Chương XVI
TỪ ĐỒNG MINH VỚI MỸ
ĐẾN THỎA HIỆP VỚI CỘNG
Trong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi thì trong giới chính trị và tình
báo tại Thủ đô Sài Gòn có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dõi gần như
công khai. Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu–Diệm nhằm
thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội và những tin tức về các cuộc đảo chánh có thể
xảy ra.
Sài Gòn như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả
thuyết đầy mâu thuẫn và những vận động ngầm sôi nổi. Đề tài về âm mưu thỏa
hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất vì không những nó liên hệ đến chế
độ Diệm mà còn trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam
Tự Do.
Sau cách mạng 1–11–1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam
và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ
thể để ta có thể nghiêm túc trình bày lại diễn tiến của âm mưu này, cũng như
để ta có thể chín chắn suy nghiệm về biến cố mà hai anh em Nhu–Diệm đang từ
theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng.
Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Hà Nội của chế độ Diệm là một
trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất,
thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1–11–63. để
ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình. Chính âm mưu này đã là nguyên động
lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà
không ngại ngùng, và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi thì các đoàn thể
quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một lòng yểm trợ cho cuộc cách mạng
lật đổ Ngô triều thành công.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chính sách
chống Cộng của hai anh em ông Ngô Đình Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại
trong bốn điểm chính: thứ nhất là sự chống đối càng lúc càng quyết
liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam; thứ
hai là áp lực càng lúc càng nặng nề của lực lượng chính trị võ trang của
kẻ thù Cộng Sản; thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ
mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và thứ tư, quan
trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của ông Ngô Đình
Nhu. Nếu chỉ có một, hay hai, hay cả ba nguyên nhân mà thôi thì chưa chắc
hai ông Diệm–Nhu đã thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng vì bốn nguyên nhân vừa
khách quan vừa chủ quan này đã, chậm chạp nhưng chắc chắn, cùng phối hợp với
nhau nên đã đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đình, dù từ lâu
mối thù giết anh ruột đã bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính
trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam.
-o0o-
Thật vậy, như tôi đã trình bày trong hai chương 11 và 12, cao trào chống
đối của quân dân miền Nam trước chính sách độc tài và đàn áp các lực lượng
quốc gia của chính quyền Ngô Đình Diệm càng lúc càng gia tăng với bản cáo
trạng lên án chế độ của nhóm Caravelle, với hoạt động đối kháng của Mặt Trận
Đoàn Kết do ông Nguyễn Tường Tam chủ xướng, của đảng Tự Do Dân Chủ do ông
Phan Quang Đán thúc đẩy, của Liên Minh Dân Chủ do nhóm các ông Phan Bá Cầm,
Xuân Tùng, Hoàng Cơ Thụy lãnh đạo,… và hai cuộc binh biến táo bạo cũng như
quyết liệt của binh chủng Nhảy Dù và vụ ném bom dinh Độc Lập. Đó là chưa nói
đến những cá nhân hoặc đoàn thể trước kia đã từng cộng tác, ủng hộ và nhiều
khi hy sinh cả đời người cho hoạt động chính trị của hai ông Nhu–Diệm thì kể
từ năm 1960 trở đi, cũng đã công khai lên án chế độ và bày tỏ thái độ chống
đối gia đình họ Ngô. Và đó cũng chưa kể đến sự công phẫn của quần chúng mà
điển hình là cuộc vận động cách mạng của Phật giáo bắt đầu lan rộng và biến
thành những hình thức đề kháng chế độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Những hoạt động chống đối đó đáng lẽ phải được nghiên cứu sâu sắc và truy
tầm nguyên nhân để rút ra những bài học tích cực hầu xây dựng dân chủ và sửa
sai chế độ thì hai ông Nhu–Diệm lại xem đó như những khiêu khích phản loạn
cần phải diệt trừ cho tuyệt hậu họa. Họ đã xem hành động đối lập của các
lực lượng quốc gia như hành động của kẻ thù tối nguy hiểm vì chính đối
lập mới thực sự đe dọa đến quyền hành và danh vọng của họ, quyền lợi và mạng
sống của họ. Họ lo lắng suy nghĩ và dành nhiều phương tiện cũng như nhân sự
của quốc gia để lo đối phó với những thành phần đối lập quốc gia còn hơn cả
đối phó với kẻ thù Cộng Sản. Nhưng như tôi đã trình bày và lịch sử giai đoạn
đó đã chứng minh, chế độ càng đàn áp thì sự chống đối càng gia tăng. Gia
tăng trên cả hai mặt mức độ cũng như số lượng đến nỗi đã dùng đến cả võ lực
(vụ ném bom) vốn là hình thức cao nhất và dứt khoát nhất của mọi cuộc đấu
tranh.
Tình trạng lớn mạnh của đối lập đó, trong những năm từ 1960 trở đi, tuy
chưa trực tiếp và tức thì đe dọa chế độ, nhưng hai ông Nhu–Diệm cũng đã phải
nhận rằng nếu tình trạng đó kéo dài thì chính các lực lượng chính trị đối
lập đó, chứ không ai khác, trong tương lai sẽ đập tan chế độ và uy quyền của
họ. Nhận định đó, khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 và nhất là khi
những áp lực của người Mỹ trở thành nặng nề hơn, mới trở thành một yếu tố
tác động lên quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội để hoặc là dùng Cộng
Sản như một phụ lực tiêu diệt đối lập, hoặc dùng Cộng Sản như một mối đe dọa
để làm chantage lực lượng đối lập. Kế hoạch hai mặt đó, hai ông
Nhu–Diệm nghĩ rằng nếu không làm tê liệt được quyết tâm thì ít nhất cũng
tiêu diệt được khả năng chống đối của người quốc gia.
Cho nên chính sự thất bại và bế tắc trong chính sách đàn áp đối lập cuối
cùng đã là nguyên nhân sâu sắc nhất nhưng lại ẩn tàng nhất đẩy hai ông
Diệm–Nhu vào vòng tay Cộng Sản để mong bảo đảm danh vọng và quyền lợi cho
họ.
Đó là nguyên nhân thứ nhất.
Nguyên nhân thứ hai là sự trưởng thành của lực lượng chính trị
quân sự Cộng Sản, một kẻ thù khác, đang rõ ràng công khai thách thức tư cách
chủ nhân miền Nam của chính quyền Ngô Đình Diệm và đánh phá sức mạnh đã bắt
đầu lung lay của chế độ. Sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
là cao điểm chính trị của Việt Cộng sau khi đã làm ung thối tình hình thôn
quê miền Nam mà những ấp chiến lược, những khu trù mật, những khu dinh điền,
những chính sách quân phân ruộng đất, những chiến dịch tố Cộng,… đã tạo ra
những phản tác dụng cho Việt Cộng khai thác và bành trướng.
Mặt khác, sự ra đời của Mặt Trận cũng chính thức hóa sự lệ thuộc của nó
vào hậu phương lớn Bắc Việt trên cả hai mặt chính trị lẫn quân sự, cho thấy
Mặt Trận chính là một bộ phận của Hà Nội và đánh Mặt Trận là trực tiếp đánh
Hà Nội. Trên mặt thuần túy quân sự, sự ra đời của Mặt Trận đã cho phép họ
thâu nhận nhiều yểm trợ khí cụ hơn cũng như kết nạp được nhiều nhân lực hơn,
ngay tại miền Nam, để thành lập những đơn vị chiến đấu lớn. Thất bại nặng nề
của Sư đoàn 13 tại Tây Ninh cuối năm 1960 đã là dấu hiệu đầu tiên của sự lớn
mạnh đó của Mặt Trận.
Hai ông Diệm–Nhu lẽ tất nhiên đã không xem Việt Cộng như những lực lượng
phiến loạn địa phương kiểu các giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo mà họ
đã từng dẹp yên được, lại càng không xem đó như những lực lượng võ trang
quốc gia đối lập kiểu chiến khu Ba Lòng của Đại Việt hay chiến khu Nam Ngãi
của VNQDĐ mà họ đã từng tàn bạo tiêu diệt một cách dễ dàng. Hai ông Diệm–Nhu
đã từng thấy được tính cách trường kỳ dai dẳng của Việt Minh thời chiến
tranh Pháp–Việt, cũng như bắt đầu thoáng thấy được sự vô hiệu của những
chiến lược chống Cộng của họ từ nhiều năm qua, thì hẳn họ cũng hiểu hơn ai
hết là thời gian không đứng về phía họ, nghĩa là trong cuộc chiến này,
càng về dài thì địch càng mạnh họ càng yếu. Cũng như càng về dài thì
ngôi vị, danh vọng, quyền lực, và ngay cả mạng sống của họ càng bị đe dọa mà
thôi.
Cho nên thay vì nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho lực lượng chống Cộng
khác, hoặc cải tổ chính quyền và thay đổi chính sách để đáp ứng hữu hiệu hơn
với sự đe doạ đó thì hai ông Nhu–Diệm, sau này, khi cùng một lúc bị những áp
lực khác đè nặng, đã như con đà điểu chui đầu xuống cát, tìm cách đầu hàng
bằng sự thỏa hiệp với kẻ thù.
Trước khi trình bày nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân mà tôi gọi là
sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ vào những năm đầu của thập niên
1960 khiến anh em Diệm–Nhu đã đi đến quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản, tôi
xin được rất thực tế nêu lên một số biến cố lịch sử để, qua đó, cụ thể phân
tách một khía cạnh rất đặc thù về chính sách ngoại giao của Mỹ đối với các
đồng minh trong sách lược chống Cộng toàn cầu của họ.
Lịch sử bang giao quốc tế từ thời xa xưa lúc các quốc gia bắt đầu thành
hình cho đến hiện đại, khi mà thế lưỡng cực Tư Bản – Cộng Sản càng lúc càng
gay gắt, đã cho thấy không thiếu những trường hợp một quốc gia này yêu cầu
một quốc gia khác đem quân đến giúp. Lời “yêu cầu” đó có thể thật hay là
giả, chính đáng hay không, hợp với công pháp quốc tế hay không, là tùy bản
chất của sự liên hệ giữa hai quốc gia. Cũng vậy, “giúp” đó là thật hay giả,
ngụy trang xâm lăng hay thật sự yểm trợ, là tùy tình trạng của biến cố đó.
Hoa Kỳ không những là một cường quốc, mà còn là một cường quốc lãnh đạo
một khối để trực đối với một khối khác, nên lại càng bị lôi cuốn vào những
tranh chấp tuy cục bộ nhưng lại ảnh hưởng đến tương quan lực lượng Tư Bản –
Cộng Sản. Do đó mà tuy mới 200 năm lập quốc, Hoa Kỳ đã nhiều lần phải dính
dự vào các biến cố nội bộ của các quốc gia thân hữu mà Hoa Kỳ xem là đồng
minh. Những dính dự đó hầu hết là để yểm trợ. Và dù những yểm trợ đó có lúc
bắt nguồn từ quyền lợi của nước Mỹ, cũng đã có lúc vụng về gây tai hại nhiều
hơn là đem đến ích lợi, nhưng nói chung thì những yểm trợ đó phản ánh đức
tính hào hiệp và vị tha của một dân tộc mà tôn giáo đã là một trong những
nguyên ủy lập quốc, mà những lý tưởng về Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền đã
là những sức mạnh duy trì sự cao cả của dân tộc họ. Đức tính hào hiệp và
những lý tưởng lập quốc đó đã chảy xuyên dòng lịch sử ngoại giao của Hoa Kỳ
như một thứ cốt tủy, dù phần thể hiện của nó là các chính sách ngoại giao,
có thay đổi theo thời đại hay theo từng nhiệm kỳ của mỗi vị Tổng thống.
Chúng đã thuộc về căn cước văn hóa của dân tộc Hoa Kỳ. Hay nói như Coral
Bell, một nhà nghiên cứu Úc, thì:
“Đạo đức và tinh thần thượng tôn pháp luật là hai tuyến lõi trung ương
của nền ngoại giao Hoa Kỳ kể từ khi quốc gia này ý thức được vai trò cường
quốc của mình” .
Thật vậy, Hoa Kỳ đã hai lần đưa quân đội vào nước Pháp giúp giải thoát
nước này khỏi gót giày xâm lăng của quân phiệt Đức. Sau thế chiến thứ hai,
Hoa Kỳ lại thực hiện kế hoạch viện trợ Marshall để giúp Pháp tái thiết xứ sở
và nhất là giúp các lực lượng dân chủ Pháp đánh bại mưu toan cướp chính
quyền của đảng Cộng Sản Pháp, lực lượng mạnh nhất lúc bấy giờ, mạnh đến nỗi
đã đánh bật vị anh hùng cứu quốc De Gaulle ra khỏi chính quyền năm 1946.
Cũng vậy, tháng 6 năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân qua Thái Bình Dương giúp Nam
Hàn chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn và Trung Cộng. Trong những ngày đầu
của trận chiến, tướng MacArthur đã khuyên Tổng thống Lý Thừa Vãn bỏ thủ đô
Hán Thành rút về miền cực Nam để bảo toàn lực lượng mà vị Tổng thống này vì
tự ái dân tộc đã không chịu nghe theo. Đến khi Bắc quân đánh xuống như thế
chẻ tre, ông mới rút về Phú San, để từ đó cùng với quân lực Mỹ của tướng
MacArthur phản công đuổi quân thù ra khỏi vĩ tuyến thứ 38. Sau khi hòa bình
vãn hồi, nhận rõ áp lực nặng nề vẫn đe dọa đất nước, Tổng thống Lý Thừa Vãn
đã yêu cầu quân Mỹ ở lại để bảo vệ biên giới phương Bắc, đồng thời thực thi
một nền tự do dân chủ có trách nhiệm để tạo những nền móng chính trị cho nền
độc lập và cho những phát triển kinh tế lẫy lừng sau này.
Cũng tại Á Châu và gần gũi với Việt Nam hơn, Phi Luật Tân đã bị Hoa Kỳ
chiếm đóng trong và sau đại chiến thứ hai. Nhưng trong khi các nước Á Phi
khác phải đổ rất nhiều xương máu và tốn rất nhiều thời gian để giành lại độc
lập thì ngược lại, Phi Luật Tân đã được Hoa Kỳ hào hiệp trao trả chủ quyền
đất nước ngày 4 tháng 7 năm 1946, khác hẳn với chính sách duy trì chế độ
thuộc địa của các đế quốc thực dân khác như Bỉ (ở Congo), Pháp (ở Việt Nam,
Algérie), Hòa Lan (ở Nam Dương).
Để bảo vệ nền độc lập trong trường hợp bị Trung Cộng xâm lăng và để tỏ
thiện chí cho mối giao hảo hầu mở đầu những bang giao kinh tế tốt đẹp sau
này, Phi Luật Tân đã nhượng cho Hoa Kỳ thuê (Cession and Bail) hai căn cứ
quân sự lớn là Clark Air Base và Subic Bay mà số ngoại tệ thu nhận được từ
hai căn cứ này đã đóng góp rất nhiều vào việc phục hưng nền kinh tế hậu
chiến của Phi Luật Tân. Trong suốt các thập niên 1950 và 60, Hoa Kỳ đã giúp
Phi Luật Tân tối đa trên cả hai mặt kinh tế lẫn chính trị để trở thành một
trung tâm vận động của vùng Đông Nam Á mà điển hình là các định chế kinh tế,
quân sự liên vùng như ADB Asia Development Bank (Ngân Hàng Phát Triển Á
Châu), SEATO Southeast Asia Treaty Organization (Tổ chức Minh Ước Liên Phòng
Đông Nam Á) đều đặt trụ sở hoặc bộ chỉ huy trung ương tại Manila.
