Chương VIII
CHỦ NGHĨA NHÂN VỊ
VÀ ĐẢNG CẦN LAO
Mùa hè năm 1958, sau khi nắm vững tình hình những cơ cấu trung ương của
Nha An Ninh Quân đội bằng cách phối trí lại hệ thống tổ chức cho hợp lý hơn
với chức năng của một bộ phận an ninh và tình báo thuần quân sự, cũng như
phát động một số kế hoạch dài hạn nhằm nâng cao phẩm chất chuyên môn của
nhân viên, tôi bèn bắt đầu đi thanh tra và nghiên cứu tại chỗ những đơn vị
thuộc quyền ở khắp toàn quốc. Đơn vị đầu tiên dĩ nhiên là Sở An Ninh Quân
đội thuộc quân khu I nằm tại Huế, một đơn vị có những công tác đặc biệt hơn
những Sở khác vì phạm vi trách nhiệm tiếp giáp với vĩ tuyến 17.
Cũng nhân dịp này, tôi muốn trở lại Huế sau hai năm xa vắng để thăm bạn
bè, bà con cũ, cũng như ghé thăm ông Ngô Đình Cẩn trong ngôi nhà ở Phú Cam
năm xưa. Ngôi nhà đó, bây giờ, đã mất đi cái phong cảnh cũ mà tôi hằng lưu
niệm, đã mất đi cái vẻ cổ kính đầy huyền thoại đã từng quyến rũ tâm hồn tôi
ngày nào. Ngôi nhà lầu chính không thay đổi nhiều, chỉ sửa sang cho quang
đãng và sinh động hơn. Vườn hoa quê mùa và đơn sơ thủa trước cũng đã được
thiết kế lại như một cảnh vườn Nhật Bản quy mô với nhiều loại hoa quý và
chim chóc thú vật.
Thời ông Diệm chưa cầm quyền thì cảnh nhà Phú Cam đạm bạc, dưới mái tranh
chỉ có bà Cụ Cố và mụ Luyến thui thủi ra vào, còn ngôi nhà Từ đường ở trên
chỉ có ông Cẩn ngày đêm cô quạnh. Bây giờ thì không khí của toàn bộ khuôn
viên trở nên tấp nập oai nghiêm như dinh thự chốn công đường. Chỉ hai năm mà
lắm thay đổi so với những kiến trúc bất biến của xứ Thần Kinh trầm lặng.
Dinh Ngô Đình Cẩn được biệt phái một tiểu đội do Đại úy Tôn Thất Độ chỉ
huy gồm toàn sĩ quan và hạ sĩ quan lo việc phục dịch trong nhà, làm công tác
vệ sinh, chăm sóc cây cảnh chim chóc, và đặc biệt phụ trách luôn việc đồng
áng mùa màng cho những mẫu ruộng ở An Cựu và ở miệt các Lăng. Nhờ có một
người anh làm thượng sĩ trong tiểu đội phục dịch này mà đại tá Phùng Ngọc
Trưng mới có thể cho tôi biết rằng mặc dù tiền bạc châu báu chất chồng, mặc
dù dinh thự nhà cửa tậu mãi đã rất nhiều mà ông Cẩn vẫn giữ cái tính keo
kiệt bủn xỉn như thời còn hàn vi. Tiểu đội sĩ quan và hạ sĩ quan đó, hàng
tháng phải đóng góp chung tiền lại để mua chổi, bóng đèn, vòi nước, gạch đá,
dụng cụ làm vườn và trăm thứ linh tinh khác... vì đã có lần họ xin ông Cẩn
ngân khoản bảo trì hàng tháng, bị ông mắng chưởi cho một trận và còn hăm dọa
đuổi ra đơn vị tác chiến. Ngoài tiểu đội quân nhân được sử dụng như gia nô
đó, ông Cẩn còn có một văn phòng Quân Chính (quân sự và chính trị) do Đại úy
Minh (Công giáo di cư) làm chánh văn phòng để lo vấn đề giấy tờ, thư tín và
liên lạc với người ngoài dinh.
Nhưng có lẽ những thay đổi của cảnh vật không làm tôi ngạc nhiên bằng
những thay đổi của con người vì sự kiện đập mạnh vào mắt nhất là sự thay đổi
toàn diện nơi con người của mụ Luyến. Mụ Luyến mà tôi thường thấy trước kia
là một mụ Luyến lam lũ, quê kệch, áo nâu quần đen, chân đi đất; còn mụ Luyến
mà tôi gặp hôm nay mặt mày son phấn, áo quần lụa là, chân đi guốc hoa, mình
đầy nữ trang óng ánh và được mọi giới chức quyền gọi bằng Bà. Sự đắc thắng
vinh quang của giòng họ Ngô Đình quả thật đã được thể hiện rõ ràng nhất qua
sự thay tính đổi hình nơi người đầy tớ gái quá nửa chừng xuân này.
Xe Jeep của Sở An Ninh Quân đội chở tôi đến dinh thự của Cẩn ở Phú Cam
đúng lúc một viên chức đại diện cho Tỉnh trưởng Quảng Ngãi cũng vừa chở đến
một bức sập gụ quý giá để dâng cho ông Cố vấn miền Trung. Bức sập gụ đó thật
hiếm có vì chỉ gồm một tấm liền mà bề ngang khoảng một thước sáu, bề dài hơn
ba thước và bề dày phải hơn một tấc tây. Tôi bước vào cổng nhà lúc ông Cẩn
và mụ Luyến còn đứng chỉ trỏ xem xét và trầm trồ khen ngợi bức sập gụ quý
giá đó.
Phong cách của ông Ngô Đình Cẩn vẫn không thay đổi bao nhiêu, vẫn bộ bà
ba lụa trắng, vẫn nhai trầu nhóp nhép, chỉ trừ đôi guốc gỗ đã được thay bằng
đôi giầy hạ, bề ngoài trông giống như một nhà phú hộ miền quê. Nói phô thì
ông Cẩn vẫn như độ nào, vắng mặt người ta thì ông đều gọi họ bằng “thằng nọ
thằng kia” dù người ta có tuổi cao đức trọng hay bộ trưởng, tướng tá. Thái
độ mục hạ vô nhân vẫn là cái bệnh chung của tất cả anh em nhà họ Ngô. Trong
một buổi nói chuyện ngắn ngủi, thỉnh thoảng ông Cẩn lại cho gọi một người
vào để nạt nộ biểu dương oai quyền trước mặt tôi. Người đối thoại chỉ biết
cúi đầu, miệng vâng dạ lia lịa. Những ai chưa biết rõ con người của ông Cẩn,
khi nghe hay chỉ thấy ông làm những màn kịch cỡm này thì sợ hãi lắm, nhưng
đối với ông Võ Như Nguyện và tôi, vốn biết ông Cẩn quá rõ, thì cái trò “rung
cây nhát khỉ” để làm dáng lãnh tụ chỉ làm chúng tôi buồn cười và khinh
thường hơn.
Thật ra tôi cũng không có chuyện gì mà bàn với ông Cẩn, chỉ đến thăm ông
ta và nhìn lại ngôi nhà cũ, nơi mà mình đã có nhiều kỷ niệm để xem thử thời
thế đổi thay đã đem lại những thay đổi gì. Ngày hôm sau tôi được đại úy
Nguyễn Tiến Sung, Chánh sở An Ninh Quân Đội quân khu I, trình cho tôi một
tấm thiệp của ông Hà Thúc Luyện, tỉnh trưởng Thừa Thiên, mời tới ăn cơm tối.
Bữa tiệc đó thật ra là do ông Ngô Đình Cẩn bày ra để đãi tôi tại tòa hành
chánh Thừa Thiên. Tôi thấy có đại biểu Chính phủ Hồ Đắc Khương, thiếu tướng
Tư lệnh quân khu I là Lê Văn Nghiêm, cụ Đoàn Nhượng, chủ tịch Phong trào
Cách mạng Quốc gia tỉnh Thừa Thiên, và độ 30 quan khách thân hữu. Trước khi
ăn, ôngh Cẩn nâng chén chúc mừng tôi mới đi xa (Pháp) về và ca ngợi tôi là
“nhà cách mạng”, “cán bộ trung kiên, tài ba nhất” của lãnh tụ Ngô Đình Diệm
và của Đảng Cần Lao. Hôm ấy và vào thời đại ấy, quả là một vinh dự lớn lao
cho tôi, vì suốt đời ông Cần có coi ai ra gì đâu, có bao giờ ông đãi đằng ai
đâu mà hôm nay lại dành cho tôi một sự tiếp đón long trọng với những lời
chúc tụng cao quý. Thật thế, ngay cả ông Lê Văn Đồng (hiện ở Pháp), vừa là
Bộ trưởng Canh nông vừa là ủy viên Trung ương Đảng Cần Lao, lại thừa lệnh
Tổng thống đi kinh lý Tỉnh Quảng Trị, mà ông Cẩn còn ra lệnh cho Tỉnh trưởng
Nguyễn Văn Đông (người Phú Cam) không thèm đón tiếp chỉ vì ông Đồng đã không
lo việc cung cấp cây gỗ cho ông Cẩn đầy đủ như ông ta đã lo cho giám mục Ngô
Đình Thục. Bữa tiệc hôm nay do đích thân ông Cẩn chủ tọa là một biến cố hãn
hữu và đặc biệt, đã làm nhiều người ngạc nhiên. Nhưng từ trong thâm tâm tôi
biết hành động đó của ông chỉ là một thủ đoạn.
Ông Cẩn bày ra tiệc tùng, tôn quý và đề cao tôi thật ra chỉ vì quyền lợi
của ông. Ông Cẩn biết Tổng thống Diệm đặc biệt thương mến tôi, vả lại tôi
thường dám nói thẳng những điều mà người khác e ngại không dám nói lên, cho
nên ông muốn gây cảm tình với tôi để tôi khỏi báo cáo với ông Diệm những sai
lầm tội lỗi. Ngoài ra, về dài, ông còn hy vọng sẽ lôi kéo được tôi về phe
ông, vì lúc này hai anh em Cẩn và Nhu đã đi đến giai đoạn tranh chấp khó hàn
gắn được. Ông Cẩn tưởng lầm là tôi có thể tạo thế thăng bằng giữa ông ta và
Nhu mà cộng sự viên thân tín của ông Nhu là bác sĩ Trần Kim Tuyến lại là
người Cẩn rất thù ghét. Trong Dinh Độc lập, ông Cẩn có đồng minh là ông Võ
Văn Hải, Viên chánh văn phòng đặc biệt của ông Diệm quyết liệt chống đối vợ
chồng Ngô Đình Nhu, nhưng ông Cẩn vẫn thấy chưa đủ vì ông Diệm vẫn kính nể
ông em khoa bảng luôn luôn ở sát cạnh mình. Ông Diệm lại nể nang đến độ sợ
hãi bà Nhu, người em dâu lắm mồm lắm miệng sẵn sàng gây chuyện thị phi có
thể làm mất uy tín của Chính quyền của ông ta, nên những lời lẽ chống đối vợ
chồng Ngô Đình Nhu của ông Võ Văn Hải không ảnh hưởng gì đến định kiến đã có
của ông Diệm.
Lần ra Huế đó, mặc dù được ông Cố vấn miền Trung Ngô Đình Cẩn ân cần tiếp
đón và tỏ ý ve vãn nhưng lòng tôi vừa buồn rầu vừa lo lắng, vì đằng sau cái
huênh hoang trơ trẽn và cái oai quyền hống hách đó là một bức tranh ảm đạm
của chế độ đang càng hiện rõ tại miền Trung.
Những đồng chí cũ của tôi, những bạn bè cũ của tôi, những cán bộ và chiến
hữu đã từng vào tù ra khám, hy sinh gian khổ cho ông Diệm và cho tổ chức
ngày xưa, chỉ chưa đầy ba năm mà đã vắng bóng biệt tích, kẻ thì bị hạ tầng
công tác đổi ra nước ngoài như hai ông Nguyễn Đôn Duyến và Trần Văn Hướng,
kẻ thì “cởi áo từ quan” về đi buôn như ông Võ Như Nguyện, kẻ thì bị mất chức
như các ông Nguyễn Chữ và Võ Thu Tịnh, kẻ thì trốn Huế vào Nam như ông
Nguyễn Vinh, kẻ thì xa lánh chế độ như cụ Trương Văn Huế, kẻ thì bị chế độ
giam giữ như ông Trần Điền... Những người đó, ngày xưa, đã từng cùng với tôi
tạo ra bức thành đồng để che chở cho ông Diệm lúc khốn cùng, đã từng cùng
với tôi khắng khít làm thành những cơ phận kiên trì cho chiếc xe tổ chức của
ông Diệm trong những giờ phút gian truân nguy hiểm mà bây giờ cảnh cũ còn đó
người xưa đâu còn.
Bây giờ chỉ còn lại những Vưu Hồn, Bí Trọng khét tiếng như Hoát, Đông,
Phong, Hiếu (ở Công An), như Đặng Sĩ ở quân đoàn I, quận Trợ, quận Thái, như
tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tất, Nguyễn Đình Cẩn, Nguyễn Văn Đông... toàn là loại
“đeo thánh giá mà chà đạp giáo điều Kitô”. Để bổ túc dữ kiện cho cuộc điều
tra trước lúc đánh giá chế độ, tôi ghé thăm cụ Trương Văn Huế, một nhân sĩ
Công giáo Phú Cam, bạn thân lâu năm của nhà Ngô, từng đứng đầu trong bản
kiến nghị đệ lên Quốc trượng Bảo Đại xin cử ông Diệm làm Thủ tướng. Nhưng
nay cụ là người bất mãn với chế độ. Cụ vồ vập nói chuyện như để trút bớt nỗi
lòng uất hận của mình: “Đại tá phải nhớ nhà Ngô thủa bần hàn khác, nay có
quyền thế thì khác, trước kia thì nói chuyện cách mạng, đạo đức, liêm chính,
nay thì chỉ biết tham nhũng, bóc lột, làm tiền. Đại tá cứ nhìn vào việc xử
tệ với ông Trần Văn Lý và nâng thằng Nguyễn Cao Thăng lên hàng dân biểu thì
rõ”. Cụ dằn giọng : “Anh em nhà Ngô là hàng phản phúc, hàng ăn cháo đá bát,
tôi sẽ bỏ Huế tôi đi, ở đây chướng tai gai mắt lắm”.
Trong “Lá Thư Công Chánh” (số 37 tháng 10 năm 1986) kỹ sư Trần Sỹ
Huân, một công sự viên của cụ Huế cho biết:
“Cụ là người cương trực, khí phách, từng bạt tai Tây, chống Nhật, bị Việt
Cộng ám sát hụt. Khi ông Diệm lên cầm quyền, cụ giữ chức Trưởng khu Công
Chánh Trung phần nhưng chỉ sau ba năm, cụ xin từ chức vì bất đồng chính kiến
với gia đình họ Ngô mà cụ là một thành phần trụ cột trong Phong trào Cách
mạng Quốc gia thời ấy”. Mấy năm sau tôi đến thăm cụ Huế sống cô đơn tại Đồng
Đế Nha Trang. Có lẽ muốn trao gửi tâm sự cho người bạn trẻ, cụ nói: “Nghĩ
cho cùng, thời xưa Tần Thủy Hoảng chôn sống 200 trí thức cũng phải. Thứ đồ
gàn ấy để thêm cản trở việc nước. Chế độ (Ngô Đình Diệm) này không tồn tại
được lâu đâu. Nói Vương đạo mà làm Bá đạo. Đồ vong ân bội nghĩa”. Tôi thầm
nghĩ chắc ông đang cưu mang một mỗi u hoài nào đó vì ông là người khẳng khái
không chịu xu nịnh, đua đòi, nên bỏ về đây “lão giả an chi”.
