nói là sợ vợ, như các nhân chứng và tài liệu đã nói rõ. Thành
ra trong dinh Tổng thống, nhất là vào những năm cuối cùng, ông Diệm đã biến
thành nhân vật thứ ba, nằm dưới quyền hành tuyệt đỉnh của vợ chồng Ngô Đình
Nhu.
Để thấy rõ bộ máy lãnh đạo tối cao của chế độ và để xác định đúng vị trí
của ông Diệm trong bộ máy này, ta hãy nghe những chứng nhân ngày ngày từng
trực tiếp theo dõi và liên hệ gần gũi với bộ máy đó mô tả. Ông Nguyễn Thái,
cựu Giám đốc Việt Tấn Xã, viết rằng:
Mặc dù là lãnh tụ của chế độ, Ngô Đình Diệm đã không thể và thật sự không
quyết định một mình, hoàn toàn độc lập khỏi những trung tâm quyền lực khác
trong chế độ được. Ngược lại ông đã bị họ ảnh hưởng, và những quyết định của
ông phản ánh không những lối suy nghĩ của ông mà còn của họ nữa. Dù ông Diệm
có biết hay không rằng ông đang bị chi phối bởi anh em khác trong gia đình
thì ông Diệm vẫn có vẻ như tha thứ, làm ngơ, hay ngay cả nương dựa vào ảnh
hưởng đó của họ.
Sự ảnh hưởng lẫn nhau và liên hệ về quyền lực giữa anh em trong hệ thống
lãnh đạo của Tổng thống Diệm được gọi là “gia đình trị”. Điều này không thể
không chú ý được bởi vì nó là trung tâm guồng máy cai trị đàng sau nền hành
chánh của Nam Việt Nam. Cũng như nếu một người không biết gì về cá nhân Ngô
Đình Diệm thì người đó không thể hiểu được sự lãnh đạo của Tổng thống Nam
Việt Nam, không thể thấy được toàn diện chính cuộc nếu người đó không quan
sát gia đình họ Ngô .
Ông Đoàn Thêm, Đổng lý Văn phòng Bộ Phủ Tổng Thống, còn đi sâu vào hiện
tượng “gia đình trị” một cách rõ ràng hơn:
Trong mấy anh em gia đình họ Ngô, ông Ngô Đình Nhu là người ảnh hưởng ông
Diệm hơn cả. Trong mấy năm đầu, ông Diệm không thấy các em ông có lỗi gì
hết. Ông tin rằng mọi sự công kích đều do lòng đố kỵ, do mưu mô ly gián của
đối phương.
Đã nhiều lần, ông nói với người chung quanh: Bà Nhu chịu khó lắm, đau
hoài mà cứ gắng làm việc công ích, thiên hạ ác miệng lắm.
Nhưng rồi ông thấy cả những người chí thân cũng phản đối nhiều hành động
của bà. Sự bất hòa giữa bà với ông Cẩn chẳng hạn, không thể giữ kín. Phải là
“chỉ đạo” mới có gan lên án bà trước ông Tổng thống. Ông Diệm hay bị trách
là nhu nhược để mặc vợ chồng ông Nhu làm mưa làm gió.
Ông Diệm biết xử trí ra sao? Có thật ông yếu ớt quá không? Tôi muốn biết
rõ hai điểm đó.
Vài người thân tín và quyến thuộc đã hiểu được nỗi khổ tâm của ông. Không
những ông phân vân giữa tư tưởng riêng tư và dư luận chung, mà ông còn hay
bị kẹt giữa những người ruột thịt.
Có bận ông về Huế ngồi phờ rất lâu, mớ tóc đen và dài rớt cả xuống trán
và mang tai, ông không nói không rằng chỉ theo thói quen khi ông suy nghĩ
nghĩa là dụi tàn thuốc lá, chưa hết nửa điếu này đã châm điếu khác để dụi
nhiều hơn.
Ông muốn trong ấm ngoài êm, thì họ cứ lục đục và giận dỗi, người nọ khích
bác người kia. Ông thương tất cả, chẳng nỡ bênh ai gạt ai. Ông cần ông Nhu
hơn hết, sao mọi người cứ muốn chặt tay ông ?
Nhưng chẳng lẽ ông không dám có phản ứng hay sao? Ông Cẩn biết tính lưỡng
lự của anh đã bảo một người cháu: giục ông Tổng thống mà không khủng bố ông
ta tất không được. Khủng bố Tổng thống là nói mạnh, dọa làm bừa nếu chưa
chịu nghe. Đồng ý hay không, bà Nhu đã biện thuyết quá hùng hồn trước mặt
ông.
Ở những trường hợp đó, người phải chứng kiến đã ái ngại cho ông Diệm. Ông
không quen mạnh dạn trước phụ nữ lại cả nể vợ yêu của người em quý nhất. Sau
hết, ông kém về ngôn ngữ và thiếu tài ứng đối nên chỉ cau mặt, không nghe,
không bác, lặng thinh, trong một bầu không khí nặng nề. Rút cuộc, ông chỉ
thở dài, hình như để tự giải thoát, giải thoát bằng tha thứ.
Ông cho là ông rộng lượng chứ không phải là ông chịu đựng. Bởi thế có lần
ông khuyên một Bộ trưởng: Thói thường đàn bà người ta hay nhiều lời. Xong
thì thôi, mình đàn ông bận tâm làm chi, cho nó yên mà lo việc lớn
.
Nhưng tất cả vấn đề là nếu “nó” không yên thì sao?
Và “Nó” đã không yên cho nên từ một đất nước thanh bình và một dân tộc
đoàn kết thời 1955–56, “Nó” đã đóng góp rất nhiều, quá nhiều, vào việc biến
thành một đất nước ly loạn và một dân tộc bị phân hóa vào năm 1962–63. Và
đến mấy tháng cuối cùng, khi bị cả dân tộc chống đối, khi bị kẻ thù đe dọa,
khi bị đồng minh khuyến cáo, và khi chồng tiến hành kế hoạch thỏa hiệp với
quân thù, thì “Nó” còn hống hách tuyên bố: “Ông Diệm không thể cai trị
miền Nam nếu không có chồng tôi. Trái lại chồng tôi có thể cầm quyền lãnh
đạo quốc gia dù không có ông Diệm” .
Nói tóm lại, ta thấy ông Diệm tuy chống Cộng nhưng là một thứ chống
Cộng bị điều kiện hóa chứ không được thúc đẩy và chỉ đạo bởi một cơ sở
lý luận vững chắc hoặc được chứng nghiệm bằng một quá trình đấu tranh sống
chết. Ông lại là một người hành xử vai trò lãnh đạo nhưng lại không có tư
cách và quyền lực của một nhà lãnh đạo. Đã thế bản tính ông lại nhu
nhược, dễ dãi, nhất là lúc phải đối phó với những vấn đề phức tạp và to lớn.
Từ lâu, ông đã tin tưởng tuyệt đối vào ông Ngô Đình Nhu là người em không
những ông thương yêu tin phục mà còn nể sợ nữa, đến độ gần như trao toàn
quyền lãnh đạo quốc gia cho em. Cho nên trong những năm 1962–63, trước những
khủng hoảng dồn dập, mà khủng hoảng nào cũng phức tạp và trầm trọng, trước
một tình thế vượt hẳn khả năng lý luận và khả năng đối phó của một người như
ông, ông đã an tâm trao hết vận mệnh của chế độ, của miền Nam, vào tay vợ
chồng Ngô Đình Nhu.
Ngay cả quyết định quan trọng nhất, và quái dị nhất, là chống Mỹ để thỏa
hiệp với Cộng Sản Hà Nội, ông cũng đã bị ông Ngô Đình Nhu thuyết phục dễ
dàng. Thái độ phủi tay trước những quyết định sinh tử đó của ông không khác
gì thái độ rửa tay để tránh trách nhiệm của viên Thống đốc Pontius Pilate
trước khi trao vận mệnh chúa Giê Su cho viên chủ tế Pha-ri-siên và lực lượng
La Mã đóng đinh Chúa lên thánh giá. Từ đó, ông hoàn toàn bị ông Ngô Đình Nhu
điều động và trở thành một con cờ đắc lực cho vợ chồng Nhu trải chiếu đánh
ván bài định mệnh với Cộng Sản Hà Nội.
Tôi có thể nói sự chuyển biến lập trường của ông Diệm, từ dao động đến bị
động, và từ bị động đến dấn thân vào âm mưu đó, chỉ có Võ Văn Hải và tôi là
biết được phần nào. Sở dĩ biết vì một phần chúng tôi là những cán bộ quá gần
gũi và thân thiết với ông Diệm đến độ vượt qua khỏi tương quan “chỉ
huy–thuộc cấp” thông thường, và phần khác là vì chúng tôi có chủ ý để tâm
khám phá âm mưu đó mà chúng tôi bắt đầu nghi ngờ từ năm 1960, sau cuộc chinh
biến của binh chủng Nhảy Dù. Bác sĩ Trần Kim Tuyến tuy là cộng sự viên số
một của ông Nhu trong dinh Độc Lập, có thể biết nhiều về ông Nhu, nhưng đối
với ông Diệm thì cũng chỉ ngưng lại ở tương quan “chỉ huy–thuộc cấp” mà
thôi.
Ai cũng biết Võ Văn Hải và tôi là hai cán bộ cốt cán của ông Diệm, và sự
tồn vong của chế độ cũng như của ông ta gắn liền với số mạng của chúng tôi
dù chúng tôi đều bị ông Nhu nghi ngờ, oán ghét, và dù chúng tôi đều căm thù
nhóm Công giáo Cần Lao, những kẻ mà chúng tôi cho là làm hại sức mạnh chính
trị và uy tín của ông Diệm. Vì thế, chúng tôi cố gắng theo dõi thực sát
đường lối và hoạt động chính trị của Phủ Tổng thống, của ông Diệm và của vợ
chồng Ngô Đình Nhu, nhất là vợ Nhu, người đàn bà mà Hải và tôi mệnh danh là
thứ “Cửu Vỹ Hồ ly tinh Đắc Kỷ”.
Sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù vào cuối năm 1960, tôi cứ thắc mắc tại sao
anh em ông Diệm–Nhu cứ kết án người Mỹ đã chủ trương cuộc đảo chánh trong
lúc chính nhờ Mỹ một phần mà Vương Văn Đông, người lãnh đạo cuộc binh biến
đã tạm ngưng tấn công dinh Độc Lập, tạo cơ hội cho ông Diệm gọi quân về phản
công. Tôi lại đã trình bày cho ông Diệm biết có thể nhóm Vương Văn Đông có
liên hệ với hệ thống gián điệp Pháp vì từ khi trốn qua Cao Miên, nhóm Vương
Văn Đông đã được tình báo của Sihanouk liên lạc và che chở ngay. Cựu Trung
tá Trần Đình Lan trong cơ quan gián điệp Pháp cũng từ Paris đến Phnom Penh
liên lạc với Vương Văn Đông, trong lúc Nguyễn Chánh Thi thì lại bị chính
quyền và quân đội Cao Miên bạc đãi. Việc này bác sĩ Tuyến còn biết rõ chi
tiết hơn tôi và đã báo cáo đầy đủ với ông Nhu.
Sự kết án lạ lùng đó đã khiến cho Hải và tôi để tâm theo dõi và tìm hiểu.
Rồi những sự kiện khác tiếp tục xảy ra như vụ Đại sứ Pháp Roger Lalouette và
ông Nhu trở nên thân thiết hơn, vụ Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hội Quốc
tế Kiểm soát Đình chiến Mieczyslaw Maneli được săn đón kỹ càng hơn, vụ công
kích người Mỹ càng lúc càng kịch liệt và liên tục hơn. Cho đến đầu năm 1963,
khi một phái đoàn Quốc hội Việt Nam Cọng Hòa thăm viếng Pháp thì Hải và tôi
không còn nghi ngờ gì nữa. Sau Tết Quý Mão (1963) độ một tháng, tôi và Hải
gặp nhau để phối kiểm mọi dữ kiện và duyệt xét toàn bộ những biến chuyển của
dinh Gia Long từ hai năm qua, và Hải đã vừa lo lắng vừa buồn rầu kết luận:
“Ông Cụ và ông Nhu đã thay đổi lập trường rồi anh Mậu ơi. Bây giờ là chống
Mỹ, bắt tay Pháp để nói chuyện với Hà Nội ! Chúng ta làm gì đi chứ?”
Làm gì bây giờ? Đó là câu hỏi lớn mà Hải và tôi cứ bị ám ảnh mãi suốt hai
mùa Xuân và Hạ của năm 1963. Đó cũng là câu hỏi đã vượt ra khỏi cái liên hệ
tình cảm giữa chúng tôi và ông Diệm để được đúng đắn đặt trong cái liên hệ
giữa chúng tôi và đất nước. Mùa Thu năm đó, khi tôi lấy quyết định cùng với
toàn dân lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm thì tôi biết Hải cũng đã lấy quyết định
rồi mà thể hiện rõ ràng nhất là trong ngày Cách mạng 1–11–63, dù ông Diệm
khẩn cấp gọi Hải nhiều lần nhưng người bạn hiền của tôi nhất quyết nằm tại
nhà, không vào Dinh. Phải nhìn vào tình bạn thắm thiết giữa ông Diệm và cụ
Án Võ Vọng, thân phụ của Hải, phải nhìn vào tình thầy trò vô cùng khắn khít
giữa ông Diệm và Hải trên 20 năm trời, và hãy nhớ hành động của Hải trong
biến cố Nhảy Dù năm 1960 mới thấy được việc Hải không vào Dinh lúc bấy giờ
là đau đớn và quyết liệt như thế nào.
-o0o-
Toàn bộ sách lược thỏa hiệp với Cộng Sản của anh em Nhu–Diệm có thể tóm
tắt trong bốn kế hoạch sau đây:
1. Công khai và cụ thể chống Mỹ, nhưng chỉ chống đến một mức độ còn kiểm
soát được, để vừa thoả mãn điều kiện tiên quyết của Hà Nội vừa lại có thể sử
dụng được lực lượng của Mỹ như một áp lực với Hà Nội, hoặc nếu cần, có thể
quay trở lại tình trạng đồng minh như cũ.
2. Vận động để một số quốc gia, đặc biệt là Pháp, đóng vai trò trung gian
và bảo đảm sự thực thi của thỏa hiệp trong và sau khi thỏa hiệp thành hình.
3. Chuẩn bị và tiến hành những biện pháp an ninh và chính trị để kiểm
soát các lực lượng quốc gia và quần chúng miền Nam trong trường hợp nổi dậy
chống đối thỏa hiệp này.
4. Trực tiếp đối thoại với chính quyền Hà Nội để thương thảo về vấn đề
chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước.
Bốn kế hoạch đó được song song tiến hành và do chính ông Ngô Đình Nhu
điều động kiểm soát. Vì tính cách tối mật và tối quan trọng của nó, những
nhân sự được chọn lựa thi hành các công tác đã là những thuộc hạ trung tín
nhất của ông Nhu, và chỉ biết được từng phần mà không biết được toàn bộ kế
hoạch. Trong một vài trường hợp đặc biệt, chính ông Nhu đã đích thân trực
tiếp thi hành công tác để bảo toàn bí mật.
Diễn tiến của bốn kế hoạch đó lúc công khai lúc bí mật, lúc thì dồn dập
lúc thì bế tắc, nhưng một cách thứ lớp thì đã xảy ra như sau:
Từ đầu năm 1960, với tư cách là trưởng nhiệm sở ngoại giao tại Luân Đôn,
ông Ngô Đình Luyện đã xin hội kiến với Tổng thống Pháp De Gaulle. Đáng lẽ
ông De Gaulle không tiếp nhưng vì ông Luyện còn là bào đệ của ông Diệm, nên
Tổng thống De Gaulle chịu tiếp trong 15 phút với tất cả sự lạnh lùng và qui
ước của một cuộc hội kiến ngoại giao. Buổi hội kiến đó nhằm mở đường cho ông
Nhu nhưng đã không mang lại kết quả nào vì năm 1961, khi ông Ngô Đình Nhu –
trên đường đi dự lễ đăng quang của vua Hassan II tại Maroc – ghé qua Paris
để xin gặp Tổng thống De Gaulle thì bị từ chối mà chỉ được Bộ trưởng Ngoại
giao Couvre de Murville tiếp kiến và mời ăn cơm. Tham dự buổi tiệc này có
các ông Phạm Khắc Hy, Bửu Hội, Đại sứ Pháp Lalouette và ông Etienne Manac,
Giám đốc Đông Nam Á Sự Vụ của Bộ Ngoại Giao Pháp (ông này rất thiên về Hà
Nội). Tuy cố gắng bày tỏ mọi cảm tình đối với nước Pháp, nhưng ông Nhu đã
không thành công trong việc thuyết phục được Couvre de Murville về một chính
sách mà nước Pháp có thể đóng một vai trò quan trọng hơn tại Việt Nam.
Nhưng nếu không thành công lớn thì ít ra ông Nhu cũng đã tạo được một mối
liên hệ tốt đẹp và hữu ích với Đại sứ Pháp Lalouette để ông này tiếp tục
thuyết phục chính quyền “nên can dự vào nội bộ Việt Nam để khuyến khích và
giúp đỡ anh em ông Diệm tránh được gọng kềm của Mỹ” (emprise americaine)
.
Năm 1961 đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong chính sách ngoại giao
của Pháp đối với Việt Nam và mang lại những kết quả tốt đẹp cho sự kiên nhẫn
của Đại sứ Lalouette trong việc liên tục thuyết phục chính phủ mình hãy can
thiệp nhiều hơn vào Việt Nam. Thật vậy, thất bại của Mỹ tại Cuba (Vịnh Con
Heo, tháng 4 năm 1961) cho một sự hoà hoãn toàn cầu, hội nghị Genève về vấn
đề Lào (tháng 5 năm 1961) để mở đầu cho một chính phủ liên hiệp do Hoàng
thân Souvanna Phouma lãnh đạo, Hà Nội đề nghị một loạt các hiệp ước hợp tác
văn hóa và kỹ thuật với Paris,… những sự kiện đó đã cho chính phủ Pháp thấy
rằng chiều hướng chính trị quốc tế, đặc biệt tại Đông Dương, đã không thuận
lợi cho Hoa Kỳ chút nào. Kẻ khổng lồ Mỹ ngây thơ vụng về đã thất bại tại
Việt Nam để Pháp có thể rửa lại cái hận năm xưa bằng cách đẩy Mỹ ra khỏi
Việt Nam hầu nắm lại ưu thế trên vùng đất cựu thuộc địa, mà ảnh hưởng văn
hóa cũng như quyền lợi kinh tế vẫn chưa bị phai mờ. Để thực hiện mục tiêu
này, trung lập hóa Đông Dương để tiến tới một Việt Nam thống nhất phi liên
kết là công thức chính trị của đường lối ngoại giao Pháp.
