|
PHỤ LỤC "B"
SÁU BÀI PHÂN TÍCH
1. Lịch trình hình thành và giải thể của Mặt trận Giải phóng
Tạp chí Quê Mẹ - X.X.X.
2. Lời mở đầu của tác phẩm “Is South Vietnam Viable?”
Is South Vietnam Viable? - Nguyễn Thái
3. Cuộc cánh mạng ngày 1-11-1963
Hội Khổng học Việt Nam - Ban chủ biên Tập san
Minh Tân
4. Những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật giáo Việt Nam
Tạp chí Khai Phóng - Loạt bài của Nguyễn
Kim Long và Lê Quân
5. Bề trái của chiếc mề đay
Tuần san Việt Nam Tự Do - Phan Ký
6. Bất đắc dĩ khơi đống tro tàn
Tạp chí Khai Phóng - Lê Nguyên Long
LỊCH TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ GIẢI THỂ CỦA MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG
*Tác giả: X.X.X.
Trích từ: Tạp chí Quê Mẹ số
63-64, xuất bản tại Pháp.
VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ SÀI GÒN
TRONG VIỆC HÌNH THÀNH MẶT
TRẬN
Mặt trận miền Nam đã được hài sẵn trong chiến lược của đảng Cộng Sản sau
Hiệp định Đình chiến Genève 1954. Và là một khái niệm được đóng khung chờ
ngày có điều kiện tạo đủ nội dung mà hiện thực. Dựa trên chiêu bài dân tộc
giải phóng, dấu kín vai trò cách mạng vô sản, mục đích tối hậu của đảng. Cho
nên chỉ đề cao việc giải phóng đất nước, việc tranh thủ độc lập cho xứ sở.
Mà không hề nói đến chuyện đấu tranh giai cấp, cải cách điền địa. Để người
miền Nam khỏi ngờ vực, hòng lôi cuốn họ mà khuynh loát chế độ Sài Gòn.
Nhưng khi Hiệp định Genève thi hành việc qua phân hai miền Nam/Bắc, chế
độ quốc gia được thiết lập ở Sài Gòn có căn bản độc lập rõ ràng, nhờ các đảm
bảo quốc tế của cả hai khối cường quốc đã ký kết. Một nền độc lập còn phôi
thai, nhưng nhiều hứa hẹn hiện thực, nếu nhân dân và chính quyền miền Nam
nhất trí xây dựng hữu hiệu phần đất của mình, không để cho Cộng Sản có chỗ
cắm dùi ở đấy.
Điều kiện tiên quyết để nhân dân và chính quyền miền Nam nhất trí được
với nhau là phải thừa nhận vai trò chủ yếu của đất “Nam kỳ” cũ và dành cho
người “Nam kỳ” quyền lãnh đạo. Vì tất cả đời sống chính trị kinh tế, xã hội,
văn hóa miền Nam, dù muốn dù không, rồi ra phải tùy thuộc nhân lực, tài
nguyên, tinh thần, tâm lý của đồng bào đất “Nam kỳ” cũ. Trọng tâm miền Nam
là đất “Nam kỳ” này. Thắng hay bại trước mắt phải thấy là do biết hay không
biết nhìn nhận sự thực ấy. (Xem lại Quê Mẹ số 60, tr.21)
Cho nên việc đặt Ngô Đình Diệm cầm đầu Chính phủ miền Nam, đưa dần dà đến
việc ông này tổ chức truất phế Bảo Đại, để độc tôn nắm giữ quyền chính, có
thể xem như là một thứ “tội tổ tông” của chế độ Sài Gòn.
Nhận định trên không đặt vấn đề khả năng cầm quyền. Vấn đề ấy là một
chuyện khác. Mà vấn đề lôi cuốn người miền Nam theo chế độ quốc gia. Nhất là
khi họ rõ ràng là xu hướng theo chế độ này từ ngày đình chiến (xem Quê Mẹ số
60, tr.19). Nếu chính quyền do một người gốc “Nam kỳ” nắm giữ, tất có điều
kiện thu hút đồng bào Nam bộ hơn người gốc nơi khác, như ông Diệm, và việc
xây dựng một miền Nam không Cộng Sản có điều kiện thuận lợi hơn nhiều.
Nhưng vừa thoát khỏi cuộc chiến tàn khốc, và nhân kháng chiến mà có kinh
nghiệm Cộng Sản, nên quần chúng miền Nam mong mỏi được sống an bình, xa lìa
những hành động quá khích, sắt máu, hòng mở đường cho việc xây dựng một quốc
gia không Cộng Sản, tiến bộ, phát triển và văn hiến. Chế độ quốc gia tuy còn
phôi thai nhưng nhiều hứa hẹn, nhờ hoàn cảnh thế giới đang thuận lợi cho
việc thực hiện chủ quyền, trong bối cảnh phân biệt hai miền quốc gia và Cộng
Sản. Thành ra, nhất đán, việc người cầm quyền không gốc “Nam kỳ”, đối với
người “Nam kỳ” chưa thành vấn đề. Nhất là khi người này là một người “mới”
không can dự chi vào chế độ “Đức Quốc Trưởng” trước đó. Lại được tiếng là
người ái quốc và liêm khiết. Đồng bào Nam bộ vốn tính hiếu hảo, không có
thiên kiến đối với nhân vật lãnh đạo, nhưng chờ xem hành động. Và họ đang
hướng theo con đường “dân tộc hòa bình”, không thấy có duyên cớ chi để nói
đến chuyện “giải phóng dân tộc”.
Then chốt thời cuộc lúc bấy giờ là đây. Chiêu bài giải phóng, trong ba
bốn năm tiếp sau hiệp định Genève, nhất định không ăn khách ngay được. Đó
cũng là nguyên nhân khiến đến 1960 đảng Cộng Sản Việt Nam mới cho Mặt Trận
Miền Nam xuất hiện. Và đây là lúc chế độ Sài Gòn có cơ hội hóa giải được
“tội tổ tông”, nếu ông Diệm có đủ ý thức cùng khả năng thiết lập một chính
quyền lôi cuốn.
Rất tiếc là nắm trong tay những khả năng khá thuận lợi, Ngô Đình Diệm đã
thiếu hẳn ý thức và không đủ khả năng để làm công việc ấy. Lũ tướng tá về
sau chỉ tiếp tục lăn trên cái đà thất bại ông đã dựng sẵn, mở đường cho các
xe tăng Hà Nội tiến vào dinh Độc lập ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trách nhiệm
lịch sử của ông là đấy.
Trách nhiệm lịch sử của Ngô Đình Diệm là chỉ Cai Trị miền Nam để chống
Cộng, bất cần đến nhân dân “Nam kỳ”.
MỘT CHẾ ĐỘ TOÀN QUYỀN
Người viết nắm giữ được một số tài liệu liên hệ đến thời điểm khai sinh
chính quyền Ngô Đình Diệm, rơi rãi sau ngày lễ Các Thánh 1963. Theo các tài
liệu này, có thể nêu lên một số sự kiện ý nghĩa.
Trước tháng 7 năm 1954, khi Bảo Đại chịu áp lực phải đưa Ngô Đình Diệm ra
cầm quyền ở miền Nam, và theo yêu cầu của ông Diệm, một người miền Trung am
hiểu “Nam kỳ” đã soạn cho ông Diệm một tường trình tình hình chính trị Sài
Gòn, thực trạng và sức nặng chính trị của các giáo phái vùng Đồng Nai, Cửu
Long. Kết luận bản tường trình này là đừng nhận thức các giáo phái theo quan
điểm tôn giáo, mà phải nhìn ảnh hưởng chính trị của họ trong lòng quần chúng
“Nam kỳ”. Phải nương theo ảnh hưởng ấy mà đi vào lòng quần chúng “Nam kỳ”,
nhất thiết không nên để các giáo phái trở thành đối nghịch. Càng không nên
tìm cách chia rẽ giáo phái và quần chúng ấy, để không gây kẽ hở tạo cơ hội
cho Cộng Sản chen vào.
Tháng 12 năm 1954, khi Chính phủ Sài Gòn thu hồi dinh Độc Lập người Pháp
vừa giao lại, Ngô Đình Nhu có vời một số người trước đây có thiện cảm với
ông Diệm, nhưng vì lí do này khác, đứng ngoài vòng không muốn cộng tác với
chế độ Diệm. Có người đã nói đến chuyện “tội tổ tông” của chế độ mới và đặt
vấn đề hóa giải, nếu muốn miền Nam thoát khỏi ách Cộng Sản. Tóm tắt đề nghị
ấy là: khi người “Nam kỳ” không giữ quyền lãnh đạo chính trị, phải chia
quyền lãnh đạo ấy với họ, đưa họ vào các trung tâm quyết định của nhà nước,
của quốc gia, đặt họ trước trách nhiệm cứu nước. Ông Diệm chỉ nên giữ vai
trò đảm bảo cho các chính quyền miền Nam dân chủ và tự do, không Cộng Sản.
Nhưng con người khó thoát khỏi bản chất cố hữu của mình. Ngô Đình Diệm
không lột được xác quan lại cũ để vươn lên hàng một chính khách đúng mức đáp
ứng các vấn đề Việt Nam lúc bấy giờ. Lại càng không đóng nổi vai trò lãnh
đạo trong hoàn cảnh phức tạp, tế nhị bên trong cũng như bên ngoài đất nước.
Cho nên Ông không xây dựng một chế độ chính trị mà chỉ thiết lập một chế độ
cai trị, hành chánh. Một chế độ “toàn quyền” miền Nam, hệt như chế độ Toàn
quyền Đông Dương cũ của người Pháp. Nhà nước Sài Gòn chỉ là một tổ chức
quyền lực ghép lên dân chúng trong cõi, như ván ghép ghép vào gỗ.
Hành chánh để cai trị dân thì có. Dùng luật pháp để bảo vệ trật tự trên
cơ sở một tổ chức công an cảnh sát giàu phương tiện và bất chấp nhân tình.
Các ông huyện Tây học cũ của triều đình Huế được tận dụng, người thì đi các
tỉnh lo việc củng cố thế lực còn mong manh của lãnh tụ, người thì ở thủ đô,
rập theo khuôn sáo miền Bắc Cộng Sản, tổ chức liên gia, tố cộng, hòng kiểm
soát dân chúng.
Nhưng chính trị thì không. Vì coi nhẹ việc dung hợp nhân dân, ngờ vực dân
Đồng Nai Bến Nghé. Chọn lọc kỹ lớp khuyển mã người Nam gọi dạ bảo vâng, rồi
tự mãn là dành nhiều địa vị cho người “Nam kỳ” đúng theo sự đòi hỏi của tình
thế.
Quan trọng hơn cả là việc đối xử với thành phần cựu kháng chiến chống
Pháp quay về thành. Năm 1949, nhóm Tinh Thần gồm một số trí thức Sài Gòn ủng
hộ Ngô Đình Diệm, đã cưỡng ông Diệm chấp nhận một số tuyên cáo cam kết với
anh em kháng chiến sẽ dành cho họ một địa vị, một phần trách nhiệm đúng mức,
khi họ trở về với chính thể quốc gia độc lập về sau. Năm năm sau, quả ông
Diệm lên cầm quyền, và anh em kháng chiến trở về thành đã chịu nhiều điêu
đứng trong cái chế độ cảnh sát trị của ông. (Đồng bào đang ở Pháp có thể tìm
gặp Trần Văn Đỗ, một thành viên của nhóm Tinh Thần, để xác minh sự kiện).
Những hy vọng ban đầu của người miền Nam dần dà tan biến. Chính từ đó
người trong nước mới bắt đầu ý thức về cái “tội tổ tông” của chế độ Sài Gòn,
một chế độ “toàn quyền” có tính cách thống trị mà họ không thể nhìn nhận
được. (Xem Quê Mẹ số 20)
Một chế độ họ không muốn chấp nhận, sống trong đó họ chịu nhiều tai ương,
nên dễ mang tâm lý ly khai. Đây là thời kỳ đảng Cộng Sản tích cực ly gián
nhân dân và chính quyền. Tuy vậy, người miền Nam cho là mình ở vào cảnh
“trên đe dưới búa”, tới dở lui cũng dở, mà thôi, Cộng Sản chưa lôi cuốn
được. Có nhận ra tâm lý ấy mới hiểu sức mạnh của phong trào Phật giáo vào
các năm 60, lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Sức mạnh của một quần chúng muốn
thoát khỏi cảnh trên đe dưới búa, cảnh phải chọn lựa giữa Cộng Sản và Ngô
Đình Diệm. Quần chúng ấy đã hội tụ trong phong trào Phật giáo.
Tuy thế, đã có ly cách giữa chính quyền và quần chúng Nam bộ, là có chỗ
cho Cộng Sản khuấy động, làm ầm ĩ chuyện Phú lợi, chuyện Ấp Bắc, chuyện Đồng
Khởi, một nói thành mười, thành trăm, rồi nhân đó mà cho Mặt Trận xuất hiện
công khai năm 1960. Chứ thật tình thời cuộc lúc này chẳng có chi mà sôi động
bất thường, và cũng không hề có một phong trào đi bưng ào ạt để thành hàng
ngũ cho Mặt Trận. Sức mạnh duy nhất lúc bấy giờ là Phật giáo, không phải là
Cộng Sản nép sau Mặt Trận. Bằng cớ là trong tình hình chế độ Sài Gòn sụp đổ
đang chông chênh, đảng Cộng Sản không thừa cơ hội mà thao túng nổi.
Nhưng khi Ngô Đình Diệm sụp đổ, Mỹ trực tiếp can thiệp vào chính tình
hình miền Nam, đưa các tướng lãnh lên cầm quyền, đổ bộ lính Mỹ mở cuộc chiến
tranh mới, thì các con cờ đều thay đổi, và từ đó người miền Nam bắt đầu để
tai đến lời tuyên truyền “giải phóng dân tộc” của Mặt Trận. Cũng từ đó thế
giới chống chiến tranh Việt Nam đã tiếp tay cho Cộng Sản thành công trong
công việc kết nên thế bình phong kín đáo ấy để có thể ngang nhiên dấu tay
thực hiện mục tiêu miền Bắc thôn tính miền Nam.
MẶT TRẬN XUẤT HIỆN
Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam chính thức ra mắt.
Báo chí Cộng Sản, trong nước, ngoài nước, rầm rộ loan báo tin này.
Nhưng điều không được nêu lên, và ít người biết đến, là trong kỳ đại hội
thứ III của Đảng Lao Động (Đảng Cộng Sản Việt Nam), ngày 5-10-1960, Tổng thư
ký Lê Duẩn báo cáo việc thành lập Mặt Trận là “để bảo đảm thắng lợi hoàn
toàn của công cuộc cách mạng tại miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác-xít
Lê-nin-nít và giai cấp công nhân”. Cương lĩnh, chính sách, đường lối của
Mặt Trận được nêu rõ trong bản báo cáo này.
Trong tạp chí Học Tập (tiền thân của “Tạp chí Cộng Sản” ngày nay), cơ
quan chính thức của Đảng Lao Động, số tháng 4-1961, Trường Chinh ghi:
Mục đích của cuộc đấu tranh là để lật đổ chính phủ miền Nam bằng Mặt
Trận, rồi sau đó thay Mặt Trận bằng một Chính phủ dân chủ.
Sơ khởi, Mặt Trận công bố chính sách:
- Ngoại giao trung lập.
- Vô hiệu hóa các lực lượng không Cộng Sản.
Các cơ quan thông tấn quốc tế đồng loạt loan báo việc thành lập Mặt Trận
là một biến cố lớn, và ghi nhận như một khúc quanh quyết định cho tình hình
Việt Nam. Báo chí Tây phương nói chung, xem Mặt Trận là một tổ chức chính
trị của miền Nam, biệt lập với Đảng Cộng Sản miền Bắc, và hy vọng rằng trong
tư thế ấy, Mặt Trận sẽ tạo được một tương quan lực lượng với chính quyền Sài
Gòn, mà thế giới đã thấy rõ là phong kiến và thoái hóa, để đạt một giải pháp
dung hòa, có thể đưa miền Nam đến một chế độ dân chủ, phát triển, không Cộng
Sản và trung lập.