Một trường hợp đặc biệt khác mà tôi muốn đề cập ở đây như một bài học
lịch sử là trường hợp của Nhật Bản. Trong đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ đã từng
tiến đánh và nhiều khi chiếm đóng các đảo của Nhật tại Thái Bình Dương để
trừng phạt quốc gia này đã tấn công Trân Châu Cảng và hợp tác với Đức Quốc
Xã của Hitler.
Sau sự tàn phá khủng khiếp của hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima và
Nagasaki, ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên soái hạm Missouri, đại diện Nhật
hoàng ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện trước mặt vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao
của Quân Đội Đồng Minh tại mặt trận Thái Bình Dương là tướng MacArthur.
Những Đô đốc, Tướng lãnh, Sĩ quan thường rất kiêu hãnh của quân đội Thiên
Hoàng đã để những giọt nước mắt từ từ rơi xuống ngay cả trước mặt quân thù.
Đó là những giọt lệ chân thành và chua xót nhất của kẻ chiến bại mà đã một
thời từng đánh tan hạm đội Nga Hoàng, từng tốc chiến tốc thắng tại Lư Câu
Kiều (Trung Hoa), từng tung hoành oanh liệt khắp vùng Đông Nam Á làm bàng
hoàng cả thế giới.
Trước đó, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng Hiro Hito đã ra lệnh chấm
dứt cuộc chiến. Tại các mặt trận, quân đội Thiên Hoàng phải hạ súng, rất
nhiều sĩ quan Nhật đã dùng gươm tự sát theo truyền thống của một võ sĩ đạo
để đền nợ nước, trả ơn vua và bảo vệ danh dự cùng khí phách của một quân
nhân. Lá cờ “mặt trời mọc” từ nay vắng bóng trên bốn bể năm châu, chỉ còn
trên mấy hòn đảo xứ Phù Tang nghèo nàn đổ nát.
Trước nỗi đau khổ nhục nhã vô cùng tận của quân dân, Nhật Hoàng đã thống
thiết kêu gọi dân chúng Nhật… Hãy chịu đựng cái không chịu đựng nổi và
hãy đau khổ cái không đau khổ nổi, và hãy hướng về tương lai. Sau đó
Nhật Hoàng cắt một phần đất của Hoàng thành, nơi mà Hoàng gia trải bao đời
yêu quí gìn giữ, để tặng lại cho dân chúng như một hành động tạ tội tượng
trưng với đồng bào.
Đối với quân đội chiếm đóng Mỹ, toàn thể dân chúng Nhật đều cố nén uất
hận và che dấu căm hờn mà tự nhiên đối xử một cách lễ độ. Hễ gặp một Mỹ
kiều, dù là thuộc thành phần quân nhân hay dân sự, họ đều nghiêng mình cúi
đầu xuống, chắp tay vái chào theo tục lệ của dân Nhật. Họ không để lộ thái
độ thù hận, chống đối quá khích. Khi bị áp lực của Mỹ phải ký Hòa Ước An
Ninh Hỗ Tương San Francisco (1951) mà trong đó có điều khoản bắt Nhật không
được tái võ trang quá giới hạn phòng vệ, chính giới Nhật Bản vẫn cam chịu để
đổ dồn hết ngân sách vào sức mạnh kinh tế. Thái độ ẩn nhẫn có vẻ khiếp nhược
đó, một phần do lời kêu gọi “tôn trọng kỷ luật đối với kẻ chiến thắng” của
nhà vua, một phần là do tính tình khôn ngoan, cẩn trọng, thức thời, và ý
thức chính trị sáng suốt của con cháu Thái Dương Thần Nữ. Họ dìu dắt nhau,
chỉ dẫn nhau trong ý thức “thất bại là mẹ thành công” để xây dựng lại quê
hương. Chính nhờ triệt để thể hiện cái ý thức khôn ngoan đó mà người Nhật
sớm thu lượm được những kết quả đầu tiên vô cùng to lớn mà ngay cả họ cũng
không ngờ tới.
Bài học lịch sử đó của dân tộc Nhật Bản là gì nếu không phải là bài học
về sự vận dụng sức mạnh của địch cho sự cường thịnh của chính mình. Và đàng
sau bài học đó là một bài học rất lớn khác cho chúng ta về lòng yêu nước
bằng một quan điểm sáng suốt và bằng một tinh thần thực tiễn, chứ không
phải chỉ bằng những xúc động mù quáng của một thứ tự ái dân tộc nhiều lúc
rất phản quốc.
Trường hợp của Nhật Bản cũng như trường hợp của Cộng Hòa Liên Bang Đức,
một kẻ cựu thù trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã biết mau chóng biến thù
thành bạn để cùng xây dựng một khối NATO hùng mạnh hầu ngăn chận sự bành
trướng nguy hiểm của Nga Sô. Các nhà lãnh đạo Đức, dù bảo thủ như Adenauer
hay chủ xướng Ostpolitik như Willy Brandt, đều biết vận dụng sự yểm trợ của
đồng minh lớn Hoa Kỳ để hùng cường hóa đất nước. Và dù quân đội của Mỹ có
đóng trên đất Đức, dù hỏa tiễn Pershing II có đặt căn cứ trên lãnh thổ Đức,
không ai có thể nói rằng Đức không có chủ quyền, không có độc lập.
Thật trái hẳn với trường hợp của nước ta đã không vận dụng được sức mạnh
đó để cứu nước chứ đừng nói đến dựng nước, mà lại còn mất chủ quyền, mất độc
lập nữa! Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ông Diệm đã không làm nổi một Nhật Hoàng
Hiro Hito, một De Gaulle, một Lý Thừa Vãn thì làm sao trách được sau này
Nguyễn Văn Thiệu không biến miền Nam thành một chư hầu trong quỹ đạo Hoa Kỳ.
Nêu lên một số sự kiện lịch sử trên đây từ Âu qua Á, từ bạn đến thù, tôi
chỉ muốn nói rằng sau Thế Chiến thứ Hai, trước mưu đồ bành trướng của Cộng
Sản quốc tế, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ dù là đối đầu (Confrontation),
ngăn chận (Containment), hay lật ngược (Rollover, chữ của tạp
chí Foreign Affairs), thì cũng đều nhằm đem sức mạnh quân sự, sức
mạnh tài lực, sức mạnh kỹ thuật của mình ra mà cứu bạn và xây dựng cho bạn
thì mới cứu được mình và mới xây dựng được mình.
Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ sau Đệ Nhị Thế Chiến
cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Ngay sau Thế chiến thứ nhì, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chủ trương
yểm trợ cho các phong trào “giải phóng dân tộc” của các quốc gia thuộc địa
trong khuôn khổ của phong trào giải thực toàn cầu mà Việt Nam là một thí
điểm kiểu mẫu. Ngay trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương, ngày 22 tháng
8 năm 1945, một phái đoàn Mỹ gồm năm sĩ quan do Thiếu tá Archimede L. Patti
cầm đầu đã nhảy dù xuống vùng thượng du Bắc Việt giúp ông Hồ Chí Minh kháng
Nhật, và chính phái đoàn Mỹ này đã về Hà Nội dự lễ Độc lập đầu tiên của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng khi ông Hồ Chí Minh và Việt Minh để lộ màu
sắc Cộng Sản thì phái đoàn Patti được lệnh chấm dứt mọi liên hệ để hồi
hương. Cuộc chiến tranh giữa Cộng sản Việt Nam vận dụng dân tộc và thực dân
Pháp đội lốt “quốc gia chống Cộng” bắt đầu ngay sau đó. Ngày 29 tháng 12 năm
1947, cựu Đại sứ Hoa Kỳ William Bullit viết trên tờ Life Magazine một
bài báo gọi trận chiến tranh Đông Dương là “trận chiến tranh buồn thảm nhất”
(the saddest war), ông kêu gọi Pháp phải trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam
dù là một Việt Nam do Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo.
Lời kêu gọi của William Bullit tuy ngây thơ nhưng phát xuất từ tâm thức
“giải phóng dân tộc”, bắt nguồn từ chính cuộc cách mạng lập quốc 1776 giải
phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Anh, đã đánh động được dư luận Hoa Kỳ, vì
vậy khi Điện Biên Phủ lâm nguy (tháng 5 năm 1954) và khi chính phủ Pháp yêu
cầu Hoa Kỳ yểm trợ bằng lực lượng không quân thì Tổng thống Eisenhower và
Ngoại trưởng Foster Dulles từ chối. Quan điểm của Ngoại trưởng Dulles lúc
bấy giờ là nếu Pháp muốn Hoa Kỳ cứu viện thì phải chịu hai điều kiện: một là
phải trả độc lập hoàn toàn cho thành phần quốc gia Việt Nam không Cộng Sản,
và hai là Mỹ phải giành lấy trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh Đông
Dương. Tuy nhiên, phần vì chính phủ Anh không chấp thuận việc đồng minh tham
chiến tại Đông Dương, phần khác vì cả Pháp lẫn khối Cộng Sản đều muốn giải
quyết mau chóng vấn đề Việt Nam nên chủ trương của Ngoại trưởng Dulles đã
không được thực hiện.
Quy ước của Hội nghị Genève 1954 đã tạm thời chia đôi đất nước tại vĩ
tuyến 17. Phản ánh đúng đắn đường lối ngoại giao của mình, Hoa Kỳ can thiệp
mạnh mẽ vào vấn đề Đông Dương mà cụ thể là giúp ông Diệm về nước để xây dựng
một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á. Vì tiền đồn đó, nếu muốn đóng vai
trò chống Cộng hữu hiệu thì phải thật sự tự do, dân chủ trên mặt chính trị,
và phải thật sự hùng mạnh trên mặt kinh tế và quân sự, nên Hoa Kỳ đã không
ngại ngùng dùng mọi kế sách và phương tiện để ủng hộ cho miền Nam, kể cả
việc không tôn trọng hai điều khoản quan trọng của hội nghị Genève về vấn đề
Tổng Tuyển Cử (năm 1956) và về vấn đề quân đội ngoại nhập. Quân viện và kinh
viện Hoa Kỳ đổ vào miền Nam như thác đổ, chuyên viên và phương tiện Hoa Kỳ
như một kho tàng bất tận cho nhà cầm quyền miền Nam sử dụng; tiếc thay, anh
em ông Diệm đã không biết vận dụng sức mạnh đó để bổ túc cho sức mạnh cốt
lõi của dân tộc hầu chống Cộng cứu nước và phát triển quốc gia. Đã thế, khi
không chống nổi Cộng Sản và trước những áp lực chính đáng của Hoa Kỳ đòi cải
tiến chế độ, họ lại phản bội cả dân tộc lẫn đồng minh để thỏa hiệp với chính
kẻ thù Cộng Sản. Năm 1963 ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố rất rõ ràng:
“Tôi chống Cộng trên quan điểm ý thức hệ, tôi không phải là người
chống Cộng trên quan điểm chính trị hay nhân bản. Tôi xem những người
Cộng Sản như anh em, như những con chiên lạc đàn. Tôi không theo đuổi một
cuộc thánh chiến chống lại Cộng Sản vì nước tôi chỉ là một nước nhỏ bé.
Chúng tôi chỉ muốn sống trong hòa bình” .
Ở đây tôi không bàn đến sự nông cạn trí thức của ông Nhu về ý thức hệ
Cộng Sản khi tách phạm trù chính trị và nhân bản ra khỏi ý thức hệ này; tôi
cũng không cần bàn đến sự ngây thơ chính trị rất chủ quan của ông Nhu khi
cho rằng vì là một nước nhỏ bé nên không chống Cộng, tôi cũng chưa nhắc lại
tại sao năm 1955 anh em ông Diệm không chịu thực hiện một quy chế Trung lập
Hòa bình cho miền Nam mà nay lại muốn thỏa hiệp với Cộng Sản để được hòa
bình, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến lập trường của ông Nhu, người lãnh tụ
chính trị thực sự của miền Nam tự do, qua chính lược không chống Cộng Sản
nữa vì họ là người “anh em”. Trước khi đi sâu vào sự thay đổi đột ngột về
lập trường của ông Nhu và sau khi đã nhìn một cách tổng lược và khái quát về
chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với các quốc gia thân hữu hoặc đồng
minh, đặc biệt là Việt Nam, tôi xin trở lại với nguyên nhân thứ ba là sự
căng thẳng trong mối bang giao ruột thịt giữa chính quyền Mỹ và chế độ Ngô
Đình Diệm.
Để hiểu thêm về bản chất và cường độ thực sự của tình trạng căng thẳng
này, tôi xin được trình bày một số sự kiện liên hệ đến chính sách của các
chính quyền Mỹ đối với chế độ Ngô Đình Diệm, một chính sách đặt nặng tính
khuyến cáo xây dựng để chính phủ Diệm sửa sai hầu phát huy chính nghĩa chống
Cộng hơn là áp lực độc đoán để tước đoạt chủ quyền của miền Nam:
- Thứ nhất là sự kiện thay đổi một vị Đại sứ trực tính và nhằm phục vụ
cho miền Nam bằng một vị Đại sứ mềm dẻo hơn và chỉ muốn làm hài lòng ông
Diệm.
Ngay từ năm 1957, vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Ellridge Durbow đã
thấy ông Diệm tiến hành một chính sách độc tài trong việc quản trị miền Nam
cũng như đã hành xử một cách quan liêu phong kiến, khiến cho nhân dân bất
mãn và làm đình trệ các chương trình phát triển kinh tế, xã hội. Ông Durbow
cũng đã thấy được thái độ lộng quyền thất nhân tâm và phản tuyên truyền của
bà Nhu, nên đã khuyến cáo ông Diệm nhiều lần. Đặc biệt ông đề nghị giảm bớt
các hình thức làm dân bất mãn và tạo cơ hội cho địch tuyên truyền như giảm
thiểu đoàn xe hộ tống đông đảo ồn ào, như đừng bắt dân bỏ công ăn việc làm
cả ngày để chờ chực đón chào Tổng thống, như không nên ngồi chễm chệ trên
ghế bành đặt trên thuyền để sĩ quan lội nước đẩy thuyền. Ông cũng khuyên nên
để bà Nhu ra nước ngoài một thời gian hầu xoa dịu lòng căm phẫn của dân
chúng.
Nhưng những lời khuyến cáo của Đại sứ Durbow đã không có hiệu quả nào vì
lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn vẫn còn tin tưởng vào “uy tín và tài năng” của ông
Diệm nên không muốn tạo ra những mâu thuẫn cá nhân giữa hai người, làm
phương hại đến mối giao hảo đang tốt đẹp giữa hai quốc gia. Đã thế, ông Diệm
lại bày tỏ sự bất mãn đối với Hoa Thịnh Đốn về thái độ của Đại sứ Durbow mà
ông cho là “hay sinh sự” để Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm áp lực ngược lại ông
Durbow.
Quan hệ giữa ông Diệm và Đại sứ Durbow càng lúc càng trở nên căng thẳng
và lên đến cao điểm sau biến cố ngày 11–11–1960, biến cố mà vì những hằn học
cá nhân ông Nhu cứ nhất định cho là do Mỹ chủ xướng và Đại sứ Durbow là
người đóng vai trò quan trọng. Dù lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn đã thấy sự suy
sụp của chế độ mà Đại sứ Durbow từng báo trước từ lâu, nhưng vì muốn duy trì
mối liên hệ ruột thịt giữa chế độ Diệm và Hoa Kỳ cũng như vì muốn làm hài
lòng ông Nhu, Tổng thống Kennedy đã kéo Đại sứ Durbow về nước và cử Đại sứ
Nolting qua Sài Gòn thay thế, dù ông này không có nhiều hiểu biết hoặc kinh
nghiệm về Việt Nam cũng như về Đông Nam Á.
