Chương II
VÀO ĐƯỜNG ĐẤU TRANH
Trong những năm đầu tiên của đệ
nhị thế chiến, có hai biến động xảy ra ngoài nước Việt Nam nhưng lại đặc
biệt liên hệ chặt chẽ đến vận mệnh nước ta vào lúc đó. Liên hệ chặt chẽ vì
hai biến động này xảy ra trong hai quốc gia và cho hai dân tộc đã từng xâm
chiếm và đặt nền đô hộ trên lãnh thổ Việt Nam.
Biến cố
thứ nhất xảy ra vào ngày 19 tháng 6 năm 1940, khi gót giày sắt của quân đội
Đức Quốc Xã giẫm nát vỉa hè thủ đô Balê tiến vào chiếm điện Elysée và bắt
đầu khống chế nước Pháp bằng một chế độ quân quản sắt đá, chấm dứt uy thế và
quyền lực của Chính phủ Pháp không những trên lãnh thổ Pháp quốc mà còn làm
suy yếu thực lực và tinh thần của các bộ máy chính trị quân sự tại các nước
thuộc địa.
Biến cố
thứ hai xảy ra tại Trung Hoa vào đầu năm 1940 khi Nhật Bản, khởi đầu bằng
cuộc đổ bộ ở Lư Câu Kiều vào năm 1937, điều động đoàn quân tinh nhuệ với
những vũ khí hiện đại đánh tan các lộ quân của Thống chế Tưởng Giới Thạch,
tràn xuống miền Nam Hoa, chiếm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, và chuẩn bị
kế hoạch tấn chiếm Đông Dương để hoàn thành các mắt xích chiến lược của kế
sách địa lý chính trị “Đại Đông Á”.
Kết quả
hỗ tương và nhịp nhàng của hai biến cố đó đã chấn động tình hình chính trị
tại Việt Nam và đẩy bộ Chỉ huy Quân sự của Nhật Bản đến quyết định đặt yêu
sách đòi chính quyền của Pháp tại Đông Dương phải chấm dứt giao thương với
Trung Hoa và giành quyền thiết lập một lực lượng kiểm soát việc thực thi
quyết định này tại cảng Hải Phòng. Lúc bấy giờ Decoux vừa mới thay Catroux
trong nhiệm vụ Toàn quyền Đông Dương và được Chính phủ Pháp, trong cơn ngặt
nghèo lúng túng của chính nội tình mẫu quốc, ủy nhiệm toàn quyền chỉ huy
quân sự, chính trị để giữ vững bán đảo Đông Dương.
Ban đầu
Decoux nhất quyết chống đối quyết định đó của Nhật Bản nên ngày 22 tháng 9
năm 1940, ngày quân Nhật từ Quảng Đông phối hợp hỏa lực mãnh mẽ của lục quân
và đoàn quân cơ giới thần tốc xua quân đánh tan một số căn cứ quan trọng tại
biên giới và tấn chiếm Lạng Sơn (vốn là bộ Chỉ huy trung ương của Pháp, phụ
trách tuyến phòng ngự Việt Bắc) và bắt Pháp phải nhượng bộ. Quân Nhật không
những đã ngang nhiên đóng quân tại nhiều địa điểm chiến thuật ở sâu trong
vùng đồng bằng mà còn sử dụng đường hỏa xa, các hải cảng, các phi trường và
mua cao su, gạo, nhiên liệu cùng nhiều sản phẩm địa phương cần thiết với giá
rẻ để cung ứng cho nhu cầu quân nhu và vận tải của quân đội viễn chinh Nhật
(mà đường tiếp liệu xa chính quốc gần 10 ngàn cây số càng lúc càng khó
khăn). Ngược lại, Nhật Bản tôn trọng tư cách và quyền hành cai trị của Pháp
tại Đông Dương cũng như tư cách và quyền hành của vua Bảo Đại tại Trung Kỳ.
Trong
biến cố này, vì những hứa hẹn chính trị và yểm trợ vũ khí của Nhật Bản, một
lực lượng Phục quốc quân do chí sĩ Trần Trung Lập chỉ huy đã giúp quân đội
Nhật Bản tấn công căn cứ Lạng Sơn và chiếm đóng thành phố này. Đau đớn thay,
sau khi đã được Pháp nhượng bộ, Nhật phản bội lực lượng Việt Nam này và trao
lại toàn bộ đơn vị phục quốc quân cho người Pháp như một điều kiện trong
thỏa hiệp Nhật-Pháp. Chí sĩ Trần Trung Lập hy sinh và hầu hết phục quốc quân
Việt Nam kẻ bị tử hình, người bị tù chung thân, chỉ một số ít liều mình vượt
thoát được qua Trung Hoa.
[1]
Song
song với việc thiết lập những cơ sở quân sự và nắm chặt tình hình an ninh
tại Đông Dương, Nhật Bản vẫn khôn ngoan duy trì hệ thống hành chánh và hư
danh của bộ máy bảo hộ Pháp để có thì giờ chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chính
trị ở tầng quần chúng qua cơ quan phản gián Kempeitai, qua tờ báo Tân Á xuất
bản bằng tiếng Việt nhằm tuyên truyền chống Pháp, đề cao chủ nghĩa “Đông
Á của người Á Đông”, hô hào nước Việt Nam “độc lập trong khối thịnh
vượng Đại Đông Á”. Họ tổ chức các lớp học Nhật ngữ nhằm chuẩn bị một lực
lượng cán bộ hành chánh bản xứ, họ tuyển mộ một số thanh niên Việt Nam vào
đội Hiến binh và thông ngôn của họ, và đặc biệt họ ngấm ngầm tuyên truyền
cho sự trở về tất yếu của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, lúc bấy giờ đang lưu vong
trên đất Nhật.
Kỳ Ngoại
Hầu Cường Để nguyên là cháu đích tôn của Mỹ Đường Nguyễn Phúc Đan mà ông này
lại vốn là trưởng nam của Hoàng tử Cảnh. Quyết định xuất dương để vận động
chống Pháp của Hoàng thân Cường Để là vừa để trả nợ nước vừa để trả thù nhà.
Trả nợ nước là nhiệm vụ chung của toàn dân ta trong giai đoạn bị ngoại thuộc
đó, dù ở giai tầng nào trong xã hội, dù đứng ở vị trí nào trong lòng dân
tộc, ngoại trừ một thiểu số được thụ hưởng đặc quyền đặc lợi của Pháp và
liên hệ máu thịt với những định chế giáo quyền và thế quyền tại mẫu quốc. Kỳ
Ngoại Hầu Cường Để là Hoàng thân quốc thích vừa lại là người thật tâm yêu
nước, yêu dân nên việc ông xả thân tranh đầu là điều hiển nhiên. Trả thù nhà
là vì sau khi vua Gia Long băng hà, chi hệ thuộc Hoàng tử Cảnh vì đã bỏ đạo
gia tiên, nhục mạ Phật giáo, lại còn bị giám mục Pigneau de Béhaine xúi dục
theo Công giáo La Mã qua hành động đòi mẹ bôi phân lên tượng Phật, nên không
được Hoàng phái đồng ý cho nối nghiệp cha
[2] mà lại để cho vua Minh Mạng, một vị vua thông
minh, cương nghị và chống Pháp trong tinh thần quốc gia cực đoan nối ngôi.[3]
Chi hệ Hoàng tử Cảnh bị biếm hạ xuống thành hàng thứ dân và phải sống khổ
nhục cho đến năm 1848 mới được vua Tự Đức gia ân phục hồi lại tước vị và ban
cho một số tiền phụ cấp nhỏ nhoi.[4]
Hoàng
thân Cường Để xuất dương qua Nhật, cùng với cụ Phan Bội Châu hoạt động chống
Pháp dành độc lập nhằm quang phục đất nước và được cụ Phan tôn làm Minh chủ
trong tổ chức Cách Mạng Việt Nam Quang Phục Hội do cụ thành lập. Hai người
con trai của cụ Hoàng thân là ông Tráng Liệt và ông Tráng Cử ở lại quê nhà
trong cảnh nghèo khó, không ai để nương tựa, lại bị người Pháp gây khó khăn
nên không tiến thân được. Ông Tráng Liệt sau đó được làm thư ký công nhật ở
phòng Văn khố tòa Khâm sứ Huế, còn ông Tráng Cử thì đi dạy ở một trường tiểu
học nhỏ tại Trung phần, trong chánh sách mua chuộc của người Pháp.
Lúc bấy
giờ, thế chiến thứ hai đang ở cao điểm thắng lợi của phe Trục Đức-Ý-Nhật.
Quân đội của họ đánh tan các lực lượng đề kháng yếu ớt và thiếu chuẩn bị của
khối Đồng minh. Và mặt trận Đông Dương, vì bộ máy Bảo hộ bị gián đoạn với
mẫu quốc, lại bị hăm dọa bởi lực lượng quân sự hùng hậu của Nhật, đã trở
thành một cơ hội thuận tiện cho những người Việt muốn đấu tranh để giành độc
lập cho nước nhà.
Mùa xuân
năm 1941, sau gần 30 năm biệt xứ, ông Nguyễn Tất Thành, tức Chín Thẩu, tức
Ba, tức Nguyễn Ái Quốc, cải trang thành một phóng viên Trung Hoa, theo đường
bộ vượt qua biên giới Hoa Việt và cùng với các ông Phạm Văn Đồng và Võ
Nguyên Giáp xây dựng một căn cứ địa an toàn, thành lập “Việt Nam Độc Lập
Đồng Minh” với chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật. Tại hang Păc Pó, ông
Nguyễn Tất Thành đổi tên thành Hồ Chí Minh
[5], chính thức phát động cuộc chiến tranh giải phóng
dân tộc, đồng thời bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam, mở màn cho
hai cuộc chiến tranh Đông Dương đẫm máu sau này. Trong khi đó thì hầu hết
các cá nhân tổ chức thuộc phe quốc gia lại tìm cách hợp tác với quân đội
Nhật với hy vọng sẽ cùng với Nhật Bản lật đổ Pháp tại Đông Dương để dành độc
lập cho Việt Nam, một nền độc lập thực sự hay ngay cả một nền độc lập trong
khối Đại Đông Á.
Lúc bấy
giờ, theo khuynh hướng này, đại để ở miền Bắc có những nhân vật như nhà báo
Vũ đình Dy, bác sĩ Nguyễn xuân Chữ, bác sĩ Lê Toàn, cụ Trần Trọng Kim, cụ
Dương Bá Trạc, hoặc như một bộ phận đảng Đại Việt của ông Trương Tử Anh,
đảng Dân Chính của ông Nguyễn Tường Tam... Còn ở miền Nam thì có những cá
nhân nổi bật như nhà báo Trần Văn Ân, ông Nguyễn Văn Sâm, hoặc khối Cao Đài,
lực lượng Hòa Hảo... Riêng tại miền Trung, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để từ Nhật gửi
thư về Huế nhờ nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng làm đại diện cho Ngài để liên
lạc và thảo luận với người Nhật, nhưng cụ Huỳnh lấy lý do tuổi già sức yếu
để từ chối lời yêu cầu này và cụ nhờ người con trưởng của Kỳ Ngoại Hầu là
ông Tráng Liệt viết thư cho cha đề cử ông Ngô Đình Diệm thay thế Cụ.