Giới trí thức tả phái Âu Châu, nhất là ở Pháp, còn ngụp lặn sâu trong
huyễn tượng cách mạng thế giới do Mạc Tư Khoa chủ não qua các đảng Cộng Sản
tại chỗ mỗi nước, đón chào Mặt Trận như một thành công lớn của tinh thần
cách mạng trong nhân loại. Từ cách nhìn ấy, cả một tầng lớp đầu óc cách mạng
khoa cử, sách vở, kẻ hứng người tung, xưng tụng Mặt Trận là biểu hiện của
phong trào giải phóng các dân tộc còn bị áp bức trên thế giới.
Từ ngày tuyên bố thành lập, đến hơn một năm sau, Mặt Trận mới họp đại hội
thứ I, từ 18-2 đến 3-3-62.
Địa điểm đại hội được nêu là tại vùng Giải Phóng, nhưng kỳ thực là ở Hà
Nội.
Tham dự đại hội là các đại biểu của một số đông đoàn thể, gồm đủ đảng
phái chính trị, liên đoàn nhân dân và các hội ái hữu này khác. Nhưng xét đến
nơi, chỉ một số ít đã hiện diện sẵn ở Hà Nội, đông đảo là các đoàn thể vội
vàng được thành lập trên giấy tờ hơn là trên thực thể, để choán cho đủ chỗ
thành công.
Đại hội kết thúc công tác bằng một nghị quyết chính sách, đường lối và
bầu một ban Trung Ương gồm 52 người. Chủ tịch là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ1.
Đường lối, chính sách hoàn toàn rập theo đúng bản báo cáo của Lê Duẩn nói
ở trên. Các nhân vật then chốt của Mặt Trận được giữ kín. Danh tính những
người được nêu chính thức đều là những người đã từng là cán bộ đảng viên
thời chín năm (thời chống Pháp), vây quanh vài ba nhân vật miền Nam được
nâng lên hàng đầu, như các ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn
Cung.
THỜI ĐIỂM 1960
Đưa Mặt Trận chính thức xuất hiện, Đảng Cộng Sản xem 1960 là thời điểm
thuận lợi, khi cho rằng các điều kiện chủ quan cũng như khách quan đã hội đủ
(xem Quê Mẹ 60-61-62-63-64).
Báo chí Cộng Sản và các hãng thông tấn xã quốc tế ầm ĩ loan báo tin Mặt
Trận thành lập, nhưng những người quan sát thời cuộc tại chỗ tất không khỏi
lấy làm lạ trước thái độ hầu như thản nhiên của người miền Nam. Không phải
tin này bị chính quyền bưng bít. Mà có muốn cũng không bưng bít nổi, khi
người miền Nam tự do xem báo chí, sách vở nước ngoài, nghe các đài truyền
thanh quốc tế, giao thiệp rộng rãi với người ngoại quốc. Thêm vào đó, các
cán bộ Cộng Sản nằm vùng tích cực đưa tin này ra khuấy động dư luận khắp nơi
trong nước. Người miền Nam thản nhiên vì hiểu rằng đây chỉ là một đòn phép
chính trị của phe Cộng Sản, không có thực chất bao nhiêu.
Sự khác biệt giữa dư luận trong nước và dư luận quốc tế trước biến cố
“khai sinh mặt trận”, ai đã từng sống trong lòng thời cuộc miền Nam lúc bấy
giờ tất còn nhớ rõ. Phân tích sự khác biệt này là nắm được bản chất thực của
Mặt Trận trong thời điểm 1960.
TÌNH HÌNH MIỀN NAM NĂM 1960
Để thi hành hiệp định Genève, hai miền Nam Bắc phân định và được các
cường quốc chính thức đảm bảo. Kế đến, việc trưng cầu dân ý để thống nhất
năm 1956 bị hủy bỏ. Chế độ hai miền đối nghịch nhau nhưng đều có căn bản
pháp lý vững vàng. Công cuộc tập kết hai bên đã thực hiện khá tốt, mỗi bên
đều bận bịu nhiều, trước hết, vào việc tổ chức cơ cấu nhà nước, xây dựng chế
độ riêng, tuyên truyền cho đường lối của mình, kết hợp quần chúng hòng thiết
lập quốc gia, giải quyết các nhu cầu cấp thiết của mỗi miền.
Trong hoàn cảnh ấy, và khi hiệp định đã chấm dứt chiến tranh, súng đạn đã
im tiếng, thì các hậu ý bên này hay bên kia về một cuộc tranh chấp bằng vũ
lực tạm thời phải dẹp sang một bên dành ưu tiên cho việc củng cố nền tảng
của chế độ.
Cho nên, hòa bình đã tái lập cứ thế mà kéo dài. Và có thể nói là suốt
chín năm chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, miền Nam đã sống thanh bình, quần chúng
miền Nam dành công sức để xây dựng lại đời sống của mình, trong không khí
thanh bình ấy, ở các đô thị cũng như ở thôn quê.
QUẦN CHÚNG MIỀN NAM
Nói đến quần chúng miền Nam lúc bấy giờ, là nói đến một hỗn hợp phức tạp.
Thành phần đông đảo hơn cả là người “Nam kỳ”. Những người đang sống trên
chính đất gốc của mình, đất “Nam kỳ”, từ nay trở thành nền tảng lãnh thổ
quốc gia: 65% dân số.
Tương lai của quốc gia từ vĩ tuyến 17 đổ xuống tất nhiên tùy thuộc vào
đất “Nam kỳ” và vào người “Nam kỳ”. Đất phì nhiêu đủ nuôi ăn cả nước. Người
có mức độ văn hóa, chuyên nghiệp cao hơn nơi khác. Gồm sẵn một số cơ sở
thương nghiệp, kỹ nghệ có thể làm bước đầu cho việc phát triển kinh tế lúc
bấy giờ là một ưu tiên.
30% dân số khác của miền Nam gồm người đất “Trung kỳ” bên dưới vĩ tuyến
17. Chật vật nhiều xưa nay, nhưng vẫn không khỏi phải nhờ đến lúa gạo “Nam
kỳ” để có thể giáp mùa hàng năm. Thành phần còn lại, 5%, là đồng bào Bắc
Việt di cư. Và một số vài ngàn người, từ Bắc từ Trung, theo nhân vật lãnh
đạo vào Nam thiết lập chế độ mới. Gồm quan lại, công chức cũ, cùng tập đoàn
tay chân, sớm có muộn có, đã quây quần dưới trướng ông Ngô Đình Diệm. Lấy
thành phần di cư làm căn bản quần chúng, lấy tay chân làm nòng cốt cho chế
độ Cộng Hòa.
TƯƠNG QUAN GIỮA CHẾ ĐỘ VÀ QUẦN CHÚNG
Ngô Đình Diệm thiết lập chế độ của mình trên những thành phần nhân dân
phức tạp như vậy mà nhất đán không gặp một khó khăn nào từ quần chúng. Những
khó khăn buổi đầu ông đã vấp phải đều do nguồn gốc tương tranh quyền lợi
giữa ông và các thế lực đối đầu với ông (như Bình Xuyên, như Nguyễn Văn
Hinh), quần chúng miền Nam nói chung không can dự vào.
Điều đáng nêu lên trước hết, là tinh thần “Nam kỳ quốc”, trước kia thường
được nhắc đến để dè bỉu người Nam, xem như là một trở ngại lớn cho tinh thần
thống nhất dân tộc, nay không thấy phát hiện. Tuy điều kiện để nó phát hiện
đã có đủ, nhất là khi quyền binh nằm trong tay một người không phải gốc “Nam
kỳ”.
Người “Nam kỳ” không đố kị chút nào với chế độ mới, trong đó họ không
được dành một phân quyền lực xứng đáng với tầm quan trọng của họ. Không đố
kỵ chút nào với nhân vật cầm đầu chế độ, họ chưa hề nghe nói đến tên tuổi,
mà nay làm chủ phần đất gốc gác của họ.
Người ta có thể thấy rõ thái độ cởi mở ấy trong cách đồng bào miền Nam
tiếp đón đồng bào miền Bắc di cư. Sốt sắng, thân tình. Các khu định cư người
Bắc ở Cái Sắn, ở Biên Hòa, được bà con địa phương nâng đỡ, chẳng bao lâu đã
trở thành những vùng an sinh phồn thịnh.
Thái độ tích cực ấy bắt nguồn từ bản chất, từ tính tình của người Nam kỳ.
Đời sống thường dễ dãi, không hề phải lo đói, nên họ có một tâm hồn thật cởi
mở, thương người. Tính tình phóng khoáng ấy khiến họ hầu như không có tham
vọng quyền bính. Lòng yêu nước thành truyền thống từ thuở Trương Công Định,
Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân cần vương, khiến họ giữ được tinh thần dân
tộc dù trải 80 năm thuộc địa bị tách rời khỏi phần kia của đất nước2.
Không hề có đầu óc phân ly.
Người “Nam kỳ” không có đầu óc phân ly như người Trung, người Bắc thường
lo sợ.
Nhưng điều oái oăm là, với chế độ Ngô Đình Diệm, tinh thần phân ly được
phát động mạnh mẽ và ngược chiều.
Thay vì người “Nam kỳ” phân ly với chế độ cưỡng chế họ dưới quyền một
người không cùng gốc, thì chế độ này lại tự phân ly với người “Nam kỳ” bằng
chính sách Bắc trị trên đất Nam kỳ.
Tính phân ly ngược chiều ấy nằm trong bản chất của chế độ và bản chất của
nhân vật cầm quyền, ông Ngô Đình Diệm.
Nằm trong bản chất của người cầm quyền chính, vì ông Diệm xem mình như
đương nhiên mang một thiên mệnh cứu dân, cứu nước. Tính khổ tu và óc tôn
giáo của ông đã khiến ông nhìn đâu cũng chỉ thấy có tội lỗi. Càng thấy tội
lỗi rõ hơn ở những ai không đứng cùng một phía với ông. Người khác đạo,
người khác gốc, người ngoài vòng gia đình, ngoài vòng thân thuộc của ông,
người nghĩ khác, nói khác ông, đều có thể là những người tội lỗi. Quan niệm
thiện ác được ông mang áp dụng trọn vẹn và cứng ngắc ở phạm vi quyền chính
ông cầm trong tay. Nhưng thiện hay ác do ông định nghĩa lấy. Thành ra ngờ
vực là căn bản sinh hoạt chính trị của ông. Coi thường người khác là căn bản
trong thái độ đối xử của ông. Cho rằng ai cũng phải thần phục mình, trung
thành với mình, tôn thờ mình là căn bản suy tưởng của ông.
Từ bản chất ấy, từ thái độ ngờ vực người khác ấy, từ quan niệm thiên mệnh
ông mang, ông đã tập họp rồi dung túng quanh ông một lớp tay chân và một lớp
khuyển mã, đau đáu giữ gìn thế nào cho khỏi thất sủng, hơn là làm được việc
cho ông.
Thành ra một thứ triều đình, tách rời chế độ và người cầm đầu chế độ xa
lìa quần chúng trong nước. Mà thành phần chủ yếu của quần chúng này, như nói
ở trên, là người “Nam kỳ”.
Phần khác, ưu tư tôn giáo, nhu cầu củng cố thế lực, khiến ông Diệm xem
thành phần Bắc Việt di cư là căn bản chủ yếu của chế độ. Dùng họ làm lực
lượng hậu cần của chế độ, ông Diệm ly khai hẳn với thành phần đa số là người
Nam kỳ. Từ tâm lý ly khai ngược chiều ấy, ông đi đến tâm lý kỳ thị người
Nam, xem họ không xứng đáng trong cái nhìn “yêu nước” của ông.
MỘT CHẾ ĐỘ BẮC TRỊ, GIA ĐÌNH TRỊ, VÀ CẢNH SÁT TRỊ
Chế độ được thiết lập cũng mang bản chất phân ly. Nhất thiết không có một
người “Nam kỳ” nào tham dự vào trung tâm quyết định nhà nước, từ trung ương
đến địa phương. ở thượng tầng, của đáng tội, người Nam, người Trung hay
người Bắc đều bị kỳ thị hết. Chẳng có ai chen vào trung tâm quyết định việc
nước dành riêng cho các anh em ông Diệm (người trong nước gọi chung là
gia đình trị). Nhưng ở các địa phương, hàng tỉnh trưởng gồm toàn tay
chân, thân tín người Bắc, người Trung, không có lấy một người Nam nào (người
trong nước gọi là Bắc trị).
Nhưng tai hại hơn cả là tính phân ly của một thứ chế độ mà bản chất không
phải là chính trị mà là cai trị. Vấn đề chính của ông Diệm nằm trong quan
niệm phải củng cố rồi nắm vững quyền bính cá nhân của mình để chống Cộng.
Chứ không phải xây dựng một miền Nam không Cộng Sản, hưng vượng, phát triển
tự do, để làm nổi bật những giá trị văn hóa, xã hội, nhân sự, khiến ai cũng
thấy rõ một miền Nam đáng cho người chuộng tự do, chuộng nhân phẩm chọn làm
đất sống. Thành ra chế độ không đặt nặng vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, mà đặt nặng vấn đề an ninh. Vấn đề chính của ông Diệm là cai trị,
không phải là chính trị. Từ bản chất ấy, nền móng của chế độ là tổ chức công
an, mật vụ. Chi chít đến nỗi các anh em của ông mỗi người đều có riêng một
tổ chức mật vụ hoạt động cho chủ mình, bất chấp luật pháp (người trong nước
gọi là cảnh sát trị).
Ghép lên tính phân ly của chế độ, của người lãnh đạo, dần dà thái độ phân
ly của các bộ hạ tay chân. Nhất là ở các địa phương. Từ đó nạn cường hào ác
bá trở nên một tệ nạn cuối cùng tách hẳn quần chúng “Nam kỳ” khỏi chính
quyền. Ưu tư của nhân dân và ưu tư của chính quyền từ đó trở nên trái ngược
với nhau, vấn đề của nhân dân không phải là vấn đề của nhà nước, và ngược
lại. Lợi cho chế độ là hại cho dân, hại cho chế độ là lợi cho dân. Sau cùng,
đó là tâm lý thấy được của người “Nam kỳ” trong các biến cố khuynh đảo chế
độ Ngô Đình Diệm các năm 1960 đến 1963. Cảnh hoan lạc của nhân dân miền Nam
ngày lễ Các Thánh năm 1963 biểu hiện rõ rệt sự phân cách hoàn toàn giữa chế
độ ông Diệm và quần chúng “Nam kỳ”. Cái chết của ông Diệm, ông Nhu là nỗi
vui chung của cả nước, vui đúng, vui sai lại là chuyện khác.
Tình trạng phân ly giữa chính quyền và nhân dân ấy đã tạo thời điểm cho
phe Cộng Sản đưa Mặt trận ra ánh sáng năm 1960.
MẶT TRẬN KHÔNG CÓ THỰC
Loạt bài trước đưa đến kết luận: tình hình phân cách giữa chính quyền và
nhân dân miền Nam đã tạo hoàn cảnh cho Mặt trận hình thành rồi xuất hiện năm
1960.
Trong môi trường phân cách ấy, đi từ đệ nhất sang đệ nhị Cộng Hòa miền
Nam, Ngô Đình Diệm ngày càng mất dân đến chỗ sụp đổ, và các tướng lãnh cầm
quyền sau ông không ở vào cái thế lôi cuốn được dân về với chính quyền quốc
gia. Sự thờ ở của quần chúng miền Nam đối với chế độ Sài Gòn, mở cửa cho
Cộng Sản Hà Nội tha hồ cùng với các cán bộ nằm vùng gốc Nam kỳ, kẻ tung
người hứng, vẽ mày vẽ mặt cho Mặt trận có một tầm vóc quốc tế.
