Chương XII
1961-1962
HAI NĂM KHỐN CÙNG
Sau sáu năm cai trị (1954-1960), gia đình ông Diệm và chế độ Cần Lao Công
Giáo đã đưa miền Nam đến khúc quanh nghiệt ngã mà chỉ cần vài nét chấm phá,
ký giả Bernard C. Nalty cũng đã phác họa được bức tranh đen tối đó:
... Ngô Đình Diệm không thiếu gì kẻ thù. Chủ trương chống Cộng của ông ta
là tiêu diệt các đảng phái và bắt bớ giam cầm tất cả những ai là đối lập với
ông ta, kể cả những người chống Cộng. Ông ta cai trị với cung cách cứng nhắc
của một người mà lại không có cái phong độ của Hồ Chí Minh. “Bác Hồ” biết
hòa mình với dân chúng và luôn luôn làm như muốn thỏa mãn nguyện vọng của
nhân dân. Trong lúc ông Diệm lại xa rời quần chúng, bao vây bởi những người
anh em trong gia đình vốn tham lam và ích kỷ, và ông ta chuyên cai trị bằng
sắc luật. Ngay cả y phục của ông ta cũng đã tố cáo ông ta rồi: trong lúc Hồ
Chí Minh mặc áo quần theo kiểu dân quê thì Ngô Đình Diệm lại mặc âu phục
trắng theo kiểu các quan cai trị thực dân cũ.
Diệm không thể tin tưởng vào quân đội của ông ta. Tháng 11 năm 1960, lực
lượng Nhảy Dù đã bao vây dinh Độc Lập buộc ông ta hứa phải cải tổ chính phủ,
thứ chính phủ gồm hầu hết là Cần Lao và bà con của ông ta. Trong lúc đưa ra
lời hứa thì Diệm lại bí mật kêu gọi đám quân trung thành về Sài Gòn bao vây
lại đám quân đảo chánh. Diệm đã không giữ lời hứa cải thiện chế độ.
Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm
vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu
theo lối chiến tranh cách mạng của Việt Cộng, còn kinh tế quốc gia hầu hết
hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ .
Về điểm ông Diệm xa rời quần chúng mà Bernard C. Nalty đề cập trên đây
thì không thiếu những sự kiện để chứng minh. Ở đây tôi muốn đưa ra hai hình
ảnh điển hình có tính cách hài hước lố lăng làm chướng tai gai mắt dân chúng
để làm dẫn chứng.
Việc thứ nhất được chương trình Vietnam: ATelevision History của
ký giả Karnow trình chiếu trên đài truyền hình PBS Hoa Kỳ năm 1984 cho thấy
ông Hồ Chí Minh di chuyển thì lội bộ giữa bùn lầy, hay đi bộ trong rừng rậm,
còn ông Diệm thì chễm chệ ngồi trên ghế bành một mình trên chiếc thuyền có
sĩ quan cấp tá của quân đội lội nước hì hục đẩy, trong lúc một toán lính
ngâm mình dưới nước bồng súng dàn chào theo kiểu vua chúa phong kiến thời
xưa.
Việc thứ hai là lúc ông Diệm đi kinh lý Đà Lạt, khi trở về Sài Gòn phải
đến phi trường Liên Khương để lên phi cơ, chẳng may phi cơ đến trễ nên quốc
lộ 20 bị chặn lại, xe cộ kẹt cứng đến cả cây số làm cho dân chúng phải đậu
xe hai bên lề đường chờ đợi lâu cả mấy tiếng đồng hồ. Không ngờ trong đám
dân chúng đó lại có văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, gia đình ông và một
số thân hữu. Ông Nguyễn Tường Tam bèn nói đùa với con cháu ông ta: “Nếu
trong số đây mai sau có ai lên làm Tổng thống, thì hãy nhớ đến cái ngày hôm
nay, phải chờ đợi bực mình như thế này nhé” .
Chính sách cai trị thất đức và bất tài của anh em ông Diệm đã mạnh mẽ và
trực tiếp gây thanh thế và thực lực cho Cộng Sản để họ có thể mau chóng
thành lập được “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam” vào ngày 20
tháng 12 năm 1960, nghĩa là chỉ sáu năm sau khi ông Diệm nắm chính quyền. Từ
nay, trước đồng bào miền Nam và trước quốc tế, quốc gia gọi là Việt Nam Cộng
Hòa đã bị coi ngang vị thế với “Mặt trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam” mặc dù
Mặt trận chỉ là sản phẩm chính trị của Hà Nội mà thôi. Sự ra đời của Mặt
trận là một đòn chính trị vô cùng xuất sắc của Bộ Chính trị Bắc Việt. Sự ra
đời đó mang một ý nghĩa tuyên truyền cách mạng rằng chính lực lượng nhân dân
miền Nam vì căm thù chế độ tay sai của Mỹ nên đã nổi dậy để chống lại đám
tay sai và ông chủ của chúng là đế quốc thực dân mới. Sự ra đời của Mặt trận
không những mê hoặc và lôi cuốn được một số trí thức, sinh viên, thanh niên
miền Nam mà, quan trọng hơn cả, là đã động viên được tầng lớp nông dân và
lao động của miền Nam, vốn bất mãn với chế độ Diệm mà họ cho là chế độ của
người Bắc xâm lược miền Nam bằng chính sách nâng đỡ đặc biệt cho người Công
giáo miền Bắc di cư và bằng chính sách kỳ thị tôn giáo qua chế độ “Công giáo
trị”. Với sự ra đời của “Mặt trận Dân Tộc Giải phóng miền Nam”, Hà Nội còn
được ưu thế đứng ngoài vòng tranh chấp của những người sống ở phía Nam vĩ
tuyến 17, không xen vào nội bộ miền Nam, do đó tạo được chính nghĩa kháng
chiến cho Mặt trận mà Hà Nội khỏi mang tiếng là “kẻ xâm lăng”. Trên mặt quốc
tế, Hà Nội tạo được uy tín và cảm tình với mọi quốc gia, đặc biệc là với
những quốc gia trong khối đệ tam vốn chưa ý thức được chiến lược và chủ
trương của Cộng Sản. Khẩu hiệu “Mỹ Diệm” mà Hà Nội tung ra để mê hoặc
người Miền Nam và quốc tế quả thực là một thủ đoạn tuyên truyền vô cùng lợi
hại. Cho nên nhìn lại toàn bộ cuộc chiến thì kể từ khi “Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam” ra đời vào cuối năm 1960, sự thất bại chính trị của
Việt Nam Cộng hòa coi như đã bắt đầu.
Trước thủ đoạn chính trị chia rẽ người miền Nam với chế độ Diệm căn cứ
trên những thực tế chính trị và xã hội rất rõ ràng, và trước cơn lâm nguy
của đất nước, đáng lẽ sau sáu năm thất bại, anh em ông Diệm phải thay đổi
chính sách, phải thực hiện một cuộc cách mạng xã hội, thực hiện đại đoàn kết
dân tộc để mỗi thành phần quốc gia, mỗi tôn giáo, đảng phái cùng có cơ hội
chung lo việc chống Cộng cứu nước, thì bất hạnh thay, anh em ông Diệm lại
càng ngoan cố hơn, độc tài hơn trong việc củng cố địa vị, trong độc quyền
chống Cộng. Họ đã lợi dụng vụ “Tuyên ngôn Caravelle”, vụ đảo chánh
của Nhẩy Dù để tiến hành một chính sách đàn áp khủng bố mới bằng những cuộc
lùng bắt bố ráp những người quốc gia đối lập. Chủ trương bắt bớ giam cầm
của anh em ông Diệm đã làm cho hàng ngũ quốc gia, nhất là những phần tử có
uy tín với quốc dân phải tan rã: kẻ thì bị vào tù, kẻ thì phải tìm
phương ẩn tránh, kẻ thì trốn ra ngoại quốc, kẻ thì giữ thái độ trùm chăn tìm
sự bình yên. Hậu quả của sự tan rã này là chính nghĩa và sức mạnh chống Cộng
bị kiệt quệ, Cộng sản bèn lợi dụng tuyên truyền khối quần chúng bất mãn đã
thiếu mất lớp người quốc gia đối lập đáng lẽ có thể hướng dẫn cho họ vừa
chống Diệm vừa chống cả Cộng sản.
Không cần phải dài dòng mà chỉ cần đọc lại đoạn hồi ký và bài thơ trong
tù của ông Trần Văn Hương (thuộc nhóm Caravelle) cũng đã đủ thấy chiến dịch
bắt bớ, giam cầm của nhà Ngô sau biến cố 11-11-60 như thế nào rồi
:
Ngày thứ bảy 12-11-60, lối 11 giờ (nghĩa là ngay cả trước khi các lãnh tụ
đảo chánh chưa ra đi, tình hình Sài Gòn chưa trở lại yên ổn) tôi bị Nha Cảnh
sát và Công An Quốc Gia đòi đến rồi câu lưu luôn để cứu xét vì tôi bị tình
nghi có liên quan trong vụ biến cố 11-11-60. Qua ngày sau và những ngày kế
tiếp, một số anh em trong nhóm 18 người của khối Tự Do Tiến Bộ mà người ta
thường gọi là nhóm Caravelle lần lượt bị đòi và bị câu lưu. Nhìn anh em, tôi
chợt nhớ bài thơ Ngồi Trăng của ông Học Lạc nên mượn vân thơ (chú,
lũ, tụ, phủ, vụ) làm bài sau đây:
NGỒI TÙ MỘT LŨ
Này anh, này cụ, này là chú,
Lóc cóc vào đây ngồi một lũ,
Những tưởng buồn như chó mất nhà,
Nào ngờ vui quá bàn xôm tụ,
Thân này dẫu vướng chốn lao lung,
Nỗi ấy vẫn ghi trong phế phủ,
Xuống chó lên voi lắm chuyện đời,
Xưa nay diễn biết bao nhiệm vụ.
Ông Trần Văn Hương là một nhà giáo mô phạm, là thầy học của rất đông
thành phần trí thức của miền Nam đương thời. Ông là một nhân sĩ tiêu biểu
cho lớp sĩ phu tiền bối như Đồ Chiểu, Thủ Khoa Nghĩa, Thủ Khoa Huân, Phan
Văn Trị của miền Nam luôn luôn được nhân dân miền Nam hết sức trọng vọng.
Ông từng là Đô trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn thời ông Diệm mới chấp chánh, nổi
tiếng nhờ tính tình cương trực liên chánh. Ông thường đi làm bằng xe đạp và
không xử dụng công xa. Khi thấy rõ anh em ông Diệm độc tài, kỳ thị địa
phương và kỳ thị tôn giáo, ông xin từ chức ngay rồi về nhà sống cuộc đời
nghèo nàn thanh bạch. Nhưng tâm hồn kẻ sĩ nơi ông không cho phép ông im hơi
lặng tiếng trước một chế độ càng ngày càng gây thêm nhiều tội lỗi, ông bèn
tham gia nhóm “Tự Do Tiến Bộ” họp báo tại Caravelle ra tuyên ngôn phản đối
chế độ Diệm.
Việc nhà Ngô bắt giam ông không những là một tội ác đối với dân tộc mà
còn là một hành động chà đạp tự hào và tự ái của dân miền Nam, vì toàn dân
miền Nam, bất kỳ những ai có chút học hành có chút hiểu biết thời thế, đều
coi ông Hương như một tấm gương sáng trong cách xử thế, một bậc thầy trong
trường đời. Giam cầm ông Trần Văn Hương (cũng như ông Phan Khắc Sửu và Kỹ sư
Trần Văn Bạch) nhà Ngô, một lần nữa, đẩy trí thức nhân sĩ miền Nam vào vòng
chống đổi, đẩy lao động nông dân miền Nam chạy theo Việt Cộng.
-o0o-
Trong lúc Công an, Cảnh sát và Mật vụ của Lê Quang Tung và Dương Văn Hiếu
mở chiến dịch lùng bắt và điều tra thành phần dân sự đối lập thì Nha An Ninh
Quân Đội phụ trách việc điều tra thành phần quân nhân.
Ngày 14 tháng 11 năm 1960, tôi được Tổng thống Diệm gọi vào dinh Độc Lập
để ông cho những chỉ thị cần thiết. Mới thấy tôi, ông hỏi ngay: “Anh có biết
mấy lâu nay những thằng CIA Mỹ nào thường gặp gỡ thằng Thi?”. Khi tôi trả
lời không biết thì ông nói tiếp đại ý cho rằng chính người Mỹ đã xúi dục
Nguyễn Chánh Thi tổ chức đảo chánh để lật đổ chính phủ của ông. Sau đó ông
ra lệnh phải tìm cho ra tên tuổi những nhân viên Tòa đại sứ Mỹ thường tiếp
xúc liên lạc với Đại tá Thi, những người Mỹ nào hay lui tới với các sĩ quan
Nhẩy Dù.
Thấy ông Diệm lầm Đại tá Thi là người chủ xướng cuộc đảo chánh do sự xúi
dục của Mỹ, tôi bèn nói: “Thưa cụ, Nguyễn Chánh Thi là một sĩ quan đã có
thành tích ủng hộ cụ ngay từ đầu, khi cụ còn gặp những khó khăn vào những
năm 1954, 1955, do đó được cụ tín nhiệm giao cho chỉ huy Lữ đoàn Nhảy Dù
thay Đỗ Cao Trí. Thi là một người cương trực, được binh sĩ Nhảy Dù kính mến
và tuy bấy lâu nay Thi có tỏ thái độ bất mãn với ông bà Cố vấn, với ông Cậu,
nhưng đối với cụ, Thi không hề đả động đến”. Để củng cố thêm lập luận đó,
tôi trình bày thêm: “Thưa cụ, vào khoảng 4 giờ sáng ngày 11-11-1960, sau khi
tiếng súng “phản loạn” nổ và được anh Bằng cho biết là quân Nhảy Dù đang tấn
công Dinh Độc Lập, tôi gọi điện thoại ngay về nhà Thi thì được một trung sĩ
Nhảy Dù trả lời rằng vào khoảng nửa đêm, đại tá Thi đang ngủ ở nhà thì bị
trung tá Vương Văn Đông và 4, 5 sĩ quan Nhảy Dù đến mời đi, mời với thái độ
nài ép, bắt buộc. Theo tôi thì nhóm Vương Văn Đông mới là kẻ xướng xuất cuộc
đảo chánh, nhưng họ thấy đại tá Thi thường tỏ thái độ bất mãn với chính phủ
nên họ lợi dụng uy tín và địa vị Tư lệnh của đại tá Thi để toàn thể binh sĩ
Nhảy Dù tuân phục nhóm đảo chánh và hăng hái tham dự”. Ông Diệm vẫn không
tin, nói lại: “Nhưng mà ông Cố vấn đã có những tin tức cho biết chính CIA Mỹ
chủ động cuộc đảo chánh này”. Khi ông Diệm đã đưa danh nghĩa ông Nhu ra thì
tôi biết không còn gì để tranh luận nữa, nhưng cũng cố gắng nói thêm: “Thưa
cụ, không biết ông Cố vấn dựa vào đâu mà nói vậy, nhưng theo tôi, trong vụ
đảo chánh vừa rồi, nếu có bàn tay của người ngoại quốc thì chỉ có thể là bàn
tay của Pháp chứ không thể là của Mỹ, và trái lại chính Mỹ đã cứu cụ”. Ông
Diệm mở to mắt nhìn tôi, tôi nói tiếp: “Thưa cụ tôi luận như thế vì có mấy
yếu tố cần được phân tách, thứ nhất là từ khi cụ cầm quyền, người Pháp có
thái độ chống đối cả cụ lẫn người Mỹ; thứ hai Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu
Hồng và Bộ trưởng Trần Lê Quang đều là rể của cựu Trung tá Huấn (quản lý
khách sạn Caravelle của Ngô Đình Thục) là một người thân Pháp, thân với
tướng Nguyễn Văn Hinh; yếu tố thứ ba là đa số sĩ quan thuộc thế hệ trước,
thế hệ “quân đội quốc gia”, trong đó có nhóm Vương Văn Đông đều có tinh thần
bài Mỹ, điển hình như Lê Văn Kim, Đỗ Cao Trí, Lam Sơn... vốn có tư tưởng và
hành động chống Mỹ mà Cụ đã biết rõ và vẫn thường la rầy (trường hợp Đỗ Cao
Trí và Lam Sơn). Còn yếu tố thứ tư là chính ông Miller thuộc Tòa đại sứ Mỹ,
đã đến trước dinh Độc Lập để khuyên Vương Văn Đông tạm đình cuộc tấn công
trước sự hiện diện của cướng Khánh”. Tuy tôi đã đưa ra những phân tách như
thế nhưng ông Diệm, vốn bị ảnh hưởng nặng nề của ông Nhu, nên vẫn cố nói
thêm: “Nhưng trong vụ đảo chánh này có thằng Phan Quang Đán và thằng Hoàng
Cơ Thụy là tay sai của CIA”. (Sau này, tôi được biết sau khi thất bại, ông
Hoàng Cơ Thụy nhờ CIA Mỹ lái xe cho ông lên phi trường để xuất ngoại nhưng
ông Thụy không phải là người của CIA).
