Chương IV
NHỮNG NGÀY CUỐI
CÙNG
CỦA THỰC DÂN PHÁP
Cho đến đầu Thu năm 1952, tổng
số quân nhân Pháp bị tử trận, thương vong và mất tích tại Đông Dương lên
đến hơn 90.000 người. Chi phí cho chiến trường này bằng hai lần số kinh viện
của Hoa Kỳ trong khuôn khổ chương trình viện trợ tái thiết Marshall. Tại
quốc hội Pháp, từ ngữ “la sale guerre” (cuộc chiến tranh bẩn thỉu)
bắt đầu được xử dụng trong các cuộc tranh luận giữa các phe chủ chiến và chủ
hòa.
Trong
khi đó thì tại miền Bắc Việt Nam, tướng Võ Nguyên Giáp đánh bật các đơn vị
thiện chiến của tướng Raoul Salan ra khỏi cứ điểm Hòa Bình và bắt đầu tung
ba sư đoàn chiếm một ngôi làng bé nhỏ tên là Mường Thanh ở biên giới Việt -
Lào trong một vùng lòng chảo bề dài 18 cây số, bề ngang 8 cây số có tên gọi
là Điện Biên Phủ.
Mấy tuần
lễ trước khi Hòa Bình thất thủ, tôi bị tướng Nguyễn Văn Hinh thuyên chuyển
ra Bắc. Hồi bấy giờ, “ra Bắc” được xem như là một biện pháp chế tài đối với
những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam, vì tình hình sôi động của chiến sự
và vì những tổn thất nặng nề về phía những quân nhân Việt Nam. Hầu hết những
sĩ quan Việt Nam trung cấp bị đổi ra Bắc đều ít nhiều có hồ sơ chống Pháp,
hoặc chống Bộ Tổng Tham mưu của tướng Nguyễn Văn Hinh.
Tôi theo
học khóa Tiểu Đoàn trưởng và khóa Liên Đoàn Lưu Động (để được cập nhật hóa
với chiến trường Việt Bắc) do Đại tá Vanuxem, một trong những sĩ quan cao
cấp xuất sắc nhất của Pháp lúc bấy giờ điều hành. Cùng khóa với tôi có Trung
úy Nguyễn Văn Thiệu.
Mãn
khóa, Thiệu, có thêm Trung úy Cao Văn Viên và tôi, được lệnh thuyên chuyển
ra mặt trận Hưng Yên, trình diện với Trung tá Dương Quý Phan, một sĩ quan
nổi tiếng thân Pháp, tay chân của tướng Cogny. Tư Lệnh miền Đông Bắc Việt
đang đóng ở Hải Dương. Mặt trận Hưng Yên vừa được bộ tư lệnh Pháp trao trả
phần trách nhiệm lại cho quân đội quốc gia Việt Nam và đang bị những áp lực
nặng nề. Bộ Tổng Tham mưu Sài gòn chỉ định tôi làm Tham mưu trưởng, Cao Văn
Viên làm trưởng phòng Nhì và Nguyễn Văn Thiệu làm trưởng phòng Ba. Còn phòng
Tư vẫn do một Đại úy người Pháp phụ trách. Bộ chỉ huy và trung tâm hành quân
khu chiến được đặt tại ngôi giáo đường to lớn rộng rãi của tỉnh lỵ Hưng Yên
mà linh mục bề trên đã vui lòng cho quân đội Pháp xử dụng từ trước.
Ba anh
em chúng tôi được cấp phát chung một căn phòng nhỏ vừa đủ để ba cái ghế bố
loại nhà binh và hàng ngày ăn cơm tại câu lạc bộ sĩ quan. Buổi tối, lúc trở
lại phòng để chuẩn bị đi ngủ, Thiệu và tôi thường phân tích và luận bàn về
tình hình chính trị và chiến sự đến khuya. Riêng Viên vốn tính ít nói nên
chỉ thỉnh thoảng góp ý kiến mà thôi.
Tháng 4
năm 1953, tuy tình hình chiến sự ở Lào trở nên quyết liệt hơn khi Việt Minh
chiếm Cánh Đồng Chum và tiến quân về Luang Prabang, thủ đô Hoàng gia Lào,
nhưng không vì thế mà áp lực quân sự giảm bớt tại chiến trường Bắc Việt.
Tháng 5 năm đó, tướng Henri Navarre thay thế tướng Salan nhưng chỉ làm cho
quân Pháp thêm lúng túng vì quan điểm chiến lược thiếu thực tế của vị tướng
lạnh lùng và cô đơn đã từng tham gia hai trận thế chiến này. Quân đội Pháp
hoàn toàn bị động ngay cả ở thế phòng thủ. Hết căn cứ này đến căn cứ khác
lần lượt bị mất vào tay địch hoặc bị rút bỏ, chỉ còn giữ lại một ít địa bàn
ở các giáo phận Công giáo như Bùi Chu, Phát Diệm, Kẻ Sặt…và các tỉnh chung
quanh Hà Nội và Hải Phòng.
Trước
tình thế bi quan đó, một hôm Nguyễn Văn Thiệu đã hỏi tôi: “Theo anh thì cuộc
chiến tranh hiện tại sẽ đi về đâu và tương lai Việt Nam sẽ như thế nào?” Đó
là câu hỏi có tính toàn bộ và lâu dài nhưng tôi vẫn xác quyết với Thiệu và
Viên là “thế nào Pháp cũng bị bại trận và tìm giải pháp thỏa hiệp với Việt
Minh, đất nước sẽ bị chia đôi nhưng không biết chia ở khu vực nào. Hoa kỳ sẽ
can thiệp vào Việt Nam để chận đứng mưu đồ bành trướng của Cộng Sản ở Đông
Nam Á và Hoa Kỳ sẽ đưa ông Diệm về nước nắm chánh quyền”. Sau này tại Sài
Gòn, mỗi lần gặp tôi, Thiệu không quên nhắc lại chuyện cũ và công nhận tôi
nhìn xa thấy rộng.
Sống tại
Bắc Việt và đặc biệt tại Hưng Yên, tôi ở vào tình trạng của một sĩ quan đang
thọ phạt dưới hình thức của sự lưu đày. Những đêm trăng lạnh lùng của xứ
Bắc, với cái tâm trạng “cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương”,
tôi nhớ về quê hương miền Trung, nơi đang có gia đình, bạn bè và tổ chức.
Tôi hồi tưởng đến những công tác đang dang dở và những đồng chí đang lưu lạc
với rất nhiều nhớ thương. Nỗi niềm đó cộng với ý thức chính trị, tinh thần
dân tộc cực đoan un đúc bởi mười năm hoạt động, làm tôi không thiết tha một
chút nào với công việc hiện tại, một công việc tuy gọi là chống Cộng sản
nhưng trước hết chỉ làm lợi cho người Pháp trong ý đồ bám víu lấy mảnh đất
thuộc địa mà không thực tâm trao trả độc lập lại cho người Việt Nam, một nền
độc lập đã biến thành ý thức chỉ đạo của dân tộc, mà vì nó và do nó mà trước
tôi đã tồn tại đến ngày nay. Cho nên trong suốt thời gian ở tại Hưng Yên,
tôi đã cố tình không để một chút nhiệt tâm nào vào công vụ.
Thái độ
đó lại được củng cố vững chắc hơn vào ngày 27 tháng 5 năm 1953, khi tại Sài
Gòn, hội nghị Đoàn Kết đòi hỏi “độc lập hòa bình cho Việt Nam” do các đoàn
thể chính trị của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, các đảng phái chính trị
như Đại Việt, Việt Quốc và các nhân vật tên tuổi như Trần Trọng Kim, Trần
Văn Ân, Nguyễn Xuân Chữ, Ngô Đình Nhu,…tổ chức đã phổ biến lập trường quyết
liệt của nhân dân Việt Nam. Do đó, tôi thường tìm cơ hội lên Hà Nội liên lạc
với một số đồng chí và thân hữu như ông Mai Văn Toan (sau này làm Dân biểu
dưới chế độ ông Diệm), ông Trần Trung Dung (sau này giữ chức Phụ tá Bộ
trưởng Quốc Phòng thời Đệ Nhất Cộng Hòa)…để theo dõi hoạt động của ông Diệm
tại Hải ngoại và tìm hiểu những biến chuyển mới của tình hình chính trị.
Mỗi lần
đi Hà Nội về, tôi lại mang theo một số báo Xã Hội (do ông Nhu chủ
trương) để phổ biến cho một số sĩ quan và nhân sĩ tại Hưng Yên trong mục
đích xây dựng hậu thuẫn cho chủ trương chính trị của ông Diệm. Trong những
dịp đi hành quân hay thanh tra các đơn vị, tôi cũng thường trình bày cho các
sĩ quan biết tình cảnh trôi nổi hiểm nghèo thật sự của đất nước Việt Nam
trong cái thế tương tranh Pháp - Cộng và thuyết phục họ về con đường nào mà
một người Việt Nam thực sự yêu nước, đặc biệt nếu người Việt Nam đó lại là
một chiến sĩ cầm súng, nên chọn lựa.
Nhưng
rồi những hoạt động “phi quân sự” đó của tôi dần dần bị báo cáo lên cho Bộ
chỉ huy rồi đến tai Trung tá Dương Quý Phan, nên tôi bị tướng Cogny phạt 60
ngày trọng cấm, hạ tầng công tác và thuyên chuyển về Liên Đoàn Lưu Động số
3, đang hành quân tại vùng Ninh Bình do Thiếu tá Phạm Văn Đổng (hiện ở Mỹ)
chỉ huy. Lý do bị phạt ghi trong hồ sơ quân vụ còn có thêm tội “vô lễ với
cấp chỉ huy” vì đã hai lần tôi công khai chỉ trích Phan trước mặt đông người
về tác phong “bồi Tây” của y khi mỗi buổi sáng, nếu gặp các hạ sĩ quan Pháp
thì Phan ân cần chào hỏi “Bonjour mon caporal” còn nếu gặp sĩ quan
Việt Nam thì Phan chỉ chào lấy lệ và còn có ý khinh bỉ.
Trong
bữa ăn cuối cùng tại câu lạc bộ sĩ quan để tiễn tôi lên đường về nhiệm sở
mới, Trung úy Nguyễn Văn Thiệu mở một chai champagne mời tôi và nói mấy lời
tiễn biệt rất cảm động. Dương Quý Phan nổi giận, nạt ông Thiệu tại sao lại
dám ca ngợi một sĩ quan đang mang trọng tội trước mặt y. Cử chỉ vừa ưu ái,
vừa khí phách của ông Thiệu càng làm cho tôi quý mến ông ta hơn. Trớ trêu
thay, trong cuộc đời binh nghiệp và chính trị của ông Thiệu và tôi, và qua
những biến cố quan trọng của quốc gia, chúng tôi còn nhiều duyên nợ cho đến
năm 1965, 1966, khi hai ông Thiệu và Kỳ lãnh đạo quốc gia, bắt tôi giam lỏng
hai lần ở Pleiku và Nha Trang gần cả năm trời.
Cũng
mang cái tâm trạng bất hợp tác như ở Hưng Yên, tôi về Nam Định và làm việc
tại Bộ Chỉ huy Liên đoàn 3 Lưu Động. Nhiều khi ngay cả trong giờ công vụ tôi
vẫn viết bài hay sáng tác thơ gởi về Sài gòn cho ông Nhu hoặc ông Đỗ La Lam
(hiện ở Mỹ) đăng vào báo Xã Hội. Đặc biệt trong hai bài thơ Nhớ
con và Nhớ Huế và trong tùy bút Tâm sự dòng sông Hương,
tôi đã ký thác nỗi lòng của mình về nỗi hoài vọng ngày ông Diệm và tổ chức
thành công đem lại độc lập và tự do cho đất nước để cho những người Việt Nam
bình thường như tôi khỏi còn phải đấu tranh trong cái thế hiểm nghèo giữa
Pháp và Việt Minh. Tâm sự này, sau ngày chia cắt đất nước, tại miền Nam, tôi
tìm lại được một cách rất khoái cảm trong kịch phẩm Thành Cát Tư Hãn
của nhà văn Vũ Khắc Khoan (thuộc nhóm Quan Điểm, gồm những văn nghệ sĩ miền
Bắc đã từng theo kháng chiến rồi về Tề, hoặc đã ở lại Hà Nội nhưng bất hợp
tác với Pháp) khi ông cho nhân vật Sơn Ca của ông vừa không cộng tác với
chính quyền Thành Cát Tư Hãn vừa không vào bưng theo “kháng chiến” Cổ
Giã Trường, mà lại chọc mù đôi mắt đi về hướng mặt trời mọc để kết thúc kịch
phẩm này.
Một phần
có lẽ vì những bài thơ đó, và phần khác có lẽ vì ông Nhu đang muốn tập hợp
lại cán bộ đề tụ lực chuẩn bị ngày ông Diệm về nước, nên ông đã vận động với
hai người bạn của ông là Đại tá Trần Văn Đôn (vừa thăng chức và vẫn còn chỉ
huy An Ninh Quân Đội) và Đại tá Trần Văn Minh (Tham Mưu trưởng của tướng
Hinh để tôi được thuyên chuyển về Nha Trang, là địa phương chiến lược nằm
gần giữa Huế (căn cứ địa của tổ chức) và Sài Gòn (chiến trường của tổ chức).
Rời miền
Bắc căng thẳng của một Hà Nội đang bắt đầu lên cơn sốt, tôi bay về Nha Trang
với tư cách Đại diện Đặc biệt của Bộ Tư Lệnh Quân khu Hai với nhiệm vụ cấp
thiết thành lập 9 tiểu đoàn khinh quân theo kế hoạch tổ chức mới của Bộ Tham
mưu Hỗn hợp Pháp-Việt và của Tướng O’Daniel, trưởng phải bộ quân sự Mỹ ở Sài
Gòn. Sau khi đã huy động thanh niên của ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và
Bình Thuận trong bốn tháng, tất cả 9 tiểu đoàn đều được thành lập và đều
đang trong vòng huấn luyện ở quân trường thì tôi được thuyên chuyển về chỉ
huy khu chiến Phan Rang vừa được Pháp trao lại cho Việt Nam.
Khu
chiến Phan Rang gồm lãnh thổ Ninh Thuận và quận Hòa Đa của tỉnh Bình Thuận,
quân số gồm hai tiểu đoàn bộ binh và độ 20 đại đội phụ lực binh (supplétif)
và một đơn vị thiết giáp. Về đây tôi gặp lại người bạn tri kỷ làm Tỉnh
trưởng Ninh Thuận là ông Thái Văn Kiểm. Ông là một nhà văn hóa và cũng là
một nhà viết sử tiếng tăm tại miền Trung, từng làm việc lâu năm ở quê hương
Quảng Bình của tôi, biết nhiều về xuất xứ dòng họ của các ông Ngô Đình Diệm
và Võ Nguyên Giáp. Tôi được hân hạnh quen biết ông Thái văn Kiểm từ ngày ông
làm giám đốc Nha Thông tin Trung Việt vào khoảng năm 1948-1949. Thế rồi khi
ông làm Tỉnh trưởng Khánh Hòa, tôi được thuyên chuyển về đó, nay ông về trấn
nhậm Phan Rang, không ngờ tôi lại gặp ông để hai anh em, kẻ bên văn người
bên võ, cùng chung lo dân sinh, dân kế cho đồng bào Ninh Thuận. Khác với
những Tỉnh trưởng thời Pháp hay thời Việt Nam Cọng Hòa sau này, dùng luật
lệ, hình phạt để trị dân, nhà học giả họ Thái chỉ lo “văn dĩ tải đạo”, lấy
nhân trị làm nguyên tắc trị dân. Ông ít khi ngồi ở văn phòng dinh Tỉnh
trưởng mà thường lê gót khắp các ngõ xóm làng để thăm dân cho biết sự tình.