Đại sứ Nolting là một nhà trí thức hòa nhã, một nhà ngoại giao tế nhị mà
Bộ Ngoại Giao đã chỉ thị nên dùng những thái độ mềm mỏng trong khi khuyến
cáo chính phủ Diệm để khỏi chạm tự ái của những nhà lãnh đạo miền Nam. Ông
Nolting đã thi hành quá chỉ thị của thượng cấp đến độ tại Hoa Thịnh Đốn
người ta có cảm tưởng ông ta bị lôi cuốn bởi bà Nhu để trở thành một vị Đại
sứ của ông Diệm bên cạnh người Mỹ hơn là một vị Đại sứ của Mỹ tại Sài Gòn
. Cảm tưởng đó hẳn
không sai lầm vì ông Nhu đã thành công trong việc điều động viên Đại sứ dễ
vận dụng này và đã có lần khen ông Nolting là vị Đại sứ thông minh nhất của
Hoa Kỳ tại miền Nam từ trước đến nay.
Mãi cho đến tháng 3 năm 1963, khi cờ gần tàn cuộc, ông Nolting mới bắt
đầu “thức tỉnh”, làm cho một đồng nghiệp của ông, Đại sứ Pháp Roger
Lalouette, phải chế diễu: “Đại sứ Mỹ Nolting quả thật đang kẹt lắm. Nào là
những hiểu lầm giữa ông ta và Bộ Ngoại giao Mỹ, giữa ông ta và các phụ tá,
giữa ông ta và các tướng lãnh Mỹ. Ông Nolting lại đang kẹt với báo chí Mỹ,
với gia đình và chính phủ Diệm, với tất cả mọi nhà ngoại giao khác tại Sài
Gòn. Tất cả những điều kẹt đó chứng tỏ ông Nolting bắt đầu chớm hiểu”
.
Sự kiện thay thế ông Durbow bằng ông Nolting này biểu hiện một cách rất
rõ ràng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng nhượng bộ và làm thỏa mãn anh em ông Diệm dù sự
nhượng bộ đó, về dài, có làm suy yếu chính sách ngoại giao của họ tại miền
Nam nói riêng và sách lược chống Cộng tại Đông Nam Á nói chung. Ta có thể
phê phán người Mỹ thiếu cứng rắn, kém tâm lý, hoặc ta có thể phê phán họ
ngây thơ, nhưng có một điều chắc chắn mà ta phải công nhận là họ đã nhượng
bộ để làm hài lòng hai ông Diệm–Nhu khi quyết định việc thay đổi nhân sự
này.
- Thứ hai là sự kiện người Mỹ đã tìm mọi cách để nâng uy tín ông Diệm lên
cao, một uy tín đang bị sụp đổ và đang cần phải xây dựng lại gấp hầu duy trì
khả năng chống Cộng của chính quyền miền Nam.
Thật vậy, vừa làm lễ nhậm chức cuối tháng Giêng năm 1961 thì ngày 15
tháng 5, Tổng thống Kennedy đã gởi vị Phó Tổng Thống của mình qua miền Nam
để thẩm định lại tình hình tại chỗ, một tình hình không mấy lạc quan vì sự
gia tăng hoạt động của Việt Cộng và những báo cáo bi quan về các thất bại
chính trị của chính quyền miền Nam. Đồng thời Tổng thống Kennedy cũng nhờ
ông Johnson trao lại một lá thư riêng cho ông Diệm tái xác định quyết tâm
của Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ ông Diệm và yểm trợ nhân dân miền Nam chống Cộng…
Lá thư nói rõ rằng Hoa Kỳ chỉ giúp phương tiện và ngân phí mà thôi, còn việc
chiến đấu bảo vệ quê hương là do chính nhân dân miền Nam nhận lấy trách
nhiệm.
Trong chuyến viếng thăm này, để làm hài lòng bản chất tự tôn và tính kiêu
hãnh của vị lãnh đạo miền Nam, ông Johnson khi đến Sài Gòn đã không ngại
ngùng công khai ca ngợi “Tổng thống Diệm là Churchill của thập niên này”.
Nếu ta so sánh cuộc đời cũng như sự nghiệp chính trị của Thủ tướng Churchill
và ông Diệm thì ta sẽ thấy lời đề cao quá lố này chỉ là một lời tuyên bố
thuần túy thuộc ngôn ngữ ngoại giao, rất cần thiết nhằm gây lại uy tín cho
ông Diệm vốn đã suy sụp quá nhiều, và đồng thời vừa để chứng tỏ cho Cộng Sản
cũng như nhân dân miền Nam biết rằng Hoa Kỳ vẫn cương quyết ủng hộ chế độ
Ngô Đình Diệm dù những sai lầm và thất bại của chế độ đó.
Lời tuyên bố đó cần thiết đến độ Johnson đã phải dùng một sự so sánh
không những sai lầm trên mặt lịch sử mà còn hoàn toàn ngược hẳn với sự đánh
giá thầm kín của chính ông ta. Thật vậy, cũng trong chuyến viếng thăm
này, khi ngồi trên phi cơ bay thị sát các quân khu và bị ký giả Mỹ chất vấn
về lời tuyên bố đó, Phó Tổng thống Johnson đã trả lời: “Xì ! Diệm là đứa
duy nhất mà ta có ở đây” (Shit ! Diem’s the only boy we’ve got out
there”) .
Loại ngôn ngữ ngoại giao đầy thủ đoạn chính trị đó, sau này, cũng đã được
ông Nixon dùng để khen ông Thiệu là “một trong bốn lãnh tụ tài ba nhất thế
giới” tại vườn hoa Tòa Bạch Ốc vào năm 1973. Nhưng điểm khác biệt đáng chú ý
là ông Nixon khen ông Thiệu để khuyến khích thi hành hiệp định Paris cho Mỹ
có thể giải kết khỏi miền Nam trong “danh dự”, và ông Thiệu biết lời
khen đó là giả dối, còn ông Johnson khen ông Diệm là để mong tạo uy tín thêm
cho ông Diệm hầu cuộc chiến chống Cộng có thể thành công, trong lúc trong
thâm tâm thì lại nghĩ khác, nhưng ông Diệm lại không biết điều đó. Vì
không biết, nghĩa là không phát hiện ra sự giả dối và không thấy uy tín mình
đang bị mất nên ông Diệm mới dại dột tuyên bố trong một bài diễn văn đáp từ
Johnson rằng: Biên giới của Thế giới Tự Do chạy dài từ Alaska đến sông
Bến Hải, tạo cơ hội cho đài phát thanh Hà Nội lợi dụng tuyên truyền về
bản chất tay sai của chính quyền miền Nam trong quan hệ Mỹ– Diệm, và đã đập
tan cái luận cứ độc lập và dân tộc chống Cộng của chính nghĩa miền Nam trong
nhân dân.
Nhưng dù lời tuyên bố của ông Johnson có giả dối thì rõ ràng nó cũng phát
xuất từ chính sách của Mỹ muốn cho ông Diệm mạnh thêm và muốn cho miền Nam
vững thêm. Một lần nữa, ta có thể phê phán ông Johnson theo chiều hướng nào
cũng được, nhưng chắc chắn là lời tuyên bố đó phản ánh chính sách thân thiện
và ủng hộ của người Mỹ lúc bấy giờ.
- Sự kiện thứ ba là mặc dầu uy tín và sức mạnh chính trị bắt đầu bị tổn
thương sau vụ thất bại tại “Vịnh Con Heo” ở Cuba vào tháng 4 nhưng Tổng
thống Kennedy cũng đã theo lời yêu cầu của ông Diệm, tiến hành chiến dịch
tăng cường quân nhân tham chiến (ngụy trang dưới hình thức cố vấn quân sự và
chuyên viên cứu trợ nạn lụt) tại miền Nam Việt Nam sau chuyến điều nghiên
của Tướng Maxwell Taylor và Cố vấn Walt Rostow vào tháng 10 năm 1961. Chiến
dịch này đã được ông Diệm và chính quyền Mỹ đồng thuận thi hành một cách
tích cực mà sự ra đời của Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự Mỹ (American
Military Assistance Command) vào ngày 6 tháng 2 năm 1962 đã cho phép ông
Diệm nhận thêm từ 700 “cố vấn” lên đến 12.000 “cố vấn” vào giữa năm 1962.
Nghĩa là gia tăng 1.700 phần trăm trong vòng 8 tháng ! Sự gia tăng đó
mạnh mẽ cả về mặt ý chí lẫn sức mạnh đến nỗi Trưởng phái đoàn Ba Lan trong
Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến khi đến Bắc Kinh cũng đã nhận thấy “cấp
lãnh đạo Trung Cộng rất lo lắng về sự can thiệp càng lúc càng gia tăng của
người Mỹ tại Việt Nam” .
Tất cả chiến dịch đó đã được chính quyền Mỹ khôn khéo trốn tránh chính
Quốc Hội và báo chí Hoa Kỳ (vốn đang bắt đầu có khuynh hướng chống việc gửi
quân nhân Mỹ tham chiến tại ngoại quốc sau vụ thất bại tại Cuba) để mạo hiểm
một mặt thỏa mãn lời yêu cầu của chính phủ Diệm, và mặt khác để bảo đảm sự
thành công của cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam.
Thật vậy, mặc dù trong cuộc thảo luận với Phó Tổng thống Johnson trước đó
năm tháng ông Diệm đã không muốn đem quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, nhưng
khốn nỗi vào tháng 10, khi tướng Taylor đang trên đường đến Sài Gòn thì Việt
Cộng phát động các đợt tấn công dữ dội vào tỉnh lỵ Phước Thành, đốt phá các
cơ sở, giết hại cả Tỉnh trưởng lẫn Phó Tỉnh trưởng và rất nhiều binh sĩ, cán
bộ, công chức; đồng thời Việt Cộng lại tấn công nhiều quận lỵ của tỉnh
Darlac và tung ra nhiều đơn vị lớn đánh phá khắp miền Nam, công hãm các đồn
bót chiến lược dọc quốc lộ số 4 và gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng Việt
Nam Cọng Hòa. Tình hình an ninh suy sụp đó khiến cho ông Diệm sợ hãi một
cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng nên ông bèn đưa ra lời tuyên bố chính thức
rằng chiến tranh thật sự đã xảy ra tại miền Nam.
Vì không còn giữ ý định chống lại việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền
Nam nữa nên ông Diệm đã yêu cầu Mỹ đem một số “quân chiến đấu tượng trưng”
vào miền Nam và lớn tiếng kêu gọi Hoa Kỳ cùng với Việt Nam Cộng Hòa ký một
hiệp ước phòng thủ song phương .
Trước lời kêu gọi đó của ông Diệm, và trước tình hình an ninh suy thoái một
cách trầm trọng của miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu Hoa Kỳ cũng khuyến cáo Tổng
thống Mỹ nên gởi quân qua Việt Nam tham chiến. Ý kiến này được Thứ trưởng
Quốc phòng William P. Bundy ủng hộ mạnh mẽ vì theo ông Bundy, sách lược “tốc
chiến tốc thắng” có thể giúp ông Diệm nhiều may mắn hơn và có thể lật ngược
thế cờ. Nhưng vì việc quân đội Mỹ công khai tham chiến tại Việt Nam có thể
gây nhiều phức tạp trong nội bộ chính trị Hoa Kỳ cũng như có thể gây các
phản ứng quốc tế nguy hiểm, nên Tòa Bạch Ốc bề ngoài đã phải giảm thiểu
những thúc giục ồn ào tại cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn, bằng cách giả vờ lộ
một số tin tức cho nhật báo New York Times, tiết lộ rằng “các cấp
lãnh đạo ở Ngũ Giác Đài cũng như Đại tướng Taylor đều tỏ ra miễn cưỡng về
việc gởi các đơn vị chiến đấu Mỹ sang Đông Nam Á”. Bài báo này đã chận đứng
được những tuyên bố quá lộ liễu của ông Diệm.
Những sự kiện trên đây cho thấy mới giữa năm 1961 mà tình hình chiến sự
tại miền Nam đã đến độ nguy ngập như tôi đã trình bày trong một chương
trước. Sự kiện trên đây cũng cho thấy ông Diệm đã hoảng sợ, phải yêu cầu Mỹ
tăng viện, kể cả việc đem quân chiến đấu ngoại quốc vào miền Nam (sự
thật lịch sử này đã bị nhóm Công Giáo Cần Lao bóp méo với luận điệu cho rằng
ông Diệm bị Mỹ giết vì không chịu cho quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước
mình). Sự thật rõ ràng là chẳng những ông Diệm đòi quân Mỹ vào miền Nam, mà
còn nhờ Mỹ vận động với Trung Hoa Dân Quốc gởi một sư đoàn qua Việt Nam tham
chiến. Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài dưới đây tiết lộ một bản mật điện của
Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gởi về Hoa Thịnh Đốn, trình bày về cuộc thương
thảo giữa Đại sứ Nolting và ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Quốc Phòng kiêm
Bộ trưởng Phủ Tổng Thống, cho thấy những bí ẩn đó:
# 25 Những Đòi Hỏi Vào Năm 1961 Của Nam Việt Nam Về Những Đơn Vị Tác
Chiến Hoa Kỳ.
Điện văn từ Tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gởi Bộ Ngoại Giao / 13-10-1961 / Về
những đòi hỏi của Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng của Nam Việt
Nam / Bản sao gởi Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương và Tòa đại sứ Mỹ tại
Bangkok Thailand và Taipei Taiwan / .
Trong buổi họp 13-10 Thuần đã đưa ra những đòi hỏi sau đây:
1. Thêm phi đoàn AD-6 thay vì phi đoàn T-28 như đã dự định và gởi qua
càng sớm càng tốt.
2. Yêu cầu cung cấp phi công dân sự Mỹ để lái máy bay trực thăng, và phi
cơ C-47 để bay những phi vụ tác chiến.
3. Nhiều đơn vị tác chiến Hoa Kỳ, hoặc những đơn vị gọi là “huấn luyện
tác chiến” vào Nam Việt Nam. Một phần để đóng ở phía Bắc gần vĩ tuyến 17 để
thay các lực lượng Quân Đội VNCH ở đó phải bận đi chống du kích ở vùng cao
nguyên. Và cũng để đóng ở nhiều tỉnh của vùng Cao nguyên Trung Việt.
4. Phản ứng của Hoa Kỳ về dự định của Việt Nam yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia
gởi một sư đoàn tác chiến cho mặt trận Tây Nam.
Thuần nhắc đến những tập nhật ký lấy được từ những sĩ quan Việt Minh bị
giết ở miền Trung, trong đó có tin tức về những dự án và kỹ thuật của Việt
Minh. Những tài liệu này đang được phân tích, dịch ra và sẽ được chuyển về
(Hoa Kỳ). Thuần nói: ông Diệm, vì thấy hiện tình của Lào, sự xâm nhập (của
Việt Minh) vào Nam Việt Nam và việc Tổng thống JFK gởi Taylor (qua Việt
Nam), đã yêu cầu Hoa Kỳ xét gấp những đòi hỏi của Nam Việt Nam.
Về việc đòi hỏi gởi những đơn vị huấn luyện tác chiến Mỹ, Nolting hỏi xem
ông Diệm có xét kỹ vấn đề chưa vì đã có nhiều chống đối liên tiếp đòi hỏi
này. Thuần xác nhận rằng có, và rằng ông Diệm đã đổi ý kiến (muốn
Hoa Kỳ gởi quân qua Việt Nam) vì tình hình càng ngày càng tệ hại hơn.
Thuần muốn Hoa Kỳ biểu dương lực lượng gần vĩ tuyến 17 để ngăn ngừa
Cộng Sản tấn công, và để thay thế lực lượng VNCH ở đó. Cũng cần những đơn
vị Hoa Kỳ đóng ở những tỉnh cao nguyên, cho cùng một mục đích: thay thế
cho quân lực VNCH ở đó.