Thật vậy, từ khi ông Diệm củng cố được quyền lực, từ khi các chiến khu
Việt quốc và Đại Việt bị đánh tan và hai đảng ấy bị tê liệt hẳn, thì tại
miền Trung, ông Ngô Đình Cẩn không còn ai là đối thủ nữa. Ông trở thành một
thứ lãnh chúa ở miền Trung và miền Cao nguyên với một triều đình riêng, uy
quyền riêng, lực lượng riêng. Chỉ mới mấy ngày ở Huế mà tôi đã nghe nói đến
những vụ tham nhũng kinh khủng, nhiều vụ bắt bớ các nhà giàu tra tấn cho đến
chết để làm tiền. Tôi cũng nghe nói đến hành động phá hoại Phật giáo rất hạ
cấp. Tôi còn nghe nói ông Cẩn cho xây nhà mát ở Cửa Thuận, hàng tuần, hàng
tháng đem người đẹp đến du hí chơi bời. Người ta còn kể cho tôi nghe mỗi lần
đoàn xe ông Cẩn từ Huế xuống Thuận An hay ngược lại là dân chúng phải tránh
thật xa, phải “khuynh cái hạ mã” như các cuộc vi hành của vua chúa thời
phong kiến. Tôi được nghe nói bọn Cần Lao bắt buộc dân chúng bỏ đạo ông bà
để theo đạo Thiên Chúa, những cán bộ công chức cấp thấp không theo đạo thì
sẽ bị thuyên chuyển đến những vùng xa xôi...
Có lẽ vì biết tôi có đặc quyền trình thẳng với ông Diệm, có tư cách của
một nhân viên an ninh cao cấp, lại là một người theo đạo Phật nên bà con,
thân hữu kể cho nghe vô số tội ác của Ngô Đình Cẩn và bọn Cần Lao. Dân chúng
chỉ biết nghiến răng ngậm miệng chịu đựng vì kêu trời nào có thấu. Ngay cả
Phật giáo bị chính phủ Sài Gòn bãi bỏ ngày nghỉ lễ Phật Đản trong chương
trình nghỉ lễ hàng năm để quân nhân công chức không thể đi chùa, đã kêu ca
với không biết bao nhiêu đơn từ mà vẫn không được hồi âm huống gì dân đen
sức yếu thế cô.
Cái biểu tượng uy quyền khiếp đảm nhất của ông Ngô Đình Cẩn và cũng là
cái khí giới tàn độc nhất để Cẩn xây dựng bạo lực và quyền uy là “Ban Công
tác miền Trung” (tức là Ban Mật vụ Lưu động), một tổ chức lấy bạo lực vừa
làm cứu cánh vừa làm phương tiện, một cách nôm na là người khác có khổ đau
thì mình mới khoái lạc. Ban Công tác miền Trung như một đoàn hung thần bủa
màng lưới sắt xuống đời sống của Quân Dân chính miền Trung mà cuối màng
lưới, ở cái nút khóa oan nghiệt là trại giam người có tên là “Trại Chín
Hầm”, một trại giam tuy lộ liễu hơn nhưng lại khủng khiếp hơn trại P42 ở sở
thú Sài Gòn của ông Ngô Đình Nhu. Sau này, khi ông Ngô Đình Cẩn bị xử tử,
trại Chín Hầm, trước khi bị phá hủy, trở thành một trung tâm thăm viếng của
dân Thừa Thiên để dặn nhau ghi nhớ đời đời tội ác của nhà Ngô. Nhân sĩ Hoàng
Trọng Thược, người Huế, đã kể lại một chứng tích như sau về trại “Chín Hầm”:
Ngô Đình Cẩn có cho xây chín cái hầm dưới đất ở ngoại ô thành phố Huế để
nhốt tù chính trị và những kẻ mà Cẩn định làm tiền. Ái Huyên, một nữ sinh
Đồng Khánh Huế, nạn nhân của Cẩn, trong khi bị giam ở Chín Hầm đã sáng tác
bài thơ:
Trước phong cảnh hữu tình ai có biết,
Rằng nơi đây địa ngục trần gian,
Nơi chứa chấp một chế độ bạo tàn,
Và cạnh đấy là cung vàng điện ngọc.
Du khách hỡi! Dừng lại đây nghe tiếng khóc,
Của oan hồn tử sĩ chết đau thương,
Những nấm mồ vô chủ suốt đêm trường,
Như quằn quại theo từng cơn gió buốt!
Trên nệm ấm kẻ bạo tàn đâu có biết,
Bao thân người chui rúc dưới tanh hôi,
Và nghe hồn khóc kể mãi không thôi!
Nếu những lời than khóc thảm thiết của dân Huế vẫn chưa đủ để làm xúc
động và thức tỉnh một số sử gia “hoài Ngô" muốn che đậy sự thật lịch sử thì
xin hãy đọc tâm sự của ông Võ Như Nguyện, một cán bộ trung kiên và thiết yếu
của ông Diệm, một chứng nhân đã sống trong lòng chế độ. Nguyên năm 1977,
trong khi đang tị nạn tại Pháp và trong nỗi hoài niệm về dĩ vãng quê nhà,
ông Nguyện có viết một lá thư dài với nhiều tình tiết có tính cách sử liệu
cho bạn là ông Hoàng Đồng Tiếu tại Portland (thuộc tiểu bang Oregon, Hoa
Kỳ). Vì cả ba chúng tôi đều là bạn cố tri thân thiết của nhau nên ông Tiếu
có chuyển lá thư đó lại cho tôi để tùy nghi sử dụng. Trong đoạn đề cập đến
ông Ngô Đình Cẩn, ông Nguyện đã viết:
“Năm 1963, như Bác rõ hơn ai hết, tôi ra tuyên ngôn tại Huế và bị Cẩn bỏ
tù. Mặc dù trong khi “Tập đoàn Công Dân” của ông Cẩn mạnh, tôi từ chức ngang
xương Tỉnh trưởng Bình Định (1956) và đem cả họ hàng gia đình đi quy y liền
cho Cẩn thấy. Tôi đã từng phá cửa ngõ của ông Cẩn để vào nhà, đã từng đánh
đập gia nô ông Cẩn ngay trước mặt ông ta và bảo rằng: “Vào nhà này thêm nhục
nhã vì vào đây không phải để đóng góp thực sự việc nước”. Ông Cẩn lập hồ sơ
Bác và tôi là gián điệp Pháp, cả Duyến nữa, bắt thằng Quế (ông Võ Văn Quế,
hiện đang ở California, Hoa Kỳ) khai bọn mình và thằng nhà giàu ở đường Trần
Hưng Đạo đã liên lạc với tụi Tây... ông Cẩn bắt giam Bác và cho người ám hại
tôi... nhưng tôi đã nói thẳng “Cậu là Tào Tháo, tôi là Dương Tu, nhưng Cậu
không hại được tôi đâu”...
Các ông Võ Như Nguyện, Nguyễn Đôn Duyến, Hoàng Đồng Tiếu là những chiến
hữu sắt son và xuất sắc nhất của nhà Ngô từ thời ông Diệm còn hàn vi, còn
gặp khó khăn. Riêng ông Võ Như Nguyện còn là chiến hữu của ông Diệm trong
phong trào ủng hộ Cường Để trước năm 1945 đến nỗi đã bị Pháp bắt đày giam ở
vùng núi rừng KonTum. Năm 1945, khi được thả về ông vẫn tiếp tục hoạt động
chính trị để ủng hộ cho ông Diệm. Anh em ông Diệm hết sức quý mến ông Võ Như
Nguyện nên đã nhờ ông ta đứng làm Trưởng nam trong tang lễ ông Ngô Đình
Khôi.
Năm 1955, ông Diệm cử ông Nguyện làm Tỉnh trưởng Bình Định, nhưng đến khi
tình hình chính trị miền Nam tới hồi thuận lợi cho việc củng cố địa vị uy
quyền thì Ngô Đình Cẩn lại tìm mọi cách để chống phá ông Nguyện với ý đồ gây
cho ông Nguyện chán nản từ chức hầu đặt tay chân mình vào chức Tỉnh trưởng
đó. Ông Nguyện bất mãn từ chức rồi về nhà đi buôn. Mấy năm sau, ông làm giáo
sư Hán học cho đại học Huế và năm 1963, ông đã không thể bịt mắt che tai
trước việc đàn áp Phật giáo nên đã cùng với nhiều giáo sư tại đại học Huế ra
tuyên ngôn lên án chế độ, do đó bị Ngô Đình Cẩn bắt giam. Còn “Tập Đoàn Công
Dân” là một tổ chức chính trị của một số linh mục và giáo dân do giám mục
Phạm Ngọc Chi cầm đầu mà đảng viên chỉ toàn là người Công giáo. Nhưng vì anh
em ông Diệm chủ trương “độc đảng” nên “tập đoàn” phải tự giải thể để nhập
vào Đảng Cần Lao. Vụ án gián điệp Pháp mà ông Nguyện, ông Duyến và ông Tiếu
bị Ngô Đình Cẩn vu cáo sẽ được đề cập đến trong mục “tham nhũng” sau này.
Tuy nhiên qua lời tiết lộ trên đây của ông Nguyện, ai cũng thấy những người
bị Cẩn ra lệnh bắt để làm tiền đều bị bắt oan thế mà ông Cao Thế Dung, trong
cuốn sách Làm thế nào để giết một Tổng thống lại hết sức bênh vực Ngô
Đình Cẩn.
Từ ngày đi Huế về, tình trạng bi thảm của miền Trung do ông Ngô Đình Cẩn
và lực lượng Cần Lao gây ra đã làm cho tôi thấy lo lắng và bi quan cho chế
độ. Tôi thương ông Diệm bao nhiêu thì tôi lại ghét ông Cẩn và nhóm Cần Lao
tại miền Trung bấy nhiêu. Từ ngày đó, tôi quyết không bao giờ gặp ông nữa và
mãi cho đến năm 1964, sau khi chế độ nhà Ngô bị lật đổ tôi mới trở lại Cố
đô.
Tuy ở Sài Gòn, nhưng nhờ bằng hữu và hệ thống an ninh tại miền Trung của
Nha, tôi biết rất rõ ông Cẩn và nhóm Cần Lao càng ngày càng lộng hành, càng
lao đầu vào hố sâu tội lỗi, dân chúng miền Trung và miền Cao nguyên mỗi ngày
mỗi thống khổ thêm và nỗi oán hận chế độ Diệm càng thêm chồng chất. Tôi
thường trình bày những tội lỗi sai lầm của ông Cẩn (và của cả vợ chồng Ngô
Đình Nhu) cho ông Diệm biết nên Cẩn giận tôi lắm, nhắn nhe là sẽ cho người
ám sát tôi (cũng như đã hăm dọa sẽ chém đầu hai ông Trần Chánh Thành và Trần
Kim Tuyến). Nhưng đời nào tôi sợ bọn gian hiểm, bất lương. Cẩn càng dọa nạt
tôi thì tôi càng hạ nhục ông bằng một chiến dịch kể tội Ngô Đình Cẩn với
bằng hữu và các cộng sự viên của ông ta. Thấy không lay chuyển được thái độ
của tôi, ông Cẩn bèn dùng thủ đoạn cầu hòa.
Một hôm tôi đang ngồi nói chuyện với hai người bạn là đại tá Nguyễn Dinh
và Phùng Ngọc Trưng (hiện ở Pháp) tại nhà riêng thì bỗng ông kỹ sư Nguyễn
Xuân Thưởng, Giám đốc Công Chánh miền Duyên hải, và ông Dân biểu Đoàn Đình
Dương đến thăm. Hai thuộc hạ cao cấp đó của Cẩn cho tôi biết họ được lệnh
ông cố vấn miền Trung vào mời tôi ra Huế một chuyến để ông Cố vấn và tôi
cùng nhau “thông cảm”, gây lại hòa khí xưa... Họ mới nói tới đó là tôi nổi
nóng ngay. Tôi bảo họ về nói với ông Cẩn rằng “Tôi thề sẽ không bao giờ gặp
mặt ông ta nữa vì ông ta chỉ là thứ chánh tổng, cường hào ác bá, không xứng
đáng để tôi gặp gỡ nói chuyện”. Tôi bảo hai kẻ thân tín của ông Cẩn về nói
rõ cho ông ta biết rằng Ngô Đình Cẩn và nhóm Cần Lao đang phá hoại chế độ và
đang phản bội Tổng thống Diệm. Tôi bảo họ về nhắn kỹ với ông Cẩn rằng “Đỗ
Mậu chưa hề biết sợ ai, đừng có dọa dẫm, đừng có thủ đoạn mà uổng công...”
Sợ liên lụy đến một người bạn vẫn còn nhiều bà con tại miền Trung nên nói
đến đó tôi ra dấu cho đại tá Phùng Ngọc Trưng ra về, để tôi mạnh miệng hơn
trong việc kể tội Ngô Đình Cẩn. Có đúng như thế không hỡi anh Phùng Ngọc
Trưng ơi!
-o0o-
Dưới thời Pháp thuộc, trong mưu đồ tiêu diệt nền tam giáo tại Việt Nam để
có thể dễ dàng truyền đạo, các vị cố đạo ngoại quốc thường dựa vào quyền
hành và luật lệ của thực dân hay dựa vào tiền bạc và thế lực của Chính phủ
bảo hộ để mua chuộc giới bình dân Việt Nam theo Công giáo, xúi giục họ từ bỏ
tục lệ phong hóa cổ truyền của dân tộc như học giả Đào Trinh Nhất nói rõ
trong cuốn Phan Đình Phùng. Phương cách và thủ đoạn đó không mang lại
kết quả bao nhiêu cho tham vọng của các giáo sĩ Tây phương như học giả Đào
Duy Anh đã trình bày:
... Trong số những người theo Cơ Đốc giáo, một phần rất lớn là vì lợi mà
theo chứ không phải là vì tín ngưỡng sâu xa, cho nên ta có thể nói rằng ảnh
hưởng tinh thần của Cơ Đốc giáo đối với dân ta lại còn ít hơn những thành
tích thực hiện nữa.
Mãi đến năm 1944, Công giáo mới cho ra đời cuốn Lịch sử đạo Thiên Chúa
tại Việt Nam với hậu ý muốn chứng minh sự hiện hữu có nguồn gốc của
giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc Việt. Trong bài đề
tựa, Đức khâm mạng Tòa Thánh Drapier than phiền chỉ có dân nghèo, chỉ có
giới bình dân dốt nát mới nghe theo tin mừng của Chúa Kitô, còn giới có học
thì cố tình không biết đến đạo lý của Gia Tô”. Ngay cả trí thức Công giáo
như ông Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung cũng phải nêu lên lý do “bất khoan
dung” của Thiên Chúa giáo làm cho các dân tộc Á Đông bất mãn, khước từ.
