Chương V
GÓP CÔNG XÂY DỰNG
NỀN MÓNG CHẾ ĐỘ
Trong
giai đoạn 1954-1955, tuy ông Diệm có nhiều kẻ thù nhưng tướng Nguyễn Văn
Hinh vẫn là đối thủ nguy hiểm nhất trên cả hai mặt chính trị lẫn quân sự.
Trước hết, trên mặt chính trị, tướng Hinh có tư cách hợp pháp của một vị
Tổng Tham mưu trưởng của quân đội quốc gia, khác hẳn với những giáo phái võ
trang không được chính thức thừa nhận; ông lại có Quốc trưởng Bảo Đại nâng
đỡ và người Pháp yểm trợ. Trên mặt quân sự, ông có một số thuộc cấp từ cấp
tá đến cấp úy nắm giữ những nhiệm sở có quân nhân tác chiến, ông lại điều
động được các cơ quan tình báo và an ninh với sự hợp tác hữu hiệu của cơ
quan tình báo Pháp, và cuối cùng ông lại vận dụng được một số những bộ phận
võ trang của một vài giáo phái.
Cho nên,
nếu không kể những yếu tố khác thì về mặt tương quan lực lượng, rõ ràng việc
lật đổ Thủ tướng Diệm không lấy gì làm khó. Tuy nhiên, như đã trình bày ở
chương IV, đã có những yếu tố khác chi phối tình hình miền Nam lúc bấy giờ
làm cho Tướng Hinh phải từ bỏ ý định dùng bạo lực lật đổ ông Diệm mà tôi có
thể tóm tắt trong một ngoại lực duy nhất là sự yểm trợ tối đa và vô điều
kiện của Hoa Kỳ trên cả hai mặt chính trị lẫn quân sự. Những công hàm
Washington-Paris, những Lansdale, Foster Dulles, những 300 triệu Mỹ kim quân
viện..., chính những hoạt động và những nhân sự đó chứ không phải cái nội
các nhiều nhiệt tâm nhưng còn tê liệt, cái chiến khu Đông của chúng tôi, hay
cái công điện của ông Ngô Đình Cẩn từ miền Trung đánh vào, đã giúp cho ông
Diệm loại trừ được kẻ thù nguy hiểm nhất này.
Tướng
Hinh ra đi, cả thế cờ của Pháp và Bảo Đại sụp đổ. Vì tướng Hinh, bằng xương
bằng thịt, là đại diện cho sức mạnh chính trị của Pháp và Bảo Đại tại Việt
Nam lúc bấy giờ. Sự sụp đổ đó được biểu hiện rõ ràng nhất trong sự tan hàng
tâm lý của lực lượng quân đội thuộc xu hướng của Tướng Hinh. Tướng Vận ở Nha
Trang trốn vào Sài Gòn rồi biệt tích luôn. Đại tá Trương Văn Xương, Tư lệnh
Quân khu Hai, người đã từng gây khốn khổ cho ông Ngô Đình Cẩn và ông Đại
biểu Chính phủ miền Trung cũng trốn vào Nam. Tại Đà Lạt, đội Ngự Lâm Quân do
tướng Nguyễn Văn Vỹ điều động bị ông Phan Xứng và Thiếu tá Nguyễn Chánh Thi
phần nào tê liệt hóa. Đại tá Linh Quang Viên, Tư lệnh Quân khu Ba ở Ban Mê
Thuột, tuy là một phần tữ quốc gia đối lập với ông Diệm nhưng lại không theo
Pháp và không phục Tướng Hinh, cuối cùng cũng hợp tác với Chính phủ. Đại tá
Vòng-A-Sang người Nùng, thuộc hạ của tướng Vanuxem, di cư vào Nam và đang là
Sư đoàn trưởng Sư đoàn Nùng ở Phan Rí, thấy tình hình bất lợi cũng tuyên thệ
thi hành kỷ luật của quân đội.
Thế là
sau khi Tướng Hinh ra đi, không kể tại miền Trung Trung Việt mà tướng Hinh
không có một cơ sở vững mạnh nào, toàn bộ vùng Duyên Hải và Cao Nguyên Trung
phần trở thành hậu thuẫn vững chắc cho ông Diệm để tiến hành những vận động
cuối cùng quét sạch tàn dư của chế độ Pháp thuộc. Trung tá Nguyễn Quang
Hoành từ Phan Thiết được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu Hai, Thiếu tá
Thái Quang Hoàng được lệnh giải tán chiến khu Đông về làm Tỉnh tướng Bình
Thuận, ông Hồ Trần Chánh, một đảng viên Đại Việt từng ủng hộ chiến khu Đông,
được chúng tôi đề nghị làm Tỉnh trưởng Ninh Thuận. Trung tá Phạm Văn Đổng,
tuy chưa bao giờ ủng hộ ông Diệm nhưng cũng khôn ngoan chưa bao giờ tỏ ra
chống đối Chính phủ, được cử làm Tư lệnh Phân khu Duyên Hải. Chúng tôi mỗi
người được thăng một cấp vì đã bảo vệ được miền Trung: Hoành và Đổng lên Đại
tá, Hoàng và tôi lên Trung tá. Và tuy còn ở trong dinh Thủ tướng, tôi đã
được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Phân khu Duyên Hải, còn Đại tá Lễ thì sẵn sàng
để nhận chức Tổng giám đốc Cảnh Sát Công An một khi đuổi được Bình Xuyên ra
khỏi định chế này.
Song
song với và chính vì việc tướng Hinh ra đi, Lansdale đã vừa dùng tiền bạc
vừa sử dụng lý luận để lôi kéo thêm được tướng Nguyễn Giác Ngộ của Hòa Hảo
và tướng Nguyễn Thành Phương của Cao Đài đem lực lượng của họ về hợp tác với
Chính phủ. Lansdale còn sử dụng kỹ thuật địch vận để dẫn dụ được Đại tá Thái
Hoàng Minh, Tham mưu trưởng của lực lượng Bình Xuyên, đứng lên chống Bảy
Viễn. Tuy việc phản bội của Thái Hoàng Minh bị lộ và cuối cùng bị Bảy Viễn
thủ tiêu, nhưng cái chết của ông ta đã gây một chấn động tâm lý sâu đậm
trong hàng ngũ của lực lượng Bình Xuyên.
Tuy
nhiên, dù ngần đó biến cố thuận lợi đã làm cho “Mặt trận Thống Nhất” của các
giáo phái bị phân hóa và suy giảm sức mạnh rất nhiều, nhưng trong mùa Xuân
năm 1955, ông Diệm vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn vì Thủ tướng Pháp Edgar
Faure vẫn còn muốn xây dựng lại uy thế cho Quốc trưởng Bảo Đại để mong lật
ngược thế cờ. Pháp vẫn còn muốn lợi dụng những lực lượng thù nghịch với ông
Diệm còn sót lại như toàn bộ Bình Xuyên, như Hòa Hảo của Trần Văn Soái, Lâm
Thành Nguyên, Lê Quang Vinh, như Cao Đài của Hộ pháp Phạm Công Tắc, như
tướng Vỹ và một thiểu số Ngự Lâm Quân còn trung thành với Bảo Đại.
Đặc biệt
trong quân đội, mặc dù Thiếu tướng Lê Văn Tỵ đã được ông Diệm bổ nhiệm làm
Tổng Tham mưu trưởng nhưng vẫn còn nhiều sĩ quan cấp tá cao cấp chưa muốn
hợp tác với ông Diệm như các Đại tá Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh, Lê Văn Kim,
các Trung tá Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Là, Trần Tử Oai... Như vậy
thì riêng tại miền Nam, đặc biệt tại Sài Gòn-Chợ Lớn và vùng phụ cận, đứng
trên mặt thuần túy vũ lực (vốn là yếu tố quyết định trong sự hỗn loạn của
tình thế lúc bấy giờ) thì phe Chính phủ và phe đối lập quả thật ngang ngửa.
Từ đầu
Xuân 1955, lực lượng Bình Xuyên tiếp tục gây hấn, khiêu khích đô thành, tấn
công những đơn vị của quân đội quốc gia đi lẻ tẻ và bắn súng cối vào dinh
Độc Lập để chuẩn bị cho âm mưu đảo chánh Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày
30/4/1955, sau khi thuyết phục được tướng Lê Văn Tỵ và một nhóm sĩ quan
thuộc cấp cũ của tướng Hinh, tướng Nguyễn Văn Vỹ bèn vào dinh Độc Lập buộc
ông Diệm phải đi Pháp ngay tức khắc theo lệnh của Quốc trưởng Bảo Đại, đồng
thời tướng Vỹ ra lệnh cho đội Ngự Lâm Quân từ Đà Lạt di chuyển về Sài Gòn và
thông báo cho Trung tá Đỗ Cao Trí, một bạn thân của Vỹ, biết. Trung tá Trí
là Tư lệnh lực lượng Nhảy Dù, đang hành quân tiểu trừ Bình Xuyên, nhưng thâm
tâm vẫn muốn lật đổ ông Diệm.
Cũng
trong ngày 30/4 đó, “Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng” ra đời tại Tòa Đô Chánh
Sài Gòn. Đây là một lực lượng chính trị quần chúng được chuẩn bị từ trước để
làm hậu thuận đấu tranh cho ông Diệm. Hội đồng này do ông Nguyễn Bảo Toàn,
một lãnh tụ Hòa Hảo làm chủ tịch, ông Hồ Hán Sơn, một viên chức của Cao Đài,
làm phó chủ tịch và ông Nhị Lang (hiện ở Mỹ), thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng
và cũng là một phụ tá của tướng Trình Minh Thế làm Tổng thư ký. Thành viên
của Hội Đồng gồm nhiều thành phần đại diện cho mọi tầng lớp quần chúng mà đa
số là thân hữu của ông Diệm, ngoài ra còn có một số do tôi tổ chức từ Phân
khu Duyên Hải vào để đại diện cho miền Trung mà người cầm đầu là giáo sư Hà
Huy Liêm (trường trung học Võ Tánh), đang làm Ủy viên Tuyên Nghiên Huấn của
Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia tỉnh Khánh Hòa.
Chủ tịch
Nguyễn Bảo Toàn là nhân vật uy tín nhất của Phật Giáo Hòa Hảo lúc bấy giờ.
Ông là một nhà cách mạng lão thành từng bôn ba qua Pháp, Tàu, Nhật để đấu
tranh cho nền độc lập quê hương. Ngay từ năm 1947, khi Pháp định thương
thuyết với cựu hoàng Bảo Đại, ông Toàn đã cùng với cụ Nguyễn Hải Thần và ông
Nguyễn Tường Tam thành lập “Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia” đòi hỏi Pháp chỉ
thương thuyết với các lực lượng dân tộc mà thôi chứ không phải với Bảo Đại
hay với Hồ Chí Minh. Từ ngày dấn thân hoạt động cách mạng, ông Nguyễn Bảo
Toàn luôn luôn chủ trương một nước Việt Nam độc lập theo chế độ Cộng Hòa với
một hình thức sinh hoạt hoàn toàn dân chủ. Ông quan niệm sinh họat chính trị
của quốc gia phải hoàn toàn dân chủ mới đáp ứng được nguyện vọng của nhân
dân và mới có thể chiến thắng được Cộng Sản, do đó ông quyết tâm ủng hộ ông
Diệm và truất phế Bảo Đại, mặc dù lúc bấy giờ tính mạng của ông có thể vì
thế mà bị nguy hiểm.