Nhưng Mặt trận không có thực.
Vì đảng Cộng Sản không thể dung túng một Mặt trận có thực, tức là có căn
bản nhân dân. Để trở thành một tổ chức tập họp lực lượng quần chúng, song
hành với đảng Cộng Sản Hà Nội. Điều này tối kỵ với đảng. Thêm vào đó, dân
miền Nam cũng không xu hướng Mặt trận như người ta thường lầm tưởng.
Loạt bài sau đây sẽ phân tích lần lượt việc ông Diệm đánh mất dân, việc
các ông tướng không làm gì lôi kéo được dân và thực trạng dân miền Nam không
theo Mặt trận, nên Mặt trận không có thực.
NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÁNH MẤT DÂN MIỀN NAM.
PHÂN CÁCH GIỮA CHẾ ĐỘ VÀ NHÂN DÂN MIỀN NAM (trước 1975)
Hiệp định Genève, mang chữ ký các cường quốc, đảm bảo cơ sở quốc tế công
pháp của Sài Gòn, đối diện với Hà Nội.
Chính quyền còn phải được thiết lập, trên căn bản nhân vật lãnh đạo là
người mới muốn dứt khoát với thực trạng cũ mình không dự phần. Nhằm mở một
kỷ nguyên khác theo nguyện vọng chung trong nước. Mọi việc phải bắt đầu lại
trong một bầu không khí vừa phấn khởi, vừa thiếu ổn định, của một xã hội từ
chiến tranh đi vào hòa bình. Tình huống nhân dân còn lẫn lộn, phức tạp, tâm
trạng mọi người chưa lắng đọng kịp.
Mục tiêu dài hạn: xây dựng miền Nam không Cộng Sản thành một quốc gia
phát triển vững mạnh, tự do, dân chủ, có đủ giá trị hấp dẫn, chờ ngày thống
nhất.
Ngô Đình Diệm, sau gần năm năm sống ở ngoài, về nước cầm quyền tháng
7-1954 trong hoàn cảnh nói trên. Với nhiều lẽ thuận, nhiều lẽ nghịch, chủ
quan có, khách quan có. Phải nhận ra trước, để hiểu các sự việc về sau làm
sụp đổ miền Nam.
Lẽ thuận: Hậu thuẫn quốc tế và quần chúng trong nước.
A. Quốc tế:
- Sức ủng hộ của Hoa Kỳ, dựa trên thế lực Công giáo ở Mỹ, và của thế giới
tự do. Nhiều hứa hẹn viện trợ kinh tế, để phát triển (chương trình Colombo,
cơ quan USAID), việc trợ kỹ thuật, viện trợ quân sự, để phòng thủ (tổ chức
Liên phòng Đông Nam Á SEATO).
- Pháp từ bỏ quyền bá chủ Việt Nam. Quân đội Pháp trú đóng chỉ giữ nhiệm
vụ trật tự thi hành hiệp định, sớm muộn phải rút. Ba Lê mong giải kết duyên
nợ thuộc địa một cách thuận lợi, hòng mưu cầu lợi ích kinh tế lâu dài sau
đó.
- Các nước Đông Nam Á, nhất là Cao Mên và Lào, đang lo ngại đà tiến của
Cộng Sản, xem miền Nam như một tiền đồn, sẵn sàng ủng hộ một cách kín đáo.
- Chiến tranh nguội chia thế giới thành hai khối: Cộng Sản và dân chủ tự
do. Khối các nước tự do chờ những kết quả sơ khởi của Sài Gòn để ủng hộ và
giúp đỡ cụ thể.
B. Nội Bộ:
- Ngô Đình Diệm là người mới, không dính líu trong chế độ Quốc trưởng.
Lại được tiếng là yêu nước, đạo đức, liêm khiết, các đức tính thời thượng
lúc bấy giờ.
- Trong địa vị Thủ tướng, được toàn quyền hành động, không chịu chỉ thị,
không có kiểm soát của Bảo Đại. Một năm sau làm Tổng thống.
- Đất nước đi vào Hòa bình, nhân dân náo nức, lạc quan. Ông Diệm không
phải là người có công mang lại hòa bình, nhưng được hưởng cái lợi tâm lý do
hoàn cảnh ấy tạo nên.
- Cuộc di tản vĩ đại của một triệu đồng bào miền Bắc, bỏ mồ mả quê hương,
vào Nam tránh nạn Cộng Sản, chọn lựa miền Nam quốc gia theo ông.
2. Lẽ Nghịch: Một thế giới thiên vị và mù quáng.
A. Quốc tế:
- Miền Nam là đối tượng bành trướng của quốc tế Cộng Sản, sau Trung Quốc
(1949) và sau miền Bắc Việt Nam (1954).
Chiến lược và mưu đồ xích hóa thế giới nhằm việc thôn tính miền Nam đến
cùng. Nhiệm vụ tiền phương thuộc phần Hà Nội. Một nhiệm vụ quốc tế, hoàn
toàn không phải là một nhiệm vụ dân tộc. Song song, Bắc Kinh giữ nhiệm vụ
hậu cần. Đầu não là Mạc Tư Khoa.
Thành ra, giữa Mỹ và Sài Gòn, quan hệ chỉ có tính cách viện trợ phương
tiện, ủng hộ tinh thần, để bảo vệ tự do cho một quốc gia nhỏ, trong mức độ
tán đồng của dư luận nội bộ Hoa Kỳ. Mà dư luận một nước dân chủ thì lại dễ
giao động đến có thể xoay ngược chiều. Việc ủng hộ và viện trợ không thể vô
giới hạn, cũng không thể kéo dài mãi được, nếu không đạt kết quả sớm. Hiệp
định Ba Lê 1973 là một minh chứng. Chính dư luận Mỹ đã buộc Hoa Thịnh Đốn bỏ
rơi Sài Gòn.
Trái ngược hẳn lại, giữa Liên Xô và Hà Nội, quan hệ là chuyện phân chia
công tác và nhiệm vụ nhắm một cứu cánh chung: xích hóa thế giới. Hà Nội đứng
ở tuyến đầu. Bắc Kinh tuyến hậu. Mạc Tư Khoa là trung tâm chỉ đạo và lãnh
đạo. Cho nên không phải là chuyện viện trợ và ủng hộ. Mà là chuyện bành
trướng của khối Cộng Sản thế giới.
Nhiệm vụ này trường kỳ. Thế giới từng bước một phải rơi vào tay Mạc Tư
Khoa, nhân danh cách mạng vô sản. Không giới hạn phương tiện về công sức, về
của cải. Không giới hạn về nhân mạng, về tai ương của chiến tranh. Cho nên
không có chuyện Mạc Tư Khoa bỏ rơi Hà Nội vì lẽ này hay lẽ khác, như Hoa
Thịnh Đốn đã bỏ rơi Sài Gòn vì quân đội Mỹ thiệt hại nhiều.
Nói cho cùng: Sài Gòn khác. Hoa Thịnh Đốn khác. Nhất đán vì quyền lợi
chung có thể đi với nhau, nhưng vẫn là hai. Mạc Tư Khoa và Hà Nội lại chỉ là
một. Trong vấn đề Nam Việt Nam.
Như thế, Sài Gòn không phải chỉ đương đầu với Hà Nội, mà thực sự phải
đương đầu với toàn khối Cộng Sản, không những với Mạc Tư Khoa mà còn cả với
Trung Hoa, với Đông Âu.
- Trong khối các nước dân chủ Tây phương, khái niệm cách mạng thế giới
chống tư bản chủ nghĩa đang hồi thời thượng. Giới trí thức, nhất là tả phái,
bị mê hoặc theo những giá trị họ ngưỡng mộ là cách mạng, sẽ thay đổi được
thế giới, thay đổi được con người, tranh nhau tán dương Cộng Sản, tâng bốc
Liên Xô là thiên đường hạ giới. Jean Paul Sartre đã không ngần ngại tuyên
bố: “Chỉ có là chó mới chống Cộng”. Vì thế, trong vấn đề Việt Nam, họ
luôn luôn về hùa với Hà Nội. Solzhenitsyne chưa sang Tây Âu, ảnh hưởng của
họ có tính cách thời thượng, làm thiệt hại nhiều cho miền Nam khi muốn vận
động dư luận quốc tế, vận động ngoại giao, để bênh vực cái thế của mình.
Đến cả tướng De Gaulle, trong tuyên ngôn ở Nam Vang của ông, trên đường
công du thuộc địa Nouvelle Calédonie, lên án Mỹ can thiệp vào Việt Nam, cũng
đã có một ảnh hưởng thật tai hại cho Sài Gòn. Tuyên ngôn của ông đã được xem
là một trong các yếu tố đưa đến thất bại của Hoa Kỳ ở miền Nam.
- Các nước Đông Nam Á chưa đạt đến mức phát triển khả quan, nên tổ chức
ASEAN chưa hình thành được như hiện nay để có một tiếng nói chung bênh vực
Sài Gòn, mà thế giới không thể không chú ý đến được.
- Các nước trong thế giới đệ tam, tuy gọi là trung lập nhưng lại thiên Hà
Nội vì muốn gần Liên Xô.
- Ông Diệm thù người Pháp nên không biết lợi dụng việc họ có mặt và ảnh
hưởng ở miền Nam, như quân đội Nhật đã làm từ 1941 đến 1945, như ông Hồ Chí
Minh đã làm từ 1945 đến 1946.
B. Nội Bộ:
- Tội tổ tông của chế độ Ngô Đình Diệm: Miền Nam chỉ là đất Nam kỳ mở
rộng, ông Diệm không phải gốc Nam kỳ và người Nam kỳ không biết ông Diệm mà
chỉ nghe đồn về ông mà thôi.
- Mặt tiêu cực trong con người ông Diệm.
1. Thiếu tầm vóc:
Không có đủ tầm vóc một lãnh tụ quốc gia, một chính khách quốc tế. Vì học
thức giới hạn, kiến thức thiếu sót, nên không am hiểu đến nơi các biến
chuyển lớn trong thế giới, sau thế chiến thứ hai; không nhìn rõ được các vấn
đề đất nước, trong thời điểm thiếu ổn định về mọi mặt sinh hoạt xã hội lúc
bấy giờ, khi hòa bình trở về và đất nước qua phân. Thành ra không phân biệt
được vấn đề chính, vấn đề phụ, và định sai thứ tự ưu tiên các công việc phải
làm.
2. Nhân sinh quan hẹp hòi:
Ông Diệm trọng đạo đức, thuần thành về tín ngưỡng. Đau đáu lo giữ mình
đến nỗi quên người, nên sợ kẻ khác làm hỏng việc mình. Thành ra không giám
tin ai và thường ngờ vực tất cả, hóa ra người lãnh đạo mà rất quả giao. Lẫn
lộn tốt, xấu, theo đạo đức bình thường, với điều hay, dở, trong hành động
nhà nước. Cuối cùng đi đến độc tôn, độc đoán, mình cho là phải mình cho là
trái đều là phải, là trái, không ai cãi được. Nên không chịu nổi ai nói khác
mình, không chấp nhận đối lập.
3. Không dám tin người:
Thung dung được với người thân tín sẵn, mà lúng túng với người chưa quen.
Thành ra chỉ biết có anh em, thân quyến trong gia đình, chỉ gần tay chân bộ
hạ. Khi lên cầm quyền, trong vấn đề dùng người, chỉ chọn kẻ chịu làm tay
sai, không chọn người cộng tác ngang hàng.
4. Quan liêu gia đình:
Gia đình và thủ túc nhiều tham vọng quyền lực, quyền lợi. Từ Trung, từ
Bắc vào, làm thêm nặng cái tội tổ tông của chính quyền Diệm.
5. Xung khắc về bản chất giữa ông Diệm và dân Nam kỳ:
Nam kỳ dưới chế độ thuộc địa trực trị có luật pháp rõ ràng, nên được đảm
bảo ít nhiều tự do. Nay kháng chiến thành công, dân tại chỗ đòi dân chủ,
không sẵn sàng chấp nhận một nhà nước câu thúc quá đáng. Ông Diệm, xuất thân
là đại thần triều đình Huế cũ, cá tính con người ông không để cho ông sử
dụng quyền bính cách khác hơn là quan liêu, lệnh từ trên ban xuống, không có
đối thoại, trao đổi với ai.
Người Nam kỳ tính phóng khoáng, cởi mở, cả tin, không có tham vọng quyền
bính, không bận tâm chính trị mấy. Vì thế, mà sau kinh nghiệm kháng chiến,
họ không thích Cộng Sản, nhưng đã từng tranh đấu với nhau, họ không chống
Cộng. Ông Diệm và tả hữu tay chân lấy việc chống Cộng làm quốc sách, chê
người Nam kỳ là ấu trĩ.
6. Không biết sử dụng thành quả kháng chiến Dân Tộc:
Thành quả kháng chiến là niềm tự hào của dân Nam kỳ. Nhưng lại là vết hằn
trong tâm thức ông Diệm. Quần chúng Nam kỳ kháng chiến theo truyền thống
Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân v.v... để giải phóng đất
nước. Không phải để theo Mác, theo Lênin. Họ xem kẻ thù chính là thực dân
Pháp.
7. Ông Diệm không tham dự kháng chiến.
Đứng ngoài vòng một thời, và một thời gian sau đó xuất ngoại sang sống ở
Hoa Kỳ. Sự kiện lịch sử này có thể giải thích. Kháng chiến do người Cộng Sản
lãnh đạo. Quần chúng nhằm mục đích ngắn hạn tranh thủ độc lập, không cần
nhìn xa hơn để ngờ vực, Cộng Sản mưu đồ cách mạng vô sản thế giới, không cần
chú ý đến mục đích dài hạn của đảng Cộng Sản. Ông Diệm chống Cộng, kẻ thù
chính của dân tộc, trong con mắt ông, là Cộng Sản. Ông không thể tham dự
kháng chiến, không thể tranh đấu dành độc lập chung với Cộng Sản. Một phần
vì ông không chấp nhận lãnh đạo Cộng Sản trong kháng chiến. Phần khác, ông
muốn tranh đấu giành độc lập theo một đường lối khác. Thái độ ông khả kính.
Đường lối ông có giá trị. Nehru ở Ấn Độ, Soekarno ở Nam Dương chứng minh
nhận xét này. Và có lẽ họ đã mở đường cho ông Diệm. Cho nên, nhất thời, ông
không thể để cho phong trào quần chúng trong nước lôi cuốn vào cuộc kháng
chiến mà ông biết về sau tất nhiên bị Cộng Sản lợi dụng. Lịch sử sẽ ghi nhận
định của ông là đúng.
Kháng chiến thành công. Pháp phải từ bỏ quyền bá chủ Việt Nam và ông Diệm
được đưa lên cầm quyền trên nửa phần phía Nam đất nước. Trên đó Nam kỳ là
địa cư chính và trọng yếu nhất. Đây là cớ sự tạo một mặc cảm thật tế nhị,
thật phức tạp, trong tâm thức con người Ngô Đình Diệm.
Nam kỳ kháng chiến đã phần nào ngược với chủ trương chống Cộng của ông.
Nên ông mặc cảm như phong trào này cũng chống ông. Nay kháng chiến thành
công trên mảnh đất Nam kỳ ông trực tiếp tiếp thu kết quả. Trong tiềm thức
ông, ông thấy có chi đó bất ổn. Tâm lý tự xem mình là người phi thường khiến
ông hóa giải điều bất ổn này một cách sai lạc. Đến chỗ đố kỵ người Nam kỳ.
8. Mặc cảm đố kỵ người Nam kỳ.
Những người từ nay bị đặt dưới quyền ông, ông Diệm muốn thoát ngoài tình
trạng này bằng cách đặt mình lên trên lẽ thường của mọi người. Cách xử sự
này hợp với bản tính tự cao tự đại của con người ông. Đưa ông đến việc cho
mình là người mang một sứ mệnh thần thánh cứu dân, cứu nước, không cần phải
theo sát tâm lý, nguyện vọng “thiển cận” của nhân dân. Nhất là nhân dân Nam
kỳ, đương nhiên thuộc trách nhiệm lãnh đạo của ông.