Bộ ngoại giao Pháp bắt đầu mở những cuộc thăm dò với Hà Nội và Sài Gòn.
Bằng cách đi chơi thuyền trên sông Sài Gòn, ông Nhu và Lalouette gặp nhau
nhiều lần để giải quyết những khác biệt cuối cùng và để hoạch định những kế
hoạch cần thiết cho việc thỏa hiệp giữa hai miền. Trục Sài Gòn–Paris–Hà Nội
càng lúc càng được khai thông cho những âm mưu, những dự tính, những thủ
đoạn tuôn chảy. Và đến tháng Hai năm 1963, trong khi công luận và chính giới
Hoa Kỳ công phẫn vì sự bất lực của chính sách quân viện Mỹ qua thảm bại Ấp
Bắc và sự dối trá của chính phủ Ngô Đình Diệm về kết quả trận đánh này, thì
chính phủ Pháp nắm lấy cơ hội đó, chính thức mời một phái đoàn Quốc Hội Việt
Nam qua thăm Paris.
Sau khi được ông De Gaulle tiếp kiến, phái đoàn Quốc hội do ông Trương
Vĩnh Lê cầm đầu, gồm các Dân biểu Hà Như Chi, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Quốc
Hùng, Trần Văn Thọ, đã tỏ ra ngạc nhiên một cách hứng thú (“surprise
agréable”) và ca ngợi De Gaulle đã “rất thông cảm với Việt Nam” (très
compréhensible à l’égard du Vietnam”).
Cũng vào mùa Xuân năm đó, ông Mieczyslaw Maneli đến Sài Gòn lần thứ nhì
để đảm nhiệm chức vụ Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát
Đình chiến (của Hội nghị Genève 1954).
Ông Maneli là một cán bộ trí thức Thiên Chúa giáo cao cấp của đảng Cộng
Sản Ba Lan, có khuynh hướng quốc gia cực đoan và tự do tiến bộ, lại là một
người hiểu biết nhiều về vấn đề Việt Nam. Hơn nữa, ông Maneli lại quen biết
thân thiết với các lãnh tụ Cộng Sản cao cấp miền Bắc cũng như lại có dịp đi
về thường xuyên đường Hà Nội–Sài Gòn nhờ tư cách Trưởng phái đoàn Ba Lan
trong Ủy hội Quốc tế, nên khi ông vừa đến Sài Gòn thì Đại sứ Lalouette liên
lạc ngay và khuyên nên gặp ông Ngô Đình Nhu .
Sau đó, Trưởng phái đoàn Ấn Độ là Đại sứ Goburdhun, rồi vị Đại sứ Ý Đại
Lợi Giovanni Orlandi, và ngay cả Khâm mạng Tòa thánh Salvatore d’Asta cũng
thúc giục Maneli đến tiếp xúc ngay với Nhu. Tuy biết rằng đang có những vận
động quan trọng liên hệ đến nước anh em Dân Chủ Cộng Hòa Bắc Việt, nhưng vì
chưa nắm đầy đủ dữ kiện và chỉ thị nên Maneli từ chối: “Tôi đại diện cho một
quốc gia không công nhận miền Nam Việt Nam. Theo quy ước của Hiệp Ước Genève
thì chính quyền này chỉ có tính cách giao thời, do đó tôi chỉ phải đến chào
vị Tổng trưởng Ngoại giao mà thôi… Tuy nhiên vì thực tế chính trị, tôi sẽ
vui mừng được gặp ông Nhu với điều kiện là ông ta mời tôi”
.
Với lối trả lời linh động đó, ba vị Đại sứ Pháp, Ấn và Ý xem như ông
Maneli đã đồng ý trên nguyên tắc nên tìm mọi cách để dàn xếp một cuộc gặp gỡ
Nhu–Maneli. Họ cũng cho ông Maneli biết rằng họ đã phúc trình đầy đủ với ông
Nhu về quá trình liên hệ và tư thế của ông Maneli đối với cấp lãnh đạo Hà
Nội, và ông Nhu đã bày tỏ ý muốn gặp ông Maneli (“Nhu himself had expressed
interest in meeting me”). Trong hồi ký của ông Maneli, ông thú nhận rằng ông
đã không có đầy đủ tin tức về những vận động từ trước cho kế hoạch thỏa hiệp
với Hà Nội như ông Nhu, mà chắc chắn trong kế hoạch đó, ông Nhu và hai vị
Đại sứ Ấn cũng như Pháp đã có những mưu tính từ lâu. Điều làm cho ông Maneli
ngạc nhiên là:
… kế hoạch của Goburdhun nhằm làm trung gian giữa Nam và Bắc Việt Nam là
một kết hợp giữa sự ngây thơ và quỷ quyệt, giữa sự thiếu thực tiễn và lý
thuyết trừu tượng, giữa sự hùng biện và sự phức tạp của vấn đề. Điểm mấu
chốt của kế hoạch này là câu nói rất mị dân của Nhu: “Tôi cũng chống tư
bản”. Còn khi đề cập đến một chủ nghĩa xã hội thì cả Nhu lẫn Goburdhun đều
không xác định nổi một cách rõ ràng, ngoại trừ chủ nghĩa xã hội đó không dựa
trên duy vật biện chứng… Lời giải thích của Nhu cũng mơ hồ như lời mà ông ta
hằng tuyên bố rằng trên thế giới này, ông ta là người theo chủ nghĩa xã hội
chân chính nhất… trong khi vẫn nắm lấy hàng triệu Mỹ kim của ngân khố Mỹ
.
Còn về phần Đại sứ Pháp Lalouette thì sau hai lần gặp nhau, ông Maneli
được biết kế hoạch của Pháp là tìm cách cho hai miền Bắc–Nam thương thảo với
nhau để tiến đến trao đổi văn hóa và kinh tế, hầu mở đường cho những thỏa
hiệp chính trị sau này. Phần vụ được chia rõ là ông Maneli sẽ đề nghị với Hà
Nội mô thức đó trong khi Đại sứ Lalouette sẽ giữ liên hệ với chính phủ Sài
Gòn.
Một tuần sau đó, vào cuối tháng Hai, ông Maneli đi Hà Nội và trình bày
toàn bộ kế hoạch của Lalouette cho các ông Phạm Văn Đồng và Xuân Thủy thì
chỉ sau hai ngày, đã nhận được sự đồng ý của Hà Nội rằng “như lời của Hồ Chủ
tịch đã tuyên bố từ lâu, chính phủ sẵn sàng bắt đầu thương thảo bất kỳ lúc
nào và bí mật hay công khai cũng được” . Đính kèm với thư trả lời là một danh sách những
sản phẩm sẽ được trao đổi giữa hai miền, kể cả đề nghị cùng xuất bản sách
chung.
Ông Maneli bay trở về Sài Gòn và báo cáo cho Đại sứ Lalouette biết ý định
của Hà Nội khiến ông Lalouette tỏ ra hài lòng. Đặc biệt ông Lalouette cứ cật
vấn mãi về thái độ của các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp
có thù hằn cá nhân ông Nhu hay không? Khi được biết họ “không thù hằn” mà
còn có vẻ “tin tưởng Nhu” (?!)ông Lalouette đã phải kêu lên: “Très
intéressant! Très important!” Ông Maneli cho rằng câu hỏi đó là do ông Nhu
thúc đẩy ông Lalouette hỏi và cảm tưởng của ông là mọi nguyên tắc về thỏa
hiệp đã được đồng ý rồi, giai đoạn này chỉ còn là những vấn đề cá nhân mà
thôi.
Cũng trong mùa Xuân năm 1963 đó, để yểm trợ cho những vận động của Đại sứ
Pháp, vị chủ tịch của Ủy Hội Quốc Tế KSĐC là Đại sứ Ấn Độ Goburdhun cũng
nhịp nhàng tiến hành một số công tác khác. Ông ta đã ra Hà Nội thăm ông Hồ
Chí Minh nhân dịp đầu Xuân. Và trong buổi nói chuyện đã tỏ ra rất ngạc nhiên
nhận thấy Hà Nội đặc biệt chú ý đến tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và anh em
ông Diệm, nhất là việc “ông Diệm chống lại các áp lực của Mỹ”.
Với điệu bộ “ngây thơ khó ai bắt chước nổi”, ông Hồ Chí Minh đã hỏi Đại
sứ Ấn Độ có gì lạ xảy ra tại thủ đô Sài Gòn không, vấn an sức khỏe ông Diệm
và tỏ vẻ để tâm đến việc ông Diệm bị Mỹ áp lực. Ông Hồ Chí Minh cũng bày tỏ
sự tiếc nuối vì Sài Gòn đã không chịu chấp nhận những đàm phán mà Hà Nội đã
nhiều lần đề nghị để tiến tới một thỏa hiệp chung. Khi Đại sứ Ấn từ giã ra
về, ông Hồ Chí Minh còn ân cần dặn dò: Khi nào gặp ông Diệm nhờ ông bắt tay
hộ. Khi kể lại chuyện này cho ông Nhu nghe, ông Nhu tỏ vẻ đắc chí lắm và
giải thích cho Đại sứ Ấn Độ biết rằng đó là nhờ sự thành công của quốc sách
Ấp Chiến Lược (?!) .
Lời hỏi thăm này cũng như lời “khen ngợi” ông Diệm là người yêu nước của
ông Hồ Chí Minh, mà sau này tàn dư Cần Lao Công Giáo tại hải ngoại thường
huyênh hoang sử dụng như một bằng chứng khả tín, thật ra chỉ là hành xử
chính trị của ông Hồ Chí Minh nhằm xúi giục ông Diệm cứ tiếp tục kế hoạch
đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam mà thôi. Cái tội hết theo Tây đến theo Nhật, bây
giờ lại làm tay sai bản xứ cho Mỹ và Vatican chống lại dân tộc và tiêu diệt
bao nhiêu đảng viên Cộng Sản, làm sao ông Hồ Chí Minh tha thứ để gọi ông
Diệm là “người yêu nước” được. Nhưng người Công giáo Việt Nam, vốn tự hào là
lực lượng chống Cộng hung hãn nhất và nguyền rủa ông Hồ Chí Minh nhiều nhất,
sẽ quên tất cả mà chỉ cần câu nói của ông Hồ Chí Minh rửa mặt cho chủ cũ là
được rồi!
Đầu tháng Tư năm 1963, khi mọi dàn xếp cho cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa ông
Nhu và ông Maneli đã bắt đầu có vẻ cụ thể thì ông Maneli bèn điện về Warsaw
để xin chỉ thị. Đồng thời cũng thông báo cho ông Hà Văn Lâu và Đại sứ Nga
tại Hà Nội biết. Mấy ngày sau, đại diện của phái đoàn Ba Lan tại Hà Nội
thông báo cho ông Maneli biết rằng “các đồng chí Việt Nam rất lưu tâm đến
những chi tiết về sự dàn xếp của Nhu, cũng như nội dung cuộc gặp gỡ đó”,
đồng thời đích thân ông Hà Văn Lâu trả lời thẳng cho ông Maneli rằng “các
đồng chí lãnh đạo yêu cầu được thông báo tức khắc về các diễn tiến, và nếu
đồng chí có thể về Hà Nội để hội ý với chúng tôi trước khi gặp Nhu thì rất
tốt” .
Trong khi đó thì ông Nhu cũng ráo riết hoạt động: nào là gọi giáo sư Bửu
Hội (vốn là một phần tử có khuynh hướng thân Cộng đang ở Paris và được ủy
làm trung gian để liên lạc với Pháp) về nước nhận chỉ thị trong kế hoạch
thỏa hiệp với “những người Điện Biên Phủ” (“les hommes de Dien Bien Phu”),
nào là tổ chức một chuyến tham quan chính trị từ Sài Gòn lên Đà Lạt cho ba
vị Đại sứ của Ủy Hội Quốc Tế để giới thiệu những thành quả của Ấp Chiến
Lược, những thành quả mà chỉ ông Nhu mới mang ảo tưởng có đủ sức mạnh để làm
một món hàng trả giá với Hà Nội. (Trong cuộc tham quan này, ông Maneli đã
chê bai Ấp Chiến Lược chỉ là trò hề đối với Việt Cộng như đã nói trước kia).
Nhưng hoạt động lớn nhất trong tháng 5 năm 1963 của ông Nhu là nhằm
công khai hóa lập trường chống Mỹ để thỏa mãn điều kiện tiên quyết của Hà
Nội: ngày 12 tháng 5, ông Nhu tuyên bố với Washington Post – nhưng thật
ra hướng về Hà Nội mà nói rằng:
“Tôi không nghĩ rằng người Mỹ có khả năng cho chúng tôi những lời khuyên
về Chiến tranh Cách mạng. Trong nhiều địa hạt khác như không gian, người Mỹ
rất tiến bộ, nhưng còn những vấn đề nhỏ trên mặt đất, tôi nghĩ rằng người Mỹ
không giỏi hơn chúng tôi”. Đồng thời trong một cuộc phỏng vấn khác của UPI,
Nhu tỏ ý muốn Hoa Kỳ rút một số lớn cố vấn quân sự về nước
.
Cũng theo George Chaffard thì ông Ngô Đình Nhu đã được sự đồng ý của ông
Diệm để cố tình tạo nhiều khó khăn cho người Mỹ trước khi cho phép Mỹ sử
dụng chất hóa học để khai quang vùng rừng núi mà Việt Cộng sẽ sử dụng để
chuyển quân, hoặc thiết lập các căn cứ xuất quân tấn công quân đội Việt Nam
Cọng Hòa.
Kế hoạch khai quang của Mỹ lúc vừa mới phát động đã bị Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam đánh giá nguy hiểm nên tố cáo dữ dội. Giáo sư Bửu Hội, người
ở trong Phong trào Hòa bình có khuynh hướng thân Cộng (từng gián tiếp chống
lại thân mẫu là ni sư Diệu Không trong biến cố Phật giáo 1963) cũng chứng
minh hóa chất khai quang là độc hại để yểm trợ cho kế hoạch chống Mỹ của ông
Nhu. Ngày 26 tháng 4 năm 1963, Nga Sô yêu cầu Anh Cát Lợi, đồng chủ tịch
trong hòa hội Genève, phải để Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến mở cuộc
điều tra, nhưng ngày 18 tháng 5, Anh quốc trả lời là “không phải lúc để mở
cuộc điều tra” đó. Nói rõ ra, hai đồng minh Anh và Mỹ cũng như Bộ Tham mưu
quân đội Việt Nam Cọng Hòa đều đồng ý phải có chiến dịch khai quang, nhất là
tại các vùng như Chiến khu D, chiến khu Đỗ Xá, rừng U Minh, v.v… để tiêu
diệt Việt Cộng và để làm giảm thiểu thương vong cho binh sĩ Việt Nam Cọng
Hòa. Trong lúc đó thì chỉ vì chủ trương chống Mỹ để làm hài lòng Hà Nội, hai
ông Diệm và Nhu đã gián tiếp bênh vực cho lập trường của Nga Sô và Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam trong việc chống lại chiến dịch sử dụng thuốc khai quang
này. Thái độ anh em ông Diệm càng làm tăng thêm sự nghi ngờ của tôi về việc
ông ta cho lệnh các ông Huỳnh Văn Cao, Bùi Đình Đạm và nhiều cấp chỉ huy
không được đánh đuổi Việt Cộng khi Việt Cộng tháo lui trong các trận chiến
tại đồng bằng sông Cửu Long trong năm 1962, dù trên mặt công khai ông tỏ ra
lo sợ binh sĩ sẽ thương vong nhiều.
Không những ồn ào chống Mỹ qua báo chí và bằng vụ “thuốc khai quang”, hai
ông Diệm và Nhu còn dùng bộ máy tuyên truyền xám của chế độ để tung ra tin
ông Nhu từ chối lời yêu cầu nhượng thuê (cession and bail) quân cảng Cam
Ranh. Đó chỉ là một lời đồn ngụy tạo vì tôi biết chắc chắn không có một dự
án nào, lúc bấy giờ, về vấn đề đó cả. Cam Ranh là một quân cảng thì hẳn Bộ
Tham mưu phải biết về vấn đề đó nhưng tuyệt nhiên các sĩ quan cao cấp đã
không bao giờ nghe nói tới. Hơn nữa, các tài liệu khả tín của Bộ Quốc phòng
Mỹ, của các cơ quan truyền thông quốc tế, cũng như các sách vở nghiên cứu
sau này, đều không hề đề cập đến vấn đề này. Ngay cả các tài liệu của Cộng
Sản tôi cũng không thấy họ “đả kích” miền Nam về vấn đề đó. Vả lại, lúc bấy
giờ, Mỹ chưa chính thức ồ ạt gửi quân tham chiến thì hẳn chưa có nhu cầu sử
dụng một căn cứ rộng lớn và lộ liễu như thế. Sau này, dưới thời Nguyễn Văn
Thiệu, khi chiến tranh bộc phát lớn và số quân tham chiến đông đảo, nhu cầu
tiếp vận và tồn trữ mới được đặt ra và quân đội Mỹ đã thiết lập nhiều căn cứ
to lớn, biệt lập; tuy nhiên ngay cả lúc bấy giờ, vấn đề “nhượng thuê” cũng
đã không được đề cập đến giữa hai quốc gia cùng tham dự trong một cuộc chiến
tranh chống kẻ thù chung.
Vụ Cam Ranh chỉ là một phát súng trong mặt trận chống Mỹ của ông Nhu lúc
bấy giờ mà thôi. Một phát súng giả lúc đó nhưng bây giờ, tại hải ngoại, lại
được các sử gia hoài Ngô cho là thật, để ngụy biện rằng vì chống Mỹ nên ông
Diệm bị Mỹ giết.
Trong khi ông Nhu đại diện cho chính phủ Sài Gòn hung hăng chống Mỹ thì
tại Hoa Thịnh Đốn, Tổng thống Kennedy vốn đã bị Quốc Hội và dư luận quần
chúng Mỹ công kích về chính sách tại Việt Nam vì những hành động của vợ
chồng Nhu, lại càng bị các cộng sự viên áp lực để duyệt xét lại liên hệ với
chính quyền Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, đặt ưu tiên chống Cộng lên trên hết và
vì còn tin tưởng vào ông Diệm qua những báo cáo của Đại sứ Nolting và một
thiểu số sĩ quan Mỹ tại Sài Gòn , ông Kennedy vẫn cho tháo khoán 55 triệu Mỹ kim vào ngày
17–5–1963 (nghĩa là 5 ngày sau lời tuyên bố đòi Mỹ rút quân của Nhu trên
Washington Post) cho chương trình Ấp Chiến Lược. Mãi cho đến ngày 22 tháng
5, Tổng thống Kennedy mới họp báo để minh định lập trường cho miền Nam và
quần chúng Hoa Kỳ biết:
1. Sẽ rút quân đội Mỹ khỏi
Việt Nam bất cứ lúc nào, nếu chính phủ Việt Nam yêu cầu. Một ngày sau khi có
điều đòi hỏi đó, sẽ cho ngay một số quân về. Nhấn mạnh đó là điểm thứ nhất.