Đi đến đâu ông cũng đem theo những lời giảng dạy của thánh hiền, những
chuyện xưa tích cũ để giáo hóa, dìu dắt dân quê về mọi mặt: tôn giáo, chính
trị, xã hội, kinh tế…Sau này, tôi còn nhớ vào khoảng tháng 4 năm 1954, ông
Ngô Đình Cẩn vận động với các tỉnh, thị trưởng miền Trung lập kiến nghị gởi
lên Quốc trưởng Bảo Đại ở Pháp yêu cầu Bảo Đại chấp thuận cho ông Diệm làm
Thủ tướng, ông Kiểm (cũng như ông Lê Tá, thị trưởng Đà Nẵng, hiện ở Mỹ) đã
vui lòng ký tên vào thỉnh nguyện thư dù ông Kiểm không thuộc phe đảng chính
trị nào. Nhưng sau khi ông Diệm về nước cầm quyền thì ông Kiểm bị mất chức
ngay. Ông được dân chúng Ninh Thuận vô cùng ngưỡng mộ, nghe nói ngày ông từ
giã Phan Rang ra đi, đã có nhiều người không cầm được nước mắt trong buổi
tiễn đưa.
Ninh
Thuận và Hòa Đa là nơi dân chúng hiền hòa, bình dị, lực lượng của Việt Minh
tại đây không lấy gì làm mạnh. Chiến khu Ba Râu của họ (mà khi còn là tiểu
đoàn trưởng của Việt Minh, tôi đã từng đóng quân tại đây như đã đề cập trong
chương III) bị tôi phá hủy các cơ sở dưỡng binh và các kho tồn trữ nên trong
thời gian tôi làm việc tại Phan Rang, tình hình an ninh tương đối khả quan,
nhân dân làm ăn đi lại như thuở thái bình.
Tháng 7
năm 1953, quốc hội Pháp làm áp lực yêu cầu chính phủ Pháp phải bắt đầu tìm
biện pháp thương thảo để giải quyết chiến tranh Đông Dương. Ngày 9 tháng 11,
Hoàng thân Norodom Sihanouk nắm lấy quyền chỉ huy quân đội Hoàng gia và
tuyên bố Cao Miên độc lập. Giáng sinh năm đó, ông Hồ Chí Minh tiết lộ với
một ký giả Thụy Điển rằng Việt Nam sẵn sàng thảo luận về những đề nghị hòa
bình của chính quyền Pháp và chỉ một tháng sau, ngày 25 tháng Giêng năm
1954, các Ngoại trưởng của Hoa Kỳ, Nga, Anh và Pháp họp tại Tây Bá Linh
quyết định sẽ triệu tập một hội nghị quốc tế về Triều Tiên và Đông Dương vào
tháng Tư cùng năm.
Trong
khi đó thì cũng vào đầu năm 1954, tướng Navarre, Tổng Tư lệnh quân đội Pháp
tại Đông Dương, phát động chiến dịch Atlante để tiến chiếm Bình Định và Phú
Yên, và tạo áp lực nhằm xé nhỏ quân của Võ Nguyên Giáp vốn đang nỗ lực dồn
hết chủ lực quân về mặt trận Điện Biên Phủ. Dự đoán rằng ông Giáp cũng sẽ áp
dụng cùng sách lược, nghĩa là mở nhiều trận đánh lớn khác tại Trung Việt để
cầm chân và làm tê liệt khả năng di động của các đơn vị địch, tôi bèn thảo
một bản nhận định tình hình và một tờ trình về cho Bộ Tư lệnh Pháp-Việt của
Phân khu Duyên Hải tại Nha Trang để yêu cầu có kế hoạch đối phó và đồng thời
xin tăng cường phương tiện phòng thủ cho khu chiến Phan Rang vốn rất thiếu
thốn và yếu kém. Tôi còn dự đoán kế hoạch phản công của Việt Minh trong địa
phương trách nhiệm của tôi với những chi tiết về từng đồn một, và sự thất
bại gần như đương nhiên của các đơn vị dưới quyền nếu không được thỏa mãn
nhu cầu tăng viện.
Nhưng Bộ
Tư lệnh Nha Trang, mà về phía Việt Nam do Đại tá Nguyễn Văn Vỹ chỉ huy, lại
cho là tôi hốt hoảng, báo cáo láo, bèn gửi văn thư khiển trách, kèm theo
lệnh thuyên chuyển tôi ra Hà Nội học lớp Trung Đoàn trưởng, một quyết định
mà tôi cho là phát xuất từ những mâu thuẫn chính trị hơn là từ nhu cầu quân
sự lúc bấy giờ. Nhưng cũng nhờ theo học lớp Trung Đoàn trưởng này mà tôi có
thêm hai người bạn mới đồng khóa: Thiếu tá Lam Sơn và Đại úy Nguyễn Chánh
Thi. Người thay thế tôi tại Phan Rang là Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu, vừa ở
Bắc về, với lý do Thiệu là người Ninh Thuận sẽ am hiểu và nắm vững tình hình
hơn tôi.
Sau đó,
quả nhiên đúng như bản nhận định mà tôi đã chi tiết rõ ràng, trong lúc tôi ở
Hà Nội thì Việt Minh tổng phản công khắp các tỉnh miền Trung, đặc biệt tại
các tỉnh duyên hải. Tại Phú Yên và Bình Định, nhiều tiểu đoàn bị tiêu diệt
hoàn toàn, phải rút về lập vòng đai an toàn để chỉ còn bảo vệ các tỉnh lỵ mà
thôi. Tại Quảng Nam, Việt Minh tấn công Hội An và chiếm giữ một đêm, khi rút
đi, họ phá hủy một số công sự và bắt mang theo một số sĩ quan và những dụng
cụ truyền tin. Riêng tại Ninh Thuận của ông Thiệu, Việt Minh tiến chiếm và
tiêu hủy các căn cứ ngoại vi mà tôi đã xây dựng để che chở mặt Tây Nam của
Bộ Chỉ huy Phan Rang. Trong một trận đánh ác liệt gần Tháp Chàm, ông Thiệu
đích thân dẫn một đơn vị đi tiếp cứu bị Việt Minh phục kích và theo lời một
số người kể lại thì ông Thiệu đã phải “ôm quần mà chạy”.
Sau
những thất baị liên tiếp, ông Thiệu bị mất chức chỉ huy, đổi về Huế làm việc
tại Bộ Tham mưu Quân khu Hai, dưới quyền Đại tá Trương Văn Xương, một cộng
sự viên thân tín của tướng Hinh, giao quyền chỉ huy khu chiến Ninh Thuận lại
cho ông Thái Quang Hoàng vừa được thăng Thiếu tá. Thật ra không phải ông
Thiệu kém khả năng chỉ huy hay thiếu kinh nghiệm chiến trường. Ông Thiệu là
người khôn ngoan, tính toán rất kỹ lưỡng, và hành động rất cẩn mật, nhưng vì
binh sĩ tại khu chiến Ninh Thuận đại đa số là dân địa phương hiền lành,
không có tinh thần chiến đấu cao, gặp địch phản công mạnh là sợ hãi thối
lui. Họ là những nông dân của xứ Chàm cỏ khô lá úa, sau giờ đồng áng thì
thích rươu chè, chọi gà và nhất là cải lương, nên thiếu sự gan dạ và tinh
thần kỷ luật phải có của quân nhân tác chiến giỏi. Lúc tôi còn là Chỉ huy
trưởng tại Phan Rang, cứ mỗi lần có một đoàn cải lương từ Sài Gòn ra lưu
diễn tại tỉnh lỵ là một lần tôi phải ban hành tình trạng báo động với nhiều
lo lắng, vì binh sĩ tại các căn cứ ngoại vi thành phố đều muốn bỏ đồn về xem
hát, bất chấp những biện pháp kỷ luật mà ngày mai họ phải chịu, bất cần Việt
Minh có thể tấn công chiếm đồn đêm đó. Nếu dùng biện pháp mạnh, họ có thể
đào ngũ hoặc theo Việt Minh làm du kích.
Đã từng
chỉ huy và đã từng tìm hiểu phong thổ, dân tình của tỉnh này vốn nằm giữa
hai tỉnh nổi tiếng “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận” và có một quận
người Chàm tuy thủ phận làm ăn nhưng lại rất ngoan cố, cứng đầu khi có mâu
thuẫn với người Việt, nên trong những năm sau, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa,
khi hai ông Ngô Đình Nhu và Ngô Trọng Hiếu tuyên dương tỉnh Ninh Thuận đứng
đầu trong công cuộc thực hiện ấp chiến lược, tôi nghĩ thầm Ngô Đình Nhu đúng
là chỉ biết những con số báo cáo của Trung tá Khánh, tỉnh trưởng Phan Rang
(Công giáo Phú Cam), và nhìn sự việc bằng cái bề ngoài hời hợt mà không có
một chút kinh nghiệm thực tế nào. Thấy dân Ninh Thuận hăng hái cắm chông,
rào ấp, đào hào rồi lại nhiệt tâm thực tập báo động khua trống, gõ mõ, ông
Nhu vội đánh giá cao tinh thần chống Cộng của dân ở đây mà không biết rằng
dân Chàm làm như vậy là để bố phòng sợ người Việt phá phách, còn người Việt
làm như vậy là để ngăn ngừa cọp về phá vườn bắt trâu. Còn giữa Việt Cộng và Quốc gia,
thì chọn lựa của người dân rất rõ ràng: bên nào mạnh họ theo!
- o0o-
Trở lại
năm 1950, khi tôi về Quảng Bình để bắt đầu một giai đoạn nổi trôi lăn lóc
trong những năm tàn khốc của cuộc chiến Pháp-Việt từ Trung ra Bắc, thì tháng
Tám năm đó, sau một thời gian vận động ngầm của giám mục Ngô Đình Thục, ông
Diệm và người anh có ảnh hưởng lớn lao trên giáo hội Công giáo La Mã Việt
Nam này, lên đường đi La Mã dự lễ Năm Thánh để che đậy âm mưu đi Mỹ vận động
chính trị.
Lộ trình
không đi thẳng đến La Mã mà còn ghé qua Nhật Bản để thăm Kỳ Ngoại Hầu Cường
Để (một “giải pháp” hầu như không còn giá trị gì nữa kể từ năm 1945) và nhất
là để ông Diệm có cơ hội gặp giáo sư Wesley Fishel, một cựu sĩ quan tình báo
Hải quân thuộc Đệ Thất Hạm đội Hoa Kỳ thời đệ nhị thế chiến và nghe nói đang
là một nhân viên cao cấp của CIA. Buổi họp mặt với viên chức quan trọng này
của cơ quan tình báo Mỹ đưa đến kết quả là trường đại học Michigan sẽ bảo
trợ cho chuyến đi Mỹ của ông Diệm
[1].
Sau đó,
ông Diệm lên đường đi La Mã dự lễ Năm Thánh và yết kiến Đức Giáo Hoàng, rồi
từ đó bay đi Mỹ. Qua trung gian của giám mục Ngô Đình Thục, ông được Hồng Y
Spellman, thuộc dòng Franciscain, tiếp kiến.
Từ Mỹ,
ông Diệm lại quay về La Mã mấy ngày rồi mới đi Thụy Sĩ, Bỉ, Pháp để thảo
luận với một số chính khách Việt Nam phần đông là người Công giáo đang cư
ngụ tại các nước này. Năm 1951, ông Diệm trở lại Hoa Kỳ hai năm, sống trong
tu viện Maryknoll tại Lakewood (New Jersey) và Ossining (New York). Nhờ sự
giúp đỡ của Hồng y Spellman, thỉnh thoảng ông lại được mời đi thuyết trình
tại các đại học miền Đông và miền Trung-Tây Hoa Kỳ. Ông cũng diễn thuyết tại
thủ đô Hoa Thịnh Đốn và với lý luận rằng “chỉ cần chấm dứt chính sách thực
dân Pháp và chỉ cần Việt Nam có một chính phủ do người quốc gia lãnh đạo là
có thể đánh bại được Cộng Sản” mà ông đã chiếm được cảm tình và lời hứa sẽ
yểm trợ của các chính trị gia Mỹ như Nghĩ sĩ Mike Mansfield, John Kennedy,
Dân biểu Walter Judd, Chánh án Williams Douglas, và nhiều chính khách Công
giáo Mỹ khác. Phê bình câu nói của ông Diệm, giáo sư Buttinger cho rằng luận
cứ này phối hợp được sự đơn giản rất hấp dẫn và sự hợp lý khó cãi được
[2].
Chính vì
sự “hấp dẫn không cãi được” đó và quyết tâm của Hồng Y Spellman muốn có một
chính phủ Việt Nam do người Công giáo La Mã lãnh đạo
[3], mà ông Diệm đã trở thành một “giải
pháp” khả dụng và khả thi cho chính sách của Mỹ tại Đông Dương trong tương
lai rất gần. Nhưng cái luận cứ ‘đơn giản và hợp lý” này đã chứng tỏ tính
thiếu khoa học và không thực tế của nó khi ông Diệm, với một chính phủ quốc
gia và 9 năm cai trị, ông Thiệu với một chính phủ quốc gia và 11 năm cai trị
khác, vẫn không đánh bại được Cộng Sản. Nếu không muốn nói rằng chính phủ
quốc gia của ông Diệm đã chính nghĩa hóa sự hiện diện của Cộng Sản tại miền
Nam, và chính phủ quốc gia của ông Thiệu đã kiện toàn hóa chiến thắng của
Cộng Sản tại miền Nam. Như vậy, rõ ràng hai chế độ “quốc gia’ đã quản trị
đất nước trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975 quả thật đã không xứng đáng
trên cả hai mặt nội dung cũng như thực tế để mang nhận danh từ này.
Theo dõi
hành trình vận động quốc tế của ông Diệm, ta thấy gồm 6 chặng đường: Đi Đông
Kinh gặp một nhân viên tình báo Mỹ, đến Vatican gặp Đức Giáo Hoàng, đi Mỹ
gặp một vị Hồng Y, trở lại Vatican không biết để làm gì trong một thời gian
ngắn rồi lại qua Mỹ gặp tiếp vị Hồng Y cũ, sau đó là các chính khách Hoa Kỳ.
Sáu chặng đường đó thật ra chỉ gồm trong hai danh từ riêng lẫy lừng:
Vatican và Mỹ.
Tháng 5
năm 1953, theo lời mời của một số chính khách Việt Nam lưu vong mà đa số là
người Công giáo, ông Diệm từ giã Hoa Kỳ về Pháp rồi đi Bỉ và trú ngụ tại tu
viện Bénédictine de St André les Purges. Đúng một năm sau, năm 1954, khi số
phận Việt Nam bắt đầu bị cột chặt bởi chiến bại của Pháp tại Điện Biên Phủ
vào ngày mồng 7 tháng 5 và những mặc cả tại hội nghị Genève, thì ông Diệm
trở lại Paris và sống tại ngôi nhà của ông Tôn Thất Cẩn. Tại đây, với sự yểm
trợ đắc lực của người em là ông Ngô Đình Luyện, ông bắt đầu mở các cuộc thăm
dò và vận động trong giới chính khách Việt Nam cũng như với các thế lực quốc
tế.
Theo
giáo sư Buttinger thì tại Sài Gòn, ông Nhu biết rằng anh mình không đủ khả
năng trong việc đối phó với những vận động chính trị quốc tế khó khăn và
phức tạp, bèn vội vàng phái cộng sự viên thân tín là hai ông Trần Chánh
Thành và Lê Quang Luật qua Paris để tăng cường thêm cho ông Diệm. Ông Trần
Chánh Thành nguyên là tri huyện thời Pháp thuộc, sau theo Việt Minh làm
chánh án Liên khu Tư, rồi bỏ kháng chiến về Tề vào năm 1952. Còn ông Lê
Quang Luật là một trí thức Công giáo Bắc
Việt, người thân tín của giám mục Lê Hữu Từ.