Nolting nói (tại sao lại có) những đòi hỏi này ngay sau khi ông Diệm yêu
cầu có một thỏa ước của cả hai phe, như vậy có phải ông Diệm muốn thay thế
thỏa ước bằng những đòi hỏi trên hay không? Thuần trả lời những đòi hỏi trên
(giải quyết vấn đề) nhanh hơn thỏa ước. Rằng việc gởi quân sang sẽ thỏa mãn
Nam Việt Nam và thích ứng hơn một thỏa ước. (Về việc thỏa ước này, rõ ràng
Thuần chưa suy nghĩ kỹ, cũng như đã chưa bàn với ông Diệm).
Bàn về Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, Nolting nói rằng Nam Việt Nam
trước đây đã coi trọng sự hiện diện của UHQTKSĐC. Thuần đồng ý nhưng nghĩ
rằng những đòi hỏi trên không vi phạm vì những đơn vị Hoa Kỳ gởi sang để
canh phòng chứ không phải để tác chiến, ngoại trừ khi bị tấn công. Cho nên
có thể dùng những đơn vị này mà vẫn giữ được UHQTKSĐC ở Việt Nam. Nolting
nói rằng ông nghi ngờ điều này nhưng có thể thử xem (McGarr và tôi lưu ý hai
điểm: về những đơn vị dự định cho mục đích huấn luyện chỉ là một sự giả mạo
- một cái cớ - chứ không phải mục đích thật. Nếu có gởi những đơn vị Hoa Kỳ
thì các đơn vị đó phải đủ mạnh vì chắc chắn Việt Cộng sẽ tấn công).
Về lực lượng Trung Hoa, Thuần nói rằng Tưởng Giới Thạch đã có dấu hiệu
muốn giúp đỡ (tôi thấy điều này không chắc). Thuần nói chính phủ Việt Nam
không muốn quyết định về việc này nếu không có phản ứng từ Hoa Kỳ. Ý định là
dùng khoảng 10 ngàn quân (Trung Hoa) ở phía Tây Nam càng xa vĩ tuyến 17 càng
tốt. Thuần nghĩ rằng có lẽ nên đưa quân Trung Hoa vào một cách bí mật, nhưng
thấy không được sau khi phân tách lại vấn đề. Nolting nói: ông nghĩ rằng
Trung Hoa chắc sẽ muốn một quyền lợi nào đó trong việc này, có thể là phương
diện chính trị (giảm bớt áp lực chính trị) nếu gởi quân vào Á Châu lục địa
(Nolting nghĩ là chỉ để thử mà thôi).
Vấn đề chắc chắn sẽ được đặt lại với Taylor. Rõ ràng chính phủ Nam Việt
Nam không thể để mất cơ hội đòi hỏi viện trợ nhiều hơn vì sự chú ý và lo
lắng của chúng ta đã gia tăng. Nhưng tình hình quân sự và tâm lý đã đi đến
hồi mà vấn đề phải được xem xét một cách nghiêm chỉnh và nhanh chóng
.
Sau hai tuần lễ quan sát tại chỗ và thảo luận với các nhà chức trách Việt
Nam Cộng Hòa, tướng Taylor đưa ra đề nghị: tăng quân số các cố vấn quân sự
Mỹ, tăng cường chuyên viên về máy móc, gia tăng các dụng cụ tối tân cho mọi
ngành thuộc quân binh chủng VNCH, đặc biệt là việc tối tân hóa ngành truyền
tin, gởi gấp qua miền Nam trực thăng chiến đấu, thiết vận xa M–113 để tạo
lưu động tính cho các đơn vị chiến đấu miền Nam, thay thế phi cơ T–28 bằng
phi cơ AD–6, và nhiều vũ khí, dụng cụ tối tân khác… Đồng thời với đề nghị
trên đây, tướng Taylor cũng “lưu ý riêng” Tổng thống Kennedy là nên gửi qua
miền Nam 8 ngàn quân chiến đấu Mỹ, ngụy trang thành những đội chuyên viên
giúp miền Nam đối phó với trận lụt đang đe dọa vùng châu thổ sông Cửu Long.
Những sắp đặt trên đây, theo quan niệm của tướng Taylor, là một sự tham dự
giới hạn của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam theo tinh thần “limited
partnership”, nghĩa là “những cố vấn quân sự Mỹ tiến đến gần hơn (nhưng
chưa hẳn là) một bộ chỉ huy hành quân trên một chiến trường”
.
Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài trên đây và sự gia tăng nhảy vọt của số
lượng “cố vấn” Mỹ tại chiến trường Việt Nam sau đó, không những đã cải chính
sự huyênh hoang tội nghiệp của những phần tử Cần Lao Công Giáo đang cố bám
víu vào cái huyền thoại “Ngô Tổng thống không chịu cho quân Mỹ vào Việt Nam
nên bị Mỹ lật”, mà còn làm nổi bật lên một sắc thái đặc thù của liên hệ
Mỹ–Việt vào năm 1962 của chính phủ Ngô Đình Diệm: đó là dù ông Diệm có bất
lực trong việc chống Cộng, chính phủ Mỹ vẫn yểm trợ, bảo bọc ông Diệm. Và
ông Diệm đã công nhận, đã chấp thuận sự bảo bọc đó một cách quá trớn, nhất
là trong trường hợp can thiệp lộ liễu của “cố vấn” Mỹ trong những quyết định
quân sự, đến nỗi sau này, lúc hồi tưởng lại năm 1961, khi còn làm phóng viên
tiền tuyến theo dõi các cuộc hành quân, ký giả Ngô Đình Vận đã viết: “Tôi
thấy rõ quân đội trong thời đệ I Cộng Hòa đã không thực sự có được độc lập,
có được đầy đủ sự chủ động ngay cả trong lúc giao tranh với địch quân”
.
Sự yểm trợ và bao che đó lại càng nổi bật hơn nữa trong trận Ấp Bắc mà
kết quả thảm bại, dù rất rõ ràng hiển nhiên, đã được ông Diệm và bà Nhu đổi
ngược thành chiến thắng và, trong liên hệ thắm thiết Mỹ–Việt lúc bấy giờ, đã
được một số nhân vật chủ yếu của chính quyền Kennedy đồng lõa công nhận.
Thật vậy, từ đầu năm 1962, khi các cố vấn quân sự Mỹ và số khí cụ tối tân
mới được tăng viện cho miền Nam trong kế hoạch Taylor–Rostow thì quân đội
Việt Nam Cộng Hòa đã thu lượm được một số chiến thắng tại châu thổ sông Cửu
Long, và lần đầu tiên đã tiến được vào chiến khu D, rừng U Minh, vốn là
những căn cứ bất khả xâm phạm của Việt Cộng. Những chiến thắng thuần túy
quân sự đó đã gây phấn khởi cho cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn. Để yểm trợ cho
mặt trận tuyên truyền tại Hoa Kỳ, ông Diệm đã cho phép Đại Tá Huỳnh Văn Cao,
Tư lệnh Sư đoàn 7, diễn hành tại thủ đô Sài Gòn với sự tham dự của một số
Dân biểu Quốc hội. Trong lúc đó tại Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara họp
báo tuyên bố miền Nam Việt Nam của ông Diệm đang lật ngược thế cờ.
Nhưng những chiến thắng đó chỉ như bọt sóng bắn lên tung tóe rồi sau đó
tan vỡ mất vì ngay cả chỉ trên mặt thuần túy quân sự mà thôi, ưu thế lưu
động của hai chiến thuật trực thăng vận và thiết vận xa M–113 đã không được
khai thác đúng mức, hơn nữa chúng lại không hiệu dụng trong một trận chiến
mà kẻ thù đã khôn khéo phối hợp được các kỹ thuật du kích chiến với những vũ
khí tối tân do Nga viện trợ. Nhưng đó vẫn chưa phải là lý do chính khiến cho
Việt Cộng dành lại được ưu thế trên chiến trường mà lý do chính là vào những
năm đầu thập niên 1960, tinh thần chiến đấu của binh sĩ đã không còn hăng
say nữa. Tình cảm bất mãn chế độ, bất mãn cấp lãnh đạo là gia đình ông Ngô
Đình Diệm phát xuất từ những sự kiện rất thực tế trước mắt, rất liên hệ trực
tiếp đến bản thân của sĩ quan và binh sĩ, đã làm suy giảm rất nhiều tinh
thần hăng say và quyết tâm chiến đấu của quân lực.
Giữa năm 1962, hai phi công Quốc và Cử ném bom dinh Độc Lập định giết cả
nhà, tức là cả chế độ, của ông Ngô Đình Diệm lại càng nung nấu và càng làm
lan rộng sự bất mãn đó. Đầu năm 1963, ba cán bộ Cần Lao Công Giáo của ông
Diệm là Tư lệnh Vùng 4 Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bùi Đình Đạm và
Thiếu tá Tỉnh trưởng Định Tường Lâm Quang Thơ, với quân số đông hơn, với vũ
khí hiện đại hơn, lại hứng chịu thảm bại nhục nhã tại Ấp Bắc trước tiểu đoàn
514 của địch không đến 400 quân. (Xin xem thêm “The Bright Shining Lie”
của Neil Sheehan. Bản dịch Việt ngữ “Sự Lừa Dối Hào Nhoáng” của Nhà Xuất Bản
Hồng Lĩnh, 1991).
Thảm bại rõ ràng này không những đã khiến cho tướng Lê Văn Tỵ phải đích
thân xuống điều tra tại chỗ mà chính các cố vấn quân sự Mỹ, đặc biệt là
Trung Tá John Paul Vann – người phối hợp các phương tiện hỏa lực gồm M–113,
trực thăng UH–1A, trực thăng CH–21, các đơn vị quân đội Mỹ trong vùng cho
trận Ấp Bắc này – đã phải nhục nhã gọi là “một thành tích khốn nạn”
vì tướng Cao đã “chọn lựa tăng cường sự thất bại thay vì nỗ lực để chiến
thắng” (“A miserable damn performance… They choose to reinforce defeat
rather than to try for victory”) .
Báo chí Mỹ tức giận vì sự bất lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và sự vô
hiệu của các chiến cụ viện trợ, đã phanh phui sự thất bại đó và còn quá
khích đòi hỏi chính quyền Mỹ phải giành lấy quyền lãnh đạo chiến tranh tại
Việt Nam để tiêu diệt Cộng Sản. Thảm bại đã rõ ràng như thế, nhưng để tránh
cho cuộc khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn khỏi lan rộng thêm vì một thất
bại quân sự nặng nề, ông Diệm – và ngay cả bà Nhu, người không có thẩm quyền
về các vấn đề quân sự – đã tuyên bố rằng Ấp Bắc là một chiến thắng oai hùng
của Sư đoàn 7.
Các nhà lãnh đạo Mỹ, đặc biệt là Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, Đại sứ
Nolting, Đại Tướng Tư lệnh Quân Đội Mỹ tại Việt Nam Paul Harkins, đành phải
bênh vực ông Diệm bằng cách xác nhận đó là một chiến thắng
. Thái độ bưng bít
sự thật để tiến hành chính sách – mà trong giai đoạn đó là chính sách ủng hộ
“người hùng” Ngô Đình Diệm – còn tiếp diễn dài dài sau này suốt cuộc chiến
Việt Nam. Ở đây tôi không phân tích về những lợi và hại của thái độ đó, mà
tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng qua thái độ đó thì cho đến đầu năm 1963, mối
liên hệ giữa các nhà lãnh đạo Mỹ và ông Diệm vẫn rất thắm thiết. Thắm thiết
đến độ phải nói láo để bênh vực cho cái thế và cái lực của một con tốt vô
dụng vào lúc cờ tàn.
- Sự kiện thứ năm là sự đồng lõa của một số viên chức cao cấp Hoa Kỳ nhằm
che dấu những thất bại của quốc sách ấp chiến lược hầu bảo vệ ông Diệm.
Chương trình Ấp Chiến Lược là do sáng kiến của ông Thompson người Anh, Cố
lấn Du Kích chiến của Tòa Bạch Ốc. Chương trình này đã được Tổng thống
Kennedy hết lòng yểm trợ và đặt hết hy vọng vào hiệu quả của nó mà sự thành
công đã được chứng nghiệm tại Mã Lai dù điều kiện ứng dụng có khác. Khi Mỹ
đề nghị thực hiện chương trình này trong mục đích tiêu diệt hạ tầng cơ sở
của Việt Cộng tại nông thôn thì bị ông Ngô Đình Nhu bác bỏ. Mỹ phải vận động
mãi và đặc biệt phải tăng tài phí lên rất cao ông Nhu mới chấp thuận. Khi
tiền viện trợ bắt đầu được tháo khoán, ông Nhu đích thân nắm lấy việc điều
khiển thực hiện chương trình và cho áp dụng kế sách riêng của ông ta theo
đường hướng của chủ nghĩa “nhân vị” và đặc biệt để tạo một bộ máy nhân sự
trung thành với chế độ .
Mà bộ máy trung thành đó có mục đích quyết liệt nhất là gì nếu không phải là
nhân danh công cuộc chống Cộng để phát động và thực hiện cho được âm mưu
Công giáo hóa nhân dân trong các Ấp Chiến Lược như tôi đã trình bày ở một
chương trước.
Nếu công cuộc thực hiện chương trình Ấp Chiến Lược được tiến hành một
cách thực tế hơn, nghĩa là dựa trên thực tế chính trị quân sự cũng như thực
tế xã hội nhân văn của miền Nam, và nếu được thực hiện bởi một cơ cấu nhân
sự trong sạch và vì dân chứ không phải tham nhũng và vì bè phái mà cụ thể là
đừng bắt dân đóng góp vật liệu, đừng bắt dân chúng lao động cực nhọc suốt
đêm ngày không công, đừng quá cứng rắn trong việc bắt dân dời nhà cửa vườn
tược của ông cha họ để lại, nghĩa là đừng làm mất lòng dân quá đáng, thì có
lẽ kế hoạch Ấp Chiến Lược cũng đã có thể thu hoạch được phần nào thành quả.
Khốn nỗi, chương trình Ấp Chiến Lược lại được chỉ đạo và kiểm soát bởi một
Ngô Đình Nhu bệnh hoạn nên mới trở thành một hỏa diệm sơn thù hận chế độ và
làm suy yếu luôn sức mạnh chống Cộng ở miền Nam.
Trước sự thất bại và hệ quả nguy hại rõ ràng đó, ông Rufus Phillips, nhân
viên cao cấp nhất của Mỹ đặc trách về chương trình Ấp Chiến Lược, đã phải
phúc trình trực tiếp với Tổng thống Kennedy để yêu cầu tái xét lại ngay cả
sự cần thiết của chương trình này. Nhưng một lần nữa, những nhân vật rường
cột của chánh sách Mỹ tại Việt Nam như Ngoại trưởng Rusk, Bộ trưởng
McNamara, Đại sứ Nolting, Tướng Harkins, và ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao
Roger Hillsman (người sau này quyết liệt ủng hộ việc lật đổ chế độ Diệm) vẫn
bênh vực ông Diệm và cho rằng chương trình Ấp Chiến Lược đã thành công.
Mặc dầu thái độ của họ phát xuất trước hết từ những động cơ khác như vì
quyền lợi của Mỹ, như vì chính sách chống Cộng toàn cầu, như vì muốn giới
hạn vai trò của báo chí… nhưng thái độ đó – khi che dấu sự thật và nhận định
trái ngược hẳn với chính người trực tiếp phụ trách công tác là ông Rufus
Phillips – cũng phát xuất từ ý định nâng đỡ và bao che cho chế độ Ngô Đình
Diệm, nếu không muốn nói là bênh vực và chiều thuận chế độ đó.