Trước định kiến chắc nịch như thế của ông Diệm tôi còn biết nói gì thêm,
chỉ thắc mắc tự hỏi vì sao ông Nhu lại cứ đổ cho ông Phan Quang Đán trong
khi biết chắc hai ông Thi và Đán không phải là người tổ chức cuộc đảo chánh.
Ông Thi chỉ được nhóm đảo chánh Vương Văn Đông mời tham dự, còn ông Đán thì
lại do ông Thi mời hợp tác với quân đảo chánh vào buổi trưa ngày 11-11-1960.
Là một thuộc cấp, tôi chỉ biết tuân lệnh nhưng lòng riêng vẫn thắc mắc tại
sao ông Nhu, “đại trùm mật vụ” của chế độ, lại có những nhận định phản khoa
học, phản tình báo như thế. Ba năm sau tôi mới biết rõ thủ đoạn của ông ta.
Tôi bắt đầu mở cuộc điều tra vụ đảo chánh thì bỗng nhận được văn thư của
Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần (hiện ở hải ngoại) chỉ thị
rằng theo lệnh ông Cố vấn thì Thiếu tá Nguyễn Hữu Kính (Công giáo di cư),
Phụ tá của Lê Quang Tung, và ba đại úy thuộc lực lượng Đặc biệt được biệt
phái đến Nha An Ninh Quân đội, đặt dưới quyền tôi để đặc trách cuộc điều tra
vụ đảo chánh của Thi và Đông.
Theo tinh thần của bức văn thư thì tôi vẫn chịu trách nhiệm cuộc điều tra
và phải ký giấy tờ liên hệ đến cuộc điều tra, nhưng người trực tiếp điều
hành công tác lại là nhóm sĩ quan Lực lượng Đặc biệt. Bằng phương thức này,
ông Nhu chẳng những đã công khai tỏ ra không tin tưởng tôi mà còn cố tình
làm mất uy tín của tôi đối với nhân viên thuộc quyền. Tôi cứ thắc mắc tự hỏi
tại sao ông Nhu không giao hẳn việc điều tra vụ “phản loạn” cho cơ quan của
Lê Quang Tung thụ lý để tôi tránh được một công tác tế nhị. Tế nhị vì sự
dằng xé của lương tâm, vì một mặt tôi phải làm bổn phận trung thành với chế
độ mà chính tôi cũng bất mãn, và mặt khác tôi phải trừng trị nhóm người
“phản loạn” mà trong thâm tâm tôi rất cảm phục. Đã thế, thiếu tá Kính và
nhóm sĩ quan của Lê Quang Tung lại thường qua mặt tôi trong việc bắt bớ giam
cầm những sĩ quan và binh sĩ ở các đơn vị khác chỉ vì các đơn vị trưởng muốn
lập công và do nhóm Cần Lao làm điểm chỉ. Có ngày họ bắt về hàng trăm binh
sĩ, hàng trăm đàn bà con nít thuộc gia đình những quân nhân “phản loạn”, tạo
nên tình trạng hỗn loạn cho Nha tôi, và nhất là tạo sự hiểu lầm nơi một số
quân nhân đối với riêng cá nhân tôi. Nhóm sĩ quan biệt phái cũng lợi dụng
danh nghĩa của An Ninh Quân đội để khủng bố làm tiền giới Hoa Kiều Chợ Lớn,
làm cho tôi mang tiếng, cũng như trước kia nhóm Cần Lao Mật Vụ của ông Cẩn ở
Huế lấy danh nghĩa của An Ninh Quân Đội khủng bố ông Hà Thúc Ký và nhiều
Đảng viên đảng Đại Việt để làm tiền sau vụ Ba Lòng. Tôi muốn nhắc lại những
chuyện này để trình bày một lần cho xong với các bạn quân nhân hiện ở hải
ngoại vốn từng làm việc dưới quyền tôi thời Ngô Đình Diệm, để anh em thấy rõ
nỗi lòng cay đắng của tôi lúc bấy giờ đã không thể công khai nói lên được.
Sáu, bảy năm trời anh em đã cộng tác với tôi, đã thấy rõ tinh thần công
minh liêm chính của tôi, đã thấy chủ trương “đoàn kết dân tộc” của tôi, đã
thấy đường lối “huynh đệ chi binh” mà tôi chủ xướng từ ngày còn ở Phân Khu
Duyên Hải, đã thấy chính sách “nặng giáo hóa, nhẹ trừng trị” của tôi...
nhưng vì vận nước truân chuyên và, nói như ký giả Robert Shaplen, “ở đâu có
ảnh hưởng Cần Lao xen vào là ở đó sinh ra rối loạn”, cho nên dù đã cố gắng
hết sức, Nha của chúng ta đã có những lúc bị hiểu lầm, hoặc bị cố tình bôi
bẩn mang tai tiếng. Bây giờ, giai đoạn lịch sử đó đã qua rồi và trong trạng
huống của một người sống tha hương, hồi tưởng lại những năm điều khiển Nha,
tôi vẫn thấy hãnh diện và tự hào về cả phẩm lẫn chất của Nha, nên tôi thấy
cần phải nói lên để cho Sự thật không bị che mờ. Có lẽ anh em còn nhớ vụ
Dương Văn Hiếu (hiện ở Mỹ) đã bắt chuẩn úy Lê Hữu Thúy dấu biệt tích không
thông báo cho tôi, rồi đưa ra miền Trung cho ông Ngô Đình Cẩn xử dụng mặc dù
Thúy là người Công giáo nhưng lại là một đảng viên cao cấp của Cộng Sản nằm
vùng. Có lẽ anh em vẫn còn nhớ vụ em ruột bà Nhu là Trần Văn Khiêm, lúc sắp
nhận chức Giám đốc Nha Nghiên cứu Chính trị, đã bắt giữ và đòi làm tiền hai
nhân viên Ty An Ninh Quân Đội An Giang. Vụ này chẳng những ông Nhu đã không
la rầy người em vợ lại còn nặng lời chỉ trích khi tôi đến trình bày nội vụ
với ông ta. Có lẽ anh em còn nhớ vụ Trung tá Nguyễn Huỳnh được ông Nhu và
nhóm Cần Lao đặt làm phụ tá cho tôi mà không thèm hỏi ý kiến tôi. Mới về Nha
chưa được bao nhiêu ngày, Huỳnh đã làm tiền Hoa Kiều một triệu bạc trong vụ
đấu thầu đồ phế thải quân đội mặc dù hơn năm năm trời, Nha An Ninh Quân Đội
tuy mang tiếng là Mật vụ, là tay sai của chế độ Cần Lao mà vẫn được tiếng
liêm khiết. Nguyễn Huỳnh, người Công giáo bà con với Tỉnh trưởng Nguyễn Trân
quê ở Quảng Nam, lúc làm Tỉnh trưởng Long Khánh, Huỳnh đã tham nhũng cả mấy
chục triệu bạc để che dấu mấy trăm triệu thuế của Tây đồn điền thời ông Bùi
Văn Lương làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Huỳnh chia chác cho ai, Tây đồn điền biết
hết thế mà ông Nhu lại đem y về đảm nhiệm chức vụ số hai của cơ quan có
nhiệm vụ “bảo vệ tinh thần quân đội”! v.v...
Tôi muốn kể lại những vụ nhỏ nhặt nhưng tiêu biểu trên vì lúc bấy giờ đã
có nhiều sĩ quan của tôi đến than phiền và bày tỏ sự công phẫn trước tư cách
hống hách, lộng hành của nhóm Cần Lao mà tôi chỉ khuyên họ nên ẩn nhẫn.
Tuy nhiên, sau vài tháng, không chịu nổi sự lạm quyền của Thiếu tá Kính
nữa, tôi gọi Kính lên văn phòng và cho biết rằng từ nay anh ta phải hoàn
toàn chịu mệnh lệnh của tôi, tôi sẽ trực tiếp nắm lấy cuộc điều tra.
Bắt tay vào việc, tôi liền trả tự do cho nhóm phụ nữ và trẻ em và nhóm
quân nhân không liên hệ trực tiếp đến vụ đảo chánh nhưng chỉ bị tố cáo là có
cảm tình với nhóm phản loạn, chẳng hạn như đã “nói xấu Tổng thống, đã mạt
sát ông Cẩn, bà Nhu, đã có những lời lẽ chỉ trích chế độ, nói xấu người Công
giáo, đã tỏ ra vui mừng khi nghe tiếng súng đảo chánh nổ, đã ca ngợi Phan
Quang Đán và Nguyễn Chánh Thi...”
Tôi nghĩ rằng những sĩ quan tham dự đảo chánh, những sĩ quan bất mãn với
chế độ cũng cùng mang một tâm sự như mình. Nếu tôi không ấp ủ tình cảm chung
thủy với ông Diệm, cái tình cảm keo sơn thắm thiết đã gần 20 năm trời, biết
đâu giờ này tôi cũng đã đứng vào hàng ngũ “phản loạn”. Tôi lại nghĩ rằng tạo
cuộc binh biến là dễ dàng mua lấy cái chết mà họ dám hy sinh chỉ vì lòng
yêu nước của họ, chỉ vì họ sợ quốc gia rơi vào tay Cộng Sản, như vậy thì
họ đâu có phản Tổ quốc Đồng bào mà trái lại họ chỉ muốn đạp đổ một chế độ
bất lực thối tha đang làm cho đất nước suy vong. Huống chi đời tôi cũng ít
nhiều vào tù ra tội vì chống Thực, Phong, Cộng, há vì cái chế độ “Cần Lao
Công giáo” này mà làm tan rã quân đội, mà đi ngược lại lòng dân sao? Cho nên
mặc dù có hàng ngàn sĩ quan và binh sĩ trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến
cuộc đảo chánh, tôi chỉ đề nghị đem ra tòa có 19 người và phạt quân kỷ độ 30
người. Tôi còn cẩn thận đem danh sách những can phạm ra trước một Hội đồng
cấp Tướng họp tại Bộ Tổng Tham mưu để Hội đồng định đoạt lấy số phận những
người mà tôi đề nghị phạt quân kỷ, ngõ hầu mai hậu tôi khỏi mang tiếng dựa
thế Tổng thống Diệm gây oan khiên đau khổ cho nhiều người, nhiều gia đình.
Ngay cả những tướng tá như Lê Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Cao Kỳ, Hoàng
Cao Tiêu... đã có chứng cớ rõ ràng liên hệ đến nhóm đảo chánh, tôi cũng cố
che dấu cho họ để hàn gắn vết thương quân đội trước một kẻ thù Cộng Sản ngày
càng hiếu chiến, và cho một tập thể binh sĩ đã chịu quá nhiều thương vong.
Tôi vẫn khắc ghi trong lòng lời dặn dò của người anh cả quân đội, Đại tướng
Lê Văn Tỵ, khi trả lời Trung tá Vương Văn Đông: “Tôi già rồi, các anh muốn
làm gì thì làm nếu thấy là phải, miễn đừng để quân đội phải tan rã”. Tôi tự
nghĩ tướng Tỵ, một lính già xuất thân từ một gia đình cai đội, xuất thân từ
một Thiếu sinh quân thời Pháp thuộc, trải bao chế độ chính trị, chứng kiến
bao nỗi thăng trầm của quê hương đất nước, nên ông đã có cái nhìn sâu sắc và
nhân bản hơn về vai trò của những chế độ, về quân đội, về tương lai xứ sở.
Vì thế ông nhắc lại với tôi lời ông đã nói với ông Vương Văn Đông như thầm
nhắn nhủ tôi đừng làm cho quân đội tan nát. Có phải thế không thi sĩ Cao
Tiêu ? (Lúc bấy giờ ông Hoàng Cao Tiêu là Đại úy Chánh Văn phòng cho Đại
tướng Lê Văn Tỵ).
Trong nhóm lãnh tụ đảo chánh thì đại tá Nguyễn Chánh Thi là người bạn tri
kỷ của tôi, vị sĩ quan gan dạ, ngay thẳng, đã cùng học lớp Trung đoàn trưởng
với tôi tại Hà Nội và đã được tôi tuyên truyền ủng hộ cho ông Diệm khi ông
Diệm mới về nước. Tôi làm sao có thể thù hận người chiến sĩ mũ đỏ đã bao
phen xông pha trận mạc, tôi làm sao quên được tình bạn thắm thiết khi cùng
đi hành quân với một Liên đoàn Lưu động bên bờ sông Bạch Đằng để hai anh em
có dịp vào dâng hương trước bàn thờ Đức Trần Hưng Đạo. Tôi làm sao quên được
cử chỉ thiết tha của Thi khi suốt mấy ngày tôi bị đau sốt rét, Thi mang hộ
ba lô hay nhảy xuống ao bắt cá nấu cháo cho tôi ăn trong cuộc hành quân giữa
cánh đồng lầy lội giữa miền quê tỉnh Hải Dương Bắc Việt. Tôi làm sao quên
được thái độ hào hiệp của Thi khi đưa tay cản mũi súng của Trần Đình Lan,
một thứ Tây con, đang nhắm vào đầu tôi trong nhà Trần Văn Đôn, khi tôi phản
đối lời bộ hạ của ông Hinh hô hào đảo chánh ông Diệm.
Thi là một người chân thành yêu nước, dày công chiến đấu chống Cộng, từng
hết lòng ủng hộ ông Diệm, nay vì đại nghĩa mà phải lưu vong nơi quê người
cho nên trước khi trả tự do cho nhóm phụ nữ và trẻ con, tôi cho mời vợ Thi
lên văn phòng để có mấy lời an ủi. Tôi khuyên vợ Thi về nhà lo làm ăn, nuôi
con chờ chồng, đợi ngày Thi “áo gấm về làng”, đợi ngày gia đình đoàn tụ. Tôi
đưa vợ Thi 2.000 đồng bạc và hẹn cứ mỗi tháng đến gặp tôi, tôi xuất mật phí
đưa cho 1.000 đồng. Nhưng vợ Thi không bao giờ trở lại cho đến cuối năm
1963, sau khi chúng tôi lật đổ chế độ Diệm, Thi từ Nam Vang trở về (như tất
cả sĩ quan, chính khách tự ý lưu vong, hay bị tù đày ngoài Côn Đảo) như
những chiến sĩ hùng anh đã có công chống đối chế độ Diệm. Nhưng khi Thi trở
về quê cũ thì hỡi ơi, cảnh nhà Thi đã trâm gẫy bình rơi, lạnh phím tơ đồng!
Thời thế đảo điên, quê hương nghiêng ngửa, chế độ Cần Lao tàn bạo và số
phận nghiệt ngã đã làm Thi tan nát cả cõi lòng. Nhưng rồi Thi đặt nặng “việc
diệt thù cứu nước”, gác mối sầu riêng, nhận lệnh lên đường chỉ huy Sư đoàn I
Bộ binh nơi tuyến đầu Quảng Trị.
Ngoài Thi ra, trong nhóm lãnh tụ đảo chánh, từ lâu tôi vẫn chú ý và cảm
mến những sĩ quan trẻ tuổi như Phạm Văn Liễu, Phan Trọng Chinh và Phan Lạc
Tuyên, mặc dù tôi chưa hề tiếp xúc với họ. Liễu là đảng viên Đại Việt đã
từng học trường Võ Bị Yên Bái do Nhật Bản tổ chức năm 1945, đã từng hoạt
động cách mạng và trốn sang Tàu. Chinh là con một nhà cách mạng thuộc Việt
Nam Quốc Dân Đảng, từng chiến đấu chống cả Pháp lẫn Việt Minh. Còn Phan Lạc
Tuyên, viên sĩ quan trẻ tuổi này đã làm cho tôi khâm phục vì những bài tham
luận hoặc quan điểm của anh trên các tờ báo của Nha Chiến Tranh Tâm lý,
những bài báo với nội dung sâu sắc và văn từ đầy hào khí của một quân nhân
nặng tình tự với quê hương dân tộc, lồng trong ý chí sắt đá chống Cộng cứu
nước. Cả ba là những sĩ quan cương trực, liêm chính, nhưng Phan Lạc Tuyên
thì đã trốn lên vùng Cao Đài theo Việt Cộng. Quyết định theo Việt Cộng của
Tuyên tuy nông nổi nhưng tôi không ngạc nhiên, vì với một chế độ phản dân
tộc và phản cách mạng như chế độ Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ thì con người đầy
ắp tinh thần dân tộc và tâm chất cách mạng như Tuyên làm sao không theo
“giải phóng” được! Tôi cũng đã đích thân mang ít quà bánh đến trại giam Lê
Văn Duyệt để tặng những sĩ quan đang bị chính tôi giam giữ tại đó, tôi đã
gặp mặt và có mấy lời thăm hỏi Phan Trọng Chinh nhưng tôi không dám chuyện
trò lâu dài với Chinh vì chính tôi cũng sợ tai mắt Cần Lao, tuy là Giám đốc
Nha An Ninh Quân đội (Thiếu tướng Phan Trọng Chinh hiện ở Mỹ).