Ba mục
tiêu vận động quan trọng và quyết định nhất của ông Diệm là được sự yểm trợ
của chính quyền Mỹ, tranh thủ được sự thỏa thuận của chính phủ Pháp, và cuối
cùng là thuyết phục được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ tướng. Ba
vận động liên hệ chặt chẽ đến vận mệnh của hàng triệu người Việt Nam mà sức
mạnh vô định của chính hàng triệu người Việt Nam đó không hề được vận dụng
tới. Thật ra ba bước vận động này tròng vào nhau như ba mắt xích, mà
trong bối cảnh chính trị quốc tế lúc bấy giờ, mở được mắt xích thứ nhất là
hai mắt xích còn lại sẽ bị tháo tung. Mắt xích thứ nhất, Hồng y Spellman đã
giúp ông Diệm mở ra từ năm 1953 rồi cho nên tuy Bảo Đại và chính phủ Pháp
lúc bấy giờ không đồng ý “con người Ngô Đình Diệm”, nhưng dưới áp lực của
ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles và sự can thiệp mạnh mẽ của Hồng Y Spellman
vào chính sách của Phong trào Cọng hòa Bình dân Thiên Chúa Giáo Pháp (MRP),
cuối cùng chính phủ Pháp và Bảo Đại đành phải chấp thuận bổ nhiệm ông Diệm
làm Thủ tướng.
Trong
hồi ký Le Dragon d’Annam, trang 328, ông Bảo Đại đã cố tình không nói
rõ những áp lực nầy dù những vận động chính trị của các nước liên hệ đến
chính tình Việt Nam lúc đó, cũng như dù mối bất hoà Bảo Đại-Ngô Đình Diệm
trong quá khứ đã rõ ràng (xem thêm Bên Giòng Lịch Sử 1940-1975, ấn
bản Hoa Kỳ, của Cao Văn Luận). Một cách thật tinh tế, để nói lên áp lực của
người Mỹ, ông Bảo Đại đã cho biết rằng "sau khi gặp ông Foster Dulles để cho
ông ta biết dự án của tôi, tôi đã gọi ông Diệm đến và nói rằng" (Après
m'être entretenu avec Foster Dulles, pour lui faire part de mon projet...).
Sự kiện trước lúc lấy một quyết định nội bộ quan trọng (chỉ định một Thủ
tướng) mà vị nguyên thủ quốc gia phải hội ý với Ngoại trưởng của Mỹ (không
như trước đó ông Bảo Đại đã chỉ định 5 Thủ tướng mà không cần phải qua "thủ
tục này") đã chứng tỏ áp lực của Mỹ quả thật có tác dụng lên quyết định của
ông Bảo Đại. Hơn nữa, ngay ở trang 239 sau đó, ông Bảo Đại còn viết thêm:
Thật vậy từ, nhiều năm
nay, ông ta được nhiều người Mỹ biết và thích nhờ tính cứng rắn. Dưới mắt
họ, ông Diệm là người phù hợp một cách đặc biệt cho hoàn cảnh hiện tại, vì
vậy mà Hoa Thịnh Đốn không ngần ngại gì mà không ủng hộ ông ta. (En effet, depuis de
nombreuses années, il était connu des Américains qui appréciaient son
intransigeance. A leurs yeux, il était l’homme fort convenant
particulièrement à la conjoncture, aussi Washington ne lui ménagerait pas
son appui).
Nêu lên
nhận định nầy, ông Bảo Đại ngầm cho ta biết sự can thiệp của người Mỹ trong
quá trình chọn lựa ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng là một sự can thiệp có
thật. (Những người không hiểu rõ cá tính của hai ông Bảo Đại và Ngô Đình
Diệm, lại không nắm vững những hoạt động quốc tế cũng như nội bộ Việt Nam
lúc bấy giờ, đã nhầm lẫn và không hiểu rõ được sự can thiệp nầy nên đã hiểu
sai luôn những biến cố lịch sử sau đó là lẽ dĩ nhiên).
Sự kiện
ông Diệm được Vatican và Mỹ ủng hộ là một yếu tố quan trọng xoay chuyển lịch
sử Việt Nam trong chiến tranh Quốc-Cộng nên tôi cần trích dẫn ra dưới đây
những đoạn sách khả tín của các ký giả, nhà văn, nổi tiếng Anh, Mỹ để thêm
tài liệu cho các nhà nghiên cứu sử sau nầy.
Theo John
Cooney thì Giáo Hoàng Pius 12 muốn Hồng Y Spellman vận động với Hoa Kỳ tham
dự vào chánh tình Việt Nam và ủng hộ cho ông Ngô Đình Diệm cầm quyền tại
nước này:
Theo Malachi Martin, một giáo sĩ Dòng Tên
đã từng làm việc tại Vatican trong những năm Mỹ gia tăng sự tham dự vào Việt
Nam, thì lập trường của Hồng Y Spellman hợp với ý muốn của Giáo Hoàng (in
accordance with the wishes of the Pope...) Giáo Hoàng muốn Hoa Kỳ ủng hộ
Diệm vì ngài bị ảnh hưởng của Giám mục Thục là anh của Diệm. Ông Martin xác
nhận rằng "Giáo Hoàng lo ngại Cộng Sản sẽ bành trướng thêm làm suy hại đến
Giáo hội. Giáo
Hoàng đã nhờ Spellman khuyến khích người Mỹ can dự vàoViệt Nam' ("The pope
was concerned about Communism making more gains at the expense of the
Church. He turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam",
The American Pope, JohnCooney, tr.241, 242).
Vì vậy Spellman đã bắt
tay vào việc điều động kỹ càng một chiến dịch xây dựng chế độ Diệm
(carefully orchestrated campaign to prop up the Diem regime)... Spellman và
Kennedy cũng thành lập một tổ chức ở Hoa Thịnh Đốn để vận động cho Diệm.
Chiêu bài vận động là chống Cộng và Công giáo (the rallying cries were anti-Communism and Catholicism). Sách đã
dẫn, trang 242.
Tháng 10 năm 1950, hai
anh em Thục Diệm gặp các viên chức Bộ Ngoại Giao tại khách sạn Mayflower ở
Hoa Thịnh Đốn, có cả sự tham dự của Dean Rusk. Diệm và Thục được linh mục
McGuire và ba giáo sĩ chính trị gia (political churchmen) đặc trách chính
sách chống Cộng tháp tùng, đó là Cha Emmanual Jacques, Giám mục Howard
Carroll và Edmund Walsh của Đại học Georgetown. Mục đích của cuộc gặp gỡ là
để tìm hiểu tình hình Việt Nam và để xác định lập trường chính trị của hai
anh em Diệm-Thục. Hai anh em tin rằng Diệm đã được an bài để cai trị đất
nước (both Diệm and Thục believed that Diệm was destined to rule his
nation). Sự kiện giáo dân Việt Nam chỉ chiếm mười phần trăm chẳng làm cho
hai người bận tâm. (The fact that Vietnam,s population was only
ten percent Catholic mattered little as far as the brothers were
concerned...) như Diệm đã nói trong bữa ăn tối rằng hai lập trường không lay
chuyển của ông đã quá rõ ràng. Ông tin tưởng vào quyền lực của Toà thánh và
ông chống Cộng kịch liệt (He believed in the Power of the Catholic Church
and He was virulently anti-Communist). Sách đã dẫn, 241.
Thật
vậy, ngoài cuốn "The American Pope - The life and Time of Francis
Cardinal Spellman" của John Cooney do Time Book phát hành, trong quyển "VietNam
- Why did we go" của Avro Mahattan (trang 58), chuỗi sự kiện này cũng đã
được trình bày lại rõ ràng:
"Spellman introduced
Diem to William O. Douglas of the Supreme Court. The latter introduced Diem
to Mike Mansfield and to John F. Kennedy, both Catholics and senators. Allen
Dulles, director of the CIA adopted him.
Following the decision
of his brother, John Foster Dulles, and of Cardinal Spellman, who was acting
for Pope Pius XII, Diem become their choice; he was going to be the head of
the government in South Vietnam.
The decision has been
taken, Dulles adviced France to tell Bao Dai to appoint Diem as Prime
Minister. France, having by now decided to abandon Vietnam, agreed. Diem
became Prime Minister in June, 1954. The 19th of the same month, Bao Dai
invested Diem with dictatorial power. This entailed not only civilian but
also military control. Diem arrived in Saigon June 26, 1954 and on June 7,
set up his own government."
Tạm dịch: HồngY
Spellman đã giới thiệu ông Diệm với ông Wiliam O.Douglas, Thẩm phán Tối Cao
Pháp Viện. Ông nầy lại giới thiệu ông Diệm với ông Mike Mansfield và ông
John F. Kennedy, cả hai đều là Thượng Nghị sĩ theo Công giáo. Ông Giám đốc
CIA Allen Dulles cũng đã đỡ đầu cho ông Diệm.
Theo quyết định của
anh ông ta là (Ngoại trưởng) John Foster Dulles và của Hồng Y Spellman,
người đại diện cho Giáo Hoàng Phero XII, ông Diệm đã được họ tuyển chọn, ông
sẽ là người cầm đầu chính phủ Nam Việt Nam.
Sau khi lấy quyết định
xong, ông Dulles khuyến cáo chính quyền Pháp hãy nói với Bảo Đại bổ nhiệm
ông Diệm làm Thủ tướng. Vì lúc bấy giờ đã có quyết định bỏ Việt Nam nên Pháp
đồng ý. Ông Diệm trở thành Thủ Tướng vào tháng 6 năm 1954. Ngày 19 cùng
tháng đó, Bảo Đại phong cho Ông Diệm toàn quyền. Không những quyền kiểm soát
dân sự mà còn cả quân sự nữa trên toàn quốc. Ông Diệm về tới Sài Gòn ngày 26
tháng 6 và thành lập chính phủ vào ngày 7 thàng 7 năm 1954.
Những bí
ẩn lịch sử trên đây cho ta thấy ngay từ trước năm 1950, ông Diệm vì không
thể cộng tác được với Pháp và cựu Hoàng Bảo Đại nữa nên hướng về Hoa Kỳ, mà
cuộc vận động nhịp nhàng của Vatican và cơ quan CIA đã đưa ông thành công
với chức vụ Thủ tướng khi Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ. Bây giờ thì ta đã
thấy rõ ràng tại sao trên đường xuất ngoại năm 1950 hai ông Diệm và Thục lại
gặp giáo sư Wesley Fishel tại Nhật Bản, nhân viên cao cấp của cơ quan Tình
báo Trung Ương Mỹ, tại sao trong "Bên Giòng Lịch Sử" linh mục Cao Văn
Luận khoe khoang; "Có thể nói rằng nếu không có cha Houssa thì số phận Việt
Nam không chừng đã khác", tại sao khi đến thăm Sài Gòn thăm lính Mỹ, Hồng Y
Spellman tuyên bố: "các anh chiến đấu cho văn minh Thiên Chúa Giáo". Từ nay,
ông Diệm trở thành người lính tiền đồn ngăn chận Cộng Sản cho Vatican và Hoa
Kỳ.
Đàng sau
vở tuồng chính trị này, ta còn thấy thấp thoáng bóng dáng một người đàn bà
mà tuy vai trò khiêm nhường nhưng không kém phần quan trọng là bà Nam Phương
Hoàng Hậu, một nữ tín đồ Công giáo ngoan đạo và có uy tín. Ông Tôn Thất Cẩn,
con trai của cụ Thân thần Phụ chánh Tôn Thất Hân và là bạn thân của ông
Diệm, đã thuyết phục bà Nam Phương để bà góp ý với chồng với điều kiện sau
khi ông Diệm cầm quyền phải nâng đỡ Hoàng tử Bảo Long, người con trai đầu
lòng của bà và của vua Bảo Đại. Bernard Fall cho biết ông Diệm đã quỳ xuống
trước bà Nam Phương để nhận lời uỷ thác đó
[4].
Ngày 16
tháng 6 năm 1954, sau một buổi tiếp kiến với Ngoại trưởng Foster Dulles,
Quốc trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh 38/QT bổ nhiệm ông Ngô Đình Diệm làm Thủ
tướng. Sau khi ông Diệm tuyên bố chấp nhận, vua Bảo Đại bèn kéo ông vào một
gian phòng kế cận trong lâu dài Thorence, nơi vua Bảo Đại trú ngụ tại
Cannes, trước bức thánh giá rồi bắt ông thề:
-"Chúa của ông đó, ông
hãy thề sẽ bảo toàn lãnh thổ quốc gia mà người ta sẽ giao phó cho ông. Ông
sẽ bảo vệ quốc gia chống lại Cộng Sản và nếu cần chống cả người Pháp".
Ông Diệm suy nghĩ giây
lát, nhìn Bảo Đại, rồi quay lại phía thánh giá, ông nói thầm:
-"Tôi xin thề"
[5].
Kể lại
những sự kiện trên đây, ký giả Karnow viết rằng: "Sau khi bổ nhiệm ông Diệm
làm Thủ tướng, Bảo Đại đã tự đào lỗ huyệt chính trị của mình mà không biết".
Những sự
kiện về ông Ngô Đình Diệm đến bái yết Quốc trưởng Bảo Đại khi nhận chức Thủ
tướng còn được Hillaire du Berrier kể tường tận hơn, đúng như cựu "Tổng
trưởng trực tiếp với Phủ Thủ Tướng" (trong chính phủ Bửu Lộc) Phan Huy Quát
và ông Tôn Thất Cẩn đã kể cho tôi nghe:
Ngô Đình Diệm sau khi
từ giã Hoa Kỳ năm 1953, về Bỉ rồi đến Pháp và không thể tránh được con đường
dẫn tới ngôi lâu đài 12 phòng tại Cannes. Lúc ấy, vào tháng 6 năm 1954, một
người thấp nhỏ, kỳ dị, lạnh lùng, thiếu nét vui tươi đứng trước mặt một vị
Cựu Hoàng mà vẫn tâu là "Bẩm tâu Hoàng Thượng", mặc dù vị cựu Hoàng đó lúc
bấy giờ chính thức mang danh hiệu là Quốc trưởng.
Bảo Đại biết rõ con
người đó tính tình bất thường hay thay đổi, khi thì bẽn lẽn rụt rè nhưng đôi
khi lại nóng nảy cộc cằn, thứ người lì lợm khắc khổ vì những năm tháng cô
đơn thiếu tình người. Bảo Đại biết con người đó cao ngạo và ngoan cố. Nếu để
chọn lựa một vị Thủ tướng trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy để phục vụ hữu
hiệu cho quốc gia thì Ngô Đình Diệm mà Bảo Đại phải chỉ định làm Thủ tướng
chỉ là con người được lựa chọn sau chót, nhưng Bảo Đại không có lựa chọn nào
khác hơn.
Quì xuống trước Bảo
Đại, Ngô Đình Diệm thề trung thành với vị Hoàng Đế của ông ta. Đã trải qua
biết bao thăng trầm cay đắng, Bảo Đại chấp nhận mọi việc chỉ là thường tình.
Bảo Đại cố quên những buổi hội họp đầy sóng gió tại Hồng Kông năm năm về
trước. Bảo Đại biết rằng con người trước mặt ông ta không bao giờ quên thù
hận nhưng Bảo Đại vẫn làm phần vụ của ông ta là chỉ định Ngô Đình Diệm làm
Thủ tướng với toàn quyền thành lập chính phủ. Lời nói cuối cùng của Bảo Đại
là: "Ông hãy hợp nhất các giáo phái vào cộng đồng quốc gia, thống nhất phần
đất nước còn lại của chúng ta".
Bà Nam Phương Hoàng
Hậu, cũng là một tín đồ Công Thiên Chúa giáo như ông Diệm, đã khẩn
khoản yêu cầu ông Diệm hãy cứu vãn và tạo thế lực cho nhà Nguyễn để giúp đỡ
cho Bảo Long, con trai của bà.