Tôi nghĩ rằng sự bất khoan dung nói trên (ngoài những lý do khác) đã
khiến cho Giáo hội va chạm nặng nề với các dân tộc Áá Đông và đã không thành
công mỹ mãn trong việc rao giảng tin mừng tại vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng
đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số
người Á Đông theo đạo luật thật là ít ỏi, ngoại trừ xứ Phi Luật Tân. Giáo
hội đã xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, là sai lầm, tội lỗi, do đó
đã gần như bắt buộc người Á Đông phải chọn lựa giữa dân tộc và giáo hội...
vả lại, trình độ đạo đức trung bình của người Thiên Chúa giáo Á Đông không
có gì gọi là “cao” hơn những người không Thiên Chúa Giáo.[4]
Như vậy, sau gần 400 năm rao giảng tin mừng, kết quả của việc truyền bá
Thiên Chúa giáo tại Viêt Nam quả thật là nhỏ nhoi khiêm tốn, mà thể hiện rõ
ràng nhất là Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam, tuy có cơ sở ở thượng tầng
nhưng về mặt sâu gốc rễ vào quảng đại quần chúng thì bị khước từ và bật dội
ra khỏi tâm thức của đại khối dân tộc vì tính bất khả hòa và bất khả dung
của nó. Năm 1945, với sự du nhập của chủ nghĩa Mác Xít (mà công khai là
Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Xít ở Hà Nội) và với hấp lực của một cuộc kháng
chiến chống thực dân Tây phương do đảng Cộng sản điều động để vận dụng và
kết hợp toàn dân, nhất là thành phần tiểu tư sản trí thức, nên các tu sĩ
lãnh đạo giáo hội Công giáo Việt Nam ý thức được mối nguy cơ đang làm suy
hại khả năng truyền bá của Giáo hội (trên mặt tư tưởng cũng như hành động)
nên đã phản ứng công khai và dứt khoát để đối kháng với sức mê hoặc vô thần
của đảng Cộng sản.
Tôi còn nhớ lá thư luân lưu của Đức giám mục Phát Diệm Lê Hữu Từ lên án
Cộng sản vô thần. Tôi còn nhớ ở Huế nhiều linh mục như cha Thích, cha
Thính... thường diễn thuyết tại hội Quảng Tri đề cao thuyết duy linh và tôn
vinh Thượng Đế... Dần dần, các vị linh mục như Bửu Dưỡng, Nguyễn Văn Thích,
Lý Văn Lập cùng với ông Ngô Đình Nhu đi đến quyết định phải chính trị hóa
Giáo hội mà khởi đầu là hình thành một chủ thuyết vừa triết lý vừa chính trị
gọi là chủ nghĩa Nhân Vị dựa theo thuyết Personnalisme của nhà trí thức
Thiên Chúa giáo Pháp, ông Emmanuel Mounier. Tôi không có tham vọng giải
thích thuyết Nhân Vị ở đây, nhưng về tổng quan thì Nhân Vị là vị thế của con
người, lấy con người làm giao điểm trong trục tương quan với đồng loại,
thiên nhiên và Thượng Đế. Người là trung tâm để phục vụ, có ưu thế hơn các
thực thể khác như dân tộc, nhân loại, hay nhu cầu vật chất. Con người có
phần xác và phần hồn, mà linh hồn được coi là chủ yếu hơn vì linh thiêng bất
tử và là nguồn gốc của văn minh. Linh hồn có tính thiêng liêng vì do chính
Thượng Đế tạo ra và có khả năng vươn lên cảm thông với Thượng Đế... Trên mặt
triết học, thuyết này chỉ là một triển khai có hệ thống những phạm trù tôn
giáo mà thôi. Và thành phần trí thức Thiên Chúa giáo, mà chủ yếu là một số
linh mục học ở Pháp hoặc ở La Mã, và ông Nhu, đã thai nghén trong vòng bí
mật cho mãi đến năm 1951, khi ông Nhu rời Đà Lạt xuống Sài Gòn (ở số 8 đường
Ypres) mới bắt đầu thêm ý niệm về Cần Lao trong vế thứ hai của lý thuyết, và
công khai phổ biến trên tuần báo Xã Hội do ông chủ trương.
Nhưng vì lý thuyết này không xuất sinh từ thực tế lịch sử và không phù
hợp với hiện thực xã hội của dân tộc mà chỉ là phó sản chắp vá của một giáo
lý tôn giáo cộng với một số lý thuyết xã hội tả khuynh Tây Phương nên cuối
cùng không thành hình được một Sử quan nhất quán để vận dụng vào thực tế đấu
tranh của nước nhà. Những bài nghiên cứu công phu trên tuần báo Xã hội (cũng
như sau này trên tạp chí Quê Hương dưới thời ông Diệm) do đó chỉ là những
món trang sức trí thức quý giá cho một thiểu số mà thôi. Tuy quý giá thật
đấy nhưng chỉ là một thứ trang sức, nghĩa là vô dụng và vô nghĩa cho
hiện trạng xã hội Việt Nam.
Cho đến năm 1953, nhờ những yếu tố khách quan của quốc tế, mà chủ yếu là
sự yểm trợ chủ động của khối Thiên Chúa giáo La Mã và Hoa Kỳ qua thế cờ Ngô
Đình Diệm (chứ không phải nhờ tác động của lý thuyết Nhân Vị Cần Lao), ông
Nhu mới quyết định năng động hóa lý thuyết của mình. Một mặt ông Nhu (cùng
các ông Trần Văn Đỗ, Trần Chánh Thành, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Trung Dung)
xin phép Thủ tướng Bửu Lộc cho ra đời một lực lượng thợ thuyền lấy tên là “Liên
đoàn Lao Công” (Lao là lao động, Công đặc biệt nghĩa là
Công giáo) dựa theo mô thức lãnh đạo và tổ chức của lực lượng thợ thuyền
Thiên Chúa giáo Pháp.
Theo ký giả danh tiếng Neil Sheehan thì chính CIA đã chi tiền cho “Lực
lượng thợ thuyền Công giáo Pháp” vốn có móc nối với anh em nhà Ngô. Sau khi
anh em ông Dulles không còn hy vọng vào một Bảo Đại có thể chống nổi Cộng
sản Hồ Chí Minh, CIA bèn yểm trợ tài chính cho Ngô Đình Nhu qua hệ thống
“Lực lượng Thợ thuyền Công giáo Pháp” để quấy phá Bảo Đại hầu có thể đưa Ngô
Đình Diệm về Việt Nam làm Thủ tướng. (Xem “A Bright Shinning Lie”,
trang 179). Mặt khác, họ hình thành một hội nghị “Đại đoàn kết” vào tháng 9
năm 1953, đòi hỏi hòa bình cho Việt Nam, với sự tham dự của ông Nhu và các
đoàn thể chánh trị gồm luôn cả Bảy Viễn và các giáo phái.
Về Đại hội Đại Đoàn kết này, có một ngộ nhận lịch sử cần làm sáng tỏ. Một
số người căn cứ vào một đoạn viết của Bảo Đại trong cuốn Le Dragon
d’Annam (tr. 328) - một hồi ký mà nhà nghiên cứu sử Chính Đạo đã phát
hiện rằng người chủ biên thật sự là một sĩ quan cấp tướng người Pháp chứ
không phải là Bảo Đại - để cho rằng chính ông Nhu là người đóng vai trò chủ
động của phong trào này.
Theo tôi, ông Nhu chỉ là người tham dự thụ động chứ không hề ở trong cấp
lãnh đạo của Phong trào này. Cụ Trần Văn Ân, Tổng thư ký của chính Phong
trào này đã liệt kê đầy đủ những khuôn mặt lớn của Phong trào trong Chủ tịch
đoàn gồm có cụ Trần Trọng Kim, Đức hộ pháp Phạm Công Tắc, ông Lương Trọng
Tường, Linh mục Hoàng Quỳnh (đại diện Đức cha Lê Hữu Từ) và Thượng tọa Tố
Liên nhưng tuyệt nhiên không nhắc nhở gì đến tên của ông Ngô Đình Nhu cả
(xem tạp chí Đuốc Từ Bi số 26, ngày 1/5/87, California).
Không những thế, ông Đoàn Thêm lại cho rằng người kiến trúc sư của Đại
hội này lại chính là Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm để làm “theo sát đường lối
của Quốc Trưởng”:
Đối với Pháp, ông (Nguyễn Văn Tâm) cũng lâm vào cảnh khó xử như ông Hữu
vì ai cũng biết rằng ông cùng gia đình ông đều thật tình thân Pháp. Tuy
nhiên, ở địa vị Thủ tướng, ông đã phải theo sát đường lối Quốc Trưởng,
lên tiếng đòi thay đổi quy chế Liên Hiệp Quốc (6-6-53), Triệu tập một
Quốc dân Đại hội để xét lại tình trạng bang giao Việt - Pháp và đưa yêu
sách trả quyền cho Việt Nam (10-9-53). (Những Ngày Chưa Quên, Đoàn
Thêm, tr. 196-197).
Với cụ Trần Văn Ân, Tổng thư ký nằm trong nội bộ của đại hội, và ông Đoàn
Thêm, người nổi tiếng khả tín vì tỉnh thức và tỉ mỉ theo dõi chuyện từng
ngày, thì đoạn Hồi ký nói trên của vua Bảo Đại là một nhầm lẫn (vô tình hay
cố ý?) cần sửa lại cho đúng. Nếu không, lại có người căn cứ vào đó mà suy
diễn bậy rằng vua Bảo Đại cử ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng là nhờ thành
tích và uy tín của anh em ông ta chứ không phải vì áp lực của Mỹ và Pháp như
sự thật lịch sử đã diễn ra.
Song song với hai công tác nổi đó, ông Nhu bí mật hoạt động để cho ra đời
đảng “Cần Lao Nhân Vị Cách mạng”. Thật ra, không ai biết được đảng Cần Lao
Nhân Vị khai sinh như thế nào và bao giờ ngoại trừ ông Nhu và các đồng chí
của ông Nhu đã nói trên kia, và cũng không ai thấy được cương lĩnh, nội quy
của đảng như thế nào để nghiên cứu mà đồng ý hay chống đối. Nhưng qua một số
bài báo biểu lộ tư tưởng của ông Nhu trên tuần báo Xã Hội, và qua những đề
tài giảng dạy tại Trung Tâm Nhân Vị Vĩnh Long sau này, nhiều người, như nhà
văn Chu Bằng Lĩnh, đã phải chán nản nặng lời phê phán thuyết Nhân Vị của ông
Ngô Đình Nhu là một thứ pha trộn đầu Ngô mình Sở, chắp vá bằng một mớ tư
tưởng hổ lốn, góp nhặt mọi thứ một ít từ giáo lý Thiên Chúa giáo đến chủ
nghĩa Nhân Vị của Mounier, pha thêm thuyết Nhân ái của Khổng Tử, cộng thêm
vài nét của Chủ nghĩa Tư bản lẫn lộn với Chủ nghĩa Duy Linh chống Cộng...
Phải chăng vì sự pha trộn quá tham lam đến độ nghịch lý đó mà Stanley Karnow
đã nhận định rằng:
Thuyết Nhân Vị của Ngô Đình Nhu đã chịu hai sự tai hại. Thứ nhất là ngay
cả giới trí thức mà còn không thể hiểu nổi thuyết đó là gì huống chi quần
chúng. Thứ hai là ông Ngô Đình Nhu bị người thừa kế của ông Mounier lên án
“gian lận” trên tờ báo Thiên Chúa giáo Esprit tại Pháp [5]
Ông Nhu cố gắng tổng hợp một cách quá gượng ép nhiều hệ thống tư tưởng
vào thuyết Nhân Vị của ông ta vì tuy chủ yếu mô phỏng thuyết Nhân Vị của
Mounier nhưng ông lại muốn có những thêm bớt, đổi thay cho có vẻ đó là sáng
tạo độc lập riêng của mình. Đã thế, ông Nhu tuy là một người Việt trí thức
nhưng lại xuất thân từ trường Tây nên không viết được hay không muốn viết
bài bằng quốc ngữ mà chỉ viết bằng tiếng Pháp, rồi có người dịch ra tiếng
Việt. Do đó bản dịch không lột hết được tư tưởng của ông ta. Nguyên bản
tiếng Pháp đã khúc mắc khó hiểu vì khó khăn diễn đạt thì bản dịch Việt ngữ
chắc chắn như một mớ chỉ rối. Chẳng trách, ngay đến giờ này, một lý thuyết
gia đã nhận là chỉ đạo sinh mệnh quốc gia suốt chín năm trời như thế mà
không để lại được một tác phẩm nghiên cứu nào, lại càng không để lại một vết
tích suy tư nào trong tâm thức dân tộc, ngoại trừ một thiểu số “hoài Ngô”
chỉ biết hò hét hai chữ Nhân Vị nhạt nhẽo.
Ông Ngô Đình Nhu, cha đẻ của thuyết Nhân Vị Cần Lao, sinh tại Huế vào
ngày 7 tháng 10 năm 1910, sau khi đỗ cử nhân Văn chương tại Pháp, ông vào
trường “Quốc gia Cổ Tự Học” (Ecole Nationale des Chartres, ngành Archiviste
Paléographe), một trường nổi tiếng ở Paris mà nếu tôi không lầm thì người
Việt Nam duy nhất trước đó chỉ có cụ Phan Vô Kỵ. Ra trường và về Việt Nam
năm 1938, ông Nhu làm việc cho Nha Văn Khố Trung Ương Đông Dương tại Hà Nội
từ năm 1938 đến năm 1943. Từ năm 1943, ông làm chủ sự phòng Văn Khố Tòa Khâm
Sứ Huế, và trong thời gian này ông được ông Trần Văn Lý, Đổng lý Ngự Tiền
Văn phòng của Nam triều, mời giữ chức Chủ tịch Hội đồng Chỉnh đốn Châu Bản
của Văn Khố nhà Nguyễn. Năm 1945 sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông được chính
phủ Trần Trọng Kim cử giữ chức giám đốc Văn Khố Trung Ương tại Hà Nội. Tuy
là một nhà trí thức xuất thân từ một gia đình quan lại nhưng ông không chịu
viết bằng tiếng Việt mà chỉ viết bằng tiếng Pháp. Chứng tỏ là về mặt tác
phẩm ông chỉ viết độc nhất một bảo khảo luận độ 7, 8 trang mà lại viết bằng
tiếng Pháp nhan đề là “La Fête de l’Ouverture du Printemps à Hanoi sous les
LE Posterieurs”; và
dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, hầu hết diễn văn quan trọng của ông Diệm đều do
ông Nhu viết bằng Pháp văn rồi ông Võ Văn Hải dịch ra quốc ngữ. Cần phải nói
rõ ra như thế để giải thích về những bài viết ký tên Ngô Đình Nhu trên tuần
báo Xã Hội với ý và văn khúc mắc khó hiểu, nên đã làm cho ký giả Karnow nhận
định chính xác rằng “những người trí thức cũng không hiểu nổi thuyết Nhân Vị
của Ngô Đình Nhu”.
Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1956 tuy là sự đóng góp trí tuệ của nhiều
người nhưng cái sườn chính vẫn do ông Nhu soạn ra. Cũng như bản chung quyết
của Hiến pháp trước khi biểu quyết tại Quốc Hội Lập Hiến để trở thành văn
kiện căn bản của quốc gia là do ông Nhu nhuận đính và chung quyết. Bản Hiến
pháp này, ngoài một vài từ ngữ mà trên mặt tượng thanh có vẻ Nhân Vị hoặc có
liên hệ đến thuyết Duy Linh như “giá trị siêu việt”, “sứ mạng”, “nhân
vị”, “duy linh”, “tạo hóa”,... còn nội dung thật sự của nó đã không xiển
dương được chút nào yếu tính căn bản - nếu có - của thuyết Nhân Vị. Có hai
lý do để giải thích hiện tượng này: Thứ nhất là vì thuyết Nhân Vị hỗn tạp
quá nên không có những yếu tính đặc thù để tạo ra nét độc đáo riêng biệt cho
Hiến pháp; và thứ hai là nhu cầu quyền lực chính trị quá lớn nên ông Nhu đã
bất chấp cái nội dung Nhân Vị - dù còn mơ hồ chưa thành hình - để đưa vào
Hiến pháp những nguyên tắc chính trị chà đạp sinh hoạt dân chủ của quốc gia
và quyền tự do của công dân để tập trung quyền hành vào một thiểu số thống
trị. Nghĩa là chủ xướng tối đa tính độc tài trong bộ luật căn bản và cao cấp
nhất của quốc gia.