Trong cuộc binh biến ngày 11-11-1960, nhóm “phản loạn” và tôi tuy ở hai
phe đối nghịch nhưng khi nghe tin Thiếu tá Nguyễn Triệu Hồng chết, tôi không
khỏi xúc động ngậm ngùi bởi vì Hồng đã để lại cho tôi một kỷ niệm khó quên
khi tôi gặp cảnh lao lung trên bước đường binh nghiệp. Năm 1953, khi tôi bị
tướng Cogny và Trung tá Dương Quý Phan phạt 60 ngày trọng cấm và bị thuyên
chuyển về Liên Đoàn Lưu động số 3 của Thiếu tá Phạm Văn Đổng đang hành quân
tại Ninh Bình, ngày tôi từ giã Hưng Yên ra đi với vợ và bốn con nhỏ dưới sáu
tuổi, Trung tá Phan chỉ cho tôi một chiếc xe Doge-4 với một Hạ sĩ lái xe cho
tôi lên Hà Nội. Con đường tỉnh lộ từ Hưng Yên đến Bần Yên Nhân, cạnh quốc lộ
số 5, dài 38 cây số là một con đường tử thần luôn bị phá hoại vì phục kích
mà mỗi tuần chỉ được Khu chiến thông lộ một lần để tiếp tế liên lạc. Chính
tôi đã có lần chỉ huy những cuộc mở đường đó mà mỗi lần là phải sử dụng cả
Tiểu đoàn 4 của Đại úy Đặng Văn Sơn với một đại đội Thiết giáp, một đại đội
Bảo an của tỉnh và phải có pháo binh sẵn sàng yểm trợ. Thế mà Dương Quý Phan
bắt tôi phải rời Hưng Yên ngay không được đợi đến ngày mở đường. Tuy đoán
rằng Dương Quý Phan muốn mượn tay Việt Minh để giết mình nhưng tôi vẫn ra
đi, vì không lẽ tôi đã công khai bày tỏ lập trường chống Pháp, đã khinh bỉ
Phan ra mặt mà bây giờ phải xin xỏ một chút ân huệ, dù là hợp lý, của y. Tôi
ra đi trước sự ngậm ngùi của Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên, hai
người bạn đã cùng tôi chia vui sẻ buồn mấy tháng tại cái Khu chiến hoàn toàn
bị bao vây bởi Việt Minh gần cả hai năm trời này.
Chiếc xe chở gia đình tôi đi độ mười cây số thì gặp một đồn lính (mà nếu
tôi nhớ không lầm thì danh hiệu của đồn là Lệ Thanh) với quân số độ hơn một
trăm binh sĩ do Trung úy Nguyễn Triệu Hồng chỉ huy. Tôi vào đồn để vợ con
nghỉ ngơi chốc lát và hỏi thăm tình hình an nguy của đoạn đường dài còn lại.
Thấy tôi “đơn thương độc mã” trên lộ trình đầy nguy hiểm, Hồng lộ hẳn vẻ băn
khoăn:
- Đường sá hết sức bất an, hai bên dân làng đều là Việt Minh mà Đại úy
dám liều như thế sao?
- Tôi đâu dám liều, nhưng bộ chỉ huy ra lệnh phải đi ngay nên tôi phải đi
anh Hồng ạ.
- Thôi Đại úy và gia đình hãy ở lại đây với em, đợi hai ngày nữa có mở
đường rồi hãy đi.
- Cám ơn anh nhưng đàn bà con nít bất tiện lắm, vả lại đợi ngày mở đường
thì ông Cogny, Ông Phan lại hành hạ tôi thêm.
- Hay là em cho Đại úy một trung đội theo hộ tống cho đến Bộ chỉ huy tiểu
đoàn hai gần quốc lộ số 5.
Tôi nghĩ bụng, một trung đội thì ăn nhằm gì khi gặp Việt Minh. Vả lại nếu
chẳng may có đụng độ thế nào trung đội cũng bị thiệt hại và Hồng sẽ bị phạt
nặng, nên tôi cảm tạ lòng hào hiệp của Hồng rồi từ chối sự giúp đỡ của anh
ta. Hồng cố nài nỉ nhưng tôi vẫn lên đường trước vẻ mặt ái ngại của người
bạn trẻ, phó mặc thân thế gia đình mình cho số phận rủi may. Lạ thật! Có lẽ
nhờ phúc đức vẫn còn dày vẫn lớn, nên cả gia đình tôi được “thuận buồm xuôi
gió” trên con đường đã hai năm qua nổi tiếng là kinh hoàng.
Thời gian trôi qua với biết bao vật đổi sao dời, không ngờ bảy năm sau
Nguyễn Triệu Hồng, một chàng trai tuấn kiệt của đất Việt trời Nam không chết
về tay kẻ thù Cộng sản mà lại chết oan khiên vì viên đạn của người quốc gia!
Cái thảm trạng vô lý đó của cuộc đời, sự oái oăm chính trị đầy oan khiên đó
đã bắt đầu và được nuôi dưỡng từ dưới chế độ Ngô Đình Diệm, để rồi còn
kéo dài cho đến khi thân thể của lực lượng quốc gia kiệt lực vì những nhát
chém sau lưng cho đến ngày miền Nam sụp đổ.
Đầu năm 1961, trong lúc tại Sài Gòn tôi đang tiến hành cuộc điều tra về
vụ “phản loạn” thì tại Nam Vang, nhóm lãnh tụ ngày 11-11-1960 vì chính kiến
bất đồng nên mâu thuẫn với nhau rồi chia ra hai nhóm : nhóm Vương Văn Đông
và nhóm Nguyễn Chánh Thi. Nhóm của Thi chỉ có Phạm Văn Liễu và sau này thêm
phi công Nguyễn Văn Cử. Tôi được tin ông Nguyễn Chánh Thi vẫn giữ mối tình
cố cựu đối với tôi trong lúc Vương Văn Đông thì thù ghét tôi. Sở dĩ tôi biết
được Đông ghét tôi vì nhờ phòng phản gián đã trình cho tôi tờ báo “Realités
Cambodgiennes” có bài của Vương Văn Đông đả kích nặng nề chế độ Ngô Đình
Diệm, nhận đình rằng chế độ đó không thể chiến thắng nổi Cộng sản mà rồi sớm
muộn cũng bị lật đổ. Riêng tôi, Đông đã đặt cho một hỗn danh là “Le Tigre
Noir” (cọp đen) của chế độ.
Nhưng tôi không vì thế mà buồn phiền thái độ thiếu hiểu biết của Đông,
bởi vì dù gì đi nữa thì tôi đang ở trong tư thế của một thứ trùm mật vụ của
chế độ Diệm nên làm sao tôi có thể công khai trang trải nỗi lòng của mình
cho thiên hạ biết mình ngay gian. Huống gì tâm lý quần chúng thường không ưa
Công an Cảnh sát, và tâm lý binh sĩ thường không ưa An ninh Quân đội và Quân
cảnh.
Qua các phúc trình điều tra tổng hợp, tôi được biết trước khi tổ chức đảo
chánh, trung tá Vương Văn Đông đã có dịp gặp ông Nhu tại dinh Độc Lập để
trình bày tình hình nguy ngập của đất nước và tình trạng sa sút của quân đội
cả về tinh thần lẫn hiệu năng. Vương Văn Đông là một sĩ quan trẻ tuổi, thông
minh, cương nghị, có ý thức chính trị cao, và cũng như Phạm Văn Liễu, tiềm
tàng giòng máu cách mạng, tràn đầy nhiệt huyết, chống Cộng có ý thức và dám
sống chết cho lý tưởng của mình. Cả hai đều có chí lớn, có tham vọng làm
lãnh tụ nhưng hình như số mạng của họ đã được an bài, họ hì hục “mua vé cho
người ta xem hát”, hì hục “chỉ đường cho nai đi”, còn riêng họ thì chí
hướng, ước nguyện có lẽ không bao giờ thành.
Quân đội VNCH cho đến năm 1962, trừ những vị tướng già thuộc thế hệ đàn
anh, trừ những sĩ quan trẻ đã mang sao rồi, chẳng hạn như Nguyễn Khánh,
Dương Văn Đức, thì những Nguyễn Đức Thắng, Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu,
Vương Văn Đông, Nguyễn Bá Liên, Trần Văn Nhật, Nguyễn Huy Lợi, v.v... (và
còn nhiều người khác nữa mà tôi không nhớ tên) quả thật là những sĩ quan ưu
tú nhất của quân đội, xứng đáng mọi mặt về văn hóa và chính trị cũng như khả
năng quân sự và tác phong. Những sĩ quan này chưa trở thành danh tướng nhưng
chắc chắn khả năng quân sự của họ không thua kém những sĩ quan của các quốc
gia tiên tiến. Nhưng tất cả đã bị mai một vì cơ duyên đoạn trường của vận
nước một phần, và phần khác vì quốc gia không có kẻ lãnh đạo sáng suốt biết
trọng dụng hiền tài. Họ đúng là những kẻ muốn làm chuyện đội đá vá trời
nhưng lại sinh bất phùng thời.
Về phần tôi, trong khoảng thời gian đó tôi gặp nhiều nghịch cảnh vui buồn
lẫn lộn. Một kỷ niệm êm đềm làm cho tôi nhớ mãi là trong lúc tôi bị Vương
Văn Đông kết tội là “Cọp đen” của chế độ Diệm thì một việc bất ngờ nhưng rất
phấn khởi xảy đến cho tôi. Độ hơn một tuần lễ sau khi trả tự do cho nhóm đàn
bà con nít vợ con các sĩ quan “phản loạn” thì một hôm, hai mẹ con bà Đại úy
Phan Phụng Tiên (người đã nhận lệnh Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay cho nhóm lãnh
tụ “phản loạn” qua Nam Vang) đến thăm tôi tại nhà riêng. Bà Cụ thân mẫu (hay
nhạc mẫu) của bà Tiên nói: “Thưa Đại tá, ở ngoài thiên hạ đồn Đại tá là tay
chân thân tín của Cụ Tổng thống, Đại tá có quyền sinh sát ghê gớm lắm thế mà
vợ con các sĩ quan bị giam cầm về đều ca ngợi Đại tá đạo đức hiền lành.
Chẳng những Đại tá lo lắng ăn ở cho họ chu đáo, đối xử tử tế với họ mà Đại
tá còn giữ kỷ luật nghiêm minh để cho đàn bà con gái giữ được thanh danh
trong cơn sa cơ thất thế. Vì thế, tôi xin đến đây để tỏ lời cám ơn Đại tá”.
Tôi nghe bà Cụ nói và tự xét mình chẳng làm gì gọi là ân nghĩa ngoài cái bổn
phận tất nhiên của một sĩ quan và cách cư xử tự nhiên của một người bình
thường, thế mà sao hai người đàn bà này lại có cử chỉ tuy thân kính nhưng
lại đường đột như thế. Tôi nhìn bà Đại úy Tiên thì thấy bà ta là một phụ nữ
thùy mị đoan trang và chợt tìm ra rằng những bà mẹ hiền Việt Nam thường ưu
tư cho con gái, nhất là con gái xa chồng mà lại phải sa vào nơi mà họ tưởng
là “hang hùm ổ rắn”, nhưng rồi thấy con mình được danh tiết bảo toàn sau cơn
hoạn nạn nên bà vui mừng đến thăm và ngỏ lời tạ ơn. Câu chuyện quả thật
không có gì đáng nói nhưng chính vì lòng yêu thương lo lắng cho con gái của
một bà mẹ Việt Nam hiền hòa chất phác, chính vì những lời nói chân thành của
bà Cụ, một bà già không phe đảng, không “chính chị chính em” mà tôi cảm nhận
được rõ ràng nhân dân và quân sĩ đang coi chế độ Diệm là một địa ngục trần
gian, coi những tay sai của chế độ, trong đó có tôi, là những hung thần ác
quỷ. Lời bà Cụ như có mãnh lực khuyến khích tôi, nhắn nhủ tôi luôn luôn phải
giữ mình, không những luôn luôn phải nhìn về việc phải, hướng về điều lành,
mà còn phải hành xử trong đạo đức và chính trực (gia đình tướng Phan Phụng
Tiên hiện ở Mỹ).
-o0o-
Năm 1960, như đã trình bày, nếu đã là năm mở đầu cho sự băng hoại tận gốc
rễ của chế độ Diệm với 5 biến cố là sự thảm bại của Sư đoàn 13, bức tranh
chuột đục khoét quả dưa hấu miền Nam của báo Tự Do, bản tuyên cáo của nhóm
Caravelle, cuộc binh biến 11-11 do binh chủng Nhảy Dù khởi xướng, và sự ra
đời đầy thách đố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, thì năm 1961,
Việt Cộng phát động những trận đánh lớn, nâng mức độ hủy diệt của chiến
tranh lên một tầng cao hơn để phát triển màng lưới chính trị ở nông thôn,
xây dựng hạ tầng cơ sở, tuyên truyền tố cáo những tội ác của chế độ để phát
huy chính nghĩa và thanh thế thêm cho Mặt trận.
Tình trạng mất an ninh của miền Nam cũng như viễn tượng hủy diệt của
chính chế độ rõ ràng và khẩn cấp đến nỗi thành phần rường cột trung kiên
nhất của chế độ lúc bấy giờ cũng phải hốt hoảng lo lắng. Nguyễn Văn Châu,
Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý, chủ tịch quân ủy đảng Cần Lao, Lê Văn Thái
(hiện ở San Diego), Phụ tá giám đốc Nha Nghiên cứu Chính trị của Trần Kim
Tuyến và bác sĩ Lý Trung Dung, ủy viên Trung ương Đảng Cần Lao, bèn vận động
với ông Ngô Đình Nhu và một số chính khách nhân sĩ đối lập ôn hòa để thành
lập Hội nghị Đại đoàn kết Toàn dân chống Cộng trong mục đích
cải thiện chế độ và làm giảm bớt nỗi căm thù của quần chúng đối với chế độ
ông Diệm. Cuộc vận động bắt đầu từ 18 tháng Giêng mà mãi đến mồng hai tháng
Bảy năm 1961 mới thành hình, và mới triệu tập được một buổi họp chính thức
tại tư gia của bác sĩ Phan Huy Quát với sự tham dự của một số chính khách có
cả bác sĩ Đặng Văn Sung (hiện ở Mỹ) và dưới sự chủ tọa của ông Ngô Đình Nhu.
Người bạn trẻ của tôi, anh Tạ Chí Diệp (cháu ruột của cụ Tạ Chương Phùng,
một cựu đồng chí của ông Diệm) vừa mãn tù ra và được Đại hội cử làm thuyết
trình viên. Sau khi trình bày thực trạng nguy ngập của đất nước, những hiểm
họa rõ ràng của Cộng Sản, Đại hội đưa ra quyết nghị gồm các điểm: “công khai
hóa hoạt động của các chính đảng, lập một diễn đàn chính trị, xét lại vấn đề
chính trị phạm (vì người quốc gia chống Cộng bị bắt bớ giam cầm quá nhiều,
nhất là ở thôn quê), lập một hội đồng chính trị có nhiệm vụ phê bình và chất
vấn chính quyền, và cử một ủy ban vận động Đại Đoàn kết gồm 11 người để thực
hiện nghị quyết”.
Rõ ràng nghị quyết đó là một giải pháp chính trị ôn hòa và thực tế để cứu
nước, một phương thức dân chủ gây lại tinh thần đoàn kết, xóa bỏ hận thù.
Nhưng ông Nhu không những bác bỏ ngay hết mọi đề nghị của Đại hội mà còn
nặng lời chỉ trích các chính khách, đảng phái, và lên án họ đã phá hoại chế
độ, không để cho chính quyền của ông ta rảnh tay lo đối phó với Cộng Sản.