-o0o-
Nhìn mối bang giao Mỹ–Việt, đặc biệt là liên hệ giữa chế độ Diệm và các
cấp lãnh đạo Hoa Kỳ, trong suốt chín, mười năm trời cai trị miền Nam, anh em
ông Diệm đã phạm không biết bao nhiêu lỗi lầm trầm trọng, ta thấy dù những
lỗi lầm đó đã đưa đất nước từ thanh bình đến rối loạn, từ cảnh an ninh đến
tình trạng chiến tranh thật sự, thế mà người Mỹ vẫn một lòng ủng hộ ông Diệm
và chế độ của ông ta. Người Mỹ đã chân thành khuyến cáo để anh em ông Diệm
sửa sai, khuyến cáo không nổi thì nhượng bộ, chiều lụy, thế mà ngược lại anh
em ông Diệm vẫn cứ chê trách chống báng. Mà sự chống báng đó thật ra không
phải phát xuất từ thể diện quốc gia (còn gì mà thể diện khi đã được khai
sinh và nuôi dưỡng) hay độc lập dân tộc (còn gì mà độc lập khi quân viện và
kinh viện đã tràn ngập đất nước) mà phát xuất từ bản chất phong kiến,
quan liêu, tự tôn, tự đại của anh em dòng họ Ngô Đình.
Năm sự kiện tiêu biểu mà tôi vừa kể trên kia đã chứng minh thái độ chịu
đựng của người Mỹ trước sự ngoan cố của anh em ông Diệm. Lời trình bày của
ký giả Robert Shaplen dưới đây còn mô tả rõ hơn nỗi chán chường và khổ tâm
của người Mỹ trong việc giao thiệp với những nhà lãnh đạo của miền Nam Việt
Nam:
Đến tháng Giêng năm 1962, sau những cuộc thảo luận kéo dài, một bản thông
cáo ra đời cho thấy rõ ràng Diệm và Nhu đã thu hoạch tất cả những gì họ muốn
về vấn đề tăng viện quân sự và kinh tế, mặc dầu không có dấu hiệu nào cho
thấy họ cố ý thật sự thực hiện những cải cách. Đây là khúc quanh cuối cùng
trong liên hệ lâu dài và đau đớn giữa chúng ta và Diệm. Những ai trong chúng
ta đã từng ở Trung Hoa vào năm 1946 và có theo dõi cố gắng của người Mỹ
trong việc lôi kéo Tưởng Giới Thạch chấp nhận thực hiện cải cách thì có thể
làm một sự so sánh ở đây. Mỗi lần chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang đạt được
thành quả với Tưởng Giới Thạch và đang dễ dãi với thành phần cấp tiến của
Quốc Dân Đảng, thì vô tình chúng ta đã làm cho thành phần bảo thủ chung
quanh Tưởng Giới Thạch có thể thuyết phục ông ta không nên thực hiện bất cứ
chương trình cải cách nào mà người Mỹ muốn, bởi vì chúng ta (người Mỹ) đã
gián tiếp xác định rằng chúng ta sẽ tiếp tục hỗ trợ cho ông ta trong cuộc
chiến chống Cộng Sản. Ở Sài Gòn vào khoảng thời gian thương thảo 1961-1962,
Nhu cũng đã giữ vai trò giống như vai trò của thành phần phản động trong
Quốc Dân Đảng. Nhu đã nói với Diệm rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ chế độ (Diệm), và
do đó không cần phải nghe theo những đòi hỏi cải cách của Mỹ. Hệ quả của
việc để cho Diệm ở vị trí ưu thế này là người Mỹ ở Sài Gòn, một lần nữa lại
bị bắt buộc phải lễ độ trong việc thuyết phục và khuyến cáo. Điều đó cho
thấy thế đứng của chúng ta lúc bấy giờ bị yếu hẳn, và rồi cuối cùng sẽ không
tránh khỏi rối loạn. Chúng ta đã cho người Việt Nam điều kiện để họ lạm dụng
ý niệm “chủ quyền”, một người chán nản đã nói như vậy. Bề ngoài thì Tòa đại
sứ làm bộ như đang thấy có những tiến bộ tại Việt Nam. Một nhân viên cao cấp
khác đã nói với tôi vài tháng sau đó: “Thời gian rất cần thiết, chúng ta
chưa sẵn sàng để thấy đứa bé ra khỏi bồn tắm. Tôi hy vọng thấy đứa bé sẽ ăn
nhiều hơn từ tuần này qua tuần nọ.” Tuy nhiên, lúc riêng tư, thì hầu hết các
nhân viên đều nói rõ sự bất mãn của họ đối với tình trạng đang suy sụp dần.
Một nhân viên nữa của Tòa đại sứ đã nói một cách tuyệt vọng rằng: “Chúng ta
đã hiến mình quá nhiều cho Diệm rồi, nhưng chúng ta cũng phải giữ thế quân
bằng. Có nhiều cách để làm áp lực: một cách là chúng ta có thể chận lại
nhiều chương trình như Diệm-Nhu đã chận và không cho Diệm-Nhu những gì họ
đòi hỏi. Hay nói thẳng với họ: “Các ông không muốn làm như vậy à? Ok, vậy
thì chúng tôi cũng sẽ không làm như vậy”. Có thể gọi đó là lối phản kháng
tiêu cực, cũng như đó là lối chơi theo kiểu Đông phương xưa, và đã đến lúc
chúng ta cũng phải học cách chơi theo kiểu đó” .
Ngoài Robert Shaplen đã có nhận định trên, ký giả
Karnow còn có ý kiến sâu sắc hơn:
...Trong thời gian đó, Diệm chống lại khuyến cáo của Hoa Kỳ trong việc
cải cách chế độ bởi vì Diệm biết rằng Hoa Kỳ cần Diệm để chống Cộng. Như một
giới chức Mỹ ở Sài Gòn đã nói: “Diệm là một thứ bù nhìn tự kéo lấy dây” (a
puppet who pulled his own strings). Diệm dùng phương tiện Mỹ cho những nhu
cầu riêng tư, ông ta không quan tâm nhiều đến một quân đội chống du kích mà
lại lo thành lập những đơn vị để bảo vệ ông ta chống lại những người quốc
gia đối lập tại Sài Gòn .
Những nhận định này nói lên thủ đoạn của anh em ông Diệm lợi dụng chính
sách chống Cộng trong chủ thuyết Domino của người Mỹ để thao túng các kế
hoạch quân viện và kinh viện, và nhất là để có thể khước từ những khuyến cáo
thực thi dân chủ và hiệu dụng hóa khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam
Cọng Hòa mà người Mỹ đã nhiều lần thúc giục. Những nhận định đó cũng nói
thêm một điểm rất cơ bản khác là cho đến trước khi xảy ra vụ tấn phá chùa
chiền vào tháng Tám năm 1963, người Mỹ vẫn tiếp tục “ngậm đắng nuốt cay”
chịu đựng chế độ Ngô Đình Diệm, một chế độ đang bị chính nhân dân và quân
đội miền Nam căm phẫn, một chế độ đang bị chính giới và công luận Hoa Kỳ lên
án.
Phân tích dưới đây của một người bạn Mỹ rất thân của ông Diệm lại trình
bày rõ hơn về những thăng trầm trong liên hệ Việt–Mỹ qua suốt gần mười năm
dan díu:
Giải quyết vấn đề dân di cư đã cho thấy sự phối hợp giữa cấp chỉ huy địa
phương, tài nguyên quốc gia, và viện trợ của Mỹ có thể làm được việc. Nhưng
chính sự thành công trong lãnh vực này lại làm nổi bật lên sự yếu kém về
phương thức điều hành của chế độ Diệm trong việc giải quyết các vấn đề kinh
tế, xã hội, hành chánh và quản trị quốc gia.
Sự sống còn của quốc gia được đặt căn bản trên những kế hoạch kinh tế, xã
hội, và chính trị nhằm mục đích lôi kéo sự trung thành của nhân dân và làm
cho nhân dân quyết tâm bảo vệ chế độ chống lại những cuộc nổi dậy bằng bạo
lực. Tuy mức độ ủng hộ của nhân dân đối với Diệm không thể đo lường được dễ
dàng, những chắc chắn giữa năm 1955 và 1957, Diệm đã tạo được nhiều tiến bộ.
Ngay cả những kẻ chỉ trích chế độ khó tính nhất cũng đã phải nhận rằng, dù
ngắn ngủi, Diệm đã hưởng được sự ủng hộ của nhân dân, và điều này chứng tỏ
rằng lịch sử đã cho Diệm một cơ hội thực sự.
Nếu mức độ ủng hộ Diệm (ở Việt Nam) không chắc chắn, thì sự ủng hộ ở Hoa
Kỳ lại rất vững chãi. Viện trợ của Mỹ rất quan yếu cho Nam Việt Nam đến nỗi
có những người Mỹ ở Hoa Kỳ đã xem sự viện trợ này thay thế - chứ không phải
là một điều kiện – cho sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam. Ngay cả ông Diệm
cũng xem điều này như vậy khi ông nhận ra rằng ông đã không lôi kéo được
khối quần chúng và khối tri thức Việt Nam ủng hộ ông.
Mặc dù tinh thần quốc gia chống Cộng dưới sự lãnh đạo của ông Diệm có một
lúc có vẻ như là một thế lực khả dĩ có thể chống lại được ảnh hưởng của Việt
Cộng, nhưng đến 1960 thì rõ ràng Diệm đã không sử dụng viện trợ Mỹ để tranh
thủ lòng dân. Nhưng vì sao mà Diệm vẫn thành công trong việc duy trì được sự
ủng hộ của Hoa Kỳ trong nhiều năm mặc dù tình trạng suy sụp về sức mạnh
chính trị của ông ta đã biểu lộ rõ ràng? Và tại sao rất nhiều người Mỹ, dù
biết rõ vẫn đề và dù có cái nhìn chính trị tinh tế, lại vẫn cứ tiếp tục bênh
vực ông ta trong nhiều năm!
Để hiểu dễ dàng hơn sự tin tưởng kiên cố của những người Mỹ này, ta có
thể chia chín năm cai trị của Diệm thành ba giai đoạn. Giai đoạn Một
kéo dài khoảng một năm, trong đó, ngược lại với mọi dự đoán, Diệm đã thành
công trong việc giữ vững vị thế và đặt nền móng cho nền cai trị của ông ta.
Sự tin tưởng rằng tất cả đều tốt đẹp và rằng phép lạ đã xảy ra đã đâm rễ
trong giai đoạn hai, và sự tin tưởng đó kéo dài không quá hai năm sau đó.
Thật vậy mọi nghi ngờ về sự vững chắc của địa vị ông Diệm đã biến mất hoàn
toàn sau hai năm đầu tiên của giai đoạn Hai này, và mặc dù chế độ bắt
đầu để lộ ra những khuynh hướng chính trị tạo rắc rối cho nền cai trị, nhưng
niềm tin về khả năng hành xử theo chiều hướng xây dựng của chế độ vẫn cứ
được nẩy sinh và duy trì chính trong giai đoạn này.
Khó nói được giai đoạn Ba bắt đầu từ lúc nào. Ở Việt Nam thì sự
bất mãn chế độ đã lan rộng vào năm 1957, ở Hoa Kỳ thì những kẻ ngưỡng mộ
Diệm hồi trước đã ngưng ủng hộ ông ta sau năm 1960. Tuy nhiên giới chính
quyền Mỹ, cho đến khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 mới lên án sự
thất bại của chế độ Diệm.
Sở dĩ có một số người Mỹ lạc quan về Diệm là vì chính những người Mỹ này
cần nuôi dưỡng lạc quan cho chính họ. Chỉ có “good news” từ Sài Gòn mới giữ
được niềm tin rằng phép lạ tại Việt Nam là thật chứ không phải là một ảo
ảnh. Nhu cầu “good news” đã làm cho nhiều quan sát viên chống Cộng mang một
cái nhìn hời hợt, hay ít nhất đã bỏ qua những thất bại của Diệm, và sự kiện
này đã làm cho những báo cáo về thành quả của Diệm trở thành vô giá trị
.
Giáo sư Buttinger, được xem như “khai quốc công thần” của chế độ Diệm,
rồi giáo sư Fishel, Đại tá Lansdale, Thượng Nghị sĩ Mansfield,… những người
vừa là bạn vừa là nhân vật đỡ đầu của ông Diệm trong chính sách Mỹ, từ năm
1960, lần lượt chán nản xa rời ông Diệm trong cái tâm trạng “bỏ thì thương
mà vương thì tội”. Ngay Tổng thống Kennedy, từ trước năm 1954 và còn kéo dài
sau đó, cũng đã từng triệt để ủng hộ ông Diệm, rồi cuối cùng người ân nhân
tối quan trọng đó cũng đã bị ông Diệm phản bội khi ông bắt tay với Cộng Sản
Hà Nội.
Phần mà tôi vừa trình bày ở trên về chính sách của người Mỹ đối với các
quốc gia nhược tiểu chống Cộng, và đặc biệt đối với chế độ Ngô Đình Diệm, đã
nói lên rất rõ ràng rằng cho đến tháng Tám năm 1963 (nghĩa là cho đến ngày
ông Nhu cuồng dại tấn công các cơ sở của Phật Giáo Việt Nam), giới lãnh đạo
Mỹ chẳng những đã không tạo một áp lực nào phương hại đến sự sinh tồn của
chế độ Diệm (ngoài những khuyến cáo xây dựng để củng cố thêm chế độ) mà
ngược lại chính anh em ông Diệm đã tạo ra những căng thẳng trong mối bang
giao bằng thủ đoạn “chantage” nhân danh nhu cầu chống Cộng của người Mỹ.
Mãi cho đến đầu năm 1963, trước cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng tại
miền Nam Việt Nam mà hệ quả có thể là sự suy sụp toàn diện sức mạnh chống
Cộng của cả nước, và trước những áp lực của quần chúng Hoa Kỳ, của chính
giới Hoa Kỳ, của công luận thế giới, của các nước đồng minh, của tòa thánh
Vatican,… giới lãnh đạo Mỹ mới bắt đầu áp dụng những biện pháp cứng rắn
trong lãnh vực chính trị và viện trợ để vừa làm áp lực vừa giúp đỡ chính
quyền miền Nam sửa sai.
Nói chung, về chính trị, người Mỹ đòi chế độ phải tôn trọng và thực thi
nguyên tắc phân quyền và chính sách tản quyền để tránh tình trạng trung ương
tập quyền đang làm mù quáng và tê liệt khả năng điều hành của dinh Gia Long.
Cụ thể là để cho thành phần đối lập được tự do sinh hoạt tại nghị trường
Quốc hội cũng như trong chính giới, xét lại hệ thống bổ nhiệm nhân sự ở các
địa phương để tránh tình trạng lạm dụng quyền hành nhờ có liên hệ đặc biệt
với gia đình Tổng thống, các cuộc bầu cử từ trung ương đến địa phương phải
thực sự tự do và trong sạch… Lẽ dĩ nhiên những đòi hỏi này chỉ được người Mỹ
trình bày dưới hình thức khuyến cáo để tránh tình trạng “can thiệp vào nội
tình của nước khác”, ngược hẳn với những biện pháp khác táo bạo và mạnh mẽ
hơn trong việc kiểm soát việc sử dụng tài phí viện trợ. Vấn đề kiểm soát
tiền viện trợ này không phải chỉ vì chính quyền Mỹ muốn hiệu năng hóa công
cuộc chống Cộng mà còn vì muốn biện minh với Quốc hội Hoa Kỳ trong những
buổi điều trần về tình trạng tham chiến tại Đông Dương.