2. Hy vọng rằng tình thế
Việt Nam sẽ cho phép rút một số quân vào cuối năm nay, song e rằng cuộc
chiến đấu còn gay go .
Lời tuyên bố dứt khoát và quyết liệt đó đã làm cho ông Nhu lo lắng vì kế
hoạch thỏa hiệp của ông Nhu với Cộng Sản Hà Nội mới vào cuối tháng Năm, chưa
giải quyết được những vấn đề cụ thể. Vì vậy, chính phủ Sài Gòn đã im lặng
không có lời bình luận hoặc tuyên bố gì để trả lời về quyết định này cả.
(Mãi cho đến tháng Tám, sau khi bị Hoa Kỳ công khai lên án vụ tấn công chùa
chiền, và sau khi đi được sâu hơn vào kế hoạch thoả hiệp, ông Nhu mới công
kích Mỹ trở lại bằng cách kết án CIA đã khuyến khích và yểm trợ Phật giáo,
mặc dù ngược lại, trước đó chính ông đã từng tố cáo Phật giáo bị Cộng Sản
điều động, và mặc dù chủ nhiệm sở CIA tại Sài Gòn đứng về phe chế độ Diệm).
Và lời tuyên bố trên của Tổng thống Kennedy cũng cho thấy Mỹ không muốn lật
đổ chế độ Diệm, sẵn sàng thỏa mãn những đòi hỏi của anh em ông Diệm–Nhu.
Cuối tháng Năm năm 1963, sau vụ cấm treo cờ Phật giáo và bạo động tại
Huế, biến cố Phật giáo trở thành một cuộc khủng hoảng lớn cho chế độ Ngô
Đình Diệm. Những tin đồn về một cuộc đảo chánh để lật đổ ông Diệm và vợ
chồng Nhu càng lúc càng gia tăng và càng công khai.
Ngay cả các quan sát viên của Vatican cũng đã mô tả chế độ này là chế độ
thân phương Tây ngu xuẩn nhất… Các quan sát viên này đã tuyên bố một cách
công khai mà không cần đến cả sự thận trọng tối thiểu của một nhân viên
ngoại giao đoàn… Rõ ràng sự suy tàn của chế độ Diệm đang được đếm từng ngày,
và Vatican muốn tách rời mọi liên hệ với chế độ này để khỏi đứng cùng phe
với kẻ sắp bị bại trận .
Trong tháng Sáu năm 1963, những cuộc tự thiêu của các tăng sĩ Phật giáo
và những cuộc biểu tình được lực lượng sinh viên học sinh tham gia đã làm
cho tình hình Sài Gòn thêm căng thẳng. Lệnh giới nghiêm và đặt quân đội
trong tình trạng báo động khiến cho ông Maneli đã phải gởi bản phúc trình
tối mật sau đây cho Toà đại sứ Ba Lan và Nga Sô tại Hà Nội (mà không gởi cho
ông Hà Văn Lâu):
Diệm và Nhu tập trung mọi nỗ lực để chống lại người Mỹ và Phong Trào Phật
giáo. Các lực lượng mật vụ và công an đã dành nhiều thì giờ để theo dõi các
me Mỹ hơn là để theo dõi Việt Cộng… Quân đội không được điều động ra chiến
trường và bị hoán chuyển liên tục để đảm bảo an ninh cho gia đình họ Ngô.
Việt Cộng hầu như bị quên lãng hẳn (the Viet Cong are practically
forgotten)… Mặt trận Giải phóng Miền Nam đã không khai dụng cơ hội này tấn
công quân chính phủ vì chính Hà Nội đã chưa muốn lật đổ Diệm và Nhu, Hà Nội
cần kéo dài thêm thời gian sống sót của Diệm và Nhu để họ có thể đạt được
một thoả hiệp với Hà Nội sau lưng người Mỹ…
Qua những tin tức đặc biệt mà tôi nhận được từ miền Bắc, thì một cuộc
thảo luận Ngô-Hồ đã bắt đầu từ lâu rồi với sự giúp đỡ của người Pháp. Như
tôi đã phúc trình, Phạm Văn Đồng và Xuân Thuỷ đã thúc giục tôi nên gặp Nhu.
Khi được hỏi muốn tôi nhắn gì với Nhu không thì họ trả lời: “Ông có thể cho
Nhu biết về lập trường của chúng tôi về vấn đề giao thương và hợp tác, hoà
bình và thống nhất. Nhưng có một điểm chắc chắn là người Mỹ phải ra đi. Chỉ
trên căn bản chính trị đó thì chúng tôi mới có thể thương thảo bất cứ về
điều gì…” Phạm Văn Đồng còn nhấn mạnh rằng Hiệp ước Genève sẽ được dùng làm
căn bản pháp lý và chính trị, nghĩa là không được có căn cứ quân sự của
ngoại quốc và không có quân đội ngoại nhập.
Khi được hỏi Diệm và Nhu một ngày kia có bị bắt và xét xử trước toà án
nhân dân không, Phạm Văn Đồng chỉ trả lời rằng “tất cả mọi vấn đề đều có thể
thảo luận. Chúng tôi muốn chấm dứt đánh nhau, thiết lập hoà bình và thống
nhất trên một căn bản thật thực tế. Chúng tôi rất thực tế”
.
Trong khi đó thì vào đầu tháng 7 năm 1963, Đại sứ Lalouette được Tổng
thống De Gaulle triệu hồi về Pháp để tham khảo.
Ông Lalouette trình bày cho Tổng thống Pháp biết những lý do khiến chế độ
Sài Gòn muốn người Mỹ phải ra đi và tìm kiếm một thoả hiệp với Hà Nội. Muốn
giải pháp đó thành công, chế độ Diệm chủ trương nhờ nước Pháp giúp đỡ. Phần
trình bày của Đại sứ Lalouette phù hợp với lời trình bày của hai nhân vật
Việt Nam (?) với ông Edmond Michelle về cái lợi của Pháp khi được “trở lại”
Á Đông. Nhờ hai tiếng chuông đó mà Điện Elyseé chú ý, và vì thế mà Tổng
thống Pháp đã quả quyết với ông Lalouette rằng ông đã đọc những báo cáo của
ông Đại sứ, và ông đồng ý với sách lược do ông Đại sứ đề nghị. Tổng thống
Pháp lập lại quyết định là sẽ làm mọi cách để giúp anh em nhà Ngô “đi con
đường thống nhất và độc lập đất nước của họ”. Nước Pháp sẽ chứng tỏ cử chỉ
đó khi cơ hội đến” .
Tôi còn nhớ rõ khi Đại sứ Lalouette từ Paris về được độ một tuần lễ thì
ông Jean Francois Doudinot de la Boissière, đại diện của Pháp tại Hà Nội,
lần đầu tiên từ 9 năm qua bay vào Sài Gòn ghé thăm Bộ ngoại giao, rồi vào
dinh Gia Long liền. Võ Văn Hải, Nguyễn Đôn Duyến và tôi theo dõi thật kỹ thì
biết như lời Hải nói “ông Cụ đã bị vợ chồng Nhu xỏ mũi nhờ Pháp làm trung
gian để thỏa hiệp với Hà Nội”.
Ngày 27 tháng 4 năm 1963, trong một công điện mật gửi về Warsaw, Maneli
cho biết các đại diện ngoại giao của khối ASEAN đã liên lạc mật thiết với
ông và đặc biệt dò xem có thể có trường hợp chính quyền Nhu–Diệm hợp tác với
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để chống Mỹ không. Ông Maneli đã trả lời rằng:
… cuộc khủng hoảng hiện tại là do Mỹ và Diệm đã không tôn trọng Hiệp Ước
Genève tổ chức bầu cử, do chính sách khủng bố của chính quyền, do quyết
tâm muốn Công giáo hóa Việt Nam bằng bạo lực (to convert Vietnam to
Christianity by force), do chính sách kinh tế và xã hội thoái bộ, và
cuối cùng là do sự thành công của Mặt Trận .
Ngày 14–8–1963, ông Maneli lại gửi một báo cáo về
chuyến đi Hà Nội đầu tháng Tám:
Tôi xin nhắc lại lời tuyên bố của cả Hồ Chí Minh lẫn Phạm Văn Đồng: “Mục
tiêu và nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng tôi là đuổi Mỹ. Rồi sau đó sẽ
tính…” Rõ ràng đã có một sự đồng thuận tối mật (supersecret understanding)
giữa Diệm-Nhu và Hà Nội. Nếu chưa có một thỏa hiệp chính thức thì ít nhất đã
có một khế ước xã hội (contract social): lúc nào Diệm-Nhu còn chống Mỹ thì
Hà Nội còn cho sống .
Cùng trong ngày 14 tháng 8 đó, một bản tin của Thông Tấn Xã Pháp (AFP) từ
Hà Nội đánh đi đề cập đến một cuộc phỏng vấn ông Hồ Chí Minh của ký giả Cộng
Sản Úc Wilfred Burchett trong đó “Hồ Chí Minh tuy công kích chế độ Diệm là
sản phẩm của Hoa Kỳ như thường lệ, nhưng lại mập mờ cho rằng chỉ cần sự can
thiệp của ngoại quốc chấm dứt là có thể đi đến ngưng bắn giữa Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam và chính quyền miền Nam… để tạo điều kiện thương thuyết”
.
Ngày 25–8–1963, ông Maneli nhận được giấy mời của Tân Bộ Trưởng Ngoại
giao Trương Công Cừu tham dự một buổi tiếp tân tại Bộ. Buổi tiếp tân này có
mặt cả ông Nhu lẫn Đại sứ Mỹ Cabot Lodge, và đó là lần đầu tiên ông Maneli
gặp ông Nhu:
“Tôi đứng chung một nhóm với các Đại sứ thuộc khối Tây Âu và liếc nhìn
Nhu. Mỗi lần như thế tôi lại thấy Nhu chăm chăm nhìn tôi. Đại sứ Ý Orlando
và Khâm mạng Tòa Thánh Salvatore d’Asta giục tôi nhân cơ hội này mà gặp vị
Cố vấn Chính trị của Tổng thống, tôi bèn trả lời sẵn sàng gặp nếu họ dàn
xếp. Vị Khâm mạng Tòa sứ bèn đến nói với Nhu một hồi rồi cùng với Orlando,
Lalouette và Goburdhun bắt đầu di chuyển để tạo ra một vòng tròn mà trong
đó, “tình cờ thay” Nhu và tôi đứng giữa. Vị Khâm mạng giới thiệu tôi với Nhu
và chúng tôi bắt tay nhau” .
Vì là buổi gặp mặt bán chính thức trong một buổi tiếp tân công khai nên
ông Nhu chỉ đề cập đến vấn đề một cách rất tổng quát. ông Nhu đã mở đầu câu
chuyện bằng câu: “Như ông biết, Ba Lan là quốc gia được nhiều người Việt Nam
biết đến nhất. Dĩ nhiên là sau nước Pháp” khiến cả bốn vị Đại sứ bao quanh
đều chưng hửng. Sau đó, ông Nhu nhẹ nhàng chuẩn bị cho chủ đề:
“Đất nước chúng tôi chưa bao giờ tự nhận mình là thuộc địa của Pháp dù
chúng tôi đã lớn lên trong tinh thần của nền văn hóa Pháp… Bây giờ thì chúng
tôi lưu tâm đến hòa bình và chỉ hòa bình mà thôi… Tôi tin rằng UHQT Kiểm
Soát Đình Chiến có thể đóng, và cần đóng, một vai trò quan trọng trong việc
vãn hồi hòa bình tại Việt Nam… Chính phủ Việt Nam mong muốn được hoạt động
trong tinh thần của Hiệp Ước Genève (The Vietnamese government wishes to act
in keeping with the spirit of the Geneva Accords)” .
Sau đó, ông Nhu tỏ ý muốn tiếp tục cuộc thảo luận rất hứng thú với Maneli
và cho biết sẵn sàng gặp khi nào ông Maneli muốn. Đại tá An, vị sĩ quan liên
lạc, sẽ dàn xếp. Hai ngày sau, Đại tá An gọi điện thoại cho ông Maneli để
dàn xếp một cuộc gặp gỡ với ông Nhu lúc 10 giờ sáng ngày 2 tháng 9. Ông
Maneli bèn thông báo cho Warsaw, Tòa đại sứ Nga tại Hà Nội, và Bắc Việt biết
ngay. Đại sứ Nga tỏ ra rất quan tâm đến buổi gặp mặt này và yêu cầu phúc
trình đầy đủ nội dung cuộc gặp gỡ. Riêng ông Hà Văn Lâu thì trả lời liền:
“Các đồng chí lãnh đạo đề nghị nên lắng nghe thật kỹ càng và không hứa hẹn
điều gì, ngoài việc bày tỏ thiện chí của đồng chí muốn mọi hành động phải
nằm trong khuôn khổ của Hiệp Ước Genève. Xin gửi gấp chi tiết buổi
gặp gỡ ngay sau đó”.
Tối hôm trước buổi gặp gỡ, Đại sứ Lalouette mời ông Maneli đến tư dinh và
cho biết tối đó người Mỹ sẽ tổ chức một cuộc đảo chánh Diệm Nhu. Đại sứ
Lalouette cũng cho biết đã từng khuyến cáo Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge và Đại
sứ Đức Von Wentlandt rằng không nên lật đổ ông Diệm, vì ông Diệm là hy vọng
cuối cùng để Việt Nam có hòa bình.
“Nếu Diệm và Nhu bị lật thì tất cả kế hoạch của chúng ta nhằm chấm dứt
chiến tranh và tiến đến một thỏa hiệp với miền Bắc sẽ ra mây khói… Diệm-Nhu
không có gì tốt cả, những hành động của họ mới đây thật là kinh khủng, nhưng
bây giờ chúng ta chỉ có họ là chống Mỹ thôi” .
Tuy nhiên, tối đó đã không có đảo chánh vì đã không có một cuộc binh biến
nào do Mỹ tổ chức, và riêng về phía Việt Nam thì những vận động để lật đổ
chế độ Diệm vẫn trong giai đoạn tiến hành nhằm kết hợp thành một lực lượng
rộng lớn hơn và chặt chẽ hơn.
Ngày 2 tháng 9, ông Nhu viết một bài trên tờ Times of Vietnam tố
cáo CIA “âm mưu lật đổ chế độ hợp pháp tại Việt Nam” để công khai và quyết
liệt hơn bày tỏ chủ trương chống Mỹ của Diệm–Nhu. Maneli đến gặp ông Nhu lần
thứ nhì tại dinh Gia Long trong cái không khí ngột ngạt đó của Sài Gòn.
Trước hết ông Nhu trình bày triết lý chính trị của ông một cách rất mơ hồ về
bản chất chính trị và tâm linh của cuộc chiến tại Việt Nam, vì theo ông Nhu
cuộc chiến không phải chỉ đơn thuần là một cuộc tranh chấp Quốc Cộng. Chủ
nghĩa tư bản chỉ có giá trị cho đến thế kỷ thứ 19, sau đó thì không còn dùng
được nữa. ông Nhu chấp nhận một số luận đề Mác Xít ngoại trừ duy vật sử quan
và vô sản chuyên chính. Theo ông Nhu, sự mâu thuẫn giữa những người theo chủ
nghĩa nhân vị tại Sài Gòn và những người Cộng Sản tại Hà Nội không liên hệ
gì đến quyền tư hữu trong chủ nghĩa tư bản mà liên hệ đến những giá trị tinh
thần, và ông Nhu nhấn mạnh:
Tôi là một người theo biện chứng Hegelian và tôi đồng ý với kết luận của
Marx: nhà nước phải biến mất .
Sau phần độc thoại mông lung và dài dòng đó, ông
Nhu mới bắt đầu đi thẳng vào chủ đề của buổi nói chuyện, là ông Nhu không
chống lại việc thương thảo và hợp tác với miền Bắc (“I am not against
negotiations and cooperation with the North”) và hy vọng với tư cách
cũng như nhiệm vụ của một thành viên trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình
chiến, ông Maneli có thể đóng một vai trò tích cực.
Sau khi được ông Maneli nhận lời, ông Nhu cho biết hiện nay chưa thuận
tiện để trực tiếp gặp cấp lãnh đạo Hà Nội nhưng trong tương lai gần thì mọi
sự sẽ dễ dàng hơn. Và buổi gặp mặt chấm dứt ở đó.
Ra khỏi dinh Gia Long, ông Maneli đến gặp Đại sứ Pháp Lalouette ngay, và
sau khi kể lại nội dung buổi gặp mặt với ông Nhu, ông Lalouette có vẻ bồn
chồn vì không thấy có gì cụ thể. Khi nói đến đoạn triết lý ông Nhu chống chủ
nghĩa tư bản, Lalouette đã nhận định: “Nhu vẫn mang ảo tưởng là có thể tiến
đến một sự cảm thông với Lodge. Nhu đã không muốn chặt cầu. Nếu Nhu không bỏ
ảo tưởng này thì sẽ thất bại. Nhu đã làm một lỗi lầm rất bi thảm…” Đại sứ
Lalouette cũng đồng ý với ông Maneli rằng chế độ Diệm bị cả thế giới khinh
ghét nhưng “nếu chúng ta muốn tiến đến hòa bình thì không còn giải pháp nào
nữa” .
Hai ngày sau đó, ông Maneli gửi một báo cáo dài, trình bày mọi chi tiết
của buổi gặp gỡ ông Nhu cho Bộ Ngoại Giao Ba Lan, Đại sứ Nga Tovmassian tại
Hà Nội và ông Hà Văn Lâu. Nhưng trong khi hai ông Tovmassian và Hà Văn Lâu
tỏ ra đặc biệt quan tâm và yêu cầu ông Maneli đi Hà Nội gấp thì Bộ Ngoại
giao Ba Lan lại gửi công điện cấm ông Maneli từ đây không được gặp ông Nhu
nữa và chấm dứt mọi hoạt động liên hệ đến công tác này .
Là người đóng một vai trò quan trọng trong âm mưu thỏa hiệp giữa Sài Gòn
và Hà Nội trong chín tháng cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, sau này (năm
1971) khi hồi tưởng lại, ông Maneli đã có những nhận định như sau về giai
đoạn đó:
- Âm mưu này đã được phát động từ lâu và do chính ông Nhu khởi xướng.
- Pháp và Ấn Độ là hai quốc gia đầu tiên được ông Nhu liên lạc nhờ làm
trung gian, sau đó ông Nhu có nhờ sự yểm trợ của Tòa thánh Vatican nữa.
- Các cường quốc liên hệ đến Việt Nam đều chống đối âm mưu này: Nga và
Tàu vì muốn cho Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tại Việt Nam, và Hoa Kỳ vì
muốn xây dựng một chế độ chống Cộng tại Đông Nam Á.