Bảo Đại ký cho ông
Diệm cái ngân phiếu một triệu đồng bạc để tổ chức những cuộc biểu tình "tự
phát" (spontaneous demonstration) hầu làm xúc động người Mỹ và tạo hào hứng
cho dân chúng Việt Nam. Diệm bỏ ngân phiếu vào túi rồi cảm ơn và tâu: "Bẩm
Hoàng thượng, nếu khi nào Ngài thấy tôi có lỗi, Ngài chỉ nói một lời là tôi
xin từ chức ngay".
Ngày 26 tháng 6 năm
1954, Diệm vào tuổi 54, trở về Việt Nam để chấp chánh và từ đây thì trách
nhiệm về phần người Mỹ
[6].
Nhận
định về những nỗ lực và thành quả vận động quốc tế của ông Diệm, ta thấy yếu
tố chính quyết định những nỗ lực và thành quả này là tôn giáo của ông
Diệm. Uy tín trong nước của ông, vị thế chính trị trong nước của ông, cơ
sở quần chúng trong nước của ông... quả thật chỉ là những hậu thuẫn nhỏ nhoi
không đủ để giúp ông mở được cánh cửa của Mỹ và Pháp. Trong cái thế chính
trị toàn cầu lúc bấy giờ, khi mà nội bộ nền đệ tứ Cộng Hoà Pháp đang dần dần
băng rã vì "trận chiến tranh bẩn thỉu", khi mà Cộng Sản đang hiện diện một
cách áp đảo tại Đông Nam Á, thì nhu cầu của cường quốc Mỹ là can thiệp vào
Việt Nam với một "người hùng bản xứ" chống Cộng. Mà dưới nhãn quan chính trị
và nhân văn của Mỹ vào thập niên 50, 60 "người hùng" chống Cộng đó
phải là và chỉ có thể là một tín đồ Công giáo khả tín (như có anh ruột là
chức sắc cao cấp chẳng hạn). Ông Diệm thoả mãn đầy đủ những điều kiện đó của
nhu cầu này. Và vì ông là ứng cử viên "hợp lệ" duy nhất nên ông đã được
chọn. Tôn giáo của ông đã đưa ông lên đài danh vọng, thì cũng chính vì
tôn giáo của ông, mà sau này thân thế sự nghiệp của ông phải tan tành.
Mấy ngày
trước đó, Thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France được tín nhiệm để thành lập
một nội các với lời hứa sẽ thực hiện cuộc ngưng bắn tại Đông Dương trong
vòng một tháng. Ngay sau khi nhận chức, thủ tướng Mendès-France liền điều
đình với ông Chu Ân Lai, Ngoại trưởng Trung Cộng.
Cho
những độc giả cần nghiên cứu kỹ càng hơn về giai đoạn khai sinh ra nền Đệ
Nhất Cộng Hoà nầy qua việc ông Ngô Đình Diệm được Vatican, Hồng Y Spellman
chọn lựa và được cơ quan CIA và bộ ngoại giao Hoa Kỳ bảo trợ để được Bảo Đại
cử làm Thủ tướng Việt Nam vào năm 1954, tôi đề nghị xin đọc kỹ hai tác phẩm:
"The American Pope - The Life and Times of Francis Cadinal Spellman"
của ký giả Cooney từ trang 236 đến trang 245, và "Vietnam - Why did we
go?" của Avro Mahattan, từ trang 51 đến trang 75. Qua chi tiết của hai
cuốn sách vừa kể, ta thấy quả thật ông Diệm được Vatican và Hoa Kỳ cùng sử
dụng để làm con cờ chống Cộng ở Đông Nam Á. Nói thế không phải là chê trách
ông Diệm, khen hay chê ông ta là tuỳ vào hành động lãnh đạo quốc gia sau
này. Nói thế chỉ vì sự thật của lịch sử như thế.
Một sự
kiện lịch sử khác cũng cần phải được phân tách cho ra lẽ, đó là việc ông
Diệm khi nhận chức Thủ tướng không biết có quỳ trước Bảo Đại như Hilaire du
Berrier đã viết trong "Background to Betrayal" hay không, mà trong "Le
Dragon d'Annam", Bảo Đại nói chỉ bắt ông Diệm thề trước Chúa
mà thôi.
Ngoài
Hilaire du Berrier, nhà văn Hoàng Trọng Miên trong cuốn "Đệ Nhất Phu Nhân"
(trang 389), học giả Nguyễn Hiến Lê trong cuốn "Con Đường Thiên Lý"
(trang 202), ký giả Bernard Fall trong cuốn "The Two Vietnam"
(tr.244) cũng nêu lên việc ông Diệm có quỳ trước Nam Phương Hoàng Hậu trong
lễ nhận chức Thủ tướng tại lâu đài Thorence:
"... After three days
of hesitasion, Bao Dai yielded. Diem received absolute dictatorial power on
June 19. Fully realizing that he was throwing his throne away, Bao Dai
allegedly made Diem swear a solemn oath of alllegiance to him, and several
authoritative witnesses affirm that Diem also swore on his knees to Empress
Nam Phuong that he would “do everything in his power” to preserve the throne
of Vietnam for Prince Bao Long, son of Bao Dai."
Có thể
ông Ngô Đình Diệm đã không quỳ cho nên vua Bảo Đại không đề cập đến chuyện
này, cũng có thể ông Ngô Đình Diệm có quỳ mà Bảo Đại vì tế nhị không muốn
nói đến.
Nhưng
nghĩ cho cùng thì có lẽ ông Ngô Đình Diệm đã quỳ như hành động cuối cùng của
chuỗi nỗ lực vận động nắm chức Thủ tướng, trong đó kể cả việc ông
Ngô Đình Luyện dâng Bảo Đại một chiếc ô tô lộng lẫy mà ông Hồ Sĩ Khuê đã
nêu ra trong tác phẩm "Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, và Mặt Trận Giải Phóng"
(tr. 276) hoặc như ông Ngô Đình Luyện đến Cannes đề nghị biếu Bảo Đại 300
triệu Francs (30 triệu bạc Việt Nam) nếu Bảo Đại cho ông Diệm
toàn quyền củng cố uy quyền bằng vũ lực ("Việt Nam Niên biểu Nhân vật
Chí" của Chính Đạo, tr.290).
Như vậy,
rõ ràng việc ông Diệm được Giáo hoàng La Mã, Hồng y Spellman và chính giới
Mỹ "bồng" về Việt Nam cầm chính quyền, và việc vua Bảo Đại bất đắc dĩ cử ông
Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, là những sự thật lịch sử đã được ghi lại minh
bạch và đầy đủ, thế mà “trí thức” Công giáo Nguyễn Văn Chức trong cuốn sách
gọi là "Việt Nam Chính Sử" lại nguỵ biện cho rằng tác giả VNMLQHT viết sai
và gian trá.
Ông Diệm
từ Paris trở về nước ngày 26 tháng 6 năm 1954, sau 5 năm trời sống tại các
thủ đô quốc tế ở hải ngoại. (Năm năm này, sau đó, đã được đưa vào phần mở
đầu của bài ca "Suy tôn Ngô Tổng thống"..."Ai bao năm từng lê gót nơi quê
người..." bắt buộc hát sau bài quốc ca để cân bằng với 40 năm biệt xứ
đấu tranh của ông Hồ Chí Minh).
Sự trở về của ông Diệm
không gây được hào hứng nào trong khối quần chúng Việt Nam. Ông Diệm không
được đón tiếp như một anh hùng từng đấu tranh cho đất nước. Rõ ràng tên tuổi
ông ta không làm bốc lửa trong lòng nhân dân. Chỉ độ 500 người gồm những
quan lại già nua, chức sắc Công giáo và nhân viên cao cấp của chính phủ đón
chào ông ta tại phi trường. Những người đến đón nhà lãnh đạo quốc gia mới
không ngờ rằng khi ông Diệm bước ra khỏi phi cơ là sẽ đi trên con đường vinh
quang mau chóng, tuyệt vọng và sớm mua lấy cái chết.[7]
Sau
này, khi biết được cuộc đón tiếp ông Diệm thiếu sự tham dự của nhân dân, tôi
đã trách móc ông Nhu và ông Võ Văn Hải không huy động nổi đồng bào đi biểu
tình đông đảo để đón tiếp sự hồi hương của lãnh tụ.
Buổi đón
tiếp tuy đầy đủ phần nghi lễ nhưng thiếu hẳn quần chúng đón chào tỏ ra rằng
ông Diệm không có thực lực quần chúng ủng hộ. Vả lại, 500 người có mặt tại
Tân Sơn Nhất hôm đó quả thật đã không đại diện một chút nào cho 25 triệu
người Việt Nam trên mặt pháp lý cũng như chính trị, trên mặt liên đới tình
cảm cũng như liên đới tinh thần.
Một
người đã từng chống Bảo Đại và chống Pháp thì không thể trở về với dân
tộc để lãnh đạo quốc gia bằng một sắc lệnh của Quốc trưởng và trên một chiếc
máy bay có cờ tam tài. Trường hợp đó và khung cảnh đó phù hợp với những
thoả hiệp của một cuộc vận động chính trị hậu trường, hơn là kết quả của một
quyết tâm xả thân đấu tranh cho đất nước, cho nên nhân dân Việt Nam nói
chung, và quần chúng Sài Gòn nói riêng vẫn không tìm được sự hào hứng để
chào mừng ông Diệm trong ngày trở về của ông.
Nhưng
lúc đó, đối với tôi, từ miền Bắc xa xăm, và sau 5 năm trông đợi ngày về của
người lãnh đạo tổ chức, ngày ông Diệm về nước là một ngày hội lớn, là sự
thành tựu của 12 năm đấu tranh cho lý tưởng của mình xuyên qua hình bóng của
ông Ngô Đình Diệm, là ngày mà những tra tấn trong ngục tù, những ly biệt với
vợ con, những hiểm nghèo trong lửa đạn bắt đầu đơm bông kết trái thành đài
vinh quang. Tôi đã không cần dấu diếm nữa mà bộc bạch hẳn với hai người bạn
cùng khoá là Thiếu tá Lam Sơn và Đại uý Nguyễn Chánh Thi về tương lai chắc
nịch của đất nước, về cơ hội lịch sử đã cho phép ông Diệm sẽ được quản trị
quốc gia một cách dân chủ, sẽ được thi thố tài năng trong cuộc thư hùng với
Cộng Sản.
Tuy
nhiên, sau những phút vui mừng bồng bột đầu tiên đó, tôi bắt đầu lo âu cho
ông Diệm. Đã từng sống giữa lòng quê hương từ trước cuộc kháng Pháp, đã từng
làm việc chung với người Pháp trong chế độ Bảo Đại, đã là chứng nhân của bao
nhiêu biến cố chính trị, bao nhiêu lừa lọc phản trắc, tôi biết ông Diệm sẽ
phải đi qua một bãi mìn nổ chậm với bao nhiêu khó khăn phức tạp cạm bẫy đang
chờ đợi ông. Cụ thể hơn, là một sĩ quan cấp tá thâm niên, tôi biết rõ tham
vọng và tính tình của tướng Nguyễn Văn Hinh và tinh thần quân đội dưới
quyền ông ta. Những thực tế này sẽ là trở lực khó khăn nguy hiểm đầu tiên mà
ông Diệm không thể tránh được. Đành rằng trong giai đoạn đó, quân đội không
phải là yếu tố quyết định những thay đổi quan trọng của tình hình chính trị
Việt Nam, nhưng ở một mặt nào đó, quân đội dưới quyền tướng Hinh, một người
Pháp mang tên Việt, lại đủ sức để cản trở những kế hoạch của ông Diệm. Hay
đi xa hơn, có thể tiêu diệt ngay sức mạnh pháp lý và chính trị còn mong manh
của vị tân Thủ tướng.
Biết như
thế mà lại biết rất rõ nữa là khác, cho nên dù điều kiện khó khăn và phương
tiện bị hạn chế, tôi cũng phải làm mọi cách để giúp được ông Diệm phần nào
hay phần đó. Tuyên truyền, giác ngộ vẫn là thứ khí giới hữu hiệu nhất cho
nên tôi bèn viết rất nhiều thư cho các bạn bè từ chí thân đến sơ giao, cho
các sĩ quan thân tín ở nhiều quân khu, nhiều đơn vị, nói cho họ biết muốn
cứu nước, muốn quốc gia khỏi rơi vào tay Cộng sản, muốn còn có đất chôn chân
thì phải ủng hộ cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm vượt thắng mọi thế lực chống đối
ông ta. Với các sĩ quan miền Trung như Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Nghiêm, Thái
Quang Hoàng, Tôn Thất Đính,... tôi không ngần ngại nói thẳng cho họ biết
rằng tướng Hinh và những tay sai của Pháp sẽ tìm cách triệt hạ ông Diệm. Tôi
yêu cầu họ nỗ lực hoạt động lôi kéo bạn bè, cộng sự viên của họ theo con
đường chính nghĩa. Mục tiêu của tôi là xây dựng cho ông Diệm một chủ lực,
nếu không được thì ít nhất là một hậu thuẫn trong quân đội, để đối phó với
cuồng vọng của tướng Nguyễn Văn Hinh sau này.
Tại Hà
nội, nơi tôi học, có bốn lớp quân sự: lớp Trung đoàn trưởng, lớp Tham mưu
trưởng, lớp Tiểu đoàn trưởng, và lớp Đại đội trưởng, tổng số khoá sinh gồm
độ 150 người, mà khi tốt nghiệp những sĩ quan này sẽ được bổ nhiệm vào các
chức vụ chỉ huy. Tôi dùng luận điệu "ông Diệm có còn, Việt Nam mới còn" để
tác động tinh thần họ. Thiếu tá Lam Sơn, Đại uý Nguyễn Chánh Thi cũng đồng
quan điểm với tôi và sau này họ đã có công trong việc giúp ông Diệm chống
lại lực lượng của tướng Hinh. Sau này, biến cố đất nước bị chia đôi ngày 20
tháng 7 bởi hiệp ước Genève do sự bất lực của Pháp và các chính phủ của chế
độ Bảo Đại, càng cho tôi thêm yếu tố để tuyên truyền hầu tăng cường uy tín
và lập trường quốc gia chống Pháp của ông Diệm.
Ngày 30
tháng 6, khi ông Diệm ra Hà Nội để quan sát tình hình miền Bắc và để thăm dò
nhân sự hầu thành lập nội các, thì tình hình chiến sự tại Bắc Việt đã đến
hồi kết thúc trong hỗn loạn, Đại tá Vanuxem mở cuộc hành quân Auvergne để
di tản khỏi miền Nam của Bắc Việt (Thái bình, Ninh Bình, Nam Định... các
tỉnh có nhiều giáo phận và đồn bót của Pháp) trong cố gắng tránh những tổn
thất do cuộc rút quân gây ra. Thành phố Hà Nội tràn ngập dân di tản ở các
vùng này, họ sống lê lết ở các vỉa hè và xô xát với nhân viên công lực. Và
đúng như Bảo Đại mô tả trong "Le Dragon d`AnNam", họ là những người
Công giáo, lực lượng mà ông Diệm tin cậy sẽ là hậu thuẫn ở miền Bắc nhưng họ
chỉ lo tìm đường chạy trốn vào Nam.
Quyết
định rút lui của quân đội Pháp đã như cơn gió mạnh thổi tan lực lượng này,
vốn hiện diện và tồn tại phần lớn nhờ nương dựa vào sức mạnh của chính quân
đội ngoại bang đó. Khi cây đã ngã thì những bìm bịp bám dựa vào đó cũng ngã
theo luôn.
Khi nhận
chức Thủ tướng với Bảo Đại, ông Diệm không ngờ chiến sự tại Bắc Việt lại suy
sụp nhanh đến thế, khi thề trước thánh giá sẽ "bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ",
ông Diệm đã hoàn toàn không nắm vững được tình hình sẽ biến chuyển theo
chiều hướng nào. Như suốt cả cuộc đời ông Diệm (và cả anh em ông nữa) đã
chứng minh, họ luôn luôn chủ quan, không thực tế, và nhất là chỉ cho mình là
đúng, là nhất.