Muốn xem một hiến pháp là dân chủ hay độc tài, ta chỉ cần nghiên cứu hai
quan niệm: một là quyền lực quốc gia qua hình thái tổ chức cơ cấu
quốc gia thuộc về ai, và hai là quyền hành của công dân được công
nhận và quy định như thế nào?
Hiến pháp Đệ Nhất Cộng Hòa, trong thiên “Điều khoản Căn bản”, điều 2,
viết rằng “Chủ quyền thuộc về toàn dân” nhưng đoạn 3, điều 3 thì lại xác
định “Tổng thống lãnh đạo quốc dân”
nghĩa là tách rời hai ý niệm “chủ quyền” và “quyền lực” ra khỏi nhau. Làm
sao nhân dân có thể làm chủ được quốc gia khi Tổng thống - chứ không phải họ
- lãnh đạo quốc dân?, dù “quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân
cử và nhiệm vụ lập pháp cho quốc hội cũng do dân cử” (điều 3, đoạn 1). Mà
“ủy” theo bản dịch Pháp văn chính thức lại có nghĩa là “phong” (investir) tức là trao
toàn quyền. Một cách thực tế, cứ 5 năm, người dân cầm lá phiếu để “phong”
một ông Tổng thống để cai trị mình rồi trở về không còn tham dự gì vào quyền
lực quốc gia nữa. Như ta sẽ thấy rõ trong bản Hiến pháp ở các mục sau cũng
như trên thực tế của 9 năm cai trị, Tổng thống Diệm tập trung trong tay
những quyền hành hợp hiến to lớn mà Quốc hội chỉ là một bộ phận phụ thuộc
được dùng để luật hóa các quyết định chính trị của hành pháp mà thôi. Cũng
do đó, nguyên tắc Phân quyền cơ bản được đề ra trong Hiến pháp chỉ còn là
chiêu bài xảo trá để đánh bóng cho chế độ.
Chủ quyền thuôc về toàn dân và Tổng thống lãnh đạo quốc dân
nghe không khác gì Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ... của Hiến pháp
Cộng Sản hiện nay tại quê nhà. Điểm khác biệt duy nhất là Cộng Sản tập trung
quyền lực vào một chính trị bộ nhiều người còn hiến pháp 1956 thì tập trung
quyền lực vào một Tổng thống Diệm. Nguyên tắc chủ quyền đã bị chà đạp như
thế, đến quan niệm toàn dân thì lại càng mơ hồ hơn nữa. Bản dịch tiếng Pháp
đăng trên công báo là “Chủ quyền thuộc về toàn thể quốc dân” và chữ quốc dân
này còn được dùng nhiều lần trong Hiến pháp.
Quốc dân, theo lý thuyết dân chủ Tây phương mà hiến pháp 1956 áp dụng, là
một tập thể trừu tượng không những bao gồm thế hệ hiện tại mà còn cả các thế
hệ đã qua và sau này nữa, nó là một “pháp nhân tách rời khỏi những cá nhân
hợp thành quốc gia” ,
và luật có thể ấn định những điều kiện để hành xử chức năng “quốc dân” đó
như điều 18 đã quy định rằng “quyền bầu cử và ứng cử phải theo thể thức và
điều kiện luật định” hoặc “quyền bầu cử và ứng cử phải theo thể thức và điều
kiện luật định” hoặc điều 50 xác định rằng phải hội “đủ các điều kiện khác
dự liệu trong luật tuyển cử”.
Vì quốc dân (national Vietnamien) không phải là nhân dân (peuple
Vietnamien) nên ngay cả cái chủ quyền mà người dân miền Nam được nắm giữ một
cách trừu tượng ở phần đầu của Hiến pháp thật ra cũng chỉ là một thứ chủ
quyền lý thuyết trên giấy tờ.
Như vậy, 2 nguyên lý căn bản nhất làm cơ sở chỉ đạo cho hiến pháp 1956 là
Chủ quyền của ai và Ai lãnh đạo đã nói lên rất rõ ý đồ của ông
Ngô Đình Nhu muốn tập trung quyền lực vào một cá nhân Tổng thống để có thể
cai trị một cách độc tài, phản dân chủ. Cho nên ta không lấy làm ngạc nhiên
khi thấy quyền Hành pháp của Tổng thống chẳng những đã lấn át quyền của Quốc
hội mà có khi còn bao gồm cả tính Lập pháp nữa.
Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân và quân
sự (điều 37); bổ nhiệm các sứ thần (điều 35), là tổng tư lệnh tối cao của
quân đội (điều 37); có quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, huyền án
(điều 37); ký kết, phê chuẩn các hiệp định quốc tế, thay mặt quốc gia trong
việc giao thiệp với ngoại quốc (điều 35), tuyên chiến và ký kết hòa ước với
sự thỏa thuận của chỉ một nửa túc số quốc hội (điều 36); tuyên bố tình trạng
khẩn cấp báo động, giới nghiêm (điều 44); tổ chức trưng cầu dân ý (điều 40).
Và vì các vị thẩm phán tối cao đều do Tổng thống bổ nhiệm (và được xem như
một công chức có thể bị cách chức) nên trên thực tế Tổng thống chẳng những
đã trực tiếp nắm gần hết mọi cơ cấu của Hành pháp từ cấp Bộ trưởng, Tướng
lãnh cho đến nhân viên hốt rác, anh binh nhì mà còn có khả năng khuynh loát
và điều động Tư pháp nữa. Quyền Lập pháp tuy nói là thuộc về Quốc hội (điều
55) nhưng trên thực tế Tổng thống cũng có quyền làm luật; nhưng trong khi
quyền làm luật của Tổng thống thì bất khả xâm phạm ngược lại, quyền làm luật
của Quốc Hội có thể bị Tổng thống khống chế. Thật vậy, ngoài cái quyền đương
nhiên được chuyển dự thảo ra Quốc hội (để hầu hết) được phê chuẩn nhanh
chóng (điều 56), hiến pháp 1956 còn cho phép Tổng thống, vì lý do khẩn cấp,
có quyền ban hành sắc luật giữa hai khóa họp Quốc hội (điều 41), hoặc trong
“tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nổi loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài
chính”, Tổng thống có thể được Quốc hội ủy quyền ra sắc luật thường xuyên
(điều 41). Điều khôi hài là chỉ có Tổng thống mới được nhận định và
tuyên bố trong trường hợp nào thì tình trạng trở thành khẩn cấp (điều 44).
Vì ngân sách là sức mạnh huyết mạch của chế độ nên ông Ngô Đình Nhu đã
duy trì cho được điều 43 của Hiến pháp để đề phòng đối lập có thể làm tê
liệt chính quyền. Điều 43 viết rằng “trong trường hợp ngân sách không được
Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở điều 60 thì Tổng thống có
quyền ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau” và “nếu về sau Quốc hội có bác
bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách thì Quốc hội phải
giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi”. Thật chưa có
một hiến pháp nào có lối văn vừa cảnh cáo vừa đe dọa quốc dân như
điều 43 này!
Cũng trong hiến pháp này, về thể thức biểu quyết của Quốc hội, “một dự án
hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ túc số
1/3 tổng số dân biểu” (điều 69). Quy định “đa số phục tùng thiểu số” phản
dân chủ này chỉ có thể giải thích bằng ý đồ chính trị đen tối của ông Nhu
muốn đề phòng trường hợp tổng số dân biểu gia nô của mình bị trở thành thiểu
số trong Quốc hội. Nhưng trong khi Quốc hội “dễ dãi” với Tổng thống như thế
thì ngược lại khi Tổng thống phủ quyết một đạo luật của lập pháp, Quốc hội
phải hội đủ túc số 3/4 khó khăn mới được tái thông qua. Mà 3/4 này phải
“minh danh đầu phiếu” (điều 58) để Tổng thống điểm mặt xem ai đã dám chống
lại quyền phủ quyết của mình!
Ngoài ra Tổng thống có quyền đình chỉ việc áp dụng một hoặc nhiều đạo
luật trong những vùng mà Tổng thống tuyên bố tình trạng khẩn cấp (điều 44).
Một viện Bảo hiến có được quy định để nghiên cứu và quyết định xem các điều
khoản có bất hợp hiến không, nhưng viện này gồm 9 người thì vị chủ tịch và 4
thẩm phán hay luật gia đã do Tổng thống bổ nhiệm rồi (điều 86). Cuối cùng,
Tổng thống có quyền đề nghị sửa đổi hiến pháp (điều 90) và Uỷ ban sửa đổi
hiến pháp phải “tham khảo ý kiến” không những của Viện Bảo hiến (bù nhìn)
rồi mà còn của cả Tổng thống nữa (điều 91).
Tóm lại, theo Hiến pháp 1956 này, cái Hiến pháp đã làm bình phong dân chủ
cho chế độ Ngô Đình Diệm suốt 7 năm, thì Tổng thống có đầy đủ quyền lực để
triệt tiêu hoặc làm tê liệt các đạo luật nào mà mình không vừa ý cũng như để
ban hành và thi hành các đạo luật nào có lợi cho mình.
Nếu Tổng thống đã khống chế quốc hội như vậy, thì ngược lại Quốc hội có
quyền gì đối với Tổng thống không ? Tổng thống không bắt buộc phải điều trần
trước Quốc hội, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội và không thể bị Quốc
hội bất tín nhiệm để lật đổ. Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội “bằng thông
điệp” và nếu muốn “có thể dự các phiên họp của Quốc hội”, cũng như chỉ “khi
thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia” (điều
39).
Qua những điều kể trên, ta thấy rõ rằng khi thiết kế ra Hiến pháp này,
quả thật ông Nhu đã muốn cho anh mình trở thành một thứ Đế vương phong kiến
với những hình thức và ngôn ngữ có vẻ dân chủ tự do... Chính ông Ngô Đình
Diệm cũng đã công khai bày tỏ sự tán đồng nội dung của bản Hiến pháp này
trong bài phỏng vấn của nhật báo Pháp Le Figaro ngày 23 và 24 tháng 3 năm
1959: “Cần phải nhớ lại quá khứ của chúng tôi. Chế độ chính trị ở Việt Nam
thời nào cũng vậy, đã thành lập trên nguyên tắc điều khiển việc nước
không phải do những đại biểu của quốc dân mà do những ông vua có những
tể tướng sáng suốt phụ tá... Chúng tôi phải lập lại ở Việt Nam hệ thống luân
lý như ngày xưa” .
Ông Nhu đúng là vị “tể tướng sáng suốt” đã mang vị vua Ngô Đình Diệm
phong kiến của thời đại quân chủ về làm nguyên thủ của nước Việt Nam Cộng
hòa theo Tổng thống chế, để xây dựng tự do dân chủ cho miền Nam chống Cộng!
Trách gì nước chẳng mất!
Quan niệm thứ nhì của Hiến pháp 1956 mà ta phải xét đến là quyền hành của
người dân được quy định như thế nào trong chương “Quyền lợi và nhiệm vụ của
người dân”. Đây cũng là chương nói lên rõ ràng nhất cái kỹ thuật lừa bịp
tinh vi của ông Ngô Đình Nhu, cha đẻ của Hiến pháp 1956, phát xuất từ sự
đánh giá sai lầm sức mạnh của một chế độ dân chủ tự do, và sức mạnh vô địch
của quần chúng trong cuộc chiến tranh chống lại một kẻ thù như Cộng sản.
Phát xuất từ quan niệm cơ bản rằng chỉ cần một chính quyền mạnh (trong
nghĩa bạo lực quân sự hoặc bạo lực chính trị) là chế độ có thể tồn tại vững
bền, Hiến pháp 1956 đã nhân danh chủ nghĩa chống Cộng để kiểm soát và
giới hạn tối đa mọi quyền tự do và dân chủ của người dân. Quan niệm này
không đếm xỉa đến nhân dân như là sức mạnh trụ cột và trường kỳ của miền Nam
Việt Nam, cũng như không đếm xỉa đến sinh hoạt dân chủ như là vũ khí hữu
hiệu nhất để đối kháng với kẻ thù.
Thật vậy, sau khi đã mở đầu Hiến pháp với một mớ từ ngữ ma quái trong
triết lý Duy linh và sau khi đã bắt buộc phải xác định một cách không thể
tránh được những nguyên lý căn bản mà Hiến pháp nào (kể cả Hiến pháp Cộng
sản) cũng phải đề ra như “quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản
của con người” (điều 5), “mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an
toàn” (điều 9), thì đến lúc đi vào từng chi tiết cụ thể của từng sinh hoạt
của người dân, mọi điều đưa ra cho có vẻ tự do dân chủ đều bị giới hạn lại
ngay bằng một điều khác liền.
Hiến pháp xác định “quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công
nhận” nhưng điều 25 ngay sau đó lại nói rằng việc sử dụng các quyền này phải
“theo những thể thức và điều kiện luật định” (Luật định như Dụ số 23 về việc
thành lập Nghiệp đoàn bắt phải nộp điều lệ để chính quyền cứu xét và quyết
định, nhưng Dụ này lại không định ra một giới hạn nào cả về thời gian cứu
xét). Hiến pháp cũng xác định có quyền đình công nhưng cũng ngay trong điều
25 đó thì “quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công
nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng
hoặc các nhu cầu thiết yếu của đời sống tập thể” nhưng lại không có một văn
kiện “luật định” nào giải thích rõ ràng các ngành đó cả mà chỉ do Tổng thống
hoặc chính quyền xác định lấy.
Cũng vậy, nói rằng ‘tính cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm”
nhưng lại thêm “trừ khi cần bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự
chung” (điều 12); cho người dân có quyền “tự do đi lại và cư ngụ” rồi lại
thêm ngoại trừ trường hợp “luật pháp ngăn cản vì duyên cớ vệ sinh hay an
ninh công cộng”; xác định người dân có quyền “tự do xuất ngoại” nhưng trừ
“trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh, quốc phòng, kinh tế, tài
chánh hay lợi ích công cộng” (điều 13); nói rằng có quyền “tự do hội họp và
lập hội” nhưng giới hạn “trong khuôn khổ luật định” (điều 15); Hiến pháp
cũng công nhận là “chỉ có thể bắt giam người khi có câu phiếu của cơ quan có
thẩm quyền” mà lại không xác định “cơ quan có thẩm quyền” là những cơ quan
nào cho nên sau này có rất nhiều cơ quan mật vụ an ninh chìm nổi của ông
Nhu, ông Cẩn, không nằm trong hệ thống của Bộ Tư pháp mà vẫn có quyền bắt
người dù có hoặc không có câu phiếu.
Nói chung, để kiểm soát và bóp nghẹt quyền của người dân, Hiến pháp 1956
đã tung ra một mớ gươm Damoclès treo trên đầu người dân với những từ ngữ mà
chính quyền muốn giải thích như thế nào cũng được như “điều kiện luật định,
lý do quốc phòng, an ninh công cộng, an toàn chung, trật tự chung, lợi ích
công cộng, đạo lý công cộng...” Và để bảo đảm tối đa sự kiểm soát này, Hiến
pháp còn nâng chủ trương nầy lên thành nguyên tắc tổng quát trong điều 28:
“quyền của mỗi người đều được xử dụng theo những thể thức và điều kiện luật
định”. Điều 28 quỷ quyệt này đóng kín một cách hoàn toàn và vĩnh viễn tất cả
mọi hy vọng của người dân về mọi sinh hoạt dân chủ và an toàn cá nhân dưới
chế độ, đồng thời trao lại một cách hoàn toàn và vĩnh viễn quyền sinh sát
vào tay một thiểu số gia đình họ Ngô đang nắm quyền lực trong tay.