Ngày 30,
trong lúc tướng Vỹ và nhóm sĩ quan thân Pháp vào dinh Độc Lập ép buộc Thủ
tướng Diệm phải đi Pháp (nghĩa là đi không trở về), thì tại tòa Đô Chánh Sài
Gòn, “Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng” cũng thảo luận sôi nổi và Hội nghị ra
tuyên ngôn truất phế Bảo Đại, ủy cho chí sĩ Ngô Đình Diệm tạm thời lãnh đạo
quốc gia trong lúc chờ đợi Hiến Pháp và Quốc hội định đoạt quy chế tương lai
cho đất nước. Họp xong, Hội đồng đi bộ qua dinh Độc Lập để trao tuyên ngôn
cho Thủ tướng Diệm. Không ngờ khi đến nơi thì lại chạm trán với tướng Vỹ và
các “sĩ quan phản loạn” đang làm áp lực ông Diệm. (Có thể cuộc đụng độ này
là do dinh Độc Lập kịp thời thông báo cho Hội đồng để đến tăng cường). Thấy
tướng Vỹ, tướng Trình Minh Thế (và hình như có cả tướng Nguyễn Thành
Phương) bèn bắt giữ tướng Vỹ trong lúc ông Nhị Lang đưa súng lục ra hăm dọa
tướng Vỹ. Thủ tướng Diệm sợ tái mặt, vội vã kéo tướng Vỹ vào phòng riêng để
bảo vệ sinh mạng cho tướng Vỹ, đồng thời yêu cầu Hội đồng đừng bắt hoặc giết
tướng Vỹ. Không phải ông Diệm thương xót gì tướng Vỹ nhưng nếu tướng Vỹ bị
giết thì ắt hẵn những lực lượng yểm trợ tướng Vỹ, vì tình chiến hữu, sẽ
không tha thứ cho ông. Huống hồ gì Trung tá Đỗ Cao Trí lại gọi điện thoại
cho ông Diệm đòi thả tự do cho tướng Vỹ ngay nếu không thì Trí sẽ tấn công
dinh Độc Lập. Cuối cùng, Hội đồng đạt được một thỏa hiệp chung là bắt tướng
Vỹ phải ký giấy xin quy hàng Hội Đồng và hòa mình với nhân dân để đấu tranh
cho đất nước, đổi lại Hội Đồng sẽ trả tự do cho ông ta.
Tướng Vỹ
đồng ý ra về và trong thâm tâm định phản bội lại lời cam kết đó, nhưng phần
vì Ngự Lâm Quân, chủ lực của ông ta đã bắt tay với quân đội, phần vì phản
ứng quyết liệt của lực lượng của tướng Trình Minh Thế nên tướng Vỹ đành chịu
thất bại. Trong lúc tướng Vỹ hoạt động ở Sài Gòn để lật đổ ông Diệm thì
tướng Nguyễn Văn Hinh ở Pháp cũng trên đường trở về Việt Nam để dự định giúp
tướng Vỹ lật ngược thế cờ. Nhưng vì tướng Vỹ đã thất bại, lại vì tình hình
mỗi ngày một thuận lợi cho ông Diệm cho nên tướng Hinh bay đến Nam Vang thì
dừng lại và bay ngược về Pháp.
Về hành
động rút súng và lột lon tướng Vỹ của Nhị Lang, tướng Trần Văn Đôn trong hồi
ký “Việt Nam Nhân Chứng” (tr. 125, 126) ghi nhận rằng “vì hành động
quá khích của Nhị Lang và Hồ Hán Sơn mà tình thế trở nên rối rắm”.
Còn nhà
văn Lê Nhật Thăng trên tạp chí “Ánh Sáng Dân Tộc” (số 2, ngày
15/11/1989) trong loạt bài “Thái Lân và Trần Minh Thế”, khi phê bình cuốn
“Phong Trào Kháng Chiến Trần Minh Thế” đến đoạn ông Nhị Lang khoe khoang:
“tôi nhanh nhẹn rút súng colt 45 trong chiếc cặp ra chĩa thẳng vào người
tướng Vỹ và ra lệnh giơ tay lên không tôi bắn” đã mỉa mai ông Nhị Lang rằng:
“Ông Thái Lân ơi, mỗi khi nhìn
thấy ảnh mình đang rút súng đe doạ một sĩ quan có thấy bẽ bàng vô duyên
không? Tôi xin nói để Nhị Lang biết nếu ông nổ súng là đám sĩ quan ở phòng
bên cạnh sẽ xé xác ông ngay lập tức, may cho ông lắm đó. Chúng ta thấy Diệm
che chở cho Vỹ, trách mắng Nhị Lang và xác định quyền uy của mình. Không
biết Nhị Lang có biết vậy không? Tôi thiết nghĩ Diệm Nhu đã có kế sách nào
đó để đối phó tình hình rối beng mà hành động trật búa, tài khôn của Nhị
Lang chỉ làm Diệm thêm nhức đầu”.
Như vậy
hành động ngang tàng nhưng vô chính trị của ông Nhị Lang chỉ phản ảnh thái
độ “luồng gió bẻ măng”, dựa thế các tướng Trình Minh Thế và Nguyễn Thành
Phương đang có mặt mới dám rút súng làm oai mà không biết rằng hành động đó
có thể đưa đến tai họa cho cả hai ông Diệm Nhu.
-o0o-
Trong
những ngày sôi động tại Sài Gòn mà bạo lực có thể bùng nổ bất cứ lúc nào,
ông Diệm không những đã lo sợ cho tương lai chính trị của ông mà con lo cho
chính bản thân ông nữa. Chỉ quen đấu tranh theo kiểu quan trường, ông rất e
ngại về súng đạn. Chỉ quen dựa vào những thế lực ngoại bang (như Pháp, Nhật,
Mỹ, Vatican), vận dụng chính trị và cũng cố địa vị, ông thiếu tự tin khi
phải đối phó với những quân nhân như Nguyễn Văn Vỹ, Trần Đình Lan, Đỗ Cao Trí …mà vũ lực là lý luận. Nhưng điều làm
cho ông lo sợ nhất là bức tường đồng để ông nương dựa là Hoa Kỳ sẽ có thể bỏ
rơi ông, vì không những ông chấp chánh được là nhờ sự ủng hộ của Hoa Kỳ mà
còn nhờ chính cả những hoạt động tình báo và quân sự của Lansdale. Cho đến
khi cả Đại tá Lansdale lẫn Đặc sứ Collins liên tục tái bảo đảm với ông là
chính sách Mỹ đã quyết định yểm trợ miền Nam do ông lãnh đạo, ông mới thật
sự an lòng để đối phó với tình thế.
Thật
vậy, một ngày trước buổi chạm trán với tướng Vỹ ở dinh Độc Lập, Ngoại trưởng
Mỹ Foster Dulles đã thông báo cho Đại sứ Pháp Couve de Murville ở Hoa Thịnh
Đốn, cũng như Đại sứ Mỹ Dillon đã thông báo cho Thủ tướng Pháp Edgar Faure ở
Paris về quyết tâm của Mỹ nhất định ủng hộ ông Diệm vô điều kiện
[1]. Kết quả cụ thể làm ông Diệm yên tâm nhất là cuối
cùng, dưới áp lực của Mỹ, chính Pháp đã tiếp tế đạn dược cho quân đội để dẹp
phiến loạn Bình Xuyên trong khi chờ đợi một chương trình quân viện dồi dào
hơn sau này.
Sau thất
bại của tướng Nguyễn Văn Vỹ, quân đội mặc nhiên trở thành một lực lượng
trọng yếu nhất trí ủng hộ ông Diệm. Thật ra, từ trước tại Sài Gòn, chỉ có
hai sĩ quan cao cấp và có vị trí then chốt thật sự ủng hộ ông Diệm mà thôi,
đó là Đại tá Dương Văn Minh và Trung tá Phạm Xuân Chiểu. Đại tá Dương Văn
Minh giữ chức Quân Trấn trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn, còn Trung tá Phạm Xuân Chiểu
giữ chức Tham mưu trưởng Quân khu I dưới quyền Đại tá Trần Văn Minh. Ông
Dương Văn Minh tuy xuất thân từ trường võ bị của Pháp ở Tông (Bắc Việt), tuy
phục vụ trong quân đội Pháp nhưng ông vẫn giữ bản chất và phong độ của một
người Việt Nam thuần túy, vẫn nặng tình tự với dân tộc quê hương. Người Pháp
và tướng Hinh vốn không ưa ông Dương Văn Minh nên không giao cho ông chức vụ
chỉ huy có quân sĩ, có đơn vị, để ngăn ngừa hậu họa. Còn ông Phạm Xuân Chiểu
là một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, sau khi bỏ học trường thuốc ở Hà
Nội vì biến cố Nhật đảo chánh Pháp 9-3-1945, bèn vào học trường Võ bị Yên
Bái do người Nhật tổ chức, rồi qua Trung Hoa học trường Võ bị Hoàng Phố. Ở
đây, ông gặp một nữ đảng viên của “Cách Mạng Đồng Minh Hội” của cụ Nguyễn
Hải Thần, hai người trở thành vợ chồng và đều là nhân vật tham gia cách
mạng, có tinh thần chống Cộng rất cao. Mấy năm sau ông về Phát Diệm và được
mời giữ chức chỉ huy tiểu đoàn 2 trong lực lượng Tự Vệ của giáo phận này rồi
trở thành sĩ quan quân đội quốc gia. Với thành tích đó nên ông Phạm Xuân
Chiểu đã hết lòng ủng hộ ông Diệm. Hai sĩ quan này, nhất là ông Dương Văn
Minh, đã ủng hộ và hoạt động đắc lực cho ông Diệm ngay từ phút đầu, ngay từ
khi tướng Hinh chống đối ông Diệm. Ngoài ra, cũng phải nói một trong những
lý do ông Minh ủng hộ ông Diệm là vì người bạn thân của ông là ông Nguyễn
Ngọc Thơ cũng là người bạn quý của ông Diệm. Hai ông Dương Văn Minh và Phạm
Xuân Chiểu đều ở Sài Gòn, đều biết rõ vị trí, âm mưu hoạt động và những kế
hoạch chuyển quân của Bình Xuyên và Pháp nên đã giúp đỡ rất hữu hiệu ông
Diệm trong vấn đề đối phó với quân của Lê Văn Viễn.
Ngoài
ra, ông Diệm còn có Đại tá Mai Hữu Xuân, một sĩ quan nhiều thủ đoạn và giỏi
về tình báo ủng hộ. Ông Mai Hữu Xuân trước kia là một phần tử thân Pháp,
từng là Tổng Giám đốc Công An và lúc bấy giờ là Giám đốc An ninh Quân đội,
nhưng quan trọng hơn cả, ông Xuân vốn là kẻ thù của Bình Xuyên. Ký giả
Lucien Bodart trong cuốn “La Guerre d’Indochine” mô tả hai ông Bảy
Viễn và Mai Hữu Xuân là hai lãnh chúa tại Chợ Lớn và Sài Gòn, hai kẻ thù
không đội trời chung, nay gặp cơ hội ông Diệm đánh Bình Xuyên, Mai Hữu Xuân
trở nên đồng minh của ông Diệm. Sự ủng hộ của ông Mai Hữu Xuân và Nha An
Ninh Quân Đội lúc bấy giờ quả là một đóng góp tình báo hết sức lớn lao cho
việc tấn công và tiêu diệt Bình Xuyên để củng cố địa vị ông Diệm.