Khi quân
Pháp rút lui, tâm trạng bị bỏ rơi của các giáo phận đó đã được chính Đại tá
Vanuxem kể lại trong hồi ký của ông qua thái độ tuyệt vọng một cách nhục nhã
của Giám mục Phạm Ngọc Chi thuộc giáo phận Bùi Chu, một thái độ bị bỏ rơi
nên trở lại coi người bạn Pháp năm xưa như kẻ thù
[8]:
Một ngày kia, tại Nam
Định, nơi có bộ chỉ huy của tôi, người ta báo cho tôi biết có một số các vị
giáo phẩm Công giáo Việt Nam của địa phận tới xin vào thăm, tôi tiếp họ ở
một căn hàng tạp hoá. Cả thảy có bốn người, cầm đầu bởi giám mục Phạm Ngọc
Chi thuộc giáo phận Bùi Chu, và sau này thuộc giáo phận Đà Nẵng và luôn luôn
là bạn thân của tôi.
Đến trước mặt tôi, ông
bèn quỳ xuống trong lúc tôi cố đỡ ông dậy, ông nói: "Không, tôi xin lỗi Đại
tá. Chúng tôi xin lỗi Đại tá. Chúng tôi cứ tưởng rằng quốc gia chúng tôi
xứng đáng được độc lập mà chúng ta có bổn phận giúp đỡ; nhưng chúng tôi đã
nhận ra quá muộn rằng những người mà chúng tôi trông cậy (người Pháp) lại là
những kẻ thù của chúng tôi, những kẻ thù muốn chúng tôi mất linh hồn".
Vanuxem kết luận rằng:
Thật là một thảm hoạ
to lớn khi những nhân vật lãnh đạo tinh thần đã buộc phải hạ mình nhục nhã
trước một quân nhân. Tương lai đã cho thấy tất cả thảm hoạ đó.
Giáo
phận Bùi Chu đã hợp tác và phục vụ quân đội Pháp ngay từ ngày đầu tiên Pháp trở lại Bắc
Việt. Giáo phận này đã biến một số giáo đường thờ Chúa thành pháo đài quân
sự, khuyến khích thanh niên Công giáo gia nhập Phụ Lực Binh cho quân đội
Pháp. Tình trạng của giáo dân trước viễn ảnh Tây đi Cộng về rõ ràng
rất nguy hiểm và rất đáng tội nghiệp, nhưng không phải vì thế mà một vị tu
sĩ cao cấp lãnh đạo tinh thần của một tôn giáo có truyền thống hy sinh tử vì
đạo lại có thể quỳ xuống trước một quân nhân ngoại quốc để cầu khẩn
họ ở lại bằng những luận cứ trách móc, giận hờn. Cách thế hành sử đó và nội
dung lời cầu khẩn đó không những làm đau lòng những tín đồ Công giáo chân
chính mà còn làm cho những đồng bào Việt Nam của ông hổ thẹn nữa. (Sau này,
khi di cư vào Đà Nẵng, Giám mục Phạm Ngọc Chi trở thành một lãnh tụ của đảng
Cần Lao tại miền Trung bên cạnh lãnh chúa Ngô Đình Cẩn. Không trách gì quần
chúng và Phật giáo đồ tại miền Trung bị khốn khổ và cũng không trách gì vì
những người như vậy, mà chế độ Ngô Đình Diệm bị toàn dân căm thù lật đổ vào
năm 1963).
Được tin
ông Diệm đến Hà Nội, tôi bèn tới dinh Thủ Hiến để gặp chào mừng ông. Một đám
đông chưa tới một ngàn người, do nhóm các ông Lê Quang Luật và Hoàng Bá Vinh
(hai nhân sĩ Công giáo ở Bắc) tổ chức, đang cầm quốc kỳ và trương biểu ngữ
diễn hành trước dinh Thủ Hiến để chào mừng vị tân Thủ tướng. Tôi vừa buồn
vừa giận vì số người tham dự quá ít ỏi so với dân số Hà Nội lúc bấy giờ,
nhất là dân số đó lại vừa được tăng cường nhờ số dân Công giáo tị nạn từ các
tỉnh mới đến. Tôi nghĩ thầm như thế và đâm ra ngượng với các cán bộ của Thủ
hiến Nguyễn Hữu Trí (thuộc đảng Đại Việt), vốn không ưa gì ông Diệm.
Khi ông
Diệm đến bậc thềm để vào dinh Thủ Hiến thì thấy tôi, tôi vội chào lớn "thưa
Cụ". ông Diệm nhìn tôi vừa lộ vẻ ngạc nhiên một cách vui mừng và nói lớn:
"À! có cả anh Mậu đây nữa à'. Tôi chưa kịp nói thêm lời nào thì những lễ
nghi quân cách đã vang lên kéo ông vào đại sảnh. Tuy hơn tôi những 16 tuổi
và xa cách gần sáu năm trời, tôi vẫn không thấy ông già thêm bao nhiêu. Bước
đi của ông vẫn ngắn và thoăn thoắt, chỉ có dáng người trông có vẻ bệ vệ hơn
trong bộ âu phục trắng. Biết ông còn bận rộn với những nghi lễ, tôi vội rời
đám đông trở về quân trường. Nhớ lại ngày nhận được tin ông Diệm được ông Hồ
Chí Minh trả tự do tôi mừng bao nhiêu thì hôm nay, gặp lại ông trong cảnh
huy hoàng của sự đạt thành ý nguỵện, tôi mừng bấy nhiêu. Đối với tôi, một cá
nhân tầm thường, một cán bộ đấu tranh chỉ có tấm lòng son trang trải cho quê
hương, thì sự kiện ông Diệm nắm được chính quyền là một thắng lợi vĩ đại vừa
của tổ quốc, vừa của tổ chức, và vừa của chính mình. Mười hai năm gian truân
vào tù ra khám, mười hai năm không biết được mái ấm gia đình, mười hai năm
cầm cự cho tổ chức sống còn... như cuốn phim dài chợt tuần tự trình chiếu
lại như một thoáng vó câu. Tôi mừng mừng tủi tủi đến rơi nước mắt và trong
một thoáng ngắn ngủi, chợt thấy trời đất Bắc mùa Hạ mà ngọt ngào hương nắng
mùa Xuân.
Hai ngày
sau, ông Diệm cho người mời tôi vào dinh Thủ Hiến để thăm hỏi tình hình
chiến sự, tình trạng gia cảnh. Ông bắt tôi kể lại cho ông nghe điều kiện
hoạt động của từng anh em trong nhóm và riêng tôi thì khi nào mãn khoá để về
Nam. Ông cũng cho biết là mới về, công việc còn đa đoan và nhiều khó khăn.
Sau những phút nồng nhiệt ban đầu của cuộc gặp gỡ, ông trở lại với trạng
thái đăm chiêu, nét lo âu mệt mỏi hiện rõ ra trên cặp mắt kém linh động; ghế
bên kia, ông Nhu ngồi với bộ mặt khổ não lầm lì. Được gần một tiếng đồng hồ
thì tôi đứng dậy chào về vì bên ngoài đã có người chờ vào gặp.
Ra ngoài
hành lang dinh Thủ Hiến, tôi gặp cụ Tạ Chương Phùng và ông Võ Văn Hải, bèn thắc mắc với họ về nét mặt ưu tư của
ông Diệm và ông Nhu. Ông Hải chưa kịp trả lời thì cụ Phùng đã nói: "Hôm qua
Nhu mới bị ông Cụ la cho một trận nên thân đó'. Cụ Phùng nhắc lại gần nguyên
văn lời ông Diệm gay gắt với ông Nhu: "Chú đánh điện qua Pháp bảo tôi mọi
việc ở nhà đều xong xuôi sẵn sàng cả rồi, bây giờ tôi về lại gặp không biết
bao nhiêu là khó khăn. Không ai thèm hợp tác với tôi, ngay cả ông Chữ và ông
Toàn cũng từ chối (tức là bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ và bác sĩ Lê Toàn, hai đồng
chí của ông Diệm trong phong trào Cường Để hoạt động ở Bắc Việt dưới thời
Nhật chiếm đóng). Tôi không làm việc được trong tình cảnh này, về Sài Gòn
rồi tôi sẽ ra đi..." Tuy ông Diệm nói thế nhưng hai anh em ông vẫn liên lạc
thăm dò, mời một số chính khách tham dự vào nội các của ông. Sau gần hai
tuần lễ Việt Nam không có chính phủ, ngày 7 tháng 7 tại Sài Gòn, nội các Ngô
Đình Diệm đầu tiên ra mắt quốc dân với thành phần như sau;
- Ngô Đình Diệm: Thủ
tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng.
- Trần Văn Chương:
Quốc Vụ Khanh.
- Trần Văn Đỗ: Tổng
trưởng Ngoại Giao.
- Trần Văn Của: Tổng
trưởng Tài chính, Kinh tế.
- Phan Khắc Sửu:
Tổng trưởng Canh nông.
- guyễn Tăng Nguyên:
Tổng trưởng Lao Động và Thanh Niên.
- Trần Văn Bạch:
Tổng trưởng Công chánh và Giao Thông.
- Nguyễn Dương Đôn:
Tổng trưởng Giáo Dục.
- Phạm Hữu Chương:
Tổng trưởng Y Tế và Xã Hội.
Ngoài ra còn có một số
Bộ trưởng như:
- Trần Quang Thành:
Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.
- Lê Quang Luật: Bộ
trưởng Thông Tin.
- Nguyễn Ngọc Thơ:
Bộ trưởng Nội Vụ.
- Lê Ngọc Chấn: Bộ
trưởng Quốc phòng.
- Bùi Văn Thinh: Bộ
trưởng Tư Pháp.
- Nguyễn Văn Thoại:
Bộ Trưởng Kinh Tế.
- Trần Hữu Phương:
Bộ Trưởng Tài Chánh.
- Phạm Duy Khiêm:
Phát ngôn viên Phủ Thủ tướng
[9]
Nhìn vào
thành phần chính phủ trên đây ta thấy có một số nhân vật có uy tín, có thành
tích đấu tranh, số khác là những nhà trí thức khoa bảng hoặc là thành phần
quan lại cũ, nhưng không có nhân vật nào nằm gai nếm mật xả thân cho Cách
mạng chống Pháp chống Việt Minh như anh em ông Diệm thường hô hào. Và
đại đa số những Tổng, Bộ trưởng trong nội các lại càng chưa bao giờ "cầm
súng kháng chiến" như lời tuyên bố của ông Diệm tại Hồng Kông năm 1950 khi
ông bắt đầu cuộc hành trình vận động quốc tế.
Điều
mỉa mai là trong số 16 nhân vật cộng tác với ông Diệm trong chính phủ đầu
tiên này, chỉ trừ các ông Nguyễn Dương Đôn và Phạm Duy Khiêm là không nghe
nói đến có mâu thuẫn và chống đối với ông Diệm hay chế độ của ông, 14 vị còn
lại dần dần đều đứng trong tư thế đối lập hoặc trở thành kẻ thù của ông
Diệm. Ngay như hai ông Bùi Văn Thinh và Trần Chánh Thành, những người từng
chia sẻ cay đắng, đồng lao cộng khổ với ông Diệm trong những năm 1954, 1955,
mà rồi cũng bị bạc đãi để phải đi ra nước ngoài theo chính sách "được làm
Vua thua làm Đại sứ". Kỹ sư Trần văn Bạch chỉ vì không chịu hô "Ngô Thủ
tướng muôn năm" trong lễ chào cờ mà bị mất chức, bị gán cho là thân Bình
Xuyên và bị theo dõi [10]. Ông Nguyễn Ngọc Thơ, người bạn chí
thân của ông Diệm, cuốí cùng rồi cũng theo phe cách mạng 1-11-63. Ông Nguyễn
Văn Thoại làm Bộ trưởng mấy tháng rồi cũng chán nản từ chức bỏ nước ra đi
v.v...
Một điểm
cần lưu ý ở đây là từ năm 1956, nghĩa là khoảng tám tháng sau khi truất phế
Cựu hoàng Bảo Đại và thành lập nền Cộng Hoà, chính phủ ban hành đạo luật xem
ngày 7 tháng 7 như một quốc lễ (lễ Song Thất) và đồng thời bài "Suy tôn
Ngô Tổng Thống" được hát sau bài quốc ca trong tất cả mọi lễ chào quốc
kỳ của tất cả mọi trường hợp (Bài hát đại ý tôn vinh cá nhân Ngô Tổng thống
anh minh đã cứu nguy cho dân tộc), mà trong phần điệp khúc có câu “Toàn dân
Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng thống. Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm” đã
được quần chúng nhại lại một cách châm biếm là "Toàn dân Việt Nam nhớ ăn
tô hủ tiếu. Tô hủ tiếu, Tô hủ tiếu ngon ghê!". Lễ song thất và bài ca
suy tôn Ngô Tổng thống là một sự bắt chước thô kệch và thất nhân tâm của
ngày lễ Song Thập, vốn là quốc khánh của Trung Hoa Dân quốc để kỷ niệm ngày
cách mạng Tân Hợi thành công (10-10-1911). Thô kệch về hình thức vì một bên
là vinh danh một cuộc cách mạng, một bên là suy tôn một cá nhân; và thất
nhân tâm là vì nội dung của nó, một bên mô tả lại một cuộc cách mạng gian
khổ để đạp đổ nền quân chủ phong kiến, còn một bên mô tả lại một cá nhân
“bao năm lê gót nơi quê người” mà ai cũng biết là "lê gót" để đi vận động
chính trị chứ không phải xuất dương để đấu tranh cách mạng gian khổ.
Tội
nghiệp ông Diệm đã từng chống lại Bảo Đại rồi "lê gót" từ Việt Nam qua Rome,
qua Mỹ mong cầu hai thế lực này đưa ông về nước làm lãnh tụ, không ngờ ông
còn buộc phải qua cái cầu Bảo Đại nữa mới mong làm được Thủ tướng. Theo linh
mục Cao Văn Luận trong Bên Giòng Lịch Sử thì giữa năm 1953, ông Diệm
"lê gót" từ Mỹ qua Pháp mong cầu gặp Đức Quốc trưởng nhưng chờ chực ba tháng
trời mà không được Quốc trưởng tiếp kiến làm cho ông bồn chồn, lo âu, bực
tức đến phải trách móc than thở. Thấy thái độ lãnh đạm của Cựu hoàng Bảo
Đại, ông Diệm lại phải "lê gót" qua Bỉ để đợi thời. Cho đến khi Ngoại trưởng
Foster Dulles yết kiến vua Bảo Đại để vận động cho ông Diệm, vua Bảo Đại mới
chịu tiếp kiến ông Diệm và sau đó cử ông làm Thủ tướng.
Chỉ là
một Thủ tướng được Quốc trưởng chỉ định chứ không phải do con đường cách
mạng mà lên cầm quyền cho nên các văn kiện như sắc lệnh, như Dụ, v.v... ông
phải ký "thừa lệnh Đức Quốc trưởng". Sau khi thành lập chính phủ mà ông đã
từng chỉ trích chống đối, ông Diệm cử Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ và ông Nguyễn
Hữu Châu, một luật sư danh tiếng, anh em cột chèo với ông Ngô Đình Nhu, đi
tham dự hội nghị Genève thay thế phái đoàn của chính phủ Bửu Lộc do giáo sư
Nguyễn Quốc Định cầm đầu; đồng thời bổ nhiệm ông Hoàng Cơ Bình giữ chức chủ
tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Bắc Việt thay thế ông Nguyễn Hữu Trí, Thủ hiến Bắc
Việt, một nhân vật thuộc đảng Đại Việt.