Ngoài ký giả Shaplen (trong bài The Cult of Diem) đã nặng lời chỉ
trích Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cộng hòa, nhiều luật gia Việt Nam tên tuổi
cũng đã nghiêm khắc lên án Hiến pháp đó là độc tài, cổ hủ không liên hệ gì
với thuyết Nhân Vị cả. Luật gia Đoàn Thêm trong “Những ngày chưa quên”
đã phải bỏ ra 11 trang (kể từ trang 23) để phân tách sự liên hệ giữa thuyết
Nhân Vị và Hiến pháp Đệ Nhất Cộng hòa, liên hệ giữa Hiến pháp và Quốc hội,
giữa Quốc hội và Tổng thống, đã có một nhận xét như sau đây:
Triết lý chính trị của ông (Ngô Đình Nhu) muốn đưa ra, đã được tóm tắt
trong đoạn mở đầu và phần căn bản của Hiến pháp 26-10-1956, lại được nhấn
mạnh... đã thành khẩu hiệu chính thức. Tuy nhiên, những ý tưởng này chỉ thể
hiện ra hai thiên đầu của hiến pháp 1956. Còn ở phần cơ cấu chính quyền,
nghĩa là khi chuyển sang phần ứng dụng, và nếu xét về luật công pháp thì rất
khó thấy tương quan gì giữa lý thuyết Nhân Vị và các guồng máy quốc gia. Bởi
thế, năm 1956 tôi không hoài nghi, tuy một số người hài lòng và cho là lần
đầu tiên chúng ta mới kiến tạo được trên một căn bản triết lý chính trị vững
vàng. Trái lại, tôi đã ghi nhận áp lực rất mạnh mẽ của thực tế, của nhân vật
và thời cuộc trong việc xây đắp móng nền của chế độ.
Luật gia Nguyễn Hữu Châu, giáo sư đại học Luật khoa Paris, nguyên Bộ
trưởng Bộ Phủ Thủ tướng VNCH năm 1957, 1958 và có liên hệ với chính tình
miền Nam, đã có những phán xét không tốt đẹp gì cho Hiến pháp Nhân Vị 1956
của Đệ nhất Cộng hòa. Trong Luận án Cao học Luật khoa (Mémoire DES, 1960)
ông Nguyễn Hữu Châu (hiện ở Pháp) sau khi phân tách từng chương từng mục đã
kết luận rằng:
“Xét đến lịch sử các cơ chế và tư tưởng chính trị của Việt Nam, thật khó
mà không công nhân rằng hệ thống của Hiến pháp ngày 26-10-1956 quả là một sự
thoái hóa so với hệ thống chính trị cổ truyền. Tại vì Hiến pháp 26-10-1956
đã giữ lại những gì kém tiến bộ nhất của chế độ xưa cũ, rồi bổ túc bằng
những sự kiềm chế tân tiến nhất.
Do đó mà cái ý niệm về lãnh đạo (leadership) được trình bày trong bản
dịch chính thức của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa không có cái ý nghĩa mà các
nhà Xã hội học Mỹ trao gửi lúc đầu.
(Dans l’histoire des institutions et des idées politiques du Vietnam, il
sera difficile de ne pas reconnaitre que le système de la constitution du 26
Octobre 1956 constitua une regression par rapport au système politique
traditionnel. Car il a repris de l’ancien système ce qu’il a le moins
progressiste pour le completer par les moyens de contrainte les plus
modernes. Ainsi cette notion de Leadership qui figure dans la traduction
officielle de la Constitution de la République du Vietnam n’a pas le sens
que les sociologues Américains lui donnent original).
Còn giáo sư Nguyễn Văn Bông, Thạc sĩ Công Pháp, Viện trưởng Viện Quốc gia
Hành chánh Sài Gòn thì trong đoạn kết của giáo trình năm thứ nhất Cử nhân
Luật về môn Luật Hiến pháp và Chính trị học của Đại học Luật khoa Sài Gòn,
đã viết rằng:
Thật vậy, ngay ở điều khoản thứ ba, chúng ta nhận thấy “Tổng thống Lãnh
đạo Quốc gia”. Tổng thống bổ nhiệm và cách chức các sứ thần cùng công chức
cao cấp không cần ý kiến của Quốc hội. Trái với nguyên tắc phân nhiệm mà
điều 3 ghi rõ là “nguyên tắc phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ
rệt”. Hiến pháp 1956 dành cho Tổng thống quyền ký sắc luật giữa hai khóa họp
Quốc hội, quyền ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới
nghiêm.
Một sự tập trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập và sự hiện
diện của một chính đảng duy nhất đã đưa chế độ Ngô Đình Diệm lần lần đi đến
một chế độ quyền hành cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng
súng ngày 1-11-1963 đã đưa vào dĩ vãng.
Nội dung của Hiến pháp 1956 là thoái hóa và độc tài như thế nhưng có một
người cứ ngoan cố và xuẩn động binh vực cho bằng được. Đó là ông Nguyễn Văn
Chức, cựu luật sư, cựu Thượng nghị sĩ, nguyên Chủ tịch Liên đoàn Công giáo
Việt Nam tại Mỹ:
“Vì Hiến pháp không có hiệu lực cưỡng hành thực tế và tất nhiên trên việc
điều hành quốc gia cho nên ít khi người ta dựa vào Hiến pháp để phê bình một
chế độ, một chính quyền.
Ông Đỗ Mậu và những kẻ đứng sau đã dựa vào Hiến pháp đệ nhất Cộng hòa để
lên án chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời phân tách và phê bình Hiến pháp
như một học giả. Rất tiếc họ không đủ khả năng vì vậy đã phạm những điều sai
lầm thô bạo”.
Viết như thế, ông Chức đã dại dột tự tố cáo mình ba điều:
- Thứ nhất là vừa nông cạn về luật học vừa ấu trĩ về chính trị học. Hiến
pháp chính là văn kiện Luật pháp cao nhất trong sinh hoạt của một quốc gia.
Từ căn bản đó và trong khuôn khổ đó, một hệ thống pháp luật “thực tế và tất
nhiên” được hình thành để làm trọng tài cho một xã hội dân sự. Phê bình Hiến
pháp chính là phê bình bản chất của chế độ, còn phê bình các bộ luật
thì mới là phê bình hiện tượng của chế độ. Huống gì Hiến pháp 1956
lại là sản phẩm đầu tay của chế độ Ngô Đình Diệm chứ không phải là thừa kế
từ một chế độ khác. Cho nên phê phán sản phẩm đó chính là phê phán căn cước
chính trị và văn hóa của chế độ. Hiểu Hiến pháp kiểu ông Chức là, trên mặt
lịch sử, cho chế độ đứng ngoài Hiến pháp hoặc cho Hiến pháp độc lập với chế
độ như ông Diệm đã từng cao ngạo tuyên bố “sau lưng Hiến pháp còn có tôi”.
- Thứ hai là thái độ phản dân chủ của một người nhiều thủ đoạn chính trị.
Hiến pháp, trên thực tế và nói cho cùng, là một khế ước chính trị giữa người
dân và chính quyền mà thông qua các vị dân cử, đã được thảo luận và biểu
quyết tại Quốc hội (rồi nếu cần, còn phải được tu chính cho phù hợp với điều
kiện sinh hoạt thực tế của quốc gia). Vậy thì tính “cưỡng hành” của Hiến
pháp có tính chính trị (nhiều hơn là Luật pháp) mà ở đây là quyền lực chính
trị. (Ví dụ điều 3 xác định “Tổng thống lãnh đạo Quốc gia” như điều 4 của
Hiến pháp 1992 của Hà Nội xác định “Đảng Cộng sản Việt Nam,... là lực lượng
lãnh đạo Nhà nước và xã hội”). Vậy, phê bình chế độ chính trị của chính
quyền Ngô Đình Diệm thì không thể không đem Hiến pháp ra mà mổ xẻ được.
Ngoại trừ xem Hiến pháp là một khế ước ma mà chính quyền muốn độc tài xé bỏ
lúc nào cũng được.
- Thứ ba là ngay cả điều quái đản mà ông Chức nói ra có đúng chăng nữa
thì trong tập Hồi ký, tôi (và những “kẻ đứng sau” nào đó mà ông Chức cứ lố
bịch tưởng tượng là có thật) đã không chỉ dựa vào mỗi Hiến pháp đó để
phê bình chế độ Ngô Đình Diệm. Hiến pháp 1956, hiểu theo kiểu ông Chức
(nghĩa là không phản ánh bản chất của chế độ để có thể qua đó dùng làm chuẩn
mực phê phán) mà còn để lộ ra tính độc tài phản dân chủ như thế, thì trên
thực tế chế độ còn tráo trở hại dân hại nước đến mức độ nào.
Vừa nông cạn và ấu trĩ về luật lẫn chính trị, lại thủ đoạn phản dân chủ,
ông Chức cứ ngoan cố bình vực chế độ Ngô đình Diệm nên phản ứng bị điều kiện
hóa và chỉ làm thui chột, trì trệ trí óc mà thôi.
Nói tóm lại, Hiến pháp là văn bản công khai và là nền tảng quy chiếu luật
pháp của quốc gia mà ngay từ những ngày đầu của chế độ, những người đẻ ra nó
còn đưa vào đó một nội dung độc tài trắng trợn như thế thì trên thực tế, một
thực tế đã được bưng bít và che đậy bằng màng lưới công an mật vụ dày đặc,
người dân còn chịu thống khổ ngần nào, giá trị và vị thế con người còn có
nghĩa gì trước mặt kẻ cầm quyền. Một kẻ cầm quyền đang ngạo nghễ với cái
thuyết “nhân vị” trơ trẽn của mình!
Và cái thuyết Nhân vị đầu Ngô mình Sở đó, không có một giá trị nội tại
nào, không có một sức mạnh lịch sử nào, không xuất sinh từ thực tế đáy tầng
của dân tộc, không phù hợp với lòng dân và thời đại, không kết tinh được
thành những nguyên tắc chỉ đạo sinh động, cuối cùng đã bị hủy diệt theo chế
độ như một món đồ trang sức thô lỗ bị vùi sâu xuống hố thời gian.
-o0o-
Tuy hợp tác với ông Ngô Đình Diệm từ năm 1942 với tư cách một chiến hữu,
một cán bộ vào hàng kỳ cựu nhất, nhưng quả thật tôi cũng không nắm vững tiến
trình thành lập và phát triển của Đảng Cần Lao. Tôi chỉ biết rằng vào đầu
mùa Thu năm 1955, nhân kỷ niệm năm thứ nhất ngày chấp chánh của ông Diệm,
tôi được Tòa đại biểu Chính phủ Trung Việt mời ra Huế diễn thuyết tại rạp
Morin về đề tài “Chí sĩ Ngô Đình Diệm với chính nghĩa quốc gia”, và sau đó
tôi được ông Ngô Đình Cẩn mời đến nhà ở Phú Cam để tuyên thệ gia nhập Đảng
Cần Lao. Một bàn thờ tổ quốc để làm lễ tuyên thệ được thiết lập tại phòng
khách ngôi nhà chính của anh em ông Diệm, ngay trước bàn thờ có tượng Chúa
Giê-su, có đảng kỳ, chân dung ông Diệm, một cây gươm và chiếc lư hương đồng
trang trí cho bàn thờ. Về đảng kỳ, tôi không còn nhờ hình dáng, màu sắc,
nhưng tôi còn nhớ mãi ba lời thề gồm có: “Trung thành với Tổ quốc, trung
thành với lãnh tụ Ngô Đình Diệm, và trung thành với Đảng Cần Lao Nhân Vị”.
Ông Ngô Đình Cẩn mặc áo lương đen, bịt khăn đóng đứng cạnh bàn thờ đại diện
cho lãnh tụ giơ tay cao chấp nhận lời thề. Trước và sau đó cũng đã có rất
đông nhân vật cao cấp trong và ngoài chính quyền tuyên thệ vào đảng tại đây
và đều do ông Cẩn đại diện lãnh tụ chấp nhận lời thề. Trong số các sĩ quan
vào đảng Cần Lao tại Huế nghe nói có Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại tá Tôn Thất
Đính, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Vinh, Phùng Ngọc Trưng v.v...
Độ vài tháng sau thì chính ông Nhu ra Nha Trang chủ tọa buổi họp thành
lập “Quân ủy Cần Lao” trong quân đội như tôi đã kể trong một chương trước.
Tôi lại nghe nói vào cuối năm 1955 thì Trung ương Đảng Cần Lao Nhân Vị được
thành lập do ông Nhu giữ chức Tổng Bí thư đảng. Uỷ viên Trung ương đảng gồm
có các ông Trần Trung Dung, Lý Trung Dung, Hà Đức Minh, Trần Quốc Bửu, Võ
Như Nguyện, Lê Văn Đồng (hai ông Nguyện và Đồng hiện có mặt tại hải ngoại).
Vào khoảng đầu năm 1956, một Trung Tâm Nhân Vị được thiết lập tại Vĩnh
Long, vốn là giáo phận của Giám mục Ngô Đình Thục, do chính ông ta và một số
linh mục phụ trách quản lý cũng như giảng huấn. Công chức quân nhân phải lần
lượt đi thụ huấn lớp Nhân Vị ở Vĩnh Long nầy.
Vào những năm đầu của chế độ Diệm (khoảng 1956, 57) tại miền Nam, đi đâu
cũng nghe người ta nói đến thuyết Nhân Vị như ông Chu Bằng Lĩnh đã kể lại:
Chúng ta hẳn chưa quên đã có một thời kỳ vàng son của thuyết “Nhân Vị”,
thời kỳ vững chãi của chế độ Ngô Đình Diệm. Vào thời kỳ này, nói tới thuyết
Nhân Vị là nói tới một cái “mốt chính trị” của thời đại. Bất kỳ ở đâu cũng
nói tới hai chữ “Nhân Vị”. Người ta làm như nếu không hiểu biết thuyết Nhân
Vị thì không chống Cộng, cứu nước được. Lại nữa ở Vĩnh Long, ông giám mục
Ngô Đình Thục mở ra một Trung tâm huấn luyện cán bộ suốt lượt từ cấp Bộ
trưởng trở xuống về Nhân Vị. Chỉ có những người đã có mảnh bằng Nhân Vị ở
đây ra mới có cảm tưởng là nhân vị của mình từ nay tạm yên ổn với cơ quan
mật vụ của chế độ. Rồi những Giám Đốc, Chủ sự nào đó đã đi học “Nhân Vị”
Vĩnh Long về đều lên mặt hãnh diện cả, ra điều ta đã là cán bộ gạo cội của
chế độ rồi .
Đúng như ông Chu Bằng Lĩnh đã viết, thuyết Nhân Vị và Đảng Cần Lao ra đời
được dư luận bàn tán mỉa mai, chỉ trích ồn ào một thời gian rồi thuyết chìm
dần vào bóng tối quên lãng, không còn ai nhắc nhở đến nữa, còn Đảng Cần Lao
Nhân Vị thì biến thể để trở thành đảng “Cần Lao Công giáo”, gây thống khổ
điêu linh cho nhân dân miền Nam, và tạo môi trường thuận lợi cho Cộng sản
bành trướng.
Một trong những lý do chính yếu nhất khiến cho thuyết Nhân Vị bị chỉ
trích mạnh mẽ là tại Trung tâm huấn luyện Vĩnh Long cũng như trong các buổi
thuyết trình ở các địa phương, người ta chỉ được nghe các linh mục giảng dạy
gần như hoàn toàn về giáo lý Thiên Chúa giáo mà thôi. Các học viên cảm thấy
bị chế độ “lừa” đem về Vĩnh Long để bị thuyết phục theo Công giáo. Đó là
những dấu hiệu công khai đầu tiên của chế độ Diệm trong chính sách kỳ thị
tôn giáo và trong ý đồ Công giáo hóa miền Nam Việt Nam sau này.