- Hà Nội không bị đặt vào cái thế phải thỏa hiệp và lại càng không có lý
do để thỏa hiệp với một chế độ chống Cộng và thân Mỹ. Toàn bộ kế hoạch đó
chỉ nhằm âm mưu gây mâu thuẫn giữa chế độ Diệm và Mỹ, giữa các lực lượng tại
miền Nam để Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lớn mạnh thêm hầu có thể chiến
thắng bằng một giải pháp quân sự.
- Riêng đối với chế độ Ngô Đình Diệm, ông Maneli cho rằng khi tiến hành
âm mưu này, các cấp lãnh đạo đã nghĩ đến chính họ nhiều hơn là đến miền Nam.
Ba sai lầm lớn là (1) ông Nhu đã không biết gì về Cộng Sản, đặc biệt là giới
lãnh đạo Cộng Sản tại Hà Nội; (2) là nhờ Pháp làm trung gian; và cuối cùng
là (3) đánh giá sai phản ứng của Mỹ khi “blackmail” quốc gia này. Ngoài ra,
theo ông Maneli, ông Nhu đã sống trong ảo tưởng, không biết gì về thực tế
của miền Nam mà khuynh hướng và lực lượng chính trị chống Cộng của nhân dân
Việt Nam là một sự thật không chối cãi được.
“Cấp lãnh đạo của chế độ Diệm-Nhu đã bị bệnh cận thị nặng nề mà tôi có
thể so sánh với căn bệnh của giới lãnh đạo Cộng Sản loại Stalinist” (The
leaders of the Diem-Nhu regime suffered from definite myopia which I might
compare with the myopia of the Stalinist-type Communist leaders)
.
Việc ông Maneli bị chấm dứt vai trò liên lạc nếu chỉ là một trở ngại kỹ
thuật trong âm mưu thỏa hiệp của chính phủ Sài Gòn, thì riêng đối với ông
Nhu nó lại là một dấu hiệu cho thấy sự can dự của các thế lực Nga và Mỹ càng
lúc càng mạnh, có thể phá vỡ âm mưu của ông. Vì vậy từ cuối tháng 9 năm
1963, ông dồn hết mọi nỗ lực vào kế hoạch tổ chức một cuộc binh biến để
chính thức thay ông Diệm hầu tiến hành những biện pháp sắt đá hơn trong việc
kiểm soát các lực lượng chống đối và nhất là hầu có thể chấm dứt những “phá
hoại” của người Mỹ.
Kế hoạch đó được gọi là kế hoạch Bravo và dự định được tổ chức vào
cuối tháng 10, ngay sau ngày Quốc Khánh. Ông Nhu định lấy Lực Lượng Đặc Biệt
của Lê Quang Tung làm chủ lực, giả vờ bắt cóc ông Diệm và Nhu đem xuống Vũng
Tàu, rồi sau đó điều động một số đơn vị do các sĩ quan Cần Lao Công giáo của
Sư đoàn 5 (Biên Hòa) và Sư đoàn 7 (Mỹ Tho) chỉ huy, để phối hợp với một vài
lực lượng không tác chiến của các Nha, Sở tại Thủ đô, và Thanh Niên Cộng
Hòa, Phụ Nữ Bán Quân Sự. Các lực lượng này sẽ tạo một cuộc đảo chánh giả
chống chính phủ không Tổng thống tại Sài Gòn với đòi hỏi “chấm dứt chiến
tranh”, “yêu cầu Mỹ về nước”, và “yêu cầu anh em ông Diệm tiếp tục cầm quyền
để thực hiện hai nguyện vọng của toàn dân”.
Ông Nhu sẽ giả vờ dùng thế nhân dân để đuổi Mỹ và để thỏa hiệp với Cộng
Sản Hà Nội cho có vẻ chính nghĩa. Ông Nhu cũng ra lệnh cho các đảng viên Cần
Lao giả vờ hạ ảnh của ông Diệm tại vài nơi công cộng xuống, để lại lợi dụng
thế nhân dân mà lên cầm quyền hầu có thể với tư cách là Tổng thống của miền
Nam, tự do và toàn quyền đuổi Mỹ để thỏa hiệp với ông Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, vì một phần của kế hoạch ông Nhu phải thông báo cho tướng Tôn
Thất Đính là người mà ông Nhu tin tưởng và lúc bấy giờ đang là Tổng trấn Sài
Gòn Gia Định nắm hết mọi lực lượng an ninh và Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến
tại Thủ Đô, nên khi Đính quyết định theo lực lượng Cách Mạng thì Đính đã tìm
cách kéo dài âm mưu đảo chánh của ông Nhu để tiếng súng Cách mạng ngày
1–11–1963 được nổ trước và chấm dứt không những kế hoạch thỏa hiệp với Cộng
Sản của ông Nhu, mà còn chấm dứt vĩnh viễn cả chế độ phản bội miền Nam của
Diệm–Nhu nữa. Vài ngày sau khi Cách mạng 1–11–1963 thành công, trong một
cuộc họp báo, tướng Đính tuyên bố rõ ràng về âm mưu bắt tay với Hà Nội do
trung gian của Maneli mà chính vị Trưởng phái đoàn Ba Lan đã ghi nhận được.
Theo ký giả Karnow trong “Viet Nam: A History” (trang 292) thì sau
này, bà Nhu còn tiết lộ việc bà ta đã dự định cho hai đứa con của bà ta ra
sống tại Hà Nội để làm con tin (fraternal gesture) trong âm mưu thỏa hiệp
với Cộng Sản của anh em chồng bà ta.
Suy nghiệm về toàn bộ ý đồ và kế hoạch thỏa hiệp với Cộng Sản của hai anh
em Nhu–Diệm trong những năm cuối cùng của chế độ, ta thấy nổi bật lên ba vấn
đề quan trọng sau đây:
1. Trước hết là quyết định của ông Nhu thỏa hiệp với Cộng Sản
miền Bắc.
Hòa bình và thống nhất đất nước đúng là nguyện vọng tha thiết nhất của
toàn dân và phải là nhiệm vụ hàng đầu của mọi chánh phủ miền Nam. Nhưng
không phải Hòa Bình nào cũng được, Thống Nhất dưới chế độ nào cũng được.
Một nền Hòa bình què quặt tạm bợ trong một đất nước thống nhất dưới sự lãnh
đạo chuyên chính của đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn không phải là ước mơ
của nhân dân miền Nam, lại càng không phải là mục tiêu của những chính phủ
mà dân chúng miền Nam ủng hộ.
Năm 1954, gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Năm 1955, dân chúng
bỏ phiếu tín nhiệm chính phủ Ngô Đình Diệm, và suốt chín năm, quân dân miền
Nam đổ xương máu chống lại Cộng Sản, đã là những tuyên ngôn chính trị minh
bạch về lập trường chống Cộng của nhân dân miền Nam. Do đó, nếu có thống
nhất thì chính Nam quân phải tiến về giải phóng đất Bắc và nếu có hòa bình
thì phải là một nền hòa bình sau chiến thắng hoặc sau một cuộc thương thảo
mà ta nắm ưu thế. Nhưng với sự đui mù chính trị vì chủ quan và kiêu căng,
trong sự quẫn bách chính trị vì tứ bề thọ địch, ông Nhu đã không thấy những
điều đó mới dựa vào những lý thuyết không tưởng và những chủ lực không có
thật để định âm mưu thống nhất đất nước bằng ngõ tắt và sống chung hòa bình
với kẻ thù.
Ông Nhu lại cũng không biết, không hiểu đúng đắn về Cộng Sản, về lực
lượng Cộng Sản quốc tế, về tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam tại miền Bắc.
Khi một tổ chức sắt thép như đảng Cộng Sản Việt Nam đã đặt ưu tiên giải
phóng miền Nam lên trên chính sách tối cần thiết là xây dựng miền Bắc,
đã hy sinh bao nhiêu xương máu trong 10 năm trời để oanh liệt chiến thắng
đạo quân viễn chinh Pháp, chiếm được một nửa nước, đã tin vào chủ nghĩa gọi
là bách chiến bách thắng Mác–Lê, đã đặt quyền lợi dân tộc dưới quyền lợi của
vô sản quốc tế… thì không có một lý do gì để họ có thể thỏa hiệp và san sẻ
đất nước với một chế độ (dù ông Nhu có gọi đó là chế độ xã hội nhân vị!) mà
họ đã từng kết án là tay sai của đế quốc Mỹ. Vả lại, tương quan lực lượng
chính trị cũng như quân sự lúc bấy giờ đã cho họ những ưu thế mà chỉ cần
tiếp tục khai dụng là có thể tiến đến thắng lợi cuối cùng trong một tương
lai gần. Hà Nội chỉ cần Diệm–Nhu đuổi Mỹ là coi như chiếm được miền Nam
rồi.
Ông Nhu đã không thấy được những điều rất cơ bản, rất cốt lõi nhưng cũng
rất rõ ràng và rất cụ thể đó nên mới định dâng phần đất tự do còn lại của
Việt Nam cho Cộng Sản. May mà tiếng súng cách mạng của quân đội và nhân dân
miền Nam kịp thời đập tan âm mưu này để tù đày cải tạo và vong quốc tị nạn
đã không xảy ra từ thập niên 60!
Nếu chế độ Diệm đã tự do dân chủ hơn, nếu chế độ Diệm đã có khả năng quản
trị đất nước hơn, và nếu riêng anh em nhà Ngô không độc tài độc tôn, chủ
quan mù quáng thì miền Nam hẳn đã đủ cường thịnh để tính chuyện thống nhất
đất nước một cách có chủ động, có ưu thế (như những nỗ lực của Nam Hàn, Tây
Đức bây giờ), và ông Nhu đã không phải đền tội một cách đích đáng trước dân
tộc và lịch sử.
2. Thứ nhì là kế hoạch thỏa hiệp của ông Nhu.
Kế hoạch của ông Nhu chủ yếu lấy bốn sức mạnh sau đây để bảo đảm sự an
toàn và thành tựu của nó: 1. Sự đồng thuận với tập đoàn lãnh đạo Hà
Nội về chống Mỹ và về một mô thức xây dựng quốc gia theo chủ nghĩa xã hội.
2. Sức mạnh nội tại của miền Nam. 3. Quyết tâm chống Cộng,
không bỏ rơi miền Nam của Mỹ. 4. Sự bảo đảm quốc tế của Pháp và
Vatican.
- Về sự đồng thuận với Cộng Sản Hà Nội, ta thấy rõ từ đầu cho đến cuối,
Hà Nội đã chăng một bẫy sập và lừa dối cho ông Nhu vào tròng. Ý đồ và hành
động của Hà Nội là phải đuổi Mỹ - kẻ thù nguy hiểm nhất – ra khỏi miền Nam
và tạo mâu thuẫn không hàn gắn được giữa Nhu–Diệm và nhân dân miền Nam. Một
khi Mỹ đi rồi, miền Nam bị xé nát vì mâu thuẫn thì Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam sẽ dư cả sức mạnh chính trị lẫn quân sự để cướp chính quyền với sự yểm
trợ mọi mặt của Hà Nội.
Ông Nhu không thấy được chiếc bẫy sập chính trị ghê gớm đó, ông đã mang
ảo tưởng về một bản chất dân tộc của người Cộng Sản, mang ảo tưởng về một
chủ nghĩa xã hội mơ hồ mà ông nghĩ là cũng phát xuất từ hệ tư tưởng
Marx–Hegel, do đó người Cộng Sản có thể chia sẻ quan điểm, nên ông đã mù
quáng chui vào chiếc bẫy của chính mình vốn đã nằm gọn trong chiếc bẫy lớn
hơn của Cộng Sản Hà Nội.
Ông Nhu cứ tưởng chống Mỹ hung hăng là Hà Nội sẽ hài lòng, cứ tưởng đuổi
Mỹ là sẽ được Hà Nội đối xử như người anh em mà không nhớ rằng, dù chỉ trên
mặt hình thức mà thôi, Hà Nội vẫn lấy các điều khoản của Hiệp Ước Genève làm
cơ sở thỏa hiệp. Mà cơ sở đó là gì nếu không phải là những điều kiện thuận
tiện dọn đường cho Hà Nội chiếm lấy miền Nam, một miền Nam không có Mỹ yểm
trợ, một miền Nam mà dù ông Nhu có bầu cử gian lận vẫn thất bại trong một
cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Nhưng đó chỉ là nói về mặt hình thức vì ai
cũng biết rằng từ năm 1956 trở đi, khi ông Diệm được Mỹ giúp vi phạm Hiệp
Ước Genève thì Hà Nội chỉ còn một chọn lựa và một chọn lựa mà thôi: giải
phóng miền Nam bằng võ lực.
Cho nên sức mạnh thứ nhất của kế hoạch do ông Nhu thiết kế chỉ là một ảo
tưởng. Hơn cả một ảo tưởng, nó là một sự trì trệ về ý thức chính trị, một sự
bệnh hoạn về khả năng nhận định của ông Nhu, một người được các phần tử Công
Giáo Cần Lao muối mặt xưng tụng là Trương Lương của thời đại!
- Về sức mạnh nội tại của miền Nam thì ông Nhu trông cậy vào lực lượng
Cần Lao Công Giáo đang điều động các bộ phận khác của dân tộc. Ông Nhu tưởng
đảng viên Cần Lao trung kiên với ông vì lý tưởng và đồng đạo, mà không ngờ
rằng sự trung kiên đó chỉ được thành hình vì đặc quyền đặc lợi và vì những
thủ đoạn bạo quản bạo trị. Ông Nhu tưởng đảng viên Cần Lao nắm được các tổ
chức nhân dân như Thanh Niên và Thanh Nữ Cộng Hòa, như Liên Đoàn Công Chức
và Hội Phụ Nữ Liên Đới, như quân đội và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia. Ông
Nhu không biết rằng chẳng những đảng viên Cần Lao đã không nắm được các tổ
chức đó vì tư cách thối nát và lối hành xử hung thần của chúng, mà dù có nắm
được thì tự thân các tổ chức đó cũng không có chức năng của một lực lượng
đấu tranh. Các tổ chức của ông Nhu và vợ chỉ có tính cách trang trí cho chế
độ một cách phí phạm: công chức thì thụ động, quân đội thì đầy mâu thuẫn và
căm phẫn. Đó là chưa nói đến các bộ phận khác của dân tộc như đảng phái, tôn
giáo (ngoại trừ Công giáo), trí thức… đều sẵn sàng lật đổ ông Nhu ngay lúc
đó chứ đừng nói đợi đến khi ông Nhu thỏa hiệp với Cộng Sản.
Cả miền Nam, ông Nhu chỉ còn đảng Cần Lao Công Giáo, những tổ chức mật
vụ, Lực lượng Đặc biệt có võ trang, một vài đơn vị quân đội thuần Công giáo
quá khích và một vài họ Đạo ở gần đô thành là sẵn sàng xả thân không điều
kiện cho ông Nhu. Nhưng ông Nhu đã nhìn sức mạnh của nhân lực miền Nam qua
cái số lượng ít ỏi đó rồi, trong tháp ngà và với bệnh chủ quan, phóng đại ra
thành nhân lực cả nước.
Cũng về sức mạnh nội tại của miền Nam, ông Nhu đã đánh giá nhầm những
thành quả của quốc sách Ấp Chiến Lược, của Khu Dinh Điền,… mà không biết
rằng những thành quả đó chỉ hời hợt bề ngoài còn bên trong đã bị ruỗng nát
vì hệ thống tham nhũng, vì những bất công thối nát. Những kế sách nhắm về
nông thôn đó đã bị Việt Cộng vô hiệu hóa, và nông thôn đã bị Việt Cộng kiểm
soát từ lâu.
Sức mạnh nội tại của miền Nam, thật sự, nằm trong quyết tâm đấu tranh
của nhân dân miền Nam. Đấu tranh chống Cộng Sản để bảo vệ miền Nam tự
do, đấu tranh chống thiên nhiên để xây dựng đất nước, đấu tranh chống mọi
thách thức để xây dựng một chế độ dân chủ và hữu hiệu. Nhưng chế độ Ngô Đình
Diệm đã không tranh thủ được quyết tâm đó của nhân dân lại biến cái quyết
tâm đó thành ra quyết tâm chống chế độ. Một quốc gia mà muốn thay đổi Tổng
thống, cấp lãnh đạo phải dùng đến thủ đoạn “đảo chánh giả” thì cơ sở pháp lý
còn giá trị gì nữa, hiến pháp còn giá trị gì nữa, lòng dân còn giá trị gì
nữa!
Cho nên sức mạnh thứ nhì của kế hoạch do ông Nhu thiết kế, đáng lẽ là
quyết tâm của toàn dân thì thực sự lại chỉ là một lực lượng mật vụ võ trang
và một thiểu số bộ phận thối nát và quá khích. Lấy sức mạnh đó ra để trả giá
và bảo đảm cho việc Hà Nội phải thi hành nghiêm chỉnh một thỏa hiệp chưa
thành hình thì quả thật ông Nhu đã đến nước liều, đánh ván bài hại dân mà
không cần biết đến những hậu quả gì sẽ xảy đến cho nhân dân miền Nam Việt
Nam.
- Về suy luận rằng Mỹ chống Cộng nên sẽ không bỏ rơi miền Nam, ta thấy
điều đó không phải là ông Nhu hoàn toàn sai lầm. Thật vậy, cho đến cuối
tháng 8 năm 1963 (nghĩa là cho đến ngày ông Nhu hung bạo tấn công các chùa
chiền và bắt giam các tăng sĩ Phật giáo) dù liên hệ Việt–Mỹ đã trở nên rất
căng thẳng vì những hành động và những lời tuyên bố của ông Nhu, dù tình báo
Mỹ đã khám phá ra âm mưu của ông Nhu muốn thỏa hiệp với Cộng Sản, chính
quyền Kennedy vẫn chưa có ý định ủng hộ một cuộc thay đổi cấp lãnh đạo tại
miền Nam Việt Nam.
Nhưng điểm sai lầm căn bản nhất của ông Nhu là đã không nhận định được sự
vận hành của một cường quốc. Một cường quốc thì phải đặt chính sách ngoại
giao trong một quan điểm toàn cầu và dài hạn. Ngăn chận Cộng Sản
(containment) là triết lý ngoại giao chỉ đạo mọi sách lược của Hoa Kỳ lúc
bấy giờ, và giúp Việt Nam trở thành một tiền đồn chống Cộng hay yểm trợ ông
Diệm (năm 1953) về nước chống Cộng chỉ là những thể hiện có tính cách chính
sách của triết lý ngoại giao đó mà thôi. Cho nên dù chế độ Diệm–Nhu có độc
tài, tham nhũng, thì trong quá khứ Mỹ vẫn ủng hộ và sẽ còn ủng hộ mãi cho
đến khi Diệm–Nhu không chống Cộng nữa hoặc làm lợi cho Cộng thì Mỹ mới can
thiệp, vì làm lợi cho Cộng là đi ngược lại với cái triết lý ngoại giao chỉ
đạo đó.