Điều
đáng lưu ý là 5 năm sau, năm 1946, cụ Huỳnh lại nhận lời của ông Hồ Chí Minh
để đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ tại Hà Nội mặc dù, lúc bấy giờ, cụ
tuổi già sức yếu hơn nhiều. Có hai lý do giải thích hai quyết định có vẻ mâu
thuẫn này trong đời hoạt động của cụ Huỳnh.
Thứ nhất
là cụ từ chối lời yêu cầu của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để vì lập trường quốc gia
quá khích của cụ. Khác với người bạn thân là cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh
không tin tưởng vào sự hợp tác chân thành của người Nhật nói riêng và người
ngoại quốc nói chung. Chính vì lập trường quá khích đó mà năm 1946, ông Hồ
Chí Minh đã thuyết phục và lôi kéo được cụ với lá cờ dân tộc chống xâm lăng.
Và thứ
hai là cụ không chủ trương đấu tranh chống Pháp cho một nước Việt Nam theo
thể chế quân chủ lập hiến trong tương lai như ông Diệm mà phải là một nước
Việt Nam không những độc lập mà còn dân chủ nữa. Vì thế, giới thiệu ông Ngô
Đình Diệm, một người mà cả ba đời bề tôi trung thành của nhà Nguyễn, để làm
đại diện cho Kỳ Ngoại Hầu, một người Hoàng phái dòng chính thống, là một
việc làm mà cụ Huỳnh thấy vừa hợp lý vừa thuận tình. Lại vừa nói lên cái
thâm thuý của nhà Nho ở chỗ cụ vốn đánh giá rất thấp khả năng và đạo đức của
ông Diệm, nên mới giới thiệu cái gánh nặng chính trị đó cho tổ chức của Kỳ
Ngoại Hầu Cường Để, mà cụ vốn chê là có xu hướng vọng ngoại
[6], nếu không muốn nói là có khả năng trở thành một
tổ chức phản động trong cuộc cách mạng sau này. Khi đề cập đến quan điểm
chính trị “chống vọng ngoại” này của một sỹ phu thời đó, giáo sư Nguyễn Văn
Xuân đã xác quyết trong tác phẩm biên khảo “Phong trào Duy Tân” rằng:
“Cụ Huỳnh Thúc Kháng
sau này không chịu nhận hợp tác với Nhật chắc chắn là vì đã rút gọn được
kinh nghiệm cũ”.[7]
(Việc
này cũng để cải chính một số luận điệu rằng nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng
đã hợp tác với ông Diệm lúc bấy giờ).
Sau khi
nhận được thư của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để gởi về đồng ý cho ông Ngô Đình Diệm
làm đại diện và lãnh đạo một phong trào thân Nhật tại miền Trung, ông Tráng
Liệt bèn đi với ông Nguyễn Bá Mưu đến gặp ông Diệm một cách bí mật và trao
thư cùng giấy ủy nhiệm của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để cho ông ta. Ông Diệm vô
cùng hân hoan, vội viết thư phúc đáp, tỏ lời cảm tạ và hứa sẽ hết lòng phục
mệnh Kỳ Ngoại Hầu. Ông Diệm lúc bấy giờ đang là một vị quan mất hết phẩm
hàm, sống ẩn dật tại Huế.
Ông
Nguyễn Bá Mưu là anh vợ của tôi và bạn cùng sở với ông Tráng Liệt và ông Võ
Như Nguyện, lúc bấy giờ đều làm Phán sự ở Tòa Khâm sứ Huế, ông Mưu đã có cảm
tình với phong trào Cường Để từ lâu vì ông với anh em ông Tráng Liệt đã là
những bạn thân tri kỷ từ trước.
Với tư
cách là đại diện chính thức của tổ chức có thế yểm trợ quốc tế, lại được
mang tính chính thống của dòng họ nhà Nguyễn, ông Diệm mới bắt đầu dự trù
những kế hoạch chính trị có tầm vóc toàn quốc hơn và có nội dung đấu tranh
hơn.
Khi ông
Diệm từ quan (rồi mất hết phẩm hàm) vào năm 1933, trong gia đình ông cũng đã
có nhiều tranh luận sôi nổi, người theo, kẻ chống quyết định này. Dư luận
trong giới quan trường tại Huế có xôn xao một dạo rồi biến cố đó cũng chìm
dần vào quên lãng: người thì khen ông Diệm cứng rắn chống nhà nước Bảo hộ mà
từ quan, người thì cho rằng ông Diệm chống nhau với Thượng thư Phạm Quỳnh bị
thua nên uất ức mà từ chức. Riêng ngoài quần chúng, ngay cả tại Huế, không
mấy ai để ý đến chuyện lên voi xuống chó trong chốn Triều Trung vì họ cho
rằng Nam triều chỉ đóng vai bù nhìn của Pháp, việc lên hay xuống, ở hay đi
của các vị quan lại chẳng qua là việc tranh giành địa vị, đua chen lợi danh
chứ không ảnh hưởng gì đến chánh sách của Pháp, lại càng không ảnh hưởng gì
đến đời sống quần chúng hay vận mệnh quốc gia. Thật vậy, kể từ ngày Kinh đô
thất thủ (1885) làm cho vua Hàm Nghi bôn đào, rồi vua Thành Thái bị truất
biếm, và nhất là kể từ khi vị vua trẻ tuổi Duy Tân mưu đồ cách mạng bị thất
bại rồi cả ba vị vua Việt Nam bị Pháp bắt đi lưu đày, thì người dân Huế đâm
ra bi quan. Họ nhìn về tương lai mịt mù với tất cả chán chường và thất vọng.
Họ nhìn rêu phủ trên thành quách, lau mọc bên bờ sông, trăng tàn trên nội
điện mà cảm thương cho vận nước lao lung.
Hầu như
tất cả người dân xứ Huế đều thuộc lòng 5 câu thơ mà sau này trở thành những
câu hò rất phổ biến trong nhân gian:
Chiều chiều trước bến
Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông?
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.
Họ mượn
câu hò để ghi lại một biến cố đau buồn của lịch sử và đồng thời cũng để ký
thác nỗi niềm tâm sự của mình. Nỗi niềm thương tiếc một nhà vua yêu nước mà
bị gian truân, một bậc trung thần can trường mà đầu rơi máu chảy, tâm sự của
một người dân nhìn đất nước suy vong mà chỉ biết đưa câu mái đẩy để chạnh
lòng nước non!
Họ lại
càng trở nên chai lỳ hơn với những đổi thay của thời cuộc kể từ khi vua Khải
Định hành xử như một tên Việt gian vô trách nhiệm, chỉ biết cúi đầu vâng dạ
người Pháp để có cơ hội tiêu xài phung phí công quỹ. Từ đó về sau, người dân
Huế xem những buổi tế lễ ở đàn Nam Giao, những buổi thiết triều trong Đại
Nội với áo mão xênh xang, tiền hô hậu ủng cũng giống như những xuất hát bộ
trên sân khấu của rạp hát bà Tuần. Họ sống với hiện tại nhưng lòng thì chỉ
hoài niệm về quá khứ, một quá khứ mà quê hương còn vắng bóng ngoại nhân đô
hộ, còn có vua quan là minh quân. Vì vậy, việc ông Diệm từ quan hay ông
Quỳnh thắng thế không làm xúc động hay gây được sôi nổi trong đời sống vốn
rất trầm mặc của họ.
Mùa xuân
năm 1942, khi những cơn sóng ngầm bắt đầu chuyển động trong sinh hoạt chính
trị của người Việt thì tôi được thuyên chuyển về Huế làm huấn luyện viên các
lớp Hạ sĩ quan. Đối với tôi, về Huế là về kinh đô của quốc gia, là về với
cung đài diễm lệ của trung tâm đất nước. Vì thuở thiếu thời chỉ biết lũy tre
làng và đồng ruộng khô, thời niên thiếu thì bận học hành, lớn lên gia nhập
quân đội chỉ biết kỷ luật thép và hàng rào sắt, nên khi được đổi về Huế, tôi
đã lợi dụng dịp này để ngao du khắp các ngõ ngách của kinh thành.
Phong
cảnh đất Thần kinh vừa u trầm cổ kính, vừa thơ mộng hữu tình rất phù hợp với
tinh thần vốn bảo thủ và nặng lòng hoài cổ của tôi. Những ngày nghỉ lễ, tôi
thường lang thang đi bộ viếng thăm những danh lam thắng cảnh của kinh đô như
hồ Tịnh Tâm, chùa Thiên Mụ, đàn Nam Giao, cửa Ngọ Môn, thôn Vĩ Dạ, vườn Ngự
Viên, cầu Bạch Hổ, núi Ngự Bình, chùa Diệu Đế, làng Kim Long, trường Quốc Tử
Giám... ở đâu và lúc nào, tôi cũng tìm được những rung cảm tuyệt vời. Từ
tiếng chuông thu không của những buổi chiều bảng lãng đến tiếng hò não nùng
trong sương mờ của buổi sáng sông Hương, từ cô gái giặt áo ở mặt nước ven
sông đến tà áo tím Đồng Khánh của mùa thu tan trường về, từ hàng cau thôn Vĩ
đến tiếng thông reo đỉnh Ngự, tất cả đều có sức thu hút lạ lùng và đều để
lại trong tâm tưởng tôi những hình ảnh không quên. Lần băng cầu Lò Rèn để đi
Phú Cam , tôi đi qua nhà ông Diệm và thầm cảm phục vị Thượng thư đầu triều,
tuy còn trẻ tuổi mà không màng danh lợi, dám cởi áo từ quan trong giai đoạn
mà nhiều người bán hết gia tài để mua chút phẩm hàm, hoặc dâng vợ cho giặc
để kiếm chức tri huyện.
Đời sống
của tôi tại Trung tâm Huấn luyện Hạ sĩ quan càng ngày càng trở nên căng
thẳng và bực bội. Những va chạm với những quân nhân Pháp trong lúc điều hành
công tác giảng huấn, những hành vi hống hách kỳ thị của họ đối với quân nhân
Việt Nam, những áp bức và bất công trong đời sống trong và ngoài doanh trại,
và nhất là thái độ khúm núm sợ hãi đến độ tội nghiệp của một số đồng ngũ
người Việt Nam... như biến thành giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước của
thời thơ ấu thôn quê của tôi, mà chết chóc, đốt phá, hãm hiếp, tù đày do
người Pháp và tay sai của họ gây ra đã chồng chất bấy lâu nay.
Cho đến
một hôm vào tháng 6 năm 1942, tôi đang dạy tác chiến cho một trung đội khóa
sinh tại chân núi Ngự Bình thì ông Trần Văn Dĩnh (sau này là Giám đốc Thông
tin dưới thời ông Diệm và hiện đang sống tại Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
[8]) và một người lạ mặt đến thao trường xin
gặp tôi. Ông Dĩnh tự giới thiệu tên họ của mình và người lạ mặt (mà bây giờ
tôi mới nhớ ra tên Nguyễn Huy Tuân), một công chức của Chính phủ Bảo hộ.
Ông Dĩnh
đặt ra một số vấn đề thời sự để thẩm định lòng yêu nước và quyết tâm dành
độc lập cho nước nhà của tôi, rồi phân tích tình hình chính trị thế giới và
Việt Nam cho tôi nghe để đi đến kết luận là chế độ bảo hộ của Pháp tại Việt
Nam thế nào cũng phải chấm dứt và Việt Nam thế nào cũng được độc lập. Tuy
còn trẻ, nhưng ông lý luận rất khoa học và ông đặt vấn đề rất đúng đắn, cách
trình bày của ông, tuy rất tổng quát, nhưng lại phù hợp hoàn toàn với những
suy tư của tôi từ lâu.