Nói rõ
ra, hai ông Dương Văn Minh và Phạm Xuân Chiểu ủng hộ ông Diệm là vì quốc gia
dân tộc, vì tin tưởng ông Diệm là nhà lãnh đạo chống Pháp, chống Cộng, có
thể cứu được miền Nam, trong lúc ông Mai Hữu Xuân về với ông Diệm chỉ vì
hoàn cảnh, và nhất là vì lý do cá nhân muốn trả mối thù cũ với Bình Xuyên.
Dù sao thì điều đó cũng là một may mắn rất lớn cho ông Diệm.
Trong
những ngày đầu của tháng Năm năm 1955, quân đội quốc gia phối hợp với quân
của tướng Trình Minh Thế đánh bật được quân Bình Xuyên qua bên kia cầu chữ
Y. Tướng Thế trong khi đứng trên cầu Tân Thuận để quan sát địa hình đã bị
một viên đạn bắn lén từ sau lưng trúng thái dương và không cứu sống được.
Ngày 9 tháng 5, Bình Xuyên bị đánh bật ra khỏi Sài Gòn và Chợ Lớn nên rút về
vùng bùn lầy Rừng Sát sau khi đã đốt cháy nhiều phố xá, nhà cửa ở khu Nancy.
Đại tá Dương Văn Minh được Thủ tướng Diệm cử giữ chức Tư lệnh chiến dịch
Rừng Sát, và chẳng bao lâu, ông tiêu diệt toàn bộ quân Bình Xuyên. Bảy Viễn
và bộ hạ thân tín là Lai Văn Sang và Lai Hữu Tài phải trốn qua Pháp. Cùng
lúc đó, Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ cũng đã nắm vững được Nha Tổng Giám đốc Công
an Cảnh sát Việt Nam, và củng cố được lực lượng Công an Cảnh sát Đô thành mà
trước đó vốn nằm dưới sự điều động của Lai Văn Sang.
Đánh tan
quân Bình Xuyên, Đại tá Dương Văn Minh dẫn đầu đoàn quân đắc thắng tiến về
thủ đô trên con đường Catinat để vào dinh Độc Lập giữa tiếng hoan hô vang
dội của dân chúng. Thủ tướng Ngô Đình Diệm đứng tại thềm dinh Độc Lập đón
chào người anh hùng chiến thắng Rừng Sát. Ông ôm hôn Đại tá Dương Văn Minh
rồi một nữ sinh choàng vòng hoa cho Đại tá. Mấy ngày sau, Thủ tướng Diệm
vinh thăng Đại tá Minh lên Thiếu tướng, báo chí Sài Gòn đề cao Dương Văn
Minh là “Anh hùng Rừng Sát”. Riêng ông Ngô Đình Nhu, tuy vui mừng sung sướng
thấy kẻ thù bị tiêu diệt, vẫn tỏ ra bất mãn với báo chí và dư luận khi Dương
Văn Minh được đề cao là “anh hùng”. Ông Nhu nói với nhiều người, nhất là
những người thân tín ở trong dinh, rằng: “cả nước Việt Nam chỉ có một anh
hùng mà thôi, đó là anh hùng Ngô Đình Diệm”.
Phải nói
rõ rằng từ sau vụ thất bại của tướng Vỹ tại dinh Độc Lập, toàn thể quân đội
đã đứng hẳn về phe ông Diệm và từ đó ông Diệm mới thật sự vững vàng trên
ngôi vị. Robert Shaplen cũng như học giả Douglas Pike đã nói: “Cho đến khi
quân đội ủng hộ ông Diệm, (trước đó) ông ta không có cách gì để thực thi
được uy quyền
của chính phủ” (until the Army opted for him, Diem had no means of enforcing
a governmental order).[2]
Tiêu
diệt được Bình Xuyên là Thủ tướng Diệm thu đạt thêm được một thắng lợi to
lớn, một thắng lợi quyết định tương lai sắp tới huy hoàng của ông. Thắng lợi
của ông Diệm đối với Bình Xuyên cũng như đối với tướng Hinh, tướng Vỹ là
biểu hiện thắng lợi của ảnh hưởng Mỹ đối với ảnh hưởng Pháp trong ván bài
Đông Dương.
Trong
khi Sài Gòn và Rừng Sát đang mịt mù khói lửa thì hội đàm giữa Pháp và Mỹ
diễn ra tại Paris từ ngày 7 đến 12/5/1955. Ngoại trưởng Mỹ, ông Foster
Dulles, đòi hỏi Pháp phải trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, phải rút toàn
bộ quân viễn chinh Pháp (90.000) về nước. Chương trình Pháp rút quân về nước
gồm 3 giai đoạn: Một: Ngày 20/5/1955, quân đội Pháp phải bắt đầu rút ra khỏi
Sài Gòn-Chợ Lớn, tập trung về Vũng Tàu. Hai: ngày 2/7/1955, quân đội Việt
Nam hoàn toàn chấm dứt sự phụ thuộc vào Bộ Tư lệnh Pháp tại Đông Dương. Ba:
ngày 28/4/1956 người lính cuối cùng của quân đội viễn chinh Pháp vĩnh viễn
rời khỏi Việt Nam
[3]. Thế là nhờ quân đội, nhờ người Mỹ, từ nay ông
Diệm bước lên đài danh vọng quyền quý tột đỉnh trong cuộc đời chính trị của
ông.
Sau
chiến thắng Rừng Sát, một buổi lễ long trọng, hào hùng và cảm động đã được
tổ chức tại Bộ Tổng tham mưu. Đại tá Trần Văn Đôn, Tham mưu trưởng quân đội,
đại diện cho toàn thể quân đội Việt Nam đốt phù hiệu và cấp hiệu cũ để chấm
dứt mối liên hệ với dĩ vãng, một dĩ vãng chua xót và đau thương. Quân đội
Việt Nam từ nay là quân đội của một quốc gia độc lập để làm tròn sứ mạng của
nó là bảo vệ giang sơn và cùng với toàn dân làm chủ đất nước.
Trong
suốt gần 100 năm Pháp thuộc, chúng ta đã có 2 lần được nghe những lời tuyên
bố về một nước Việt Nam độc lập: Vua Bảo Đại tuyên bố ngày 9/3/1945 và ông
Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 2/9/1945. Nhưng 2 lần đó chỉ có giá trị của một
lời tuyên bố vì trên thực tế quân đội Nhật và Pháp vẫn còn đó. Nhưng ngày
28/4/1956, nghĩa là gần 2 năm sau Hiệp ước Genève, chữ Độc Lập mới thực sự
có ý nghĩa và cuộc đấu tranh giành độc lập mới thực sự chấm dứt. Vì vào ngày
đó, người lính Pháp cuối cùng, biểu tượng cụ thể cho chính sách và kỷ nguyên
thực dân của Pháp, vĩnh viễn rời khỏi đất nước thân yêu.
Ném một
cái nhìn toàn diện và chân thực để soát xét lại quá trình đấu tranh chống
thực dân Pháp của dân tộc, ta phải, một lần nữa, xác định cho rõ ràng rằng
lực lượng đã lãnh đạo, đã tổ chức và đã tiến hành cuộc đấu tranh này cho đến
ngày thắng lợi, chính là toàn bộ dân tộc ta. Những đứa con yêu xuất sắc của
đất nước như Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Trần Cao Vân, Trương Công Định,
Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản, Phan Bội Châu của những ngày đầu; những
Phạm Hồng Thái, Phạm Thái Học, Huỳnh Phú Sổ, Lý Đông A, Trương Tử Anh,
Nguyễn Hải Thần... đã cùng với toàn dân hy sinh xương máu trong giai đoạn
trực đối sống mái với kẻ thù để dồn chúng vào đường tuyệt lộ. Cuối đoạn
đường và về phía những người không Cộng Sản là một Bảo Đại nhọc nhằn xây
viên đá cho một Ngô Đình Diệm đàng hoàng bước lên khóa lại cánh cửa tủi nhục
của giai đoạn Pháp thuộc, và mở toang cánh cửa Độc Lập cho đất nước quê
hương.
Hang vạn
anh hùng và liệt nữ vô danh đã âm thầm nằm xuống. Ánh sáng vinh quang của họ
cũng phải rực rỡ như ánh sáng vinh quang của những lãnh tụ khác, tấm lòng
son sắt của họ cũng phải được tôn vinh như tấm lòng son sắt của những anh
hùng khác.
Tuy
nhiên, nếu ngày 28/4/1956 đã chấm dứt phong trào giải thực trên đất nước
Việt Nam thì ngày đó cũng sẽ là ngày mở đầu cho phong trào Tân Đế Quốc, nếu
những nhà lãnh đạo của đất nước ta không khôn khéo và quyết tâm bảo vệ được
hai chữ Độc Lập và Chủ Quyền. Vì ở một mặt nào đó, nếu chúng ta đã ghi nhận
với ít nhiều thiện cảm những Eisenhower, Foster Dulles, Buttinger, Fishel,
Lansdale, v.v... đã giúp chúng ta bằng cách áp lực người Pháp phải rời khỏi
Việt Nam, thì ở một mặt khác chúng ta không thể không đau lòng vì họ đã thô
bạo và vụng về can thiệp vào Việt Nam qua một cá nhân Ngô Đình Diệm thay vì
bằng sức mạnh thực sự của toàn khối dân tộc ta. Vì rõ ràng trong một cuộc
chiến tranh dành độc lập và sau đó sẽ kéo theo một cuộc đấu tranh chống Cộng
Sản thì chính nghĩa và sức mạnh nằm trong lòng quần chúng chứ không nằm ở
giai tầng lãnh đạo, lại càng không nằm ở một cá nhân, một gia đình, một phe
nhóm.
Lá bài
Ngô Đình Diệm đúng là giải quyết được tình hình lúc đó. Nhưng là một giải
quyết giai đoạn và tức thời chứ không trường kỳ và toàn diện. Mà hệ quả rõ
ràng nhất là cuối cùng, chúng ta đành để Cộng Sản chiếm hết nửa phần của đất
nước. Sức mạnh và chính nghĩa của dân tộc đã không được vận dụng đúng đắn
thì lấy gì mà đương đầu với Cộng Sản.
-o0o-
Sau
chiến thắng Bình Xuyên, những đối thủ còn lại của Thủ tướng Diệm tại miền
Nam chỉ là lực lượng yếu kém và phân hóa.
Về phía
Cao Đài có Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc với một đơn vị Hộ vệ quân khoảng 300
tay súng. Theo một kế hoạch của ông Ngô Đình Nhu, tướng Cao Đài bị mua chuộc
Nguyễn Thành Phương dẫn đơn vị cũ đến Tây Ninh tước khí giới đám Hộ Vệ quân
này, bắt giữ hai người con gái của Giáo chủ Cao Đài với tội “tham nhũng và
bóc lột đồng bào”. Giáo chủ Phạm Công Tắc và một số bộ hạ thân tín trốn được
qua Cao Miên và kéo dài cuộc đời lưu vong cho đến lúc ông tạ thế.
Về phía
Hòa Hảo võ trang thì còn ba nhóm: Trần Văn Soái (tức Năm Lửa), Lâm Thành
Nguyên và Lê Quang Vinh (thường được gọi là Ba Cụt). Cả ba nhóm này có căn
cứ và có địa bàn hoạt động tại miền Hậu Giang. Vào giữa năm 1956, tướng
Dương Văn Minh hành quân mở chiến dịch càn quét những căn cứ này. Trần Văn
Soái và Lâm Thành Nguyên chống cự không nổi nên phải xin về quy hàng với
Chính phủ. Riêng lực lượng Lê Quang Vinh với kỹ thuật du kích chiến để tránh
hỏa lực hùng hậu của quân đội, đã cầm cự được khá lâu nhưng cuối cùng cũng
bị bắt và xử tử.