Lý do quan trọng khác khiến cho đảng Cần Lao Nhân Vị bị mỉa mai, chỉ
trích là vì hầu hết những kẻ gia nhập Đảng đều không phải để theo đuổi và
sống chết cho một lý tưởng cách mạng mà chỉ vì muốn cúi mình theo sức mạnh
của chế độ để được mau thăng quan tiến chức, chỉ vì muốn được hưởng những
đặc quyền đặc lợi do chế độ ban bố. Từ đó, dư luận mỉa mai đảng Cần Lao là
đảng “Cao Lần” hay đảng Cần Lao Nhân Vị là đảng “Cần câu Ngân vị”. Nhưng
điều làm cho nhân dân căm thù uất hận chế độ và đảng Cần Lao hơn cả là chủ
trương chà đạp nhân vị người dân một cách có hệ thống của cấp lãnh đạo chính
quyền và của các đảng viên Cần Lao. Phê bình thuyết Nhân Vị của ông Ngô Đình
Nhu, giáo sư Buttinger đã viết:
“Cái thuyết giả tạo Nhân Vị đó không bao giờ trở thành được một chủ nghĩa
chính trị chân chính, tự do, nhân bản. Chủ thuyết này chỉ có thể được người
ta theo đuổi một cách trung thành nếu giới thanh niên trí thức và tất cả các
đảng phái chống Cộng được tham dự tự do vào đời sống chính trị của quốc gia”
.
Tuy nhiên vào những năm đầu của chế độ Diệm, tai họa do đảng Cần Lao Nhân
Vị gây ra cho nhân dân miền Nam chưa đến độ khủng khiếp và trắng trợn như từ
khi đảng Cần Lao Nhân Vị biến thể thàng đảng “Cần Lao Công giáo”. Tôi xin mở
dấu ngoặc ở đây để xác định rõ ràng rằng tôi không chủ quan và nhắm mắt tổng
quát hóa hiện tượng đó, nghĩa là tôi không nói đến toàn thể người Công giáo
tại miền Nam là “Cần Lao Công giáo”; bởi vì đã có rất nhiều người Công giáo
tại miền Nam từng xả thân chống đối hoặc đứng ngoài không ủng hộ chế độ Ngô
Đình Diệm, hơn nữa còn có nhiều người Công giáo lại là nạn nhân đau thương
của chế độ Ngô Đình Diệm là khác. Thật vậy, trước hết, đa số những người
Công giáo Nam phần (Nam Kỳ cũ) (dĩ nhiên ngoại trừ một số rất hiếm hoi các
linh mục và giáo dân theo Giám mục Ngô Đình Thục) đã quyết định không ủng hộ
ông Diệm. Việc này chính Chu Bằng Lĩnh (trong tác phẩm “Cần Lao Nhân Vị
Đảng”) và Jean Lacouture (trong tác phẩm “Le Vietnam entre deux Paix”,
Paris VIe, 1965) đã nói rõ. Thứ hai là một số hàng giáo phẩm và nhân vật
chính trị Công giáo Trung, Nam, Bắc đã chống đối hoặc bất hợp tác với chế độ
Ngô Đình Diệm và đảng Cần Lao mà tôi biết được như các Đức cha Lê Hữu Từ,
Đức cha Nguyễn Văn Hiền, các linh mục Quỳnh, Của, Vui, Dũng (đó là chưa kể
các linh mục trong nhóm Đường Sống), các nhân sĩ, chính khách tên tuổi như
các ông Lê Quang Luật, Trần Văn Lý, Nguyễn Tôn Hoàn, Trần Điền, Trần Trọng
Sanh, Trương Văn Huế, Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung,
Mai Ngọc Liệu... Ngay chính Giám mục Nguyễn Văn Bình, trong suốt thời kỳ cai
quản giáo phận Sài Gòn, vẫn ở vị thế độc lập không chạy theo quỳ lụy chế độ.
Đó là chưa kể rất nhiều người Công giáo ban đầu theo ông Diệm nhưng rồi phản
tỉnh trở thành đối lập với chế độ mà điển hình là ông Phan Xứng và Nguyễn
Thái, cựu Tổng Giám đốc Việt Tấn xã. Ông Nguyễn Thái là một nhà trí thức trẻ
tuổi đã hoạt động đắc lực cho ông Diệm thời ông Diệm còn ở Mỹ. Ông Thái
thuộc dòng dõi họ Nguyễn Hữu Bài có liên hệ thân tình với anh em ông Diệm,
thế mà phải bỏ chế độ ông Diệm lưu vong ra nước ngoài để viết sách phổ biến
cùng thế giới lên án chế độ. (Hiện ông Nguyễn Thái ở California). Nói tóm
lại chỉ có đại đa số người Công giáo miền Bắc và Liên khu Tư di cư và người
Công giáo miền Trung là theo chế độ Diệm để trở thành “Cần Lao Công giáo”.
Tại sao lại có tình trạng biến thể từ “Cần Lao Nhân Vị” ra “Cần Lao Công
giáo” đó ? Theo dõi tiến trình hình thành của Đảng Cần Lao, ta thấy gồm 3
giai đoạn:
Giai đoạn một bắt đầu vào năm 1953 khi ông Ngô Đình Nhu bí mật
khai sinh ra đảng “Cần Lao Nhân Vị” mà đa số cấp lãnh đạo trung ương đều là
những người không Công giáo như các ông Trần Văn Đỗ, Huỳnh Kim Hữu, Trần
Chánh Thành... Có lẽ lúc bấy giờ ông Nhu chỉ có ý định thành lập một tổ chức
theo công thức các đảng “Dân chủ Xã hội Thiên Chúa giáo” Âu châu, nhưng với
một chủ trương kết nạp những người không Công giáo vào đảng vì ông Nhu biết
rằng lịch sử Giáo hội Việt Nam và chính Công giáo Việt Nam đã từng bị mang
tiếng làm tay sai cho Tây, cũng như biết rằng trong khối Công giáo Việt Nam
không có những nhân vật chính trị cách mạng tên tuổi. Một yếu tố khá quan
trọng khác nữa là lúc bấy giờ, ông Nhu chủ trương lập Đảng để ủng hộ cho một
Ngô Đình Diệm sẽ về làm Thủ tướng dưới chế độ quân chủ đại nghị của Quốc
trưởng Bảo Đại mà thôi, chứ chưa hề có ý nghĩ truất phế vua Bảo Đại. Nói
cách khác ông Nhu chỉ nghĩ đến hình thức một Đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo
đấu tranh nghị trường để cầm quyền kiểu Tây Đức với lãnh tụ như Adenauer làm
Thủ tướng.
Giai đoạn hai kể từ năm 1955, khi ông Diệm đã về chấp chánh và
củng cố được quyền lực thì hai ông Nhu, Cẩn chính thức tổ chức đảng Cần Lao
Nhân Vị với chủ trương lấy những tín đồ Công giáo làm chủ lực nòng cốt,
nhưng vẫn tiếp tục thu nạp và san sẻ quyền hành không quan trọng với những
người khác tôn giáo để trình bày một bộ mặt chính trị đoàn kết, dù lúc bấy
giờ số mạng của Quốc trưởng Bảo Đại đã được định đoạt và các đảng phái đã bị
tiêu diệt. Sở dĩ lấy thành phần Công giáo làm chủ lực là vì sau cuộc di cư
năm 1954, hầu hết người Công giáo miền Bắc và miền Trung đã là hậu thuẫn
vững chắc cho chế độ Diệm rồi. Và sở dĩ chưa quyết liệt Công giáo hóa toàn
bộ đảng là vì chế độ còn gặp nhiều khó khăn trong công cuộc kiến thiết quốc
gia và guồng máy chính quyền còn yếu ớt, đòi hỏi sự đóng góp của nhiều trí
thức, nhiều chuyên viên, nhất là nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội mà đại
đa số là tín đồ của các tôn giáo khác.
Giai đoạn ba bắt đầu vào cuối năm 1957 khi anh em ông Diệm tin
tưởng rằng chế độ của họ đã thực sự vững vàng rồi, và họ phải có một chủ lực
thuần nhất sắt đá, hoàn toàn trung kiên để đi đến việc “ Công giáo hóa” miền
Nam là mục đích tối hậu của nhà Ngô - do đó mà Đảng Cần Lao Nhân Vị biến
thành đảng “Cần Lao Công giáo”, lấy tôn giáo như yếu tố ưu tiên và độc nhất
làm cơ sở cho mọi chính sách, nhất là chính sách nhân sự, nên đảng viên gồm
toàn là những tu sĩ và giáo dân. Cũng từ đó, những đảng viên Cần Lao Nhân Vị
không Công giáo bắt đầu bỏ đảng, không còn liên hệ gì nữa như các ông Võ Như
Nguyện, Tôn Thất Xứng, Lê Văn Nghiêm... và tôi. Những nhân vật từng cộng tác
với chế độ Diệm vào thời khó khăn lúc đầu như bác sĩ Huỳnh Kim Hữu, Trần Văn
Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên cũng xa lánh rồi chống đối nhà Ngô (bác sĩ Đỗ sau này
gia nhập nhóm Caravelle, ra tuyên ngôn chống đối chính sách độc tài của chế
độ Diệm).
Phân tích về quá trình ba giai đoạn phong trào của Đảng Cần Lao Công giáo
như đã nói ở trên, ta thấy nổi bật lên 2 điểm rất rõ ràng: Thứ nhất là ngay
từ đầu, ông Ngô Đình Nhu đã lấy triết lý Duy Linh của Kitô giáo làm cốt
tủy cho chủ đạo và chủ thuyết của đảng, cũng như lấy hình thái tổ chức
của một lực lượng chính trị Thiên Chúa giáo Tây phương làm khuôn mẫu tổ
chức, mà bộ phận ngoại vi rõ ràng nhất là Tổng Liên đoàn Lao động Công giáo
trong giai đoạn một. Điểm thứ hai thuộc về sách lược, là để tiến đến mục
đích tối hậu “Công giáo hóa Việt Nam”, con đường duy nhất là nắm chặt và
sử dụng quyền chính như một vũ khí truyền giáo ở giai đoạn ba.
Thật ra, thành lập một đảng chính trị với một chủ đạo phát xuất từ một
triết lý tôn giáo không có gì là sai lầm và xấu xa, nếu không muốn nói là
một điều nên làm vì tôn giáo nào, ở phần tinh túy nhất của nó, cũng tìm cách
giải thoát và thăng hoa con người cả. Nhưng nó chỉ trở nên độc hại ghê gớm
khi đảng đó cho tôn giáo của mình ngôi vị độc tôn bằng phương sách đàn áp
hủy diệt các tôn giáo khác (trên mặt nhân văn) và độc tài khống chế sinh
hoạt của quốc gia (trên mặt chính trị). Vì điều đó chỉ làm hủy hoại sinh lực
của dân tộc, tiêu hủy khả năng phát triển của quốc gia và kéo tổ quốc ra
khỏi đà tiến hóa của thời đại để trở về thời quân chủ độc tài phong kiến mà
thôi. Đó là điều Cộng sản Việt Nam đang làm và sẽ thất bại như anh em Diệm,
Nhu, Cẩn đã từng thất bại.
Đảng Cần Lao Nhân Vị, vì tham vọng độc tôn của nó, đã biến thành đảng
“Cần Lao Công giáo” và trao cho một số chức sắc trong hàng giáo phẩm những
đặc quyền chính trị siêu chính phủ. Điển hình rõ ràng nhất là trường hợp của
giám mục Phạm Ngọc Chi và một số các linh mục khác, chỉ nhờ chiếc áo chùng
đen, bỗng trở thành những vị lãnh chúa, điều động các đảng viên Cần Lao Công
giáo đem áp bức, khổ nhục trải khắp miền Nam Việt Nam, mà đặc biệt là tại
miền Trung và Cao Nguyên Trung phần.
Giám mục Phạm Ngọc Chi là ai ? Thời toàn dân kháng Pháp (1946-1954), ông
là một giám mục đã đưa cả giáo phận Bùi Chu làm công cụ cho quân đội viễn
chinh Pháp (trái hẳn với chủ trương quốc gia của giám mục Lê Hữu Từ ở Phát
Diệm). Khi quân Pháp rúi lui bỏ vùng Nam Bắc Việt, Phạm Ngọc Chi đã dẫn 3
linh mục đến Nam Định quỳ xuống trước mặt đại tá Vanuxem để xin họ ở lại
đừng bỏ đi. Phạm Ngọc Chi tuy theo Tây nhưng còn theo tiền nữa nên cũng đã
bị cả tướng De Lattre De Tassigny (trong Historia số 25) và Bảo Đại
(trong “Le Dragon d’Annam”) mô tả là tay làm áp phe chuyên nghiệp.
Khi mới di cư vào Nam, Phạm Ngọc Chi mưu đồ thành lập “Tập đoàn Công
dân” (một đảng chính trị gồm toàn người Công giáo) nhưng bị anh em
ông Diệm, trong chủ trương “độc đảng”, bắt buộc “Tập đoàn Công dân phải giải
tán nên từ đó giám mục Phạm Ngọc Chi gia nhập đảng Cần Lao và được Ngô Đình
Cẩn cho đứng chung làm đồng chủ tịch. Phạm Ngọc Chi đã từng đi Mỹ tuyên
truyền cho đảng “Cần Lao Công giáo” và được giới Thiên Chúa giáo Mỹ giúp đỡ
tiền bạc rất nhiều và cũng chính giám mục Phạm Ngọc Chi đã vận động thành
lập toà lãnh sự Mỹ tại Huế. Sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, ngôi sao Phạm
Ngọc Chi bị lu mờ một thời gian nhưng rồi cũng trở lại với địa vị lãnh chúa
dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu như William J. Lederer đã mô tả trong “Our
Own Worst Enemy”.
Vào những năm vàng son của chế độ Diệm, tuy nhân dân đã sống dưới chế độ
hà khắc độc tài rồi, nhưng từ khi đảng “Cần Lao Nhân Vị” biến thành đảng
“Cần Lao Công giáo” thì dân miền Nam mới thực sự sống trong cảnh địa ngục
trần gian như ông Lê Quân, một giáo sư Đại học Huế, đã viết:
Sự xây dựng một chủ thuyết chính trị để chống Cộng không phải là một điều
sai, trái lại nó là điều cần thiết nữa là đằng khác. Tuy nhiên vấn đề là chủ
thuyết đó phải được đặt trên căn bản nào. Một chủ thuyết không đặt trên tinh
thần dân tộc mà lại khống chế tinh thần quốc gia và đời sống chính trị của
con người như thế thì chỉ tạo nên một “giấc mộng hãi hùng” chứ đừng nói đến
việc chống Cộng .
Là giấc mộng hãi hùng vì Đảng Cần Lao (cũng như tất cả các tổ chức chìm
khác của anh em ông Diệm) đều biến thành những tổ chức khống chế và kiểm
soát nhân dân theo kiểu Cộng sản như Stanley Karnow đã nói. Là giấc mộng hãi
hùng vì “nơi nào có ảnh hưởng của Cần Lao thì ở đó tinh thần của quân đội
và nhân dân bị suy sụp và khả năng bị tiêu tan” . Là giấc mộng hãi hùng vì lời thề sắt đá
của đảng viên “Cần Lao Công giáo” khác hẳn với lời thề của đảng viên “Cần
Lao Nhân Vị” là : (1) Tiêu diệt Cộng sản vô thần, (2) Tiêu
diệt các đảng phái quốc gia “phản loạn”, và (3) Tiêu diệt Phật giáo
“ma quỷ” để làm sáng danh Chúa và để ủng hộ lãnh tụ Ngô Đình Diệm
.