Trả lời
thắc mắc vì sao ông biết tôi và dám đến để làm công tác tuyên truyền này thì
ông cho hay là đã điều nghiên và thiết lập được danh sách những quân nhân
Việt Nam tại Huế từng chứng tỏ có lòng yêu nước và dám xả thân chống Pháp.
Trước khi về, ông khuyên tôi nên gia nhập một tổ chức đấu tranh để đi vào
hoạt động cách mạng và hẹn gặp tôi vào một dịp khác chưa định trước được.
Ngay tối
hôm đó, tôi liền đến nhà ông Nguyễn Bá Mưu kể rõ lại trường hợp gặp gỡ và
nội dung buổi nói chuyện. Nghe tôi nhắc đến tên ông Trần Văn Dĩnh, anh vợ
tôi cười rồi cho biết rằng tuy chưa quen Dĩnh nhưng ông biết Dĩnh là em ruột
ông Trần Văn Hướng, con của cụ Tú Trần Văn X, và cũng như ông, cả ba cha con
đều ở trong phong trào ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để do ông Diệm lãnh đạo.
Nghe anh tôi nói rõ, tôi mới yên tâm vì trong lòng vẫn ngại Dĩnh là nhân
viên trá hình của sở Mật thám Pháp.
Mấy tuần
sau, cũng tại chân núi Ngự Bình, Dĩnh lại tìm đến gặp tôi. Lần này thì Dĩnh
cho biết thẳng là đang làm việc cho tòa Lãnh sự Nhật Bản tại Huế và hoạt
động rất an toàn vì được cơ quan Hiến binh của Nhật (lúc bấy giờ đóng ở
trường trung học Hồ Đắc Hàm cũ) bảo vệ kỹ càng. Trong lần nói chuyện này,
chúng tôi thảo luận sâu xa hơn nhưng rõ ràng là Dĩnh tìm cách tác động tinh
thần yêu nước chống Pháp của tôi mà cụ thể là theo Nhật để đánh đổ Pháp.
Theo Dĩnh thì thế nào Nhật cũng đảo chánh Pháp và cả vua Bảo Đại, để đưa Kỳ
Ngoại Hầu về nước cầm chính quyền với ông Diệm làm Thủ tướng Chính phủ.
Vốn đã
được nghe anh vợ tôi phân tích tình hình chính trị đương thời trong chiều
hướng đó với những triển vọng thật lạc quan, lại đang ẩn ức vì cứ phải ôm
những hoài bão của mình trong lòng mà vẫn phải làm việc chung với người
Pháp, nay nghe Dĩnh phân giải và thúc đẩy hoạt động với một sách lược cụ thể
trong một tổ chức có thật, tôi rất xúc động và hứa sẽ cùng hoạt động với ông
ta. Tôi liền được Dĩnh trao cho công tác bí mật theo dõi hoạt động của những
sĩ quan Pháp trong đơn vị của tôi, theo dõi số lượng vũ khí xuất nhập kho và
tìm cách kết nạp thêm nhiều đồng chí khác.
Sau một
vài lần nữa tiếp xúc với Dĩnh, cuối cùng tôi được anh vợ tôi và ông Tráng
Liệt giới thiệu tôi vào tổ chức của ông Ngô Đình Diệm. Lúc đó là vào mùa thu
năm 1942.
Anh vợ
tôi mà một số các vị Mục sư Tin Lành (hiện sống ở Los Angeles) cũng như ông
Võ Như Nguyện (hiện đang sống tại Mỹ) đều biết là một người tính tình ngay
thẳng, cương nghị và có chí lớn. Vì nhà nghèo, nên sau khi đỗ bằng Thành
Chung, ông bèn thi vào ngạch Thư ký tòa Sứ để có phương tiện sinh sống. Vừa
mới có đứa con đầu lòng (sau này là cố Chuẩn tướng Nguyễn Bá Liên) được 15
ngày thì vợ chết, ông rất buồn nên tìm nguồn an ủi trong giáo lý của đạo Tin
Lành. Thân phụ của ông là cụ Nguyễn Bá Dĩnh, đỗ Cử nhân và được bổ làm Tri
huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An. Được mấy năm, chán cảnh quan trường, lại bất
mãn vì triều đình bất lực trước ngoại nhân, cụ từ quan về làng mở trường dạy
học sống cảnh an bần lạc đạo. Người con gái đầu của Cụ, tức là chị ruột của
ông Nguyễn Bá Mưu, lấy người con trai của cụ Cử Lưu Trọng Kiến ở huyện Bố
Trạch, vốn là thân phụ của hai thi sỹ Lưu Kỳ Linh và Lưu Trọng Lư, mà người
em đã đi vào lịch sử thi văn nước nhà với bốn câu thơ bất hủ
[9]:
Em không nghe mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...
Còn thân
phụ tôi tuy không đỗ đạt cao nhưng cũng có công dùi mài kinh sử nên người
trong huyện gọi là ông “Đầu Xứ”, còn chú tôi thì vào đến Tam Trường mới hỏng
cho nên nơi hương đẳng đình trung cũng được liệt vào hàng những nhà Nho
trọng vọng. Vì thế, cụ cử Nguyễn Bá Dĩnh và gia đình tôi trở nên bằng hữu
thân thiết trong khung cảnh của một làng quê nghèo nàn nhưng nề nếp. Lạ gì
thanh khí lẽ hằng, cụ Cử và cha chú tôi vốn là những môn đồ Khổng Mạnh vào
cái thời mà văn minh Tây phương đang công phá những thành trì văn hóa và
chính trị cuối cùng của nếp sống nho phong, nên trở thành bạn tâm giao tri
kỷ một cách dễ dàng, và cũng nhờ đó mà hai nhà mới trở thành thông gia và
tôi trở thành em rể của ông Nguyễn Bá Mưu.
Một mặt
nhờ giòng máu bất khuất của tổ tiên, mặt khác nhờ tấm gương sĩ khí của nhạc
gia và anh vợ, nhưng sâu sắc nhất là nhờ làm việc trực tiếp với quân đội
Pháp nên càng ngày tôi càng thấy rõ chính sách hà khắc và thâm độc của người
Pháp, cũng như thái độ lòn cúi nhục nhã của quan lại An Nam. Chính những
sinh họat thực tế hàng tháng, hàng ngày, hàng tuần đó... chính những chứng
kiến trong công việc, trong đời sống đó... đã nẩy mầm và nuôi dưỡng trong
tâm hồn tôi cái quyết tâm khước từ và chống lại sự cai trị của một chính
quyền ngoại nhân trên đất nước. Vì thế khi ông Tráng Liệt và ông Trần Văn
Dĩnh tổ chức tôi vào phong trào của cụ Cường Để với mục đích tối hậu là
giành lại độc lập và chủ quyền cho quốc gia trong tay chính quyền Pháp thì
tôi hăng hái nhận lời gia nhập ngay, dù ý thức được rằng là một quân nhân,
nếu bị Pháp khám phá ra, tôi có thể mang tội tử hình như một số quân nhân
khác trong phong trào “Đầu độc Hà thành”, trong vụ “Khởi nghĩa Yên Bái”,
trong vụ “Đội Cung ở Nghệ An”...
Lúc bấy
giờ, ý thức đấu tranh cách mạng hay quan niệm một đảng đấu tranh cách mạng,
đối với tôi, không phải là nhu cầu cấp bách nhất. Quyết định của tôi chỉ
được vận động bằng tình cảm căm thù Pháp đô hộ và chỉ bằng tình cảm đó mà
thôi, nên bất kỳ một tổ chức nào, Việt Quốc, Tân Việt hay ngay cả đảng Cộng
Sản, nếu đến tuyên truyền và kết nạp, tôi cũng sẵn sàng gia nhập ngay.
Thế rồi
vào một đêm mưa phùn gần cuối năm 1942, khoảng 11 giờ khuya, ông Tráng Liệt
đến nhà tôi và rủ đi gặp ông Ngô Đình Diệm. Chúng tôi đi dọc theo tả ngạn
sông Hương hướng về phía Phú Cam và dừng lại trước ngôi nhà cổ kính, từ
đường của gia tộc Ngô Đình.
Được
người vào báo, ông Diệm ra tận bậc cấp trước cửa nhà để đón chúng tôi. Đó là
lần đầu tiên tôi gặp ông Diệm. Ông rất trẻ so với tước vị và những huyền
thoại về ông. Dù đã khuya, ông vẫn mặc áo lương, khăn đóng, giày hạ, ra mời
chúng tôi vào phòng khách chính, nơi có bộ bàn ghế mây xưa mà chú Phẩm,
người đầy tớ trung thành của ông, đã dọn ra ba chén nước chè xanh để mời
khách.
Dưới ngọn
đèn mờ, trong một phòng khách cổ kính, trước một nhân vật đã từng là Thượng
thư đầu triều, đã từng cởi áo từ quan, và bây giờ đang thay mặt Kỳ Ngoại Hầu
Cường Để cầm đầu một tổ chức chống Pháp, tôi có cảm tưởng như mình lạc vào
một thế giới khác, xa lạ hẳn với thực tế sôi động của tình hình đất nước.
Sau khi mời chúng tôi dùng nước chè xanh, ông Diệm bắt đầu hỏi về gia thế và
sinh hoạt của tôi, cũng như hỏi về đời sống và tinh thần của quân nhân Việt
Nam trong mối tương quan với quân nhân Pháp.
Có lẽ nhờ
đã được ông Tráng Liệt giới thiệu trước về hoàn cảnh và ước vọng của tôi
cũng như có lẽ nhờ có người anh vợ của tôi vốn đã là thành viên trong tổ
chức, nên sau phần mở đầu đó của câu chuyện, ông Diệm tỏ ra tin tưởng và
thân tình với tôi hơn. Vì vậy, ông bắt đầu kể chuyện đời ông như để trang
trải tâm sự hơn là để khoe khoang nhằm thuyết phục: ông nói nhiều về giai
đoạn ông làm Tri huyện rồi Tri phủ mà công tác chính là cùng với các trưởng
đồn người Pháp đi thanh sát ở làng quê, hoặc khám phá và lùng bắt những tổ
chức Cộng sản thời 1929-30 khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp. Ông
cũng trình bày chuyện ông từ bỏ quan trường vì người Pháp đã không thực tâm
khai hóa nhân dân Việt Nam. Cuối cùng, ông đi vào trọng tâm của buổi nói
chuyện là khơi dậy lòng yêu nước, nung nấu chí căm thù thực dân và tay sai
như Bảo Đại và ba ông Thượng thư đồng triều mà ông thù ghét nhất, là Phạm
Quỳnh, Thái Văn Toản và Hồ Đắc Khải. Ông cũng đề cập đến cuộc đời và con
đường hoạt động của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và của cụ Phan Bội Châu để kết
thúc câu chuyện đã quá dài.
Suốt buổi
gặp gỡ, ông Tráng Liệt và tôi nghe nhiều hơn nói. Riêng tôi, tuy có ý chờ
ông trình bày về tổ chức mà ông đang phụ trách nhưng vì ông không đề cập đến
nên tôi cũng chưa tiện hỏi. Đêm đã quá khuya, ông Tráng Liệt bèn xin phép ra
về. Ông Diệm tiễn chúng tôi ra tận cửa, hẹn gặp lại tuần sau và dặn kỹ không
nên vào bằng cửa chính để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp mà nên đi bằng
cửa bí mật ở vườn sau gần đường xe lửa, lối vào chỉ có một số đồng chí được
ông cho biết mà thôi.