Sau lần gặp gỡ đó, ông Nhu không bao giờ đi họp nữa và Đại hội cũng tan
luôn. Tội nghiệp cho mấy vị chính khách nhiệt thành và mấy ông Cần Lao sốt
sắng; họ không biết kinh nghiệm đã cho thấy rằng đối với anh em nhà Ngô thì
cả nước chỉ biết cúi đầu tuân phục. Những thiện chí, những sáng kiến, dù có
giá trị và xuất xướng từ người thân tín, mà hễ đả động đến tự ái của anh em
nhà Ngô thì chỉ là những giấc mơ không bao giờ thành sự thật. Nhiều khi kẻ
đưa ra thiện chí, đưa ra sáng kiến còn mua lấy tai họa như trường hợp Tạ Chí
Diệp vì quá hăng say trong việc cứu nước mà mua lấy cái chết sau này.
Sau Đại hội Đoàn kết bất thành, Diệp bị bắt và bị thủ tiêu luôn. Được tin
Diệp bị Công an sát hại, Bác sĩ Tuyến và tôi vô cùng bàng hoàng. Chúng tôi
gặp nhau than thở không ngờ nhóm Nguyễn Văn Y, Dương Văn Hiếu tàn ác đến
thế, không ngờ chế độ mà mình đang phục vụ lại bất nhân đến thế.
Không ai có thể chối cãi được thái độ chính trị của Tạ Chí Diệp cũng như
những đề nghị của anh ta trong Hội nghị Đoàn Kết là những đề nghị xây dựng
để mong cứu lấy miền Nam, thế mà Diệp đã chết vì cái chủ trương đối lập xây
dựng đó. Huống chi Diệp lại là cháu ruột của cụ Cử Tạ Chương Phùng, một đồng
chí son sắt của ông Diệm trong phong trào Cường Để, từng hy sinh thân thế,
sự nghiệp, tiền của cho ông Diệm, từng bị mật thám Pháp tra tấn đến nỗi gẫy
cả răng và điếc cả tai.
Diệp chết đi để lại một ông Bác gần 70 tuổi nghèo nàn và cô đơn, với một
bà mẹ già trên 90 tuổi già nua bệnh tật. Trước cảnh thương tâm đó, chỉ còn
Cụ Huỳnh Minh Ý và Bác sĩ Bùi Kiện Tín giúp đỡ cụ Tạ một phần nào mà thôi.
(Xem thêm thư của Cụ Huỳnh Minh Ý trong phần phụ lục).
Cái chết của Tạ Chí Diệp cũng như cái chết của Nguyễn Tấn Quê, Vũ Tam
Anh, Nguyễn Bảo Toàn v.v... và hàng trăm ngàn người dân vô tội ở thôn quê
nằm trong chính sách tiêu diệt người quốc gia đối lập của chế độ Diệm.
Ai cũng biết rằng cái chết oan khiên của hàng trăm ngàn dân quê nhiều khi là
do hành động lạm quyền của các cán bộ Cần Lao Công giáo, nhưng còn việc sát
hại những nhân vật chính trị tên tuổi tại Sài Gòn là phải có lệnh của các
ông Diệm, Nhu, Cẩn. Thế mà sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, trước Tòa án Cách
mạng, Đại tá Nguyễn Văn Y khai rằng ông ta đã ra lệnh giết những nhân vật
quốc gia kia chỉ vì “nghe không rõ lệnh của Tổng thống”. Đó là một
lời khai gian dối tuy có ý bênh vực Tổng thống Diệm nhưng đồng thời cũng tố
cáo Tổng thống Diệm đã liên hệ vào các vụ giết người. Dù sao thì một chế độ
chủ trương sát hại, thủ tiêu những người quốc gia đối lập đã là một chế độ
tàn bạo kiểu Cộng Sản và Nazi Đức Quốc xã. Còn một chế độ mà ông Tổng giám
đốc cầm đầu ngành Công an, Cảnh sát vì “nghe không rõ lệnh của ông Tổng
thống” mà đem những nhân vật quốc gia chân chính đi trấn nước cho chết (xem
lời tố cáo của bà Đức Thụ trong phần phụ lục) như trấn nước một con chó dại
thì chế độ đó là chế độ gì? Đừng trách những nhà văn Hiếu Chân, Chu Tử, Từ
Chung buộc tội chế độ Diệm là thứ “Chế độ phi cầm, phi thú” (xem lời
tuyên bố của ba nhà văn này trong phần phụ lục).
Trường hợp yểu tử của Đại Hội Đoàn kết nếu đã để lại những xót xa và phản
tỉnh trong lòng một số người thì nó cũng đã xác nhận thêm cái chân tướng
chính trị của Ngô Đình Nhu, một chân tướng được đúc nặn bằng tâm địa thâm
độc chủ quan và óc tham quyền cố vị. Năm 1953, khi cần tạo uy thể cho anh
mình để nắm chính quyền, Ngô Đình Nhu đã chủ trương chính sách đại đoàn kết
với các đảng phái đến nỗi Ngô Đình Nhu không ngại ngồi chung và cộng tác với
những kẻ mà Nhu cho là “ăn cướp” như Năm Lửa, Bảy Viễn; thế mà khi nắm giữ
được quyền hành rồi, Nhu lại bác bỏ phương thức đại đoàn kết để cứu nước,
chỉ điều hành sinh hoạt quốc gia bằng những luật lệ độc tài phản dân chủ,
khinh thị quốc dân, chỉ trích mạt sát các đảng phái mặc dù đất nước đang
rách nát đau thương do chính tay gia đình ông ta gây ra.
Đã không chịu thực hiện công cuộc đại đoàn kết, liều thuốc cuối cùng và
hợp lý nhất để cùng nhau đương đầu với kẻ thù chung là Cộng sản, nhà Ngô còn
ngoan cố bác bỏ mọi đề nghị dân chủ hóa chế độ của người Mỹ, mọi đề nghị
đoàn kết của quốc dân, còn khinh thường thái độ của quân đội và nhân dân đã
nhiều phen tha thiết biểu lộ nguyện vọng xin chính quyền nới rộng bàn tay
kềm kẹp. Thủ đoạn thành lập chính phủ mới dưới đây càng tỏ rõ thái độ ngoan
cố và khinh thường ý kiến của người Mỹ và ý nguyện của nhân dân Việt Nam.
Sau khi làm lễ tuyên thệ chức Tổng thống nhiệm kỳ II trước Quốc Hội vào
ngày 28-5-1961, anh em ông Diệm thành lập một chính phủ mới, và tuy tuyên bố
có cải tổ trong thành phần nhân sự nhưng thật sự cũng chỉ là những người
thân tín cũ. Nếu có vài người mới thì cũng chỉ là thứ người chỉ biết uốn
mình theo chế độ. Cũng như mới nhìn thì có vẻ có một sự tái phối trí về
nhiệm vụ nhờ một số danh từ mới, nhưng những danh từ này thật ra chỉ cốt để
đánh lận con đen, không lừa dối được ai mà lại càng bảy tỏ rõ ràng thêm
những thủ đoạn chánh trị ấu trĩ. Chánh phủ mới có ba bộ đặc nhiệm gồm có Phó
Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ kiêm Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp Phát triển Kinh
tế, ông Nguyễn Đình Thuần, làm Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng
Phụ tá Quốc phòng và Bộ trưởng đặc nhiệm phối hợp An Ninh, và ông Trương
Công Cừu, vốn là Dân biểu và Chủ tịch “Ủy ban Chống Phiến Cộng”, giữ chức Bộ
trưởng Đặc nhiệm Văn Hóa Xã Hội. Lúc đặt ra ba bộ đặc nhiệm, anh em ông Diệm
muốn chứng tỏ đang thực hiện chính sách tản quyền nhưng thiên hạ còn lạ gì
thủ đoạn của họ Ngô, vì trong lúc đưa ra ba bộ Đặc nhiệm do chính cộng sự
viên thân tín nắm giữ thì đồng thời nhà Ngô cũng lại ban hành nhiều sắc luật
đặc biệt để nắm lấy quyền hành, những sắc luật mà tôi sẽ đề cập vào đoạn sau
của chương này.
Ngoài ba vị Bộ trưởng Đặc nhiệm trên đây còn có các ông: Vũ Văn Mẫu, Bộ
Ngoại giao; Bùi Văn Lương, Bộ Nội Vụ; Nguyễn Văn Lượng, Bộ Tư pháp; Nguyễn
Quang Trình, Bộ Giáo dục; Ngô Trọng Hiếu, Bộ Công dân vụ; Hoàng Khắc Thành,
Bộ Kinh tế; Nguyễn Lương, Bộ Tài chánh; Trần Lệ Quang, Bộ Cải tiến Nông
thôn; Trần Đình Đệ, Bộ Y tế; Huỳnh Hữu Nghĩa, Bộ Lao động; Nguyễn Văn Dinh,
Bộ Giao thông Công chánh; (đa số các vị trên đây đều có mặt tại hải ngoại).
Ngoài một số Bộ trưởng được dư luận coi như nhân tài hay liêm chính như các
ông Trần Lệ Quang, Vũ Văn Mẫu, Trần Đình Đệ, Nguyễn Văn Lượng... một số khác
có những “huyền thoại” riêng, tuy nhiên có hai nhân vật đặc biệt được dư
luận bàn tán rất nhiều là các ông Huỳnh Hữu Nghĩa và Ngô Trọng Hiếu.
Ông Huỳnh Hữu Nghĩa (hiện ở Pháp) tuy rất trẻ tuổi và không có một bằng
cấp văn hóa nào nhưng ông ta là “chiến hữu” của tướng Trình Minh Thế đã được
Đại tá CIA Lansdale thuyết phục kéo quân từ chiến khu Bà Đen về hợp tác với
anh em ông Diệm từ thời 54-55. Thân phụ của ông Nghĩa là một nhà nho có tinh
thần cách mạng. Nếu chỉ có thế thì có lẽ đã không có dư luận bàn tán, nhưng
từ khi cởi áo cách mạng mang áo công hầu thì ông Nghĩa có nhiều thành tích
mà hàng công thần của nhà Ngô nhiều người không có được. Giới báo chí và dân
chúng thủ đô cho rằng ông lo việc bàn đèn cho ông Nhu tại Sài Gòn cũng như
một ông Thị trưởng lo bàn đèn cho ông Nhu tại Đà Lạt mỗi khi ông Nhu đi săn
bắn. Dư luận đó không biết có đúng không, nhưng theo ông Nguyễn Đình Thuần
kể lại cho nhiều người Mỹ biết thì ông Nhu là người nghiện thuốc phiện
. Ông Nhu có cặp môi
xám đen như thường thấy nơi những người hút sách nghiện ngập, thường đến
chơi và thường ăn cơm tại nhà ông Nghĩa. Vì tôi cũng là một bạn quen của ông
Bộ trưởng họ Huỳnh nên thỉnh thoảng được mời đến ăn cơm với ông Nhu, ông
Thuần ở đấy. Nhưng chuyện mà các chính khách và các văn nghệ sĩ ở Sài Gòn
bàn tán nhiều là vào năm 1956, ông Nghĩa đã cho ra đời một thi phẩm tựa đề
là “Việt Nam Ngày Nay” để ca tụng Tổng thống Diệm như một “vĩ nhân
giữa đời, kết tinh ý trời và hồn sông núi” để trong phần kết luận tác giả đã
chiêm ngưỡng thần tượng do mình tạo nên bằng cách “Cúi đầu lạy trước Cao
dày, cùng nhau kể lể những ngày sau xưa”. Thi phẩm quái đản này và việc lo
bàn đèn cho ông Nhu chắc chắn đã đóng góp vào chức vụ Bộ trưởng Bộ Lao động
mà ông Nghĩa đã nắm cho đến ngày tàn của chế độ Ngô triều. Ông Nghĩa với tôi
cũng có chút giao tình nên tôi biết ông là người hiền hậu, xuề xòa không làm
hại ai, không gây ân oán với ai, nhưng tập thơ “Việt Nam Ngày Nay” của ông
và việc ông lo bàn đèn cho ông Nhu đã làm cho dư luận bàn tán nhiều về bản
chất ưa nịnh bợ của anh em ông Diệm.
Người ta chú ý đến ông Ngô Trọng Hiếu (hiện ở Mỹ) vì ông Hiếu làm Bộ
trưởng cho chính phủ “Cách mạng Nhân Vị” Việt Nam Cộng hòa mà gốc gác lại
không phải là người Việt Nam. Mẹ ông là người Việt nhưng cụ thân phụ của ông
lại là người Phi Luật Tân có quốc tịch Pháp, và tuy ông sinh đẻ ở Thủ Dầu
Một nhưng lại theo quốc tịch cha. Ông đã từng học luật ở Pháp và vì là người
Pháp, nên ông được chính phủ Bảo Hộ cử giữ chức Trưởng ty Ngân khố (dưới
thời Pháp thuộc chỉ có người Pháp mới được giữ chức này). Thời Pháp thuộc,
chức Trưởng ty Ngân khố được gọi là “Percepteur”. Ông Hiếu từng là
“Percepteur” ở Lao Kay, Hưng Yên trước 1945. Ngày Nhật Bản đảo chánh 9-3-45,
ông Hiếu bị Nhật bắt chung với mọi Pháp kiều thời bấy giờ. Tây trở lại Việt
Nam, ông Hiếu lại được giữ chức Trưởng ty Ngân Khố tỉnh An Giang dưới quyền
Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên là Bí thư của toàn quyền Decoux. Từ chỗ
tri giao đó cho nên khi ông Thơ làm Phó Tổng thống cho người bạn thân là ông
Ngô Đình Diệm thì ông Hiếu được ông Thơ đề cử với ông Diệm giữ chức Phó Tổng
Giám đốc rồi lên Tổng giám đốc Nha Ngân khố Trung ương. Con đường công danh
của ông Hiếu từ đó mở rộng thênh thang để từ lãnh vực chuyên môn ông bước
qua lãnh vực chính trị. Ông được ông Thơ giới thiệu với anh em ông Diệm cho
đi làm Đại sứ Việt Nam ở Phnom Penh là nơi mà hệ thống gián điệp quốc tế
(nhất là gián điệp Pháp và Cộng sản Hà Nội) dăng dày như lưới. Nhưng những
thất bại ngoại giao của ông ở Cao Miên đã đưa đến việc ông Sihanouk thiên
hẳn về Cộng sản Hà Nội và Trung Cộng, đưa đến việc Quốc trưởng Cao Miên
quyết liệt hơn trong việc chống đối VNCH và dung túng cho Cộng Sản đóng quân
tại biên giới Miên-Việt để làm xuất phát điểm tấn công miền Nam. Buồn cười
thay, những thất bại trong nhiệm vụ Đại sứ lại làm cho ông trở thành Bộ
trưởng Công Dân vụ cho đến ngày chế độ Diệm sụp đổ. Tôi còn nhớ ngày ông
Hiếu sắp được cử làm Đại sứ tại Phnom Penh, tôi đã gặp ông ngồi chờ ở ngoài
phòng đợi tại văn phòng chính trị của bác sĩ Tuyến. Khi ông Tuyến tiễn tôi
ra khỏi văn phòng, tôi không khỏi nhịn cười khi thấy cảnh ông Ngô Trọng
Hiếu, một người to lớn phốp pháp đã phải khom lưng cúi mình trước một ông
Tuyến nhỏ thó hiền lành. Nhưng rồi thời gian trôi đi, ông Tuyến, một trung
thần của nhà Ngô, một bạn thân đã từng giúp ông Nhu trốn thoát Cộng Sản tại
Thanh Hóa thời 1945, dần dần bị thất sủng để cuối cùng phải chịu cái mệnh hệ
“được làm vua thua làm Tổng lãnh sự” ở Ai Cập, thì ông Hiếu lại như diều gặp
gió, được nhà Ngô hết sức tín nhiệm và cử nhiệm chức Bộ trưởng Công Dân vụ.
Trên danh nghĩa thì Bộ này còn thua kém quyền hành của nhiều bộ khác như các
Bộ Ngoại giao, Nội vụ, Quốc phòng chẳng hạn, nhưng trên thực tế, nhất là vào
cái thời buổi nhiễu nhương loạn ly lúc bấy giờ thì Bộ Công Dân vụ chịu trách
nhiệm về vấn đề điều động nhân lực và tham gia vào việc xây dựng các sách
lược quốc gia.
Thật vậy, sự kiện ông Hiếu chỉ huy các ngành thông tin, tuyên truyền,
Công dân vụ, sự kiện ông Hiếu phụ trách về quốc sách ấp chiến lược, rồi lại
đăc trách giao thiệp với các tôn giáo nhất là với Phật giáo trong biến cố
1963, đã nói lên cái địa vị, quyền hành to lớn của ông ta, cũng đã nói lên
sự tín nhiệm gần như tuyệt đối của anh em ông Diệm đối với ông ta.