Theo
thông cáo chính thức của Chính phủ Diệm thì tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh bị
một tiểu đội Bảo An bắt được tại Chắc Cà Đao (Long Xuyên) cùng với năm tên
hộ vệ. Trong một buổi lễ trao lệnh kỳ và huy chương, đại biểu Chính phủ đưa
tặng một triệu đồng cho Liên Đội Bảo An Trần Quốc Tuấn, Liên Đội đã có binh
sĩ bắt được Lê Quang Vinh.
Nhưng
lúc bấy giờ nhiều người, đặc biệt là tướng Dương Văn Minh và Bộ Tham mưu của
ông ta biết rằng, bắt được Lê Quang Vinh là nhờ ông Nguyễn Ngọc Thơ lừa Ba
Cụt đến điều đình trong lúc lính Bảo An đã bố trí 1 cuộc phục kích tinh vi
nên mới bắt được người chiến sĩ nổi tiếng gan dạ và có tài đánh du kích đất
miền Tây. Nếu không bị lừa thì làm sao một tiểu đội Bảo An có thể bắt được
tướng Hòa Hảo đa mưu túc trí cùng với 5 hộ vệ quân của ông ta. Sự thật thì
ông Thơ chỉ muốn lừa ông Lê Quang Vinh về để đầu hàng Chính phủ cho yên miền
Tây, nơi quê hương của ông, không ngờ ông Diệm phản lại những lời đã hứa, ra
lệnh cho Tòa án xử tử ông Lê Quang Vinh.
Sau cách
mạng ngày 1/11/1963 ông Thơ cho tôi biết sở dĩ ông Lê Quang Vinh bị bắt ngày
13/4/1956 mà Tòa án Quân sự và Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn cứ xét đi phúc lại
(đến 4 lần) cho đến ngày 6/7/1956, Tòa án Quân sự Cần Thơ mới xét xử một lần
chót là vì ông Diệm đã nhiều lần dụ ông Lê Quang Vinh theo đạo Công giáo mà
ông nằng nặc không theo. Nếu theo đạo Công giáo thì ông Lê Quang Vinh sẽ
được rửa tội trong một buổi lễ long trọng tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và sẽ
được trọng thưởng và tất nhiên sẽ được tha mạng. Nhưng vị tướng “Mạnh Hoạch”
vùng linh địa Thất Sơn nhất định giữ lấy nền đạo của Đức Thầy, vị Giáo chủ
mà ông vô cùng ngưỡng mộ và kính phục. Do đó ông ta đã bị ông Diệm ra lệnh
cho Tòa án Quân sự Cần Thơ phải: “Tuyên án tử hình, tước đoạt binh quyền và
tịch thu tài sản”. Tướng Lê Quang Vinh bị hành quyết ngày 13/7/1956 tại
nghĩa địa Cần Thơ. Lúc chết ông mới 32 tuổi, trối trăn dặn vợ nuôi con cái
nên người và xin được chôn tại núi Sam, Châu Đốc.
Phải
chăng vì cái chết của ông Lê Quang Vinh mà từ sau khi rời bỏ chính quyền,
(vào thời mà Tôn giáo Hòa Hảo được phục hồi), cựu Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc
Thơ ở luôn Sài Gòn cho đến khi qua đời, không giám trở về Long Xuyên nơi
chôn nhau cắt rốn, nơi ông có một ngôi biệt thư vô cùng huy hoàng và 100 mẫu
ruộng.
Dẹp yên
được hai ông Năm Lửa và Lâm Thành Nguyên, diệt được tướng Ba Cụt Lê Quang
Vinh là chấm dứt hoàn toàn mọi hoạt động đối lập võ trang nguy hiểm tại miền
Nam trừ những toán võ trang lẻ tẻ không đáng kể. Toàn bộ chiến dịch này được
gọi là “đánh dẹp Giáo phái”. Sau này, ông Nguyễn Long Thành Nam, một nhân
vật Hòa Hảo có thẩm quyền về các vấn đề Giáo phái đã đánh giá như sau (Phật
giáo Hòa Hảo trong Giòng Lịch sử Dân tộc, tr 593-594):
Ông Ngô Đình Diệm đã tự hào dẹp
được các “lãnh chúa giáo phái”, nhưng sau đó, chính thể của ông cũng là một
kiểu lãnh chúa giáo phái. Các “lãnh chúa giáo phái” trước kia chỉ có quyền
hành giới hạn tại từng địa phương, trái lại chế độ lãnh chúa giáo phái mới
này oai quyền bao trùm trên toàn cả nước trong mọi địa hạt, chứ không chỉ
riêng về quân sự như các lực lượng võ trang giáo phái trước kia.
Có người nói rằng ông Ngô Đình
Diệm tuy có độc tài độc tôn, nhưng đó là lòng yêu nước, muốn cứu nước, muốn
làm tròn sứ mạng lịch sử của người chiến sĩ yêu nước trong một tình trạng
rối ren, cho nên phải cứng tay lái để lãnh đạo quốc gia. Lập luận này không
được chứng minh bằng thực tế và thành quả. Sự ủng hộ của một thành phần
thiểu số trong dân chúng không thể gọi là thành quả của chế độ, khi đem đối
chiếu với sự bất mãn và đau khổ của thành phần đại đa số. Các thành quả nhất
thời và ngắn hạn không thể xem là thành công của chế độ, khi đem đối chiếu
với những hậu quả lớn lao và lâu dài mà chế độ ấy đã gây ra cho quốc gia và
dân chúng.
Người ta cũng hay nói đến “độc
tài sáng suốt”. Từ ngữ này không có nghĩa trong thời đại dân chủ. Không thể
có một nhà độc tài sáng suốt trong thế giới phức tạp ngày nay. Lý thuyết tự
do dân chủ không chấp nhận chế độ độc tài, và không cho rằng nhà độc tài có
thể sáng suốt được.
Ông Ngô Đình Diệm đã dẹp các
giáo phái và như thế có hẳn là ông không có tinh thần giáo phái không ? nếu
định nghĩa giáo phái thoát ra từ từ ngữ Sectarism, thì rõ ràng là ông
Diệm cũng rất nặng tinh thần giáo phái. Trong một xã hội đa tôn giáo như
Việt Nam không thể có quốc giáo, cũng không thể chấp nhận ưu thế chính trị
của bất cứ tôn giáo nào. Do đó, chánh quyền không thể nằm trong tay một tôn
giáo, hoặc điều khiển, lãnh đạo bởi một tôn giáo. Thực tế chánh trị dưới chế
độ Đệ Nhứt Cộng Hòa đã biểu lộ rõ ràng ưu thế của Công giáo. Tổng thống Ngô
Đình Diệm là một tín đồ Công giáo, chánh sách cai trị của ông tạo ưu thế cho
tôn giáo của ông, đưa các tôn giáo khác vào vị trí thất thế. Và như thế, là
một tình trạng Sectarism, hoặc gọi là bè phái, hoặc gọi là giáo phái.
Ông Diệm đã nêu cao khẩu hiểu
“Dẹp lãnh chúa, dẹp giáo phái”, nhưng khi ông nắm quyền cai trị, chế độ của
ông lại trở thành một chế độ mang đầy đủ tính chất của lãnh chúa và giáo
phái trên một bình diện cao hơn, là bình diện toàn quốc, thay vì bình diện
địa phương như trước ông.
Tuy
nhiên, tại miền Trung, vấn đề trở thành phức tạp và khó khăn hơn nhiều vì
những lực lượng chống đối ông Diệm không phải là tay sai của Pháp mà là
những đảng Cách mạng đã từng xả thân đấu tranh vừa chống Cộng vừa chống
Pháp, và đã có lúc ủng hộ ông Diệm trong và sau những nỗ lực vận động nắm
chính quyền của ông. Tuy nhiên, cuối cùng, chiến khu Ba Lòng ở Quảng Trị của
Đảng Đại Việt bị đánh tan. Chiến khu Nam Ngãi của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị
ông Diệm ra lệnh cho sư đoàn Nùng càn quét dã man trong những năm 1955-1956
ở các quận Quế Sơn, Tiên Phước, Duy Xuyên nhưng vẫn không tiêu diệt được lực
lượng có quá nhiều kinh nghiệm chiến trường và lòng yêu nước sắt đá này. Ông
Ngô Đình Cẩn phải dùng thủ đoạn “Đoàn kết thỏa hợp” mới lôi kéo được đơn vị
võ trang gần 2.000 tay súng về hợp tác để rồi sau đó cấp lãnh đạo chính trị,
quân sự của họ đều bị tù đày.
Ngoài ra
phải kể đến vua Bảo Đại, người đã bổ nhiệm ông Diệm làm thủ tướng, người đã
từng một thời được ông Diệm tung hô vạn tuế khi ông còn làm quan Nam triều.
Với Bảo Đại, ông Diệm đã phải dùng đến những hình thức đấu tranh có vẻ dân
chủ hơn qua một cuộc trưng cầu dân ý (23/10/1955) để biểu diễn cho Chính phủ
và Quốc hội Hoa Kỳ lúc bấy giờ đang thẩm định khả năng chính trị của ông. Ý
nghĩa của cuộc truất phế này đã được ông Đoàn Thêm phân tích rõ ràng trong
cuốn Những Ngày Chưa Quên nhưng tôi cũng xin sẽ bổ túc và triển khai
trong chương VI vì những oái oăm lịch sử của biến cố này.
Như vậy,
từ năm 1956, ông Diệm là một Tổng thống hợp hiến và hợp pháp của một quốc
gia Việt Nam theo chế độ Cộng Hòa (dù ngày 26/10/1955 mới chỉ ban hành Hiến
ước tạm thời), có cường quốc số một thế giới là Hoa Kỳ ủng hộ và có đại đa
số dân chúng miền Nam Việt Nam sẵn lòng sống chết với ông. Thực dân Pháp đã
biến mất, chính quyền Cộng sản miền Bắc là mối đe dọa minh nhiên và tức
thời, cho nên toàn dân đoàn kết nhất trí sau lưng ông để đương đầu với mối
họa mới. Công việc đầu tiên là cải tổ hai định chế lớn chi phối sinh hoạt
quốc gia: bộ máy công quyền và bộ máy quân
đội. Với sự yểm trợ về ngân quỹ và kế hoạch của Mỹ, ông biến quân đội Việt
Nam Cộng Hòa thành một thứ quân đội Hoa Kỳ bản xứ, ít nhất là trên mặt hình
thức và điều hành. Hệ thống tổ chức, quân phong, quân kỷ, quân nhu, quân
dụng cho đến những chi tiết nhỏ nhặt như cách chào, đôi giày, khẩu phần
ăn,... đều đến từ và rập theo khuôn mẫu Hoa Kỳ.