Trên
đường về, trong cái rét buốt của xứ Huế buổi trọng Đông, tôi cảm thấy xúc
động lạ thường vì buổi gặp gỡ đó. Buổi gặp gỡ mà tôi cho như là một xác tín
cá nhân về tư cách của một đảng viên trong một phong trào cách mạng, có một
lãnh tụ thuộc gia đình vọng tộc đã dám từ quan để đấu tranh cho quê hương
dân tộc. Trong cái tâm trạng mang mang của một người từ nay có một tổ chức
để nương dựa, có một lãnh tụ để được hướng dẫn, có một lý tưởng để đấu
tranh, tôi vẽ ra cho mình những ước mơ sáng tươi trong cái tươi sáng chung
của tương lai dân tộc.
Từ đấy,
hầu như mỗi tuần lễ tôi đều đến ngôi nhà ở Phú Cam, vốn được xem như trụ sở
trung ương của tổ chức, để sinh hoạt và thảo luận cùng ông Diệm và các đồng
chí của ông. Trong số này có hai người cốt cán là ông Hoàng Xuân Minh làm
Tham tá ở tòa Khâm sứ Huế và ông Nguyễn Tấn Quê làm thư ký cho sở Mật thám
Trung kỳ. Hai người này đặc biệt được ông Diệm trọng vọng và tin tưởng, nhất
là ông Nguyễn Tấn Quê, tuy chỉ mới đỗ Trung học nhưng là người được ông Diệm
xem như mưu sỹ chính.
Sau gần
nửa năm hoạt động với ông Diệm và các đồng chí, tôi đi đến nhận xét rằng
sinh hoạt và phương thức tổ chức của nhóm về mặt nội dung lẫn cơ cấu có vẻ
là một phong trào chính trị hơn là một đảng cách mạng chặt chẽ. Nhóm không
có một hệ thống tổ chức với các cơ cấu và chức năng rõ ràng, không có chủ
thuyết chỉ đạo cũng như không có một sách lược đấu tranh với các kế hoạch
giai đoạn nhất định. Tại các tỉnh, và đặc biệt tại Huế, bất cứ ai đồng ý
chung chung với chủ trương thân Nhật và kính phục ông Diệm thì đều có thể
gia nhập phong trào của ông.
[10]
Nói tóm
lại, ngay từ lúc đó, tôi đã đánh giá được bản chất của tổ chức là một bản
chất chính trị vận dụng chứ không phải cách mạng đấu tranh như các đảng
khác. Tổ chức đó được kết tinh sau lưng uy tín của một lãnh tụ và hoạt động
theo sự biến chuyển của tình thế.
Dù nhận
định như vậy, tôi vẫn quyết định hợp tác với ông Diệm vì lý do tình cảm
nhiều hơn là vì chọn lựa chính trị có ý thức. Công tác của tôi được ông Diệm
giao phó là tổ chức một lực lượng quân nhân Khố xanh trong khắp các cơ binh
thuộc xứ Trung kỳ, bao gồm từ Thanh Hóa vào đến Phan Thiết và các tỉnh Cao
Nguyên. Về quân nhân Khố đỏ thì do Thiếu úy Phan Tử Lăng đang phục vụ trong
thành Mang Cá ở Huế phối hợp với ông Đội khố đỏ Nguyễn Vinh (mà sau này, khi
ông Diệm mới chấp chánh, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Danh dự, tiền thân
của Liên binh Phòng vệ Tổng Thống phủ) phụ trách việc liên lạc và thông tin
các cơ sở quân sự đóng tại Huế và Phú Bài.
Đặc biệt
ông Diệm giao cho tôi thảo một kế hoạch hoạt động chi tiết để phối hợp với
quân đội Nhật Bản khi nào Nhật làm cuộc đảo chánh tấn công quân Pháp, và một
dự án dài hạn khác về việc tái tổ chức quân đội Bảo An cho quốc gia sau khi
Hoàng thân Cường Để lấy lại chính quyền trong tay người Pháp. Hai dự án này,
nhờ sự hội ý của hai ông Hoàng Xuân Minh và Nguyễn Tấn Quê, và nhất là nhờ
được sử dụng những tài liệu quốc phòng của Pháp tại Trung tâm Huấn luyện, đã
được tôi hoàn tất đúng kỳ hạn và trình cho ông Diệm nghiên cứu. Độ hai tuần
sau ông cho biết là đã đọc kỹ và đồng ý hoàn toàn.
Nhờ uy
tín và vị thế huấn luyện viên của các khóa hạ sỹ quan, tôi thiết lập được
liên lạc và tổ chức một hệ thống các tổ gồm từ 5 đến 7 người trong suốt 20
cơ binh của miền Trung. Những học trò, những bạn bè của tôi được tổ chức vào
phong trào Cường Để do ông Diệm lãnh đạo, nhiều người được các ông Võ Như
Nguyện, Trần Văn Hướng hay Phùng Ngọc Trưng hiện ở hải ngoại biết rõ.
Ngoài ra,
lợi dụng 15 ngày nghỉ phép thường niên của tôi, ông Diệm còn giao cho tôi
công tác đi khắp các tỉnh Trung Kỳ để liên lạc với các đồng chí có uy tín và
thực lực khác. Tôi đã từng đi Thanh Hóa liên lạc với cụ Nguyễn Trác (là thân
phụ của kỹ sư Nguyễn Luân và cũng là nhạc phụ của luật sư Nghiêm Xuân Hồng
một nhân sỹ có tinh thần cách mạng đã từ chức Tri huyện để hoạt động) đi Hà
Tĩnh liên lạc với ông Trần Văn Lý đang làm Tuần vũ tại đây, đến Quy Nhơn gặp
bác sỹ Lê Khắc Quyến, đến Phan Thiết gặp ông Trần Tiêu, một người đồng hương
đang giữ chức Kinh lịch, v.v...
Nhờ những
chuyến đi này và kinh qua những lần tiếp xúc với các vị đàn anh, tôi được
học hỏi nhiều thêm về ý thức chính trị và khả năng phân tích tình hình. Cũng
nhờ những chuyến đi này, tôi được biết không những người trong giới quan lại
ủng hộ ông Diệm, đặc biệt là cụ án sát Phan Thúc Ngô ở Quảng Bình, mà còn có
một số trí thức tân học, tuy không ở trong phong trào, nhưng cũng có cảm
tình với ông Diệm như bác sỹ Ung Vi ở Phan Thiết hay kỹ sư Đặng Phúc Thông ở
Nha Trang. (Kỹ sư Thông sau này giữ chức Bộ trưởng Công Chánh một thời gian
ngắn trong Chính phủ đầu tiên của Việt Minh)...
Ngoài hai
công tác chính này, riêng tại Thừa Thiên, tôi cũng đã đẩy mạnh công tác kinh
tài cho tổ chức bằng cách tuyên truyền và vận động một số các thương gia
giàu có tình nguyện đóng góp cho ông Diệm. Có người đóng góp 4 đồng bạc Đông
Dương mỗi tháng, riêng có một vị lương y (là thân phụ của Trung Tá Nguyễn
Mễ, hiện ở Mỹ) tình nguyện đóng góp hết 6 đồng (mỗi đồng bạc Đông Dương vào
thời đó, có giá trị rất lớn. Một kí gạo chỉ 25 xu).
Trong
suốt thời gian này, không bao giờ tôi thấy ông Diệm rời khỏi Huế cũng không
bao giờ thấy ông xuất hiện hoạt động trong giới chính trị công khai hoặc bí
mật. Hàng ngày ông đi lễ nhà thờ và buổi chiều thường mặc áo lương đen đi
lang thang một mình dọc bở sông Phú Cam để hóng mát. Cũng trong suốt thời
gian này (cho đến năm 1948), dù thường đến nhà ông Diệm tôi cũng không hề
thấy mặt ông Ngô Đình Cẩn. Tôi gặp ông Nhu hai lần: một lần vào năm 1943
trong dịp tang lễ của cụ Thân Thần Tôn Thất Hân (khi tôi dẫn trung đội lính
đi dàn chào lúc làm lễ động quan), và lần thứ hai, gặp cả hai vợ chồng tại
văn phòng Văn Khố tòa Khâm sứ Huế khi tôi đến thăm ông Tráng Liệt. Ông Tráng
Liệt cho biết cứ hai hay ba ngày, bà Nhu lại đến văn phòng chồng để gặp gỡ
và nói chuyện. Bà Nhu đến bằng xe kéo gọng vàng do một người đầy tớ thân tín
và lực lưỡng kéo. Xe kéo của bà Nhu là một trong những chiếc xe sang nhất ở
Cố Đô mà các cậu Ấm và cô Chiêu trong triều đình nhà Nguyễn thường dùng để
di chuyển trong thành phố.
Về trường
hợp ông Nhu, ông Diệm thường dặn dò chúng tôi: “Chú ấy theo Tây, ham ăn sung
mặc sướng, không thiết gì đến chính trị hay cách mạng đâu, các ông chớ nên
gặp gỡ hay thân thiết với chú ấy làm gì”. Lúc đầu chúng tôi thực sự ngạc
nhiên vì lời dặn dò lạ lùng đó, tự hỏi tại sao anh thì muốn làm cách mạng mà
em thì lại hủ hóa như vậy; nhưng từ từ chúng tôi mới hiểu được rằng lời dặn
dò đó là một trong những biện pháp an ninh phát xuất từ tình cảm gia đình mà
ông Diệm chỉ muốn một mình chịu trách nhiệm và hậu quả về hoạt động thân
Nhật và chống Pháp của ông, chứ không muốn làm liên lụy cả gia đình. Hơn
nữa, ông Nhu vừa mới ở Pháp về, và cũng vừa lập gia đình với một người vợ
còn son trẻ (bà Nhu sinh năm 1924) của Hà thành hoa lệ, ông ta cần có thời
gian để củng cố địa vị của một công chức Bảo hộ cao cấp và củng cố đời sống
gia đình mà người vợ vốn quá tự do tân thời, tự thấy bị tù túng mà lại còn
phải ganh đua giữa một kinh kỳ có nhiều mệnh phụ quý phái.
Cuối năm
1943, những hệ quả chính trị và kinh tế của đệ nhị thế chiến thật sự ảnh
hưởng đến hoạt động và đời sống hàng ngày của những người như tôi. Giá sinh
hoạt leo thang vùn vụt, đồng bạc Đông Dương bị mất giá thảm hại, gạo từ 25
xu lên đến một đồng một ký khiến lương hàng tháng 40 đồng của một quân nhân
trung cấp như tôi quả thật không đủ cho tiểu gia đình tôi đủ sống. Vì vậy,
và cũng vì không muốn vướng bận thê nhi trong hoạt động đấu tranh của mình,
tôi đã phải bùi ngùi quyết định cho vợ tôi và hai đứa con trai nhỏ về quê
sống với bên ngoại. Về quê, tuy đời sống thanh đạm và thiếu thốn hơn, tuy có
phải tảo tần cực khổ một nắng hai sương nhưng ít ra vợ con tôi còn có một
mảnh vườn để trồng rau cỏ, một hồ nước có tôm cá, một rừng tràm có củi nứa
và nhất là có bà con thân thuộc để có thể đắp đổi sống qua ngày. Buổi biệt
ly, nhìn chiếc xe đò cũ kỹ chập chùng đưa vợ con về cố quận thân thương,
người cán bộ 26 tuổi đời như tôi không khỏi có một chút xao xuyến xót xa.