Tâm lý tự tôn để tự ổn này được gia đình ông, tay chân bộ hạ ông cổ súy,
phụ họa vào. Cớ sự này đã tạo nên cho ông, cho tả hữu quanh ông, một tâm
trạng kẻ cả mà người miền Nam từng biết rõ, và đã tạo ảnh hưởng nặng nề cho
tư thế lãnh đạo của ông.
Tâm trạng kẻ cả của ông Diệm, của gia đình và tả hữu ông, đối với dân Nam
kỳ, có thể tóm tắt trên vài điểm chính:
- Người Nam kỳ thiếu ý thức chính trị (hàm nghĩa: ồ ạt chạy theo
Cộng Sản để kháng chiến).
- Người Nam kỳ ấu trĩ về văn hóa. Vụ tờ báo “Tự Do” của Phạm Việt
Tuyền nêu nhận định là “Nam kỳ không có văn chương” đã một thời khiến dân
Nam kỳ phẫn nộ.
- Người Nam kỳ đạo đức thấp. Ông Diệm và thân quyến đã võ đoán như
vậy khi thấy xã hội Nam kỳ, dù muốn dù không, cũng chịu ảnh hưởng sinh hoạt
của người Tây phương nhiều hơn đồng bào các nơi khác.
- Người Nam kỳ phản quốc. Hàm ý họ hết theo Pháp thì theo Cộng.
Ngô Đình Nhu đã nói lên lời: “les Cochinchinois sont des traitres” (dân Nam
kỳ là phường phản bội) với người viết, ngay tại sảnh đường dinh Độc Lập. Và
cũng chính Nhu đã muốn dựng lên Vụ án Tôn Thọ Tường, giao cho một Hội Đồng
Nhân Sĩ tay chân tổ chức. Một người hiểu chuyện, đã bảo Nhu: “Người Nam kỳ
từng cùng Phan Văn Trị lên án Tôn Thọ Tường. Tường làm việc cho thực dân 60
năm trước Ngô Đình Diệm là phản quốc, vậy Diệm làm việc cho thực dân 60 năm
sau Tường, lại không phải là phản quốc hay sao?” Việc làm lố bịch này phải
dẹp sớm, nên ít người biết.
NƯỚC BẠI THEO MỘT NGƯỜI
Chế độ miền Nam do ông Diệm thiết lập, phải đương đầu với các lẽ thuận,
lẽ nghịch, được nêu ở phần trên. Và tùy thuộc vào các ưu điểm, khuyểt điểm
của con người Ngô Đình Diệm.
Những công trình nhân sinh cỡ lớn không thể nhất thiết đòi hỏi đủ điều
kiện thuận lợi để tiến hành. Ông Diệm đi vào sự nghiệp ông từng mong mỏi
thực hiện, trong những điều kiện nói chung khá tốt. Tương lai thành hay bại
tùy thuộc ông có biết khai triển đúng mức hay không các lẽ thuận, giải tỏa
các lẽ nghịch. Tùy thuộc ông biết lợi dụng các ưu điểm của mình, biết khắc
phục các khuyết điểm của mình đến một mức hiệu quả.
Ngô Đình Diệm có đủ lẽ để thành công. Tiếc là ông đã thất bại. Đưa đến
thất bại chung của miền Nam. Rồi của cả dân tộc.
Ông Diệm đứng ra thành lập chế độ miền Nam với các lẽ thuận, nghịch gắn
liền vào đó, như đã phân tích trong bài trước. Việc thành hay bại tùy vào
tâm mức lãnh đạo của ông, biết hay không biết khai thác lẽ thuận, khắc phục
lẽ nghịch, tiên quyết không nhất định là thế nào được.
Thời thế có thể tạo anh hùng. Nhưng người lãnh đạo giỏi đạp lên thời thế
mà tiến thành anh hùng. Kinh nghiệm đã qua cho thấy ông Diệm không thuộc
hạng lãnh đạo ấy. Không phải là một “homme d’Etat”.
Từ bài này, người viết sử dụng tài liệu một người bạn thân, vượt biển,
gửi lại vì không mang theo được. Tài liệu ghi nhận những cuộc thảo luận giữa
anh ta và anh em ông Diệm, từ sau 1945 cho đến cuối năm 1954, khi họ bàn về
đường lối nên theo, và chính sách phải có, khi ông Diệm nắm được quyền hành.
Người viết giữ việc trình bày cho được mạch lạc, không can thiệp vào nội
dung tài liệu. Để bạn đọc có thể thấy có người đã đề nghị với ông Diệm một
đường lối lãnh đạo, một chính sách cầm quyền khác những gì anh em ông đã
làm, nhưng lại đúng theo những gì ông Diệm đã tiên tri và tiên liệu sẽ làm.
HAI LẦN TIÊN TRI VÀ MỘT LỜI HỨA
Năm 1948, cuộc chiến Việt-Pháp đi vào giai đoạn quyết liệt. Pháp gửi Paul
Mus gặp Hồ Chí Minh để nói chuyện mở lại thương thuyết, nhưng không thành.
Nên vận dụng lá bài Bảo Đại. Ông Diệm lúc bấy giờ ở Sài Gòn, tá túc trong Tu
viện dòng Chúa Cứu Thế, gởi Ngô Đình Nhu thay ông đến liên lạc với Emile
Bollaert, Cao ủy Pháp, vì Ba Lê muốn tập họp quanh Bảo Đại một số nhân vật
quốc gia.
Đây là thời điểm các nhân vật này đi lại giữa Sài Gòn và Hương Cảng, để
thảo luận với Bảo Đại. Ông Diệm cũng ở trong số các nhân vật ấy. Tất cả đều
đồng ý với Bảo Đại là nếu Pháp, trên nguyên tắc, không công nhận độc lập và
thống nhất Việt Nam, thì không thể thỏa thuận được. Nhưng phải từ nguyên tắc
tới chỗ thực hiện, qua một giai đoạn hòa hoãn với người Pháp, nhất đán không
thể quyết liệt với họ được. Bởi còn chiến tranh. Còn vấn đề Việt Minh đang
độc chiếm lãnh đạo kháng chiến giải phóng.
Ông Diệm, một mình, nghĩ khác. Ông cho rằng nguyên tắc không đủ. Cộng Sản
đang độc chiếm chính nghĩa giải phóng đất nước khỏi tay ngoại bang, nên
không thể hòa hoãn với Pháp để chấp nhận chủ quyền trên nguyên tắc rồi cùng
với họ thực hiện dần dà, trong khi còn phải tranh chiến với Cộng Sản. Độc
lập không nắm sẵn trong tay trước đã, thì phe Quốc gia không mong tranh thủ
với phe Cộng Sản được. Tuy giải phóng không phải thực sự là mục đích chính
của Cộng Sản, nhưng dù có hiểu hay không hiểu điều này, quần chúng vẫn ngả
theo kháng chiến.
TIÊN TRI VỀ VIỄN TƯỢNG HOA KỲ
Hơn nữa, ông thấy rằng Pháp không kết thúc chiến tranh thuận lợi được.
Trừ phi quốc tế hóa chiến cuộc, điều mà họ cố tránh, vì muốn bám víu chủ
quyền Việt Nam của mình. Đối với ông, bằng cách này hay cách khác, phe quốc
gia phải lôi cuốn Hoa Kỳ can thiệp vào. Thành ra ông không chú trọng đến Ba
Lê, mà nhìn về Hoa Thịnh Đốn. Ông đứng ngoài vòng, khi Bảo Đại ký với Tổng
thống Vincent Auriol hiệp định Elysées. Kinh nghiệm cho thấy ông đúng. Từ
1948, ông Diệm đã nhìn thấy vai trò Hoa Kỳ ở Việt Nam. Như một tiên tri. Ông
chọn Hoa Kỳ và thu xếp sang Mỹ.
Trong tập tài liệu ghi:
- Tranh thủ với Cộng Sản là chuyện lâu dài. Hoa Kỳ là một chọn lựa đúng
và thiết yếu, Vị trí địa lý trong con mắt Hoa Kỳ và trên lãnh thổ Việt Nam,
người Việt Nam quan trọng hơn người Pháp, vì nhu cầu chiến lược.
- Phải vận động người Mỹ ủng hộ ông Diệm theo tư cách một lãnh tụ quốc
gia đại diện cho Việt Nam.
- Tiến trình lịch sử của dân tộc đến giai đoạn này là giải phóng đất nước
khỏi tay ngoại bang. Ông Diệm dựa vào Hoa Kỳ, nhưng không được xuất hiện như
một con cờ của Mỹ.
- Đừng tìm Mỹ mà để cho Mỹ tìm đến mình. Cho nên, xuất ngoại nhưng không
sang Hoa Kỳ ngay. Mà đến Tân Đề Li hay Djakarta, mở một văn phòng liên lạc
chính trị, vận động dư luận các nước mới thu hồi độc lập, tìm sự ủng hộ tinh
thần của lãnh tụ các quốc gia này, đã có nhiều thành tích đấu tranh trên xứ
họ, như Nehru, như Sukarno, để từ uy tín của họ gây uy tín cho mình mà tạo
lấy tầm vóc lãnh tụ trong hàng ngũ các lãnh tụ thế giới.
- Có thể sang Mỹ vận động, nhưng không cần lưu ngụ ở Mỹ. Nhu cầu chiến
lược thế giới của họ sẽ buộc Hoa Thịnh Đốn tìm ông Diệm, nếu ông thực sự là
một Nehru, một Sukarno Việt Nam.
TIÊN TRI LẤY NAM BỘ LÀM CỨ ĐIỂM
Trong giai đoạn đi lại với Bảo Đại ở Hương Cảng năm 1948, thấy rõ là hòa
hoãn với Pháp, Bảo Đại không thể thành công được, ông Diệm mường tượng một
tương lai ông phải xuất hiện. Ông bảo hẳn với anh bạn của người viết là:
“cùng kỳ lý”, ông chủ trương lấy đất Nam kỳ làm cứ điểm và huy động quần
chúng Đồng Nai, Cửu Long (lúc bấy giờ còn bị chê là có óc phân ly) để tranh
thủ với Cộng Sản. Như một tiên tri khác.
Năm 1950, ông Diệm xuất ngoại. Nhưng sang thẳng Hoa Kỳ, và ở lại đây.
LỜI HỨA CỦA MỘT TUYÊN NGÔN
Năm 1951, trên tờ “Tinh Thần” do một nhóm trí thức thân ông Diệm chủ
trương, Ngô Đình Nhu cho công bố một Tuyên Ngôn của ông Diệm. Theo tuyên
ngôn này, ông phân biệt kháng chiến để tranh thủ độc lập đất nước, và cách
mạng vô sản. Ông kêu gọi những người kháng chiến quốc gia đừng để Cộng Sản
lợi dụng nhằm mưu đồ cách mạng Mác-Lê. Ông đề cao tinh thần yêu nước của họ,
hứa hẹn họ sẽ có một chỗ đứng xứng đáng trong chế độ quốc gia tương lai (hàm
ý: khi ông lên cầm quyền).
Hai điều ông Diệm tiên tri từ năm 1948 đều đã thực hiện.
Pháp không đương cự nổi tình hình chiến tranh, tướng De Lattre đã phải đi
Hoa Kỳ kêu gọi Mỹ giúp đỡ. Rồi trận Điện Biên, rồi Hội nghị đình chiến
Genève. Mỹ dùng áp lực đưa ông Diệm lên cầm quyền ở Sài Gòn, đặt ông vào cái
thế lãnh đạo, và sau việc qua phân, đứng vào tình thế ông đã gọi là “cùng kỳ
lý”: lấy đất Nam kỳ làm cứ điểm, huy động người Nam kỳ để tranh thủ với Cộng
Sản.
BA ĐIỀU BẤT HẠNH CHO ĐẠI CUỘC VIỆT NAM
1. Bất hạnh trong việc giải phóng đất nước khỏi bàn tay ngoại bang.
Ông Diệm ở hải ngoại năm năm. Kéo dài đến bốn năm trên đất Mỹ, sau đó mới
sang Âu Châu, ở Pháp và ở Bỉ. Ngoài ra, ông không đặt chân lên một nước nào
khác. Nhất là một nước Á Châu.
Ở Hoa Kỳ, ông quanh quẩn trong bóng tối thanh tú của các nhà dòng Công
giáo. Sang Pháp, sang Bỉ cũng thế. Ông không dấn thân hoạt động đánh vào dư
luận các nơi, không liên lạc, giao thiệp với các chính khách quốc tế, không
gần gũi vận động kiều bào. Ông dành công việc chính ông phải làm lấy cho các
bào đệ Nhu, Luyện của ông. Họa hoằn, nhờ có nhà dòng móc nối, ông giao thiệp
với một hai nhân vật Mỹ rất hiếm hoi, cỡ Hồng Y Spellman, cỡ Thượng nghị sĩ
Mansfield.
Tên tuổi ông, báo chí quốc tế không thấy nhắc đến. Tiếng tăm ông chẳng
vang dội một nơi nào. Ông không hề xuất hiện trước dư luận thế giới. Như
Gandhi, Nehru, Sukarno đã từng làm, khi họ còn phải tranh đấu cho độc lập
của xứ sở họ.
Thành ra khi người Mỹ dùng áp lực đưa ông lên cầm quyền, thế giới không
biết ông là ai, không thấy ông có tầm vóc nào đáng kể, nên xem ông chỉ là
một lá bài của Hoa Kỳ. Người trong nước, nhất là dân Nam kỳ, trừ những người
hiếm hoi biết ông trước kia là một vị Thượng thư trẻ tuổi của triều đình
Huế, chống Pháp mà từ chức, đa số không biết ông là ai, chưa hề nghe nói đến
ông. Chỉ thấy có người Mỹ đưa ông lên.
Không trách được người trong nước, người nước ngoài, xem ông là “một con
cờ của Mỹ”. Điều ông không hề muốn, nhưng lại là lỗi của ông. Đúng hơn, điều
biểu thị sự bất tài của ông.
Và nhất là điều bất hạnh cho đại cuộc miền Nam. Đại cuộc lúc này là việc
giải phóng đất nước khỏi tay ngoại bang. Nhất đán xuất hiện là một “lá bài
Mỹ”, đè nặng lên tương lai của chế độ. Tuy vậy, điều bất hạnh này chưa có
ảnh hưởng ngay. Bởi lẽ, khi đã chia cắt, miền Nam thấy cần có một cường quốc
giúp đỡ, nhất là Hoa Kỳ, để quân bình với miền Bắc, có Liên Xô và Trung Quốc
đứng sau. Miền Nam không thể tồn tại được, nếu đứng lẻ. Thành ra, dù sao,
ông Diệm cũng biểu hiện cho một hi vọng. Thêm vào đó, ông không có tai tiếng
chi, nhờ đứng ngoài thời cuộc từ trước. Dư luận miền Nam mặc nhiên chấp nhận
ông. Chỉ mong ông đừng để miền Nam trở thành phụ dung của Mỹ, mà chỉ là thân
Mỹ.
2. Bất hạnh thiếu tài lương đống
Ông Diệm biết mình có thể lên cầm quyền, ba tháng trước. Ông lên cầm
quyền ngày 7-7-54. Ngày 21-7-54 Hội nghị Genève kết thúc, chia hai Việt Nam
, và giao cho ông miền Nam.
Trong thời gian 4 tháng thật quyết định ấy, ông vẫn ù lì như suốt 4 năm ở
Mỹ trước kia. Ông không đích thân hoạt động. Mọi việc giao cho hai ông em,
Nhu và Luyện, làm thay. Trong tinh thần chung của gia đình này, họ chỉ liên
lạc ngầm, hoạt động trong bóng tối. Nên chỉ tiếp xúc với một số người thật
hạn hẹp.