Hiến
pháp Việt Nam Cộng Hòa ra đời, hiến pháp có 1 điều bất hủ rất phản dân chủ
là “Tổng thống lãnh đạo quốc gia” cũng đã quy định tính cách phân
quyền và xác định những định chế ở thượng tầng để quản trị đất nước. Viện
trợ Hoa Kỳ và sự yểm trợ của các nước trong thế giới tự do đã nâng uy tín
của ông lên cao, kết quả cuộc trưng cầu dân ý với tỷ số phiếu thắng 98.16%
(kết quả chính thức của Bộ Nội vụ: 5.721.735 phiếu cho ông Diệm trên
5.828.907 tổng số phiếu) đã, dù sao, xác định sự kiện toàn dân sẵn sàng hợp
tác với ông. Quả thật, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã nắm được đầy đủ yếu tố
Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa, tức là cả thời, cả thế và cả lực, đã nắm được
cơ hội ngàn vàng để đưa quê hương xứ sở đến phú cường và hùng mạnh. Lịch sử
và dân tộc chỉ cần ông quyết liệt khước từ mọi liên hệ xấu xa với quá khứ,
chỉ cần ông thành thật đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi gia đình, chỉ
cần ông thực hiện dân chủ và đoàn kết thực sự, thì chỉ với ba điều kiện đó
mà thôi, ông Diệm đã trở thành anh hùng dân tộc, cứu tinh dân tộc rồi.
Đau xót
thay, ông đã không những không tôn trọng ba điều kiện đó mà chính ông và
thành phần lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước là các anh em ông, cũng không
ý thức được điều này. Cho nên bánh xe lịch sử đã quay lại nghiền nát ông,
cho nên dân tộc đã đứng lên khước từ chế độ ông. Hệ quả đó không phải chỉ
chấm dứt khi chế độ ông bị tiêu diệt mà còn kéo dài cho đến mùa Xuân năm
1975, điều mà tôi sẽ nói ở các chương sau.
-o0o-
Trở lại
ngày 19/11/1954, sau khi tướng Nguyễn Văn Hinh từ giã Việt Nam về Pháp,
tướng Vận trốn khỏi Nha Trang, và miền Trung đã hoàn toàn tự chủ, tự quản,
tôi rời Sài Gòn về Nha Trang giữ chức Tư lệnh phó Phân khu Duyên Hải dưới
quyền của Đại tá Phạm Văn Đổng. Trước khi rời phòng của ông Võ Văn Hải trong
dinh Độc Lập, nơi mà Đại tá Lễ và tôi đã tạm trú gần hai tháng trời, bác sĩ
Bùi Kiện Tín, lúc bấy giờ đã là Bộ trưởng Bộ Thông tin, trao cho tôi một xấp
tài liệu nói về điều lệ, mục đích và hệ thống tổ chức của Phong Trào Cách
Mạng Quốc Gia để nhờ tôi về tổ chức Phong trào này tại các tỉnh thuộc
quyền tôi trách nhiệm. Bác sĩ Tín trình bày cho tôi biết việc tổ chức Phong
Trào Cách Mạng Quốc Gia là do sáng kiến của các ông Trần Chánh Thành, Trần
Trung Dung, Trần Quốc Bửu, Bùi Kiện Tín... muốn đưa ra một phong trào nhân
dân làm hậu thuẫn chính trị cho ông Diệm. Theo bác sĩ Tín thì phong trào này
ủng hộ chế độ ở mặt nổi và đảng Cần Lao Nhân Vị thì điều động phong trào ở
mặt chìm, cũng như Việt Minh là đoàn thể mặt nổi mà đằng sau thì có đảng
Cộng Sản Đông Dương chỉ đạo trong 10 năm kháng Pháp.
Lúc bấy
giờ, vẫn còn một số người Pháp ở Việt Nam mà đa số có liên hệ đến mạng lưới
tình báo Pháp để yểm trợ cho các tổ chức chống đối Thủ tướng Diệm. Ở Nha
Trang vẫn còn Tòa Đại diện Pháp, vẫn còn sĩ quan cố vấn ở các trường hải
quân và không quân, vẫn còn một tiểu đoàn Sénégalais đóng ở Colona gần phi
trường. Tại Cam Ranh, cách Nha Trang 50 cây số, vẫn còn hải quân Pháp và cơ
quan y tế thuộc quân đội Pháp. Vì người Pháp còn hiện diện và còn ngấm ngầm
phá hoại Thủ tướng Diệm nên các Tỉnh trưởng, Trưởng ty, Công chức Việt Nam
vẫn còn e sợ người Pháp. (Như Tỉnh trưởng Nguyễn Trân ở Khánh Hòa, mỗi lần
tôi tổ chức biểu tình chống Pháp thì ông lại tìm cớ đi Phan Rang hoặc đi Sài
Gòn để lẩn tránh; hoặc như Phó tỉnh trưởng Lưu Văn Châm, khi nghe Trung tá
Thái Quang Hoàng, Tỉnh trưởng Bình Thuận, đọc diễn văn đả kích người Pháp
thì lắc đầu tỏ vẻ sợ sệt).
Vì kẻ
thù trực tiếp và thực sự của ông Diệm lúc bấy giờ là người Pháp, mà các giới
chức dân sự địa phương lại vẫn còn e dè nên tôi phải lấy quân đội làm chủ
lực nòng cốt và phát động để đi tiên phong trong việc xây dựng Phong Trào
Cách Mạng Quốc Gia, với hy vọng có thể gây được sự phấn khởi và tin tưởng
cho phía dân sự cũng như quần chúng. Đại tá Phạm Văn Đổng, vị chỉ huy trực
tiếp của tôi vốn là một sĩ quan thân Pháp nhưng ông là một người khôn ngoan
thâm trầm cho nên vẫn để tôi hoạt động chính trị, hoạt động tổ chức Phong
trào mà không can thiệp ngăn cấm, ông Đổng chọn thái độ đứng ngoài chính trị
và chỉ lo hoạt động quân sự thuần túy.
Chẳng
bao lâu, tôi đã tạo dựng được một phong trào chính trị rầm rộ trong hàng ngũ
quân nhân tại Nha Trang với những cơ cấu nhịp nhàng. Thấy anh em quân nhân
gồm có hàng vạn người hăng say hoạt động cho Phong trào với những buổi học
tập, xuống đường, những buổi công tác xã hội, lại thấy anh em quân nhân rất
dứt khoát thái độ khi đi tháo gỡ những bảng hiểu, tên phố, tên đường, tên cơ
quan bằng tiếng Pháp, còn các cổng trại đơn vị quân đội thì treo đầy những
biểu ngữ “Bài Phong”, “Đả Thực”, “Diệt Cộng”, những biểu ngữ hoan nghênh Thủ
tướng Diệm cùng với cờ quốc gia và cờ Phong trào hiên ngang tung bay trước
gió, các “ông dân sự” và quần chúng bấy giờ mới bớt sợ người Pháp. Có hậu
thuẫn quân đội rồi và thấy quần chúng bắt đầu giác ngộ rồi, tôi bèn bắt đầu
phát động Phong trào Cách Mạng Quốc Gia về phía dân sự. Lúc bấy giờ, trong
giới trí thức và công chức tại Nha Trang đã có một số người tin tưởng vào
Thủ tướng Diệm và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia như các bác sĩ Nguyễn Đình
Kình, Đỗ Cao Minh (hiện ở Pháp), giáo sư Hà Huy Liêm,... tôi bèn mời ông Võ
Văn Trưng, Trưởng ty học chánh, làm Chủ tịch Tỉnh bộ Phong trào ở Khánh Hòa
và Nha Trang. Phong trào phát triển nhanh chóng làm cho ngân quỹ trở nên dồi
dào, do đó mà chẳng mấy chốc trụ sở Tỉnh bộ Phong trào được dựng lên và mang
lại niềm tin cụ thể cho đồng bào, công chức và cán bộ. Đã thế, giáo sư Hà
Huy Liêm (trường trung học Võ Tánh, Nha Trang) và kỹ sư Nguyễn Mạnh Hoàn
(hiện ở California), những ủy viên tuyên nghiên huấn của phong trào lại là
những nhân vật có kinh nghiệm đấu tranh, có tài hùng biện động viên và kích
thích được quần chúng trong các buổi thuyết trình hoặc biểu tình, nên khí
thế của Phong trào mỗi ngày càng một tăng, tổ chức của Phong trào một ngày
càng trưởng thành trên cả hai mặt lượng lẫn phẩm. Tôi có thể nói mà không
ngại ngùng rằng ngoại trừ thời Việt Minh mới cướp chính quyền năm 1945, chưa
khi nào tỉnh Khánh Hòa và thị xã Nha Trang có một phong trào chính trị bừng
bừng lửa cách mạng như thời 1955, 1956, dưới ngọn cờ của Phong Trào Cách
Mạng Quốc Gia do tôi lãnh đạo tại miền thùy dương cát trắng, dù nơi đó dân
chúng vốn hiền hòa và không hiếu động. Một vài kỷ niệm mà tôi nhắc lại sau
đây tuy chỉ có tính cách địa phương, không gây được những chấn động to lớn,
nhưng quả thật đã là những chứng tích cách mạng của một phong trào nhân dân
mà động cơ thúc đẩy lớn lao và duy nhất là tình cảm giải phóng sau những năm
dài áp bức. Những kỷ niệm đó bây giờ chỉ là những vang bóng của một thời xa
xưa nhưng chắc chắn vẫn còn là những âm vang rộn ràng trong lòng những chiến
hữu của tôi hiện còn sống nơi hải ngoại hay kẹt lại trong nước, mà tôi vẫn
luôn ghi nhớ rằng không có họ thì không thể có được cao trào cách mạng đó.
Nào là
lúc vận động quần chúng tấn công đơn vị Tây Đen Sénégalais ở Colona, khiến
Pháp đặt toàn căn cứ trong tình trạng báo động tác chiến và dùng xe cứu hỏa
và quân khuyển để phản công lại khiến một số học sinh bị thương. Nào là lúc
bao vây Trụ sở Ủy Hội Quốc Tế để cuối cùng huy động dân chúng xông vào trụ
sở ném đá gây thương tích trầm trọng cho hai đại tá Việt Cộng (đi điều tra
về việc cán bộ ở Phú Yên bị dân chúng nổi lên giết chết), khiến họ phải nhờ
máy bay Pháp trốn về Sài Gòn tức khắc.
Tôi cũng
muốn nhắc lại vụ Phong trào cầm đầu đoàn biểu tình kéo đến khách sạn Beau
Rivage để áp lực sĩ quan Pháp phải giữ thái độ khách quan, và buộc các thành
viên Ấn Độ và Ba Lan phải gửi một cái chổi và cục đá và một bản án ra Hà Nội
cho ông Hồ Chí Minh. Và chắc chắn các chiến hữu cũ của tôi cùng đồng bào ở
Nha Trang không thể nào quên được lễ tưởng niệm tướng Trình Minh Thế tại
công viên trước ga xe lửa của thành phố Nha Trang, một buổi lễ vừa cảm động
vừa hào hùng để tôn vinh người chiến sĩ cách mạng thực sự hy sinh cho tổ
quốc tại cầu Tân Thuận Sài Gòn. Sau buổi tưởng niệm, toàn thể quân dân đã
đồng thanh yêu cầu ông tỉnh trưởng Nguyễn Trân đổi tên công viên thành ra
công trường Trình Minh Thế và nhờ vậy mà tên tuổi cũng như hình bóng của vị
lãnh tụ Cao Đài Liên Minh, xuất thân từ núi Bà Đen (Tây Ninh), đã sống với
người dân Nha Trang tại miền đất thùy dương cho đến tháng 4/1975. Cho đến
bây giờ, tôi vẫn không quên được dòng nước mắt của vị đại diện Cao Đài khi đọc diễn
văn ca ngợi người anh hùng áo vải, 5 năm trời thân cô thế yếu mà dám đương
đầu với hai kẻ thù của dân tộc: Cộng Sản và Thực Dân, người anh hùng đã chết
tức tưởi trong một trường hợp mà cho đến ngày nay vẫn còn nằm trong vòng bí
ẩn của lịch sử.