Được biết quyết định đó của tôi, ông Diệm hân hoan lắm và khen tôi làm cách
mạng thì phải biết hy sinh cá nhân, phải biết thoát ly gia đình để có nhiều
thì giờ và năng lực cống hiến cho đại cuộc.
Đại cuộc
đó, hay nói đúng ra là những vận động chính trị của nhóm ông Diệm trong
khuôn khổ cuộc tranh chấp ảnh hưởng giữa Nhật và Pháp tại Việt Nam, vẫn tiếp
tục thăng trầm theo nhịp độ thắng hay bại của phía người Nhật. Quân đội Nhật
Bản, chiến thắng oanh liệt trong những năm đầu của thế chiến, từ cuối năm
1943 trở đi, đã trở về thế phòng ngự thụ động. Và tại các mặt trận lớn ở Ấn
Độ, Miến Điện, Nam Dương... quân Nhật hứng chịu những thất bại quân sự nặng
nề đến nỗi phải rút lui ra khỏi những quốc gia bị chiếm đóng... Đầu xuân năm
1944, chuyện phải đến đã đến, mật thám Pháp và Thượng thư Phạm Quỳnh tổ chức
vây bắt ông Diệm mà nếu không nhờ Hiến binh Nhật, với khả năng tình báo của
sở gián điệp Kempeitai, kịp thời can thiệp để cứu thoát trong đường tơ kẽ
tóc thì có lẽ sinh mạng và chính tổ chức của ông Diệm đã không còn.
Nguyên tổ
chức có một đồng chí tên là Khang làm thư ký ở sở Bưu điện Huế, đêm đó trực
ở phòng điện tín đến khuya mà vẫn còn thấy viên trưởng sở bưu điện người
Pháp ở lại đích thân thảo và đánh điện tín, ông bèn tìm cách lén đọc được
một số công điện mà trong đó có công điện mang nội dung về việc bắt ông
Diệm. Ông liền thông báo cho một anh em có liên hệ đến bên tình báo của Nhật
biết tin này. (Cũng có thể có nhiều đường giây khác nữa mà tôi không được
biết).
Khoảng
gần 11 giờ đêm thì ba người Hiến binh Nhật Bản đến nhà ông Diệm ở Phú Cam và
độ nửa giờ sau thì họ ra về trước cặp mặt xoi mói của nhân viên mật thám
Pháp đang canh chừng nhà ông Diệm. Mãi đến quá nửa đêm, các nhân viên mật
thám Pháp mới bố trí xông vào nhà bắt ông Diệm nhưng họ chỉ gặp được bà cụ
thân mẫu của ông, người đầy tớ tên Phẩm và một người hiến binh Nhật Bản...
Thì ra ông Diệm, vốn người thấp lùn, nên đã giả trang mặc quân phục Hiến
binh trốn theo cùng với hai người hiến binh Nhật kia ra đi từ lâu, làm mất
công viên chánh sở mật thám Đông Dương là Pierre Arnoux từ Hà Nội vào đích
thân điều khiển công tác vây bắt nhân vật thân Nhật Bản quan trọng nhất tại
Trung Kỳ. Nhóm mật thám Pháp dọa dẫm bà cụ thân mẫu ông Diệm, tra tấn anh
Phẩm một hồi rồi hậm hực ra về.
Hiến binh
Nhật đưa ông Diệm về tạm trú tại tòa Lãnh sự Nhật của ông Ishida
[11] vài tiếng đồng hồ rồi chở ông đến thẳng
trụ sở Hiến binh tại trường Hồ Đắc Hàm cũ để được an toàn hơn và để tránh
những va chạm ngoại giao có thể có với người Pháp. Cụ Thái Văn Châu (nguyên
Phó chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn và hiện tị nạn tại Pháp), lúc bấy giờ
là một thương gia có khuynh hướng thân Nhật và đang được đấu thầu cung cấp
thực phẩm cho quân đội Nhật, biết tin nên vội vàng vào thăm và mang một ít
đòn chả Huế cho ông Diệm dùng chung với khẩu phần đạm bạc tại sở Hiến binh
Nhật. Theo lời cụ thì ông Diệm có vẻ suy tư và nỗi lo âu lộ hẳn ra mặt.
Được vài
ngày, người Nhật liền hộ tống ông Diệm bằng ô tô nhà binh vào Đà Nẵng và từ
đó chở ông bằng phi cơ quân sự vào Sài Gòn. Ban đầu họ để ông tạm trú tại
trụ sở trung ương của sở Hiến binh Nhật, sau đó họ di chuyển ông đến văn
phòng chính của Đại Nam Công ty, vốn là bề mặt ngụy trang của Bộ chỉ huy
trung ương của ông Matsuisita, trùm gián điệp của Nhật tại Đông Dương. Thời
ông Diệm làm Tổng thống, ông Matsuisita trở lại miền Nam Việt Nam làm ăn
buôn bán và đã giúp ông Diệm rất đắc lực trong quan hệ ngoại thương giữa
VNCH và Nhật Bản. Sau ngày chế độ ông Diệm bị toàn dân lật đổ, ông
Matsuisita bị Hội Đồng Tướng Lãnh làm khó dễ trong vấn đề tài sản và các
thương vụ của ông tại Sài Gòn, nhưng vì nghĩ tình xưa giữa ông Diệm và ông
ta, tôi đã tìm cách can thiệp và giúp đỡ.
Sau ngày
ông Diệm bị bắt hụt và được Nhật che chở mang đi mất vào Sài Gòn, viên chánh
sở mật thám Trung Kỳ Perroche, vốn cụt một tay và nổi tiếng tàn ác, bắt đầu
nghi ngờ có nhân viên chìm của ông Diệm trong sở mật thám Huế, bèn yêu cầu
với trung ương cho biệt phái ông Lombert, viên chánh sở mật thám Vinh vốn
thông thạo về tình hình đảng phái và nhân sự Việt Nam, vào Huế và thành lập
một ủy ban đặc nhiệm phụ trách điều tra “vụ án Ngô Đình Diệm”. Ông Hoàng
Đồng Tiếu, (hiện ngụ tại Portland, tiểu bang Oregon), lúc bấy giờ còn đang
có cảm tình với cá nhân ông Diệm và đang làm phán sứ tại sở mật thám Huế,
tuy có thông báo sự kiện này cho một số người trong tổ chức ông Diệm biết,
nhưng cũng không tránh khỏi tình trạng một số chiến hữu lần lượt bị sa lưới
mật thám Pháp.
Trước hết
là cụ Án Sát Phan Thúc Ngô bị lột chức và bắt giải vào giam ở Huế, rồi đến
ông Tuần vũ Hà Tĩnh Trần Văn Lý suýt bị bắt nhưng nhờ có bà vợ là bà con gần
với Nam Phương Hoàng Hậu nên chỉ bị hạ tầng công tác, thuyên chuyển vào Phú
Yên và vĩnh viễn không được đề nghị thăng thưởng. Ông Võ Như Nguyện và ông
Lương Duy Uỷ (sau này làm tỉnh trưởng Phú Yên và Vĩnh Bình dưới thời ông
Diệm), hai đồng chí thân thiết nhất với tôi lúc bấy giờ, cũng bị bắt đày lên
Dakto. Ngoài ra, một số các đồng chí khác tại Huế và các tỉnh Trung Kỳ,
người thì vào vòng lao lý, người thì bị truy lùng.
Về phía
quân nhân bên Khố đỏ chỉ có mấy người Đội cao cấp bị bắt giữ, còn bên Khố
xanh, từ Thanh Hóa vào đến Phan Thiết, bị mật thám Pháp bắt giữ rất nhiều.
Có người bị tra tấn đến gẫy cả hai hàm răng và xương quai hàm như anh đội
Lộc ở Phú Bài, có người bị đánh què chân như anh đội Xự ở Quảng Trị. Đa số
các hạ sĩ quan Khố xanh bị bắt và giam tại các nhà lao Bái Thượng ở Thanh
Hóa, nhà lao Lao Bảo ở Quảng Trị hoặc tại các nhà lao khác ở Cao nguyên
Trung phần. Riêng phần tôi, vì là người lãnh đạo toàn bộ nhóm quân nhân Khố
xanh nên bị bắt giam và tra tấn tàn bạo ở sở mật thám Huế và tống giam ở lao
Thừa phủ gần hai tháng, trước khi bị đày lên Di Linh để biệt giam trong một
nhà lao do lính Thượng canh giữ.
Đầu năm
1945, quân đội Nhật Bản bị phản công và bị dồn vào thế tuyệt vọng tại các
mặt trận Trung Hoa cũng như trên các tuyến phòng vệ Đông Nam Á. Trong khi
đó, trên chiến trường Âu Châu, sau cuộc đổ bộ ngày 6/6/1944 tại bờ biển
Normandie của quân lực Đồng Minh, tướng De Gaulle dẫn toàn bộ Chính phủ lâm
thời từ Alger trở về Pháp nắm chính quyền vào tháng 8 cùng năm đó.
Trên mặt
trận Thái Bình Dương, tướng Mac Arthur đã chiếm xong Phi Luật Tân và đang
tung quân tấn chiếm các quần đảo phòng vệ chiến lược của xứ Phù Tang, yểm
trợ cho một kế hoạch tái chiếm Đông Dương của liên quân Anh-Pháp. Trước nguy
cơ có thể bị nội công ngoại kích đó, quân đội Nhật Bản tại Việt Nam bèn đảo
chánh chính quyền Pháp vào đêm 9/3/1945, bắt toàn quyền Decoux và thiết lập
nhiều trại tập trung để giam giữ công chức và quân nhân Pháp tại nhiều địa
điểm trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Tại Bắc Kỳ, một số đơn vị Pháp chống lại
cuộc đảo chánh này đều bị đàn áp, kẻ thì bị bắt, kẻ thì trốn qua Tàu.
Thế là
sau gần 100 năm đô hộ Việt Nam, tiến hành một chính sách thực dân tàn ác để
khai thác tối đa tài nguyên và nhân lực của nước ta, tiến hành một chính
sách xâm lược văn hóa xảo quyệt để phá nát truyền thống của dân ta, tiến
hành một chính sách cai trị dựa trên bạo lực và phân hóa, chỉ cần một đêm và
một đêm thôi, toàn thể bộ máy thống trị của Pháp hoàn toàn bị sụp đổ. Huyền
thoại về “nhiệm vụ khai hóa” đầy nhân đạo của các quan toàn quyền và các vị
cố đạo theo lá cờ Tam tài rơi rũ xuống đất.
Biến cố
lịch sử đêm mồng 9/3/1945, và nhất là hai ngày sau đó, khi vua Bảo Đại tuyên
bố “Việt Nam độc lập” trong khối “Thịnh vượng chung Đại Đông Á”, dù không
phải là kết quả của một cuộc đấu tranh thực sự do người Việt chủ xướng, dù
sau đó sẽ đưa Việt Nam đến một chân trời đầy lọc lừa và cạm bẫy, đầy máu và
nước mắt, đầy đau đớn và tủi nhục, nhưng ngày đó, tự nó, có một ý nghĩa lịch
sử lớn như một trở mình của lịch sử, có tác dụng mạnh trong sự thức tỉnh
sảng khoái của nhân dân cả nước sau 100 năm dài chìm đắm trong giấc mộng bị
trị hãi hùng.