Trách
nhiệm ông Diệm là phải bảo toàn tất cả những phần đất của phe quốc gia và
nước Việt Nam phải toàn vẹn lãnh thổ như ý nguyện của mỗi người quốc gia và
như ông đã thề trước thánh giá và trước Quốc trưởng Bảo Đại. Nhưng ông đã
hoàn toàn thất bại.
Tại
phòng hội lớn của Liên Hiệp Quốc tại Genève, trưởng phái đoàn Việt Nam là
Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, mặc dù khả năng lý luận có thừa và lòng yêu nước
cuồn cuộn, vẫn không ngăn được kết quả của một thế cờ đã được sắp sẵn rồi.
Thế cờ oan nghiệt cắt đứt đất nước thành hai miền để những thoả hiệp của các
cường quốc có thể thành hình trên máu lệ của 25 triệu người dân Việt Nam.
Thư mà
cựu Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ gởi cho tôi đính kèm trong phần Phụ lục là một
tài liệu lịch sử quý giá nói lên nỗi đau lòng của một nhà Ngoại giao thất
thế. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã không khóc lóc tại hội nghị Genève như một
số người viết sử đã thêu dệt, vô tình tạo cơ hội cho Cộng Sản tuyên truyền;
ngược lại, chính ông đã phản đối kịch liệt Thủ tướng Mendès-France, trưởng
phái đoàn Pháp, đòi hỏi Pháp phải đưa ra lời tuyên bố long trọng công nhận
Việt Nam hoàn toàn độc lập. Ít ra, trong những giây phút cô đơn và tuyệt
vọng nhất, ông cũng đã phơi bày được tấm lòng son với đất nước quê hương.
Còn tại
Bắc Việt, ông Hoàng Cơ Bình, chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt nhất định không
muốn rút lui khỏi miền Bắc, ông thành lập trung đoàn Thủ Đô để bảo vệ Hà
Nội. Người Pháp thấy thái độ cứng rắn của ông có thể gây trở ngại cho việc
thi hành những điều quy định của hiệp ước Genève nên làm áp lực với Thủ
tướng Diệm cất chức ông ta. Ông Diệm đành phải nhượng bộ người Pháp và cử
ông Lê Quang Luật đang làm Bộ trưởng Thông Tin tại Sài Gòn ra Hà Nội thay
thế ông Hoàng Cơ Bình, giải tán trung đoàn Thủ Đô và tổ chức cuộc triệt
thoái các cơ cấu quốc gia trong vòng 300 ngày theo qui định của hiệp ước
Genève.
Trước đó
và cách đó gần trọn nửa trái cầu, vào buổi chiều ngày 20 tháng 7 năm 1954,
Molotov, trưởng phái đoàn Nga Sô, triệu tập một buổi họp không chánh thức
tại biệt thự Le Bocage nơi ông ta đang trú ngụ, ông Bedell Smith của phái
đoàn Mỹ và Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ không được mời tham dự. Hiện diện tại
buổi họp có Mendès-France, Chu Ân Lai, Ngoại trưởng Eden của Anh, và ông
Phạm Văn Đồng. Ông Đồng mở đầu bằng đề nghị chia đôi Việt Nam theo vĩ tuyến
16, Mendès-France vẫn nhất định đòi vĩ tuyến 18. Sau một hồi bàn cãi quyết
liệt, cuối cùng Molotov lớn tiếng: "Thôi hãy đồng ý với nhau vĩ tuyến 17 đi"
và đề tài thảo luận chuyển qua thời biểu cho cuộc tổng tuyển cử thống nhất
đất nước.[11]
Số phận
Việt Nam thế là được định đoạt bằng một câu nạt nộ của một viên chức người
Nga trong một biệt thự kín cổng cao tường của nước Thuỵ sĩ. Không có ai
trong buổi họp lịch sử đó là người phía Việt Nam quốc gia cả.
Hiệp ước
20-7-54 này qui định chấm dứt mọi hành động thù nghịch giữa các phe lâm
chiến, tạm chia nước Việt thành hai miền tại vĩ tuyến thứ 17 trong lúc chờ
đợi một cuộc tổng tuyển cử toàn quốc vào mùa hè năm 1956. (Theo nhiều sử
sách ngoại quốc thì trước cuộc họp tại biệt thự Le Bocage, Chu Ân Lai, Ngoại
trưởng Trung Cộng, đã gặp riêng ông Phạm Văn Đồng và cho biết là phải chấp
nhận vĩ tuyến 17).
Như vậy
là sau 10 năm máu lửa và với hơn bốn trăm ngàn thường dân và quân nhân chết
cả ở hai phía, chủ nghĩa, chế độ, xã hội và con người Cộng Sản bắt đầu công
khai xuất hiện và quản trị miền Bắc. Còn tại miền Nam Việt Nam, chủ nghĩa và
chế độ gọi là quốc gia bắt đầu biến mất để nhường lại cho một chủ nghĩa và
một chế độ gọi là “chống Cộng kiểu Công Giáo”, dù Hiến pháp có gọi là nước
Cộng Hoà, có gọi định chế quốc gia là Tổng thống chế, và dù giai tầng lãnh
đạo có gọi chủ thuyết chỉ đạo quốc gia là nhân vị.
-o0o-
Cuối
tháng Bảy, tuy chưa mãn khoá nhưng lớp của chúng tôi cũng phải xuống Hải
Phòng đợi tàu di tản vào Nam. Năm giờ chiều, con tàu Saint Michel từ từ rời
bến. Đứng trên boong tàu, tôi nhìn lại quê hương miền Bắc lần chót, lòng tái
tê trước cảnh biệt ly.
Miền Bắc
không phải là nơi chôn nhau cắt rốn nhưng Bắc-Trung-Nam như đầu mình và tay
chân, nối liền máu xương ruột thịt, nay miền Bắc rơi vào tay Cộng Sản, quê
hương Quảng Bình của tôi rơi vào tay Cộng Sản, tôi đau đớn như thấy mất đi
một phần thân thể của mẹ hiền. Theo Gia phả họ Đỗ nhà tôi thì nơi xuất phát
của giòng họ tôi vốn nằm ở mạn Sơn Tây, Bắc Việt gần vùng đất Hùng Vương
dựng nước. Nhưng vì cuộc cờ biến thiên, hoặc vì loạn ly, hoặc vì những đợt
hưng vong của các triều đại, một số con cháu họ Đỗ theo đà Nam tiến của dân
tộc trôi dạt đến đất Quảng Bình, dừng lại trên bờ sông Linh Giang sau dãy
đèo Ngang, lập thành làng Thổ Ngọa. Căn cứ vào truyền thuyết và gia phả thì
tổ tiên chúng tôi thuộc dòng dõi thiền sư Đỗ Thuận. Theo Việt Nam Phật
Giáo sử Luận của Nguyễn Lang (tức Thượng Toạ Thích Nhất Hạnh) và Hai
ngàn năm Việt Nam và Phật Giáo của Lý Khôi Việt thì "Thiền sư Đỗ Thuận
xuất gia hồi còn thơ ấu, có thiên tài về thơ phú và văn chương, được học giả
Lê Quý Đôn có thơ truy tặng: "Câu thơ Pháp Thuận, sứ Tống khen hay. Bài
ca Chân Lưu nổi danh một thủa". Chính ông cùng với thiền sư Khuông Việt
đã dùng nghệ thuật phù sấm giúp Lê Hoàn nắm lấy quyền bính trong cuộc đảo
chánh ôn hoà năm 980. Trong buổi đầu sáng nghiệp của triều Lê, ông có công
thiết kế và quyết định chính sách quốc gia, nhưng khi thiên hạ đã thái bình
rồi thì không chịu nhận phong thưởng. Vua Lê Đại Hành rất kính trọng, không
gọi tên, chỉ xưng họ là Đỗ Pháp sư mà thôi."
[12]
Cho nên
hôm nay xa đất Bắc, lìa quê cha đất tổ của thời xa xưa, chẳng những tôi phải
ly cách một phần quê hương ruột thịt mà còn vĩnh biệt luôn miền đất của gốc
rễ cội nguồn. Giờ đây, núi Tản Viên ghi dấu Quốc Tổ Hùng Vương, sông Hồng Hà
bao phen nhuộm máu quân thù phương Bắc, Hà Nội ba mươi sáu phố phường, thành
cũ Thăng Long ngàn năm văn vật với chùa Trấn Quốc, hồ Hoàn Kiếm, gò Đống Đa,
đền Ngọc Sơn, tất cả núi sông hùng vĩ, cảnh vật cẩm tú yêu kiều chỉ còn là
những hình bóng của tâm tưởng trong cảnh trời chiều bảng lảng, để rồi vỡ
tung thành vạn mảnh ký ức khi con tàu từ từ lìa bến Cảng ra khơi. Lòng tôi
se thắt lại.
Đến Sài
Gòn, những lớp học của chúng tôi được chuyển vào Bộ Tổng Tham Mưu để tiếp
tục cho đến ngày mãn khoá gần cuối tháng 9. Trong lúc đó thì đài phát thanh
quân Đội của tướng Hinh vẫn ra rả ngày đêm công kích, đả phá, thách thức Thủ
tướng Ngô Đình Diệm.
Ngày
chúng tôi mãn khóa, tướng Nguyễn Văn Hinh cho tổ chức một buổi tiệc trà tại
nhà riêng của Đại tá Trần Văn Đôn ở Chợ Lớn vào lúc 7 giờ chiều để chúc mừng
các sĩ quan tốt nghiệp. Khi chúng tôi đến nơi thì đã thấy tề tựu nhiều sĩ
quan như Đại tá Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Trần Văn Minh, các Trung tá Nguyễn
Khánh, Trần Tử Oai, Dương Văn Đức... và những sĩ quan thuộc phòng hai, phòng
năm, và phòng sáu, phòng chiến tranh Tâm Lý, Nha An Ninh Quân đội, nghĩa là
những sĩ quan thuộc bộ phận chính trị và tình báo, những sĩ quan thân thuộc
của tướng Nguyễn Văn Hinh. Độ chín giờ tối, tướng Hinh mới đến, theo sau là
cả một đoàn xe hộ tống có cả xe Jeep trang bị trung liên. Ông ra lệnh cho
tất cả các sĩ quan trong buổi tiệc đứng vòng tròn chung quanh ông. Sau khi
ông nói mấy lời chào mừng các sĩ quan mãn khoá các lớp quân sự, đến lượt các
sĩ quan phụ tá của ông phát biểu ý kiến. Tất cả đều dùng một thứ ngôn từ và
một thứ luận điệu để nặng lời đả kích, hạ nhục Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Họ
chê ông là Tuần Vũ, là ngu thần của phong kiến thối nát, là tay sai của Đế
quốc tư bản Mỹ, là trốn tránh ra nước ngoài để vận động làm Thủ tướng trong
lúc quân dân hy sinh xương máu chống Cộng Sản, là ngồi mát ăn bát vàng...
Cuối cùng một sĩ quan trẻ thuộc phòng Năm tóm lược các lời trình bày rồi đề
nghị quân đội phải đảo chánh ông Diệm để cứu lấy miền Nam. Họ còn ví ông
Diệm là một thứ Farouk và kêu gọi tướng Hinh noi gương Nasser, người hùng Ai
Cập. Họ hô hào là thời cơ đã đến cho tướng Hinh cướp lấy chính quyền. Tướng
Hinh và tất cả các sĩ quan thuộc hạ của ông nhìn tôi với đôi mắt vừa chế
diễu vừa khiêu khích vì họ biết quá rõ tôi là cán bộ cốt cán của ông Diệm.
Bao vây
bởi một nhóm người thù nghịch làm cho máu căm thù sôi sục trong tim gan tôi.
Trong giây phút đó, trong khung cảnh đó, tôi chợt nhớ đến Ngự sử Phan Đình
Phùng, trước ba trăm cấm binh của Tôn Thất Thuyết mà vẫn can đảm đứng lên
oai dũng kết tội viên phụ chánh lộng quyền độc ác, dám trái lời uỷ thác của
vua Tự Đức khi vua vừa mới băng hă: "Đức Tiên Hoàng vừa mới nhắm mắt mà ngài
đã làm việc trái nghịch di chiếu như thế thật không còn đạo nghĩa quần thần
một chút nào. Huống chi Tân quân (vua Dục Đức) chưa có lỗi gì mà ngài định
làm việc phế lập càn dỡ đó, sao cho phải lẽ?" Nhớ lại thái độ gan dạ của chí
sĩ Phan Đình Phùng trước một triều thần mục nát, xuẩn động, tôi chợt quên
hẳn hoàn cảnh của một quân nhân trước thượng cấp mà chỉ còn bùng lên lòng
căm phẫn của một cán bộ mà lý tưởng và lãnh tụ của mình đang bị xúc phạm.
Không một chút phân vân, tôi bèn giơ tay xin phát biểu ý kiến: "Thưa Trung
tướng, tôi xin hỏi ai đã làm mất nửa nước, có phải là tại thực dân và tay
sai không? Vậy tại sao Trung tướng và các sĩ quan không kết tội thực dân và
tay sai mà lại công kích ông Diệm một cách vô ý thức như thế. Tôi xin hỏi
ông Diệm mới về nước cầm quyền, ông đã làm những lỗi lầm gì mà đòi đảo chánh
ông ta? ". Thiếu tá Lam Sơn đứng bên tay mặt của tôi, thúc cùi chỏ vào hông
tôi và nói nhỏ: “Đừng nói nữa mà nguy hiểm”. Nhưng tôi vẫn hùng hồn lên án
tướng Hinh và tay sai thực dân, càng nói tôi càng to tiếng hơn. Trung tá
Trần Đình Lan, một loại Tây da vàng, con của bác sĩ Trần Đình Quế, từng làm
bác sĩ ở tỉnh tôi, từng làm Thị trưởng Đà Lạt mà tôi biết cả lai lịch gia
đình rất rõ, rút súng lục chĩa vào mặt tôi mà nói lớn: "Mày có im miệng
không, nói nữa tao bắn tan xác". Đại uý Nguyễn Chánh Thi đứng phía trái tôi
vội giơ tay lên can. Từ đó buổi họp nhuộm bầu không khí nghẹt thở nặng nề
trong khi nhóm tay chân bộ hạ của tướng Hinh xầm xì to nhỏ. Tôi tìm một
chiếc ghế ngồi xuống, mặt hầm hầm chờ đợi tướng Hinh ra lệnh bắt giam. Nhưng
rồi ông ta vẫn để tôi yên. Sau này tôi nghe nói lại rằng ông Hinh định đảo
chánh ông Diệm xong mới bắt tôi vì bắt lúc bấy giờ sợ mang tiếng. Tiệc tàn,
tôi và Đại uý Nguyễn Chánh Thi cùng về, còn có một số sĩ quan trẻ đi theo
vừa để bảo vệ, vừa để bộc bạch sự ngưỡng mộ. Trung uý Nguyễn Huỳnh, người
Công giáo (sau này là một đảng viên Cần Lao, Trung tá phụ tá cho tôi ở Nha
An Ninh Quân Đội) giở mũ và nói: "Đàn em xin kính phục đàn anh, vào hang hùm
mà không sợ cọp. Đàn em xin "chapeau".
Vốn có ý
thức chính trị lại nắm vững tình hình quân đội, tinh thần sĩ quan nên tôi đã
dự liệu rất đúng tham vọng và ý đồ của tưóng Nguyễn văn Hinh và phe nhóm của
ông ta đối với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Về phần tôi, đã trải bao gian nguy
mà tôi còn không e ngại thì sá gì những kẻ tay sai thực dân, đầu óc võ biền,
ham lợi danh, không hiểu biết gì thời thế.
Ngay tối
hôm đó, khoảng nửa đêm, tôi vào dinh Độc Lập xin yết kiến Thủ tướng và kể
lại cho ông Diệm nghe sự tình bữa tiệc vừa qua, đồng thời trình bày những
nhận định của tôi về ý đồ đảo chánh của tướng Hinh. Ông Diệm nghe xong chỉ
khuyên tôi lần sau đừng liều như thế, nhưng trông ông có vẻ buồn rầu và hết
sức ưu tư. Sáng hôm sau, ông sai ông Ngô Đình Luyện đến nhà tướng Hinh tại
Chợ Lớn để điều đình, nội dung điều đình như thế nào tôi cũng không rõ.