Sở dĩ
cái chết của tướng Thế cho đến ngày nay vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn của
lịch sử vì chưa có một chứng nhân nào hay một nhà viết sử nào chứng minh
được một cách xác quyết kẻ nào, hay tổ chức nào, đã chủ trương giết tướng
Thế. Ký giả Brown (trong The New Face of War) cho rằng cái chết của
tướng Thế ở vào một trường hợp có thể đưa đến nhiều nghi vấn về một vụ ám
sát. Ông Nhị Lang (trong hồi ký: Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế)
thì gán cho tướng Mai Hữu Xuân đã giết tướng Thế. Còn tướng CIA Lansdale,
người bạn chí thiết của tướng Thế, người đã lôi kéo ông về với ông Diệm, thì
không nói ai là kẻ chủ mưu giết tướng Thế. Trong hồi ký In The Midst of
War, Lansdale kể lại rằng ngày 3/5/1955, ông đang ngồi trong dinh Độc
Lập, trong lúc ông ta đang tỏ lời giận dữ Tổng thống Diệm vì ông Diệm có
những lời lẽ khinh mạn và vong ân đối với tướng Thế thì bỗng ông Nhu đi vào
cho biết tướng Thế đã từ trần trên tàu Tân Thuận trong lúc đang chỉ huy trận
tấn công Bình Xuyên. Nghe được tin này, ông Diệm khóc và xin lỗi Lansdale.
Lansdale nắm vai ông Diệm và ngỏ lời an ủi. Lansdale là bạn chí thân của
tướng Thế, lại là một nhân vật CIA tài ba vậy mà không điều tra nổi ai đã ám
hại vị tướng Cao Đài Liên Minh. Trong lúc đó thì dư luận Sài Gòn lại cho
rằng ông Ngô Đình Nhu là kẻ chủ mưu giết tướng Thế. Sở dĩ có dư luận ấy vì
Nhu nổi tiếng là người thủ đoạn “ăn cháo đá bát” và đã phản bội lại bạn bè
từ sau khi cầm được chính quyền, huống gì ông Nhu lại không muốn bất kỳ ai
có thể trở thành anh hùng để có thể qua mặt được anh em ông Diệm.
Về phần
tôi thì đoán rằng cái chết của tướng Thế chỉ có thể là do người Pháp chủ
mưu. Tôi đoán vậy vì lúc bấy giờ chỉ có một đơn vị quân đội Pháp đang đóng
rất gần nơi tướng Thế chỉ huy, ngoài đơn vị đó ra không còn một lực lượng
quân sự nào khác nữa (tướng Thế bị một viên đạn xuyên từ tai này sang tai
kia). Người Pháp hết sức căm thù tướng Thế vì trải 5 năm kháng chiến, tướng
Thế đã nhiều phen làm đảo điên người Pháp, đặc biệt vụ bỏ bom tại Nhà hát
lớn Sài Gòn ngày 9/2/1952 sát hại hơn 50 người cả Pháp lẫn Việt.
Cũng vì
cảm phục tấm lòng yêu nước, ý chí cao cả và hành động gan dạ của người chiến
sĩ Cao Đài Liên Minh nên tôi đã tổ chức một buổi lễ kỷ niệm hết sức long
trọng để tôn vinh vị anh hùng núi Bà Đen 5 năm nằm gai nếm mật. Cũng từ đó
trước mặt tôi, trên bàn giấy tại văn phòng Tư lệnh Phân Khu Duyên Hải (Nha
Trang), chân dung tướng Trình Minh Thế đã thay chổ chân dung thủ tướng Ngô
Đình Diệm.
Cuối
cùng, tôi muốn kể lại chuyện trực diện ngăn cấm viên Tổng Tư lệnh quân đội
Pháp ở Đông Dương lúc đó là Đại tướng Jacquot, không được di chuyển trong
lãnh thổ Phân khu Duyên Hải, dù lúc bấy giờ quân đội Việt Nam vẫn còn phụ
thuộc vào Bộ Tư lệnh Pháp. Nguyên vị tướng Tổng Tư lệnh này muốn đi kinh lý
thăm các đơn vị khác đóng ở Nha Trang và Cam Ranh. Từ Đà Lạt xuống, tướng
Jacquot đi xe mang cờ tam tài và cờ hiệu 4 sao, có một trung đội nhảy dù
Pháp và một Đại úy chỉ huy hộ tống. Nhưng đến Tháp Chàm thì đoàn xe bị Trung
úy Trần Văn Đại bố trí một đại đội chặn lại và bắt ông ta phải quay lui
(Trung úy Đại nay là Đại tá, hiện ở Mỹ). Quả là một việc hết sức bất ngờ và
mất thể diện cho quân đội Pháp, vì vậy tướng Jacquot giận lắm nhưng không
giám ra lệnh nổ súng nên cuối cùng, tuy ông ta đã đổi từ thái độ trịch
thượng hùng hổ đến ôn hòa năn nỉ, nhưng ông vẫn bị khước từ không thể tiếp
tục lộ trình. Trung úy Đại cho ông ta biết Trung úy đang làm theo lệnh của
tôi, nghĩa là thể hiện ý chí của cao trào cách mạng của quân dân vùng duyên
hải, rằng tất cả người Pháp, dù ở bất cứ tư thế nào cũng phải chịu luật “nội
bất xuất ngoại bất nhập”. Ngày hôm sau, tôi nhận được công điện của Tổng
Tham mưu Việt Nam (do Đại tá Trần Văn Đôn ký) khiển trách tôi tại sao lại vô
lễ với vị Đại tướng “Tổng Tư lênh quân đội Liên Hiệp Pháp”. Tôi liền đánh
công điện trả lời không ngại ngùng: “Tôi chỉ biết có một vị Tổng Tư lệnh là
Thiếu tướng Lê văn Tỵ mà thôi”. Sau này, khi Thủ tướng Diệm đến Nha Trang có
hỏi lại tôi về vấn đề đó, vấn đề mà tướng Jacquot khi về Sài Gòn đã đến dinh
Độc Lập trách móc thủ tướng, tôi bèn trình bày: “Thưa Cụ, chúng tôi coi
người Pháp là kẻ thù vì họ phá rối Cụ, họ muốn lật đổ Cụ tức là chống lại
dân tộc Việt Nam, thì chúng tôi đương đầu với họ là lẽ tất nhiên. Tôi làm
cho tướng Jacquot suy nghĩ và hy vọng nhờ đó mà ảnh hưởng phần nào đến đường
lối chính trị của người Pháp”. Ông Diệm gật gù nở nụ cười thỏa mãn.
Tôi nhắc
lại vài hoạt động “Bài Phong, Đả Thực, Diệt Cộng” tại vùng Phân khu Duyên
Hải đó là vì muốn nhắc lại sự đóng góp của dân và quân vùng này cho sự thành
công của ông Diệm khi ông phải đương đầu với ba kẻ thù của ông ta mà cũng là
kẻ thù của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Đã đành rằng “Chiến khu Đông” đặt
tại Phan Rang và những hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia vùng
Duyên Hải không có tầm vóc đủ lớn để có ảnh hưởng chính trị sâu đậm bằng
những biến cố xảy ra ngay tại thủ đô Sài Gòn, nhưng âm vang của nó như là
một biểu hiện ý chí của quần chúng có làm cho quân dân toàn quốc lên tinh
thần, có làm họ quyết liệt hơn trong việc ủng hộ thủ tướng Ngô Đình Diệm hay
không; thái độ của ba anh em ông Diệm sau đó mấy tháng đối với Phong Trào
Cách Mạng Quốc Gia tại Nha Trang sẽ chứng minh điều này.
Những
hoạt động đó, dù bây giờ chỉ còn là kỷ niệm trong tận đáy cùng của ký ức, và
dù ký ức đó đang phai nhạt dần vì năm tháng và vì đời sống ly hương nơi đất
người, tôi vẫn muốn trang trải lên trang sách này để một lần trong đời được
tạ ơn và tạ tội với các đồng chí bạn bè ngày xưa trong Phong
Trào Cách Mạng Quốc Gia miền duyên hải. Nếu cuộc biểu tình do bà Ngô Đình
Nhu tổ chức vào năm 1956 đã được nhóm bồi bút của ông Diệm sau đó (và đến
tận bây giờ) tâng bốc lên đến tột đỉnh những gì mà ngôn ngữ ma quái có thể
diễn tả được, thì tại sao tôi lại không chân thành viết ra đây như viết về
những anh hùng lặng lẽ nhưng sừng sững, những nỗ lực không đo lường được
bằng ngôn ngữ của các bạn bè đồng chí của tôi. Tại Sài Gòn, bà Nhu có ông
anh chồng làm tổng thống với một bộ máy công quyền, có cả bóng lẫn hình đồ
sộ của Mỹ đè nặng trên tình hình chính trị Việt Nam lúc bấy giờ, có sẵn cả
một khối lượng của người Công giáo di cư để làm hậu thuẫn. Còn tại Khánh
Hòa, nơi mà cái tên Ngô Đình Diệm nghe không kêu bằng và không được biết
bằng tên của ông Hồ Chí Minh, nơi mà phong trào phải tự lực cánh sinh không
có được một hậu thuẫn hay yểm trợ nào, nơi mà đảng Con Ó của tướng Hinh và
quyền lực của đại tá Trương Văn Xương đang tê liệt hóa ông Ngô Đình Cẩn và
các thuộc hạ người Công giáo tại miền Trung, và nơi mà người dân chỉ biết
dùng lòng yêu nước chân thành để phân định thời cuộc và đo lường lòng
người... thì những hoạt động của chúng tôi, ở một kích thước nào đó, quả
thật là không thể đo lường được bằng ngôn ngữ mà chỉ có thể kể lại như những
hoài niệm mà thôi.
Tôi cần
viết ra đây những hoài niệm đó là cũng để tạ tội với những anh em Đại Việt
tỉnh bộ Phan Rang do ông Hồ Trần Chính cầm đầu, và những Phật tử bốn tỉnh đã
vì thấy chuyện tôi làm, nghe lời tôi hô hào khích động mà dấn thân hoạt động
hăng say để rồi sau đó mấy năm lại thành nạn nhân của đảng Cần Lao phóng tay
phát động chính sách chia rẽ kỳ thị. Viết ra đây để tạ tội với nhóm các bác
sĩ trong Quân y viện Nguyễn Huệ, những giáo sư Võ Tánh như các ông Lê Tá,
Nguyễn Mậu, Võ Hồng... những giáo sư Bồ Đề như các ông Lê Bá Chẩn, Ưng Thi,
Quách Tấn chỉ vì mấy năm sau chống đối ông Diệm (có người còn giám tổ chức
buổi kịch “Tần Thủy Hoàng” để lên án ông Diệm) mà, lúc bấy giờ, đang quá say
mê lãnh tụ Ngô Đình Diệm, tôi đã nghĩ rằng những vị ấy là Việt gian. Nhưng
rõ ràng là họ đã sáng suốt hơn tôi, đã nhìn xa thấy rộng hơn tôi. (Giáo sư
Lê Tá, hiệu trưởng trường Võ Tánh Nha Trang, bị đổi vào Phan Thiết khác với
ông Lê Tá tỉnh trưởng Phú Yên. Hai cụ Lê Tá hiện sống ở Mỹ và đều là những
nhân chứng của thời đại. Còn gia đình Cụ Lê Bá Chẩn, ngoài việc dạy học ở
trường Bồ Đề, còn là Phó Tỉnh trưởng Nha Trang, bị ông Tỉnh trưởng Nguyễn
Trân gán cho cái tội “Cộng Sản” mặc dù ai cũng biết Cụ Chẩn đã từng là kẻ
thù của Cộng Sản).