Tôi xin
trích lại ở đây một đoạn hồi ký của một nhân chứng đã sống trong ngày đó và
đã bộc bạch một cách thành thật tâm sự của mình trước, sau và trong ngày đó.
Chứng nhân này là ông Lý Chánh Trung, một tri thức Công giáo, từ sau 1975 đã
ở lại Việt Nam làm việc cho chính quyền Hà Nội. Hồi ký đó được trích từ tác
phẩm “Tìm về Dân tộc”, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1967. Tôi cũng
cần phải nói rằng với tư cách một người đã chống lý thuyết và chế độ Cộng
sản từ 30 năm nay bằng chính máu xương của mình, với tư cách là người đã
từng cầm đầu một bộ phận về an ninh đối đầu với người Cộng Sản, với tư cách
là chiến hữu, đồng chí, bạn bè của những nhân vật Việt Nam đã từng là nguyên
thủ của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, ở vào thời điểm nầy, trong buổi
hoàng hôn của cuộc đời nơi xứ lạ quê người, khi đọc hai tác phẩm “Tìm về
Dân tộc” và “Tôn giáo và Dân tộc” của Lý Chánh Trung, tôi vẫn
không giám quả quyết ông Trung có thật tâm theo cộng sản hay không? Cũng như
tôi vẫn không giám quả quyết là những người như ông Trung, suốt chiều dài
của cuộc chiến 30 năm Quốc-Cộng, dù đứng bên này hay bên kia chiến tuyến, có
thật sự là đã có tự do và sáng suốt để lựa chọn hay không? Hay tất cả chỉ
muốn thể hiện lòng yêu nước của mình nhưng lại bị xảo quyệt vận dụng bởi
những ngôn từ, những ảnh tượng, những thủ đoạn của các thế lực oan nghiệt
khác.
Đoạn hồi
ký của ông Lý Chánh Trung, dù được viết lại hơn 20 năm sau, vẫn nói lên được
rất rõ ràng sức chấn động lạ lùng của biến cố đêm 9/3/1945:
Từ trường Taberd Sài Gòn ra Huế, tôi được
học ở trường Providence, thọ giáo với các linh mục của hội Mission
Etrangère.
Nói đến xứ Trung Kỳ, nghe xa lạ làm sao.
Từ nhỏ chí lớn, tôi chỉ biết có cờ Tam sắc, bây giờ ra Huế mới hay rằng xứ
An Nam còn có một lá cờ, lá cờ vàng sọc đỏ (thuở đó mới có một sọc thôi...)
Nhưng lá cờ đó không gây cho tôi một sự
hãnh diện nào mà trái lại: Tất cả những vật đó có vẻ mốc meo, mục nát, lỗi
thời, không còn một chút gì liên hệ với tôi.
Tôi còn nhớ buổi chào cờ trọng thể đầu
niên học tại trường Providence, tòa Khâm sứ và Chính phủ Nam triều đều cử
đại diện đến tham dự. Bên người Pháp là hai ông sĩ quan trẻ tuổi hùng dũng
trong bộ quân phục trắng tinh. Bên người Việt có hai cụ sồn sồn bụng phệ,
khăn đóng áo rộng thùng thình lẹp xẹp đôi dép hàm ếch, lại còn phe phẩy cái
quạt đồi mồi ngay trong lễ thượng cờ. Chúa ơi! Trông mới chán đời làm sao!
Trường Providence tân tiến hơn trường
Taberd, có một nền giáo dục hoàn bị, cởi mở hơn trường Taberd. Các Cha gần
gũi học sinh hơn các sư huynh. Nơi đây tôi đã hấp thụ những kiến thức vững
chắc để có thể hiểu biết nền văn hóa Tây phương là nền văn hóa quân bình,
nhân bản và sâu sắc. Tôi cũng đã thấm nhuần nền đạo lý Kitô giáo để cảm thấy
cái đòi hỏi (ít ra cũng được như thế) hướng cuộc đời mình về một cái gì tốt.
Nền giáo dục này hội điều kiện cho tôi
“thành người”. Chỉ tiếc một điều là “con người đào tạo nơi đây không phải là
con người Việt Nam”! Quê hương vắng bóng ngay giữa lòng quê hương!
Trong mấy năm trường, chúng tôi đã sống
bên ngoài dân tộc, bên lề lịch sử. Cho nên đêm mồng 9/3/1945, khi tiếng súng
của quân đội Nhật hoàng đì đùng báo hiệu sự cáo chung của nền đô hộ Pháp,
chúng tôi chẳng hiểu mô tê gì.
Vài ngày sau, học sinh trường Khải Định,
Đồng Khánh biểu tình mừng độc lập: Việt Nam Độc Lập! “Việt Nam” đã lạ tai
rồi, “Độc Lập” nghe còn quái đản hơn.
Ngày biểu tình, chúng tôi tò mò đi xem,
nhìn thiên hạ vác biểu ngữ reo hò “Việt Nam! Việt Nam!” mà chẳng thấy vui
mừng chi, chỉ nghe ấm ức và bực bội và cảm thấy mình bơ vơ, lạc loài giữa
đám đông. Tôi còn nhớ một đứa trong bọn tôi đã nói lớn “Độc lập là cái cóc
gì?” Câu hỏi xấc xược, ngô nghê này diễn đạt cái tâm trạng chung của chúng
tôi lúc ấy. Quả tình chúng tôi không hiểu...[12]
Hai mươi
năm sau, câu hỏi Độc lập là cái cóc gì? mới nổ lớn thành câu trả lời rực lửa
trong lòng Lý Chánh Trung để ông “Tìm về với Dân Tộc”, để khỏi vắng bóng
giữa lòng quê hương... Là một tín đồ Công giáo La Mã mộ đạo, là một tri thức
xuất thân từ các trường Dòng mà nội dung giáo dục thiên Tây phương, ông
Trung đã phải lục ký ức tìm về một ngày lịch sử xa xưa để tỉnh thức tìm về
dân tộc nhưng cuối cùng lại phục vụ cho Cộng sản. Nguyên ủy nào đã đưa đẩy
thân phận của một trí thức Công giáo trôi giạt vào thảm cảnh của một người
Việt Nam thấy lạc loài ngay chính trên quê hương mình để cuối cùng phải bám
víu vào những ảo ảnh của một lý thuyết phi dân tộc hầu thỏa mãn những khát
khao muốn có một chỗ đứng trên đất Mẹ ở giữa lòng quê hương?!
Sau đêm
mồng 9 tháng 3, sau cơn bàng hoàng chính trị chung của cả nước, mọi người,
và đặc biệt tại Trung Kỳ, đều dự đoán là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để sẽ nắm được
cơ hội mà về nước lên ngôi Vua để trao cho ông Diệm chức Thủ tướng, thành
lập nội các để điều khiển quốc gia. Không ngờ chỉ hai ngày sau, ngày
11/3/1945, vua Bảo Đại vẫn tại vị và tuyên bố Việt Nam độc lập trong khối
Đại Đông Á, hủy bỏ mọi hiệp ước bảo hộ đã ký kết với Pháp từ trước và mời
học giả Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ. Chính phủ này được thành lập và
ra mắt đồng bào vào ngày 17/4/1945 mà Kỳ Ngoại Hầu Cường Để vẫn ở Nhật và
ông Diệm vẫn cô đơn nằm tại Sài Gòn một cách im lặng lạ lùng.
Sau này,
ông Bảo Đại cho biết người Nhật đã dứt khoát không tiếp tục ủng hộ ông Diệm
nữa
[13], và cụ Trần Trọng Kim trong hồi ký “Một
cơn gió bụi” cũng kể lại rằng trong cuộc gặp gỡ giữa cụ và ông Diệm tại
Bộ tư lệnh Nhật Bản tại Sài Gòn, ông Diệm cho cụ biết người Nhật đã không
cho ông Diệm biết gì cả, ngay cả bức điện tín của vua Bảo Đại gởi mời ông
Diệm về Huế cũng bị dấu kín.[14]
Những sử
liệu và những dự kiện thực tế này cho ta thấy Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và ông
Diệm, dù trước đó đã thật tâm ủng hộ người Nhật, cuối cùng đã thực sự bị
người Nhật bỏ rơi vì uy tín và sức mạnh chính trị của họ (dù dưới mắt người
Nhật chỉ là vị trí và sức mạnh của một lá bài chính trị bản xứ cho một nhu
cầu ổn định giai đoạn) không còn phù hợp với nhu cầu mới của chính sách của
Nhật tại Đông Dương. Và điều này cũng cải chính luôn luận điệu của một số
tài liệu do bộ máy tuyên truyền của chế độ ông Diệm vào những năm ông mới
chấp chánh, cũng như những tài liệu do những “sử gia” hoài Ngô sau 1963, cố
tình cho rằng “ông Diệm không bao giờ chịu hợp tác và nương dựa vào người
Nhật”.[15]
Trường
hợp ông Diệm bị Nhật Bản bỏ rơi và phản bội sau gần bốn năm hợp tác chân
thành với Nhật chỉ là sự lập lại của một quy luật chính trị cổ điển và sơ
đẳng trong các tương quan quốc tế, nhất là tương quan giữa một trong nhiều
thế lực chính trị của một nước nhược tiểu với một cường quốc như Nhật Bản.
Thật vậy, Nhật Bản phản bội ba lần cùng một tổ chức Việt Nam (trực tiếp hay
gián tiếp do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để lãnh đạo):
- Năm
1909, trục xuất Kỳ Ngoại Hầu và cụ Phan Bội Châu sau khi họ ký hiệp ước thân
hữu với Pháp.
- Năm
1940, bắt giam và trao lại cho Pháp lực lượng Phục quốc quân của chí sĩ Trần
Trung Lập, Trần Huy Thanh và Hoàng Lương sau trận Lạng Sơn.
- Năm
1945, bỏ rơi cụ Cường Để và ông Diệm để thừa nhận vua Bảo Đại với Chính phủ
Trần Trọng Kim, sau biến cố 9 tháng 3 năm 1945 đảo chánh quân Pháp.
Quả thật
ông Diệm và những mưu sĩ trong bộ tham mưu của ông đã không học được hai bài
học trước.
Sau thất
bại chính trị nói trên, ông Ngô Đình Diệm buồn rầu chán nản vô cùng, nhất là
khi Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, hầu như ông không còn nghị lực để tiếp
tục cuộc đấu tranh nữa. Mang tâm trạng của người thất thế, ông lui về sống
cô đơn không tiếp xúc với ai nữa tại nhà người em là Ngô Đình Luyện ở Chợ
Lớn, hoặc thỉnh thoảng xuống thăm người anh là giám mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh
Long. Gia đình và tình anh em luôn luôn là pháo đài kiên cố làm nơi nương
dựa cho ông trong hoạn nạn cũng như trong đắc thắng.
Trong lúc
đó thì tại Huế, vì vấn đề liên lạc cách trở, thông tin chậm chạp, người anh
trưởng là ông Ngô Đình Khôi vẫn không nắm vững tình hình để thấy rằng “lá
bài Ngô Đình Diệm và giải pháp Cường Để” đã hoàn toàn bị Nhật xóa bỏ, vẫn
tiếp tục hoạt động chuẩn bị cho ngày về của ông Cường
Để và nội các
của ông Diệm. Số đồng chí của ông Diệm, mà một số lớn đã được phóng thích
khỏi nhà giam Pháp nhờ cuộc đảo chánh của Nhật, vẫn tiếp tục sinh hoạt tại
nhà ông Khôi để đợi chờ ông Diệm.