Không thấy tấn công vào dư luận thế giới, vào các cơ quan truyền thông
quốc tế, buộc họ phải nói đến ông, đến giải pháp ông đề ra, và sẽ thực hiện.
Không thấy công khai nêu lên một đường lối, một chính sách nào. Để cho thế
giới, thông qua báo chí, biết đến một giải pháp Ngô Đình Diệm. Cũng không
thấy vận động kiều bào. Để làm sáng tỏ tư cách một lãnh tụ quốc gia có hậu
thuẫn, có lập trường, có đường lối, có khả năng, hòng tranh thủ cảm tình
kiều bào đang bị Cộng Sản ve vãn. Hình như Việt kiều phải tự mình nhận ra
“sứ mệnh cứu nước của Cụ”. Bằng không, họ chỉ là những người thân Cộng,
không cần mở mắt cho họ làm gì. Cho nên, quanh quẩn chỉ tập họp một số kiều
bào Công giáo, một số ít “học trò cũ của Đức Cha”4 để chọn sẵn
một mớ tay chân về sau.
Ngay chính trong nước cũng thế. Phong trào “Đoàn Kết” Ngô Đình Nhu dựng
lên, quanh quẩn ở Sài Gòn, tập họp tay chân đã có rồi, với một số thân hữu
cũ trong nhóm “Tinh Thần”, hờm sẵn như chờ chia một món gia tài. Còn quần
chúng trong nước, ở Đồng Nai, Bến Nghé, Cửu Long hay ở Thăng Long, ở Thuận
Hóa, phong trào không thấy “đoàn kết” với ai khác, và cũng không mấy người
nghe nói đến.
Hoạt động của ba anh em ông Diệm, ba tháng trước ngày cầm quyền, là cố
gắng tìm mọi cách gây tín nhiệm với Bảo Đại, để ông này chịu ký Dụ trao
quyền chính cho. Kể cả việc tuyên thệ trung thành này nọ với Bảo Đại. Kể cả
sai Ngô Đình Luyện đi Cannes biếu Bảo Đại một chiếc ô-tô sang trọng. Trong
lúc Pháp cầu Hoa Kỳ, Mỹ muốn là trời muốn. Bảo Đại không muốn cũng không
xong.
Khi lịch sử chận đứng kim đồng hồ
Rồi ngay cả thời gian lên cầm quyền ngày 7 tháng 7, cho đến lúc Hội nghị
Genève kết thúc ngày 21-7, ông Diệm nhất thiết không hề đích thân xuất hiện
ở hội trường Genève, không muốn tham dự thảo luận, không thấy phải cầm đầu
đoàn Việt Nam quốc gia. Mà gởi đến đó ông Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ về phía
Việt Nam.
Ba mươi ngày cuối cùng của Hội nghị, đủ cho cả thế giới và riêng nước
Pháp thấy thế nào là một “homme d’Etat”5. Trái lại, lịch sử cận
đại đã ghi thật đậm nét cho Mendès France.
Ông Mendès France đã dọa bỏ cuộc, nếu không kết thúc được hội nghị vào
đúng 24 giờ ngày 21-7-54. Nhưng một giờ trước khi các lãnh tụ thế giới tham
dự hội nghị ký tên vào Hiệp định, cho kịp hạn định ông Mendès France đưa ra.
Phái đoàn Cambốt đã nhân hạn định ấy mà đưa ra một đòi hỏi mới, bênh vực cho
quyền lợi nước mình. Để tránh việc Thủ tướng Pháp bỏ cuộc, Molotov và Eden
đồng Chủ tịch Hội nghị, không những vận động các phái đoàn thỏa mãn yêu sách
bắt chẹt của Cambốt, mà còn phải kéo lui kim đồng hồ cho đừng đổ vội 12
tiếng khuya 21-7, hòng có đủ thì giờ chữa lại bản thảo hiệp định kẻo Mendès
France rút lui.
Từ ông Diệm lên cầm quyền đến Hội nghị chấm dứt có hơn 3 tuần lễ. Ông
không thấy (hay ông ngại) cơ hội để ông chen vai với các lãnh tụ quốc tế
khác. Cơ hội để ông đích thân tham dự đến ngay hội trường mở một cuộc tấn
công ngoại giao, bênh vực quyền lợi đất nước, trình bày lập trường quốc gia.
Cho mọi người thấy được tầm vóc quốc tế của ông, nếu quả ông có, ngang với
Mendès France, một Chu Ân Lai, một Eden, một Molotov, một Foster Dulles. Như
Phạm Văn Đồng. Để các cường quốc biết đến ông là một sức mạnh khả tín. Mà
ủng hộ miền Nam, nếu họ muốn. Nếu họ thù nghịch, họ biết là sẽ phải đối đầu
với một sức mạnh.
Ông không chịu tham dự hội nghị. Đây là bất hạnh thứ hai của đại cuộc
miền Nam. Vì ở hội nghị, người ta nhìn về phía Việt Nam, chỉ thấy có Phạm
Văn Đồng. Chỉ biết có phe Cộng Sản. Chỉ biết có Hà Nội. Sài Gòn là một bóng
mờ, Ngô Đình Diệm là ai, người ta có nghe nói tên, nhưng không ai nhắc đến,
trong đám các lãnh tụ tham dự hội nghị... Vì thế, dư luận các nơi cho rằng
miền Nam chỉ là một bóng ma làm cớ để chấm dứt chiến tranh, không thể đứng
vững được. Nhiều lắm là hai năm, thời hạn định sẵn để trưng cầu dân ý mà
thống nhất về tay Hà Nội.
3. Bất hạnh coi thường dân miền Nam, và thành phần kháng chiến dân
tộc.
Ông Diệm lên cầm quyền trong hoàn cảnh đúng như ông tiên tri từ 1948: Ông
lãnh đạo miền Nam, mà đất Nam kỳ là trọng tâm. Mỹ ủng hộ ông, hứa viện trợ
Sài Gòn, tức phải dính líu với miền Nam.
Nói cách khác, các điều kiện ông tiên liệu, ông muốn có, để tranh thủ với
Cộng Sản, nay ông hội đủ. Và con đường ông phải theo có thể phác họa như
sau:
1. Lấy đất Nam kỳ làm gốc cho chế độ. Như Nguyễn Ánh đã làm hồi thế kỷ
XVIII, để tranh thủ với Tây Sơn.
2. Dùng nhân dân Nam kỳ làm nguyên tố củng cố, xây dựng miền Nam. Dựa
trên quần chúng Nam kỳ làm thế ỷ dốc, để bảo vệ miền Nam, giữ cho Cộng Sản
miền Bắc không huy động được dễ dàng các thành phần nằm vùng mà tuyên truyền
và quấy phá. Đồng thời, để phát triển kinh tế, xã hội, với nhân lực, tài lực
Nam kỳ.
3. Vinh danh thành tích kháng chiến yêu nước. Vạch rõ mưu đồ Cộng Sản
lợi dụng nhu cầu giải phóng của đồng bào, để thực hiện cách mạng vô sản.
Đề cao anh em kháng chiến quốc gia. Xem chủ quyền miền Nam là thành quả
kháng chiến. Đúng theo tinh thần Tuyên ngôn 1951 nói trên.
Kết hợp các thành phần kháng chiến, phi kháng chiến vì hiểu thấu mưu đồ
Cộng Sản, hoặc vì một lý do khác, để tổ chức quyền chính miền Nam.
Đó là con đường kết hợp nhân dân, kết hợp kháng chiến vào chính quyền. Để
thu hút vào chế độ các thành phần quần chúng nông thôn, đã từng là cơ sở
trung kiên, suốt chín năm qua, của tổ chức kháng chiến chống Pháp. Sự kết
hợp này có thực sự và chặt chẽ, sẽ đảm bảo cho tương lai miền Nam.
Tất nhiên phải tùy thuộc vào một chính sách thể hiện trung thành những gì
ông Diệm đã tiên tri từ 1948, thực hiện lời ông đã hứa trong Tuyên ngôn năm
1951:
Dùng hai “Vú sữa”: quần chúng Nam kỳ và thành phần kháng chiến quốc
gia mà nuôi dưỡng chế độ Sài Gòn.
Chính sách ấy, ngoài chuyện mình trung thành với chính mình, còn là một
chọn lựa sáng suốt, vì nông dân Nam kỳ không chấp nhận, thì chế độ tồn tại
với ai và thế nào được. Trừ phi bắt chước Cộng Sản, dùng các biện pháp độc
tài và đàn áp. Sáng suốt vì có nhìn nhận chủ quyền thu hồi ở miền Nam là sự
nghiệp kháng chiến quốc gia, mới không để Hà Nội độc chiếm thành quả ấy về
phần Cộng Sản trên cả nước.
Can đảm vì đây là một chọn lựa nguy hiểm. Nguy cơ tiềm tàng trong một
chính sách như vậy thật lớn, đòi hỏi một khả năng lãnh đạo cao, một lòng tự
tin lớn. Đòi hỏi một “homme d’Etat”.
Ông Diệm không có đủ khả năng chính trị và tự tin, thành ra chọn lựa mà
ông đã tiên liệu và cho là thiết yếu từ 1948, từ 1951, thì nay, lên cầm
quyền, ông sợ là không thiết thực. Nên đứng trên đất Nam kỳ để đối đầu với
miền Bắc, ông khoét mất ngay hai cái “Vú sữa” của miền Nam.
GHI CHÚ
(1) Các đoàn thể trong mặt trận
Đảng Nhân Dân Cách Mạng (được thành lập tháng 1-1962) - Đảng Xã Hội Cấp
Tiến (Kỹ nghệ gia, Thương gia) - Đảng Dân Chủ (Giáo sư, Trí thức) - Đảng
Nông Dân Cách Mạng - Liên Đoàn Sinh Viên Giải Phóng - Liên Đoàn Phụ Nữ Giải
Phóng - Liên Đoàn Công Nhân Giải Phóng - Liên Đoàn Nông Dân Giải Phóng -
Liên Đoàn Thanh Niên Giải Phóng - Hội Ái Hữu Ký Giả Ái Quốc và Dân Chủ - Hội
Ái Hữu Văn Nghệ Sĩ Giải Phóng - Hội Ái Hữu Người Việt Gốc Hoa - Uỷ Ban Á Phi
Miền Nam - Uỷ Ban Bảo Vệ Hòa Bình Thế Giới Miền Nam - Uỷ Ban Bảo Vệ Hòa Bình
Thế Giới vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.
Chương trình và chính sách của Mặt Trận:
1. Trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị.
2. Bảo vệ tự do hoạt động cho mọi đoàn thể và tổ chức nhân dân.
3. Bảo đảm tự do tư tưởng và tự do báo chí.
4. Hủy bỏ Hiến Pháp 1956 ở Nam Việt và giải tán quốc hội bù nhìn.
5. Tổ chức tuyển cử một Hội Đồng có nhiệm vụ nghiên cứu ấn định chế độ
tương lai.
6. Chấm dứt độc quyền của Mỹ về thương mại, nhận viện trợ kinh tế của mọi
quốc gia.
7. Rút kinh nghiệm văn hóa của mọi dân tộc không phân biệt chế độ chính
trị.
8. Thực hiện một chính sách trung lập. Thiết lập các liên lạc ngoại giao
theo tinh thần các nguyên tắc hội nghị Bandung và tách khỏi mọi liên minh
quân sự với bất cứ nước nào.
9. Tiến tới thống nhất hòa bình.
Các nhân vật hàng đầu:
Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ, luật sư, nguyên phó chủ tịch ủy Ban Bảo
Vệ Hòa Bình Thế Giới vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.
Phó Chủ tịch: Võ Chí Công, đảng Nhân Dân Cách Mạng - Phùng Văn
Cung, chủ tịch ủy Ban B.V.H.B.T.G. miền Nam - Huỳnh Tấn Phát, Tổng thư ký
đảng Dân Chủ - Sơn Vong, lãnh tụ Phật giáo Khmer - I Bih, tín đồ Tin Lành
Tổng Thư ký: Nguyễn Văn Hiếu, Tổng thư ký đảng Xã Hội Cấp Tiến,
Tổng thư ký ủy Ban B.V.H.B.T.G. miền Nam, Phó chủ tịch Hội Ái Hữu Ký Giả Ái
Quốc và Dân Chủ.
Uỷ Viên: Trần Hữu Trang, văn sĩ - Joseph Marie Hồ Huệ Bá, linh mục Thiên
Chúa giáo - Thích Thiện Hào, tu sĩ Phật Giáo - Nguyễn Văn Ngỡi, Cao Đài -
Nguyễn Ngọc Thông, giáo sư.
(2) Thời Nam kỳ thuộc địa Pháp, thực dân kín đáo khuyến khích tinh thần
phân ly giữa người Nam kỳ và người Trung, Bắc kỳ. Nhưng không hề có kết quả.
Các phần tử ái quốc tranh đấu chống Pháp miền Bắc, miền Trung, phần đông đã
vào Nam kỳ hoạt động. Luật pháp thuộc địa dù sao cũng có nguyên tắc rõ ràng
hơn luật pháp bảo hộ, và họ lại được đồng bào Nam kỳ tận tình ủng hộ, giúp
đỡ vừa người vừa của.
Thời Pháp muốn tái chiếm sau 1945, kháng chiến đang sôi sục ở Sài Gòn,
bọn mật thám đường Catinat đã tổ chức một lớp khuyển ưng, chận đánh người
Bắc, gây xung đột Bắc kỳ-Nam kỳ. Ai lên phi trường Sài Gòn mà phát âm là Tân
Sơn Nhất, tức thì bị cho ăn đòn “hội chợ” (người Nam phát âm là Nhứt). Nhưng
âm mưu này nhanh chóng bị lật tẩy, người Nam không bị đánh lừa nên chẳng ai
hưởng ứng, thành ra dị hợm lố bịch, xẹp ngay.
Trước Hiệp định Elysées ký giữa Bảo Đại và Tổng thống Vincent Auriol, Nam
kỳ đã trải qua các Chính phủ Nguyễn Văn Thinh, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn
Xuân, và được đồng bào các nơi khác mệnh danh là “Nam kỳ quốc” để dè bỉm
tính cách phân ly của đồng bào Bến Nghé. Nhưng khi Hiệp định Elysées ký xong
và căn cứ trên Hiệp định này, các Chính phủ được thành lập từ Nguyễn Văn
Xuân qua Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, đến Bửu Lộc, không hề có một biểu
hiện nào của tinh thần phân ly “Nam kỳ quốc” cả.
Cho đến khi Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, rõ rệt là người “Nam kỳ” không
bao giờ có óc phân ly, như người ta thường nói.
(3) Người viết có dịp đặt vấn đề kỳ thị người Nam này với ông Ngô Đình
Nhu tại dinh Độc Lập cuối năm 1954, đã được trả lời: “Les Cochinchinois sont
des traitres, et vous voulez qu’on les associe au pouvoir?” (trả lời bằng
tiếng Pháp).
(4) Học sinh cũ trường Providence ở Huế nơi Ngô Đình Thục đã là giáo sư
trước khi lên làm Giám mục Vĩnh Long.
(5) Homme d’Etat là lãnh tụ quốc gia, hay nhà chính trị có tài kinh bang
tế thế. Nhưng tình thế chính trị Việt Nam do bọn hoạt đầu và xôi thịt đã làm
mất đi nguyên nghĩa của chính trị như một hành động ích nước lợi dân. Cũng
có thể dịch là “Nhà lương đống” theo quan điểm một nhà làm chính trị ở
phương Đông. Lương là cái rường nhà, đống là cái đôn nóc. Tức người có tài
năng giúp việc cho quốc gia (LTS).
IS SOUTH VIETNAM VIABLE?
Lời mở
đầu
Tác giả: Nguyễn Thái
· Chủ
tịch Hội Sinh Viên Công Giáo Việt Nam tại Mỹ.