Xây dựng
xong cả thượng tầng lẫn hạ tầng cơ sở của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia tại
Khánh Hòa để làm thí điểm gương mẫu, tôi bèn đi khắp bốn tỉnh thuộc phân khu
Duyên Hải, từ Phú Yên đến Bình Thuận, để thành lập các tỉnh bộ khác của
Phong trào cho những tỉnh đó. Dân chúng bốn tỉnh miền cực Nam Trung Việt
cũng như dân chúng trên toàn quốc sau gần 10 năm chiến chinh khói lửa dưới
chế độ cũ đã chán nản chiến tranh, đã mất niềm tin vào những lời hứa hẹn,
bỗng bừng dậy nhìn về chân trời mới, một chân trời vinh quang và rất nhiều
hy vọng nhờ khí thế cách mạng đang dâng tràn từ thành thị đến thôn quê. Khí
thế đó có được nội dung cách mạng là nhờ ý thức và tâm chất của những người
như ông Lê Tá, nguyên Tỉnh trưởng Phú Yên, ông Hồ Trần Chánh, bác sĩ Nguyễn
Trọng Thiện, bác sĩ Đỗ Cao Minh... những bằng hữu và chiến hữu đã cùng tôi
hoạt động cho Phong Trào Cách Mạng Quốc gia, và đã trở nên hội viên Hội Đồng
Nhân Dân Cách Mạng hay Dân biểu Quốc Hội sau này. (Ba nhân vật trên hiện
sống ở hải ngoại).
Sau khi
hoàn thành việc xây dựng bộ phận chủ yếu cho Phong trào tại bốn tỉnh miền
Duyên Hải, tôi trở lại Nha Trang để trong một buổi đại hội quân dân chính
gồm trên ba ngàn đại diện tham dự, tôi hô hào thực hiện một cuộc cách mạng
dân tộc do lãnh tụ Ngô Đình Diệm lãnh đạo để đương đầu với cuộc cách mạng vô
sản chuyên chính ở miền Bắc do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo. Giữa hội trường
đằng đằng chính khí mà khuôn mặt mỗi người đều biểu lộ một niềm tin sắt
thép, tôi cho đồng bào biết rằng lãnh tụ Ngô Đình Diệm đã từng cởi áo từ
quan, đã từng hoạt động cách mạng chống Pháp, chống Cộng ngay thời 1930, một
nhân vật chân thành yêu nước yêu dân, chỉ đặt quyền lợi tổ quốc và dân tộc
trên phe phái, tôn giáo riêng tư... Tôi đã mang tấm lòng son sắt của người
cán bộ trung kiên, của người từng là chiến hữu của lãnh tụ Ngô Đình Diệm từ
1942, tôi thề sống chết với ông, và nếu ông phản bội quốc dân, tôi sẽ là
người đầu tiên đảo chánh ông. Riêng với anh em quân đội, tôi thề sẽ thực
hiện đúng khẩu hiệu “Huynh đệ chi binh” mà tôi đã nêu ra để đưa cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ đến thành công. Trước lời thề sắt đá của tôi, hội
trường như nổ tung bởi những tràng pháo tay vang dội. Rất đông sĩ quan và
binh sĩ quá hăng say và cảm động đã đứng bật dậy hô to khẩu hiệu “Bài Phong,
Đả Thực, Diệt Cộng”, khẩu hiệu “Ngô Đình Diệm muôn năm” và “Hoan hô Trung tá
Đỗ Mậu”... Không khí hội trường như không khí hội nghị Diên Hồng của cha ông
thủa trước, mà những đồng chí cũ của tôi là tướng Trần Văn Minh (Không
Quân), tướng Nguyễn văn Thịnh (Pháo Binh), tướng Vũ Đức Nhuận (An Ninh Quân
Đội), Đại tá Hà Quang Giác, Đại tá Đỗ Khắc Mai... (hiện sống tại hải ngoại)
đã là những chiến sĩ tiền phong đầy ắp lòng yêu nước và lửa cách mạng.
Thật
vậy, lòng yêu nước và lửa cách mạng đó của quân dân bốn tỉnh Duyên Hải đã
vang dội về Huế và vào Sài Gòn làm cho chủ tịch Phong Trào Cách Mạng Quốc
gia Trung ương là ông Trần Chánh Thành, và ông Hà Đức Minh, đại diện đảng
Cần Lao của ông Ngô Đình Nhu, phải đến Nha Trang quan sát và nghiên cứu kinh
nghiệm thực tiễn này. Ông Ngô Đình Cẩn gửi thư yêu cầu tôi sát nhập phong
trào miền duyên hải vào phong trào miền Trung và ủy nhiệm tôi làm đại diện
chính trị cho ông ta. Ông Nguyễn Đôn Duyến, đại diện Chính phủ, phái người
vào mời tôi ra Huế thuyết trình về cuộc đời của Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
Ngày
7/7/1955, tôi ra Huế thuyết trình về đề tài “Chí sĩ Ngô Đình Diệm với chính
nghĩa quốc gia”. Dân chúng và công chức kinh thành Huế vốn nghe tiếng tôi là
cán bộ kỳ cựu và trung kiên của ông Diệm nên kéo nhau đến nghe tôi nói về
cuộc đời của ông tại Hội trường Morin. Họ đứng chật hội trường và còn tràn
ra các đường phố chung quanh. Vì Huế là địa phương biết khá rõ về dĩ vãng
của ông Diệm, biết cả điều xấu lẫn điều tốt, biết cả sở trường lẫn sở đoản,
cho nên nội dung bài thuyết trình của tôi gồm hai phần rõ rệt: Phần thứ nhất
nhằm so sánh con người của ông Ngô Đình Diệm và con người của ông Hồ Chí
Minh, nhưng đặc biệt chỉ nhấn mạnh vai trò Cộng sản quốc tế của ông Hồ Chí
Minh và đề cao tư cách “Cách mạng quốc gia” của ông Diệm; Phần thứ hai tôi
xác định vai trò và vị trí tất yếu của ông Diệm trong cuộc đấu tranh
Quốc-Cộng sắp tới giữa hai miền Nam Bắc. Vì vậy, sau lời giới thiệu rất ân
cần và tâm huyết của Giáo sư Võ Thu Tịnh, giám đốc Nha Thông tin Trung Việt
(hiện sống ở Pháp), tôi đã cố tình bỏ qua những điều tiêu cực của chính cá
nhân ông Diệm cũng như của tình hình chính trị tổng quát để chỉ nhằm đề cao
ông Diệm như là một môn đồ Khổng Mạnh đầy đủ Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa, như
là một tín đồ Chúa Kitô bác ái, công bằng.
Bài
thuyết trình sau đó được ông Ngô Đình Cẩn cho phát thanh lại trên đài phát
thanh Huế đến 7 đêm liền, được Bộ Thông tin Sài Gòn cho in thành sách phát
cho các tỉnh để làm tài liệu học tập và, hân hạnh nhất cho tôi, là năm 1958
được Tổng thống Diệm gọi vào Dinh Độc lập để khen ngợi và cảm ơn sau khi ông
đã đọc xong tập “Chí sĩ Ngô Đình Diệm với chính nghĩa Quốc gia”.
Nhưng
nếu sự lưu tâm của các ông Ngô Đình Cẩn, Trần Chánh Thành trên đây là một
khích lệ cho tôi trong việc xây dựng Phong trào Cách mạng Quốc gia vùng
Duyên hải thì chuyến viếng thăm Nha Trang của Thủ tướng Diệm sau đó mới thực
sự là phần thưởng tinh thần và tình cảm giá trị hơn. Thủ tướng Diệm, từ ngày
bị tướng Nguyễn Văn Hinh chống đối, đã tự giam mình trong khuôn viên Dinh
Độc lập, nhưng ngay sau khi đánh tan quân Bình Xuyên ở rừng Sát và mặc dù
công việc đa đoan, ông đã quyết định đi kinh lý mà địa điểm đầu tiên là Nha
Trang, nơi tôi đang chịu trách nhiệm.
Khi Thủ
tướng Diệm đến Nha Trang, mặc dầu tôi chỉ là Tư lênh phó nhưng đại tá Phạm
Văn Đổng vẫn đề nghị tôi, với tư cách Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia
vùng Duyên hải, đại diện cho quân dân đọc diễn văn chào mừng Thủ tướng. Tôi
tổ chức một buổi mít-tinh của dân chúng và quân đội tại một công viên sát bờ
biển để nghênh đón ông Diệm. Tôi muốn mượn cảnh trời cao biển rộng, cảnh
bạch nhật thanh thiên, thay mặt quân dân Nha Trang đưa cao lời thề chết sống
với Ông để thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, xây dựng đời sống mới ấm no
hạnh phúc cho đồng bào sau 100 năm quê hương đắm chìm trong nô lệ dưới gót
giầy sắt của thực dân. Có lẽ Đại tá Đổng và nhiều nhân chứng đã không quên
có những bà già, trẻ em 15, 16 tuổi đã đến ôm chầm lấy vị Thủ tướng khả kính
ngỏ lời hân hoan được thấy tận mắt nhà lãnh đạo vì dân vì nước. Tôi còn nhớ
ông Diệm đã nhìn tôi rơm rớm nước mắt như muốn chia sẻ nỗi cảm động hân hoan
của ông. Sau buổi lễ đón chào, ông Diệm không chịu về tòa Tỉnh trưởng ăn cơm
trưa mà lại đòi về ăn cơm chung với các sĩ quan ở Câu lạc bộ. Ngồi giữa Đại
tá Linh Quang Viên, Tư lệnh Vùng Ba, và Đại
tá Đổng, Tư lệnh Phân khu Duyên hải, và trước độ 60 sĩ quan, ông Diệm nói
với các sĩ quan hiện diện là ông rất biết ơn quân đội đã ủng hộ ông, đã hy
sinh cho ông. Ông hứa sẽ trung thành với dân tộc và đưa nước nhà đến bến bờ
vinh quang.
Sau khi
thăm Nha Trang, ông bảo tôi cùng đi theo ông lên Đà Lạt để tiếp tục chuyến
kinh lý của ông. Cử chỉ ưu ái đó làm tôi cảm động. Đến Đà Lạt, ông cho biết
sẽ thăng tôi lên đại tá và sẽ bổ nhiệm làm Tư lệnh Phân khu Duyên hải thay
cho đại tá Phạm Văn Đổng giữ chức Tư lệnh Sư đoàn Nùng (Sư đoàn 3) ở Phan
Rí. Còn ông Thái Quang Hoàng lên chức thiếu tướng và sẽ giữ chức Tư lệnh
Quân khu III thay cho đại tá Linh Quang Viên. Sau này tôi mới biết việc
thăng cấp cho tôi và Thái Quang Hoàng... nằm trong chủ trương tưởng thưởng
chung cho những người cả dân sự lẫn quân sự đã từng ủng hộ ông Diệm từ những
ngày đầu và trong những ngày ông gặp khó khăn đối phó những kẻ thù thực dân
và phong kiến. Chủ trương đó do các ông Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung,
Trần Ngọc Liên... đề nghị lên ông Diệm. Mỗi người có công đều được thăng một
cấp, ví dụ như ông Nguyễn Đôn Duyến, nguyên đốc sự hạng nhì được thăng lên
đốc sự hạng nhất; như ông Võ Như Nguyện (hiện ở Pháp), từ Chánh thanh tra
Công an hạng ba lên Chánh thanh tra Công an hạng nhì. Về vụ thăng thưởng,
đến năm 1964, khi tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, ông hủy bỏ những nghị
định thăng cấp cũ làm cho một số người vô cùng bất mãn. (Vị giáo sư Hán học
Võ Như Nguyện biết rõ vấn đề này và có đến phàn nàn với tôi tại Sài Gòn).