Đặc biệt, chính quyền Mỹ muốn được biết về số tiền tài trợ cho Lực Lượng
Đặc Biệt, các cơ quan công an, mật vụ, và những mật phí có được sử dụng đúng
đắn cho các công tác tình báo chống Cộng không. Đòi hỏi này đã bị ông Nhu
xem như là một áp lực của Hoa Kỳ nhằm kiểm soát những bí mật quốc phòng và
đã bị ông quyết liệt từ chối, vì ai cũng biết phần lớn của số tiền đó được
chi tiêu để xây dựng bộ máy đàn áp đối lập, xây dựng những tổ chức kinh tài
cho anh em ông và cho những hoạt động mờ ám khác.
Trong quân đội, các cố vấn Mỹ tỏ ra khắt khe hơn trong việc sử dụng các
phưong tiện của Hoa Kỳ khi hành quân, và họ cũng tham dự nhiều hơn và trực
tiếp hơn vào những trận đụng độ càng lúc càng lớn với quân Việt Cộng. Tình
trạng này đã tạo ra nhiều va chạm giữa sĩ quan Việt Nam và sĩ quan cố vấn Mỹ
về chiến thuật giao tranh với kẻ thù. Cho nên, trong thời gian đó, đã có
những sĩ quan Việt Nam không cần tiếp vận của Mỹ và vì tự ái dân tộc đã sáng
tạo ra những chiến thuật tiêu diệt địch oai hùng, nhưng cũng có rất nhiều
đơn vị trưởng khác, nhất là các sĩ quan thuộc hệ thống Cần Lao chuyên lạm
quyền để thủ lợi, không dám hành quân mà chỉ lui về thế phòng ngự giữ chặt
lấy các tỉnh lỵ cho an toàn, và để mặc nông thôn cho Việt Cộng thao túng.
Phân tích những biện pháp chính trị và quân sự, tài chánh và điều hành
của Hoa Kỳ, ta có thể nói rằng trước khi xảy ra vụ tấn công các chùa vào
tháng 8 năm 1963, người Mỹ đã không tạo ra những áp lực nặng nề nào cả mà
chỉ thể hiện những khuyến cáo của mình bằng một số biện pháp rất cụ thể để
nâng cao hiệu năng đối đầu với Cộng Sản của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Nhưng ông Ngô Đình Nhu thì không nghĩ như thế. Và dù chính Mỹ đã khai
sinh và nuôi dưỡng chế độ Diệm từ năm 1953, dù người Mỹ trong các cơ quan
then chốt đã đóng những vai trò quan trọng trong các chính sách từ nhiều năm
qua… nhưng đến khi cần chống Mỹ thì ông Nhu lại nêu lên những khuyến cáo và
những biện pháp đó làm lý do để cho rằng “bị Mỹ làm áp lực, bị Mỹ chen vào
nội tình quốc gia” dù đã 8, 9 năm đè đầu dân tộc nhờ tiền bạc và thế lực của
Mỹ.
Đến đây thì nguyên nhân thứ tư của quyết định thay đổi lập trường
từ thân Mỹ đến chống Mỹ, từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng của ông Ngô
Đình Nhu bắt đầu thành hình, mà sự thành hình đó bắt nguồn từ chính bản chất
nội tại của con người ông ta.
Những bản tính đặc biệt đó của ông Nhu là gì?
Trước hết ông Nhu là một người Việt có một tâm hồn rất Tây, thứ
Tây trí thức chuộng lý thuyết và đắm chìm trong những lý tưởng đến nỗi quên
mất thực tại. Nền giáo dục từ chương nặng nề của Pháp vào thập niên 1930 và
40, cũng như nội dung giảng huấn của trường Chartres đã bủa màng lưới lý
thuyết vây kín óc sáng tạo và tính khách quan của người thu nhận. Ông Nhu
say sưa đọc sách, càng nhiều càng tốt, mà không biết đối chiếu với thực tại
để khai mở một triết lý hành động cho chính mình cũng như cho chính quốc gia
sau này. Do đó mà những tác phẩm lý thuyết mà ông Nhu là cha đẻ sau này như
Hiến pháp Đệ nhất Cộng Hòa, Thuyết Nhân Vị, v.v… chỉ là một sự chắp vá gượng
ép của rất nhiều trào lưu tư tưởng lúc bấy giờ mà chẳng có một nội dung đặc
thù nào, lại càng không phù hợp với hiện thực chính trị và xã hội của miền
Nam Việt Nam chút nào cả.
Khi về nước phụ trách quản thủ thư viện tại Hà Nội rồi Huế, ông Nhu chỉ
là một công bộc của bộ máy cai trị Tây, suy tư và hành xử như Tây chẳng khác
một con cá biển sống thoải mái trong nước mặn. Do đó, ta không lạ gì khi
thấy ông Nhu chỉ giao du với những thành phần thuộc giai cấp thượng lưu trí
thức, và đến khi thành hôn thì cũng lấy con gái một gia đình trưởng giả
trong nếp sống phóng đãng của Hà Nội bị Âu hóa. Văn hóa Pháp chi phối mạnh
mẽ tâm hồn ông Nhu, mạnh mẽ đến nỗi khi diễn đạt, ông Nhu không dùng nổi
tiếng Việt mà phải nhờ tiếng Pháp để nói và viết. Bài “Hội Mùa Xuân tại Hà
Nội thời Hậu Lê” (La Fête de Printemps à Hanoi du temps des Lê Posterieurs),
cũng như các diễn văn của ông Diệm sau này, ông Nhu đều viết tiếng Pháp và
Võ Văn Hải dịch ra Việt văn. Con cái thì chỉ học trường Tây trường Đầm, và
trong nhà thì chỉ đối đáp với nhau bằng Pháp ngữ.
Rõ rệt hơn nữa là khi mới có chính quyền, vợ chồng Nhu đã vội chuyển tiền
ra ngoại quốc và chỉ chuyển qua Pháp hoặc Thụy Sĩ. Mua sắm nhà cửa thì cũng
tại Pháp và Ý, tạo mãi cơ sở kinh doanh dĩ nhiên cũng tại Pháp. Ba lần công
du chính thức, ông Nhu đều tìm cách ghé qua Pháp, riêng bà Nhu thì đi Pháp
hàng năm, có khi trong một năm đi hai, ba lần. Chỉ năm 1957, ông Ngô Đình
Nhu có viếng thăm Hoa Kỳ và đã được Tổng thống Eisenhower tiếp kiến.
Do đó, chính nếp sống Tây hóa, và quan điểm chính trị bị Tây hóa này đã
làm cho ông Ngô Đình Nhu, trong sự hỗn loạn của tình hình lúc bấy giờ, đã
trở nên chủ bại trong ý thức và trở về với lập trường khuynh tả của giới
trí thức Âu Châu để chấp nhận chủ nghĩa của Marx như một chủ nghĩa nhân
bản về mặt triết lý và là một hệ ý thức thuần lý về mặt sử quan, đến nỗi đã
công khai tuyền bố “Tôi không phải là người chống Cộng trên quan điểm chính
trị hay nhân bản. Tôi xem những người Cộng Sản như anh em…”
Từ tình cảm thân Tây, phục Tây và trọng Tây trên mặt tư tưởng cũng như
nếp sống đó, tâm lý chống Mỹ, khinh Mỹ, ghét Mỹ của ông Nhu chỉ là một hệ
luận tất yếu mà thôi. Và ông Nhu bị rơi vào cái vòng nhị nguyên đối đãi của
một thứ lựa chọn cứng nhắc: càng trọng Tây thì càng khinh Mỹ, càng chống Mỹ
thì càng thân Tây, chứ không tìm được cho mình một chọn lựa đặc thù nào
trên nền tảng dân tộc, để khỏi vật vờ trong thế tranh hùng ngoại bang
Tây–Mỹ.
Ngoài đặc tính nặng lý thuyết (mà là lý thuyết Tây phương) đến độ viển
vông này, ông Nhu còn bị bệnh chủ quan của một người tưởng mình quán thông
kim cổ, của một người khinh thế ngạo vật, xem trí thức và nhân sĩ miền Nam
như cỏ rác. Ông Nhu chủ quan đến độ không nhận ra rằng anh mình được làm
Tổng thống trước hết là nhờ Mỹ và tòa thánh La Mã chứ không phải nhờ những
vận động chính trị đầy tính thỏa hiệp của ông Nhu tại Sài Gòn. Ông chủ quan
đến nỗi không nhận ra rằng sau những năm đầu của chế độ, lòng dân đã bắt đầu
dao động và những tình cảm cũng như sự tín nhiệm ban đầu của nhân dân đã bắt
đầu biến đổi từ dè dặt đến nghi ngờ, từ nghi ngờ đến chống đối. Ông cũng chủ
quan đến nỗi không biết rằng những sách lược và những tổ chức của mình như
Ấp Chiến Lược, như Thanh Niên Cộng Hòa, như đảng Cần Lao Công giáo, như Lực
Lượng Đặc Biệt, như trại giam P42 không đủ khả năng để chống đỡ cho chế độ
đang bị ung thối từ trong cốt lõi. Ông cũng chủ quan đến độ vào những tháng
cuối cùng của chế độ, khi biết được tin có những vận động nhằm lật đổ chế
độ, ông vẫn dửng dưng xem thường và đánh giá rất thấp âm mưu đảo chánh của
các sĩ quan.
Tôi còn nhớ vào dạo đó, trong mấy tuần liên tiếp, cứ mỗi thứ năm từ 9 giờ
sáng đến 12 giờ trưa, ông Nhu đến câu lạc bộ Tổng Tham mưu để thuyết trình
cho khoảng 50 sĩ quan cấp Tướng và Tá gồm các chỉ huy trưởng và giám đốc
nha, sở có mặt tại Sài Gòn. Tự cho mình là trí thức khoa bảng và với uy thế
của vị Cố vấn Chính trị em ruột Tổng thống, ông Nhu đã xem các sĩ quan cao
cấp đó như những kẻ võ biền không có ý thức chính trị nên ông thao thao bất
tuyệt, dùng mọi lý luận để đả kích Phật giáo bằng những lời lẽ hung hăng,
công kích sự tham dự quá mức của người Mỹ vào nội tình Việt Nam, đề cao một
cách sống sượng các kết quả thống kê của quốc sách Ấp Chiến Lược và úp mở đề
cập đến một nước Việt Nam thống nhất trong hòa bình.
Suốt năm trời vì quá lo âu bày mưu tính kế đối phó với Phật giáo và Mỹ
nên mặt ông Nhu trông hốc hác, cặp môi đã thâm lại thâm thêm, cặp mắt vốn mờ
đục bấy giờ lại bị các quầng đen làm sâu hẳn. Ông không biết rằng càng nói
càng làm cho hội trường thêm chán ghét và căm thù. Những hứa hẹn cũng như
những đe dọa mà ông trình bày bằng một giọng lè nhè vì uống quá nhiều rượu
whisky, chỉ làm cho hội trường thêm chán nản. Làm sao ông có thể đề cập đến
lòng yêu nước và xây dựng quốc gia khi chính ông đang âm mưu thỏa hiệp với
Cộng Sản và đang làm ung thối liên hệ đồng minh với một nước bạn chống Cộng
? Nhưng ông Nhu cũng say sưa nói, và vẫn chủ quan tin rằng mình đang thuyết
phục được một hội trường vốn đã biết khá rõ về âm mưu của ông cũng như đang
có những vận động đối chọi kịch liệt với ông.
Cái bệnh chủ quan này trước đó đã dẫn ông Nhu vào thế cờ tàn mà Hà Nội
giăng bẫy và sau này dẫn ông Nhu đến cửa tử của kế hoạch Bravo.
Bản tính thứ ba của ông Nhu là liều lĩnh. Không phải liều lĩnh trong cái
nghĩa can đảm, biết trước được những khó khăn mà vẫn làm, nhưng lại là cái
nghĩa cuồng tín của một người làm mà không cần biết hậu quả sẽ xảy ra
cho mình hay cho đất nước như thế nào.
Sự liều lĩnh đó bắt nguồn từ niềm tin có tính cách tín ngưỡng về vai trò
lãnh đạo mà “ơn trên” đã ban cho, từ mặc cảm tự tôn cho mình không bao giờ
lầm lẫn và từ ảo tưởng rằng các bộ máy công an, mật vụ, các lực lượng chính
trị, tôn giáo và quân sự đã được đảng Cần Lao kiểm soát. Sự liều lĩnh đó
cũng bắt nguồn từ bản chất cá nhân của ông Nhu luôn luôn thích bạo động,
thích âm mưu, thích khuynh loát, thích thủ đoạn,… và say sưa với những bạo
động, âm mưu, khuynh loát, thủ đoạn đó.
Một linh mục người Pháp vốn biết rất rõ về con người của ông Nhu, từ năm
1959, đã nói rằng: “Nhu có đầy đủ khả năng để bắt tay với Cộng Sản. Nhu sẽ
thỏa hiệp với Cộng Sản khi nào cảm thấy bị dồn vào chân tường. Nhu là thứ
người hành xử hoàn toàn theo chính sách “sau ta là trận đại hồng thủy”
(après moi, c’est le deluge) . Sau này tính liều lĩnh đó đã thể hiện rõ ràng hơn khi:
… sự chống đối của tướng lãnh, của người Mỹ, và của Phong trào Phật giáo
đã không cho Nhu một chọn lựa nào khác hơn để bám lấy chính quyền ngoài cách
liều lĩnh thỏa hiệp với Hà Nội. Với Nhu thì không có gì là mất thể diện. Tất
cả mọi nhân chứng đều cho thấy nhà mưu sĩ của chế độ, vì sống riêng biệt
trong căn phòng bọc gấm và xa rời thực tế nông thôn, cứ tưởng chương trình
Ấp Chiến Lược là một thành công. Những phúc trình của các sĩ quan khúm núm
và các công chức sợ sệt đã cứ lải nhải (về sự thành công) như thế, còn Việt
Cộng thì họ hiểu rằng nếu có thỏa hiệp, chắc chắn họ sẽ có lợi
.
Vừa chuộng lý thuyết vừa nặng đầu óc chủ quan, lại tính liều lĩnh nên khi
bị dồn vào thế đường cùng thì ông Nhu không thể làm gì khác hơn là quay về
thỏa hiệp với kẻ thù Cộng Sản, một kẻ thù mà vì đầu óc tiêm nhiễm những lý
thuyết khuynh tả Tây phương, ông Nhu đã không thấy nó phi nhân bản và phản
tiến hóa, một kẻ thù mà nặng đầu óc chủ quan, ông Nhu đã không đánh giá được
một tương quan lực lượng rất bất lợi cho miền Nam, một kẻ thù mà vì tính
liều lĩnh thủ đoạn, ông Nhu đã không cần biết những hậu quả gì sẽ xảy ra sau
khi thỏa hiệp.
-o0o-
Bốn nguyên nhân mà tôi đề cập ở trên có thể xem như là những sức đẩy
hăm dọa sự an toàn của chế độ: Nhân dân miền Nam đẩy ông Nhu ra khỏi tư thế
lãnh đạo, Việt Cộng đẩy ông Nhu ra khỏi vị trí đại diện chính đáng, chính
quyền Mỹ đẩy ông Nhu ra khỏi tác phong độc tôn độc tài, và bản chất chủ quan
đẩy ông Nhu ra khỏi những khôn khéo chính trị tối thiểu của một người nắm
vận mệnh đất nước. Trước những sức đẩy đó, ông Nhu hạ tay đi thế cờ tội ác
chót: Thỏa hiệp với Cộng Sản để hóa giải mọi sức đẩy đang làm lung lay chế
độ, đang đe dọa sự an toàn của bản thân ông Nhu, của gia tộc Ngô Đình và của
bè phái Cần Lao.