Sự can thiệp đó có thể là chấm dứt tư cách đồng minh, có thể là vận động
để thay thế bằng cấp lãnh đạo mới. Ông Nhu không thấy rằng Mỹ giúp miền
Nam chống Cộng chứ không phải chỉ giúp riêng một gia đình họ Ngô
chống Cộng, cho nên cứ đinh ninh là có thể làm “chantage” Mỹ được. Ông Nhu
cứ tưởng rằng đối với Mỹ thì trong 15 triệu dân miền Nam chỉ có gia đình họ
Ngô là có quyết tâm và có khả năng chống Cộng mà thôi nên muốn yêu sách gì
cũng được. Và Mỹ đã không giải kết khỏi miền Nam trong năm 1963 đó, nhưng đã
bỏ rơi gia đình họ Ngô.
Ông Nhu đã nhận định đúng một nửa, là Mỹ không bỏ rơi miền Nam, nhưng nửa
còn lại thì ông đã sai một cách thê thảm vì Mỹ sẵn sàng bỏ gia đình họ Ngô
để yểm trợ cho một thành phần lãnh đạo mới. Ngoài ra, ông Nhu cũng không
thấy rằng dù Hà Nội có thật tâm muốn thỏa hiệp để đuổi Mỹ chăng nữa thì hai
đế quốc Cộng Sản Nga–Tàu vẫn muốn cầm chân Mỹ trong một chiến trường dai
dẳng để không những bị tiêu hao uy tín chính trị và khả năng lãnh đạo Khối
Tự Do của Mỹ, mà còn làm suy nhược Hà Nội, một chư hầu trong quỹ đạo của họ.
Vả lại, dù ông Nhu có thật sự chống Mỹ đi nữa thì đối với cấp lãnh đạo Hà
Nội, tư cách tay sai và hành động tay sai của chế độ Ngô Đình Diệm đã là một
tư cách không thay đổi được nữa. Chế độ “Mỹ–Diệm’, Mặt Trận “Dân
Tộc” hai từ ngữ đó đã nói lên rõ ràng và dứt khoát sự đánh giá của Cộng
Sản Việt Nam đối với chế độ Ngô Đình Diệm. Thế mà ông Nhu vẫn mơ tưởng hão
huyền !
- Về sự bảo đảm quốc tế của Pháp và Vatican, ta lại càng thấy rõ ràng hơn
tính chủ quan và thiển cận trong con tính chính trị của ông Nhu. Đành rằng
mọi bang giao quốc tế đều đặt trên căn bản lưỡng lợi, nhưng khi nhờ Pháp
dính dự vào kế hoạch của mình, ông Nhu quên rằng chính sách của Pháp lấy
toàn bộ Việt Nam (cả Bắc lẫn Nam) làm đối tượng, còn ông Nhu thì chỉ
lấy miền Nam làm đối tượng mà thôi. Điều đó có nghĩa là Pháp cũng muốn
có những liên hệ tốt với miền Bắc để nếu cần thì hy sinh một số cam kết với
miền Nam. Trong âm mưu thỏa hiệp này, Pháp cần Hà Nội hơn cần Sài Gòn, và
Pháp cần Hà Nội hơn Hà Nội cần Pháp.
Thật vậy, sau năm 1954, tại miền Nam, Pháp vẫn duy trì được các cơ sở
kinh tế, văn hóa và xã hội, trong khi ở miền Bắc hệ quả của cuộc chiến tranh
Pháp–Việt vẫn chưa cho phép Pháp đặt được một bộ phận ngoại giao (chứ đừng
nói đến văn hóa và kinh tế) vững vàng nào. Đã vậy, để phản ứng lại ảnh hưởng
và uy thế của Mỹ tại miền Nam, ta còn thấy Pháp gián tiếp yểm trợ cho miền
Bắc: các cơ sở văn hóa, kinh tế, các đồn điền, các dịch vụ thương mãi… đều
có liên hệ đến hệ thống tình báo của Pháp nhằm yểm trợ cụ thể cho Việt Cộng.
Ngoài ra, không những De Gaulle đã yểm trợ cho chính sách chống phá Việt Nam
Cộng Hòa của Sihanouk mà ngay tại thủ đô Paris, ông ta đã dành mọi dễ dàng
cho đại diện Hà Nội, cho đại diện Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tự do
hoạt động để bôi nhọ chính nghĩa của miền Nam trước công luận quốc tế.
Chính sách của Pháp về Đông Dương đã được Tổng thống De Gaulle công khai
tuyên bố vào năm 1962 tại Phnom Penh, lấy Hiệp định Genève 1954 làm căn bản.
Hiệp định đó phản ảnh đầy đủ lập trường của chính quyền Pháp: đẩy ảnh hưởng
Mỹ ra khỏi Việt Nam, thống nhất hai miền bằng tổng tuyển cử, trung lập hóa
toàn bán đảo Đông Dương. Ai cũng thấy lập trường đó gián tiếp mở đường cho
cấp lãnh đạo Hà Nội trở thành cấp lãnh đạo của toàn nước Việt Nam. Và ai
cũng thấy nhờ một quốc gia có lập trường như thế đóng vai trung gian cho một
âm mưu thoả hiệp thì chẳng khác gì mở cửa cho cướp vào nhà. Ta còn nhớ năm
1975, Đại sứ Pháp Merillon đã đóng đúng vai trò của Đại sứ Lalouette của năm
1963, cũng nhận làm trung gian cho hai phe đối nghịch như chính sách của
Pháp hơn 10 năm trước, để cuối cùng một số lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa
và Pháp đều bị Cộng Sản Việt Nam đánh lừa vào phút chót.
Chính sách của Pháp là như thế, ý đồ của Cộng Sản là như thế, cho nên
thỏa hiệp với Cộng Sản đã là phản động rồi, lại còn nhờ Pháp làm trung gian
nữa thì đúng là ông Nhu vừa phản động vừa xuẩn động!
Nhưng riêng hành động nhờ Tòa thánh Vatican dính dự vào âm mưu thỏa hiệp
với Cộng Sản thì ông Nhu đã tỏ ra có ý thức chính trị. Trước hết về mặt tầm
vóc, lực lượng Cộng Sản và Giáo hội Công giáo đều có tính quốc tế, người
đảng viên Cộng Sản và người tín đồ Công giáo đều là những người đặt vấn đề
quốc tế trên vấn đề quốc gia, một bên hướng về Điện Cẩm Linh, một bên
hướng về Tòa Thánh La Mã. Thứ hai là Toà Thánh La Mã không những có giáo
quyền mà thế quyền nhiều khi còn mạnh hơn với những ảnh hưởng chính trị và
kinh tế toàn cầu. Thứ ba là nhìn lại quá trình lịch sử ngoại giao của Tòa
thánh, ta thấy không phải là một mà đã rất nhiều lần, Tòa Thánh đã sẵn
sàng thoả hiệp với mọi lực lượng, kể cả những lực lượng phản động và phi
nhân nhất, miễn là bảo toàn được quyền lợi của Giáo hội hoặc của con chiên.
Không cần phải trở lại quá khứ xa xăm, từ Đệ nhị Thế chiến đến nay, bắt đầu
bằng Giáo Hoàng Pie XII thỏa hiệp với Phát xít Đức Hitler và Phát xít Ý
Mussolini (mà quốc gia Do Thái hiện nay đang lần lượt phanh phui mọi bí ẩn),
cho đến gần đây Giáo Hoàng John Paul II thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản
Ba Lan của tướng Jaruzleski để làm tê liệt “Công Đoàn Đoàn Kết” của lãnh tụ
Walesa, ta cũng thấy Toà Thánh La Mã quả thật có chính sách và có khả năng
để làm trung gian mọi thỏa hiệp. Trong vụ Ba Lan, “chuyến viếng thăm Ba Lan
của Giáo Hoàng và sự rút lui khó hiểu của vị lãnh tụ Công Đoàn Đoàn Kết Lech
Walesa đã làm mờ đi những diễn biến quan trọng… Lời tuyên bố rằng Giáo Hội
và chính quyền đang sửa soạn một nền móng để giúp cho nền nông nghiệp Ba Lan
là vấn đề mấu chốt. Thật là lạ lùng khó tin khi biết rằng Giáo hội Công giáo
La Mã và cấp lãnh đạo Cộng Sản tại vị lại hợp tác với nhau trong lãnh vực
sống chết nhất của nền kinh tế Ba Lan . Huống chi vào lúc mà ông Nhu muốn thỏa hiệp với
Hà Nội thì Giáo Hoàng Paul VI lại là Giáo hoàng thân Cộng Sản, chắc chắn ông
sẽ đứng về phe Cộng Sản chứ không phải đứng về phe miền Nam chống Cộng.
Nhờ một thế lực có cả ba yếu tố: Quốc tế, Chính trị và có truyền thống
thỏa hiệp, lại vốn là thế lực đã từng mở đầu cho chế độ, ông Nhu đã tính rất
đúng. Tiếc rằng âm mưu của ông không thành hình để xem kết quả đó lợi cho
Giáo hội Công giáo hay lợi cho dân tộc Việt Nam? Hay lợi cho Cộng Sản!
3. Những hệ quả của kế hoạch thỏa hiệp với Cộng Sản của ông Nhu.
- Hệ quả đầu tiên là trong hơn một năm trời (kể từ 1963 mà thôi) cấp lãnh
đạo miền Nam đã không chống Cộng, đã để 12 tháng trời cho lực lượng Việt
Cộng được dễ dàng phát triển. Và cũng trong 12 tháng đó, dĩ nhiên cấp lãnh
đạo miền Nam, như một hệ luận tất yếu, phải tiêu diệt ý chí và khả năng
chống Cộng của những lực lượng quốc gia chống lại âm mưu này. Mười hai tháng
có thể là ngắn trong cuộc chiến Quốc Cộng 30 năm, nhưng 12 tháng của năm
1963 lại có giá trị sinh tử vì chúng nằm trong cơn trở mình nhiều sơ hở nhất
của miền Nam.
- Hệ quả thứ hai là để lại một ám ảnh sâu sắc và tiêu cực trong mối bang
giao Việt–Mỹ cho những chính phủ kế tiếp. Đối với người Mỹ, ngoài ấn tượng
không tốt về giới lãnh đạo Việt Nam xuyên qua chế độ Ngô Đình Diệm là chế độ
mà họ đã đặt nhiều kỳ vọng nhất, từ đó trở đi họ phải luôn luôn xét lại
chính sách đồng minh, đến nỗi sự xét lại đó nhiều lúc gây ra những phản ứng
quá độ, làm vi phạm đến chủ quyền của miền Nam. Đối với các chính phủ Việt
Nam kế tiếp – mà đa số là chính phủ quân nhân – tội ác thỏa hiệp với Cộng
Sản của chế độ Diệm–Nhu đã làm cho họ mang mặc cảm và trở thành mù quáng
trong sách lược đấu tranh chống Cộng. Chống Cộng đáng lẽ phải là một mắt
xích trong toàn bộ chính lược phát triển quốc gia thì lại trở thành cứu cánh
cuối cùng.
- Hệ quả chính trị thứ ba là Cộng Sản Hà Nội đã qua kế hoạch này – dù
cuối cùng không thực hiện được – đánh giá được đúng đắn hơn những nhược điểm
của miền Nam. Từ giai tầng lãnh đạo đến tương quan lãnh tụ quần chúng, từ
vai trò của người Mỹ đến bản chất của liên hệ Việt–Mỹ, từ các mâu thuẫn giữa
các thành phần nhân dân đến các mâu thuẫn của các lực lượng chính trị tại
miền Nam… Sự đánh giá thêm đúng đắn đó đã phần nào giúp họ khai thác được
những sơ hở của các lực lượng trong cũng như ngoài chính quyền và giúp họ
hoạch định các kế hoạch đánh chiếm miền Nam thêm hiệu dụng sau này.
- Hệ quả cuối cùng, còn kéo dài đến ngày nay, là vì mù quáng và cố chấp
bênh vực cho chế độ Ngô Đình Diệm, một số phần tử Cần Lao Công Giáo đã bênh
vực luôn cả cái tội ác định dâng miền Nam cho Cộng Sản của ông Ngô Đình Nhu.
Hoặc là họ đứng trên một quan điểm nhân bản và quốc gia rất què quặt và mù
mờ để biện minh một cách rất lý thuyết cho hành động của ông Nhu, do đó đã
gây hoang mang cho những nỗ lực lật đổ Cộng Sản; hoặc là họ bóp méo lịch sử
cho rằng có nhiều nhân vật đảng phái hợp tác với ông Nhu trong kế hoạch này
để hóa giải tội ác của ông Nhu, do đó đã gây nghi ngờ và chia rẽ giữa các
lực lượng chống Cộng đang cần một sự đoàn kết tại hải ngoại. Cả hai thủ đoạn
đó, thật ra, đều phát xuất từ ý đồ “chạy tội cho chủ”, nghĩa là cho quyền
lợi phe nhóm của Cần Lao Công Giáo, mà không cần biết đến hậu quả cho dân
tộc là gì.
-o0o-
Ngoài hai thủ đoạn lộ liễu trên, còn một thái độ nữa âm thầm hơn và ít
phổ quát hơn của những cộng sự viên thân tín cũ của ông Diệm. Họ cũng đã
từng chống đối chế độ, đã từng lên án những tội ác của các ông Thục, Nhu,
Cẩn và nhóm Cần Lao Công Giáo mà họ cho là đã phá hoại chế độ. Nhưng điểm
khác biệt là họ không bào chữa cho chế độ nhưng lại chống ngày Cách mạng
1–11–63, và tách rời trách nhiệm ông Diệm ra khỏi trách nhiệm chung của các
anh em ông ta để biện minh cho những lỗi lầm và nhất là cho sự tham dự của
ông trong âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản của ông Nhu.
Họ cũng không ồn ào tham gia những hoạt động quá khích của nhóm Cần Lao
Công Giáo nhằm phục hồi “Tinh thần Ngô Đình Diệm” hoặc nhằm đánh bóng cho
chế độ cũ mà hậu ý chính trị là ngụy trang lịch sử để chạy tội với dân tộc.
Họ chỉ âm thầm tiếc nuối về một dĩ vãng xa xưa. Tiêu biểu cho một số người
ít ỏi đó là ông Võ Như Nguyện (hiện ở Mỹ), một chiến hữu kỳ cựu của ông Diệm
và là một đồng chí của tôi trong Phong trào của ông Diệm vào những năm đầu
của thập niên 40. Trong một lá thư gởi cho một người bạn tại Hoa Kỳ là ông
Hoàng Đồng Tiếu, ông Nguyện viết:
“… Vào khoảng tháng 9 hay tháng 10 năm 1963, ông Cụ (tức ông Diệm) về Huế
cho gọi tôi lúc 4 giờ chiều. Hai cụ cháu ngồi tâm sự với nhau đến 10 giờ
đêm. Cụ không ăn cơm tối mặc dù lúc 7, 8 giờ gì đó ông Cẩn thúc giục đến 3,
4 lần mời anh xơi cơm. Hôm ấy tùy viên là Châu Văn Lộc (hiện ở Mỹ) đã nghe
được câu chuyện giữa hai cụ cháu tôi, lúc tiễn tôi ra cửa Lộc nói với tôi”
“Lần thứ nhất Lộc mới nghe được câu chuyện giá trị như thế”. Hôm đó Cụ kể
lại chuyện xưa, nhắc lại mấy tập tôi đệ trình Cụ đề cập đến chuyện “Con
đường thoát” của tôi, của Công giáo, Phật giáo, chuyện trong gia đình,
chuyện người Mỹ… Tóm tắt cụ nói: “Chú Cẩn và thím Nhu có nhiều lầm lỗi, các
vị Linh mục và Đức Cha nữa cũng lầm lỡ, nhưng Nguyện là Nho học, Nguyện có
biết câu “Gia nan thiên hạ dị”? Chuyện nhà là vậy, khó giải quyết mau, để
lần lần sửa chữa, nếu gấp nếu mau sẽ lâm vào thế “Bì oa trữ nhục” của Nguyễn
Nhạc, Lữ, Huệ. Tôi biết cả và cũng vì bọn làm việc chung quanh cái gì cũng
chạy đến thưa trình với chú Cẩn, thím Nhu, Đức Cha. Tôi đã từng la rằng họ
chỉ có một Tổng thống thôi như Nguyện đã biết. Cụ lại nói rằng: “Hiện đang
bị khó dễ với người Mỹ vì Mỹ muốn đem quân sang. Nếu quân Mỹ sang thì mình
mất chính nghĩa, tạo đường tuyên truyền thuận lợi cho Cộng Sản. Mỹ đưa cố
vấn là quá đủ rồi. Tôi sẽ không chấp nhận, quân ta có đủ lính để đánh Cộng
Sản. Mỹ chỉ giúp khí giới, phương tiện là thắng. Nga, Tàu nó giúp Cộng Sản
mà nó có đưa quân đâu? Mỹ cũng muốn giao cho họ hải cảng, phi cảng, tôi có
trả lời giao hay không giao cũng như nhau, trong vấn đề chống Cộng thì dùng
chung. Họ không bằng lòng chắc sẽ xảy ra nhiều chuyện không hay, nhưng dù
sao mình cũng giữ thể thống của một quốc gia dù mình bị lật ngược thế cờ.
Vả lại, tôi và chú Nhu có ý dù hai miền Quốc-Cộng tranh chấp nhưng đều là
máu mủ ruột thịt, phải có biện pháp anh em giải quyết lấy chiến tranh, đỡ
tốn hao sinh mạng, tài sản, rồi bên nào kéo dài chung quy sẽ bị lệ thuộc vào
một cường quốc và đất nước chia rẽ vì các cường quốc có ý định chia rẽ cả”.
(Xem bản sao bức thư viết tay của ông Võ Như Nguyện trong phần Phụ Lục).
Ông Võ Như Nguyện là ai mà được ông Diệm khi ra Huế gọi đến phân trần tâm
sự và nói đến những bí ẩn quốc gia, những quyết định quan trọng liên hệ đến
những vấn đề tồn vong của đất nước?
Ông Võ Như Nguyện vốn là một phán sự tòa Khâm sứ Huế thời Pháp thuộc.
Cũng như tôi, thời quân Nhật chiếm đóng Đông Dương, ông Nguyện hoạt động cho
Phong Trào Cường Để dưới sự lãnh đạo của ông Diệm. Ông đã từng bị Pháp bắt
đày giam ở Dakto (Kontum) cho đến khi Nhật đảo chánh Pháp mới trở về Huế
hoạt động chống Việt Minh. Khi Pháp trở lại Huế và Hội đồng Chấp chánh của
ông Trần Văn Lý ra đời, ông Nguyện giữ chức vụ Phó giám đốc Thông tin Trung
phần và làm chủ nhiệm tuần báo “Lòng Dân”, một tờ báo có lập trường
chống Cộng, ủng hộ giải pháp Bảo Đại, dù trong thâm tâm ông Nguyện vẫn giữ
cảm tình với ông Diệm và thường đến nhà hai ông Ngô Đình Cẩn và Trần Văn Lý.