Như vậy,
từ nay, nhiệm vụ của tôi trên toàn Phân khu Duyên hải (gồm bốn tỉnh Phú Yên,
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) sẽ gồm không những giữ gìn an ninh địa
phương này mà còn về mặt chính trị, phải xây dựng cho quần chúng một ý thức
chính trị vững mạnh mà nội dung là chống Cộng và ủng hộ chế độ Cộng Hoà.
Trước 1945, tôi có qua lại Nha Trang vài lần trong các chuyến đi công tác
cho ông Diệm khi còn hoạt động cho phong trào Cường Để. Lúc bấy giờ, đầu óc
còn suy tư về những hoạt động cách mạng bí mật và nguy hiểm, và lại tuổi trẻ
nên tôi chưa nghĩ đến việc an cư lạc nghiệp cho gia đình. Nhưng từ năm 1953,
khi được đổi về miền thùy dương gió hiền cát trắng, làm đại diện cho Quân
khu II, tôi có nhiều thì giờ quan sát dân tình cảnh trí tỉnh Khánh Hòa, và
tôi có ý định sẽ chọn tỉnh lỵ Nha Trang làm quê hương. Ý định này trở thành
quyết định vì sau ngày chia cắt đất nước vào tháng 7 năm 1954, tôi linh cảm
thấy ngày trở lại nơi chôn nhau cắt rốn vùng tả ngạn sông Gianh quả thật là
xa vời. Sau những năm lê gót khắp mọi nẻo miền đất nước, tôi thấy Nha Trang
quả là nơi đất lành cho chim đậu, có thể làm nơi sinh sống vĩnh viễn cho vợ
con, làm nơi thừa lương cho mình khi tuổi đã về chiều. Tôi say mê Nha Trang,
quyến luyến Nha Trang vì Nha Trang không khép kín u trầm như cố đô Huế,
không cô đơn lạnh lùng như Đà Lạt, không náo nhiệt xô bồ như Sài Gòn. Tôi
yêu Nha Trang vì cảnh non nước trời mây tình tứ. Nha Trang sống động mà
không suồng sã, mộng mơ mà không sầu não, một thành phố trung bình nhưng
thanh lịch như là nhà thơ Quách Tấn đã mô tả sau đây:
[4]
Nhắn
ai viếng cảnh Nha Trang,
Muốn tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà.
Muốn trông trời biển bao la,
Con thuyền nho nhỏ bơi ra Hòn Chồng.
Muốn xem cá lạ biển Đông,
Xuống tòa Hải Học trong vùng Trường Tây.
Muốn vui cùng nước, cùng mây,
Mây trùm suối ngõ, nước vầy suối tiên.
Ba Hồ làm thú thiên nhiên,
Qua Sơn là chốn thần tiên đi về.
Lòng mong nương bóng
Bồ Đề,
Lên chùa Hải Đức gần
kề Nha Trang.
Nha Trang trăng ngọc
gió trầm,
Anh về Bình Định lệ
dầm nhớ thương.
Trách ai rắp nẻo ngăn
đường,
Non song gởi gấm can
trường lại em.
Hòn Chữ chưa chìm,
Hòn Trầm chưa ngã,
Ngoài còn Vạn Giã,
Trong còn Cam Lâm,
Vẫn còn trăng ngọc gió
trầm,
Nghìn thu nghĩa nặng
tình thâm mãi còn.
Ngay
trước cả thời chúa Nguyễn mở mang bờ cõi, phong cảnh Nha Trang đã nổi tiếng
là tình tứ với hàng dương liễu dịu dàng trên một bờ biển cát trắng nước
xanh, dân tình Nha Trang đã nổi tiếng là hiền hòa đôn hậu, chỉ biết khai
thác đất cha biển mẹ làm phương kế sinh nhai. Vào đầu thế kỷ thứ 19, khi nhà
bác học Yersin đến định cư tại đây thành lập viện Pasteur để nghiên cứu thêm
về vi trùng học trên các bệnh của miền nhiệt đới, thì Nha Trang được chỉnh
trang lại vừa đủ như một cô gái quê xinh đẹp điểm thêm một chút phấn hồng để
trở thành một thành phố có hấp lực lôi cuốn khách nhàn du.
Nhưng từ
khi đất nước qua phân, ông Diệm về nước, thì Nha Trang bỗng vươn mình và trở
thành một “thành trì cách mạng” sôi động đến nỗi ông Ngô Đình Nhu, cha đẻ và
là lãnh tụ đảng Cần Lao Nhân Vị, phải đích thân đến đây để tổ chức việc
thành lập Quân ủy Trung Ương của đảng. Thật vậy, lúc bấy giờ, chỉ độ một
tuần sau ngày thành lập nền Cộng hòa (26-10-1955), cuộc truất phế Bảo Đại
còn đang làm cho một số dân chúng miền Trung xao động, miền Hậu Giang còn
khói lửa mịt mù, tân nội các còn chập chững đối phó với bao nhiêu việc trọng
đại... thế mà ông Nhu đã bỏ thủ đô vội vã đến Nha Trang để xúc tiến công tác
này trong vùng trách nhiệm của tôi. Quả là một vinh dự cho Nha Trang và cho
riêng tôi.
Không ai
được biết đảng Cần Lao được thành lập vào lúc nào ngoại trừ một thiểu số rất
nhỏ nòng cốt của Đảng này, nhưng ai cũng biết là từ lúc chưa nắm được chính
quyền, ông Nhu đã cổ xúy và nhiều lần đề cập đến một đảng bí mật làm rường
cột cho chế độ. Là một người nghiên cứu và chịu ảnh hưởng phần nào lý thuyết
của Mao Trạch Đông, ông Nhu cũng chủ trương quản trị và lãnh đạo quốc gia
theo phương trình Lãnh tụ Đảng - Nhà nước - Nhân dân,
nhưng điều mà ông Nhu không ngờ tới là ông đã theo mô thức này một cách quá
lý thuyết nên sau này thực tế đã cắt miền Nam thành hai vùng chính trị khác
nhau, lúc thì có ranh giới rõ ràng lúc thì lẫn lộn vào với nhau với nhiều
mâu thuẫn sâu đậm: Hai lãnh tụ Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, hai đảng Cần
Lao miền Trung và Trung Ương, hai nhà nước có hai bộ máy công quyền với
những nhân sự và phương thức quản trị khác nhau, và hai loại nhân dân chạy
theo hay chống lại chế độ. (Sẽ nói rõ hơn trong chương IX: Đảng Cần Lao).
Tôi nhận
lãnh nhiệm vụ Tư lệnh Phân khu Duyên hải được độ hai tháng thì hai Trung úy
Lê Quang Tung và Nguyễn Văn Châu từ Huế vào gặp tôi cho biết hai Cậu (lúc
bấy giờ hai ông Tung và Châu gọi hai ông Nhu và Cẩn bằng Cậu) phái họ vào
Nha Trang để thảo luận với tôi về việc tiến hành thành lập Quân ủy Trung
Ương của Đảng Cần Lao. Tôi hỏi vì sao không lập ở Sài Gòn để cho gần Trung
Ương của đảng, hoặc ở Huế cho đông nhân sự nòng cốt trung kiên mà lại ở Nha
Trang, thì ông Châu trả lời vì “thượng cấp và anh em đều công nhận quân nhân
Nha Trang có trình độ giác ngộ chính trị sâu, có tinh thành đấu tranh cao,
lại trung thành triệt để với lãnh tụ Ngô Đình Diệm”. Rồi họ không tiếc lời
khen tôi là người có công lớn trong việc xây dựng “thành trì cách mạng” tại
bốn tỉnh duyên hải miền Trung để làm thí điểm.
Điều làm
tôi thắc mắc lúc đó là tôi không biết gì về đường lối và sách lược chính trị
của Đảng Cần Lao, lại càng không biết gì về vai trò và nhiệm vụ của bộ phận
quân ủy trong sách lược của Đảng cũng như trong sách lược chung của quốc
gia. Như vậy ba lý do mà họ trả lời trên kia thật ra chỉ gồm lại trong điều
cuối mà còn bị giới hạn nữa, nghĩa là không phải toàn quân, toàn dân trong
Nha Trang mà chỉ “cán bộ trung thành triệt để với lãnh tụ Ngô Đình Diệm”.
Vì tôi chỉ thấy đó là tiêu chuẩn duy nhất để nhận diện và kết nạp đảng viên
nên sau ba ngày hội họp và đúc kết thành quả, khi toàn thể anh em bầu tôi là
Chủ tịch Quân ủy đảng Cần Lao, tôi liền viện ra một số lý do, công cũng như
tư, để nhất quyết từ chối chức vụ này cũng như từ chối bất kỳ chức vụ nào
trong Trung ương Quân ủy.
Cuối
cùng, khi có sự can thiệp của ông Nhu và nhất là chính vì sự hiện diện đặc
biệt của ông, nên tôi đành phải nhận chức ủy viên Trung Ương cũng như Thiếu
tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân khu II và đại tá Tôn Thất Xứng (vắng mặt
trong buổi họp!). Chủ tịch Quân ủy do Trung úy Nguyễn Văn Châu (sau này là
Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý, hiện sống ở Pháp) và Phó Chủ tịch do Trung
úy Lê Quang Tung (sau này là Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt) đảm nhiệm. Đó là
hai sĩ quan trẻ có những điểm chung rất nổi tiếng trong quân đội về tinh
thần địa phương quá khích, về thái độ mộ đạo cuồng tín, và về quyết tâm phục
tùng vô điều kiện mệnh lệnh của anh em ông Ngô Đình Diệm mà từ nay tất cả
quân nhân của Quân đội - từ Đại tướng đến binh nhì - sẽ bị chi phối về mặt
lập trường chính trị và sẽ bị điều khiển về mặt công tác chính trị.
Sau buổi
họp, ông Nhu trở lại Sài Gòn, các đồng chí về nhiệm sở cũ. Kết quả của buổi
họp và hình thức cũng như nội dung của buổi họp không gây được một xúc cảm
đặc biệt nào ngoại trừ cái tình cảm to lớn mà tôi đã có từ lâu là dân tộc
ta, suốt cả thế kỷ này, đã chịu biết bao thống khổ điêu linh, nay được sống
và được tham dự vào công cuộc xây dựng một nền Cộng hòa có tự do, có dân chủ
và có phúc lợi cho toàn dân. Có quân ủy hay không có quân ủy, có đảng hay
không có đảng, thì ông Diệm cũng được sức mạnh của dân yểm trợ để ông thực
hiện những ước mơ tối thiểu và chính đáng của họ. Từ nay, hết rồi những tủi
nhục của quá khứ. Từ nay, trong vận hội mới, những ai đã lầm đường theo Tây
theo Cộng để sát hại đồng bào sẽ được tha thứ lỗi lầm như lời bác ái của
Chúa dạy; những ai đã nuôi căm thù vì bị áp bức đàn áp trong chế độ cũ, sẽ
quên hết oán thù như lời hỉ xả của Phật dạy, để người người nắm tay nhau vun
xới cho trăm hoa đua nở khắp xóm làng, chào mừng chế độ Ngô Đình Diệm khai
mở một cuộc cách mạng cho quê hương dân tộc.
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|