Một tài liệu (mà tôi quên tên) tại Sài Gòn cho biết ông Hiếu là em ruột
của ông Phạm Văn Tươi, cũng là một người có Pháp tịch, chủ một nhà sách lớn
tại Sài Gòn (thời chiến tranh Pháp - Việt 1945-1954). Thời Hồ Chí Minh mới
cướp chính quyền, ông Ngô Trọng Hiếu cải tên họ từ Paul Hiếu ra Hồ
Trọng Hiếu, nhưng khi Pháp trở lại, ông vội trở về với tên Paul Hiếu,
lúc ông Ngô Đình Diệm bắt những người có quốc tịch Pháp phải đổi thành quốc
tịch Việt Nam, ông Paul Hiếu đổi tên lần nữa thành Ngô Trọng Hiếu.
Khi tiếng súng cách mạng nổ giữa Sài Gòn năm 1963, ông Hiếu trốn vào Tòa Đại
sứ Phi Luật Tân và sau này, dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu, một chế độ Diệm
không Diệm, ông Hiếu đắc cử Dân biểu đơn vị có nhiều giáo dân di cư tại Hố
Nai nhờ lòng trung thành của ông đối với chế độ cũ, đối với anh em ông Diệm
ngày xưa. Ông Lê Quang Luật cũng ra ứng cử tại cùng đơn vị Hố Nai nhưng đã
bị thất cử mặc dù ông Luật có công rất lớn trong việc tổ chức những người
Công giáo di cư vào Nam năm 1954-1955. Theo ông Luật, ông đã thất cử là vì
không có tiền để thỏa mãn các vị cha cố tại Hố Nai và nhất là vì ông đã từng
chống đối quyết liệt anh em ông Diệm. Từ ngày bị thất cử, dù là một tín đồ
Công giáo, ông Luật thường thống trách các vị linh mục, cho rằng họ chỉ biết
quyền lợi mà không hề biết đến ân tình.
Ông Hiếu thường ca tụng ông Ngô Đình Nhu là Trương Lương đời nay. Trương
Lương có tài nhưng lại biết sau khi “công thành thì thân thoái”, tránh được
nạn “vắt chanh bỏ vỏ” của Lữ Hậu, trong lúc ông Ngô Đình Nhu chẳng những đã
vô tài mà còn tham quyền cố vị để cuối cùng phải chết bất đắc kỳ tử.
Dư luận đã cho rằng việc nhà Ngô trọng dụng ông Ngô Trọng Hiếu là một
thái độ khinh thị quần chúng, coi quốc gia đã hết nhân tài nên mới dùng “con
Tây” làm Bộ trưởng. Hai nhân vật Ngô Trọng Hiếu và Huỳnh Hữu Nghĩa trong tân
nội các của ông Diệm vào nhiệm kỳ Tổng thống thứ nhì đã biểu lộ một cách
chính xác nhất bản chất chế độ Diệm chỉ là chế độ trung ương tập quyền và
phong kiến quan lại, chỉ tin dùng những bề tôi nịnh thần. Còn việc đặt ra ba
Bộ “đặc nhiệm” cho có hình thức tản quyền chỉ là thủ đoạn ấu trĩ không lừa
dối được ai, chỉ mua thêm sự chán nản của đồng bào, của đồng minh Hoa Kỳ và
dư luận quốc tế mà thôi.
-o0o-
Vì Miền Nam đã thực sự suy yếu, chế độ Diệm đã thực sự lung lay ngay từ
năm 1960 khi những biến cố chính trị và quân sự dồn dập xảy đến, nên khi mới
bước chân vào tòa Bạch ốc vào đầu năm 1961, mối ưu tư hàng đầu của Tổng
thống Kenendy là vấn đề Việt Nam. Ông cấp tốc lấy những biện pháp cần thiết
và quan trọng để xây dựng lại uy tín cho Tổng thống Ngô Đình Diệm và để cứu
vãn miền Nam.
Tổng thống Kennedy vội vã phái Phó Tổng thống Johnson qua Sài Gòn để quan
sát và nghiên cứu tình hình tại chỗ. Trước khi ra đi, Kennedy đã nói với
Johnson rằng: “miền Nam Việt Nam đang rối rắm, ta cần phải giúp họ mà chính
họ cũng phải tự giúp họ nữa”. Quả là lời nói bao hàm nhiều ý nghĩa chính
trị, Tổng thống Kennedy cũng nhờ Phó Tổng thống Johnson trao cho Tổng thống
Ngô Đình Diệm một bức thư đề nghị tăng quân viện và kinh viện, đặc biệt là
đề nghị tăng quân số của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thêm 20.000 người, tăng
lực lượng giang thuyền và cận duyên, tăng cường sức mạnh cho Bảo An
...
Cuộc viếng thăm ba ngày 11, 12, 13 tháng 5 năm 1961 của nhân vật thứ hai
trong chính quyền Hoa Kỳ không những chỉ để cho cấp lãnh đạo tối cao Mỹ có
một cái nhìn chính xác hơn về tình hình Nam Việt Nam, mà còn có mục đích
chứng tỏ cho Hà Nội và cho dân chúng miền Nam biết rằng Mỹ vẫn tiếp tục ủng
hộ mạnh mẽ VNCH dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Để tạo lại uy
tín cho Tổng thống Ngô Đình Diệm vốn đã bị sứt mẻ quá nhiều, khi đến Sài
Gòn, Phó Tổng thống Johnson đã đưa ra lời ca ngợi ngoại giao lố lăng là tôn
vinh ông Diệm như một “Winston Churchill Á Đông”. Những lời tán tụng
ông Diệm của Phó Tổng thống Johnson đã làm cho ký giả thêm thắc mắc và nhân
dân Việt Nam thêm bẽ bàng uất hận.
Tháng 11 năm 1961, Tổng thống Kennedy lại cử Đại tướng Taylor, cố vấn
quân sự, và ông Rostow, cố vấn an ninh, qua Sài Gòn để cùng với chính phủ
VNCH thiết lập dự án những nhu cầu viện trợ đa diện, đặc biệt là về phương
diện quân sự. Hai nhà chức trách cao cấp Mỹ khi trở lại Hoa Thịnh Đốn đã báo
cáo với Tổng thống Kennedy rằng tình hình quả thật nguy kịch nhưng vẫn còn
có thể chiến thắng được Cộng Sản, với điều kiện là Mỹ phải cấp tốc tạo lại
tinh thần lạc quan và quyết chiến cho miền Nam Việt Nam. Tờ trình nói rằng:
“Viện trợ dồi dào và rộng lượng của Mỹ cả về tài lực, nhân lực cho mọi ngành
thuộc các cơ cấu dân sự, quân sự, có thể đưa đến kết quả là chế độ Diệm có
thể được cải tiến để họ có ý chí quyết chiến” .
Trong những năm 61 và 62 đó, tuy chính quyền Kennedy có thật sự ưu tư và
yểm trợ cho miền Nam Việt Nam nhưng tiếc thay, chính sách yểm trợ đó chỉ
củng cố thêm uy tín và địa vị riêng của ông Diệm đang bị lực lượng chủ lực
của đất nước là quân đội chống đối. Chính quyền Kennedy đã không dám
quyết liệt đòi hỏi ông Diệm phải thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng để
trong sạch hóa và hùng mạnh hóa chế độ mà chỉ đề nghị những cải cách phiến
diện đến độ anh em ông Diệm cũng không lưu tâm đến. Trong phần tư đầu của
nhiệm kỳ, tuy vấn đề Việt Nam tiềm ẩn những yếu tố phức tạp và nghiêm trọng
nhưng Tổng thống Kennedy vẫn chưa lấy các biện pháp có tầm quan trọng thích
đáng vì vẫn hy vọng miền Nam nói chung, và chế độ Diệm nói riêng, dù có sai
lầm suy nhược nhưng vẫn còn có thể sửa sai để tự cường được.
Riêng đối với nhân dân Việt Nam, với trên 7 năm cầm quyền của anh em ông
Diệm, người quốc gia miền Nam đã kinh qua nhiều kinh nghiệm xương máu với
chế độ nên hoàn toàn thất vọng, không còn tin tưởng nơi lời nói và việc làm
của ông ta nữa. Rõ ràng nhất là anh em ông Diệm vẫn không học được một bài
học nào sau một năm 1960 đầy sóng gió, không chịu cảnh tỉnh trước sự công
phẫn công khai và quyết liệt của quân nhân để vẫn cứ ngoan cố tiếp tục tác
phong khinh thị quốc dân và tiếp tục chính sách quản trị đất nước một cách
hẹp hòi ngu xuẩn. Chứng cớ rõ ràng là những vụ lùng bắt, giam cầm, sát hại
người quốc gia đối lập, vẫn tiếp tục và tiếp tục quyết liệt hơn. Chứng cứ rõ
ràng là vì Ngô Đình Nhu khinh thị và mạt sát người quốc gia đối lập trong
Hội nghị Đại Đoàn kết. Chứng cứ rõ ràng là việc thành lập một chính phủ mới
gồm hầu hết những tay chân thân tín, không có thành tích và ý thức cách
mạng.
Trong lúc đó, Việt Cộng lại khôn khéo khai thác những chiến thắng của năm
1960 để tung ra những đợt tiến công hung hãn hơn trong năm 1961 và những năm
tiếp theo. Mới vào năm 1961 mà Việt Cộng đã làm chủ tình hình nhiều nơi, đã
liên tiếp tấn công hết quận lỵ này đến quận lỵ khác, đã sát hại nhiều Quận
trưởng, Dân biểu, Phó tỉnh trưởng và dám tấn công vào tỉnh lỵ Kiến Hòa (ngày
1-4-1961). Đặc công Việt Cộng cũng đã liên tiếp khủng bố, đặt bom, ném lựu
đạn ngay giữa đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn, đã dám xua 2.500 dân các tỉnh lên
Sài Gòn biểu tình phá rối cuộc bầu cử Tổng thống (ngày 9-4-1961). Việt Cộng
cũng đã dám tấn công công trường Đa-Nhim, một khu vực nổi tiếng an toàn chỉ
thua Thủ đô Sài Gòn, bắt và hạ sát cả Quận trưởng Đôn Dương. Ngày 28-6-1961,
trong cuộc hành quân của quân đội VNCH vào chiến khu Tô Hạp (biên giới tỉnh
Ninh Thuận và Khánh Hòa), quân lực ta đã phải đương đầu với một lực lượng
1.500 Việt Cộng, cũng đủ nói lên sức mạnh có tính cách quy mô của Việt Cộng
của hai tỉnh thường được coi là an ninh nhất miền Trung. Ngày 16-7-1961,
Tiểu đoàn 502 của Việt Cộng dám công khai công hãm một Tiểu đoàn Nhảy Dù
giữa ban ngày tại Mỹ Quý (Kiến Phong). Ngày 18-9-1961, Việt Cộng tấn công,
chiếm đóng, đốt phá tỉnh lỵ Phước Thành làm cho thiếu tá Tỉnh trưởng Nguyễn
Minh Mẫn, Phó tỉnh trưởng và nhiều viên chức dân sự, quân sự bị sát hại.
Ngày 1-10-1961, Đại tá Hoàng Thụy Nam, Trưởng phái đoàn Việt Nam liên lạc
với Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến lên thăm trại riêng tại Thủ Đức, khu
vực được coi là an toàn gần Thủ đô Sài Gòn, bị Việt Cộng bắt cóc và giết
chết. Việc này làm cho Tổng thống Diệm phải viết thư báo động với Tổng thống
Kennedy về chủ trương xâm lăng của Hà Nội... Tôi chỉ kể qua một ít hoạt động
của Việt Cộng, nhưng nhìn vào bản đồ miền Nam năm 1961 thì những vết đỏ giới
hạn ban đầu đã từ từ lan tỏa khắp miền Nam, từ tuyến đầu Quảng Trị vào đến
Cà Mau heo hút, từ Duyên Hải trù phú lên đến Cao Nguyên màu mỡ rồi.
Trước hoàn cảnh bi đát đó, người quốc gia không thể cứ ngồi nhìn anh em
ông Diệm và chế độ “Cần Lao Công giáo” bất lực và thối nát kia bám lấy địa
vị và xé dần bản dư đồ Việt Nam cho rách nát thêm. Họ nhận định rằng nếu chế
độ Diệm tồn tại thì họ sẽ không có một cơ may nào để sinh tồn vì họ vừa phải
chống giặc ngoài vừa dẹp thù trong, nên người quốc gia miền Nam đã hết lớp
này đến lớp khác, kẻ này bị bắt bị giết thì kẻ khác lại vùng lên. Biểu hiện
rõ ràng nhất là một biến cố vào đầu năm 1962, tưởng đã tiêu diệt được trọn
họ Ngô Đình.
-o0o-
Sáng ngày 27-2-1962, khoảng 7 giờ, tôi đang chuẩn bị đến văn phòng thì
bỗng nghe những tiếng nổ dữ dội, rồi một vùng khói đen nghịt cuồn cuộn từ
phía Dinh Độc Lập tỏa lên cao, trong lúc trên bầu trời quận 1 và quận 2
thành phố, hai chiếc chiến đấu cơ đang bay lượn theo đội hình tác chiến.
Không cần phải kiểm chứng tôi cũng biết được dinh Độc Lập đã bị ném bom như
chỉ cách đây 2 năm, ngày 10-3-1960, dinh Tổng thống Sukarno ở Nam Dương cũng
bị phi cơ bắn phá.
Tôi bèn lên xe chạy ngay vào Dinh Độc Lập nhưng đến nơi thì thấy cửa vào
dinh đã đóng kín, quân phòng vệ phủ Tổng thống đã bố trí trong tư thế tác
chiến cả bốn mặt. Tôi gặp tướng Nguyễn Khánh dọc đường nên hai chúng tôi bèn
trở lại theo phía cổng đường Nguyễn Du mà vào. Nhìn thấy cánh trái dinh Độc
Lập bị sụp đổ, tôi nghĩ rằng vợ chồng Ngô Đình Nhu đã bị trúng bom rồi,
không ngờ khi đến một căn phòng nhỏ hẹp ngay dưới cầu thang chính của phòng
Đại sảnh, nơi xây cất vững chắc nhất, thì thấy Tổng thống Diệm, gia đình ông
Ngô Đình Nhu và tình cờ lại có cả giám mục Ngô Đình Thục nữa, đang ngồi chen
chúc trú ẩn. Mọi người im thin thít, mặt mày xanh như tàu lá chuối. Trước
cảnh tượng đó, tướng Khánh và tôi vội chào rồi lui ra. Khoảng một giờ sau,
một sĩ quan của Nha An Ninh Quân đội đến báo cho tôi biết Hải Quân đã bắn hạ
một chiếc chiến đấu cơ của Không quân trên sông Nhà Bè, cách Hải quân công
xưởng chỉ độ vài cây số, và đã biết được viên phi công là Trung úy Phạm Phú
Quốc, còn chiếc máy bay thứ hai thì đã mất dạng. Tôi vào “hầm” trình bày tự
sự cho ông Diệm biết, bấy giờ mọi người mới lục tục đi ra. Và cũng cho đến
lúc đó mới có một nhân viên của Phủ báo cho biết ngay trên vị trí trú ẩn còn
một quả bom không nổ. Nhờ vậy mà cả gia đình ông Diệm đều được bình an chỉ
trừ bà Nhu bị thương nhẹ vì gạch văng trúng vào người. Mới quan sát qua
quang cảnh đó tôi đã biết ý định của nhóm phi công “phản loạn” vốn không có
ý hạ sát ông Diệm mà chỉ muốn giết vợ chồng Ngô Đình Nhu mà thôi.
Sau đó mấy giờ, ông Diệm ra lệnh dời Phủ Tổng thống về dinh Gia Long tức
khắc, chỉ để lại một số cơ quan phụ thuộc tại những ngôi nhà nhỏ trong Dinh.
So với biến cố 11-11-1960, vụ ném bom không xảy ra tuần tự có thứ lớp để
ông Diệm có thì giờ đối phó. Tiếng nổ long trời lở đất (đúng là như “trời
giáng” xuống Dinh Độc Lập) đến một cách bất thần, không những đã làm sụp đổ
cái kiến trúc biểu tượng cho uy quyền của ông mà còn làm sụp đổ chỉ trong
mấy giờ phút ngắn ngủi, cái niềm tin thiên mệnh thần bí đã từ lâu bám chặt
lấy tâm lý của ông.