Trong 8, 9 năm trời ngự trị trên đất nước quê hương, chế độ Ngô Đình Diệm
và Đảng Cần Lao Công giáo đã đưa ra nhiều chính sách hà khắc, nhiều biện
pháp thất nhân tâm mà nhiều tài liệu đã đề cập đến rồi. Ở đây tôi xin đề cập
một phần chính sách “Công giáo hóa” bộ máy chính quyền song song với sách
lược “Công giáo hóa nhân dân”. (Tôi sẽ đề cập thêm chính sách “Công giáo hóa
miền Nam” trong Chương XV, “Biến cố Phật giáo 1963”).
Khi mới cầm chính quyền, vì còn gặp nhiều khó khăn chống đối, vì còn bỡ
ngỡ trước tình thế phức tạp của đất nước, anh em ông Diệm còn sử dụng nhân
sự không Công giáo trong các cơ cấu chính quyền và quân đội, nhưng dần dân
khi chế độ đã vừng vàng, họ mới bắt đầu đặt những người Công giáo vào thế
chỗ những người của tôn giáo khác, bắt đầu từ những cơ quan quan trọng
trước.
Ví dụ như trong Lực lượng Đặc biệt, họ đặt các sĩ quan Lê Quang Tung, Lê
Quang Triệu, Trần Hữu Kính; trong Công An, họ đặt hai phụ tá là Dương Văn
Hiếu và Nguyễn Văn Hay (dưới quyền đại tá Nguyễn Văn Y). Chính Dương Văn
Hiếu mới là nhân vật cốt cán trong ngành công an vì y phụ trách Công tác Đặc
biệt, nghĩa là phụ trách việc tình báo, phản gián, bắt người, giết người,
tiêu diệt đối lập. Trong Bộ Quốc phòng thì có cháu rể là ông Trần Trung Dung
và Tổng giám đốc nha Hành Ngân kế Bộ Quốc phòng là ông Nguyễn Đình Cẩn (Bí
thư Cần Lao ở Sài Gòn) để phụ trách làm kinh tài cho nhà Ngô; Nha Nhân viên
thì họ đặt Trung tá Kỳ Quang Liêm thay Đại tá Đinh Sơn Thung. Trong Quốc hội
thì chủ tịch luôn luôn là một nhân vật Công giáo, đa số dân biểu đều là
người Công giáo. Đứng đầu tổ chức kinh tài trung ương là dân biểu Nguyễn Cao
Thăng, người Công giáo Phú Cam, đặc trách về ngành thuốc O.P.V. thao túng
việc xuất nhập cảng thuốc Tây. Ngành dân vệ thì do Trung tá Trần Thanh Chiêu
chỉ huy, một người Công giáo Quảng Nam đã phạm lỗi lầm chiến thuật khiến cho
sư đoàn 13 bị Việt Cộng đánh cho thảm bại tại Tây Ninh.
Cho đến đầu năm 1963, tất cả Tỉnh trưởng, Thị trưởng miền Trung và miền
Cao Nguyên đều nằm trong tay người Công giáo Bắc và Trung, trừ Thị trưởng Đà
Lạt là ông Trần Văn Phước, Tỉnh trưởng Thừa Thiên là ông Nguyễn Văn Đẵng và
Tỉnh trưởng Phú Yên là thiếu tá Dương Thái Đồng.
Thiếu tá Dương Thái Đồng (hiện ở Mỹ) do chính tôi đề cử với Tổng thống
Diệm. Đồng là một sĩ quan ưu tú, có trình độ văn hóa cao, xuất thân từ
trường Võ bị và đã từng tu nghiệp tại Mỹ. Đồng có kinh nghiệm chiến đấu đa
diện tại chiến trường Bắc Việt trước 1954, và từng chỉ huy các đơn vị Pháo
binh chiến đấu ở miền Nam. Khi Đồng đi nhận chức Tỉnh trưởng, ông ta có nhã
ý đến chào tôi. Tôi khuyên Đồng phải giữ đúng phong cách “Cần, Kiệm, Liêm,
Chính” của một vị Tỉnh trưởng. Tôi cho Đồng biết ở Phú Yên có hai thế lực
rất mạnh, một thế lực nổi của chính quyền là nhóm Cần Lao do linh mục Tô
Đình Sơn lãnh đạo làm mưa làm gió ở tỉnh này, và một lực lượng bí mật đối
lập với chính quyền là lực lượng Đại Việt của cụ Trương Bội Hoàng. Thế mà
chỉ mới nhận chức độ vài tháng, chưa phạm lỗi lầm gì, Đồng đã bị nhóm Cần
Lao Tô Đình Sơn vận động với Tổng thống Diệm và ông Ngô Đình Cẩn hạ tầng
công tác thuyên chuyển đi nơi khác. Thay thế Đồng là Trung tá Nguyễn Hoài.
Kinh nghiệm của Hoài là Trưởng phòng Tài chính cho Nha Tổng giám đốc Bảo an,
Hoài chưa hề tác chiến và chỉ có bằng tiểu học, nhưng vì Hoài là người Công
giáo, có em làm linh mục nên được Cần Lao nâng đỡ.
Về chức Tỉnh trưởng Thừa Thiên và Thị trưởng Thành phố Huế, đã có lần ông
Diệm bổ nhiệm ông Nguyễn Đình Cẩn giữ chức vụ quan trong đó. Thừa Thiên và
Huế là Thủ đô văn hóa của miền Trung, có nhiều nhân sĩ, trí thức, khoa bảng
lại là nơi mà dân số có hơn 90% theo Phật giáo ông Cẩn lại là người Công
giáo, nguyên chỉ là một thư ký tòa Sứ thời Pháp thuộc, cho nên đã phạm một
số lỗi lầm bị dân chúng Huế bất hợp tác. Do đó mà chính quyền đành phải thay
thế ông Nguyễn Đình Cẩn bằng một Tỉnh trưởng theo đạo Phật là ông Nguyễn Văn
Đẵng. Và vì Tỉnh trưởng là người theo đạo Phật cho nên nhà Ngô mới đặt một
Phó Tỉnh trưởng Nội An là Đặng Sĩ người đã có thành tích chống Phật giáo
hung hãn tại Quảng Trị lúc y còn làm Trung đoàn trưởng ở sư đoàn I dưới
quyền Đại tá Tôn Thất Xứng (hiện ở Canada). Biến cố Phật giáo tháng 5 năm
1963 xảy ra, Thiếu tá Nguyễn Mâu, người Công giáo quê tỉnh Khánh Hòa, được
Tổng thống cử thay thế Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẵng để đàn áp Phật giáo. Nói
tóm lại, cho đến năm 1963, trừ Thị trưởng Đà Lạt là người theo Phật giáo,
tất cả Tỉnh, Thị trưởng tại miền Trung và Cao Nguyên đều là tín đồ Công
giáo.
Tại Nam phần, vì sự hiện diện phức tạp của nhiều tôn giáo như Cao Đài,
Hòa Hỏa, Phật giáo, Phật giáo nguyên thủy... và đời sống tín ngưỡng có mức
độ nồng nàn sôi nổi một cách thần bí của những Đạo Dừa, Đạo Khăn Trắng, Bà
Chúa, Ông Đồng... cho nên chính quyền Ngô Đình Diệm còn dè dặt trong chính
sách Công giáo hóa bộ máy cai trị. Tuy nhiên ông Diệm cũng đã bổ nhiệm một
số Tỉnh trưởng Công giáo ở những tỉnh, quận như Gia Định, Bình Tuy, Định
Tường, Phước Long, Long Khánh, Kiến Hòa, Phước Thành, Vĩnh Long v.v...
Tại Đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn, vì đã có ông Diệm và bộ máy Cần Lao Công
giáo Trung ương ở đó nên không gấp gáp có một Đô trưởng Công giáo. Tuy nhiên
đa số những Quận trưởng cảnh sát đều là người Công giáo và vị Phó Đô trưởng
kiêm thủ lãnh Thanh niên Cộng Hòa Đô thành là Trung tá Nguyễn Văn Phước thì
không những là một tín đồ Công giáo ngoan đạo mà còn sinh đẻ tại Thừa Thiên.
Về phía quân đội thì khi ông Diệm mới chấp chánh, chỉ có một mình tướng
Trần văn Minh là người Công giáo, ngay cả số sĩ quan cấp tá theo Công giáo
cũng như lá mùa thu, cho nên anh em ông Diệm đã phải thăng cấp thật mau và
đặt những chức vụ quan trọng vào tay những sĩ quan Công giáo như tướng Huỳnh
Văn Cao, các sĩ quan cấp tá như Nguyễn Bảo Trị, Lâm Văn Phát, Trần Thanh
Chiêu, Bùi Đình Đạm, Trần Văn Trung, Trần Ngọc Huyến, Nguyễn Văn Châu, Kỳ
Quang Liêm, Nguyễn Ngọc Khôi, Lê Quang Trọng, Nguyễn Thế Như, Huỳnh Công
Tịnh, Nguyễn Văn Thiệu, Ngô Du v.v... những sĩ quan được đặc cách thăng
thưởng mau nhất trong quân đội Việt Nam Cộng hòa, mà mau nhất là tướng Huỳnh
Văn Cao và Lê Quang Tung. Tướng Nguyễn Khánh thời làm Tham mưu trưởng đã có
lần đề nghị cất chức tư lệnh quân đoàn 4 của tướng Huỳnh Văn Cao vì lý do
thiếu khả năng, nhưng không được vì anh em ông Diệm hết sức tín nhiệm và che
chở cho ông Huỳnh Văn Cao. Theo tôi biết thì anh em ông Diệm muốn “thổi”
Huỳnh Văn Cao lên thật mau để trong tương lai Cao nắm chức Tổng Tham mưu
trưởng quân đội thay tướng Lê Văn Tỵ. Họ đã dám đưa những sĩ quan bất tài,
suốt thời gian tại ngũ chưa từng chỉ huy đơn vị tiểu đoàn để giữ chức vụ sư
đoàn trưởng như trường hợp Trần Thanh Chiêu và Bùi Đình Đạm chẳng hạn, thì
việc đưa ông Huỳnh Văn Cao giữ chức Tổng Tham mưu trưởng quân lực là việc
không thể không xảy ra. Chưa kể những yếu tố khác, chỉ với chính sách Công
giáo hóa Quân đội mà thôi đã gây bất mãn cho hàng ngũ sĩ quan, cho nên những
binh biến do chính quân nhân tổ chức đã liên tiếp xảy ra từ 1960 đến 1963.
Dựa vào thiểu số 10% Công giáo để thao túng và áp bức đại khối dân tộc tự
căn bản đã là một sai lầm trầm trọng, đã là một chính sách thất nhân tâm có
khác gì Cộng sản ngày nay dựa vào 1 triệu đảng viên để thống trị hơn 50
triệu dân Việt Nam, có khác gì thời thực dân chỉ có 5, 7 ông Tây mà cai trị
toàn dân cả tỉnh. Huống gì cái thiểu số đó lại là thiểu số nặng đầu óc
phe phái, hẹp hòi, giáo điều và mang rất nhiều mặc cảm tội lỗi, cái tội
lỗi lịch sử đã theo Tây phản dân hại nước khiến cho các nhà cách mạng phải
kêu gọi toàn dân rằng:
Sự đấu tranh thực tiễn của nòi giống trên lịch sử mấy chục năm trời có
chứng cớ sắt máu, phải tỏ rõ cho chúng ta, người sau, biết cái gian nan,
khốn khổ, nhọc nhằn, sỉ nhục, thảm họa của sự vật lộn sống còn chung trong
một lúc tự động tổng động viên của toàn dân phản Pháp xâm lược và phản
Gia Tô, phản Việt gian trên tất cả cái nhộn nhịp cảm động, uất ức của
toàn dân vi binh, toàn địa vi phòng, toàn tài vi dụng .
Rõ ràng như thế nhưng ngoan cố không chịu chấp nhận và hối cải, cái thiểu
số đó đã trút tất cả những ẩn ức tâm lý trên sinh mạng đồng bào bằng thái độ
bệnh hoạn qua các chính sách áp bức độc tài.
Vì thế suốt chín mười năm nhà Ngô và Đảng Cần Lao ngự trị tại miền Nam,
ngoại trừ một thiểu số thống trị với tất cả đặc quyền đặc lợi, còn thì nhân
dân đã phải sống khổ nhục sợ hãi không khác gì nhân dân miền Bắc đã phải
sống dưới chế độ Cộng sản của Hồ Chí Minh.
Đầu năm 1971, trước cuộc hồi sinh của những phần tử Cần Lao để lũng đoạn
chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ông Chu Bằng Lĩnh viết tác phẩm “Đảng Cần
Lao” để lên án chế độ Diệm. Ông Chu Bằng Lĩnh là ký giả kỳ cựu, người
Bắc di cư, là một nhà văn, nhà báo, từng theo dõi hoạt động chính trị, nắm
vững tình hình Việt Nam ngay từ thời Pháp thuộc. Lúc ông Diệm mới về nước
cầm quyền, phần vì được trang bị tinh thần chống Cộng, phần vì tưởng lầm ông
Diệm là người chân thành yêu nước nên ông đã cùng với một nhóm nhà văn, nhà
báo tên tuổi như Tam Lang, Hiếu Chân, Như Phong, Vũ Khắc Khoan... thành lập
nhóm Tự Do để ủng hộ cho ông Diệm và đã liên hệ khá chặt chẽ với bác sĩ Trần
Kim Tuyến. Không ngờ càng ngày chế độ Diệm và Đảng Cần Lao càng đi sâu vào
con đường tội lỗi để đến nỗi ngay cả những nhân vật trong nhóm Tự Do kẻ thì
xa lánh chế độ, kẻ thì bị bắt giam.
Chúng ta hãy nghe một lời oán trách Cần Lao của nhà văn Chu Bằng Lĩnh:
Một giai đoạn đẫm máu tiếp theo đó! Nhân danh Cần Lao, biết bao vụ trả
thù, trả oán đã được thực hiện, bao nhiêu sinh mạng người dân vô tội đã bị
chết oan và thảm khốc. Và sau một năm trời triệt để “tiêu diệt phản loạn”
(đảng phái quốc gia), các cán bộ lãnh đạo miền Trung lại báo cáo lên ông Cẩn
“bọn phản loạn đã rút vào ẩn nấp hết, xin chỉ thị hành động”, và chỉ thị của
Cẩn được ban xuống từ trên chiếc sập gụ to lớn, trước cơi trầu đang nhai lẻm
bẻm: “Tiêu diệt cho hết bọn ma quỷ” (Ngô Đình Cẩn ám chỉ bọn ma quỷ là những
người theo đạo Phật) và giai đoạn đổ máu lại được tiếp diễn, lần này thảm
khốc và ác liệt gấp chục lần trước. Lần này những vụ tàn sát tập thể đã xảy
ra, nhân danh Cần Lao diệt trừ Cộng Sản nằm vùng.
Mối thâm thù máu lệ giữa một số đảng phái
quốc gia và tôn giáo miền Trung với chế độ nhà Ngô khởi sự từ đó. Trong lúc
Cẩn vẫn ngồi chễm chệ trên chiếc sập gụ nhai trầu và ra lệnh cho nhóm tay
chân, thì dân miền Trung cũng đã ý thức được rõ rệt thế nào là “Đảng Cần
Lao” và “ai” thực sự lãnh đạo tất cả các cuộc tàn sát khủng khiếp nhân danh
ông Cậu và nhân danh chống Cộng.
Gieo gió gặt bão, các vụ tàn sát hồi tết Mậu
Thân vừa qua cũng chỉ là sự “trả quả” của cuộc tàn sát nhân danh Cần Lao
trước đây. Ngồi tại Dinh Độc Lập, Ngô Đình Diệm có ngờ đâu em mình đã nhân
danh Cần Lao mà nhúng tay vào máu khủng khiếp đến thể....
