Chương VI
BẢO ĐẠI
VÀ NGÔ ĐÌNH DIỆM
Sau khi
lực lượng Bình Xuyên bị đánh tan vào đầu tháng 5 năm 1955, nhìn vào tình
hình chính trị miền Nam lúc bấy giờ ta thấy không còn một cá nhân hay một tổ
chức nào đủ uy tín quần chúng và thực lực chính trị hoặc quân sự để hồi phục
lại được tình trạng cũ, nghĩa là tình trạng của những chính phủ thân Pháp.
Hướng đi của thời đại và vận động lịch sử đã chuyển hóa nước ta vào một kỷ
nguyên mới: kỷ nguyên của người dân đích thực làm chủ nước mình.
Trên mặt
lý thuyết, lúc bấy giờ Việt Nam có thể trở thành một nước theo chế độ quân
chủ lập hiến (như Anh, Nhật, Hòa Lan, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Thái Lan…)
nghĩa là giữ lại thực thể hoàng gia như một biểu tượng quốc gia vô quyền và
vô hại để tránh một biến đổi quá độ trong xã hội đóng kín và bảo thủ như xã
hội ta, hoặc có thể trở thành một nước theo chế độ Cộng Hòa Đại Nghị (như
Mỹ, Pháp…) để dứt khoát hẳn với nền quân chủ quá khứ và trao quyền làm chủ
cho người dân. Đó là trên mặt lý thuyết. Trên thực tế, quần chúng đã chọn
lựa rồi vào ngày 30 tháng 4 năm 1955 tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn qua nghị quyết
của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, nghị quyết đòi truất phế Bảo Đại và tạm
thời trao quyền lãnh đạo đất nước cho ông Diệm trong lúc chờ đợi Hiến Pháp
và Quốc Hội định đoạt chế độ tương lai của đất nước. Đó là một nghị quyết
lịch sử, phát xuất trung thực từ ước vọng của quần chúng.
Tuy
nhiên vì cái nghị quyết hợp lòng dân và hợp thời đại nhưng lại không hợp ý
anh em ông Diệm nên anh em ông Diệm và mưu sĩ Trần Chánh Thành phải dùng đến
thủ đoạn phân hóa, bẻ gẫy và hạ uy tín Hội Đồng hầu cướp lấy chính quyền mà
không cần chờ đợi những quy định của Hiến Pháp và Quốc Hội. Ngày 10 tháng 5,
anh em ông Diệm đơn phương thành lập chính phủ chính thức, gồm toàn người
thân tín và những kẻ đầu hàng, không cần hỏi ý kiến của Hội Đồng, cũng không
có một nhân vật nào của Hội Đồng được mời tham dự chính phủ đó.
Hội Đồng
Nhân Dân Cách Mạng do ông Nguyễn Bảo Toàn làm chủ tịch, ông Hồ Hán Sơn làm
Phó, và ông Nhị Lang giữ chức Tổng thư ký, nhưng Hội Đồng còn có một ban
Thường Vụ cũng do ông Toàn kiêm chức Chủ tịch với các ủy viên là: Văn Ngọc,
Hà Huy Liêm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ý, Đoàn
Trung Còn, Nguyễn Văn Quyền. (Bốn nhân vật Nhị Lang, Hoàng Cơ Thụy, Huỳnh
Minh Ý, Nguyễn Hữu Khai hiện đang có mặt tại Mỹ và Pháp ).
Để đạt
mục đích nắm chặt chính quyền, anh em ông Diệm bèn ra lệnh cho nhóm ủy viên
thân tín là các ông Hà Huy Liêm, Huỳnh Minh Ý, Nguyễn Hữu Khai, … cầm đầu
thành phần thân ông Diệm trong Hội Đồng gây mâu thuẫn, chống đối nội bộ.
Đồng thời anh em ông Diệm kết tội Hội Đồng qua Tổng thư ký Nhị Lang là đã
thâm lạm biển thủ số tiền trên một triệu đồng, số tiền mà ông Diệm (qua Bộ
Thông Tin) đã cấp cho Hội Đồng hoạt động.
Kẻ viết
không dám nói rằng ông Nhị Lang và Hội Đồng đã thâm lạm biển thủ tiền bạc,
nhưng trong bối cảnh loạn lạc lúc bấy giờ thì sự chi tiêu của Hội Đồng thật
khó mà chứng minh bằng giấy trắng mực đen. Huống chi số tiền dù có bị thất
thoát thì cũng đã chủ yếu sử dụng cho việc cứu vãn địa vị ông Diệm qua cơn
sóng gió ngặt nghèo.