Cuối năm 1953, khi ông Diệm còn ở Âu Châu nghĩa là còn dưới chế độ Bảo
Đại, ông Nguyện được cử giữ chức vụ Giám đốc Công an Trung Việt. Nhưng trong
giai đoạn ông Diệm gặp khó khăn vì sự chống đối của tướng Hinh và Đại tá
Trương Văn Xương, Tư lệnh Quân khu II (miền Trung) thì ông Cẩn giao chức
Giám đốc Công an lại cho ông Nguyễn Chữ, một đảng viên cao cấp của Việt
Quốc, và là một chiến sĩ cách mạng cứng rắn. Năm 1955, ông Nguyện được anh
em ông Diệm cử giữ chức Tỉnh trưởng Bình Định, tuy nhiên chỉ mới độ sáu
tháng thì ông Nguyện mất chức vì ông Cẩn cho ông Nguyện là người cứng đầu
khó sai khiến, vả lại chính ông Cẩn từ lâu cũng muốn thay thế Nguyện bằng
một Tỉnh trưởng Công giáo. Ông Nguyện về Huế nhưng ông Ngô Đình Cẩn không
chịu tiếp, Nguyện bèn cứ xô cửa nhà ông Cẩn mà vào, lớn tiếng chỉ trích “bọn
Cần Lao”, “bọn Tập đoàn Công dân” dù ông Nguyện cũng đã từng là một loại Cần
Lao (nhất là ông Nguyện đã từng hân hạnh được nhà Ngô nhờ đứng làm vai
“trưởng nam” trong đám tang ông Ngô Đình Khôi). Rồi ông Nguyện đem cả nhà
lên chùa quy y mà theo lời ông là “để cho Cẩn biết mặt”. Khi viện đại học
Huế được thành lập, Linh mục Cao Văn Luận vốn là bạn thân của ông Nguyện,
bèn mời ông dạy môn Hán văn. Ngày xảy ra biến cố Phật giáo, ông Nguyện đã
cùng với các giáo sư đại học Huế ký tuyên ngôn lên án chính phủ Diệm “kỳ thị
và đàn áp Phật giáo”. Ông Nguyện bị ông Cẩn bắt giam. Cùng bị giam với ông
Nguyện là em tôi, Đỗ Hứa, chánh văn phòng của bác sĩ Giám đốc Nha Y Tế Trung
Việt. Sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, Thủ tướng Nguyễn Khánh thu hồi một nghị
định cũ của chính phủ Diệm nhằm dành một số đặc quyền đặc lợi cho những cán
bộ cũ của ông Diệm, (ông Nguyện giận lắm và có phàn nàn với tôi) ông Nguyện
bèn từ giã viện Đại học về nhà đi buôn, sống ngoài vòng cương tỏa, giữa một
thời thế đổi thay xáo trộn.
Nhưng cuộc đời của ông Nguyện vẫn chưa hết gian nan vì vào khoảng năm
1965–66, tướng Nguyễn Chánh Thi đang là Tư lệnh Quân đoàn I ở Huế lại có
những lời lẽ chê trách ông Võ Như Nguyện là “Cần Lao” làm cho ông thêm bất
mãn với chế độ mới, với tướng lãnh. Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ông Nguyện lên
phi cơ rời Việt Nam đến Pháp sống cuộc đời lưu vong, cô quạnh.
Ông Võ Như Nguyện với anh vợ tôi là ông Nguyễn Bá Mưu vốn là bạn đồng
nghiệp cùng làm việc tại Tòa Khâm sứ Huế, cả hai đều là chiến hữu của ông
Diệm, đều là trưởng nam của những nhà khoa giáp từng có thành tích chống
thực dân Pháp. Ông Nguyện với tôi vừa là đồng chí vừa là bạn thân hơn hai
mươi năm trời, dù ông là một nhà Nho, một thi sĩ chuyên về thơ Đường, trong
lúc tôi chỉ là một kẻ võ biền mới học hết Tam Tự Kinh, chưa đọc xong sách
Luận Ngữ.
Tuy ông Nguyện là một nhân vật không nổi tiếng lắm, nhưng ở Huế giới trí
thức, giới công chức, nhất là giới Công giáo không mấy ai không biết. Trường
hợp ông Nguyện là một trường hợp điển hình của người mang một tâm trạng đau
khổ và mâu thuẫn: Tuy chống Cộng nhưng lại phải ca ngợi âm mưu thỏa hiệp với
Cộng Sản của Diệm–Nhu, tuy là cán bộ rường cột của nhà Ngô nhưng lại bất mãn
với nhóm Cần Lao và Tập đoàn Công dân, tuy công nhận rằng chế độ Diệm đã
phạm những tội ác tày trời và những lỗi lầm làm nguy hại quốc gia nhưng lại
vẫn thương tiếc ông Diệm và những vàng son của chế độ đó.
Từ ngày lưu vong xứ người, lòng “hoài Ngô” của ông Nguyện lại càng dạt
dào hơn. Vì thế, khi kể lại buổi hội kiến giữa ông ta với ông Diệm xảy ra
vào những ngày cuối của chế độ, ông Nguyện đã muốn biện minh rằng sở dĩ ông
Diệm không chịu để Hoa Kỳ đem quân vào miền Nam là vì lập trường “bắt tay
với Cộng Sản” hợp lý của ông Diệm. Và như một hệ luận đương nhiên, ông
Nguyện trách tôi là người thiếu thủy chung với ông Diệm vì đã tham gia cuộc
cách mạng ngày 1–11–63.
Tuy nhiên, nếu ai cũng thông cảm trường hợp của ông Nguyện đã vì tình cảm
rất riêng tư mà tiếc thương một vị thầy, một lãnh tụ đã liên hệ và đã tác
động mạnh mẽ vào hơn 20 năm trời của cuộc đời ông, và nếu ai cũng đồng ý với
lối hành xử hợp tình hợp lý của ông bằng cách không hùa theo nhóm Cần Lao
Công Giáo ồn ào tại hải ngoại, thì ngược lại, trong lá thư đó (dù chỉ là một
lá thư tâm sự cá nhân), ông đã cho thấy một cái nhìn lịch sử thiếu nghiên
cứu, do đó thiếu vô tư, và một lập trường cần phải phê phán là lập trường
cần thiết thỏa hiệp với Cộng Sản. Tuy nhiên, cái nhìn lịch sử thiếu vô tư đó
và lập trường lạ lùng đó chỉ là những phản ứng quá độ của một người đã dùng
cái nhìn tình cảm cá nhân để xét một vấn đề lớn hơn là vấn đề lịch sử và dân
tộc mà thôi. Và điều đó, riêng đối với tôi, thì cũng dễ hiểu cho trường hợp
của ông Nguyện.
Điều đáng lưu ý qua những lời tâm sự của ông Diệm với người chiến hữu
thân tín, là bản chất phong kiến và độc tôn của ông Diệm qua quan niệm
nặng tình gia đình mà nhẹ nghĩa với quốc gia. Chín, mười năm trời anh em
ông Diệm cai trị đất nước đã phạm không biết bao nhiêu tội lỗi to lớn, những
tội lỗi đưa đất nước đến tình trạng suy sụp thế mà dù có lúc biết, ông vẫn
không chịu cản ngăn anh em chỉ vì sợ “gia nan thiên hạ dị” và sợ “bì oa trữ
nhục”. Thì ra chỉ vì ông sợ rằng nếu sửa sai, ngăn cản thì 4, 5 anh em ông
sẽ khích bác chống đối lẫn nhau làm thiên hạ dị nghị, mà không nghĩ gì đến
vận mệnh của đất nước và của mười lăm triệu đồng bào. Ông Diệm đã biết nói
đến hai câu “Gia nan thiên hạ dị” và “Bì oa trữ nhục” của tư tưởng
Khổng–Mạnh mà ông không nhắc đến câu “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ” vốn là tiêu chuẩn, khuôn vàng thước ngọc của Thánh Hiền cho những ai
muốn làm nhà lãnh đạo quốc gia. Ông Diệm nói rằng ông không chấp nhận việc
Mỹ áp lực đem quân vào miền Nam mà chính ông lại không những yêu cầu Mỹ mà
còn cả Đài Loan đem quân đến miền Nam.
Ông cũng đã để cho Mỹ đem 16 ngàn binh sĩ của họ vào hoạt động trên lãnh
thổ Việt Nam, và mặc dù ngày 22 tháng 5 năm 1963 Tổng thống Kennedy tuyên bố
sẵn sàng rút quân về Mỹ ngay nếu có sự yêu cầu của Việt Nam Cọng Hòa nhưng
ông Diệm lại không yêu cầu, như đã nói trong một đoạn trước. Thử hỏi Việt
Nam có còn chủ quyền không khi ông Diệm đã để cho Mỹ đặt Bộ Tư lệnh Hành
quân tại thủ đô Sài Gòn do một vị tướng bốn sao (Paul Harkins) chỉ huy như
dưới thời chiến tranh Pháp–Việt (1945–1954) với các vị Tư lệnh Pháp
Carpentier, DeLattre, Navarre. Thử hỏi Việt Nam Cọng Hòa có còn chủ quyền
nữa không khi người Mỹ muốn ra vào Việt Nam khi nào cũng được mà không chịu
sự kiểm soát của luật lệ xuất nhập cảnh và di trú của Việt Nam Cọng Hòa.
Nhóm Cần Lao Công Giáo lại còn bày đặt chuyện ông Diệm không chịu “cho
thuê nhượng” (cession and bail) căn cứ Cam Ranh theo sự đòi hỏi của Mỹ. Thử
hỏi tại sao người Mỹ lại cần ông Diệm nhượng cho họ hải cảng Cam Ranh khi mà
họ là đồng minh (thời chiến) muốn sử dụng phi cảng hay hải cảng nào cũng
được theo sự tiến triển của chiến tranh và sự thỏa thuận giữa hai Đồng minh
như họ đã sử dụng các phi cảng Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và Đà Nẵng (phi cảng
Đà Nẵng hoàn toàn do người Mỹ phụ trách tái thiết với ngân quỹ 400 triệu
đồng để đáp ứng với nhu cầu và trọng lượng của phi cơ hạng nặng Mỹ như đã
được nhắc qua trong chương “Tham Nhũng”). Hải cảng Cam Ranh như đã được Mỹ
sử dụng dưới thời Nguyễn Văn Thiệu mà họ có đòi chính phủ Thiệu nhượng cho
họ đâu. Và mặc dù Mỹ sử dụng nhưng hải cảng Cam Ranh vẫn thuộc chủ quyền
Việt Nam Cộng Hòa, vẫn phải chịu luật lệ hành chánh và an ninh của Việt Nam
Cọng Hòa; những kho tiếp liệu của quân đội Việt Nam Cọng Hòa vẫn được thiết
lập trên hải cảng Cam Ranh gần các cơ sở của quân đội Mỹ. Trường hợp này
cũng đã xảy ra tại Pháp, tại Anh, tại Đại Hàn v.v… thời chiến tranh. Ngoài
ra nếu Mỹ có đòi ông Diệm cho thuê và nhượng Cam Ranh mà ông Diệm không chịu
thì tại sao biết bao nhiêu sách sử của Mỹ đã phanh phui những bí mật về chế
độ Diệm, về chiến tranh Việt Nam mà không có một tài liệu nào đề cập đến
chuyện “thuê nhượng” Cam Ranh. Tại sao trong chương trình truyền hình “A
Television History” của ký giả Karnow trên đài PBS, những nhân vật hết lòng
ủng hộ ông Diệm như Đại sứ Nolting chẳng hạn lại không đem vấn đề thuê
nhượng Cam Ranh ra để bênh vực ông Diệm. Nhóm Công Giáo Cần Lao muốn đề cao
ông Diệm là nhân vật chống Mỹ, là nhân vật quyết bảo vệ chủ quyền Việt Nam
mà họ lại lờ đi những sự kiện lịch sử như vừa đề cập trên đây. Họ cứ tưởng
thiên hạ không có người am hiểu tình hình, không có người nghiên cứu lịch
sử. Huống chi dù người Mỹ có muốn Việt Nam Cọng Hòa cho thuê và nhượng căn
cứ Cam Ranh thì việc đó vẫn có lợi cho Việt Nam Cọng Hòa cả mặt quốc phòng,
mặt chống Cộng, lẫn mặt tài chánh mà Cam Ranh vẫn cứ thuộc chủ quyền Việt
Nam, Việt Nam muốn thu hồi lại lúc nào cũng được như Thái Lan đã lấy lại căn
cứ quân sự vô cùng quan trọng là Utapao hoặc như Phi Luật Tân (đã lấy lại
Subic Bay và Clark Air Base năm 1992) và Hy Lạp thỉnh thoảng “dọa” thu hồi
những căn cứ quân sự mà họ đã nhượng và cho thuê. Nếu quả thật không chịu
cho Mỹ “thuê và nhượng” căn cứ Cam Ranh trong hoàn cảnh miền Nam đang bị xâm
lăng, đang có chiến tranh và đang thường trực bị Bắc Việt (có sự yểm trợ tối
đa của Nga–Tàu) đe dọa thì thái độ đó của ông Diệm khôn hay dại, có yêu
nước, có chống Cộng không? Hay là vì anh em ông âm mưu thỏa hiệp với Cộng
Sản Hà Nội nên mới chủ trương không cho Mỹ sử dụng Cam Ranh? Phải chăng
những nhà lãnh đạo Đức, Anh, Bỉ, Pháp, Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Hy
Lạp, Đại Hàn, Phi Luật Tân… những quốc gia đã cho Mỹ thuê nhượng rất nhiều
căn cứ quân sự từ sau đệ nhị thế chiến đến nay (nghĩa là trong thời bình)
đều không yêu nước bằng anh em ông Diệm, đều không biết trách nhiệm đối với
quốc dân bằng anh em ông Diệm? Cố tình xuyên tạc lịch sử hay vì thiển cận và
mang nặng đầu óc phe đảng để đề cao anh em ông Diệm, thế mà nhóm Cần Lao
Công Giáo lại lờ đi chuyện ông Ngô Đình Thục sau khi bị Toà thánh La Mã
trừng phạt lần thứ hai vì tội lộng hành và phản phúc lại phải đến Hoa Kỳ
nương nhờ người Mỹ rồi gởi nắm xương tàn nơi quê hương người Mỹ mà anh em
ông Diệm đã từng chửi bới và phản bội khi chủ trương đuổi Mỹ để bắt tay với
Cộng Sản Hà Nội? Xin hỏi nhà Nho và nhà chống Cộng (đến chiều) Võ Như Nguyện
nghĩ sao?
Ông Diệm lại bảo “tại những kẻ chung quanh cái gì cũng thưa trình với chú
Nhu, chú Cẩn…” mà chính ông lại là người tùng phục anh em ông trước hơn ai
hết. Ông lại mượn chuyện bất hòa giữa anh em Nhạc, Lữ, Huệ để che đậy tính
nhu nhược và sự tòng phục của ông đối với anh em ông. Ông đã không đọc sử
bằng cặp mắt của một nhà chính trị nghiên cứu kỹ càng và bằng tấm lòng rộng
rãi bao quát của người làm lịch sử mà lại đọc theo nhãn quan của một cựu
thần nhà Nguyễn Gia Long và một vị vua của thời Trung Cổ.
Thật vậy, thời nhà Nguyễn Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã ba lần chống đối người
anh ruột là Nguyễn Nhạc, có lần đã đem quân vây đánh thành Qui Nhơn ngặt
nghèo đến nỗi Nguyễn Nhạc phải lên thành kêu khóc: “Nỡ lòng nào mà nồi da
xáo thịt như thế” (bì oa trữ nhục). Nguyễn Huệ động lòng bèn rút quân về
Thuận Hóa. Nhưng nếu đầu óc ông Diệm chỉ cần sáng suốt và vô tư hơn một chút
thì sẽ thấy hành động chống đối anh của Nguyễn Huệ là một hành động cách
mạng nhằm giáo dục đồng chí, hành động của một nhân vật phi thường muốn làm
đại nghiệp cứu nước cứu dân, hoàn toàn khác hẳn với hành động của anh em nhà
Ngô chống đối nhau chỉ vì tranh giành đặc quyền đặc lợi. Nguyễn Huệ đem quân
đánh anh cho cả thiên hạ biết là vì dân vì nước, còn ông Diệm không dám
trách cứ hay ngăn chận anh em làm bậy là vì sợ thiên hạ dị nghị. Hai hành
động, hai thái độ, hai tâm chất, hai động cơ, một trời một vực như thế làm
sao mà dựa vào con Phụng Hoàng ngày xưa để biện hộ cho con chim sẻ ngày nay
được.
Nguyễn Huệ là một nhân vật tài cao chí lớn, mặc áo vải, phất cờ đào, phát
động cuộc cách mạng Tây Sơn và nêu cao khẩu hiệu “Thiên Hạ Đại Tín” để đánh
Bắc dẹp Nam, thu giang sơn về một mối. Nguyễn Huệ biết lẽ nhu cương, biết
đường tiến thoái, biết nhìn thấu tâm can trí tuệ của những nhân vật trong
một thời đại loạn ly rối rắm. Nguyễn Huệ biết bỏ rơi Nguyễn Hữu Chỉnh, kẻ
chạy theo mình, dù người đó tự xưng là nhân tài số một của đất Bắc, nhưng
lại cũng biết cúi đầu cung kính nghe lời chỉ giáo của một ông đồ già ẩn mình
nơi thôn dã là Nguyễn Thiếp, phu tử đất La Sơn. Nguyễn Huệ biết chặt đầu
cháu rể là Vũ Văn Nhậm để trừ hậu họa, trong lúc đó lại biết trọng dụng
những cựu thần nhà Lê để thu phục lòng người. Nguyễn Huệ biết rõ anh ruột
mình chỉ là kẻ có đảm lược của người võ dõng mà không có tài chí của con Đại
bàng nên không thể đảm đương đại sự. Cho nên Nguyễn Huệ đã phải giáo dục anh
bằng bài học võ dõng để khỏi cản trở sự nghiệp cứu nước vĩ đại của cuộc cách
mạng Tây Sơn. Rõ ràng Nguyễn Huệ đã vì nợ nước mà quên tình nhà, khác hẳn
với ông Diệm trí lự hẹp hòi, chỉ vì sợ “bì oa trữ nhục”, vì sợ “gia nan
thiên hạ dị” mà để cho quốc gia phải suy sụp. Chẳng qua vì vận nước
truân chuyên nên nhà lãnh đạo tài ba mà mệnh yểu, vua Quang Trung chết sớm,
làm cho sự nghiệp anh hùng phải dở dang và dân tộc mất một cơ hội vươn mình
để vượt qua những trì trệ của hai trăm năm Trịnh–Nguyễn loạn ly.