Chỉ độ vào khoảng vài tiếng đồng hồ sau tiếng sét chính trị đó, ông Diệm
gọi tôi đi theo ông về ngôi nhà Trắng biệt lập ở góc đường Nguyễn Du - Công
Lý trong vòng rào của Dinh. Trước đây vài phút, giữa đám đông, ông đã cố
gắng bình tĩnh để giữ thể thống của một nhà lãnh đạo gan lì không xao xuyến
trước mọi thử thách, nhưng khi đến ngồi trong căn nhà vắng lặng chỉ có hai
thầy trò, khuôn mặt của ông lộ hẳn vẻ buồn phiền. Ngồi im lặng đến hơn 5
phút ông mới hỏi tôi: “Mậu có biết thằng Quốc không?” Tôi biết ông muốn hỏi
Trung úy Phạm Phú Quốc nhưng vì chưa nắm vững tình hình nên tôi chỉ trả lời:
“Thưa cụ, nếu nói là Phạm Phú Quốc thì y là người Quảng Nam thuộc giòng dõi
cụ Phạm Phú Thứ”. Nghe tôi nói đến cái tên Phạm Phú Thứ, ông Diệm liền chau
mày. Hơn ai hết, ông biết rõ tiền bối Phạm Phú Thứ đã từng làm quan Nam
Triều, từng làm Tuần Vũ Bình Thuận nơi mà ông đã có thời trấn nhậm, ông cũng
biết cụ là người Quảng Nam nơi anh ruột ông đã từng làm Tổng đốc. Cụ Phạm
Phú Thứ là một nhà nho tuy ra làm quan vào thời Tây bắt đầu đô hộ xứ Trung
Kỳ nhưng Cụ luôn luôn hành xử một cách thanh liêm, cương trực và từng tỏ
thái độ bất khuất đối với người Pháp nên được giới sĩ phu và nhân dân miền
Trung hết lòng ngưỡng mộ. Ông Diệm là người mang nhiều tự ái, tính tình lại
cao ngạo, ông tự cho mình cũng là nhân vật tên tuổi, tiếng tăm không thua gì
Phạm tiền bối mà sao con cháu dòng họ Phạm lại dám ném bom dinh Độc Lập.
Đoán biết tư tưởng của ông, tôi nghĩ thầm có lẽ ông Diệm đang uất ức lắm.
Cái chau mày bất thình lình đó hàm chứa một sự tức giận cao độ vì bị sỉ
nhục. Ông chỉ hỏi có ngần đó rồi lại ngồi im, lầm lì buồn bã, cặp mắt đăm
chiêu ra chiều suy nghĩ lung lắm. Tôi muốn phá tan bầu không khí im lặng
nặng nề rất khó chịu cho tôi trong giờ phút phải đối diện với vị nguyên thủ
quốc gia đang buồn bực vì một cảnh ngộ vừa là gia biến vừa là quốc biến mà
chính tôi ít nhiều đã có lỗi vì không chu toàn được trách nhiệm khám phá
những âm mưu phản loạn trong quân đội. Để gián tiếp an ủi ông và cũng có ý
để phân trần với ông, tôi nói: “Thưa cụ, qua phương pháp và mục tiêu của vụ
ném bom thì hình như bọn “phản loạn” chỉ muốn tốc chiến tốc thắng giết ông
bà Cố vấn mà thôi, họ không muốn làm hại cụ. Hơn nữa, quả bom trên lầu cầu
thang đã không nổ, tức là số mạng của cụ còn vững vàng lắm”. Nói mấy lời đó,
tôi có ý muốn nhắc khéo cho ông Diệm biết rằng quân nhân chỉ thù ghét vợ
chồng Ngô Đình Nhu mà thôi. Nói cách khác tôi chỉ muốn nhắc cho ông biết
chính anh em, bà con của ông mới là những nguyên nhân chính gây tai họa cho
ông, và qua ông, họ gây tai họa cho đất nước.
Tôi đoán từ lâu rồi ông Diệm đã biết rõ ông Nhu không ưa tôi, nhưng vụ
ném bom dinh Độc Lập mà chủ ý là để giết ông bà Nhu, như thêm một bằng chứng
nói lên việc quốc dân thù oán ông bà Nhu đến tột độ để cho ông Diệm thấy
rằng ông Nhu ghét tôi là một thái độ sai lầm, thiếu sáng suốt. Có lẽ vì thế
mà sau vụ ném bom ngày 27-2-1962, ông Diệm càng ngày càng tỏ vẻ thương mến
tôi hơn. Thời còn ở Dinh Độc lập, thường thường vài tháng một lần ông mới
gọi tôi và Dinh ban đêm nói chuyện thế sự, nhưng từ ngày soạn về dinh Gia
Long, cứ vài tuần lễ ông lại cho gọi tôi vào để nói chuyện đời; có khi đến
2,3 giờ sáng mới chấm dứt, làm cho sĩ quan tùy viên và ông già Ẩn, người đày
tớ trung thành của ông, phải thức đêm chầu chực (hiện nay tại hải ngoại có
Châu Văn Lộc là sĩ quan tùy viên vào thời đó). Có lần gia đình tôi được gia
đình một bạn Pháp cố vấn cho Phủ Tổng thống là ông Mourer mời ăn cơm tối tại
nhà riêng, nhưng vào đúng giờ bắt đầu ăn cơm, ông Diệm cho gọi tôi vào Dinh
làm cho chúng tôi phải đợi đến nửa đêm mới bắt đầu bữa tiệc dù trong lúc
ngồi nói chuyện với ông, tôi đã vài lần nhắc khéo chuyện gia đình tôi đang
đợi tại nhà ông bà Mourer (ông Mourer sau khi về Pháp làm Cố vấn Hành chính
cho Tổng thống Georges Pompidou và hiện sống ở Paris). Nhiều đêm, hai thầy
trò đang say sưa vui chuyện nhưng khi nghe tiếng dép của ông Nhu đi tới thì
ông Diệm vội nhè nhẹ bảo tôi: “Thôi anh về đi kẻo ông Nhu tới đó”. Chính
cách cư xử thân tình đó lại càng làm cho tôi thương mến ông nhiều hơn mặc dù
tôi đã không còn tìm thấy nơi ông một người có vóc dáng xứng đáng để lãnh
đạo quốc gia nữa. Mối thâm tình thắm thiết kéo dài cho đến khi biến cố Phật
giáo xảy ra, rồi vì ông Diệm quá bề bộn công việc, quá bối rối buồn bực,
giữa ông và tôi không còn những lần tâm tình vào ban đêm như trước nữa.
Tại ngôi nhà Trắng, ông Diệm và tôi đang ngồi im lặng mỗi người mang
riêng một tâm sự, và cặp mắt cả hai thầy trò như muốn ứa lệ trước một biến
cố hết sức hãi hùng thì bỗng nhiên tướng Nguyễn Khánh bước vào. Tướng Khánh
tỏ vẻ bỡ ngỡ rõ rệt khi thấy chỉ có ông Diệm và tôi, nhưng ông Diệm vội vã
lấy lại bình tĩnh rồi bảo tôi: “Thôi Mậu về lo việc điều tra đi”.
Khi tôi về đến Nha thì An ninh Hải quân đã bắt được Trung úy Phạm Phú
Quốc và An ninh Không quân đã bắt được Trung úy Nguyễn Văn Đính, anh ruột
của Trung úy phi công Nguyễn Văn Cử rồi. Tối đó, chúng tôi nghe được đài
phát thanh Nam Vang thông báo việc chính phủ Cao Miên bắt được Nguyễn Văn Cử
và chiếc phi cơ quân sự của VNCH do Cử lái.
Tôi xuống phòng điều tra của Đại úy Sinh (Trung tá Sinh hiện ở Mỹ), thấy
hai sĩ quan vừa bị bắt mặt mày thâm tím, sưng vù trông rất đáng thương. Tôi
ra lệnh ngưng ngay cuộc hỏi cung và cho dẫn Quốc và Đính về phòng giam tạm
của Nha. Ba hôm sau, bà mẹ của Phạm Phú Quốc (hiện ở Mỹ) từ Đà Nẵng vào xin
gặp tôi để được phép thăm con. Luật pháp cũng như thông lệ không cho phép ai
được thăm viếng một đại tội phạm vừa mới bị bắt, nhưng lương tâm riêng lại
bảo tôi cứ để cho bà cụ được gặp con trong cơn hoạn nạn. Chính tôi đích thân
dẫn bà cụ vào phòng giam thăm Quốc và khi vừa thấy Quốc, bà cụ vẫn giữ vẻ
bình tĩnh lại còn mỉm môi cười rồi hỏi con: “Vì sao mặt con sưng cảy lên như
thế?” Quốc trả lời: “Thưa mẹ, khi máy bay rớt xuống nước, mặt con đụng vào
thân phi cơ”. Tôi biết rằng nét mặt bình tĩnh và nụ cười trên môi bà cụ chỉ
là thái độ gượng gạo bên ngoài để che dấu lòng dạ đang héo hon của bà. Cũng
như việc Quốc không nói lên sự thật đã bị tra tấn cũng chỉ là che dấu để mẹ
được yên tâm. Tôi khâm phục mẹ Quốc như một bà Mạnh Mẫu, tôi cảm phục Quốc
là người dũng sĩ, tôi tự nghĩ họ thật xứng đáng là dâu con, cháu chắt của
gia đình Phạm Phú tiên sinh, nơi quê hương của Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh,
Trần Cao Vân,... Tôi liền thưa với bà cụ: “Thưa Bác, anh Quốc muốn dấu Bác
đó, chính nhân viên điều tra của tôi đã tra khảo anh ta đến nỗi mang thương
tích nặng nề. Tôi xin lỗi Bác và xin Bác cứ yên tâm, từ nay sẽ không có
những vụ hành hạ đó với Quốc nữa đâu”. Cử chỉ khiêm tốn của tôi đối với một
gia đinh can phạm đã được đền bù xứng đáng vì mười năm sau, Quốc đã anh dũng
đền nợ nước trong một phi vụ ném bom Bắc Việt, chỉ vì muốn cứu bạn mà anh đã
phải vĩnh biệt quê hương đất nước tại vùng Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.
Vụ ném bom dinh Độc Lập do ông Nguyễn Văn Lực tổ chức và lãnh đạo. Ông
Lực là người miền Bắc, một đảng viên kỳ cựu của Việt Nam Quốc Dân Đảng và
cũng từng quen biết nhiều với ông Ngô Đình Nhu. Ông Lực là tác giả bản “Tuyên
ngôn Con người” rất nổi tiếng trong giới chính trị Sài Gòn. Ông phân
giải hệ thống Âm dương Ngũ hành trong Kinh dịch Đông phương để đưa ra thuyết
“nhân chủ” chống lại quan niệm vũ trụ và nhân sinh của Các Mác cũng như của
các giáo lý tín điều của Thiên Chúa giáo, chủ trương tôn thờ một Đấng Chúa
tể vạn năng. Theo ông Lực thì muốn chống Cộng cứu nước, phải thực hiện chế
độ nhân chủ dựa theo thuyết Âm dương Ngũ hành...
Ông Nguyễn Văn Lực là thứ người cương nghị, đảm lược nên ông ta dám có
những hành động táo bạo, tốc chiến tốc thắng. Ông lý luận một cách tuy đơn
giản nhưng rất hợp lý rằng đối với một gia đình độc đoán, mục hạ vô nhân mà
lại ngoan cố như gia đình họ Ngô thì chỉ có hai cách đối xử: một là đầu hàng
họ để kiếm miếng đỉnh chung cho cá nhân mình, hai là đập cho nát đầu họ để
cướp lấy chính quyền mà chống Cộng cứu nước. Còn thiện chí xây dựng, hòa
giải hay đoàn kết thì chắc chắn đã không cảm hóa được họ mà nhiều khi còn
rước họa vào thân.
Do đó, vào sáng 27-2-62, khi Trung úy Nguyễn văn Cử (con trai ông Nguyễn
Văn Lực) và đồng chí là trung úy Phạm Phú Quốc được lệnh thực hiện phi vụ
hành quân tại Quân khu Tư, khi vừa cất cánh khỏi phi đạo của căn cứ Không
Quân Biên Hòa, hai phi công liền đổi hướng bay về Sài Gòn để thực hiện cuộc
ném bom vào giờ phút mà vợ chồng Ngô Đình Nhu đang say sưa giấc điệp. Trong
lúc đó thì Trung úy Nguyễn Văn Đính (anh ruột của Nguyễn Văn Cử, một sĩ quan
Không quân thuộc căn cứ Tân Sơn Nhất) có nhiệm vụ giữ liên lạc giữa Bộ Chỉ
huy Đảo chánh và hai phi công “phản loạn” theo đúng kế hoạch đã định.
Sau này ông Lực cho tôi biết nếu cuộc ném bom thành công, tiêu diệt được
vợ chồng Ngô Đình Nhu thì một trong hai trường hợp có thể xảy ra: Một là ông
Diệm sẽ vì mất em ruột, bộ óc chính trị mà ông vẫn phải nương dựa, nên buồn
phiền rồi tự ý từ bỏ địa vị; hai là ông ta sẽ được người Mỹ khuyến cáo tiếp
tục lãnh đạo quốc gia trong tư thế lâm thời cho đến ngày một “Quốc dân Đại
Hội” bao gồm các tôn giáo, đảng phái, các tổ chức quần chúng khác và quân
đội được thành hình để nhận trách nhiệm lãnh đạo đất nước. Ông Lực cũng cho
tôi biết lý do ông không muốn giết ông Diệm là vì ông không muốn làm cho Hoa
Kỳ, vốn đang mạnh mẽ ủng hộ ông Diệm, phải xúc động dẫn đến những phản ứng
bất lợi hoặc những hệ quả tiêu cực cho miền Nam.
Sau khi thất bại, ông Lực trốn về Biên Hòa, xuống tóc và bận áo nâu sòng
sống như một nhà tu hành ẩn nấp từ chùa này qua chùa khác, thỉnh thoảng ông
về thăm nhà và liên lạc với các đồng chí của tổ chức.
Tổ chức của ông Lực, theo kết quả điều tra của Nha tôi, chỉ gồm có gia
đình ông ta, một số đảng viên Việt Quốc như nhà báo tên tuổi Vũ Ngọc Các,
giáo sư Nguyễn Mậu, trung úy Không quân Phan Ngô, và một số người khác.
Ngoài ra còn có ông Nguyễn Xuân Kỳ (hiện ở Mỹ), trưởng nam của bác sĩ Nguyễn
Xuân Chữ, linh mục Nguyễn Văn Dũng ở Ba Ngòi và ông Phan Xứng ở Đà Lạt. Linh
mục Nguyễn Văn Dũng và ông Phan Xứng là những người đã từng hết lòng ủng hộ
ông Diệm trong những năm đầu khi ông Diệm mới cầm quyền. Riêng về phía Quân
đội, ông Lực tổ chức những tiểu tổ trong các đơn vị nhưng họ chỉ có nhiệm vụ
sẵn sàng đợi cuộc ném bom thành công là phát động phong trào binh sĩ nổi dậy
hưởng ứng cuộc cách mạng để vận dụng quân lực yểm trợ cho tổ chức.
Sau ngày ném bom độ một tuần lễ, về phía dân sự, nhân viên của Nha tôi
chỉ mới bắt giáo sư Nguyễn Mậu, ông Nguyễn Xuân Kỳ và vài người nữa thì tôi
được lệnh của ông Nhu phải bắt toàn thể gia đình của ông Lực về giam giữ để
làm con tin hầu có thể làm áp lực để bắt chánh phạm. Tôi bèn phái đi bắt bà
Lực, vợ con Trung úy Cử, Trung úy Đính, giam giữ tại Nha An Ninh Quân Đội
nhưng không bắt Đại úy Nguyễn Văn Năng và tiểu gia đình anh ta, vì tôi cố
tình để cho gia đình ông Lực còn có người thân tự do ở ngoài để lo lắng việc
gia đình trong lúc toàn gia bị nằm trong vòng lao lý. (Đại úy Năng là con
trai trưởng của ông Lực lúc bấy giờ phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu, hiện sống
tại Texas, Hoa Kỳ) Sau Cách mạng 1-11-63, gia đình ông Lực trở về đoàn tụ,
Đại úy Năng thường làm người liên lạc giữa ông Lực và tôi lúc bấy giờ đã trở
nên đôi bạn tri kỷ.
Mấy tháng trôi qua, tôi không bắt thêm ai nữa ngoại trừ những người đã
kể, chẳng những thế tôi còn trả tự do cho giáo sư Nguyễn Xuân Kỳ (anh ruột
Trung tá Nguyễn Xuân Phát hiện ở San José) vì khi nghiên cứu hồ sơ thấy ông
là trưởng nam nhà cách mạng Nguyễn Xuân Chữ mà tôi rất kính trọng. Tôi mời
riêng ông Kỳ lên văn phòng vừa để an ủi vừa để tỏ lòng khâm phục chí hướng
của ông, nhờ ông chuyển lời thăm hỏi của tôi lên thân phụ ông rồi trả tự do
cho ông về nhà. Tôi cũng trả tự do cho Trung úy Không quân Phan Ngô sau khi
biết được Ngô là con trai của sử gia Phan Khoang, một nhân sĩ Quang Nam khả
kính mà tôi đã quen biết hơn 10 năm trước (gia đình anh Phan Ngô hiện sống
tại San José, Hoa Kỳ).