Thật vậy, thỏa hiệp được với Hà Nội thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sẽ
không còn vai trò để đóng, Mỹ sẽ không có lý do để áp lực, nhân dân miền Nam
sẽ không còn tư thế để thay ông Nhu chống Cộng, và riêng cá nhân ông Nhu sẽ
kiêu hãnh làm được nhiệm vụ lịch sử hòa hợp với những người “anh em” bên
kia. Cũng trong con tính thỏa hiệp liều lĩnh này, ông Nhu tin chắc rằng Mỹ
sẽ không bao giờ bỏ miền Nam mà phải trở nên “dễ bảo” hơn để quân bình ảnh
hưởng của Cộng Sản; các sức mạnh của ông Nhu như đảng Cần Lao, Ấp Chiến
Lược, khối Công giáo di cư, các bộ phận võ trang trong quân đội, mật vụ,
công an,… sẽ đủ tư cách và đủ sức mạnh để thực hiện sách lược thỏa hiệp mà
không bị phản bội.
Ông Nhu chủ quan và liều lĩnh tính toán như vậy, nhưng còn ông Diệm thì
sao? Lập trường của ông và thái độ của ông như thế nào trong toàn bộ âm mưu
thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội của người em cật ruột ?
Ông Diệm là một tín đồ Công giáo có một niềm tín ngưỡng đậm đà nhưng
không sâu sắc, ông tin tưởng tuyệt đối vào sứ mạng thiêng liêng tiêu
diệt Cộng Sản mà ông cho là hiện thân của Satan. Lập trường chính trị của
ông chỉ là một thể hiện tự nhiên những xác tín tôn giáo của ông chứ không
phải từ một chứng nghiệm hay nghiên cứu chính trị sâu sắc về chủ nghĩa
Mác–Lê, phong trào Cộng Sản và bối cảnh của dân tộc Việt Nam. Đối với ông
Diệm, là người Công giáo thì tự nhiên phải chống Cộng. Và cũng từ đó mà ông
quan niệm chắc nịch rằng chỉ có người Công giáo mới chống Cộng thật sự mà
thôi. Toàn bộ quan điểm chống Cộng của ông Diệm cũng như đa số những người
đồng đạo của ông ta bắt nguồn từ cái sứ mạng tông đồ tiêu diệt ma quỷ để
làm sáng danh Chúa, hơn là từ những tình cảm hoặc ý thức dân tộc, nhân
quyền, bình đẳng, tự do… Vì thế cho nên khi quân đội Pháp trở lại Việt Nam
vào năm 1945–46 dưới quyền chỉ huy của một vị tu sĩ là Đô đốc Thierry d’
Argenlieu thì hầu hết người Công giáo Việt Nam đều chọn lựa theo ủng hộ đạo
quân xâm lược mượn chiêu bài chống Cộng này, chứ không có một chút ngần ngại
chính trị nào giữa hai chọn lựa “theo Kháng Chiến chống Tây” hay “theo Tây
chống Cộng Sản” như tình trạng khá phổ quát của đa số các bộ phận khác của
dân tộc lúc bấy giờ. Dó đó, nhiều đạo Thân binh hợp tác với quân đội viễn
chinh Pháp lúc bấy giờ còn được gọi là Lính Đạo, và năm 1946, khi lực lượng
Công giáo cho phổ biến “Lá Thư Luân Lưu” và thành lập “Liên Đoàn Công giáo
Việt Nam” thì nội dung và động cơ của nó cũng lấy chủ điểm là đặc tính Vô
Thần của chủ nghĩa Cộng Sản.
Về mặt chính trị, không những cá nhân ông Diệm có mối thù máu với Cộng
Sản đã giết cha con ông Ngô Đình Khôi và giam tù ông tại Thái Nguyên, mà
chính sự nghiệp chính trị cũng như những quyền lực và danh vọng của ông đều
được xây đắp nhờ chủ trương chống Cộng của ông, do những thế lực chống Cộng
Việt Nam cũng như ngoại quốc ủng hộ. Ngày 7 tháng 12 năm 1961, ông Diệm đã
gửi cho Tổng thống Kennedy một lá thư dài trình bày tình trạng bi đát của
nhân dân miền Nam do Cộng Sản gây ra để kêu gọi vị Tổng thống nước bạn giúp
đỡ . Lá thư này đã
hợp pháp hóa và chính đáng hóa quyết định gửi quân Hoa Kỳ tham chiến tại
Việt Nam của Kennedy và củng cố thêm lập trường chống Cộng quyết liệt của
ông Diệm lúc bấy giờ. Ngay những tháng cuối cùng của chế độ, lúc ông cho tấn
công các cơ sở Phật giáo và đàn áp Tăng Ni thì ông cũng nhân danh sự đe doạ
của Cộng Sản để biện minh cho chính sách tàn bạo đó thì tại sao từ cái lập
trường thân Mỹ, chống Cộng sắt đá như thế ông lại hoán chuyển tương quan thù
bạn để chủ trương đuổi đồng minh Mỹ và bắt tay với kẻ thù Cộng Sản mà nay
ông gọi là “anh em”.
Tôi là một cán bộ trung kiên với ông Diệm vì lập trường yêu nước và chống
Cộng Sản, thì việc chuyển đổi tư tưởng và lập trường của ông đã tạo cho tôi
một nỗi băn khoăn, thắc mắc rất quan yếu. Tôi cứ tự hỏi chủ trương thỏa hiệp
với Hà Nội là chính của ông Diệm hay của ông Ngô Đình Nhu. Tôi thật tâm nghi
ngờ rằng ông Diệm đã bị ông Nhu thuyết phục lôi kéo vì ông Diệm thiếu quyết
đoán mà lại cả nể ông Ngô Đình Nhu. Thật thế, cuộc đời chính trị của ông
Diệm đã cho thấy thời làm quan Nam triều ông nổi tiếng là nhờ thái độ “cần
kiệm liêm chính” chứ không phải nhờ tài năng trí tuệ, vì mọi chính sách và
hoạt động đều đã có quan Tây chỉ bảo. Ông chỉ cần thi hành đúng đắn đường
lối cai trị và chính sách đô hộ của người Pháp là đủ để được thăng quan tiến
chức rồi. Từ ngày làm Tổng thống, vì thiếu khả năng lãnh đạo, lại mang
tính tình bất thường khi nhu khi cương, đầu óc lộn xộn, nên ông đã phải nhờ
quá nhiều vào sự giúp sức của anh em, vì vậy sau đó hoàn toàn bị anh em chi
phối điều động. Từ sau biến cố Nhảy Dù cuối năm 1960, người ta thấy tương
quan của hai anh em ông Diệm–Nhu trong Phủ Tổng thống không khác gì thời vua
Lê chúa Trịnh, dù bề ngoài ông Diệm vẫn cố giữ cái thể thống của một vị
nguyên thủ quốc gia. Từ sau cuộc đảo chánh Nhảy Dù, nhất là từ ngày dọn về
dinh Gia Long (sau cuộc ném bom dinh Độc Lập), những người trong Dinh thường
thấy ông Diệm hàng ngày kẹp hồ sơ xuống văn phòng ông Nhu ở tầng dưới để bàn
công việc, tham khảo ý kiến. Người ta có cảm tưởng ông Diệm đã hành xử như
một viên chức thừa hành mang hồ sơ đến trình bày công việc với thượng cấp là
ông Nhu. Trong biến cố Phật giáo, ông Diệm đóng vai trò của một ống loa để
tuyên bố, còn tất cả kế hoạch đối phó với cuộc khủng hoảng đều do ông Ngô
Đình Nhu thiết kế và quyết định; mà ông Nhu thì lại vốn là người quá nể vợ,
nếu không muốn nói là sợ vợ, như các nhân chứng và tài liệu đã nói rõ. Thành
ra trong dinh Tổng thống, nhất là vào những năm cuối cùng, ông Diệm đã biến
thành nhân vật thứ ba, nằm dưới quyền hành tuyệt đỉnh của vợ chồng Ngô Đình
Nhu.
Để thấy rõ bộ máy lãnh đạo tối cao của chế độ và để xác định đúng vị trí
của ông Diệm trong bộ máy này, ta hãy nghe những chứng nhân ngày ngày từng
trực tiếp theo dõi và liên hệ gần gũi với bộ máy đó mô tả. Ông Nguyễn Thái,
cựu Giám đốc Việt Tấn Xã, viết rằng:
Mặc dù là lãnh tụ của chế độ, Ngô Đình Diệm đã không thể và thật sự không
quyết định một mình, hoàn toàn độc lập khỏi những trung tâm quyền lực khác
trong chế độ được. Ngược lại ông đã bị họ ảnh hưởng, và những quyết định của
ông phản ánh không những lối suy nghĩ của ông mà còn của họ nữa. Dù ông Diệm
có biết hay không rằng ông đang bị chi phối bởi anh em khác trong gia đình
thì ông Diệm vẫn có vẻ như tha thứ, làm ngơ, hay ngay cả nương dựa vào ảnh
hưởng đó của họ.
Sự ảnh hưởng lẫn nhau và liên hệ về quyền lực giữa anh em trong hệ thống
lãnh đạo của Tổng thống Diệm được gọi là “gia đình trị”. Điều này không thể
không chú ý được bởi vì nó là trung tâm guồng máy cai trị đàng sau nền hành
chánh của Nam Việt Nam. Cũng như nếu một người không biết gì về cá nhân Ngô
Đình Diệm thì người đó không thể hiểu được sự lãnh đạo của Tổng thống Nam
Việt Nam, không thể thấy được toàn diện chính cuộc nếu người đó không quan
sát gia đình họ Ngô .
Ông Đoàn Thêm, Đổng lý Văn phòng Bộ Phủ Tổng Thống, còn đi sâu vào hiện
tượng “gia đình trị” một cách rõ ràng hơn:
Trong mấy anh em gia đình họ Ngô, ông Ngô Đình Nhu là người ảnh hưởng ông
Diệm hơn cả. Trong mấy năm đầu, ông Diệm không thấy các em ông có lỗi gì
hết. Ông tin rằng mọi sự công kích đều do lòng đố kỵ, do mưu mô ly gián của
đối phương.
Đã nhiều lần, ông nói với người chung quanh: Bà Nhu chịu khó lắm, đau
hoài mà cứ gắng làm việc công ích, thiên hạ ác miệng lắm.
Nhưng rồi ông thấy cả những người chí thân cũng phản đối nhiều hành động
của bà. Sự bất hòa giữa bà với ông Cẩn chẳng hạn, không thể giữ kín. Phải là
“chỉ đạo” mới có gan lên án bà trước ông Tổng thống. Ông Diệm hay bị trách
là nhu nhược để mặc vợ chồng ông Nhu làm mưa làm gió.
Ông Diệm biết xử trí ra sao? Có thật ông yếu ớt quá không? Tôi muốn biết
rõ hai điểm đó.
Vài người thân tín và quyến thuộc đã hiểu được nỗi khổ tâm của ông. Không
những ông phân vân giữa tư tưởng riêng tư và dư luận chung, mà ông còn hay
bị kẹt giữa những người ruột thịt.
Có bận ông về Huế ngồi phờ rất lâu, mớ tóc đen và dài rớt cả xuống trán
và mang tai, ông không nói không rằng chỉ theo thói quen khi ông suy nghĩ
nghĩa là dụi tàn thuốc lá, chưa hết nửa điếu này đã châm điếu khác để dụi
nhiều hơn.
Ông muốn trong ấm ngoài êm, thì họ cứ lục đục và giận dỗi, người nọ khích
bác người kia. Ông thương tất cả, chẳng nỡ bênh ai gạt ai. Ông cần ông Nhu
hơn hết, sao mọi người cứ muốn chặt tay ông ?
Nhưng chẳng lẽ ông không dám có phản ứng hay sao? Ông Cẩn biết tính lưỡng
lự của anh đã bảo một người cháu: giục ông Tổng thống mà không khủng bố ông
ta tất không được. Khủng bố Tổng thống là nói mạnh, dọa làm bừa nếu chưa
chịu nghe. Đồng ý hay không, bà Nhu đã biện thuyết quá hùng hồn trước mặt
ông.
Ở những trường hợp đó, người phải chứng kiến đã ái ngại cho ông Diệm. Ông
không quen mạnh dạn trước phụ nữ lại cả nể vợ yêu của người em quý nhất. Sau
hết, ông kém về ngôn ngữ và thiếu tài ứng đối nên chỉ cau mặt, không nghe,
không bác, lặng thinh, trong một bầu không khí nặng nề. Rút cuộc, ông chỉ
thở dài, hình như để tự giải thoát, giải thoát bằng tha thứ.
Ông cho là ông rộng lượng chứ không phải là ông chịu đựng. Bởi thế có lần
ông khuyên một Bộ trưởng: Thói thường đàn bà người ta hay nhiều lời. Xong
thì thôi, mình đàn ông bận tâm làm chi, cho nó yên mà lo việc lớn
.
Nhưng tất cả vấn đề là nếu “nó” không yên thì sao?
Và “Nó” đã không yên cho nên từ một đất nước thanh bình và một dân tộc
đoàn kết thời 1955–56, “Nó” đã đóng góp rất nhiều, quá nhiều, vào việc biến
thành một đất nước ly loạn và một dân tộc bị phân hóa vào năm 1962–63. Và
đến mấy tháng cuối cùng, khi bị cả dân tộc chống đối, khi bị kẻ thù đe dọa,
khi bị đồng minh khuyến cáo, và khi chồng tiến hành kế hoạch thỏa hiệp với
quân thù, thì “Nó” còn hống hách tuyên bố: “Ông Diệm không thể cai trị
miền Nam nếu không có chồng tôi. Trái lại chồng tôi có thể cầm quyền lãnh
đạo quốc gia dù không có ông Diệm” .
Nói tóm lại, ta thấy ông Diệm tuy chống Cộng nhưng là một thứ chống
Cộng bị điều kiện hóa chứ không được thúc đẩy và chỉ đạo bởi một cơ sở
lý luận vững chắc hoặc được chứng nghiệm bằng một quá trình đấu tranh sống
chết. Ông lại là một người hành xử vai trò lãnh đạo nhưng lại không có tư
cách và quyền lực của một nhà lãnh đạo. Đã thế bản tính ông lại nhu
nhược, dễ dãi, nhất là lúc phải đối phó với những vấn đề phức tạp và to lớn.
Từ lâu, ông đã tin tưởng tuyệt đối vào ông Ngô Đình Nhu là người em không
những ông thương yêu tin phục mà còn nể sợ nữa, đến độ gần như trao toàn
quyền lãnh đạo quốc gia cho em. Cho nên trong những năm 1962–63, trước những
khủng hoảng dồn dập, mà khủng hoảng nào cũng phức tạp và trầm trọng, trước
một tình thế vượt hẳn khả năng lý luận và khả năng đối phó của một người như
ông, ông đã an tâm trao hết vận mệnh của chế độ, của miền Nam, vào tay vợ
chồng Ngô Đình Nhu.
Ngay cả quyết định quan trọng nhất, và quái dị nhất, là chống Mỹ để thỏa
hiệp với Cộng Sản Hà Nội, ông cũng đã bị ông Ngô Đình Nhu thuyết phục dễ
dàng. Thái độ phủi tay trước những quyết định sinh tử đó của ông không khác
gì thái độ rửa tay để tránh trách nhiệm của viên Thống đốc Pontius Pilate
trước khi trao vận mệnh chúa Giê Su cho viên chủ tế Pha-ri-siên và lực lượng
La Mã đóng đinh Chúa lên thánh giá. Từ đó, ông hoàn toàn bị ông Ngô Đình Nhu
điều động và trở thành một con cờ đắc lực cho vợ chồng Nhu trải chiếu đánh
ván bài định mệnh với Cộng Sản Hà Nội.