· Tổng
giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã, 1955-1961.
Trích từ: Tác phẩm Is South
Vietnam Viable?
Xuất bản tại Manila, Phi Luật Tân,
năm 1962.
Tôi khỏi nói ra đây rằng, hơn ai hết, tôi biết rất rõ những thiếu sót
hiển nhiên trong cuốn sách này. Được thai nghén trong niềm lo âu và được
viết ra một cách vội vàng, cuốn sách này chỉ có giá trị của một lời báo động
khẩn cấp về tình trạng tuyệt vọng của miền Nam Việt Nam. Phần lớn nội dung
của lời báo động này có thể là không mới mẻ gì. Tuy nhiên tôi cũng phải nói
lên cho công luận biết, vì có thể đó là bước đầu để mở một lối thoát cho sự
bế tắc hiện nay tại Việt Nam. Ví thử ước nguyện này không bao giờ thực hiện
được để hàng triệu người Việt phải nhận lãnh cái hậu quả thảm hại của một
chính sách “tự vận” hiện nay thì ít nhất tôi cũng đạt được một niềm an ủi
đáng buồn là tôi đã cố gắng phơi bày những điều mà tôi tin là sự thật.
Dù vậy, tôi là người đầu tiên công nhận rằng vì sự thật không phải là độc
quyền của riêng tôi nên tôi cũng có thể sai lầm trong việc nhận định về tình
hình hiện nay cũng như trong việc tiên đoán những diễn biến trong tương lai
- Tuy nhiên có một điều mà không ai bị lường gạt là cuốn sách này không phải
chỉ là một cuộc diễn tập chữ nghĩa để phân tách “một cách khách quan” những
khó khăn của tình trạng quản trị chậm tiến, mà là một thông điệp chính trị
tôi hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng chấp nhận mọi nguy hiểm có thể xảy đến
cho sinh mạng cũng như sự nghiệp của tôi.
Sau nhiều tháng suy nghĩ, tôi cũng đã cố ý quyết định phơi bày trong cuốn
sách này những điều mà hầu hết người Việt đang ưu tư nhưng không có khả năng
để diễn đạt vì sự áp bức tại miền Nam Việt Nam ngày nay. Làm điều này, một
số người có thể coi tôi như là một “kẻ phản bội” và cuốn sách chỉ là phản
ứng của một kẻ bất mãn; một số người khác có thể coi tôi như một kẻ vô ơn
nay trở lại cắn vào bàn tay đã nuôi mình ăn. Nhưng tôi chỉ quan tâm đến
chuyện mà tôi nghĩ cần phải làm, hơn là lo lắng đến chuyện đưa ra một hình
ảnh tốt về mình hay là chuyện ném bùn vào những kẻ mà có thời tôi đã tin
tưởng và ủng hộ. Một số người nữa có thể nghĩ rằng tôi có điên mới viết cuốn
sách này, nhưng tôi sẵn sàng hứng chịu mọi hậu quả của sự điên rồ này.
Sau những lời mở đầu ở trên, tôi xin quý vị hãy kiên nhẫn với lời văn
không mấy hay ho của tôi trong cuốn sách này. Sau khi đọc hết cuốn sách, nếu
quý vị đồng ý với tôi rằng, miền Nam Việt Nam do chế độ Ngô Đình Diệm quản
trị sẽ không chống lại lâu dài được mối đe dọa do Cộng Sản khuynh đảo thì
lời tôi chỉ trích chế độ này đã không phải là điều vô ích.
Như quý vị sẽ thấy, sau khi đọc chi tiết cuốn sách này, tôi không cổ súy
việc thiết lập ngay một nền dân chủ lý tưởng tại miền Nam Việt Nam. Như hầu
hết những người Việt không Cộng Sản khác, tôi sẽ mãn nguyện nếu miền Nam
Việt Nam có được một chế độ dù không lý tưởng nhưng ngay thẳng, liêm chính
và hữu hiệu, ít nhất là ở mức độ mà quần chúng có thể chấp nhận được. Bất
hạnh thay, chế độ Ngô Đình Diệm, như ta thấy, đã không đáp ứng được cả điều
mong ước tối thiểu này. Hình như tất cả những gì chế độ này chỉ có thể làm
được là phung phí hết những trợ giúp rộng rãi nhất mà Việt Nam đã được hưởng
và bằng mọi giá nắm giữ độc quyền quyền lực của gia đình nhà Ngô tại miền
Nam Việt Nam.
Nếu quý vị tự hỏi làm thế nào mà chế độ Ngô Đình Diệm đã có thể tồn tại
dài lâu như thế thì tôi xin trả lời rằng sở dĩ Diệm còn tồn tại được thứ
nhất là vì những cố gắng hỗ trợ tận tình của người Mỹ, thứ hai là vì người
Việt thù ghét vô cùng nền độc tài Cộng Sản.
Vì từng làm việc mật thiết với chế độ này trong suốt 7 năm, nên tôi đã có
thể thấy được rằng chế độ này không có khả năng thu phục được sự ủng hộ của
nhân dân. Ngay cả những người lúc đầu ủng hộ chế độ cũng không còn chịu đựng
được tình trạng tham nhũng giả dối và vô hiệu năng do những phe nhóm gồm
toàn những kẻ ăn bám và nịnh hót tạo ra để nhũng lạm chế độ trước khi chế độ
này sụp đổ. Ngoài những tên nịnh hót vô tích sự và các bà con trong gia đình
họ Ngô, không còn ai tận tâm ủng hộ chế độ nữa.
Do đó mà tại miền Nam Việt Nam ngày nay, với một quân đội tinh nhuệ và
được trang bị đầy đủ, và một bộ máy hành chánh tương đối to lớn, chế độ vẫn
không chống nổi sự khuynh đảo chính trị của Cộng Sản, vì những người lãnh
đạo của chế độ đã vẫn liên tục không chịu chặt tận gốc rễ những nguyên nhân
của tham nhũng và sự vô hiệu. Trái lại, giới lãnh đạo này đã nỗ lực tối đa
để dấu diếm sự thật về tình hình miền Nam Việt Nam, xuyên tạc sự thật đến độ
ngay cả người Mỹ cũng tin rằng không có một giải pháp chính trị nào khác
ngoài tình trạng hiện hữu.
Đặt hết trọng tâm vào việc diệt hết những người quốc gia đối lập, chế độ
cố gắng thay sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam bằng sự trợ giúp của người Mỹ.
Ngô Đình Diệm cố tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ chống Cộng “bất khả
thay thế”, và ngày nào mà người Mỹ còn tin rằng ông Diệm là “bất khả thay
thế” thì ngày đó ông Diệm không cần sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam, vì ông
ta có thể dựa vào sự ủng hộ vô điều kiện và vô giới hạn của người Mỹ.
Không thể nào thoát ra được cái vòng luẩn quẩn do mối liên hệ Việt-Mỹ ấy
tạo ra nếu không đặt một hướng đi mới cho chính sách của Mỹ, một hướng đi
dẫn đến sự xuất hiện của một giới lãnh đạo chính trị khác, không Cộng Sản,
tại miền Nam Việt Nam.
Tôi còn một lời cuối cùng cho những ai thắc mắc về việc tôi tránh đưa ra
những đề nghị chi tiết, những giải pháp tích cực trong cuốn sách này.
Tôi nghĩ là chưa cần phải đưa ra đề nghị về những giải pháp chi tiết cho
cuộc thay đổi tình hình tại miền Nam Việt Nam, khi mà mọi người liên hệ đến
tình hình ấy vẫn chưa tin rằng cần thay đổi. Vì nếu nhu cầu thay đổi này
không được công nhận thì mọi giải pháp đề nghị ra đều vô nghĩa.
Nói cách khác, những bạn hữu của Việt Nam tự do phải biết rằng chế độ
hiện nay tại miền Nam Việt Nam không thể tồn tại được, rằng chế độ ấy không
có khả năng xây dựng Việt Nam thành một quốc gia tân tiến, và không thể đánh
bại được Cộng Sản. Sự kiện thiết yếu này phải được công nhận rõ ràng trước
khi tìm kiếm một giải pháp để bảo đảm khả năng sinh tồn của miền Nam Việt
Nam.
Niềm hy vọng của tôi là sự kiện thiết yếu nói trên được tất cả các bạn
hữu của Việt Nam tự do công nhận.
Cambridge, tháng 11 năm 1962
CUỘC CÁCH MẠNG NGÀY 1-11-63
Lời
Tòa soạn
Trích từ: Nguyệt san Minh Tân
bộ mới số 7 (ngày 25/11/63)
Cơ quan ngôn luận của Hội Khổng
Học Việt Nam-Sài Gòn.
Cuộc cách mạng ngày 1-11-63 do Quân đội Việt Nam Cộng hòa lãnh đạo đã
thành công trong công việc lật đổ chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình
Diệm.
Cơn ác mộng đè nặng trên đầu dân tộc Việt Nam suốt trong 9 năm trường đã
qua rồi.
Chúng ta nhìn về đàng trước với một niềm phấn khởi vô biên, một chế độ
mới, hợp với nguyện vọng nhân dân đang được xây dựng.
Lực lượng kiến tạo nền tảng của chế độ mới, Quân đội Cộng hòa Việt Nam do
Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng lãnh đạo đã lấy máu xương dựng lên trang sử oai
hùng, xứng đáng với niềm tin sâu xa của toàn dân và lòng khâm phục của nhân
dân thế giới.
Trong 9 năm qua, nhân dân Việt Nam đã quằn quại dưới bàn tay tàn bạo của
gia đình Ngô Đình Diệm và bè lũ tay sai tham nhũng. Chúng đã gây cho nhân
dân Việt Nam nhiều nỗi đau thương.
Trong khi mọi người ra sức đấu tranh chống lại tập đoàn Cộng Sản Việt
gian do Hồ Chí Minh cầm đầu, thì họ Ngô lùi lại phía sau để đâm lén những
nhát dao chí mạng vào lưng những người cách mạng, họ Ngô đã dựa vào cách
mạng để tiêu diệt cách mạng, họ Ngô đã dựa vào nhân dân để phản bội nhân
dân. Sự thực đó đã hiển nhiên và sáng tỏ như ánh sáng mặt trời. Người ta
chưa thể quên được những ngày mà số mệnh họ Ngô leo lét như ngọn đèn trước
gió vào năm 1955. Ngày đó Ngô Đình Diệm dựa vào lực lượng Cao Đài và Liên
Minh để tồn tại và liền đó địa vị tạm vững vàng, họ Ngô đã cấu kết với thực
dân dàn cảnh để hạ sát Trung tướng Trình Minh Thế, một chiến sĩ quốc gia ưu
tú. Đi sâu mãi vào con đường tội lỗi, năm 1956 họ Ngô đã lợi dụng lòng tin
của các chiến sĩ giáo phái Hòa Hảo để bắt và hạ sát Thiếu tướng Lê Quang
Vinh. Từ đấy, với một quyền hành được củng cố, họ Ngô mặc tình thao túng,
giả danh luật pháp để loại khỏi chính trường không biết bao nhiêu người cách
mạng chân chính quốc gia.
Tới khi họ Ngô làm lễ kỷ niệm 9 năm chấp chánh thì nhân dân Việt Nam đã
phải trải qua không biết bao nhiêu điều đau đớn, phải gánh nhận không biết
bao nhiêu tang tóc bi thương. Toàn thể nhân dân Việt Nam đều có với họ Ngô
một mối nợ máu cần phải trang trải và bộ mặt thật của họ Ngô đã bị lột trần
bởi những bàn tay vấy máu của họ. Vụ đàn áp Phật giáo, chà đạp lên quyền tự
do tín ngưỡng do họ Ngô chủ trương đã gây ra cái chết cho không biết bao
nhiêu những con dân đất nước từ Thủ đô đến khắp mọi nẻo hẻo lánh xa xôi.
Hành động vô lương tri này của họ Ngô đã khiến một nhà tu hành đức độ là Hòa
Thượng Thích Quảng Đức phải đem mạng sống ra làm một lời cảnh cáo. Nhưng
ngựa không bao giờ quên đường cũ, họ Ngô đã trắng trợn phỉ báng cái chết anh
dũng đầy cao quý của Hòa Thượng Thích Quảng Đức và tiếp tục đàn áp tôn giáo
cũng như đàn áp mọi quyền tự do căn bản của nhân dân. Nào bắt bớ tù đày
những phần tử ái quốc, khủng bố đàn áp học sinh, sinh viên làm cho nhân dân
trong nước và nhân dân thế giới phải ghê tởm trước những hành động bạo ngược
và bỉ ổi đó. Mặc cho dư luận quốc tế xôn xao phản đối, mặc cho nhân dân
thống khổ rên la, bè lũ họ Ngô không những không nới tay mà lại còn lồng lộn
như thú dữ. Chúng lớn tiếng phản đối tất cả dư luận và la là Đông Tây toa
rập để chống lại “Việt Nam Cộng Hòa” và cho những hành động đó đều do Cộng
Sản xúi giục. Bất cứ ai hễ có hành động chống lại chúng là bị chúng chụp cái
mũ cho là Cộng Sản.
Nhưng không vì thế mà nhân dân Việt Nam đành khoanh tay ngồi nhìn để mặc
cho chế độ bạo tàn tung tác.
Lửa đấu tranh đòi quyền sống của dân tộc đã bùng lên quá mạnh, không có
một sức mạnh bạo tàn nào có thể cản được ngọn lửa ấy.
Các vị tu hành vẫn tiếp tục tự thiêu. Sinh viên, học sinh các giới Phật
tử vẫn tiếp tục xuống đường để phản đối một chính quyền bạo tàn, bất chấp cả
lưỡi lê và súng. Sự tranh đấu oai hùng của dân tộc đã được thế giới tự do và
các nước bạn đặc biệt lưu ý ủng hộ.
Khi nhận thấy bị cô lập, Ngô Đình Diệm và bè lũ thừa biết số phận chúng
và chế độ thối nát thế nào cũng bị ngọn lửa đấu tranh của nhân dân đè bẹp
tiêu tan, nên chúng đã trắng trợn âm mưu bắt tay với Cộng Sản, kẻ thù của
dân tộc để củng cố địa vị.
Quân đội Cộng Hòa Việt Nam có một tinh thần truyền thống bất khuất không
thể để quốc gia rơi vào cảnh diệt vong, nên đã anh dũng đứng lên làm cách
mạng. Đúng 1 giờ 30 chiều ngày 1-11-63-tiếng súng cách mạng bùng nổ. Chế độ
độc tài gia đình trị đã cáo chung, Ngô Đình Diệm và bè lũ đã đền tội. Dân
tộc Việt Nam đã bước vào một vận hội mới, dưới sự lãnh đạo của Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng và Chính phủ lâm thời, đã được toàn dân nhiệt liệt hoan
nghênh ủng hộ.
Lời Tòa Soạn Nguyệt San Minh Tân
Cơ quan ngôn luận, Hội Khổng Học Việt Nam
Bộ mới số 7 ngày 25-11-1963, Sài Gòn.
CHUNG QUANH LOẠT BÀI “NHỮNG XUYÊN TẠC, NGỘ NHẬN VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM”
* Tác giả: Bài chất vấn của ông Nguyễn Kim Long, trí thức Thiên Chúa Giáo
(Paris).
Bài trả lời của ông Lê Quân, trí thức Phật giáo (Los
Angeles).
* Trích từ: Tạp chí Khai Phóng,
số 6 (tháng 10/1981) xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ.
BÀI CHẤT VẤN
Khi đọc lần thứ nhất bài “Những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật Giáo Việt
Nam” của Lê Quân (Khai Phóng số 3, trang 39-48), tôi không
thể không thán phục giọng văn điêu luyện và có vẻ hấp dẫn của tác giả nói
trên. Tuy nhiên, khi đọc lần thứ hai, tôi lại có cảm tưởng hình như tác giả
bị “tên độc tài chuyên chế Ngô Đình Diệm” bỏ tù (?) nên đâm ra uất ức và hay
lập đi lập lại những ý tưởng mà tôi có cảm tưởng là chưa có thể làm sáng tỏ
vấn đề xuyên tạc và ngộ nhận.