Có lẽ những hành động đó của tôi đã đến tai ông Ngô Đình Nhu cho nên tôi
được lệnh Văn phòng Cố vấn Chính trị phải chuyển nội vụ qua Nha Công An
thụ lý, tôi chỉ giữ lại hai sĩ quan Không quân là Trung úy Phạm Phú Quốc và
Trung úy Nguyễn Văn Đính.
Biến cố ném bom dinh Độc Lập như một vụ “trời giáng” làm xúc động nặng nề
tâm tư anh em ông Diệm cho nên ông Diệm nghi ngờ nhiều người biết trước vụ
ném bom trong đó có cả ông Đoàn Thêm.
Khi xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập, Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình
Thuần và Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư lệnh Không quân, còn công du tại Đài
Loan, hai ông vội trở về nước ngay sau ngày xảy ra thảm họa. Về đến Sài Gòn,
họ vội vã vào vấn an Tổng thống liền bị ông Diệm hỏi ngay: “Có phải các ông
biết trước vụ ném bom nên bỏ đi ra nước ngoài phải không?”. Tất nhiên cả Bộ
trưởng và Tư lệnh Không quân đều lo sợ và ngạc nhiên.
Từ ngày xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập, có lẽ Tổng thống Diệm không còn
tín nhiệm Đại tá Vinh nữa vì ông biểu lộ rõ rệt thái độ lơ là với vị Tư lệnh
Không quân. Nguyên nhân chính làm cho ông Tổng thống giảm bớt lòng tin với
Đại tá Vinh không phải vì Vinh có lỗi mà vì những lời dèm pha của một số
người trong dinh Tổng thống, những người có cảm tình với Trung tá Huỳnh Hữu
Hiền, viên phi công được Tổng thống hết sức thương mến.
Tôi gặp Nguyễn Xuân Vinh từ ngày hai chúng tôi còn ở Nha Trang (năm 1955)
lúc tôi còn giữ chức Tư lệnh Phân khu Duyên Hải, còn Vinh là một Thiếu úy
phi công ở căn cứ Nha Trang đồng thời cũng là giáo sư toán tại trường trung
học Võ Tánh. Lúc bấy giờ tôi thường nghe nhiều phụ huynh học sinh và một số
giáo sư ca ngợi Vinh, nên tôi hỏi thăm và ngầm điều tra về con người của
Nguyễn Xuân Vinh hầu tổ chức ông ta vào Phong trào cách mạng Quốc gia.
Sau khi biết Vinh từng bị nhóm sĩ quan của tướng Nguyễn Văn Hinh chèn ép
ganh ghét, biết Vinh có bằng Cử nhân Toán, biết phong cách đàng hoàng của
Vinh, biết Vinh rất thông minh và có chí lớn, tôi thầm nghĩ phải tiến cử
Vinh với ông Diệm để một nhân tài của quân đội khỏi bị mai một.
Nhưng rồi tôi bị mất chức Tư lệnh Phân Khu Duyên Hải, bị đổi đi Pháp,
Vinh cũng đi Pháp để được trau dồi thêm kỹ thuật ngành Không quân.
Năm 1958, khi tôi về chỉ huy ngành An ninh Quân đội, Vinh phục vụ tại căn
cứ Tân Sơn Nhất, tôi bèn đem hồ sơ của Vinh trình bày với ông Diệm và đề bạt
Vinh làm Tham Mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân. Tôi còn mang tham vọng đề
bạt Vinh lên giữ chức Tư lệnh Không quân vài năm sau nữa.
Trước khi “đẩy” Vinh lên năm giữ quyền chỉ huy binh chủng trọng yếu của
quân đội, tôi muốn “soát xét” con người của Vinh một lần chót, tôi bèn rủ
Vinh đi xem tử vi. Thầy quỷ cốc đường Trần Quý Cáp, sau khi nói về gia thế
của Vinh, thời thơ ấu của Vinh, tính tình của Vinh, bèn kết luận:
“Tuổi này hiện nay là một sĩ quan cao cấp, nhưng rồi đây sẽ giữ một địa
vị rất lớn, địa vị chỉ huy quan trọng. Tuy nhiên vào năm (tôi không còn nhớ
năm nào) tuổi này sẽ bỏ đường võ cách để tiếp tục học hành và sẽ trở thành
một tiến sĩ, một giáo sư đại học nổi tiếng trên trường quốc tế”.
Quả thật hai năm sau, mặc dù không còn mang cấp bậc trung tá, Vinh được
ông Diệm cử giữ chức Tư lệnh Không quân, lòng tôi rộn lên niềm sung sướng.
Một hôm chủ nhật, hình như sau biến cố đảo chánh của Nhảy Dù, tôi còn ngồi
uống trà với nhà tôi tại nhà riêng thì bỗng Vinh tới với quân phục trắng.
Vinh cho biết vừa nhận được nghị định thăng cấp Đại tá, và rút trong túi ra
cặp cấp hiệu có ba hoa mai trắng rồi nói:
“Từ ngày quen biết Đại tá, biết Đại tá là người có cặp mắt xanh, biết Đại
tá lo cho đại sự quốc gia đãi tôi như một hiền sĩ. Hôm nay nhân được Nghị
định thăng cấp Đại tá, tôi đến đây để nhờ Đại tá đích thân gắn cặp “lon” Đại
tá lên vai để tôi được đền chút ơn tri ngộ”. Sau đó hai chúng tôi chụp chung
một tấm hình kỷ niệm.
Biết rằng Vinh rất cẩn mật, không muốn ai biết cung cách xử thế khôn
ngoan tế nhị đối với một người tri kỷ, nhưng mấy lời nói của Vinh làm cho vợ
chồng tôi vô cùng cảm kích, tôi ôm choàng lấy Vinh tỏ lời cảm ơn và khen
ngợi.
Vinh ra về, tôi ngồi độc ẩm nhớ lại câu chuyện Trương Lương từng giới
thiệu Hàn Tín với Lưu Bang, mừng cho Tổng thống Diệm có một Trung thần văn
võ toàn tài.
Nhưng rồi hoàn cảnh đất nước, bản chất của chế độ Diệm đưa đẩy Đại tá
Nguyễn Xuân Vinh không đi theo bước chân của Hàn Tín làm kẻ ngu trung, để
khỏi phải chết oan khiên như Tề giả Vương họ Hàn.
Thái độ nghi ngờ của ông Diệm sau vụ ném bom dinh Độc Lập và chế độ thất
nhân tâm của Công giáo Cần lao buộc con người khí phách, có chí lớn như
Nguyễn Xuân Vinh từ giã binh nghiệp, từ giã địa vị cao sang để tiếp tục con
đường văn học. Biết Tổng thống Diệm không còn tin tưởng mình nữa, Nguyễn
Xuân Vinh xin từ chức, xin giải ngũ và xin đi học ở Hoa Kỳ. Ông trở thành
một khoa học gia tên tuổi đem vẻ vang lại cho đất nước quê hương đúng như
lời tiên đoán của thầy tử vi Sài Gòn năm nọ. Đối với tôi, từ ngày Vinh rời
khỏi quê hương, giữa hai chúng tôi không còn liên lạc gì nữa cho đến năm
1976 tôi mới nhận được thư Vinh từ Michigan gởi lời thăm, khi Vinh biết tôi
cư ngụ tại Sacramento, Hoa Kỳ.
Nguyễn Xuân Vinh không chỉ là một cựu Tư lệnh Không quân Việt nam, không
chỉ là một khoa học gia (có chân trong Hàn Lâm Viện Khoa học Pháp), mà còn
là một nhà văn. Anh từng viết cuốn Đời Phi công với bút hiệu Toàn
Phong, nói lên tâm tình và chí hướng của một chàng trai thời loạn, một chiến
sĩ yêu nước tung mây lướt gió cho thỏa chí bình sanh. Sách của anh được giới
nam nữ thanh niên của thập niên 60 hết sức ngưỡng mộ. “Đời Phi công” được
giải nhất đồng hạng với tác phẩm “Thần Tháp Rùa” của giáo sư Vũ Khắc Khoan
trong giả thưởng văn chương toàn quốc năm 1960, được triển lãm tại phòng
Khánh tiết Đô thành Sài Gòn, ngày 6-4-1961.
Quả thật cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Xuân Vinh đáng làm cho người đời
suy gẫm, đáng làm gương cho thế hệ thanh niên. Từ một hàn sĩ miền quê Bắc
Việt, lớn lên thành lập gia đình với ái nữ của một vị đại thần Nam Triều,
học hành đứt quãng mà rồi cũng thành tài rồi trở thành một nhân vật văn võ
toàn tài; chỉ tiếc Vinh sinh bất phùng thời, không gặp được nhà lãnh đạo
quốc gia anh minh lỗi lạc để Vinh phục vụ cho xứ sở quê hương trong thời ly
loạn.
Sau ngày lật đổ chế độ Diệm, cuối năm 1963, tất cả mọi chính trị phạm
quốc gia đều được thoát cảnh ngục tù, gia đình đoàn tụ.
Ông Nguyễn Văn Lực và tôi trước kia ở hai chiến tuyến đối nghịch, nhưng
sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, ông Lực và tôi trở thành đôi bạn tâm giao,
thường lui tới nhà nhau để hàn huyên tâm sự.
Ông Lực đến thăm tôi để ngỏ lời cám ơn đã đối xử tử tế với gia đình và
những đồng chí của ông. Ông cho biết từ khi gia đình ông bị chuyển qua Nha
Công An, họ đã bị hành hạ tra tấn dã man dù họ chỉ là đàn bà con trẻ.
Vào cuối thời Nguyễn Văn Thiệu, trong giai đoạn hoạt động cao độ của
Phong trào Chống Tham Nhũng, ông dẫn một người bạn đến nhà tôi và giới
thiệu là linh mục Nguyễn Học Hiệu (hiện ở Pháp), bộ óc chánh trị của linh
mục Trần Hữu Thanh đang là chủ tịch Phong trào. Ông Lực cho biết cha Thanh
nhờ cha Hiệu đến mời ông tham gia Phong trào nhưng ông trả lời là phải có
Thiếu tướng Mậu cùng tham gia thì ông ta mới nhận, vì thế cha Hiệu đã đến
nhà tôi. Cha Hiệu cho tôi biết ông đại diện cho cha Thanh đến mời tôi tham
dự Phong trào Chống Tham Nhũng, nhưng tôi lễ độ từ chối ngay. Tôi nhờ cha
Hiệu thưa lại với cha Thanh rằng tôi xin cảm tạ tấm tình tri kỷ của Ngài,
đặc biệt là Ngài đã viết bài xếp hàng tôi cùng với 12 “tướng sạch” khác trên
nhật báo Hòa Bình, nhưng tôi không thể tham gia vào Phong trào của Ngài vì
nhiều lý do mà lý do đầu tiên là đa số người Công giáo thù ghét tôi vì tôi
đã tham dự cuộc cách mạng 1-11 năm 1963, trong khi Phong trào trên mặt tổ
chức lại nặng màu sắc Công giáo với hậu thuẫn của một số họ đạo tại Sài Gòn
và Phú Cam. Không biết có phải vì tôi đã từ chối lời mời của cha Thanh mà
sau này không thấy tên của ông Nguyễn Văn Lực trong hàng ngũ cấp lãnh đạo
của Phong trào nữa.
-o0o-
Quyết định của tôi khi trả tự do cho ông Nguyễn Xuân Kỳ, Trung úy Phan
Ngô hoặc không bắt linh mục Nguyễn Văn Dũng và các ông Phan Xứng, Vũ Ngọc
Các... nằm trong ý hướng bảo vệ những chiến sĩ quốc gia vốn là sức mạnh thực
sự để chống Cộng. Nếu tôi đã bị tê liệt vì liên hệ với một triều đình mục
nát đang làm cho Cộng sản sinh sôi nẩy nở mau chóng tại miền Nam, mà môi
trường và điều kiện chính trị cũng như hoàn cảnh cá nhân của tôi lúc bấy giờ
không giúp tôi quyết liệt lấy những hành động trong sạch hóa chế độ, thì tại
sao lại ngăn cản đồng bào tôi hoặc những chiến sĩ khác làm việc đó. Ý hướng
này đã được thực hiện và đã được thông hiểu nên chỉ sáu năm sau, tôi được
hân hạnh tham dự vào thành phần lãnh đạo của một lực lượng chính trị có quần
chúng đông đảo tại miền Nam mà ngay cả ký giả quốc tế cũng đã hết sức chú ý.
Vào một buổi sáng mùa hè năm 1967, tôi đang ngồi uống chén trà mai trong
phòng khách nhà riêng tại đường Gia Long Sài Gòn thì bỗng thấy một lão
trượng mặc quốc phục, đầu đội khăn nhiễu Tam Giang lớn vành, mình mặc áo lụa
màu nâu nhạt, chân đi giày hạ, dáng điệu khoan thai đi vào nhà, theo sau có
một trung niên bận âu phục đen tề chỉnh. Thấy lão trượng có vẻ “tiên phong
đạo cốt”, tuổi độ thất tuần, tôi vội ra thềm đón mời lão trượng vào nhà. Ông
Cụ nở một nụ cười rồi tự xưng: “Tôi là Nguyễn Xuân Chữ đây, còn ông này là
ông Lê Vinh, một đảng viên Duy Dân và là trưởng nam của lão thi sĩ Á Nam
Trần Tuấn Khải”.
Sau khi chủ khách an tọa, tôi liền trình bày những hiểu biết của mình về
tiếng tăm của Cụ để định rõ vị trí tôn trưởng của Cụ trong buổi tương kiến
sơ khởi: “Thưa Cụ, được nghe Cụ là một nhân sĩ đất Bắc Hà; trước 1945, đã
hoạt động cách mạng trong phong trào Cường Để, bị Pháp lùng bắt Cụ phải trốn
vào Sài Gòn cũng như ông Diệm. Cụ đã từng giữ chức Phó Khâm sai Bắc Việt cho
chính phủ Trần Trọng Kim, đã dám ra lệnh cho lính Bảo An bắn vào Việt Minh
khi họ đến cướp chính quyền Bắc Bộ Phủ vào năm 1945 trong khi cha con Khâm
sai Phan Kế Toại thì lại hoạt động cho Việt Minh. Trong những năm chiến
tranh Pháp - Việt, biết Pháp không thực tình giao trả độc lập cho Việt Nam,
Cụ thành lập “Thanh Niên Ái quốc Đoàn” để tranh đấu. Cụ Nguyễn Xuân Chữ đã
cùng với các ông Ngô Đình Diệm, Vũ Đình Dy, Lê Toàn, Vũ Văn An ở trong “Ủy
Ban Kiến Quốc” ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cưởng Để thời quân đội Nhật Bản chiếm
đóng Đông Dương. (Xem thêm “Việt Nam Niên biểu Nhân vật chi” tr. 63).
Khi ông Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại cử làm Thủ tướng mời Cụ giữ chức Phó
Thủ tướng, nhưng Cụ không chịu hợp tác với ông ta vì Cụ đã biết rõ con người
hẹp hòi của ông ta và từ đó cụ lui về với nghề y sĩ để âm thầm lãnh đạo tinh
thần cho những đảng phái đang bí mật hoạt động. Thế mà tôi chưa có dịp yết
kiến Cụ để được Cụ dạy dỗ, hôm nay Cụ lại đích thân đến nhà một tên lính già
dốt nát, như rồng đến nhà tôm, quả thật là một đại hạnh cho tôi”. Cụ Chữ nở
một nụ cười rồi tiếp lời tôi: “Kể ra cho đến hôm nay tôi mới đến thăm Thiếu
tướng là đã quá muộn rồi, đã rất không phải phép đối với Thiếu tướng, nhưng
xin Thiếu tướng hiểu cho, nếu tôi đến thăm lúc Thiếu tướng còn có quyền
hành, nó có điều bất tiện cho tôi. Hôm nay đến đây trước hết là để tạ lòng
hào hiệp với ân nhân vì Thiếu tướng đã trả tự do cho con trai tôi là Nguyễn
Xuân Kỳ và khoan dung cho nhiều đảng viên các đảng phái dù họ có đại tội với
chế độ ông Diệm. Phục vụ cho chế độ ông Diệm mà Thiếu tướng lại bênh vực che
chở người quốc gia đối lập, cung cách cư xử của Thiếu tướng thật hiếm hoi có
khác gì “cánh sen trong bùn”; bên ngoài hầu hết những anh em đảng phái, anh
em cách mạng ca ngợi Thiếu tướng lắm. Cũng vì thế mà một số anh em nhờ tôi
hôm nay đến mời Thiếu tướng gia nhập Lực lượng Dân Tộc Việt gồm nhiều
hệ phái của các tôn giáo và đảng phái do tôi đỡ đầu vận động để làm một cái
gì cho việc “cứu nguy dân tộc”.