Tôi có thể nói sự chuyển biến lập trường của ông Diệm, từ dao động đến bị
động, và từ bị động đến dấn thân vào âm mưu đó, chỉ có Võ Văn Hải và tôi là
biết được phần nào. Sở dĩ biết vì một phần chúng tôi là những cán bộ quá gần
gũi và thân thiết với ông Diệm đến độ vượt qua khỏi tương quan “chỉ
huy–thuộc cấp” thông thường, và phần khác là vì chúng tôi có chủ ý để tâm
khám phá âm mưu đó mà chúng tôi bắt đầu nghi ngờ từ năm 1960, sau cuộc chinh
biến của binh chủng Nhảy Dù. Bác sĩ Trần Kim Tuyến tuy là cộng sự viên số
một của ông Nhu trong dinh Độc Lập, có thể biết nhiều về ông Nhu, nhưng đối
với ông Diệm thì cũng chỉ ngưng lại ở tương quan “chỉ huy–thuộc cấp” mà
thôi.
Ai cũng biết Võ Văn Hải và tôi là hai cán bộ cốt cán của ông Diệm, và sự
tồn vong của chế độ cũng như của ông ta gắn liền với số mạng của chúng tôi
dù chúng tôi đều bị ông Nhu nghi ngờ, oán ghét, và dù chúng tôi đều căm thù
nhóm Công giáo Cần Lao, những kẻ mà chúng tôi cho là làm hại sức mạnh chính
trị và uy tín của ông Diệm. Vì thế, chúng tôi cố gắng theo dõi thực sát
đường lối và hoạt động chính trị của Phủ Tổng thống, của ông Diệm và của vợ
chồng Ngô Đình Nhu, nhất là vợ Nhu, người đàn bà mà Hải và tôi mệnh danh là
thứ “Cửu Vỹ Hồ ly tinh Đắc Kỷ”.
Sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù vào cuối năm 1960, tôi cứ thắc mắc tại sao
anh em ông Diệm–Nhu cứ kết án người Mỹ đã chủ trương cuộc đảo chánh trong
lúc chính nhờ Mỹ một phần mà Vương Văn Đông, người lãnh đạo cuộc binh biến
đã tạm ngưng tấn công dinh Độc Lập, tạo cơ hội cho ông Diệm gọi quân về phản
công. Tôi lại đã trình bày cho ông Diệm biết có thể nhóm Vương Văn Đông có
liên hệ với hệ thống gián điệp Pháp vì từ khi trốn qua Cao Miên, nhóm Vương
Văn Đông đã được tình báo của Sihanouk liên lạc và che chở ngay. Cựu Trung
tá Trần Đình Lan trong cơ quan gián điệp Pháp cũng từ Paris đến Phnom Penh
liên lạc với Vương Văn Đông, trong lúc Nguyễn Chánh Thi thì lại bị chính
quyền và quân đội Cao Miên bạc đãi. Việc này bác sĩ Tuyến còn biết rõ chi
tiết hơn tôi và đã báo cáo đầy đủ với ông Nhu.
Sự kết án lạ lùng đó đã khiến cho Hải và tôi để tâm theo dõi và tìm hiểu.
Rồi những sự kiện khác tiếp tục xảy ra như vụ Đại sứ Pháp Roger Lalouette và
ông Nhu trở nên thân thiết hơn, vụ Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hội Quốc
tế Kiểm soát Đình chiến Mieczyslaw Maneli được săn đón kỹ càng hơn, vụ công
kích người Mỹ càng lúc càng kịch liệt và liên tục hơn. Cho đến đầu năm 1963,
khi một phái đoàn Quốc hội Việt Nam Cọng Hòa thăm viếng Pháp thì Hải và tôi
không còn nghi ngờ gì nữa. Sau Tết Quý Mão (1963) độ một tháng, tôi và Hải
gặp nhau để phối kiểm mọi dữ kiện và duyệt xét toàn bộ những biến chuyển của
dinh Gia Long từ hai năm qua, và Hải đã vừa lo lắng vừa buồn rầu kết luận:
“Ông Cụ và ông Nhu đã thay đổi lập trường rồi anh Mậu ơi. Bây giờ là chống
Mỹ, bắt tay Pháp để nói chuyện với Hà Nội ! Chúng ta làm gì đi chứ?”
Làm gì bây giờ? Đó là câu hỏi lớn mà Hải và tôi cứ bị ám ảnh mãi suốt hai
mùa Xuân và Hạ của năm 1963. Đó cũng là câu hỏi đã vượt ra khỏi cái liên hệ
tình cảm giữa chúng tôi và ông Diệm để được đúng đắn đặt trong cái liên hệ
giữa chúng tôi và đất nước. Mùa Thu năm đó, khi tôi lấy quyết định cùng với
toàn dân lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm thì tôi biết Hải cũng đã lấy quyết định
rồi mà thể hiện rõ ràng nhất là trong ngày Cách mạng 1–11–63, dù ông Diệm
khẩn cấp gọi Hải nhiều lần nhưng người bạn hiền của tôi nhất quyết nằm tại
nhà, không vào Dinh. Phải nhìn vào tình bạn thắm thiết giữa ông Diệm và cụ
Án Võ Vọng, thân phụ của Hải, phải nhìn vào tình thầy trò vô cùng khắn khít
giữa ông Diệm và Hải trên 20 năm trời, và hãy nhớ hành động của Hải trong
biến cố Nhảy Dù năm 1960 mới thấy được việc Hải không vào Dinh lúc bấy giờ
là đau đớn và quyết liệt như thế nào.
-o0o-
Toàn bộ sách lược thỏa hiệp với Cộng Sản của anh em Nhu–Diệm có thể tóm
tắt trong bốn kế hoạch sau đây:
1. Công khai và cụ thể chống Mỹ, nhưng chỉ chống đến một mức độ còn kiểm
soát được, để vừa thoả mãn điều kiện tiên quyết của Hà Nội vừa lại có thể sử
dụng được lực lượng của Mỹ như một áp lực với Hà Nội, hoặc nếu cần, có thể
quay trở lại tình trạng đồng minh như cũ.
2. Vận động để một số quốc gia, đặc biệt là Pháp, đóng vai trò trung gian
và bảo đảm sự thực thi của thỏa hiệp trong và sau khi thỏa hiệp thành hình.
3. Chuẩn bị và tiến hành những biện pháp an ninh và chính trị để kiểm
soát các lực lượng quốc gia và quần chúng miền Nam trong trường hợp nổi dậy
chống đối thỏa hiệp này.
4. Trực tiếp đối thoại với chính quyền Hà Nội để thương thảo về vấn đề
chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước.
Bốn kế hoạch đó được song song tiến hành và do chính ông Ngô Đình Nhu
điều động kiểm soát. Vì tính cách tối mật và tối quan trọng của nó, những
nhân sự được chọn lựa thi hành các công tác đã là những thuộc hạ trung tín
nhất của ông Nhu, và chỉ biết được từng phần mà không biết được toàn bộ kế
hoạch. Trong một vài trường hợp đặc biệt, chính ông Nhu đã đích thân trực
tiếp thi hành công tác để bảo toàn bí mật.
Diễn tiến của bốn kế hoạch đó lúc công khai lúc bí mật, lúc thì dồn dập
lúc thì bế tắc, nhưng một cách thứ lớp thì đã xảy ra như sau:
Từ đầu năm 1960, với tư cách là trưởng nhiệm sở ngoại giao tại Luân Đôn,
ông Ngô Đình Luyện đã xin hội kiến với Tổng thống Pháp De Gaulle. Đáng lẽ
ông De Gaulle không tiếp nhưng vì ông Luyện còn là bào đệ của ông Diệm, nên
Tổng thống De Gaulle chịu tiếp trong 15 phút với tất cả sự lạnh lùng và qui
ước của một cuộc hội kiến ngoại giao. Buổi hội kiến đó nhằm mở đường cho ông
Nhu nhưng đã không mang lại kết quả nào vì năm 1961, khi ông Ngô Đình Nhu –
trên đường đi dự lễ đăng quang của vua Hassan II tại Maroc – ghé qua Paris
để xin gặp Tổng thống De Gaulle thì bị từ chối mà chỉ được Bộ trưởng Ngoại
giao Couvre de Murville tiếp kiến và mời ăn cơm. Tham dự buổi tiệc này có
các ông Phạm Khắc Hy, Bửu Hội, Đại sứ Pháp Lalouette và ông Etienne Manac,
Giám đốc Đông Nam Á Sự Vụ của Bộ Ngoại Giao Pháp (ông này rất thiên về Hà
Nội). Tuy cố gắng bày tỏ mọi cảm tình đối với nước Pháp, nhưng ông Nhu đã
không thành công trong việc thuyết phục được Couvre de Murville về một chính
sách mà nước Pháp có thể đóng một vai trò quan trọng hơn tại Việt Nam.
Nhưng nếu không thành công lớn thì ít ra ông Nhu cũng đã tạo được một mối
liên hệ tốt đẹp và hữu ích với Đại sứ Pháp Lalouette để ông này tiếp tục
thuyết phục chính quyền “nên can dự vào nội bộ Việt Nam để khuyến khích và
giúp đỡ anh em ông Diệm tránh được gọng kềm của Mỹ” (emprise americaine)
.
Năm 1961 đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong chính sách ngoại giao
của Pháp đối với Việt Nam và mang lại những kết quả tốt đẹp cho sự kiên nhẫn
của Đại sứ Lalouette trong việc liên tục thuyết phục chính phủ mình hãy can
thiệp nhiều hơn vào Việt Nam. Thật vậy, thất bại của Mỹ tại Cuba (Vịnh Con
Heo, tháng 4 năm 1961) cho một sự hoà hoãn toàn cầu, hội nghị Genève về vấn
đề Lào (tháng 5 năm 1961) để mở đầu cho một chính phủ liên hiệp do Hoàng
thân Souvanna Phouma lãnh đạo, Hà Nội đề nghị một loạt các hiệp ước hợp tác
văn hóa và kỹ thuật với Paris,… những sự kiện đó đã cho chính phủ Pháp thấy
rằng chiều hướng chính trị quốc tế, đặc biệt tại Đông Dương, đã không thuận
lợi cho Hoa Kỳ chút nào. Kẻ khổng lồ Mỹ ngây thơ vụng về đã thất bại tại
Việt Nam để Pháp có thể rửa lại cái hận năm xưa bằng cách đẩy Mỹ ra khỏi
Việt Nam hầu nắm lại ưu thế trên vùng đất cựu thuộc địa, mà ảnh hưởng văn
hóa cũng như quyền lợi kinh tế vẫn chưa bị phai mờ. Để thực hiện mục tiêu
này, trung lập hóa Đông Dương để tiến tới một Việt Nam thống nhất phi liên
kết là công thức chính trị của đường lối ngoại giao Pháp.
Bộ ngoại giao Pháp bắt đầu mở những cuộc thăm dò với Hà Nội và Sài Gòn.
Bằng cách đi chơi thuyền trên sông Sài Gòn, ông Nhu và Lalouette gặp nhau
nhiều lần để giải quyết những khác biệt cuối cùng và để hoạch định những kế
hoạch cần thiết cho việc thỏa hiệp giữa hai miền. Trục Sài Gòn–Paris–Hà Nội
càng lúc càng được khai thông cho những âm mưu, những dự tính, những thủ
đoạn tuôn chảy. Và đến tháng Hai năm 1963, trong khi công luận và chính giới
Hoa Kỳ công phẫn vì sự bất lực của chính sách quân viện Mỹ qua thảm bại Ấp
Bắc và sự dối trá của chính phủ Ngô Đình Diệm về kết quả trận đánh này, thì
chính phủ Pháp nắm lấy cơ hội đó, chính thức mời một phái đoàn Quốc Hội Việt
Nam qua thăm Paris.
Sau khi được ông De Gaulle tiếp kiến, phái đoàn Quốc hội do ông Trương
Vĩnh Lê cầm đầu, gồm các Dân biểu Hà Như Chi, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Quốc
Hùng, Trần Văn Thọ, đã tỏ ra ngạc nhiên một cách hứng thú (“surprise
agréable”) và ca ngợi De Gaulle đã “rất thông cảm với Việt Nam” (très
compréhensible à l’égard du Vietnam”).
Cũng vào mùa Xuân năm đó, ông Mieczyslaw Maneli đến Sài Gòn lần thứ nhì
để đảm nhiệm chức vụ Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát
Đình chiến (của Hội nghị Genève 1954).
Ông Maneli là một cán bộ trí thức Thiên Chúa giáo cao cấp của đảng Cộng
Sản Ba Lan, có khuynh hướng quốc gia cực đoan và tự do tiến bộ, lại là một
người hiểu biết nhiều về vấn đề Việt Nam. Hơn nữa, ông Maneli lại quen biết
thân thiết với các lãnh tụ Cộng Sản cao cấp miền Bắc cũng như lại có dịp đi
về thường xuyên đường Hà Nội–Sài Gòn nhờ tư cách Trưởng phái đoàn Ba Lan
trong Ủy hội Quốc tế, nên khi ông vừa đến Sài Gòn thì Đại sứ Lalouette liên
lạc ngay và khuyên nên gặp ông Ngô Đình Nhu .
Sau đó, Trưởng phái đoàn Ấn Độ là Đại sứ Goburdhun, rồi vị Đại sứ Ý Đại
Lợi Giovanni Orlandi, và ngay cả Khâm mạng Tòa thánh Salvatore d’Asta cũng
thúc giục Maneli đến tiếp xúc ngay với Nhu. Tuy biết rằng đang có những vận
động quan trọng liên hệ đến nước anh em Dân Chủ Cộng Hòa Bắc Việt, nhưng vì
chưa nắm đầy đủ dữ kiện và chỉ thị nên Maneli từ chối: “Tôi đại diện cho một
quốc gia không công nhận miền Nam Việt Nam. Theo quy ước của Hiệp Ước Genève
thì chính quyền này chỉ có tính cách giao thời, do đó tôi chỉ phải đến chào
vị Tổng trưởng Ngoại giao mà thôi… Tuy nhiên vì thực tế chính trị, tôi sẽ
vui mừng được gặp ông Nhu với điều kiện là ông ta mời tôi”
.
Với lối trả lời linh động đó, ba vị Đại sứ Pháp, Ấn và Ý xem như ông
Maneli đã đồng ý trên nguyên tắc nên tìm mọi cách để dàn xếp một cuộc gặp gỡ
Nhu–Maneli. Họ cũng cho ông Maneli biết rằng họ đã phúc trình đầy đủ với ông
Nhu về quá trình liên hệ và tư thế của ông Maneli đối với cấp lãnh đạo Hà
Nội, và ông Nhu đã bày tỏ ý muốn gặp ông Maneli (“Nhu himself had expressed
interest in meeting me”). Trong hồi ký của ông Maneli, ông thú nhận rằng ông
đã không có đầy đủ tin tức về những vận động từ trước cho kế hoạch thỏa hiệp
với Hà Nội như ông Nhu, mà chắc chắn trong kế hoạch đó, ông Nhu và hai vị
Đại sứ Ấn cũng như Pháp đã có những mưu tính từ lâu. Điều làm cho ông Maneli
ngạc nhiên là:
… kế hoạch của Goburdhun nhằm làm trung gian giữa Nam và Bắc Việt Nam là
một kết hợp giữa sự ngây thơ và quỷ quyệt, giữa sự thiếu thực tiễn và lý
thuyết trừu tượng, giữa sự hùng biện và sự phức tạp của vấn đề. Điểm mấu
chốt của kế hoạch này là câu nói rất mị dân của Nhu: “Tôi cũng chống tư
bản”. Còn khi đề cập đến một chủ nghĩa xã hội thì cả Nhu lẫn Goburdhun đều
không xác định nổi một cách rõ ràng, ngoại trừ chủ nghĩa |