Tuy là một tín đồ Công giáo (chứ không phải Thiên Chúa giáo hay Kitô
giáo), và nhất là không phải sống trong thời chính phủ Ngô Đình Diệm cầm
quyền, tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả và Linh mục Cao Văn Luận - mà tác
giả hay trích dẫn qua quyển “Bên Giòng Lịch Sử” - về một số biện pháp cai
trị thiếu dân chủ của chính phủ Ngô Đình Diệm.
Nhưng, tôi hoàn toàn không đồng ý với tác giả về những điểm sau đây:
1) Cho dầu độc tài đến mức nào đi nữa (mà sau khi ông Ngô Đình Diệm vừa
bị hạ sát, thì đài BBC - Luân Đôn đã bình luận như thế này: “Ông Diệm là một
trong những nhà độc tài ít độc tài nhất”), chúng ta không thể đặt ngang
hàng ông Ngô Đình Diệm với “bác” Hồ Chí Minh ở hàng ghế tội phạm.
Tác giả lấy cớ là ông Diệm tàn ác, nào là nhốt cả “3.000 tù nhân chính
trị tại Côn Đảo”, nào là “sản phẩm của thế lực ngoại bang (Mỹ) như Hồ Chí
Minh (là sản phẩm của ngoại bang là Nga)”, nào là “liên tục tiêu diệt (như
Hồ Chí Minh) các lực lượng dân tộc”, nào là “300.000 (không xa với sự thực
là bao) Phật tử bị thảm sát”, v.v...
Chúng tôi xin để qua một bên những con số chưa kiểm chứng được, tôi chỉ
xin đưa ra một nhận xét này: chúng ta nên phân biệt rõ ràng tiêu chuẩn “nô
lệ cho ngoại bang” và bối cảnh lịch sử của những đường lối chính trị mà tôi
tạm gọi là “tùy cơ ứng biến” để dịch ngữ “Realpolitik” trong tiếng Đức. Nói
thế, tôi muốn đặt câu hỏi với tác giả: Tướng De Gaulle, nhờ phe đồng minh
yểm trợ, nên mới có thể về giải phóng nước Pháp, có phải là một hành động nô
lệ không? Thật ra, còn biết bao nhiêu ví dụ khác, cả trong lịch sử Việt Nam,
mà tôi xin miễn dài giòng.
Chúng ta cũng không nên quên rằng chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, vì
không muốn Hoa Kỳ đem lính sang Việt Nam, không chấp nhận cho Hoa Kỳ toàn
quyền khai khẩn rừng Việt Nam (tác giả Lê Quân nghĩ sao về số 200.000 lính
Hoa Kỳ tại Cộng Hòa Liên Bang Đức để so sánh với số 18.000 cố vấn quân sự
thời Ngô Đình Diệm? Đức có bị lệ thuộc hay nô lệ Hoa Kỳ không?)... nên mới
bị ám sát. Ngay trước khi chết, chính Đại sứ Henry Cabot Lodge hứa sẽ để cho
Diệm thoát thân ra hải ngoại “nếu ông Diệm từ chức” thì cố Tổng thống đã
khảng khái trả lời là nếu ông đã được dân bầu thì ông chỉ từ chức trước nhân
dân (chứ không có lý do gì bị một tên Đại sứ áp chế phải từ chức). Vì bất
đồng ý kiến với đường lối “xâm phạm vào nội bộ Việt Nam” nên chính ông Diệm
và ông Nhu đã ngầm liên lạc với chính quyền Hà Nội (qua Đại sứ Ấn Độ tại Sài
Gòn và Uỷ viên Ấn Độ trong Uỷ Hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến) để đi đến
một cuộc ngưng bắn và thỏa hiệp.
Đó là chúng ta chưa kể những lối mưu mô của ông Nhu (cho lính giả làm
Việt Công) mưu sát một số tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam có máu muốn
áp đảo Chính phủ Ngô Đình Diệm vì đường lối chính trị độc lập (mà người Mỹ
cho là “cứng đầu” của ông).
Như thế, tôi thấy không có một lý do nào cho rằng, vì Hoa Kỳ đã cho ông
Diệm ở đậu tại Maryland (đúng ra, là tại một chủng viện truyền giáo
Maryknoll, vì có Đức Hồng Y Spellman ủng hộ...) nên ông Diệm là tay sai và
nô lệ của Hoa Kỳ.
2) Chúng tôi chưa thấy khi nào Chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố
(qua các sắc lệnh hay đạo dụ) coi Công giáo (chứ không phải Thiên
Chúa giáo) như một Quốc giáo. Một số nhân viên cao cấp thời Đệ I Cộng
hòa vẫn còn sống và quí vị này có thể là những nhân chứng cần thiết cho việc
ghi lại quãng lịch sử Việt Nam thời Chính phủ Ngô Đình Diệm.
Chúng tôi không biết Chính phủ ông Ngô Đình Diệm (xin lỗi, khi nói Chính
phủ Ngô Đình Diệm, chúng ta đừng quên những nhân vật “Phật giáo” như các ông
Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu, Bộ trưởng Ngoại Giao!) có ra
một sắc lệnh nào bảo rằng Đạo dụ số 10 của cựu Quốc trưởng Bảo Đại có hiệu
lực. Điều chắc chắn là trong hiến pháp Đệ I Cộng Hòa xem tất cả các tôn giáo
tại Việt Nam đều có quyền và bốn phận như nhau.
Vấn đề cho phép treo cờ (tại Huế) chỉ là một chi tiết nhỏ trong những chi
tiết. Dĩ nhiên, chúng ta không chối cái là có những lạm dụng quyền hành ở
cấp dưới, nhất là hàng Quận và Xã, nhằm bắt nạt để “lập công” với Đảng Cần
Lao. Lối “lập công” này không có tính cách kỳ thị tôn giáo, nhưng đúng hơn
là để một tệ đoan trong một xã hội mới tập tễnh vào con đường dân chủ.
Tuy nhiên, điều mà tác giả Lê Quân không nhắc đến - là sau khi đã hạ bệ
được Diệm - Nhu - Cẩn, phe Phật giáo đã lần lượt đốt phá một số nhà người
Công giáo công chức (của chế độ Diệm-Nhu) tính từ Huế trở vô đến Nha Trang,
lúc ấy tôi có cảm tưởng là phe Phật giáo làm một công việc như Thập Tự Quân
(thời Trung Cổ) đi đánh người Ả Rập vậy! Các làng đông người Công giáo, nhất
là ở Đà Nẵng (Nội Hà, Chính Trạch, Thanh Bồ, Đức Lợi), Quảng Ngãi, Quy Nhơn
và Tuy Hòa... bị bao vây và khủng bố (với sự đồng lõa của ông Nguyễn Chánh
Thi!).
Vậy thì những lạm quyền ở cấp dưới lúc nào cũng có. Còn như chỉ căn cứ
vào một số sách vở ngoại quốc viết thì e rằng chúng ta (tác giả và cả tôi
nữa) có thể vô tình làm “nô lệ” cho những phương tiện truyền thông một chiều
đương thời (do các nhóm tài phiệt khuấy động và ngầm điều khiển). Cũng của
ngoại bang!
3) Phong trào chống đối chưa phải tiên thiên là một cuộc cách mạng hay
cuộc vận động cách mạng, nhất là khi chống đối vì “tôn giáo bị đàn áp”.
Ở điểm này, độc giả như tôi chẳng hạn, rất mong tác giả bài báo đưa ra những
chương trình cách mạng 30-4-1963 (!) do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đề xướng
và huy động. Đúng ra, tất cả các cuộc cách mạng thật sự đều phải được số
đông quần chúng yểm trợ và cho là hợp lòng dân. Như thế, ở đây, chúng ta
mong đợi tác giả cho một vài con số về tín đồ Phật giáo (Đại Thừa hoặc Tiểu
Thừa, Ấn Quang hoặc Xá Lợi...) ủng hộ và xuống đường trong khoảng trước
1-11-1963. Và tỷ số Phật giáo?
Nhưng tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả là ngày 1-11-1963 chưa phải là
cuộc cách mạng.
Còn chữ “Vận Động Cách Mạng “ mà tác giả hay dùng thật sự tôi không hiểu
rõ lắm, vì “công bằng xã hội” vốn là lý tưởng mà bất cứ đoàn thể hay tôn
giáo, hay chủ thuyết nào cũng chủ trương. Hoặc là bị đàn áp (tín ngưỡng) nên
mới đứng lên đòi cải tổ (mà không triệt hạ, theo lời tác giả)?
Tôi rất tiếc là tác giả cho là các “chính quyền” (người Cộng Sản hay gọi
các Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam đều là chính quyền) “từ Ngô Đình Diệm đến
Nguyễn Văn Thiệu” đều là có “bản chất tay sai, lệ thuộc vào Mỹ”. Thế thì tại
sao Phật giáo đã không đủ sức để vận động đưa “cách mạng đến thành công”,
nhất là dưới trào Phan Khắc Sửu? Vì lúc đó “Giáo Hội” Thiên Chúa giáo đã bị
lép vế kia mà! Chúng ta nghĩ sao về thái độ của một thầy Thích Trí Quang xin
“tị nạn” vào Tòa Đại Sứ Mỹ. Vậy thì ông Trần Văn Hương, một chính trị gia mà
tôi rất khâm phục, cũng đàn áp Phật giáo nữa?
Tôi luôn luôn khâm phục tất cả những tín đồ Phật giáo, và cũng như tất cả
các tín đồ các tôn giáo khác, luôn luôn có thái độ ôn hòa và thức thời trong
những lúc mà nước nhà biến loạn. Có thể những thành phần này đồng ý với tôi
ở điểm này: Những người như ông Ngô Đình Diệm hay Trần Văn Hương đã và vẫn
là những người chân chính và thực sự yêu nước.
Đổ tất cả tội lỗi trên đầu một người hay một gia đình, tôi cho đó là một
lối trốn chạy thiếu ý thức hoặc chỉ là một lối võ đoán (a posteriori) sau
khi việc không thành.
Tôi viết ra những dòng này cũng chỉ để góp ý kiến mà thôi, vì đây là
những cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đọc qua bài của Lê Quân. Thật sự, nếu
tôi phải lục ra tất cả sách vở để làm bằng chứng hay biện minh cho những
điều tôi nói trên thì chẳng qua đó cũng chỉ là một bài khảo cứu, có khi cả
là một quyển sách dày cộm.
Cũng trong chiều hướng này, tôi ao ước cũng sẽ có đông các học giả uyên
thâm viết lại những dòng lịch sử (như lịch sử thời Ngô Đình Diệm chẳng hạn)
hay những bài báo như bài của Lê Quân. Dĩ nhiên là chúng ta tôn trọng khác
biệt tư tưởng của mọi người, vì chúng ta chuộng tinh thần tự do và dân
chủ-nếu không chúng ta lại giống người Cộng Sản Mác-Lê.
BÀI TRẢ LỜI
Vài lời thưa riêng
Là tác giả của loạt bài “Những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật giáo Việt
Nam” tôi rất cảm kích những ý kiến trao đổi của anh Nguyễn Kim Long.
Xuất phát từ sự cảm kích này và bởi vì bài góp ý của anh Long đã có những
câu hỏi trực tiếp đặt ra cho tôi chung quanh vấn đề nêu lên buộc lòng tôi
phải viết thêm bài này. Đây là điều hoàn toàn trái ngược lại với ý định của
tôi - cái ý định chỉ đề cập một lần mà không trở lại vấn đề “chế độ Tổng
thống Diệm và cuộc vận động cách mạng 1963 của Phật giáo” một lần nào khác
nữa, ít nhất là trong lúc này, bởi những lý do tế nhị của nó.
Tuy vậy, bài viết thêm này không chỉ là một bài trả lời. Nó còn là một bổ
túc cần thiết cho bài báo đã đăng về những gì mà bài báo đó đã không nói
được hay chưa nói được hết.
CĂN BẢN CỦA VIỆC ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước hết, tôi muốn xác định hai điều có tính
cách căn bản:
1) Mặc dầu tôn trọng tất cả những cảm tưởng, cảm nghĩ, nhận xét của anh,
tôi vẫn xin nói ngay rằng, cái cảm tưởng “hình như tác giả bị “tên độc
tài chuyên chế Ngô Đình Diệm” bỏ tù (?) nên đâm ra uất ức” là hoàn toàn
không đúng với thực tế. Tôi đã không bị bắt bỏ tù ở Chín Hầm, Côn Đảo hay
bất cứ một nhà tù tương tự nào khác dưới chế độ ông Diệm. Bản thân tôi, do
đó, vốn không có gì để phải uất ức và nuôi dưỡng sự uất ức đến ngày nay đối
với chế độ này. Vả chăng, tôi không quen và không từng viết bài bằng vào cái
ý thức “để đáp trả lại những gì mà kẻ khác đã gây ra cho mình” theo kiểu “ân
oán giang hồ” xưa nay. Điều khác biệt căn bản giữa anh với tôi là điều này:
trong khi anh “đã không phải sống trong thời Chính phủ Ngô Đình Diệm cầm
quyền” như chính anh xác nhận thì ngược lại, tôi đã phải sống trong thời
này và lại sống ở nhiều nơi khác nhau trên những vùng đất khốn khổ của quê
hương. Vì đã sống như thế mà dù muốn dù không, tôi cũng đã phải chứng kiến
tận mắt, một phần nào, những nỗi tủi nhục đau thương diễn ra chung quanh
mình cho những người mà trước khi là đồng đạo, họ đã là đồng bào của tôi. Đó
là những giọt nước mắt của những người đã bị buộc phải bỏ nơi chôn nhau cắt
rốn để lên sống ở những vùng Dinh Điền trên Cao nguyên rồi lại bị buộc phải
từ bỏ “Đạo cũ” để có thể nhận được một tấm tôn, một lon gạo hay một khúc
bánh mì. Đó là khuôn mặt chất ngất đau thương của một người bị trói đứng
dưới cột cờ ở một vùng Dinh Điền chỉ vì đêm hôm trước, ông ta đã tụng kinh
trước bàn thờ Phật ở trong nhà. Đó là tiếng kêu tủi nhục của hàng ngàn người
ở Huế trong một mùa Phật Đản vì họ đã không thể thực hiện được cuộc rước
Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm khi mà một khải hoàn môn có hình Đức Mẹ
và cờ Tòa Thánh Vatican đã được dựng lên trên cầu Trường Tiền vào đúng ngày
Phật Đản này. Đó là sự phẫn nộ không nói được ra lời của một số ngư dân ở Đà
Nẵng khi một ngày vào năm 1956, trông lên chùa Non Nước ở Ngũ Hành Sơn, thấy
một cây Thập Tự Giá được ai đó cắm lên. Đó là những lời ta thán của những
người dân vô tội ở thị xã Quảng Ngãi dưới thời ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn
Tất khi bị bắt buộc dời mồ mả cha ông từ bao đời đi nơi khác để dành đất xây
một ngôi nhà thờ. Đó là hình ảnh những thân thể vùng vẫy như điên như dại
trong cơn mê sảng của những người - trong số có bạn bè của tôi - bị tấn công
bằng lựu đạn cay, lựu đạn khói trong những ngày Phật giáo đấu tranh của năm
1963. Đó còn là nhưng câu nói mà tôi đã được nghe trong cái thời đang còn
cắp sách đến trường trung học: “phải dẹp bọn ma quỷ đã cản trở công việc
làm sáng danh Chúa” để hơn một lần, phải tự hỏi, đâu là chỗ đứng của
mình và của những người thân yêu đồng đạo khác nếu như xứ sở nghèo khó này
cứ được dẫn đạo bởi một ý thức như thế. Đó cũng còn là những bài học văn
chương Việt Nam vỡ lòng, khi tuổi thơ chưa có bao nhiêu suy nghĩ đã được
nhét vào đầu óc những câu ca dao (được tuyển chọn trong hàng ngàn câu ca
dao!): “Ba cô đội gạo lên chùa - Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư - Sư về sư ốm
tương tư - ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu” với lời dặn dò nghiêm khắc của vị
giáo sư: “Phải học thuộc lòng vì đây là những câu ca dao tiêu biểu”, (may
mắn là khi lớn lên tôi đã biết rằng, nền giáo dục mà tôi thụ hưởng đó là một
nền giáo dục nối dài, ít nhất là trên căn bản tinh thần, của nền giáo dục
thực dân Pháp trước đó và biết thêm nữa rằng, ca dao Việt Nam còn rất nhiều
những câu châm biếm các tôn giáo khác, chứ không riêng gì Phật giáo, nhất là
ở dưới các thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... Còn nếu không thì thực là
rất khó để tôi có thể hình dung ra được hình ảnh của một vị tu sĩ Phật giáo
khả kính là như thế nào, dù có muốn đi chăng nữa).