Thái độ
cương quyết và hung hãn đó của tướng Hinh cộng với những áp lực của Pháp và
cuộc nổi loạn của Bình Xuyên sau này đã có lúc làm cho ông Diệm dự định bỏ
nước ra đi như Linh mục Cao Văn Luận đã mô tả trong cuốn "Bên Giòng Lịch
Sử".
Từ ngày
ông Diệm về làm Thủ tướng, tướng Hinh đã bày tỏ thái độ bất mãn của ông bằng
cách cho đài phát thanh Quân Đội liên tục đả kích ông Diệm, mặt khác thành
lập một tổ chức bí mật, "Đảng Con Ó", để làm hậu thuẫn chính trị cho ông ta,
đồng thời bố trí bốn tiểu đoàn tại những địa điểm huyết mạch của Đô Thành.
Tôi còn nhớ một trong bốn tiểu đoàn này do Đại uý Albert Cao chỉ huy
[13], người mà sau này nhờ là tín đồ Công
Giáo nên lại được ông Diệm tin cậy và trọng dụng.
Suốt mùa
hè năm đó, tướng Hinh phối hợp với nhóm Bình Xuyên của Bảy Viễn tìm cách
khiêu khích và âm mưu phá hoại tân chính phủ, đặc biệt nhắm vào cá nhân ông
Diệm. Hinh cho phòng Năm in truyền đơn rải khắp Sài Gòn-Chợ Lớn kết án ông
Diệm. Đã có lần ông Diệm yêu cầu vua Bảo Đại giải nhiệm tướng Hinh nhưng
không nhận được trả lời. Biết vậy, tướng Hinh lại càng lộng hành hơn, đến độ
mặc thường phục cỡi xe mô tô chạy trên các phố chính của Thủ đô để dương oai
với dân chúng và để thách thức quyền hành của Thủ tướng phủ.
Trước
những khiêu khích và khinh thường đó, tôi chỉ thấy ông Diệm liên lạc với
phía người Mỹ để nhờ can thiệp, và riêng ông Nhu thì không hình thành nổi
một lực lượng quần chúng để có phản ứng thích hợp. Những đồng chí cán bộ cũ,
hoặc bị tê liệt vì bị vướng mắc vào bộ máy nhà nước chưa chạy nhịp nhàng,
hoặc vì quá trình hoạt động chưa bao giờ kết tinh thành một tổ chức đấu
tranh có qui củ, nên lúc đó, mỗi người, trong cương vị của mình, tự lấy sáng
kiến mà hoạt động riêng rẽ.
Trong
tình trạng đó, tôi ráo riết đi khắp các đơn vị ở thủ đô để phát hiện và động
viên các sĩ quan tâm huyết hãy biết phân biệt chính tà, hãy biết phân biệt
vấn đề sống chết của quốc gia, của quân đội, và đặt họ trước một sự chọn lựa
dứt khoát giữa Thủ tướng Diệm hay tay sai của thực dân Pháp. Tôi vận động
được một số khá đông sĩ quan trẻ, đặc biệt có Trung uý Nguyễn Hữu Hạnh, một
cộng sự viên thân tín của Đại tá Dương Văn Minh, đang là Chỉ huy trưởng Quân
vụ Thị trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Tôi chỉ thất bại một lần khi lên Trung tâm
Quang Trung để tuyên truyền cho Trung tá Trần Tử Oai. Oai hầm hầm nhục mạ
ông Diệm và gần như muốn đuổi tôi ra khỏi văn phòng (ông Oai hiện ở Pháp).
Trong lúc đó thì từ tháng 6 năm 1954, nghĩa là khi hiệp định Genève chưa ra
đời, và một tháng trước khi ông Diệm được bổ nhiệm làm Thủ tướng, đại tá
Edward G. Lansdale đã có mặt ở Việt Nam với một nhóm chuyên viên tình báo
khoảng 15 người nằm trong Phái Bộ Quân Sự Sài Gòn (Saigon Military Mission)
với hai nhiệm vụ rất rõ ràng: Thứ nhất, tiêu diệt khả năng phá hoại của tình
báo Pháp và tay sai để dọn đường cho ông Diệm dễ dàng củng cố quyền lực; và
thứ hai là xây những viên đá đầu tiên làm cơ sở cho sự hiện diện chính trị
hợp pháp và tất yếu của người Mỹ tại Việt Nam. Sau đó, một cách chính thức
hơn, tướng Collins xuất hiện bên cạnh Thủ tướng Diệm và ngân sách viện trợ
ba trăm triệu Mỹ kim được Ngoại trưởng Dulles tháo khoán cho Việt Nam. Ở một
kích thước khác và bí mật hơn, Thiếu tá Lucien Conein (thuộc hạ của
Lansdale) chỉ huy một kế hoạch phá hoại miền Bắc trước, trong và sau khi
hiệp định Genève có hiệu lực.
Cuối tháng Chín, tôi được lệnh Tổng Tham Mưu trở về trình diện đơn vị cũ ở
Nha Trang thuộc phân khu Duyên Hải, lúc bấy giờ do Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ làm
tư lệnh. Tại Nha Trang còn có Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận, tư lệnh quân khu
3, đóng bộ chỉ huy tại đây và một số đơn vị khác từ miền Bắc di cư vào tạm
trú để được chờ tái phối trí về các đơn vị địa phương khác. Vài ngày trước
khi ra đi, tôi trình bày với ông Võ Văn Hải và bác sĩ Bùi Kiện Tín (hiện ở
Mỹ) ý định sẽ tổ chức một chiến khu tại vùng Duyên Hải để ông Diệm có thể
trở về sử dụng như một căn cứ địa trong trường hợp ông Diệm bị tướng Hinh
đảo chánh đánh bật ra khỏi Sài Gòn.
Bác sĩ
Bùi Kiện Tín là một người đã từng ủng hộ ông Diệm từ trước năm 1945, gia
đình ông đã giúp đỡ nhiều cho ông Diệm khi ông Diệm còn ở với em là Ngô Đình
Luyện tại số 2 đường Armand Rousseau trong Chợ Lớn. Năm 1954, bác sĩ Tín trở
thành bác sĩ riêng của ông Diệm và sau đó thay ông Lê Quang Luật làm Bộ
trưởng Thông Tin, khi ông Luật ra Bắc nhận chức Đại biểu Chính phủ tại Bắc
Việt.
Sau khi
nghe tôi trình bày, bác sĩ Tín đề nghị tôi nên thông báo kế hoạch đó cho
Phái bộ Quân sự Mỹ biết, và sáng hôm sau, bác sĩ Tín dẫn con là ông Bùi Kiến
Thành (hiện ở Pháp) và hai người Mỹ phụ tá cho Lansdale vào dinh Độc Lập,
nơi tôi đang tạm trú để tìm gặp tôi. Tôi trình bày về nguyên tắc tổng quát
cho họ biết rằng quân đội Việt Nam tại miền Trung, do một số sĩ quan tâm
huyết chỉ huy, nhất định sẽ chống đối tướng Hinh và người Pháp đến kỳ cùng.
Nếu ông Diệm bị lật đổ bằng bất kỳ phương cách nào và bởi bất kỳ thế lực nào
thì chúng tôi sẽ xây dựng miền Trung thành một quốc gia độc lập để vừa chống
Cộng sản ở phương Bắc, vừa đuổi tay sai Pháp ở phương Nam. Hai người Mỹ
không tranh luận với tôi, họ chỉ ghi nhận và cố tìm thêm chi tiết, họ ngỏ
lời ca ngợi tinh thần quốc gia của chúng tôi và hứa sẽ báo cáo lên thượng
cấp chủ trương lập Chiến khu của chúng tôi.
Ý thức
chính trị cho tôi biết rằng giai đoạn này là cái cơ duyên lịch sử duy nhất
để dân tộc có thể chấm dứt vĩnh viễn sự hiện diện nặng nề và ung thối của
thực dân Pháp trên đất nước tôi. Vậy thì dù có hay không có ông Diệm, tôi
cũng phải tìm cách khai dụng cái cơ duyên này. Bắc chống Cộng, Nam đuổi Tây
chỉ là cái thế tất yếu nhưng có phần nguy hiểm hơn Khổng Minh ngày xưa muốn
thành hình chiến lược tam phân, Đông hoà Tôn Quyền, Bắc cự Tào Tháo.
Nhưng có chống được Cộng Sản ở phương Bắc và có đuổi được tay sai Pháp ở
phương Nam hay không, lúc bấy giờ, đối với tôi, chưa phải là lúc ngồi nghiên
cứu tính cách khả thi của nó. Tôi chỉ biết là phải ủng hộ ông Diệm cho cái
thế cờ đuổi Pháp chống Cộng thành hình. Còn nếu ông Diệm không còn thì tuy
cách đánh cờ có khác nhưng thế cờ vẫn phải như vậy.
Về
đến Nha Trang, tôi đến gặp Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ ngay. Ông Lễ là người tâm
huyết nhưng ít mưu cơ. Tôi trình bày cho ông biết rằng nếu ông Diệm phải ra
đi hay bị lật đổ thì người Pháp sẽ thi hành hiệp định Genève, nghĩa là sau
hai năm, Cộng Sản sẽ chiếm trọn miền Nam để thống nhất đất nước. Cho nên dù
có chết bây giờ hay sau hai năm thì cũng là chết, quân đội Việt Nam phải có
thái độ và hành động cụ thể để cứu ông Diệm bây giờ tức là cứu cho miền Nam
mai sau. Tôi bàn với ông Lễ là sẵn ông đang làm Tư lệnh Phân khu Duyên Hải,
có lực lượng quân đội trong tay, lại thêm những sĩ quan chỉ huy trưởng các
tiểu khu, các tiểu đoàn đều là người thân tín với ông hết, công việc lập
chiến khu biến miền duyên hải thành đất Ba Thục không khó khăn gì. Điểm khó
khăn duy nhất là sự hiện diện của tướng Vận, nguyên Tư lệnh Quân khu 3 từ
Bắc vào, đang đóng tại Nha Trang.
Tôi
liền đề nghị ông Lễ triệu tập ngay một buổi họp gồm có Trung tá Nguyễn Quang
Hoành, chỉ huy trưởng tiểu khu Phan Thiết, Thiếu tá Thái Quang Hoàng, chỉ
huy trưởng tiểu khu Phan Rang, Thiếu tá Huỳnh Công Tịnh, chỉ huy trưởng tiểu
khu Nha Trang, và Đại uý Lê Khương, chỉ huy tiểu đoàn 82 đóng tại thành Diên
Khánh cách tỉnh lỵ Nha Trang 10 cây số. Ngày hôm sau, cuộc họp diễn ra tại
nhà ông Lễ gần bờ biển. Vì đã có kế hoạch sẵn nên tôi trình bày chi tiết cho
anh em thảo luận thêm, còn ông Lễ thì khôn khéo kích động lòng yêu nước của
anh em để cuối cùng buổi họp đi đến quyết định chung là phải cứu ông Diệm.
Bốn ngày sau, một cuộc họp mật khác được tổ chức tại một địa điểm trong một
dãy núi thuộc huyện Sơn Hải phía đông tỉnh Ninh Thuận. Tham dự buổi họp này,
ngoài sự hiện diện của anh em quân nhân, tôi còn mời thêm ba người dân sự
toàn là bạn thân của tôi và có thể nói họ là những chiến sĩ kiên cuờng. Đó
là Phan Xứng từ Đà Lạt xuống, Nguyễn văn Hay ở Phan Rang, và Tạ Chí Diệp,
tức Nguyễn Phan Châu cháu gọi cụ Tạ Chương Phùng bằng Bác, từ Qui Nhơn vào.
Về phía quân sự còn có Đại uý Nguyễn Khương và Trung uý Hà Quang Giác, những
sĩ quan tâm huyết và có lòng yêu nuớc rất cao. (Nguyễn Khuơng vốn là cộng sự
viên với tôi khi còn làm chủ nhiệm tuần báo "Tiếng Gọi" ở Huế). Chúng tôi
phân công cho Thái Quang Hoàng lập chiến khu Đông. Tạ Chí Diệp sẽ đưa 50
thanh niên đảng viên của anh ta từ Bình Định vào chiến khu để làm cán bộ
chính trị nòng cốt, Đại uý Nguyễn Khương phụ trách thông tin tuyên truyền.
Phan Xứng về Đà Lạt lo đối phó với Ngự Lâm Quân. Chúng tôi nhờ linh mục
Nguyễn văn Sồ (ở cách Nha Trang 5 cây số) lo việc in truyền đơn, còn nhà thờ
của Cha sẽ biến thành trụ sở bí mật. Thiếu tá Nguyễn Quang Hoành nắm lấy
tỉnh Phan Thiết và Đại uý Nguyễn Khương về Khánh Hoà sửa soạn đem quân lên
núi tổ chức thêm chiến khu. Sắp đặt xong, ông Lễ và tôi về lại Nha Trang và
cho Đại uý Huỳnh văn Cao vào mật trình với dinh Thủ tướng.
Yếu tố
mấu chốt của kế hoạch này là thành lập được vài chiến khu để gây thanh thế
và tạo áp lực chính trị về Sài Gòn. Áp lực chính trị này xuất phát từ cả
quân lẫn dân thì sẽ là một đòn bẩy lớn giúp ông Diệm thêm sức mạnh trong thế
chính trị mà ông phải đương đầu. Nhưng mặt khác, yếu tố mấu chốt đó cũng là
điểm có nhiều sơ hở nhất trong kế hoạch vì chúng tôi không có nhiều thì giờ
để chuẩn bị chu đáo hầu tạo nên yếu tố bất ngờ. Vì vậy, sau khi Thiếu tá
Thái Quang Hoàng di chuyển đuợc một số đơn vị lên Chiến khu Đông rồi thì
tình báo của Pháp phúc trình cho Bộ Tham Mưu và tướng Hinh có phản ứng quyết
liệt liền.
Tướng
Hinh đánh công điện ra lệnh cho tuớng Vận nắm toàn quyền chỉ huy Phân khu
Duyên Hải và Đại tá Lễ phải lên đường trình diện Bộ Tổng Tham mưu tức khắc
để nhận lệnh thuyên chuyển đi làm Chỉ huy trưởng đặc khu Phú Quốc. Được tình
báo cho biết ông Lễ và tôi là hai nguời chủ lực trong kế hoạch này, tướng Vận bèn cho một trung
đội đến "hộ tống" ông Lễ lên máy bay vào Sài Gòn, và đến phi trường Tân Sơn
Nhất thì có sĩ quan của tướng Hinh đón về Bộ Tổng Tham mưu. Trên đuờng từ
phi trường về, ông Lễ đã lừa được vị sĩ quan an ninh đó, cầm lấy tay lái xe
rồi chạy thẳng vào dinh Thủ Tuớng và tạm trú tại đó luôn.
Riêng
phần tôi thì Tướng Vận cũng cho một trung đội đến bao vây nhà để bắt giam,
nhưng tôi trốn được chỉ 5 phút trước đó và đến trú ẩn tại nhà thờ của linh
mục Nguyễn Văn Sồ. Mấy ngày sau, Đại uý Nguyễn Vinh, chỉ huy trưởng Tiểu
đoàn Danh dự Phủ Thủ tướng tuớng, mặc thuờng phục đến tìm tôi và chuyển lệnh
của ông Diệm gọi tôi vào Sài Gòn ngay có công tác quan trọng. Tôi vào đến
dinh Thủ tướng đợi ba ngày mà không gặp được ông Diệm, chỉ được ông Võ Văn
Hải (lúc bấy giờ đã là Chánh văn phòng Phủ Thủ tuớng ) cho biết là "Cụ đang
bận lắm, anh cứ đợi đó”. Thế là ông Lễ và tôi cứ ở mấy ngày liền trong phòng
riêng của ông Võ Văn Hải tại dinh Thủ tướng.