Về phần
tôi, sau khi cùng với các chính trị phạm khác ở trại tù Di Linh được quân
đội Nhật phóng thích, tôi bèn trở về quê cũ thăm gia đình làng xóm độ nửa
tháng rồi trở lại Huế cũng sinh hoạt với các đồng chí cũ dưới sự điều hành
của ông Ngô Đình Khôi. Tư dinh của ông Khôi tọa lạc tại tả ngạn sông Phú
Cam, là một dinh thự to lớn, huy hoàng và lộng lẫy như lâu đài của các vị
hầu tước Âu Châu. Mỗi khi họp, ông Khôi thường cho trải sáu tấm chiếu cạp
điều giữa phòng khách rộng lớn để mọi người cùng ngồi tròn quanh ông, chẳng
khác gì sòng sóc đĩa lớn tại các nhà phú hộ ở thôn quê. Trong các buổi họp,
ông Khôi thường nói nhiều, nói lưu loát và luôn luôn mềm dẻo khi có mâu
thuẫn về lý luận. Tuy tính tình của ông vui vẻ và hòa đồng, nhưng ông vẫn
được tiếng là người nhiều thủ đoạn nhất trong số chín anh chị em.
Vào
khoảng một tuần lễ sau khi nội các của cụ Trần Trọng Kim ra đời, ông Nguyễn
Tấn Quê và tôi được ông Khôi cử vào Sài Gòn để gặp ông Diệm và để tổ chức
cuộc đón tiếp Kỳ Ngoại Hầu mà ông Khôi tưởng sẽ trở về Việt Nam. Ông Khôi
còn trao cho chúng tôi một chiếc khăn đóng và một chiếc áo gấm màu tím để
ông Diệm mặc trong dịp nghênh đón nhà cách mạng đã từng bôn ba nơi hải ngoại
hơn 40 năm trời. Chúng tôi đến được nhà ông Luyện ở số 2 đường Armand
Rousseau tại Ngã Sáu Chợ Lớn, nơi ông Diệm đang cư trú, sau một cuộc hành
trình hết sức gian lao, nguy hiểm, vì trên suốt chặng đường gần một ngàn cây
số đó, nhất là đoạn ở miền Trung, phi cơ Đồng Minh liên tiếp oanh tạc ngày
đêm làm gián đoạn đường sá và làm các toa xe lửa đổ ngổn ngang nhiều nơi.
Gặp lại
ông Diệm sau hơn một năm trời mà tưởng như một khoảng thời gian xa cách lâu
lắm. Những thất bại chính trị và sự tan tác của tổ chức vì quá nhiều nhân sự
cốt cán bị tù đày đã làm cho chúng tôi sung sướng bàng hoàng trong buổi hội
ngộ này. Sau khi trình bày đầy đủ chi tiết các tin tức liên quan đến tổ chức
tại miền Trung, và sau khi trả lời cho ông Diệm biết tình hình chính trị tại
Huế, ông Nguyễn Tấn Quê còn cho biết là dọc đường, trong một lần bị phi cơ
Mỹ ném bom suýt nữa cả hai chúng tôi tan xác, hành lý của chúng tôi, trong
đó có cả khăn đóng và áo gấm của ông Khôi gởi vào, đã bị thất lạc. Ông Diệm
không tỏ vẻ trách móc gì, ông chỉ cười buồn chua chát mà thôi.
Cũng tại
ngôi nhà này, lần đầu tiên chúng tôi được gặp ông Ngô Đình Luyện, linh mục
Lê Sương Huệ, và ông Võ Văn Hải. Ông Luyện còn rất trẻ, ít tham gia những
cuộc thảo luận chính trị, còn Võ Văn Hải chỉ là một thanh niên mới lớn, giúp
ông Diệm các công việc giấy tờ vừa như một thư ký, vừa như một tùy phái.
Ban ngày, ông Quê và tôi về khách sạn để ông Diệm tiếp khách hoặc nghỉ ngơi,
chỉ vào buổi chiều, chúng tôi mới trở lại ngôi nhà ở Armand Rousseau để dùng
cơm tối với anh em ông Diệm và linh mục Huệ rồi tiếp tục thảo luận. Dù biết
chúng tôi trông chờ, tuyệt nhiên ông Diệm vẫn không đề cập gì đến hoàn cảnh
của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và những dự tính tương lai.
Ở Chợ Lớn
vào khoảng một tuần lễ, ông Diệm cho chúng tôi biết ngày mai sẽ khởi hành đi
Đà Lạt. Sáng hôm sau, khi Sài Gòn bắt đầu trở mình thức dậy với những sinh
hoạt rộn rịp thì bốn người chúng tôi là ông Diệm, linh mục Huệ, ông Quê và
tôi lên đường. Lúc xe ngừng lại tại Blao để ăn trưa, ông Diệm mới trình bày
việc người Nhật đã phản bội không cho Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về nước và cắt
đứt mọi liên lạc chính trị với chính ông, rồi ông tỏ ý buồn phiền vua Bảo
Đại đã mời “tên đồ nho Trần Trọng Kim” làm thủ tướng. Lúc bấy giờ ông Quê và
tôi mới thực sự hiểu rõ tình hình và trạng huống bi đát của ông Diệm và của
tổ chức chúng tôi. Sách lược nắm chính quyền bằng con đường thân Nhật của
ông Diệm đã đi vào bế tắc và hoàn toàn thất bại, hệ quả chính trị của nó
không những là mất đi những ưu thế phát triển mà quan trọng hơn cả, còn là
sự tê liệt của tổ chức.
Xe đến Đà
Lạt vào buổi chiều, sương núi mờ mờ phủ xuống thành phố vừa lên đèn và không
khí lạnh lùng vào dịp đầu Thu càng làm cho nỗi buồn của chúng tôi thêm sâu
đậm. Sau khi chạy xuyên qua trung tâm thành phố và vượt mấy ngọn đồi, xe đến
thẳng dinh Tổng đốc của ông Trần Văn Lý. Dinh Tổng đốc vốn là tòa Đốc lý cũ
của Pháp, kiến trúc theo lối Tây phương, tọa lạc trên ngọn đồi cao nhìn
xuống khắp thành phố Đà Lạt. Ông Lý ân cần đón chúng tôi vào phòng khách và
cho người dọn trà thơm dùng cho ấm bụng. Biết rằng chúng tôi mệt mỏi sau
cuộc hành trình nên ông cho người thu xếp phòng để chúng tôi đi nghỉ sớm.
Đêm đầu
trên thành phố Cao Nguyên này mà càng về khuya trăng càng mờ, sương càng
lạnh, trời đất thì bàng bạc huyền ảo như tâm sự mông lung của những người
vừa thất bại sau một cuộc đấu tranh. Thành phố Đà Lạt chìm xuống sau những
rặng thông im lìm như chia xẻ nỗi thất vọng của chúng tôi. Trước khi ngủ,
ông Nguyễn Tấn Quê còn tâm sự với tôi rằng một khi Bảo Đại đã tiếp tục cầm
chính quyền để củng cố thế lực thì tổ chức khó có thể thay đổi được tình
hình, huống gì ông Diệm, người lãnh đạo của tổ chức lại không phải là một
loại nhân vật “anh hùng tạo thời thế”. Tôi còn nhớ mãi mấy lời phê phán cuối
cùng của ông như một tiếng than não nùng trong đêm vắng: “Chúng ta đã vớ
phải cái bè nứa mục rã trôi xuôi theo con nước lũ”. Nhận định và tâm sự của
ông Quê như vậy, chẳng trách gì mười năm sau, ông đã bị anh em ông Diệm
thẳng tay hạ sát khi họ có quyền lực trong tay. Đến năm 1948, 1949 Nguyễn
Tấn Quê còn nhắc lại những nhận xét trên cho nhiều bạn bè. Trong số bạn bè
đó có cả ông Võ Như Nguyện...
Mấy hôm
sau, linh mục Huệ lấy xe đò đi Phan Rang để từ đó trở lại Sài Gòn, ông
Nguyễn Tấn Quê đáp xe lửa về Huế mang theo một lá thư riêng của ông Diệm gởi
về cho ông Ngô Đình Khôi, còn ông Diệm và tôi thì vẫn ở lại Đà Lạt.
Ông Trần
Văn Lý, quê ở Quảng Trị, có bà con với giám mục Lê Hữu Từ, là một vị quan
nổi tiếng liêm chính. (Khi ông làm Thủ hiến Trung Việt, người em ruột của
ông là Trần Văn Trình, chủ sự phòng Nội dịch, ngày chủ nhật lấy xe Chính phủ
về sử dụng riêng bị ông cất chức ngay, đối với các linh mục hay đến xin xỏ,
nhờ cậy, ông thẳng thắn từ chối). Ông Lý là người thanh liêm, cương trực, có
tinh thần yêu nước và có khả năng quản trị nên được Chính phủ Trần Trọng Kim
mời giữ chức Tổng đốc cai trị 4 miền cực Nam Trung Việt như là một thứ Tiểu
Khâm Sai. Chức vị của ông lúc bấy giờ là “Tổng đốc Lâm-Đồng-Bình-Ninh” (bốn
tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Thuận, và Ninh Thuận), và vì lúc bấy giờ
phương tiện giao thông và hệ thống liên lạc còn khó khăn cách trở nên ông
được đại diện chính phủ toàn quyền giải quyết cấp thời công việc quốc gia.
Văn phòng Tổng đốc có ông Nguyễn Đình Hàm (sau này có thời làm hiệu trưởng
một trường trung học tại Huế) giữ chức Tổng thư ký, ông Tham Tự làm chánh
văn phòng và nhà văn Võ Hồng vừa làm bí thư vừa làm thông dịch viên vì ông
Võ Hồng nói và viết thông thạo cả ba ngôn ngữ Pháp, Anh, Nhật.
Ông Lý
trưng dụng một ngôi biệt thự tại Đà Lạt và biệt phái một số bồi bếp cũng
lính Bảo An giữ an ninh cho ông Diệm và tôi. Trong hơn một tháng trời sống
chung với nhau trong ngôi nhà rộng rãi nhưng lạnh lùng đó, sinh hoạt thường
nhật của chúng tôi thật trầm lặng: buổi sáng thức dậy uống trà nói chuyện
rồi dùng điểm tâm, sau đó chúng tôi đi ra đồi thông sau nhà để có một chút
nắng ấm và để tạm thay cho buổi tập thể dục; sau buổi cơm trưa, chúng tôi
hoặc đi nghỉ hoặc lên thư phòng đọc sách kê trên ba cái tủ sách lớn của
người chủ nhân Pháp cũ để lại cho đến chiều. Sau buổi cơm tối, chúng tôi
hoặc tiếp khách nhưng thường thường là ngồi nói chuyện với nhau đến khuya
mới đi ngủ. Thỉnh thoảng ông Lý cho người đến hướng dẫn chúng tôi đi thăm
các thắng cảnh tại Đà Lạt như thác Cam Ly, hồ Than Thở, đỉnh Lâm Viên, ngôi
mộ ông Nguyễn Hữu Hào v.v...