Sau khi cuộc Cách mạng bị dang dở vào cuối năm 1963, tôi đã thấy chán
chường với nhân tình thế thái, đầu năm 1965, dù chưa phải là già, tôi đã bị
các “tướng trẻ” bắt phải giải ngũ. Năm 1965-66, lại bị các tướng Khánh,
Thiệu, Kỳ bắt đi an trí tại Komtum và Nha Trang. Hơn nữa, trước cảnh xáo
trộn của đất nước, lòng tôi đã trở nên nguội lạnh, không còn nhiệt tâm để
hoạt động chính trị cách mạng nữa. Tôi đã định từ chối lời mời của cụ Nguyên
Xuân Chữ nhưng rồi nghĩ đến Cụ đã da mồi tóc bạc mà còn ưu tư cho vận mệnh
đất nước, lại còn đích thân đến tận nhà kêu gọi, há mình lại không biết câu
"thất phu hữu trách” hay sao nên tôi nhận lời tham gia "Lực Lượng Dân Tộc
Việt”.
Tôi lại nghĩ rằng trong thời gian trước năm 1945, tuy tôi có hoạt động
cách mạng chống Pháp trong Phong trào Cường Để do ông Diệm làm lãnh tụ tại
miền Trung, nhưng cái phong trào của ông Diệm chỉ phản ánh tính tình và cung
cách làm việc của ông nên đã là một đoàn thể luộm thuộm, không có tổ chức,
huấn luyện, kỷ luật, quy củ gì hết, nay gia nhập vào một lực lượng có nhiều
lãnh tụ đảng phái có thành tích đấu tranh cách mạng, có kinh nghiệm hoạt
động, có kinh nghiệm tổ chức, âu cũng là một cơ hội cho mình học hỏi thêm.
“Lực Lượng Dân Tộc Việt” do cụ Nguyễn Xuân Chữ và anh Phan Bá Cầm, một
lãnh tụ Hòa Hảo, Chủ Tịch Hội Nhân Quyền Việt Nam khởi xướng. Ngoài ra còn
có những nhân vật khác như các ông Xuân Tùng Dương Như Thuấn đại diện cho
đảng Đại Việt, Phạm Thành Giang đại diện cho Đảng Duy Dân, Tạ Nguyên Minh,
người đồng chí số một của Cụ Nguyễn Hải Thần, đại diện cho Cách mạng Đồng
Minh Hội, linh mục Hoàng Quỳnh và ông Trần Văn Lý đại diện cho Thiên Chúa
giáo, ông Trần Quang Vinh đại diện cho Cao Đài, Thượng Tọa Pháp Tri đại diện
cho Phật giáo, Bùi Lượng, đại diện cho các nghiệp đoàn tự do, và rất đông
những nhân sĩ, chính khách khác. Đặc biệt lại có nhiều cụ Cử, cụ Tú Nho học
còn sót lại như Cụ Tạ Chương Phùng chẳng hạn. Còn giáo sư Trần Ngọc Ninh,
học giả Nguyễn Đức Quỳnh, ông Trần Văn Tuyên, Thái Lăng Nghiêm, Nguyễn Văn
Lực, Phạm Vô Kỵ, Nguyễn Ngọc Huy, Trần Văn Đôn... những người này tuy không
gia nhập Lực lượng nhưng có cảm tình với Lực Lượng, thỉnh thoảng ghé lại trụ
sở trung ương của Lực Lượng ở đường Hồng Thập Tự để đóng góp thêm nhiều ý
kiến,... Chủ đạo của Lực Lượng là lý thuyết “Nhân chủ” và chủ trương của Lực
Lượng là thực hiện một “xã hội nhân bản” để cùng liên kết với các nước đệ
tam chậm tiến, xây dựng một thế giới hòa bình và thịnh vượng, một trật tự
kinh tế bình sản và công bằng. Bản tuyên ngôn của Lực Lượng là một tác phẩm
chính trị đã được nhiều giới trí thức trong và ngoài sinh hoạt chính trị tại
Sài Gòn ngưỡng mộ (anh Hà Thế Ruyệt và một số đoàn viên Lực Lượng, khi vượt
biển ra đi tìm tự do vào năm 1975, có mang theo bản tuyên ngôn này và các
anh Phạm Quốc Trị, Lê Văn Hoạnh v.v... đã phổ biến trên nguyệt san Thức Tỉnh
xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ).
Một lực lượng chính trị thanh thế, thực lực như vậy mà tôi lại được đề cử
làm Đệ nhất Phó Chủ tịch trong lúc những nhà cách mạng như các ông Xuân Tùng
Dương Như Thuấn, như Tạ Nguyên Minh suốt đời hiến thân cho đất nước, hay như
ông Trần Văn Lý vị thầy cũ của tôi, một vị cựu Tổng đốc nổi tiếng đạo đức,
liêm chính lại chịu làm Đệ Nhị Phó Chủ tịch hay giữ chức ủy viên Trung ương
khiến tôi không dám nhận lời. Tôi đã viện ra nhiều lý do tự cho mình không
xứng đáng nhận lãnh địa vị thứ hai của Lực lượng để từ chối, nhưng mọi người
đều đồng thanh “ép buộc” nên tôi phải vâng lời. Họ lý luận rằng, tuy tôi
không có thành tích đấu tranh và xả thân hy sinh như nhiều nhân vật cách
mạng trong Lực Lượng, nhưng chỉ một việc tôi ở “trong bùn mà chẳng hôi tanh
mùi bùn”, chỉ một việc tôi hy sinh danh lợi, tình nghĩa riêng tư cho chính
nghĩa chung để tổ chức cuộc lật đổ nhà Ngô hầu giải thoát cho nhân dân và
đảng phái, tôn giáo khỏi tai ách của Ngô triều, thì thái độ và hành động đó
cũng đã đủ là một thành tích to lớn rồi.
Tuy Lực Lượng Dân Tộc Việt (và ngay cả bốn tôn giáo lớn) không tạo được
sự nghiệp cứu nước khỏi nạn Cộng Sản trong một giai đoạn mà dân tộc gặp quá
nhiều khó khăn phức tạp, lại phải đương đầu với quá nhiều kẻ thù giữa một
quê hương ngập tràn khói lửa chết chóc, nhưng cho đến bây giờ, nhìn lại suốt
cả cuộc đời, tôi vẫn cho rằng sự có mặt của tôi trong Lực Lượng để sát cánh
với các đồng chí trong nỗ lực cứu lấy giang sơn và dân tộc đã là một vinh dự
lớn lao nhất trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình.
Ra đời dưới mái tranh nghèo, mồ côi cha mẹ từ tấm bé, lớn lên giữa cảnh
nước đọng bùn lầy, dang dở việc học hành, xuất thân lại là một anh đội khố
xanh, tôi không nghĩ rằng sẽ có ngày được Chí sĩ Ngô Đình Diệm kết nạp làm
chiến hữu trong Phong trào Cường Để để chống Tây giành độc lập, có ngày được
một danh sĩ đất Bắc Hà là Cụ Nguyễn Xuân Chữ đích thân đến nhà để tạ ơn, có
ngày được linh mục Trần Hữu Thanh, chủ tịch Phong trào Chống Tham Nhũng viết
báo ca ngợi là “Tướng sạch”, lại được những nhà làm văn hóa tiếng tăm như
Đào Đăng Vỹ, Thái Văn Kiểm, Trần Ngọc Ninh, Phùng Tất Đắc, Nguyễn Đức Quỳnh,
Lê Văn Siêu, Mai Ngọc Liệu, Hoàng Trọng Miên, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Ngọc
Huy, Võ Văn ái, Hiếu Chân,... xem như bạn bè tri kỷ. Những tìm cảm đó đối
với tôi, một kẻ xuất thân từ cảnh ngộ hàn vi thôn dã đã là một vinh hạnh lắm
rồi, nhưng tôi vẫn cho việc gia nhập Lực Lượng Dân Tộc Việt là điều vinh dự
lớn lao nhất. Được chia sẻ ưu tư và sinh hoạt chung với những thành phần
quốc gia chân chính, những nhân vật ôm ấp lý tưởng Dân tộc, Nhân Chủ, mà
suốt đời chỉ xông pha đấu tranh cho độc lập, dân chủ, tự do của đất nước.
Những nhân vật tụ tại từ bốn phương trời của quê hương yêu dấu thuộc mọi tôn
giáo và đảng phái để chung lo việc cứu nguy dân tộc, như thế bảo tôi không
tự hào sao được. Người con xác xơ tuy không cứu được mẹ hiền Việt Nam qua
cơn trọng bệnh nhưng những suy tư, dằn vặt, thổn thức ngày đêm cũng có thể
chứng tỏ lòng hiếu thảo của người con rồi.
Đau đớn thay, Lực Lượng Dân Tộc Việt đang trên đà tổ chức, phong trào,
huấn luyện, thì người cha đẻ của Lực Lượng, vị lãnh đạo tinh thần đầy uy tín
là cụ Nguyễn Xuân Chữ lại vĩnh viễn ra đi. Cụ Chữ ra đi, Lực Lượng Dân Tộc
Việt mất đi một người chỉ đạo sáng suốt, riêng tôi mất đi một người tri kỷ,
một người bạn vong niên. Ngày cử hành tang lễ, tôi được các đoàn thể chính
trị chỉ định khiêng quan tài cùng với 7 nhân vật khác là các ông Trần Ngọc
Ninh, Phan Bá Cầm, Hoàng Cơ Thụy, Hoàng Cơ Bình, Phạm Biểu Tâm (và hai người
nữa mà tôi quên tên). Tại nghĩa trang Bắc Việt, trước hàng vạn người, giáo
sư Phạm Biểu Tâm đã đọc điếu văn tiễn đưa bậc huynh trưởng, bậc thầy về cõi
Phật, giữa sự thương tiếc của hàng ngàn nhân sĩ chính khách Miền Nam.
Khi cụ Chữ mất rồi tôi mới biết cụ đang viết dở dang thiên hồi ký, mà tôi
không ngờ cụ lại dành cho tôi một vinh dự lớn lao: Cụ đã dành hẳn một đoạn
ba trang giấy để đề cập đến cái duyên kỳ ngộ giữa gia đình cụ và tôi. Và sau
khi cụ tạ thế rồi thì ông Nguyễn Xuân Kỳ theo phong cách của một gia đình
nho phong nề nếp, cứ mỗi dịp Tết Âm lịch lại đến nhà tôi thay mặt Bà cụ thân
mẫu để chúc mừng năm mới và để mượn ngày thiêng liêng của dân tộc ngỏ lời
cảm tạ chút tình tri ngộ ngày xưa.
Sau tháng tư năm 1975, trong số những lãnh tụ Lực Lượng Dân Tộc Việt, tôi
không biết có bao nhiêu vị thoát được ra nước ngoài, tin tức dồn dập cho
biết những lãnh tụ của Lực Lượng Dân Tộc Việt như Phan Bá Cầm, Phạm Thành
Giang, Trần Quang Vinh, Bùi Lượng, Tạ Nguyên Minh, v.v... đều bị tù đày sát
hại, không ngờ một hôm tôi nhận được thư của anh Xuân Tùng, vị Đệ Nhị Phó
Chủ Tịch của Lực lượng:
Houston, Nov., 1977
Kính anh Mậu,
Cách đây ít lâu tôi có gửi anh một lá thư, không biết anh đã nhận được
chưa? Đọc báo Việt Nam Hải Ngoại số 11 thấy quảng cáo thiên hồi ký “Một Cơn
Dâu Bể”, tôi tin là thiên hồi ký của anh.
Công việc chúng tôi vẫn tiến hành đều và thâu lượm được ít nhiều kết
quả. Nhưng hiện tình và bài toán Đông Dương còn chứa nhiều ẩn số, phải gặp
nhau mới mổ xẻ được mọi tình tiết về công việc cũng như nhân sự. Tôi hy vọng
một ngày gần sẽ có dịp gặp lại anh.
Để xoa dịu một phần nào niềm uất hận của một chiến sĩ biết người biết
việc mà đành mang mối hận vì không gặp thời, xin tặng anh bài thơ thứ hai.
Xuân Tùng
Tôi nhận được thư của anh Xuân Tung độ hơn một tháng thì vào một buổi
sáng, anh Phạm Quốc Trị và tướng Nguyễn Văn Chức dẫn anh Xuân Tùng đi cùng
với anh Trịnh Xuân Hổ đến thăm tôi tại Sacramento. Anh cho biết dự định sau
khi đi khắp Hoa Kỳ, Canada để gặp gỡ lại các đồng chí và thân hữu rồi sẽ trở
lại gặp tôi để cùng nhau tìm phương thức tái lập Lực Lượng Dân Tộc Việt tại
Hải Ngoại, hầu từ đó lập kế hoạch gửi người về Đông Nam Á tìm cách bắt liên
lạc với những anh em tại quê nhà. Không ngờ cuộc hội kiến hôm đó lại là buổi
gặp gỡ cuối cùng để từ đó anh và tôi ngàn thu vĩnh biệt, anh mang theo cả
một cuộc đời lao lý, một ý chí gang thép và một giấc mộng không thành về cõi
hư vô.
Anh Xuân Tùng đã từng tiếc cho tôi “biết người biết việc mà đành mang
mối hận vì không gặp thời”, nhưng chính anh mới thật sự là một chiến sĩ
cách mạng suốt đời bôn ba tù tội đầy sóng gió mà chẳng bao giờ gặp được
thời. Khi nghe tin anh qua đời, lật lại chồng thư cũ, tôi tìm được bài thơ
anh gửi tặng tôi nên xin chép ra đây để than khóc nhớ thương anh...
Gió ơi gió có về nơi ấy
Xin gửi dùm nhau lấy một lời
Trăng thề soi tỏ lòng chung thủy
Đành hẹn cùng nhau kiếp lai sinh!
(ghi chú: Bài thơ dài của Xuân Tùng tặng tôi đã được hai đồng chí Việt
Nam Quốc Dân Đảng của anh là cụ Trần Trọng Sanh và cụ Cung Trầm Vấn ở Mỹ phụ
họa).
Than ôi! Giấc mộng lớn chưa thành, cuộc chiến đấu còn dang dở mà anh đành
bỏ đi để hẹn với non sông trong một kiếp khác. Lời thơ của anh đúng là lời
trăn trối, lời từ biệt để mãi mãi ra đi. Anh nhờ gió gửi lời nhắn với quê
hương, nhờ trăng soi tỏ lòng chung thủy, nhưng cả cuộc đời đấu tranh của anh
rõ ràng đã là tấm gương thủy chung vàng đá sắt son với dân tộc quê hương
rồi.
Nhớ lại từ sau cuộc cách mạng Tân Hợi của Tàu năm 1911, những tư tưởng
dân chủ, dân quyền dần dần được du nhập vào Việt Nam. Nền văn minh Tây
phương cũng ảnh hưởng đến tình trạng xã hội, kinh tế nước ta nên các nhà
cách mạng của thời đại đó trong công cuộc đấu tranh giải phóng xứ sở đã tổ
chức đoàn thể khoa học hơn, nêu lên những mục tiêu rõ rệt hơn và được giới
thanh niên tham gia đông đảo hơn. Trong số các đoàn thể cách mạng lúc bấy
giờ thì Việt Nam Quốc Dân Đảng là đảng cách mạng đầu tiên trong nước có tổ
chức quy mô hơn cả. Thành hình vào năm 1927 tại Bắc Việt, Đảng phát triển
mau chóng vào Trung và Nam nhưng lại bị thực dân Pháp khủng bố dã man nhất
cho nên năm 1930, vì vụ ám sát người Tây mộ phu đồn điền là Bazin mà đảng bị
Pháp khủng bố đến nỗi gần như bị tan rã. Những lãnh tụ của đảng là Nguyễn
Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu bèn thực hiện một cuộc bạo động Tổng khởi nghĩa
toàn hạt Bắc Kỳ để cướp chính quyền. Nhưng mưu sự tại nhân mà thành sự
tại thiên, cuộc khởi nghĩa thất bại, đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12
vị anh hùng lên đoạn đầu đài đền nợ nước, rất đông đồng chí của ông bị Tây
giam cầm, sát hại. Trong số những người bị lưu đày ra Côn Đảo này có anh
Xuân Tùng.
Sau mấy năm trời khổ sai nhọc nhằn nơ |