Tình
hình Thủ đô mỗi ngày một căng thẳng, các đơn vị quân đội, cảnh sát và các
giáo phái đều ở trong tư thế sẵn sàng nổ súng. Tướng Collins, Đặc phái viên
của Tổng thống Eisenhower, bất đồng quan điểm với ông Diệm trong khi Đại tá
Lansdale thì lại hết lòng ủng hộ ông Diệm. Sự mâu thuẫn nội bộ của các viên
chức cao cấp Mỹ làm cho hoạt động của vị tân Thủ tướng bị đình trệ và lúng
túng, và cũng làm cho tướng Hinh thêm quyết liệt trong ý định lật đổ ông
Diệm.
Một hôm,
trong phòng riêng của ông Võ Văn Hải, Đại tá Lễ, bác sĩ Tín, Tạ Chí Diệp,
Hải và tôi đang ngồi nói chuyện thì hai ông Luyện và Nhu vào. Ông Luỵện
hướng về Đại tá Lễ và tôi rồi nói: " Cụ thương hai anh nên muốn hai anh đi
Hoa Kỳ tu nghiệp thêm. Hai anh sửa soạn hành lý rồi đợi giấy tờ xong thì
đi".
Từ khi
mới vào Sài Gòn, tôi đã ngạc nhiên về việc ông Diệm gọi gấp vào mà cứ bắt
tôi chờ không giao cho một công tác nào, rồi ông Võ Văn Hải suốt cả tuần
nay, sau mỗi ngày làm việc cho ông Diệm, tối về phòng lại kể cho chúng tôi
biết "ông Cụ đang rất buồn rầu chán nản trước nhiều khó khăn", cho nên khi
nghe ông Luyện nói hết sự thật rằng việc cho ông Lễ và tôi, hai sĩ quan đã
công khai dùng biện pháp quân sự để chống tướng Hinh, đi Mỹ là vì có ý
thương muốn cho chúng tôi đi trước để rồi ông sẽ đi sau mà không sợ cộng sự
viên bị trả thù. Tôi vội trả lời ông Luyện: "Mười mấy năm trời theo Cụ đấu
tranh biết bao gian khổ mà tôi không sờn lòng, nay Cụ đã về nước để cầm
quyền, đã ngồi đàng hoàng trong dinh Độc Lập mà lại phải bỏ cuộc ra đi thì
thật là vô lý. Tôi không đi đâu hết". Ông Luyện có vẻ bực mình nói; "Vậy anh
ở nhà để làm gì?" Tôi cũng bực mình trả lời lại: "Nếu Cụ không còn nắm chính
quyền, và nếu tôi bị đuổi khỏi quân đội, tôi sẽ về nhà đi buôn nước mía, có
sao đâu!" Ông Nhu từ đầu vẫn không nói một tiếng nhưng đến đây thì ông mỉm
cười, có lẽ vì biết không thuyết phục được chúng tôi, ông bèn kéo ông Luyện
đi ra. Sau này nhờ thời gian và các nhân chứng kể lại, nhờ các biến cố tiếp
theo cũng như nhờ càng ngày càng hiểu rõ thêm tính tình ích kỷ, hẹp hòi của
anh em nhà Ngô, ông Lễ và tôi biết được rằng việc hai anh em ông Luyện và
Nhu cùng vào thuyết phục chúng tôi đi Mỹ thật ra chỉ là một âm mưu. Họ định
hy sinh loại bỏ chúng tôi và cả ông Thái Quang Hoàng (chiến khu Đông) nữa,
để dùng như một trong nhiều điều kiện để thoả hiệp với tướng Hinh đừng chống
đối, đừng đảo chánh. (Tôi vẫn nghĩ rằng điều kiện của tướng Hinh chỉ là kế
hoãn binh của ông ta mà thôi, thâm tâm và chủ trương của tướng Hinh và Pháp
vẫn luôn luôn muốn lật đổ ông Diệm).
Ở
đời, thường thường hết chim mới bẻ cung, ăn xong cháo mới đá bát. Trường hợp
này, anh em ông Diệm chỉ mới gần hết chim, chỉ ăn sắp xong bát cháo, binh
lửa vẫn còn ầm ĩ mà đã xuống tay hy sinh cộng sự viên rồi. Tuy xót xa nhưng
cũng là thường tình, vì lúc đó nếu ông Diệm nói thẳng với tôi về nhu cầu
phải chấm dứt mọi hoạt động chính trị quân sự tại miền Trung, hoặc nếu cần
cứ nói thẳng với tôi là tự tê liệt hoá mọi hoạt động thì chắc chắn tôi cũng
sẵn sàng trả quân phục, cấp hiệu lại cho quân đội để về làm một cán bộ đấu
tranh trong quần chúng. Nhưng ông Diệm và anh em của ông đã không làm như
thế, đã không hành xử đúng cung cách của một bậc lãnh đạo đối với đồng chí
của mình, hay ngay cả không đúng tư cách của một người tầm thường nhưng có
tâm chất yêu nước và có đạo đức cách mạng.
Sau
này, chúng tôi biết thêm được sở dĩ ông Diệm không còn ý định "bỏ nước ra
đi" nữa là phần lớn là nhờ những vận động chính trị và hoạt động cụ thể của
Đại tá Lansdale nhằm chia rẽ và thu phục phe đối lập, đồng thời khuyên giải
và gây niềm tin nơi ông Diệm, nhưng một phần khác cũng nhờ thái độ cương
quyết của ông Ngô Đình Cẩn và lực lượng cán bộ ở Huế, trong tình trạng thiếu
những tin tức chính xác để có thể lượng định tình hình, đã cứng rắn một cách
liều lĩnh nhất định bắt buộc ông Diệm phải tiếp tục nắm quyền. Chính ông
Nguyễn Đôn Duyến, Đại biểu Chính phủ ở Trung phần, đã thảo nội dung công
điện đánh vào Sài Gòn.
Hai
ông Luyện và Nhu đã ra khỏi phòng rồi mà ông Lễ và tôi vẫn còn bàng hoàng về
quyết định của ông Diệm gởi hai chúng tôi đi Mỹ, dù bấy giờ quyết định đó
không còn được thi hành nữa. Tạ Chí Diệp, người bạn trẻ trí thức, chí lớn
tài cao của tôi, người đã từng phụ trách bộ phận chính trị của Chiến khu
Đông, hậm hực kéo tôi ra hành lang tâm sự "Đã muốn làm cách mạng, muốn cầm
chính quyền thì khó khăn nguy nan mấy cũng phải kiên cường gian khổ đấu
tranh, sao ông Cụ và hai ông Nhu Luyện mau thối chí đến thế. Bác xem lại coi
liệu chúng ta có lầm ủng hộ cho một gia đình phong kiến tầm thường
không?..." Tôi vội chận Diệp lại: "Cứ từ từ cho Cụ Diệm làm việc đã, chưa
nên có ý nghĩ đó vội, dù sao còn nước ta còn tát".
Tuy
nhiên, từ đó Tạ Chí Diệp xa lánh dần nhà Ngô, không còn liên hệ với anh em
ông Diệm nữa. Cho đến khi bác của Diệp là cụ Cử Tạ Chương Phùng bị nhà Ngô
chê bai là quê mùa cổ hủ, tỏ thái độ vong ân bội phản, Diệp càng thêm bất
mãn bèn liên lạc với Bình Xuyên để chống đối lại Thủ tướng Diệm. Diệp đã tổ
chức nhiều cuộc biểu tình phản đối nhà Ngô ngay trước dinh Độc Lập, do đó
Diệp bị bắt và bị giam chung với cán bộ Cộng Sản tại Thủ Đức và Tam Hiệp gần
5 năm trời. Sau khi Diệp bị bắt thì Cụ Cử Tạ Chương Phùng và người con rể
của Cụ cũng bị công an bắt (xem thêm thư của Cụ Huỳnh Minh Ý trong phần phụ
lục A). Khi được trả tự do, Diệp thường liên lạc với bác sĩ Trần Kim Tuyến
và tôi, do đó sau này Diệp có chân trong Hội nghị Đoàn Kết do ông Ngô Đình
Nhu chủ tọa, việc mà tôi sẽ kể rõ ở một chương sau.
Như
đã nói ở trên, trong lúc anh em ông Diệm ở Sài Gòn đang bối rối vì áp lực
của tướng Hinh và thối chí muốn bỏ nước ra đi, thì Đại tá Lansdale và 15
người trong tổ chức đặc nhiệm hoạt động ráo riết để tìm cách cứu vãn tình
hình và động viên tinh thần ông Diệm.
Là
người đã dính dự rất chủ động trong việc di cư hơn 800 ngàn đồng bào từ Bắc
vào Nam, Landsale là một sĩ quan cao cấp xuất sắc của ngành tình báo Hoa Kỳ
trong các công tác hải ngoại. Xuất thân là một chuyên viên trong ngành quảng
cáo kỹ nghệ, ông chú trọng rất nhiều đến các kỹ thuật tâm lý chiến. "Đức
Mẹ đã vào Nam" là một trong rất nhiều kỹ thuật đã được ông sử dụng để
vận động các giáo phận tại Bắc Việt dứt khoát lên đường vào Nam trong khuôn
khổ 300 ngày chọn chỗ di trú do Hội nghị Genève 1954 quy định. Chính ông là
người đã giúp đỡ và tạo nên huyền thoại Magsaysay trong chiến dịch tiêu diệt
Cộng Sản Hukbalahap tại Phi Luật Tân nhờ vậy sau này ông có biệt danh là "The
Kingmaker'.
Cho
nên để loại bỏ tướng Hinh với sự ủng hộ của Pháp và lực lượng các giáo phái,
ông đã được phái đến Sài Gòn. Quả nhiên Lansdale đã thành công trong loại
công tác này một lần nữa: Trước hết là thuyết phục Hoa Thịnh Đốn về sự thiên
vị và thiếu am hiểu tình hình của tướng Collins, sau đó là hoặc thuyết phục
tướng Trình Minh Thế và quân đội Cao Đài liên minh tại núi Bà Đen, hoặc hối
lộ một số cấp chỉ huy của lực lượng võ trang các giáo phái, hoặc là nhờ Bộ
Ngoại giao Mỹ hăm doạ chính phủ Pháp để tạo áp lực bắt cơ quan tình báo Pháp
tại Sài Gòn phải ngưng ủng hộ tướng Hinh và lực lượng Bình Xuyên của Bảy
Viễn...
Vào
lúc tướng Hinh sắp đảo chánh ông Diệm thì Quốc hội Hoa Kỳ chính thức công bố
lập trường qua lời tuyên bố của phát ngôn viên bán chính thức về vấn đề Đông
Dương lúc bấy giờ là Thượng Nghị Sĩ Mansfield "Nếu ông Diệm bị lật đổ thì Mỹ
sẽ chấm dứt viện trợ cho Việt Nam và cũng chấm dứt quân viện cho quân đội
Pháp", đồng thời Tổng thống Eisenhower gửi thư cho Sài Gòn công khai xác
nhận sự ủng hộ ông Diệm của chính quyền Mỹ.
Ngày 2 tháng 10, tướng Ély, Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, về Pháp phúc trình
cho Bảo Đại biết, chính quyền Pháp đành phải theo đường lối chính trị của Mỹ
tại Đông Dương, nghĩa là Mỹ sẽ thay Pháp xây dựng một tiền đồn chống Cộng
tại Đông Nam Á vì quyền lợi của thế giới tự do. Ngày 19 tháng 11, theo lệnh
Bảo Đại, tướng Hinh rời Việt Nam vĩnh viễn, trao quyền Tổng Tham Mưu trưởng
quân đội Việt Nam lại cho tướng Nguyễn văn Vỹ, và như vậy chấm dứt mọi khó
khăn và mọi đe doạ cho cá nhân ông Diệm và cho khả năng hành xử quyền điều
hành quốc gia của tân nội các. Thế là Hoa Kỳ đã cứu ông Diệm tránh được cuộc
đảo chánh của tướng Nguyễn Văn Hinh nhưng ông Diệm không giao chức Tổng Tham
Mưu trưởng cho tướng Vỹ mà lại giao cho tướng Lê Văn Tỵ.
Sau
khi tướng Hinh đi rồi, tôi đề nghị mật với Thủ tướng rút hai tiểu đoàn bộ
binh thuộc Phân khu Duyên hải vào khu Sài Gòn để tăng cường quân lực cho ông
Diệm. Hai tiểu đoàn đó do Đại uý Trọng và Đại uý Long người Công giáo Quảng
trị và Thừa Thiên chỉ huy (Trung tá Long hiện nay ở Hoa Kỳ).
-o0o-
Từ
năm 1952 đến năm 1954, bao nhiêu biến cố trọng đại đã xảy ra cho dân tộc
điêu linh trên quê hương khốn khổ. Năm 1952, trận Hoà Bình mở màn cho những
thảm bại quân sự của quân đội viễn chinh Pháp, và năm 1954, tướng Nguyễn Văn
Hinh ra đi để dân tộc vĩnh viễn xóa nhoà tàn tích của chế độ Bảo Hộ trên đất
nước. Chảy xuyên dòng sông lịch sử trong giai đoạn đó là trạng huống chia
đôi giang sơn và biến cố ông Diệm về nước chấp chánh.
Nhìn lại ba năm nhọc nhằn nhưng oai hùng đó, ta thấy đất Mẹ như đang chuyển
bụng sau gần 100 năm cưu mang. Giai đoạn lâm bồn quằn quại của Tổ quốc là
giai đoạn biến hình đau đớn của 25 triệu người dân Việt vùng lên đánh đuổi
giặc Pháp ra khỏi sơn hà gấm vóc. Dù thấp thoáng đằng sau cơn vượt cạn đó có
bóng dáng ma quái của Cộng Sản Nga, Cộng Sản Tàu, Đế quốc Mỹ, Thực dân Pháp,
nhưng quả thật chính dân tộc Việt Nam, và chỉ dân tộc trong hoàn cảnh này
hay điều kiện nọ, đã xả thân hy sinh xương máu cho nền độc lập của nước nhà.
Nếu
Cộng Sản trong mặt trận Việt Minh đã không phải là kẻ duy nhất chống
Pháp, thì những thành phần yêu nước ở bên này chiến tuyến cũng không phải là
những kẻ hoàn toàn theo Pháp. Đuổi giặc xâm lăng ra khỏi Quê hương
chính là công đầu của dân tộc, và chỉ dân tộc mà thôi. Ngoại trừ một số đã
rứt lìa cuống nhau ruột thịt ra khỏi lòng dân tộc, mới là tay sai của Pháp,
tay sai của Nga Tàu.
Hưng Yên, Nam Định, Phan Rang, Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang... những địa danh
thân thương của đất nước trong những ngày sôi động mà tôi có dịp đặt chân
đến, bây giờ, ở quê người, chỉ còn là những tiếng gọi tuy đã xa vời nhưng
vẫn vang vọng trong chiều sâu của ký ức và chiều dài của dĩ vãng. Tôi đã làm
đầy đủ nhiệm vụ của người trai thời loạn trong cuộc chiến, đầy đủ nhiệm vụ
của một cán bộ trong tổ chức đấu tranh, giờ đây, ông Diệm đã vững vàng để
xây dựng chế độ mà tôi ao ước ông sẽ đem lại phúc lợi cho toàn dân, đem lại
dân chủ tự do cho miền Nam để lấy đó làm bàn đạp cho một ngày sáng nắng
hồng, quân ta trở về giải phóng đất Bắc mù khơi.
Trong niềm ao ước chính đáng nhưng vẫn còn xa vời đó, tôi chợt thấy đất miền
Nam như cứng lại cho ông Diệm quét hết rác rớm, tàn tích để xây dựng một vận
hội mới cho Tổ Quốc.
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|