Một hôm
ông Trần Văn Lý nhận được điện tín của chánh phủ Trần Trọng Kim thông báo sẽ
bổ nhiệm thiếu úy Đinh Xuân Thạc (em của luật gia Đinh Xuân Quảng, người sau
này tham gia chính biến Nhảy Dù 11/11/1960 để đảo chánh ông Diệm) giữ chức
Trưởng ty Võ phòng kiêm tư lệnh Bảo an bốn tỉnh cực Nam Trung Kỳ trực thuộc
ông Lý. Chúng tôi thảo luận với nhau rồi đánh điện trả lời đề cử tôi thay
thế Đinh Xuân Thạc trong chức vụ này. Đề nghị này được Huế mau chóng chấp
thuận chỉ trong mấy ngày, vì tôi đang có mặt tại chỗ và nhất là thiếu úy
Phan Tử Lăng, một đồng chí cũ của tôi, đang giữ chức Tổng chỉ huy Bảo an
Trung Kỳ.
Sau này,
ông Lý nhận được nghị định chính thức và hồ sơ binh sách của tôi, trong đó
có một tài liệu của sở mật thám Trung Kỳ cũ của Pháp với lời phê: “A pris
une part très active dans un mouvement politique contraire aux intérêts de
la France en Indochine, a revélé de ce fait un charactère sournois d’autant
plus dangereux qu’il est très intelligent. A arrêter et surveiller
étroitement”. (Đã tham dự rất tích cực vào một phong trào chính trị đi
ngược lại với quyền lợi nước Pháp tại Đông Dương, điều đó chứng tỏ đương sự
không những gian giảo mà lại còn nguy hiểm nữa vì
đương sự rất thông minh. Thành phần cần phải bắt giam và kiểm soát chặt
chẽ). Vốn đã biết tôi từ trước, bây giờ lại được đọc hồ sơ của tôi, ông Trần
Văn Lý cảm thấy vui mừng và phấn khởi lắm vì từ nay có thêm một người vừa là
cộng sự viên có khả năng vừa là đồng chí có tinh thần yêu nước. Và cũng
chính nhờ lời phê phán của mật thám Trung Kỳ mà mấy tháng sau đó, khi Việt
Minh cướp chính quyền, tôi khỏi bị bắt giam mà còn được trọng dụng. Còn ông
Lê Khương, sau này dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa mang cấp bậc Đại tá, lúc bấy
giờ là một Trung sĩ Bảo an phục vụ dưới quyền tôi tại Đà Lạt.
Ông Diệm
ở lại Đà Lạt cho đến đầu tháng Tám thì quyết định trở lại Sài Gòn. Buổi chia
tay giữa ông và tôi thật buồn, mỗi người một tâm sự, mà tâm sự nào cũng có
liên hệ đến cơn sóng gió vừa qua của tổ chức và cũng đều phản ảnh cái tương
lai vô định của những ngày sắp tới. Ông ân cần khuyên tôi nên giữ gìn sức
khỏe và hẹn sẽ gặp lại ở Huế nơi ngôi nhà Phú Cam mà tôi đã gặp ông lần đầu
năm 1942, khi ông còn đang làm lãnh tụ lạc quan của phong trào thân Nhật ủng
hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Xe của ông đã khuất sau rừng thông mà tôi còn đứng
ngẩn ngơ vì những bịn rịn của buổi chia ly, không biết trước được rằng cuộc
chia tay hôm đó lại mở đầu cho chuỗi ngày lao lý của lãnh tụ mình và cho
những sóng gió thời cuộc đẩy đưa tôi vào những biến động máu lửa của cuộc
chiến tranh Pháp-Việt 1945-1954.
Như vậy
là chỉ trong ba năm ngặt nghèo, từ 1942 đến 1945, từ một quân nhân mang rất
nhiều ẩn ức tình cảm và chính trị trong một môi sinh ngột ngạt và đè nén,
tôi đã nhờ những chuyển động của thời thế và quyết tâm của chính mình để
cuối cùng được gia nhập vào một tổ chức đấu tranh cho đất nước và, riêng cá
nhân, được hành xử như một chiến sĩ kiên trì và liên tục đấu tranh cho quê
hương.
Nhiệm vụ
mới đã dẫn dắt tôi đi suốt miền Trung nghèo nàn cằn cỗi. Công tác mới đã tạo
ra những liên hệ thân tình với các nhân vật mà nhiều lúc tình bằng hữu quyện
luôn vào tình chiến hữu. Vóc dáng và vị thế của ông Ngô Đình Diệm trong giai
đoạn này, đối với tôi là vóc dáng và vị thế của người thuyền trưởng lèo lái
con thuyền tổ chức, tuy ngặt nghèo lên xuống nhưng đằm thắm tình nghĩa.
Nhưng lỗi lầm cơ bản về chính trị do khả năng đấu tranh yếu kém của ông gây
ra tuy có kéo theo những đổ vỡ làm tê liệt tổ chức, nhưng cuối cùng, trong
buổi tạm biệt sầu mang mang của một buổi sáng Đà Lạt, tôi vẫn tin tưởng mãnh
liệt vào người anh cả đầu đàn đó như tôi vẫn hằng tin tưởng vào một nước
Việt Nam được thực sự độc lập trong tương lai.
Những
giây phút âm thầm khắc phục mọi khó khăn để bí mật xây dựng tổ chức trước
mạng lưới mật thám Pháp, những ngày tháng thui thủi và nhục nhằn trong trại
tù chính trị phạm ở Di Linh, rồi những đêm dài nhớ vợ thương con, nhớ bến đò
xưa, thương cây đa cũ... đã làm tăng trưởng khả năng chịu đựng và tôi luyện
thêm quyết tâm đấu tranh trong tôi, như chiến cuộc Việt Nam đã trui rèn hàng
hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam trong giai đoạn đó.
Ba năm
ngắn ngủi đó cũng đã chất đầy hành trang chính trị cho tôi để bước vào một
cuộc chiến tranh Pháp-Việt sắp mở màn.
[1] Nguyễn Phúc Dân,
Cuộc Đời Cách Mạng Cường Để, tr. 135, 136.
[2] Tạ
Chí Đại Trường, Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam, tr. 293 (và
theo lời kể lại của nhiều nhân sĩ lão thành thuộc Nguyễn Phước tộc).
[3] Theo lời kể lại của cụ
Tôn Thất Toại, nguyên Thượng thư Bộ Nghi lễ Nam triều, bạn học buổi thiếu
thời của ông Ngô Đình Diệm. [4] Thái văn Kiểm, Đất
Việt Trời Nam, tr. 488.
[5] Stanley Karnow,
Vietnam A History, tr. 126, 127.
[6]
Ông
Nguyễn Dậu, một nhân sĩ tỉnh Phú Yên, vốn là bạn thân với ông Trương Kỳ
Nguyên em ruột của ông Trương Tử Anh, lãnh tụ đảng Đại Việt, thường đến chơi
nhà cụ Trương Bội Hoàng (thân phụ của Trương Kỳ Nguyên) được cụ cho biết
khoảng 1942-43 khi cụ được ông Ngô Đình Diệm mời ra Huế bàn chuyện hợp tác
trong việc ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, trước khi gặp ông Diệm cụ Hoàng ghé
thăm cụ Huỳnh Thúc Kháng để hỏi ý kiến, cụ Huỳnh khuyên không nên, cho rằng
ông Diệm là hạng người phong kiến không thể làm cách mạng. Ông Nguyễn Dậu
hiện sống ở California, Mỹ. [7] Nguyễn Văn Xuân, Phong Trào Duy Tân, tr. 156.
[8]
Ông
Trần Văn Dĩnh còn được ông Thiên Nhất Phương đề cập đến trên bán nguyệt san
Việt Nam Hải Ngoại (số 33 năm 1978, tr. 35).
[9] Hoài
Thanh & Hoài Châu, Thi Nhân Việt Nam, tr. 309.
[10]
Đề
cập đến tổ chức ông Diệm lúc bấy giờ, ông Trần văn Hướng, một cán bộ ở Huế
của ông Diệm, sau này đã hồi ức lại như sau (trích từ Nhật báo Người Việt
thứ Năm số 564, ngày 31/10/1985):
“... Tại Huế, cụ kết nạp một số rất đông thanh niên
yêu nước chia thành từng nhóm. Để tránh màn lưới mật thám Pháp, cụ đưa họ
vào hoạt động không lương tại các cơ quan Nhật như Toà Lãnh Sự, Sở Hiến Binh
để theo dõi hành động của Nhật cũng như cho Nhật biết mọi hành động chống
Nhật của Pháp, nhằm mục đích thôi thúc người Nhật sớm lật đổ chính quyền
Pháp giải phóng Việt Nam như Nhật đã từng tuyên bố.
... Ở các công sở Pháp cũng như của Nam triều, ở
các đồn lính khố xanh khố đỏ của Pháp, cụ Ngô đều có tổ chức các cộng tác
viên nên mọi chỉ thị của Pháp cụ đều rõ. Cũng nhờ vậy mà vào năm 1944, khi
mật thám Pháp vây nhà khám xét và định bắt cụ đưa đi an trí ở Xieng Khoang
(Lào) thì cụ đã được báo tin trước mấy ngày. Cụ có đủ thì giờ đi ẩn náu tại
nhà của Phó lãnh Sự Nhật tại Huế là ông Ishida.
... Mục đích hoạt động của cụ Ngô là lợi dụng thời
cơ để thu hồi nền độc lập cho Tổ Quốc, thành lập thể chế Quân chủ Lập hiến
giống như Anh Quốc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm vua, và một chính phủ lâm
thời do Cụ làm Thủ tướng. Phương pháp hành động là dùng
người Việt trong các cơ
quan và đồn lính Pháp nổi dậy lật đổ chính quyền Pháp với sự giúp đỡ của
quân đội Nhật.”
Ngoài ra, trong tác phẩm nghiên cứu Việt Nam
Niên Biểu Nhân Vật Chí (Chính Đạo, NXB Văn Hoá), phong trào Cường Để
thân Nhật Bản của ông Diệm - mà tên một thành viên được nhắc đến là Đỗ Mậu -
cũng đã được nêu lên nhiều lần. Điều này mặc nhiên phản bác luận điệu vô cơ
sở của một linh mục viết sách cho rằng ông Diệm không thân Nhật và phong
trào Cường Để không có thật.
[11]
Dưới
thời Đệ Nhất Cộng Hoà, lúc ông Nguyễn Ngọc Thơ còn làm Đại sứ VN tại Tokyo,
ông Ishida lúc bấy giờ đã thôi việc ở Bộ Ngoại Giao Nhật Bản, được thuê vào
làm thư ký cho Toà Đại Sứ VN. Năm 1964, nhân một chuyến công du Nhật Bản,
tác giả có đến nhà riêng thăm ông Ishida. Kể lại những kỷ niệm xưa, vị cựu
Phó Đại sứ Nhật Bản tại VN thời 1944-45 không quên trách khéo ông Diệm lúc
làm Tổng Thống đã quên ông ta mà chỉ trọng dụng ông Matsuisita nguyên Chỉ
huy ngành Hiến binh mà thôi.
[12] Lý Chánh Trung,
Tìm
Về Dân Tộc, tr. 23-27. [13]
Bảo
Đại, Le Dragon d'Annam, tr. 99-115.
[14] Trần Trọng Kim, Một
Cơn Gió Bụi. [15] Phạm
Kim Vinh, Những Bí Ẩn Về Cái Chết Của Việt Nam Cọng Hòa, tr. 27 và
sách Đời Một Tổng Thống của Minh Bảo.
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|