Trước
hành động phản bội của anh em ông Diệm, ông Nguyễn Bảo Toàn bèn từ chức Chủ
tịch Hội Đồng để phản đối ông Diệm. Bị hăm dọa, ông lui vào bóng tối trong
lúc Phó chủ tịch Hồ Hán Sơn trốn về Tây Ninh và bị giết một cách bí mật. Dư
luận lúc bấy giờ cho rằng ông Nhu đã mua chuộc được tướng Cao Đài Nguyễn
Thành Phương để ông này cho thuộc hạ hạ sát ông Hồ Hán Sơn. (Sau này tướng
Nguyễn Thành Phương cũng bị ông Ngô Đình Diệm mua chuộc để phản lại giáo chủ
Phạm Công Tắc mà rồi cuối cùng ông Nguyễn Thành Phương cũng bị Ngô Đình Nhu
phản bội). Còn Tổng thư ký Nhị Lang, người đã từng cầm súng dọa bắn tướng
Nguyễn Văn Vỹ để cứu ông Diệm, bị công an của tướng Nguyễn Ngọc Lễ và Bộ
Thông Tin của ông Trần Chánh Thành đòi bắt bớ và làm khó dễ. Tuy các mưu sĩ
Ngô Đình Nhu, Trần Chánh Thành có hạ nhục ông Nhị Lang (nghĩa là gián tiếp
hạ nhục Hội Đồng) nhưng rồi cũng nương tay vì sợ mang tiếng phản bội quá
trắng trợn. Tuy nhiên ông Nhị Lang vốn là người có kinh nghiệm đấu tranh và
có lẽ vẫn còn bị ám ảnh vì cái chết khả nghi của tướng Trình Minh Thế, lại
sợ ông Ngô Đình Nhu lắm thủ đoạn nên vội vã trốn lên Cao Miên, làm kẻ lưu
vong để cùng với những người lưu vong khác hoạt động chống nhà Ngô. Ngoài
ra, luật sư Hoàng Cơ Thụy vốn hết lòng ủng hộ ông Diệm từ khi ông Diệm mới
về nước, nhưng trước thủ đoạn của ông Ngô Đình Nhu, cũng trở thành người đối
lập quyết liệt với chế độ Diệm.
Phê bình
những biến cố trên đây, nhà viết sử Buttinger, vốn có mặt tại Sài Gòn lúc
bấy giờ và thường gặp gỡ các ông Diệm, Nhu, đã cho ta một bức tranh đầy hình
ảnh rối rắm, xảo quyệt, giành giật, biến ảo ly kỳ mà tôi muốn ghi chép lại
nguyên văn bằng tiếng Anh để cho những sự kiện lịch sử được trình bày trung
thực:
In other tenebrous phases of these
power struggles in South Vietnam, the truth can be glimpsed through the
tightly woven screen of intrigues. This is not the case in the chain of
events that began in the afternoon of April 30, 1955, when a gathering of
some 200 persons at the Saigon town hall constituted itself as a General
Assembly of Democratic and Revolutionary Forces of the Nation. Although the
outcome of these events is known, what actually happened at various critical
stages is not. The picture that emerges from the available conflicting
reports is that of a weird kaleidoscope made up of hate, lust for power,
greed, cowardice, and treachery.[1]
(Tạm dịch: Trong những giai đoạn tối
tăm khác của những màn tranh giành quyền lực tại miền Nam Việt Nam thì sự
thật vẫn có thể thoáng thấy được qua những màn mưu mô đan dệt chặt chẽ vào
nhau. Nhưng rất khó để biết rõ sự thật của những chuỗi biến cố đã bắt đầu
vào chiều ngày 30 tháng 4 năm 1955, khi một nhóm khoảng 200 người họp nhau
tại tòa Đô Sảnh Sài Gòn tự gọi là “Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng”. Mặc dầu ta
đã biết rõ kết quả của chuỗi biến cố này, nhưng chuyện gì đã thật sự xảy ra
trong những giai đoạn quan trọng đó thì không ai biết được. Những tường
trình mâu thuẫn về những biến cố này cho thấy một hình ảnh loạn xạ như nhìn
qua kính vạn hoa, đầy màu sắc thù ghét, tranh quyền, tham lam, hèn hạ, và
gian lận).
Còn ký
giả Francis J. Corley cho ta biết như sau:
“Vì thành phần lãnh đạo của Hội Đồng
gồm một số nhân vật thoát thai từ nhân dân mà ra với đầy ắp tâm chất cách
mạng như Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, Nhị Lang, Trình Minh Thế… và vì nội
dung của nghị quyết chỉ cho ông Diệm cái quyền tạm thời chứ chung kết vẫn
dành cho Quốc Hội, tức là nhân dân, định đoạt, cho nên đã làm cho những
người có truyền thống chính trị phong kiến và có tham vọng lãnh tụ như anh
em ông Diệm phải bất mãn, nổi giận và cảm thấy bị đe dọa”
[2].