Phê bình về ba anh em Nhạc, Lữ, Huệ, sử gia Trần
Trọng Kim đã viết:
Nguyên nước ta là nước quân chủ, lấy cái nghĩa vua tôi là trọng hơn cả,
thế mà từ Lê Trung Hưng trở về sau, họ Nguyễn hùng cứ phương Nam, họ Trịnh
xưng Chúa phương Bắc, trên tuy còn tôn vua nhưng quyền về cả nhà chúa. Trong
nước ta đã có vua lại có chúa, làm thành ra vua không phải vua và tôi không
phải là tôi, ấy là thời đại loạn. Đến sau, ở Nam thì có Trương Phúc Loan
chuyên quyền làm bậy, ngoài Bắc thì có kiêu binh làm loạn, giết hại đại
thần…
Lúc ấy anh em Nguyễn Nhạc là người mặc áo vải, dấy binh ở ấp Tây Sơn
chống nhau với vua Nguyễn để lập nghiệp ở đất Qui Nhơn. Tuy rằng đối với họ
Nguyễn là cừu địch nhưng mà đối với nước Nam thì là một người anh hùng lập
thân lúc biến loạn đó mà thôi.
Còn như Nguyễn Huệ làm Vua Thái Tổ nhà Tây Sơn thì trước giúp anh bốn lần
vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Xiêm
La, sau lại ra Bắc dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại mối cang thường. Ấy là
đã có sức mạnh lại biết làm việc nghĩa vậy.
Sau vua Chiêu Thống đi kêu cứu bên Tàu, nhà Thanh nhân dịp ấy mượn tiếng
cứu nhà Lê để lấy nước Nam, sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long.
Vậy nước đã mất thì lấy lại nước, Nguyễn Huệ đem quân ra đánh một trận,
phá tan hai mươi vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ chạy,
làm cho vua tôi Tàu khiếp sợ, tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công
nào lẫm liệt như thế.
Vậy lấy công lý mà suy thì vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một ông vua đứng
ngang hàng với vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Thái Tổ và nhà Tây Sơn là một nhà
chính thống như nhà Đinh, nhà Lê vậy.
So sánh phong cách và hành xử, ta thấy rõ sự trái ngược giữa hai nhân vật
lịch sử: một Nguyễn Huệ Quang Trung anh hùng khi phải chọn lựa, đã coi nhẹ
tình ruột thịt mà đặt nặng nợ quê hương, và một Tổng thống Ngô Đình Diệm nhu
nhược, những lúc hiếm hoi cần chọn lựa thì lại quên sự tồn vong của đất nước
mà chỉ lo bảo bọc lấy gia đình.
Không noi theo tấm gương rực rỡ như ánh sáng mặt trời của vua Quang
Trung, ông Diệm cũng bỏ rơi quan niệm “Hiếu Trung” của Đức Trần Hưng Đạo.
Lý Chiêu Hoàng vợ vua Trần Thái Tông không con, Trần Thủ Độ bèn bắt vợ
của An Sinh Vương Trần Liễu (vốn đã có mang mấy tháng) gán cho Trần Thái
Tông. Hành động đảo lộn nhân luân táo bạo của Trần Thủ Độ làm cho hai anh em
vua Trần bất hòa lộn xộn, Trần Liễu ôm mối hận thù mất vợ mất con đến chết
vẫn không nguôi. Lúc sắp lâm chung ông trối trăn với con là Trần Quốc Tuấn:
“Mai sau nếu con không vì ta mà lấy thiên hạ thì nằm dưới đất ta cũng không
nhắm mắt được”.
Đức Trần Hưng Đạo vẫn không quên lời di chúc của cha nhưng Ngài không cho
là phải. Năm 1257 lúc quốc gia lâm nguy, Ngài bèn hỏi thử các con và bọn gia
tướng về lời trối trăn cũ. Các con Ngài và Yết Kiêu, Dã Tượng đều khuyên
Ngài không nên trả thù, không nên làm việc hoán nghịch. Nhờ Ngài biết đặt
chữ Trung trên chữ Hiếu mà quốc dân đoàn kết, vua tôi tướng sĩ một lòng đánh
đuổi được quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, tô điểm vàng son cho lịch sử nước Nam
ta.
Còn ông Diệm thì trên hết phải là anh em ruột thịt, dù anh em tràn đầy
tội lỗi, còn quốc gia dân tộc chỉ là thứ yếu. Chỉ tiếc cho nhà nho Võ
Như Nguyện gặp được cơ hội ông Diệm tỏ bày tâm sự thế mà không noi gương
những kẻ võ biền Dã Tượng Yết Kiêu khuyên ông Diệm không nên nghe lời Ngô
Đình Nhu bắt tay với Cộng Sản làm điều phản nghịch đối với quân dân miền
Nam, lại còn viết thư cho tôi, cho bạn bè bênh vực tội phản phúc của anh em
nhà Ngô.
Những lời tâm sự của ông Diệm với ông Võ Như Nguyện còn cho thấy bản chất
lừa dối bất tín của ông Diệm. Thật vậy, suốt thời gian lãnh đạo quốc gia,
ông thường nêu cao khẩu hiệu “thành tín” trong các bài diễn văn, trong các
lời tuyên bố. Hễ có dịp là ông trịnh trọng nhắc đến hai chữ “thành tín” để
dạy dỗ dân và khuyên bảo kẻ thừa hành. Điều “thành tín” đầu tiên và sống
chết nhất mà ông đòi hỏi nơi nhân dân là tuyệt đối trung thành và đặt xác
tín vào lý tưởng “diệt Cộng cứu nước”. Những khẩu hiệu “Bài Phong, Phản
Thực, Diệt Cộng” của chế độ được treo khắp thôn xóm thị thành, dán khắp hang
cùng ngõ hẹp, và ra rả ngày đêm trên các đài phát thanh. Anh em ông và chế
độ ông tiêu diệt hết mọi đảng phái, đàn áp hết mọi tôn giáo lớn nhỏ để nhân
danh “chống Cộng” mà độc quyền chống Cộng. Thậm chí bất kỳ ai đối lập với
ông, dù nhân vật đó là nhà cách mạng yêu nước và chống Cộng cũng bị anh em
ông và chế độ ông nhân danh chống Cộng mà khủng bố, giam cầm hay thủ tiêu.
Thế rồi sau mười năm dựa vào Mỹ và lập trường chống Cộng của nhân dân mà
được làm Tổng thống và vinh thân phì gia, anh em ông lại đổi trắng thay đen,
từ lập trường quyết liệt chống Cộng Sản như kẻ thù không đội trời chung, đến
năm 1963 lại xoay thành lập trường thân Cộng, bắt tay với Hồ Chí Minh, gọi
người Cộng Sản là “anh em máu mủ ruột thịt”, đề cao Cộng Sản là “những người
Điện Biên Phủ” và chấp nhận triết lý xã hội của Marx–Hegel.
Thái độ bất trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như
thế, chả trách ông Trần Văn Lý, một nhân sĩ Công giáo miền Trung vốn biết rõ
xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên án nhà Ngô là
những kẻ mang mười chữ “bất’: “Bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa,
bất tài, bất trí, bất công, bất minh, bất tín, và bất hòa”
.
Hơn ai hết, ông Trần Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em họ Ngô mang
mười chữ “Bất”. Ông Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào
quan trường, lại là đồng đạo và đồng hương (Bình Trị Thiên), cùng là môn đệ
của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong trào
Cường Để; năm 1945, ông Diệm đã cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một tháng
sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947–1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng “Giải
Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể chế “Quân chủ lập hiến”. Thời làm Thủ
hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm hoạt động chính
trị, ngày ông Diệm mới cầm quyền, ông Lý bị ông Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném
lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông
Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm “Caravelle”.
Người ta có thể chê ông Lý là bảo thủ, là thiếu khả năng làm một vị
nguyên thủ quốc gia, nhưng những ai đã từng biết ông Lý đều phải ca ngợi ông
là một nhân vật liêm chính, cương trực và đầy lòng yêu nước. Chính phủ Trần
Trọng Kim trọng vọng ông như đã trọng vọng các Cụ Nguyễn Trác ở Thanh Hóa,
Cụ Đặng Văn Hướng ở Nghệ An, ông Lê Văn Sâm (Cao Đài) nên mới mời ông giữ
chức Tổng Đốc bốn tỉnh miền cực Nam Trung–Việt như một thứ tiểu Khâm sai
trong lúc đại đa số quan lại bị thải thồi. Ngày Cách mạng 1–11–63 thành
công, ông được tướng lãnh mời vào Hội Đồng Nhân Sĩ nhưng ông từ chối vì ông
đòi hỏi thành lập “Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng” thay cho “Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng”. Ngày tướng Khánh làm Thủ tướng mời ông giữ chức Đại sứ tại Rome,
ông cũng từ chối dù ông rất nghèo, sống trong một căn nhà thuê giản dị ở Tân
Định. Ngày ông làm Thủ Hiến, ông trừng trị em ruột vì tội dĩ công vi tư, lấy
xe chính phủ về sử dụng riêng trong ngày chủ nhật. Dù là người Công giáo,
ông vẫn không bênh vực các linh mục, ông gọi các linh mục thường hay đến
công sở để quấy rầy là các “ông quan”.
Người miền Bắc, miền Nam ít biết về ông Trần Văn Lý, nhưng người miền
Trung và các nhân sĩ tiếng tăm như cụ Trần Đình Nam, Trần Văn Hương, Nguyễn
Xuân Chữ, Phan Bá Cầm, Hà Thúc Ký, Lê Sĩ Ngạc, Trần Điền, Trần Trọng Sanh
v.v… đều biết rõ phong độ và khí tiết của ông Trần Văn Lý, và tôi chắc chắn
rằng quý vị ấy đều công nhận lời phê phán họ Ngô của ông Lý là lời phê phán
vô tư, đáng được ghi vào sách sử cho hậu thế noi gương.
Anh em ông Diệm không chỉ mang mười chữ Bất nhưng nếu chịu khó nghiên cứu
về dòng họ, xuất xứ, công danh, sự nghiệp, về tính tình và cách hành xử của
họ thì sẽ thấy họ có ba yếu tính rất đặc thù:
Họ là những kẻ tài bất cập chí, lực bất tòng tâm, thiếu ý thức chính trị
và thiếu khả năng lãnh đạo mà luôn luôn mang tham vọng và hành xử độc tôn,
độc quyền; dù họ có làm nên “Vương Bá” cũng chỉ là nhờ thế lực của ngoại
nhân. Tư tưởng chính trị của họ không vượt quá tín điều Thiên Chúa giáo,
hành động chính trị của họ trước sau chỉ là bạo quyền bạo lực.
Họ là hạng người luôn luôn cao ngạo chủ quan, đầu có mang nặng lý thuyết
mơ hồ, do đó hành xử luôn luôn không theo thực tế và không hợp lòng dân cho
nên họ phải chịu thất bại. Thất bại với Phạm Quỳnh, thất bại với Pháp, thất
bại với Nhật Bản, với Hoa Kỳ, với quân đội Việt Nam Cọng Hòa, với Phật giáo,
với Cộng Sản…
Họ luôn luôn là kẻ ăn cháo đá bát, vong ân phản bội với bằng hữu đồng chí
ân nhân, với rất nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều thế lực đã giúp họ trong
những giờ phút gian nguy cũng như đã giúp họ ngồi lên quyền hành, địa vị cao
cả.
Tôi muốn nhắn hỏi ông Võ Như Nguyện (và cả ông Trần Văn Hướng, Trần Văn
Dĩnh) về cái chết của Đội Xứ, Đội Lộc, Quản Quế, Quản Cang, của Tôn Thất Đạt
trong tòa lãnh sự Nhật, của Nguyễn Văn Cẩn, Bửu Đà trong sở Hiến binh Nhật,
của anh Bảo tại Ba Tơ khi theo ông Diệm từ Sài Gòn ra bị bắt tại Quảng Ngãi
và cái chết của bao nhiêu người nữa rải rác khắp Trung kỳ, nhất là anh em
quân nhân, tất cả những người từng là chiến hữu của ông Diệm và của chúng
ta. Họ chết để tạo sự nghiệp, uy tín cho ông Diệm trong bước đầu gian nguy
phò tá Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, thế mà sau khi anh em ông Diệm ngồi trên ngôi
cao tuyệt đỉnh, bạc vàng như núi như non, có khi nào họ đoái hoài nhớ thương
đến vong hồn của những người đó, ngay cả một lời hỏi han an ủi những vợ góa
con côi của họ cũng không có.
Các ông bênh vực nhà Ngô, tôi muốn hỏi các ông nhà Ngô có đạo đức không,
có nhân nghĩa không, có thủy chung không, hay chỉ là kẻ qua sông chặt cầu?
Tôi không phải là nhà Nho như ông Diệm, ông Nguyện, ông Lý, nhưng nhờ sự
dạy dỗ của cha ông và nhờ trải nhiều cay đắng trong trường đời nên tôi cũng
biết được ý nghĩa chính trị và văn hóa của lời dạy Thánh Hiền: “Dân vi quý,
xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Năm 1942, cũng vì tin vào thái độ “cởi áo từ
quan”, tin vào lý tưởng “vì dân” của ông Diệm nên tôi đã theo ông hơn hai
mươi năm trời, đã hết lòng trung thành và hoạt động với ông, vì qua ông tôi
ngỡ lý tưởng yêu nước yêu dân của mình được thành tựu. Trong suốt chín, mười
năm cầm quyền, chế độ của ông khinh thường nhân dân, khủng bố đồng bào, đàn
áp và tiêu diệt tôn giáo và đảng phái, giam cầm sát hại người quốc gia yêu
nước, kể cả bạn thân, đồng chí, ân nhân, công thần, mà trong đó có rất nhiều
tri kỷ của tôi, nhưng vì nghĩ rằng chế độ này còn thay đổi được, Cộng Sản
còn là kẻ thù của ông, và vì còn muốn giữ chút tình cố cựu với riêng ông nên
tôi đành ôm lấy hai chữ “ngu trung”, mặc cho bạn bè chê trách và rất nhiều
lực lượng quốc gia yêu nước thù, ghét.
Nhưng đến năm 1963, khi ông phóng tay công khai và tàn ác tiêu diệt bộ
phận lớn nhất của dân tộc là Phật giáo, và khi ông quyết định tiến hành cuộc
thỏa hiệp bất lợi để sống chung với Cộng Sản, và phản bội lại ý nguyện của
toàn dân, thì tôi quyết định xem ông như kẻ thù, để thà làm kẻ “phản quân ái
quốc” hơn là kẻ “phản quốc trung quân”. Vả lại, như tích xưa đã nói, mà quy
luật cách mạng hiện đại nhất cũng đã chứng nghiệm: “Tôi chỉ nghe nói đến
thiên hạ giết một kẻ hung bạo chứ không nghe ai nói giết Trụ Vương bao giờ”.
(Lời của Mạnh Tử)
“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Theo đức Mạnh Tử thì phải có
dân mới có nước, và có nước mới có vua. Chức năng và nhiệm vụ người làm Vua
là phải “Bảo Dân”, nghĩa là phải giữ gìn và tăng trưởng hạnh phúc của Dân.
Nếu người làm Vua không hiểu rõ cái nhiệm vụ đó, hoặc hiểu mà vẫn không làm
cái chức năng đó thì sẽ trái lòng dân, phản thế nước, ngược mệnh trời. Người
giữ quyền trị dân mà chỉ dùng bạo lực để khống chế dân thì chỉ là bạo chúa
phải diệt trừ.
“Bởi cái tư tưởng ấy cho nên trong cái triết lý chính trị của Mạnh Tử có
cái tinh thần Duy Dân thì việc trị dân trị nước chỉ có phép Công là trọng
hơn cả, dù ai có quyền thế to thế nào cũng không ra ngoài phép Công được.
Phép Công đã định thế thì từ vua quan cho chí người thường dân không ai được
vượt qua mà làm điều trái phép. Đã có phép Công thì Thiên tử cũng không thể
lấy quyền thế mà bỏ được. Người làm quan giữ phép phải theo phép mà trị tội,
dù người trái phép là ông Thái Thượng Hoàng cũng không tha. Ấy thế mới là
Công” .
Lời giải thích quyết liệt và đầy đủ của học giả Trần Trọng Kim trong
Nho giáo phản ánh chính sách trị quốc dân chủ và bình đẳng trong triết
lý “thượng tôn pháp luật” của mọi quốc gia dưới mọi thời đại. Và học giả đó,
khi là sử gia viết cuốn “Việt Nam Sử Lược”, thì cũng đã trung thực và can
đảm ca ngợi nhà Tây Sơn dù khi viết ông đang sống dưới triều Khải Định, Bảo
Đại là hậu duệ của Nguyễn Gia Long. Tư cách đó có khác gì tư cách của Tư Mã
Thiên ngày xưa đâu!
“Đã có phép Công thì Thiên tử cũng không lấy quyền thế mà bỏ được”.
Nhà Nho Võ Như Nguyện nghĩ sao về lời dạy của thầy Mạnh Tử, đúng hay sai?
Ông Võ Như Nguyện thời trước 1975 còn ở quê nhà từng có lập trường chống
Cộng vững chắc, từng là chủ nhiệm báo Lòng Dân, từng viết tập “Thế
Nước Lòng Dân” gởi cho ông Diệm, từng hô hào chánh sách lấy dân làm căn bản,
lấy lòng dân làm vũ khí đấu tranh với Cộng Sản, thế mà ông lại bênh vực cho
một gia đình làm mất lòng dân mà chính ông cũng đã nặng lời đả kích.
Đã thế, ông Nguyện còn mượn danh nghĩa của nhà đại cách mạng Phan Bội
Châu để tìm cách tô điểm cho ông Diệm: ông xác quyết chắc nịch với Hương
Giang Tư Mã (tức ông Thái Văn Kiểm) trong bài “Hoài Niệm Cụ Phan Sào Nam”
rằng bài thơ Gươm Đàn Nửa Gánh là của Cụ Phan làm ra để đặc biệt tặng
ông Diệm. (Cũng như Trung úy Nguyễn Minh Bảo viết trong “Đời Một Tổng Thống”
rằng bài thơ Ai biết trời Nam hãy có Người là của cụ Phan sáng tác
riêng tặng ông Diệm).
Hành động “thấy sang bắt quàng làm họ” đó đã bị vạch trần vì tác giả thật
sự của bài Gươm Đàn Nửa Gánh là cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác đã được Lãng
Nhân Phùng Tất Đắc ghi chú xuất xứ rõ ràng trong tác phẩm Chơi Chữ
(trang 173). Ngoài ra, Vũ Lão Kim Âu, trên nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại số
147 (tháng 10 năm 1983), trong bài viết “Xin đừng râu ông đem cắm cằm bà”
cũng đã là chứng nhân của một buổi mạn đàm của các vị khoa giáp tiền bối (có
cả cụ Nghè Giác) tại hội Khổng Học Sài Gòn và nay tái xác nhận bài Gươm
Đàn Nửa Gánh không phải của cụ Phan mà là của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác. Và
Vũ Lão Kim Âu đã kết thúc bài viết bằng lời mỉa mai hai ông Kiểm và Nguyện
rằng “không biết thì dựa cột mà nghe” mà từ đó chẳng thấy nhà Nho Võ Như
Nguyện lên tiếng!