Cái giấc mộng hãi hùng do đảng Cần Lao Công giáo của chế độ Ngô Đình Diệm
gây ra không chỉ làm kinh khiếp những người lương dân khi đất nước chưa rơi
vào tay Cộng sản Hà Nội, mà 20 năm sau vẫn còn đeo đuổi, ám ảnh mãi những
người lưu vong nơi xứ người sau 1975. Biết bao nhiêu người đã viết về thảm
họa dân tộc dưới chế độ Diệm, ở đây tôi xin nhắc lại một đoạn trong “bản án”
kết tội chế độ Ngô Đình Diệm của chiến sĩ cách mạng miền Trung là ông Lê
Nguyên Long, một chứng nhân của thời đại:
... Trong suốt 9 năm ông Diệm cầm quyền, thời gian đó ở nông thôn, cơ
quan nào cũng có thể bắt người. Công an bắt người, Xã trưởng bắt người, Quận
trưởng bắt người, An ninh Quân đội bắt người, và cả Phong trào Cách mạng
Quốc gia (ra đời từ nhà Ngô) cũng bắt người rồi giao cho công an trừng trị.
Nhưng ghê gớm nhất là “Đoàn mật vụ miền Trung” do Ngô Đình Cẩn đỡ đầu. Đó là
đoàn hung thần toàn quyền sinh sát. Đoàn có quyền đi khắp nơi, đến đâu địa
phương phải tiếp rước chu đáo. Đoàn cần bắt ai thì giao cho công an đi bắt,
bất kỳ đêm ngày. Nếu nạn nhân bị tra tấn chết thì quận trưởng và công an
phải lập biên bản hợp thức hóa sự chết. Và bị bắt không cần phải có chứng
cớ, chỉ cần bị nghi chống chính phủ là bị bắt (tại Long Beach, California,
có đồng hương từ ngày vào đất Mỹ đến nay vẫn nằm bẹp ở nhà vì bệnh cũ tái
phát, hậu quả sự tra tấn tàn độc của mật vụ Diệm).
Cộng Sản độc quyền ái quốc, ai khác mình là phản động, Việt gian, thì ông
Diệm cũng độc quyền chống Cộng, ai khác mình là Cộng sản, phải giết ! Đã
biết bao người chống Cộng, đã từng bị Cộng sản giam cầm, đến khi ông Diệm
cầm quyền thì hồ sơ của họ lại trở thành là những người hoạt động cho Cộng
Sản ! Biết bao đảng viên Quốc dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân một sớm một chiều
hồ sơ của họ biến thành Cộng Sản, di hại cho tới mãi sau khi ông Diệm đổ.
Cộng sản có chủ thuyết Mác-Xít, giai cấp đấu tranh thì ông Diệm cũng rán nặn
ra cái chủ thuyết Nhân Vị nhưng hoàn toàn vô vị (vô vị vì ngoài tay chân ông
Diệm ra, toàn dân có ai để ý hoặc tìm hiểu thuyết Nhân Vị là gì đâu?). Có
thể nói rằng, trừ chế độ Cộng sản ra chưa có một chế độ quốc gia nào ở Việt
Nam đàn áp, thủ tiêu, áp sát, bắt cóc, tra tấn, cầm tù hàng vạn người quốc
gia cũng như tu sĩ các tôn giáo như thời Diệm. Trừ Cộng sản ra chưa có chế
độ nào thẳng tay đàn áp đối lập để củng cố địa vị như chế độ Diệm, chưa có
một chế độ nào phản dân chủ và khinh thị, lợi dụng nhân dân làm cái bung
xung như chế độ Diệm... Tất cả những ai chỉ ở Thủ đô hoặc các thành phố lớn
khó lòng thấy rõ chính sách gian ác, hành động bất nhân, phản dân hại nước
của chế độ Diệm mà phải quan sát ở các quận, tỉnh, nông thôn (90%) lãnh thổ
toàn quốc mới thấy rõ tội ác tay chân nhà Ngô mà một thời đã có người nói
“Trúc Nam Sơn không thể chép hết tội, nước muôn sông không thể rửa hết
nhơ”....
Khai sinh, nuôi dưỡng và thúc đẩy một lớp người nhắm mắt chạy theo quyền
uy vào con đường tội lỗi qua Đảng Cần Lao vẫn chưa phải là cái tội lớn nhất
của chế độ Diệm. Cái tội lớn nhất là đã vì sự độc tôn, độc tài, kiêu ngạo
của mình mà làm suy nhược và di hại sinh lực của dân tộc, một sinh lực đã
được thử thách và trui luyện từ bao nhiêu thế hệ của tiền nhân, một sinh lực
tối cần thiết cho giai đoạn trực diện với kẻ thù Cộng sản.
Sinh lực dân tộc bị chấn động nguy hiểm nhất qua hai chính sách quyết
liệt của chế độ Ngô Đình Diệm là gây mâu thuẫn tôn giáo và tiêu
diệt các đảng phái quốc gia mà biểu hiện rõ ràng nhất là ”... hậu quả
sai lầm của chế độ Diệm là một xâu tướng tá lên nắm quyền chính trị và các
tôn giáo thì sát phạt nhau...” .
Gây mâu thuẫn tôn giáo là phá hoại cái sức mạnh “dung để hóa, hóa để
hòa,” vốn là sức mạnh truyền thống đã giúp dân tộc vượt thắng mọi cuộc xâm
lăng văn hóa và nhân văn của các đế quốc. Tiêu diệt các đảng phái quốc gia
là phá hoại quyết tâm đề kháng và tiềm lực đấu tranh của các lực lượng dân
tộc yêu nước không Cộng sản. Cho nên, vì nắm lấy độc quyền tôn giáo và độc
quyền chính trị, nhà Ngô khi nằm xuống đã để lại một hậu quả lâu dài và sâu
sắc, hậu quả đã làm cho miền Nam kiệt quệ ý chí và sức mạnh để đương đầu với
Cộng Sản. Sau chế độ độc tài Ngô Đình Diệm là chế độ quân phiệt Nguyễn Văn
Thiệu, một chế độ Diệm không Diệm, vì cũng lại do một số “Cần Lao Công giáo”
cũ len lỏi tránh né để ẩn náu trong chính quyền và khuynh loát sức mạnh Quốc
gia. Miền Nam thua Cộng sản năm 1975 cũng chỉ là kết quả tất yếu cuối
cùng của một chuỗi hệ quả dây chuyền mà đầu mối tác hại là sự thành hình của
một tổ chức ma quái tên là “Cần Lao Nhân Vị”.
Nhìn lại lịch sử với nhiều tiếc nuối và ân hận, ta thấy rằng nếu anh em
ông Diệm chủ trương hòa đồng mọi tôn giáo và hợp tác các đảng phái, thực
hiện một cuộc đại đoàn kết quốc gia như thời nhà Trần thì chắc chắn quân
Cộng Sản Bắc Việt đã phải chịu số phận như quân Mông Cổ xưa kia rồi. Cho nên
trong sự tiếc nuối và ân hận đó, tôi muốn khơi lại một ít sự kiện lịch sử về
số phận các đảng từng có công với quê hương dân tộc mà bị anh em ông Diệm
tiêu diệt.
Từ trước khi anh em ông Diệm nắm chính quyền vào năm 1954, chúng ta đã có
những đảng cách mạng như Việt Nam Quốc Dân Đảng của anh hùng Nguyễn
Thái Học, Đại Việt Quốc Dân Đảng của nhà cách mạng Trương Tử Anh,
Đại Việt Duy Dân Đảng của thiên tài triết học Lý Đông A, Việt Nam Dân
Chủ Xã hội Đảng của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, Việt Nam Phục Quốc Đảng
của Cao Đài được lãnh đạo bởi các chiến sĩ Phạm Công Tắc, Nguyễn Văn Sâm và
Trần Quang Vinh, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh hội của Chí sĩ Nguyễn
Hải Thần, Đại Việt Quốc Xã Đảng của lãnh tụ Nguyễn Xuân Tiếu, Đại
Việt Dân Chính của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam... Và trong khi
anh em ông Diệm còn làm quan, làm công chức cho chế độ bảo hộ Pháp, cho Nam
triều mục nát để vinh thân phì gia thì các đảng cách mạng nói trên đã anh
dũng xã thân chiến đấu chống thực dân xâm lăng. Từ năm 1945-46, khi anh em
ông Diệm ẩn náu, trốn tránh ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, và Vĩnh Long trong những
vùng an ninh do quân đôi Pháp chiếm đóng, hoặc từ năm 1950, khi anh em ông
Diệm đi ra nước ngoài cầu cạnh ngoại bang ủng hộ cho về nước cầm chính
quyền, thì các đảng cách mạng nói trên lại phải đương đầu thêm với một kẻ
thù nữa là Cộng Sản. Biết bao nhiêu chiến sĩ của các đảng cách mạng đó đã bị
Cộng Sản tiêu diệt, đã hy sinh cho chính nghĩa dân tộc: Lãnh tụ Lý Đông A đã
hy sinh khi còn cầm quân chống lại Việt Minh tại Hòa Bình (Bắc Việt), lãnh
tụ Trương Tử Anh bị Việt Minh sát hại ngay tại Hà Nội, lãnh tụ Huỳnh Phú Sổ
bị lừa giết ngay tại miền Tây Nam phần, lãnh tụ Nguyễn Văn Sâm bị thủ tiêu
ngay tại Tây Ninh, các lãnh tụ Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh của Việt
Quốc, cụ Nguyễn Hải Thần, ông Tạ Nguyên Minh của Việt Cách và nhiều đồng chí
của họ đã phải lưu vong qua Tàu tìm phương thế phục quốc... Thế mà khi có
quyền lực trong tay, anh em ông Diệm không nghĩ đến lòng yêu nước, quyết tâm
hy sinh, sự nghiệp đấu tranh cao cả của những nhà ái quốc đó, mà lại đang
tâm đàn áp, khủng bố, giam cầm, sát hại những đồng chí, đảng viên của họ,
đang tâm tiêu diệt những tổ chức đang nối tiếp sự nghiệp cách mạng to lớn
của tiền nhân.
Vì mù quáng và hẹp hòi chỉ cho tập đoàn của mình là lực lượng chống Cộng
duy nhất, chế độ Diệm đã tiêu diệt các đảng phái. Vì độc tài và độc tôn,
không muốn san sẻ quyền làm chủ đất nước với bất cứ một ai, chế độ Diệm đã
tiêu diệt các đảng phái. Vì chỉ biết nương dựa vào ngoại bang mà không thèm
đếm xỉa đến sức mạnh siêu việt của nhân dân, chế độ Diệm đã tiêu diệt các
đảng phái. Và cuối cùng, vì không nắm vững truyền thống dựng nước và quy
luật giữ nước của cha ông, chế độ Diệm đã tiêu diệt các đảng phái.
Vì không nhân nghĩa và thiếu cả liêm sỉ, anh em ông Diệm quên mất cái
thời họ đã phải nương nhờ và vay mượn uy thế của các đảng phái để gây tên
tuổi cho mình như năm 1946 tại Hội nghị Đoàn Kết ở Sài Gòn. Anh em ông Diệm
cũng quên mất công lao của anh em Việt Quốc, tiêu biểu bởi các ông Nguyễn
Chữ, Phạm Đình Nghị, Lê Trung Chi... tại Huế và Nam Ngãi đã chia sẻ gian lao
với họ trong lúc còn gặp chống đối khó khăn vào những năm 1954-1955. Anh em
ông Diệm cũng không thèm nhớ đến cái ơn giúp đỡ của lãnh tụ Nguyễn Xuân Tiếu
thời ông Diệm đang còn là cá chậu chim lồng, đau ốm, khổ sở trong tay Việt
Minh lúc bị giam cầm tại vùng núi rừng Việt Bắc.
Họ lấy lý do một số giáo phái và đảng phái đã chống đối họ để tiêu diệt
những đoàn thể đó! Vậy thử hỏi đảng Duy Dân, đảng Việt Cách và nhiều đoàn
thể khác đã phạm phải những lỗi lầm gì mà nhà Ngô cũng giam cầm các lãnh tụ
và cán bộ của Đảng Duy Dân. Hỏi ai là người quốc gia yêu nước, chống Cộng mà
không đau lòng khi thấy các ông Phạm Thành Giang, Hà Thế Ruyệt, Tạ Chí Diệp,
Tô Văn và vô số đảng viên Quốc gia bị nhà Ngô bắt giam chung tại trại cải
tạo Tam Hiệp (Biên Hòa), cùng khám với cán bộ Cộng Sản vào năm 1956, mà lại
còn bị cán bộ Cần Lao dốt nát giáo dục chính trị (hai ông Ruyệt và Tô Văn
hiện sống ở Mỹ).
Nếu gọi hành động nói lên nguyên vọng đích thực của quần chúng là chống
đối, nếu gọi phê phán các chính sách sai lầm của Chính phủ là chống đối, nếu
gọi đòi hỏi chính quyền sinh hoạt tự do và dân chủ là chống đối, nếu gọi chủ
trương một sách lược chống Cộng không giống với sách lược của Chính phủ là
chống đối, nếu gọi lời kêu gọi một cuộc cách mạng xã hội để tránh bất công
và trong sạch hóa sinh hoạt quốc gia là chống đối thì chế độ đã mất hết đạo
đức chính trị cũng như chức năng quản trị, và quốc gia đã đến hồi mạt vận
rồi.
Tuy quái đản nhưng có thật, miền Nam trong 9 năm cai trị của chế độ Ngô
Đình Diệm đã gọi những hoạt động chính đáng và khẩn thiết đó là “chống đối”
cho nên quốc gia mới suy vi. Và nhân dân nói riêng, các đảng phái nói chung,
chỉ còn 4 chọn lựa: hoặc không sáng suốt thì bị đẩy về phía kẻ thù Cộng Sản,
hoặc thiếu kiên trì thì ngậm đắng nuốt cay tê liệt theo chính quyền, hoặc
giàu quyết tâm thì âm thầm chống đối, hoặc không dằn được phẫn uất thì tự
hủy.
Ngày 7 tháng 7 năm 1963, văn hào mà cũng là chiến sĩ cách mạng Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vẫn để phản đối chế độ độc tài Ngô Đình
Diệm. Trước khi tự hủy, ông không quên gởi lại lời trăn trối đầy máu lệ với
quốc dân, đồng bào:
“Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Việc đem các đảng
phái quốc gia xử trị là việc làm mất nước vào tay Cộng Sản. Tôi tự hủy
mình cũng như Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp
mọi thứ tự do”.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một lãnh tụ của Đảng Đại Việt cũ, trong một cuộc
phỏng vấn của báo Người Việt về “Nguyên nhân gây nên sự sụp đổ làm mất Việt
Nam” đã trả lời vì Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt hết các lực lượng đảng phái và
giáo phái .
Hai nhận định trên đây, một được bùng lên trong thực tế sôi bỏng và khẩn
thiết của người đã xả thân đấu tranh và ngay trước giờ phút trang trọng,
quyết liệt để chấm dứt đời mình; một được thăng hoa qua những thăng trầm
chính trị già dặn của gần 20 năm sau mà bây giờ đang suy gẫm về thân phận
mất nước để đấu tranh phục quốc. Cả hai, tuy một thì dự phóng về tương lai
và một thì suy nghiệm về quá khứ, đều nói lên một sự thực, và cả hai đều
biến sự thực đó thành ra một quy luật chính xác là chính chủ trương độc tài,
độc đảng, tiêu diệt tôn giáo và đảng phái quốc gia của anh em ông Diệm và
của đảng Cần Lao Công giáo đã là nguyên nhân sâu xa nhất và chính yếu nhất
làm cho miền Nam Việt Nam tự do suy nhược và cuối cùng rơi vào tay Cộng Sản
vào năm 1975.
|