Thế đó. Tôi không có những uất ức của cá nhân mình. Tôi chỉ có những tủi
nhục chung của cả một thế hệ đồng bào và đồng đạo - những tủi nhục thống
thiết đến nỗi, đã có người phải chết vì nó - những tủi nhục mà tôi đã cảm
nhận như một liên hệ với máu xương của chính mình. Nhưng dù có cảm nhận như
thế, tôi vẫn chưa bao giờ để nó trở thành một thứ “mặc cảm tôn giáo” hay rõ
hơn, một thứ “tình cảm uất ức vì tôn giáo” dù đây là thứ mặc cảm đã
từng có ở một số người Việt Nam chúng ta. Tôi không để nó trở thành thứ mặc
cảm này vì tôi không bao giờ tin rằng, sự tranh chấp tôn giáo lại là một
điều có thực. Mọi sự tranh chấp mà người ta gọi là “tranh chấp tôn giáo” chỉ
là những sự kiện giả tưởng trong lịch sử nhân loại. Bởi vì, không làm gì có
cái gọi là tranh chấp tôn giáo khi mà mục đích của tôn giáo là Giải Thoát,
là Cứu Rỗi mà ý nghĩa trước hết của nó phải là Giải Thoát, Cứu Rỗi con người
ra khỏi chính vỏ bọc tôn giáo, ra khỏi tình trạng nô lệ của con người vào
chính tôn giáo của mình.
Sự “tranh chấp tôn giáo”, “mặc cảm tôn giáo”, do đó, chỉ là sự tranh chấp
của con người, chỉ là cái mặc cảm của những kẻ nô lệ vào chính tôn giáo của
mình, biến tôn giáo của mình thành một thứ pháo đài hay một cái vỏ bọc mà
thôi.
Đó là một phần trong căn bản ý thức của tôi. Chính trên căn bản ý thức
này mà tôi không nhìn nỗi tủi nhục kia như là vấn đề tôn giáo với tôn giáo.
Cũng như ngay cả với một tủi nhục thống thiết hơn - cái tủi nhục của những
ngày sau 1954, theo chân những người lớn trong họ hàng đi tìm xác những
người chú, người bác của tôi đã bị Việt Minh chôn sống trong khi tôi chưa
biết Việt Minh là gì - ngay cả với cái tủi nhục này, về sau, tôi cũng không
nhìn nó như là vấn đề người Việt với người Việt. Bởi vì, giữa những con
người Việt Nam đích thực, những con người không chỉ cùng một quốc tịch mà
còn là cùng một màu da, một dòng máu, một ngôn ngữ, một lịch sử hay nói một
cách cụ thể và thắm thiết hơn, cùng là đồng bào với nhau, tôi không bao giờ
tin rằng, lại có thể đối xử với nhau như thế. Tất cả nỗi tủi nhục này cũng
như tất cả những đau thương vô hạn mà dân tộc ta đã chịu đựng, cũng như tất
cả mọi cuộc chiến tranh đã diễn ra trên quê hương, tất cả đó, đối với tôi,
phải được nhìn trên bình diện lịch sử. Đứng trên bình diện này mà nhìn,
chúng ta sẽ thấy ra rằng, kẻ gây ra đau khổ hay kẻ chịu đựng đau khổ, tất cả
đều là nạn nhân của lịch sử. Vấn đề do đó, không phải là sự thay đổi sự
ưu thế của tôn giáo này bằng một tôn giáo khác, không phải là thay đổi lãnh
tụ này bằng một lãnh tụ khác vì nếu chỉ có như thế thì cũng không thay đổi
được cái số phận nạn nhân này. Vấn đề thiết cốt là phải thay đổi lịch sử.
Tôi tin rằng, chỉ có một sự thay đổi như thế, dân tộc ta mới có thể thoát
được những thảm họa điêu linh như đã có từ trước tới nay. (Tôi sẽ nói rõ hơn
điểm này ở sau). Nhưng để làm được một sự thay đổi như thế - và đây là điều
tôi muốn nói bằng vào những tủi nhục kia - đó là chúng ta ngày nay hãy
đừng bao giờ ngang nhiên dẫm đạp lên và sống bằng cái đau thương của bất cứ
ai, của bất cứ quần chúng tôn giáo nào cũng như của cả dân tộc. Chính vì
thế, một phần trong kết luận của bài báo nói trên, tôi đã viết: “phải thấy
rằng, cái chết của bất cứ một người dân nào - dù nhỏ bé đến đâu - tự bản
chất cũng đều mang tất cả cái ý nghĩa đau khổ như cái chết của một bậc đế
vương to lớn”. Đây không phải chỉ là tư tưởng. Đây là tư tưởng đối chiếu với
thực tại sống của con người. Và vì thế, nó thiết yếu phải trở thành thái độ
sống của mỗi chúng ta đối với đồng bào và đồng loại và là thái độ cần thiết
cho một sự thay đổi lịch sử. Trong khi lịch sử đã và đang nghiền nát dân tộc
ta, trong khi chủ nghĩa Cộng Sản và chế độ Cộng Sản Việt Nam đã và đang chà
đạp cả dân tộc ta dưới vũng lầy đau thương, lẽ đâu một thái độ như thế lại
không cần được nói lên?
2) Bài báo của tôi hoàn toàn không có chủ ý nói về con người của Tổng
thống Diệm để kết tội (hay bênh vực) ông ta cũng như hoàn toàn không có chủ
ý làm công việc so sánh giữa ông Ngô Đình Diệm với ông Hồ Chí Minh hay với
bất cứ một ai khác. Một cá nhân dù quan trọng thế nào và sự tôn thờ hay kết
tội cá nhân đó dù được đặt ra trên căn bản nào, đối với tôi, cũng không phải
là điều đáng nói trước những vấn đề bức bách cả một xứ sở điêu linh tan nát
với cả một dân tộc lầm than đày đọa. Chủ ý của tôi trong bài báo đã đăng,
một mặt, nhằm góp phần soi sáng một số những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật
giáo Việt Nam (có thể kể luôn cả những mạ lỵ, phỉ báng, chưởi bới nó liên
tục trong sáu năm qua ở hải ngoại mà tôi tự thấy, chúng hoàn toàn không xứng
đáng để thiết lập một cuộc đối thoại, trao đổi) để từ đó, nhằm phục sinh cái
ý thức về vai trò và sứ mạng của người Phật tử cho công cuộc cấp cứu dân tộc
ta hiện nay; mặt khác - và đây mới là chủ ý quan trọng nhất - nhằm góp phần
cho một suy nghiệm đúng đắn và thắm thiết về lịch sử và thời đại của chúng
ta.
Chính trong viễn tượng đó, vấn đề mà bài báo đặt ra không phải là con
người, là công hay tội của Tổng thống Diệm so với ông này, ông khác. Vấn đề
là bản chất của chế độ Tổng thống Diệm trong liên hệ với bối cảnh lịch sử
của thời đại, là những chủ trương, chính sách của Chính phủ ông Diệm trong
liên hệ trực tiếp với quần chúng - ở đây là quần chúng Phật tử, và qua đó,
trong liên hệ đến chính sinh mệnh của dân tộc. Vấn đề đặt ra như thế sẽ
soi sáng như thế nào cho một suy nghiệm lịch sử? Tôi xin được nói rõ hơn
điểm này.
Tất cả những máu xương và tủi nhục của các thế hệ cha ông và của chúng ta
ngày nay phải có giá trị như một đóng góp cho sự suy nghiệm cần thiết về
lịch sử, nếu chúng ta không muốn nó trở thành vô nghĩa. Chính sự suy nghiệm
này rồi sẽ cho chúng ta có được cái ý thức lịch sử, bao gồm cả ý thức về con
đường phải đi tới của chúng ta. Lịch sử không phải là những tình cờ dầu cho
chúng ta vẫn thường nói đến những tình cờ lịch sử. Lịch sử cũng không phải
là một thứ Định Mệnh tiên thiên, vốn xuất phát từ những ảo tưởng bất thực
trước sự bất lực tuyệt vọng của con người đối với số phận của chính mình và
đồng bào, đồng loại. Lịch sử là của con người và do chính con người sáng tạo
ra nó. Cái thời vay mượn Thần Linh để giải thích lịch sử của các nhà tôn
giáo học đã qua rồi. Bởi vì, cuối cùng, thực tại lịch sử đã cho thấy, không
phải là sự chiến thắng hay chiến bại của Thần Linh mà chính là sự chiến
thắng hay chiến bại của con người, là sự thống trị hành hạ hay bao dung xây
dựng của con người đối với chính con người. Có thể con người đã nhân danh
Thần Linh để làm, ngay cả để giết nhau (như trong cuộc chiến tranh Do Thái
và các nước Ả Rập ở Trung Đông, như cuộc Cách Mạng Hồi Giáo hiện nay ở
Iran...) nhưng hậu quả thì vẫn là con người gánh chịu chứ chẳng phải một ông
Thần Linh nào, (phải chăng là những kẻ lường gạt tinh minh như Fuerbach, như
Marx, Engels, như Lenine, Mao Trạch Đông... đã sớm thấy điều này trước hơn
chúng ta và vì vậy, họ đã nắm giữ được một phần trong cuộc vận chuyển lịch
sử của thời đại ngày nay?). Trên căn bản một ý thức lịch sử như thế, đối
chiếu với những nước mắt và máu xương mà dân tộc ta đã đổ ra trong hơn thế
kỷ vừa qua, chúng ta sẽ suy nghiệm như thế nào về lịch sử mà chúng ta đang ở
trong đó? Sự xuất hiện và tồn tại trong 9 năm của chế độ Ngô Đình Diệm (cũng
như của các chế độ đã có hay đang có) tự căn bản là như thế nào?
Câu hỏi trước hết đặt ra là: Lịch sử của chúng ta đã được vận chuyển như
thế nào? Có thể nói ngay rằng, nó đã được vận chuyển trong lòng hai cuộc
cách mạng: 1789 ở Pháp và 1917 ở Liên Xô. Và cả hai cuộc cách mạng này đều
là con đẻ của tinh thần và văn minh Tây phương. Những nhà lập thuyết của
cuộc cách mạng 1789 như Jean Jacques Rousseau, Montesquieu... khi khai sinh
ra hai ý niệm tốt đẹp: Tự Do và Bình Đẳng thì sau đó, lịch sử Tây phương
cũng đã khai sinh ra hai trận tuyến đối kháng với nhau: Tây phương Tư bản
tôn thờ và dẫn dắt một khối người đi theo con đường Tự Do; Tây phương Cộng
Sản tôn thờ và dẫn dắt một khối người đi theo con đường Bình Đẳng. Trong
thực tại cuộc sống Tây phương, điều oái oăm mà chúng ta đã và đang chứng
kiến là: đã Tự Do thì khó có thể Bình Đẳng và ngược lại, đã Bình Đẳng thì
khó có thể có Tự Do. Sự đối kháng có tính cách quyết liệt là cái không thể
không xảy ra. Nhưng điều oái oăm đó lại cộng thêm cả một sự nghiệt ngã: đó
là cả hai khối đối nghịch này đều không có bản chất nhân bản và đều cùng
mang chung bản chất thực dân đế quốc với sự hỗ trợ của những sức mạnh vật
chất khoa học, kỹ thuật, chính sự nghiệt ngã này mà hai trận tuyến của
Tây phương đó đã cuốn hút toàn bộ nhân loại vào với nó và khống chế lịch sử
của hầu hết dân tộc trên thế giới.
Việt Nam chúng ta đã không tránh được sự khống chế này. Không phải chỉ là
ngày nay. Cũng không phải là từ thời ông Diệm. Phải nói là kể từ khi tiếng
súng đầu tiên của Liên Quân Pháp và Tây Ban Nha bắn vào cửa bể Đà Nẵng năm
1858 (nếu không nói xa hơn), lịch sử chúng ta đã bắt đầu cho một chu kỳ mới:
chu kỳ lệ thuộc vào sự khống chế này của Tây phương. Đó là chu kỳ kéo
dài cho đến ngày nay mà chúng ta vẫn chưa tìm ra nẻo thoát. Bao thế hệ cha
ông chúng ta đã vùng vẫy trong tuyệt vọng. Chính chúng ta ngày nay cũng đang
quằn quại trong sự khống chế đó. Hãy điểm lại một số mốc thời gian sau 1858:
Năm 1862 thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam phần. 1867, thực dân
chiếm luôn cả Lục tỉnh. Rồi 1883, 1884, những hòa ước ra đời, chính thức hóa
sự thống trị của thực dân Pháp trên toàn cõi nước ta. Đến 1930, Đảng Cộng
Sản Đông Dương chính thức hành động. Đến đây thì Việt Nam không chỉ nằm
trong sự thống trị của thực dân Tư Bản Tây phương mà còn lại bắt đầu chịu
thêm sự thống trị của Đế Quốc Cộng Sản Tây phương và cả hai đều ở trong thế
cạnh tranh nhau: một bên thì tranh để giữ quyền thống trị và một bên thì
tranh để dành quyền thống trị. Xứ sở bất hạnh của chúng ta đã là nơi tập
trung của cả hai mâu thuẫn lớn nhất thời đại: chúng không chỉ lấy đất làm
địa bàn mà còn lấy người Việt Nam làm phương tiện cho sự tranh giành cấu xé
này. Cuộc chiến tranh 1946-1954 sau đó, dù được Cộng Sản khoác lên bộ áo
giải thực, tự căn bản vẫn chỉ là cuộc chiến tranh giữa hai thế lực đối kháng
này. Và hậu quả của nó là sự hình thành hai nước Việt Nam với mỗi thế lực
khống chế mỗi nước. Miền Bắc trong sự khống chế của thế lực Cộng Sản, miền
Nam trong sự khống chế của thế lực thực dân với ít nhiều biến thái, thay
đổi: Mỹ thay chân thực dân Pháp và ông Ngô Đình Diệm thay thế cho những lá
bài của thực dân Pháp trước đây. Cuộc chiến tranh sau đó lại tiếp tục như
một hậu thân của cuộc chiến tranh 46-54, nghĩa là tự căn bản, vẫn chỉ là
cuộc chiến tranh của hai thế lực đối kháng quốc tế này và cả hai đều lường
gạt con người Việt Nam để dùng nó làm phương tiện và làm vật hy sinh. Cộng
Sản dùng nó để chống lại thế lực thực dân cho Cộng Sản. Ngược lại, thực dân
dùng nó để chống lại thế lực Cộng Sản cho thực dân. Cả hai, bên này và
bên kia đều không bao giờ đặt trên căn bản tinh thần và ý thức dân tộc.
Chính vì thế mà khi Mỹ bỏ Việt Nam thì cả guồng máy chống Cộng to lớn của nó
cũng sụp đổ. Chính vì thế mà khi Cộng Sản chiếm miề |