Mượn thơ cụ Phan để tô điểm cho ông Diệm, hai ông Võ Như Nguyện và Nguyễn
Minh Bảo quên rằng nếu cụ Phan có sáng tác bài thơ nói trên sao trong rất
nhiều tác phẩm sưu tầm văn thơ Cụ của rất nhiều tác giả cả hai miền Nam–Bắc,
không một ai đề cập đến bài thơ đó cả.
Hơn nữa, nếu quả thật có thơ cụ Phan tặng ông Diệm thì ắt hẳn ông Diệm
phải biết và bộ máy tuyên truyền luôn luôn sẵn sàng nịnh hót ông đã phải
khoa trương ồn ào từ những năm đầu chấp chánh (1954–55). Ông Diệm biết nói
láo (với Robert Shaplen năm 1962) về dòng dõi của mình thì chuyện cụ Phan
tặng thơ, nếu có thật, hẳn sẽ được ông, hoặc chính quyền của ông thổi phồng
ghê lắm.
Nhưng suốt thời gian ông Diệm nắm quyền, ta không nghe ai nói đến chuyện
này. Phải đợi đến khi ông chết, Trung úy Bảo mới nói đến vào năm 1971 để
phát động phong trào phục hồi Ngô Đình Diệm; và ông Nguyện mới đề cập đến
tại hải ngoại xa xôi lưu lạc tưởng rằng không ai kiểm chứng được!
Ông Võ Như Nguyện là nhà Nho, con của một gia đình môn đồ Khổng Mạnh thế
mà ông lại bênh vực lập trường “sợ cảnh bì oa trữ nhục” của ông Diệm mà
không nghĩ đến vì lập trường đó mà anh em ông Diệm đã làm đau khổ cho cả một
dân tộc, làm tan nát cả một quê hương. Trong lúc đó thì một trong nhiều
người ngoại quốc lại biết rõ ông Diệm chỉ vì nghe lời anh em ông ta mà làm
cho chế độ anh em ông ta bị suy sụp, đất nước tang thương.
Dennis Warner phần thì nhờ điều tra nghiên cứu kỹ càng tình hình Việt
Nam, phần thì nhờ ông Trần Văn Khiêm em ruột bà Nhu cho biết về những bí ẩn
của gia đình và chế độ Diệm nên đã lên án nặng nề ông Diệm và về vợ chồng
Ngô Đình Nhu:
A stage has been reached, in fact, where the tyranny the West allied in
Saigon was in many ways worse than the tyranny it was fighting against.
Communist terror was at least discriminately applied: Nhu’s was
indiscriminated. And in all of this, Diem was a willing, but almost
certainly unwitting, ally. As Saigon put it, he wore “blinkers” from the
earliest of the regime. Since for years, it was impossible for an outsider
to carry on a normal conversation with him, he never listened to the
evidence against the Nhu. Cabot Lodge tried, as others has tried before him
and failed. There was no alternative now but coup-d’etat .
(“Đây là lúc mà chính quyền Sài Gòn đồng minh với Tây phương, đã trở nên
độc tài hơn cả kẻ thù của họ. Cộng Sản tàn bạo một cách có chọn lựa, (Ngô
Đình) Nhu tàn bạo một cách mù quáng. Và trong cái trạng huống này Diệm dù
không cố ý, vẫn sẵn sàng làm một đồng minh của Nhu. Ở Sài Gòn, người ta biết
rằng từ những ngày đầu của chế độ, ông Diệm chỉ như một con ngựa có hai
miếng che bên hai mắt. Vốn đã từ nhiều năm rồi, không một người ngoài nào có
thể đàm thoại bình thường với Diệm, ông ta không bao giờ chịu nghe những
chứng cớ chống lại vợ chồng Ngô Đình Nhu. Cabot Lodge cố gắng nói với Diệm,
như những người đi trước đã cố gắng, nhưng cũng đã thất bại. Do đó mà không
còn một giải pháp nào khác hơn là một cuộc đảo chánh”).
Cũng vì ông Diệm đã chiều lụy tất cả anh em và gia đình ông ta, kể cả
việc chiều lụy để bắt tay với Cộng Sản phản bội cuộc chiến đấu gian khổ của
quân dân miền Nam cho nên năm 1963 trong khi Phật giáo nổi dậy đấu tranh đòi
quyền sống, thì quân đội cũng nổi dậy để lật đổ chế độ. Trong một cuộc họp
báo sau ngày Cách mạng 1–11 thành công, tướng Tôn Thất Đính đã tuyên bố rõ
ràng rằng quân đội phải ra tay vì anh em ông Diệm âm mưu bắt tay với Cộng
Sản. Tướng Đính cũng nêu đích danh Đại sứ Ba Lan, ông Maneli là người liên
lạc giữa Hà Nội và Sài Gòn, giữa hai ông Phạm Văn Đồng và Ngô Đình Nhu như
chính ông Maneli đã kể trong hồi ký của ông ta.
Cần phải nhắc lại rằng sau khi ra lệnh tấn công chùa chiền bắt bớ giam
cầm Tăng Ni, sáng 21 tháng 8, qua đài phát thanh Sài Gòn, ông Diệm tuyên bố
“nhận lãnh mọi trách nhiệm trước lịch sử về hành động của ông vì Việt
Cộng đã tràn ngập Thủ Đô”. Rõ ràng ông Diệm đã vừa ăn cướp vừa la làng.
Trong lúc vu khống Phật giáo là Cộng Sản thì anh em ông lại tiến hành cuộc
thoả hiệp với Cộng Sản Hà Nội.
Lại cũng cần nhắc thêm lời trình bày của ông Maneli là khi Hà Nội và Sài
Gòn âm mưu thỏa hiệp thì Việt Cộng hầu như bị lãng quên hẳn… Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam đã không khai dụng cơ hội này để tấn công quân chính phủ
vì Hà Nội chưa muốn lật đổ Diệm–Nhu, Hà Nội cần kéo dài thêm thời gian sống
sót của Diệm–Nhu để họ có thể đạt được một thỏa hiệp với Hà Nội sau lưng
người Mỹ…
Nhắc lại hai sự kiện này để thấy rằng trong lúc chế độ Diệm được Hà Nội
và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “để yên” thì chính Phật giáo lại đấu tranh
“không để yên” cho chế độ Diệm, và nhờ đó mà chận đứng được ý đồ của Hà Nội
và hành động phản bội của anh em ông Diệm. Rõ ràng giữa Phật giáo và Cộng
Sản có hai lập trường, hai chủ trương khác biệt rõ rệt về những vấn đề của
đất nước.
Thế mà sau khi ông Diệm bị lật đổ, nhất là từ sau biến cố thảm bại của
Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, tại hải ngoại nhiều sách báo của nhóm Công Giáo
Cần Lao, đặc biệt là nhóm Văn Nghệ Tiền Phong, đã dám trắng trợn xuyên tạc
cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963 là do Cộng Sản chỉ đạo và vu khống
Thượng Tọa Trí Quang là cán bộ Cộng Sản (qua cuốn Trong Lòng Địch của
Trần Trung Quân).
-o0o-
Âm mưu của anh em ông Diệm Nhu thỏa hiệp với Hà Nội không phải chỉ có
cuốn sách “War of The Vanquished” của cựu Đại sứ Ba Lan tại Sài Gòn
lột trần sự thật, mà còn có nhiều tài liệu khả tín khác nữa:
- Cuốn “Les Deux guerres du Vietnam” của George Chaffard, một ký
giả Pháp triệt để trung thành và thân cận với cố Tổng thống De Gaulle, là
nhân vật mà hai ông Diệm Nhu nhờ làm trung gian cho kế hoạch thỏa hiệp Bắc
Nam, chủ trương thống nhất hai miền Nam Bắc với sự lãnh đạo của ông Hồ Chí
Minh, và chống chính sách tham dự của Mỹ tại Việt Nam.
- Cuốn “A Death in November” của nữ tiến sĩ Ellen Hammer, người
thân với nhà Ngô và giáo sư Bửu Hội. Ông Bửu Hội vừa thân với ông Ngô Đình
Nhu, vừa thân Pháp, vừa khâm phục ông Hồ Chí Minh cũng là nhân vật chống lại
cuộc đấu tranh của Phật giáo và chống Mỹ. Cũng như ông Bửu Hội, bà Ellen
Hammer ủng hộ âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội của hai ông Diệm Nhu nên sách của
bà thường có cảm tình với nhà Ngô và đánh phá Phật giáo và tướng lãnh Việt
Nam đã lật đổ chế độ Diệm.
- Tài liệu “The Cult of Diem” của ký giả Robert Shaplen được đăng
trên tạp chí “The New Yorker”.
Sau khi chỉ trích ông Ngô Đình Nhu chủ quan, tiếc cho ông Diệm đã bị giết
và tiếc cho cuộc Cách mạng 1–11–1963 bất thành, Robert Shaplen đã kết luận:
“Đã có những chứng liệu cho thấy rằng trước khi có cuộc đảo chánh, chính
phủ Sài Gòn và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã tiến hành những nỗ lực thỏa
hiệp với nhau. Những nỗ lực này có thể sẽ không đi đến đâu và chiến tranh sẽ
tiếp tục dù ở mức độ nhỏ hơn. Nhưng dù ở mức độ nhỏ hơn hay dù thỏa hiệp
chính trị có đạt được ngay cả khi Hà Nội hoàn toàn khống chế MTGPMN, thì Nam
Việt cũng sẽ rơi vào một hình thức thống trị của Cộng Sản.”
Cuốn “Vietnam A History” của
Stanley Karnow viết rằng:
“Trong một buổi hội kiến riêng tại Dinh Tổng thống ngày 2 tháng 9, ông
Maneli tiết lộ cho ông Ngô Đình Nhu biết về cuộc nói chuyện giữa ông ta và
Phạm Văn Đồng. Nhu tỏ ra thích thú. Maneli trở lại Hà Nội nơi mà nhóm lãnh
đạo Cộng Sản nhấn mạnh rằng: “Kẻ thù chính của họ là Đế quốc Mỹ chứ không
phải chế độ Diệm”…
“Âm mưu trên nghiêm chỉnh hay là hỏa mù? Ở Việt Nam không phải cái gì
cũng dễ dãi, có thể là một tập hợp cả hai. Hoàng Tùng, chủ nhiệm tờ Nhân
Dân, đảng viên đặc trách tuyên truyền năm 1981 cho tôi biết rằng: “Sự thật
thì Bắc Việt cố gắng đào sâu hố chia rẽ giữa Mỹ và Diệm. Còn Bà Nhu sau này
xác nhận cuộc nói chuyện giữa ông Nhu và miền Bắc đang tiến hành, bà ta còn
tiết lộ việc bà ta sẽ gửi hai đứa con của bà ta ra Hà Nội như một “cử chỉ
thân thiện”. Nhưng âm mưu của Nhu còn là một thủ đoạn để “blackmail” người
Mỹ. Ngoài nhiều điều khác Nhu kể ra cho ký giả Joseph Alsop có âm mưu trên
là để dọa người Mỹ. Maneli đã nói: “Nhu chơi nhiều trò một lần”.
“Với một số giới chức người Mỹ thì những âm mưu của Nhu tạo thêm lý do để
lật đổ Diệm. Hillsman, trong một tờ trình tối mật cho ngoại trưởng Rusk, đề
nghị phải thúc đẩy tướng lãnh gấp rút đảo chánh nếu Diệm nói chuyện với Hà
Nội và khuyến cáo phải dùng quân lực chống lại Bắc Việt nếu Bắc Việt dùng
quân đội để cứu Diệm…
“Có thể một cơ hội đã mất cho một cuộc hôn nhân thuận tiện giữa Bắc và
Nam Việt Nam. Nhưng trong tình thế lúc bấy giờ mà bảo Mỹ phải từ bỏ Việt Nam
thì đó là một điều không tưởng tượng được”. (tr. 292)
Để bổ túc cho nhận định của Karnow tôi ghi thêm đây một nhận định khác
của bà Ellen Hammer:
“Theo ông Hillsman thì các tướng lãnh miền Nam cũng tin rằng Nhu cố ý
thương thuyết với Hà Nội và bán đứng miền Nam cho Cộng Sản. Tướng Khánh đã
từng nói như thế với CIA Sài Gòn ngày 25-8-1963. Đó là lý do làm nặng cân
cho người Mỹ và cho tướng lãnh Việt Nam”. (“A Death in November”, sđd
tr. 177).
Ngoài ra, việc ông Ngô Đình Nhu âm mưu bắt tay với Hà Nội không chỉ nhờ
Đại sứ Maneli làm liên lạc giữa Hà Nội và Sài Gòn mà chính ông Ngô Đình Nhu
đã đích thân đi gặp Phạm Hùng như tướng Trần Văn Đôn đã tiết lộ dưới đây:
“Đầu tháng 2 năm 1963, Trung Tá Bường lúc ấy đang làm Tỉnh trưởng Bình
Tuy, dùng xe Dodge 4×4 chở ông Ngô Đình Nhu và ông C. đi săn. Trời đã trở
lạnh và có mưa mà ông Cố vấn đi săn! Nhưng có ai biết được đó chỉ là lối
ngụy trang. Sự thật các ông ấy không đi săn mà đi thẳng tới một căn nhà lá
trong rừng thuộc địa hạt quận Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy…
“Trung tá Bường lái xe đưa ông Ngô Đình Nhu đến chỗ hẹn. Đến nơi, Trung
tá Bường và ông C. chờ ngoài xe, lo an ninh. Chỉ có ông Nhu vô. Hai người
ngồi ngoài lắng nghe những lời đối thoại ở bên trong lúc nhỏ lúc to. Người
đang nói chuyện với ông Nhu là Phạm Hùng, có hai người nữa ngồi bên cạnh…
… Ông Nhu hứa với Phạm Hùng khi nối xong đường xe lửa thì bà Nhu và Ngô
Đình Lệ Thủy sẽ đi chuyến xe Thống Nhất đầu tiên ra Hà Nội… Trong câu
chuyện, Phạm Hùng cũng trách sao giao những căn cứ quân sự cho Mỹ sử dụng.
Ông Nhu nói Mỹ là đồng minh của miền Nam, Mỹ đến miền Nam và dĩ nhiên sử
dụng những nơi đó chứ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không có giao nhượng cho
Mỹ…” (“Việt Nam Nhân Chứng”, Trần Văn Đôn, Hoa Kỳ, 1989, tr. 183,
184).
Tiết lộ của tướng Đôn trên đây nhắc tôi nhớ lại đầu năm Quý Mão (tháng
2/1963), nhân buổi tiếp tân đầu Xuân tại dinh Gia Long, Tổng thống Diệm chỉ
một cành đào được trưng bày trong đại sảnh rồi nói với quan khách rằng đó là
cành đào do đồng bào Bắc Việt gởi tặng. Mọi người im lặng nhưng đều có vẻ
suy tư. Sau này có người khám phá ra đó là quà tặng Tết của tướng Văn Tiến
Dũng cho ông Diệm. Nếu quả đúng như thế thì âm mưu bắt tay với Hà Nội của
hai ông Diệm–Nhu phải có từ lâu rồi. Ít nhất là trong năm 1962–1963, trước
khi nhờ sự vận động của Đại sứ Maneli. Và quả thật anh em ông Diệm, vợ chồng
Ngô Đình Nhu đã quyết tâm thỏa hiệp với Hà Nội trong tình hình chính trị,
quân sự yếu kém của miền Nam, trong sự bất hòa trầm trọng giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ tức là anh em ông Diệm muốn trao miền Nam cho Hà Nội, muốn thực hiện
kế sách “sau ta là cơn Hồng Thủy” như một linh mục người Bỉ đã nói trên kia.
Thế mà vẫn có trí thức Thiên Chúa giáo dùng lời lẽ ngụy biện để bênh vực
hành động phản bội đó của ông Ngô Đình Nhu.
Với những người có ý thức chính trị, qua những nhận định trên ta thấy ông
Nhu là kẻ thiếu một tầm nhìn chiến lược bao quát và luôn luôn chủ quan nên
đã tạo nhược điểm cho Hà Nội lường gạt và tạo sự công phẫn của người Mỹ và
tướng lãnh chống Cộng của Việt Nam Cọng Hòa.
Hơn hai mươi năm trước, tôi là một viên đội Khố Xanh theo ông Diệm là một
viên quan mất chức, để chống Tây chống Cộng chỉ vì lòng yêu nước. Bây giờ
tôi là một Đại tá Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội uy quyền, chống ông Diệm là
Tổng thống tối cao của quốc gia, cũng chính vì lập trường chống Cộng và
tình yêu quê hương đó. Hai hành động đó tuy cách nhau gần một phần năm
thế kỷ, và tuy thời đại có đổi thay, nhưng cường độ và bản chất thì vẫn là
một. Vì lý tưởng thì chỉ có một, và tôi phải xả thân để cho lý tưởng đó được
thành tựu chứ không thể để cho tình cảm riêng tư và những quyền lợi bọt bèo
làm mờ lương tri.
Tháng Mười năm 1963, trong sự căng thẳng của những âm mưu và tình thế,
ông Diệm có nhắc lại câu nói của một chính trị gia Tây phương: “Tôi tiến,
hãy theo tôi. Tôi lùi, hãy giết tôi. Tôi chết, hãy trả thù cho tôi”. Năm
1955–1956 ông tiến trên con đường phục vụ dân tộc và cả miền Nam đã hết lòng
theo ông: năm 1960–63, ông lùi và rẽ vào con đường hại nước hại dân nên cả
nước đã giết ông. Không lẽ tàn dư của tập đoàn Cần Lao Công Giáo muốn trả
thù nhân dân cả nước sao!?
Dù ông Diệm không chết trong ngày chế độ ông bị lật đổ thì ông cũng đã
chết trong lòng dân tộc, trong lòng lịch sử từ lâu rồi. Cái chết của ông
Diệm không phải chỉ là sự tan rã của hình hài vật chất mà còn là sự tan rã
của danh phận phẩm giá nữa. Mà đó mới là điều thê thảm. Thê thảm đến
độ học giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc và nhân sĩ Hoàng Trọng Thược phải ghi vào
sách sử lên án năm anh em nhà Ngô bằng những câu thơ “ngàn năm bia miệng” để
đời :
Vùi nông đôi nấm giữa đêm sâu,
Mười thước sau chùa đủ bể dâu.
Ba cỗ quan tài bốn lỗ huyệt,
Năm thằng Trời đánh một con Mầu.
Mới vừa Hăm Sáu còn nguyên thủ,
Mà đến Mồng Hai đã vỡ đầu.
Bảy Tám thu trường Ngô với Đĩ,
Ngô thì chín rụng Đĩ chơi đâu?
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|