Hội Đồng
Nhân Dân Cách Mạng với tên tuổi của lãnh tụ Hòa Hảo Nguyễn Bảo Toàn và trong
hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ quả thật là một tổ chức đầy uy tín, một tổ
chức “làm lịch sử”. Hội Đồng đưa ra một quyết nghị vừa tạo chính nghĩa cho
quốc gia, vừa cứu ông Diệm qua cơn khó khăn nguy hiểm, nhưng vì sự phản bội
của anh em ông Diệm mà Hội Đồng tan rã, chết yểu. Còn những người muốn làm
cách mạng để cải đổi xã hội thì thân thế gặp phải cảnh lao lung đầy bất
trắc, với một tương lai mịt mờ. Hội Đồng giải tán rồi, anh em ông Diệm bèn
lật lá bài chính trị cuối cùng để qui thiên hạ về một mối, tức là lá bài
truất phế Bảo Đại, vị Quốc trưởng hợp pháp, sự kiện mà tôi sẽ đi vào chi
tiết trong phần sau của chương này.
Tuy
nhiên trước khi tiếp tục nói về cuộc cờ oan trái giữa hai ông Bảo Đại và Ngô
Đình Diệm, tôi muốn mở một dấu ngoặc ở đây để có mấy lời nói về ông Nhị Lang
và tác phẩm Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế (PTKCTMT) của ông.
PTKCTMT
ngoài phần chính yếu nói về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Thế, tại chiến
khu cũng như lúc về Thành, ngoài phần nói về hoạt động đấu tranh của ông Nhị
Lang, tác giả còn muốn làm nổi bật một số biến cố mà tôi cần phải có những
lời chất chính:
- Nguyên
nhân nào buộc ông Nhị Lang phải lấy quyết định bỏ nước ra đi sang Cao Miên
lưu vong để sống cuộc đời cơ cực và tủi nhục.
- Những
phân trần dài dòng về điểm ông bị nghi ngờ đã hoạt động cho Việt Cộng tại
Cao Miên.
- Thái
độ chống Cộng hung hãn quá khích của tác giả.
- Cái
chết của tướng Trình Minh Thế và của tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh.
- Lòng
ngưỡng mộ vô biên của tác giả đối với hai ông Diệm – Nhu.
Rất tiếc
là trong tác phẩm PTKCTMT tác giả đã không ghi lại một số biến cố vốn đã
được nêu ra trong bài hồi ký Nguồn gốc nền Đệ Nhất Cọng Hòa Việt Nam
được đăng trên tuyển tập Quê Hương số Xuân năm 1977 xuất bản tại Costa Mesa,
Hoa Kỳ, những biến cố có thể làm sáng tỏ thêm thái độ chính trị của tác giả
dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.
… Năm 1956, ông (Nhị Lang) phải lưu
vong qua Cam Bốt. Đến năm 1960, ông bí mật trở về nước, nửa đường bị quân
Giải phóng bắt tại Đồng Tháp Mười, sau đó được thả ra rồi lại bị chính phủ
Diệm bắt lại trong cuộc đảo chánh Nhảy Dù ngày 11-11-1960. Ông ngưng hoạt
động một thời gian cho đến năm 1970, ông lại được bầu làm Tổng thư ký Ủy Ban
Phối Hợp Hành Động các Chính Đảng…
Với sự
hiểu biết của cá nhân tôi về Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, về chế độ Ngô Đình
Diệm lúc bấy giờ, nay phối hợp với những lời phân trần của ông Nhị Lang
trong tác phẩm PTKCTMT cùng với lời giới thiệu trên tuyển tập Quê Hương tôi
muốn nêu lên những ý kiến sau đây:
- Ông
Nhị Lang bảo rằng sở dĩ ông phải lưu vong sang Cam Bốt là để tránh sự tranh
chấp giữa hai ông Văn Thành Cao và Nguyễn Thành Phương, và vì chán nản bởi
thái độ bất thân thiện của một số người của chế độ Diệm, đặc biệt là Bộ
trưởng Trần Chánh Thành và tướng Nguyễn Ngọc Lễ, còn đối với anh em Tổng
thống Diệm thì ông Nhị Lang trước sau vẫn một lòng kính phục. Trái lại, theo
tôi thì ông Nhị Lang ra đi vì khiếp sợ và thâm thù anh em ông Diệm, ra đi
với mưu đồ hợp tác với kẻ thù của Việt Nam Cộng Hòa để lật đổ chế độ Ngô
Đình Diệm. Còn hai ông Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Chánh Thành chẳng qua chỉ là
kẻ thừa hành, kẻ nhận mệnh lệnh của anh em ông Diệm để hạ nhục ông Nhị Lang
trong lúc hai ông Diệm–Nhu bề ngoài vẫn tỏ ra còn ưu ái ông ta.
Sau khi
Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng bị giải tán, chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn phải lui
vào hoạt động bí mật để chống nhà Ngô, hai ông Trình Minh Thế và Hồ Hán Sơn
bị chết một cách bí ẩn thì ông Nhị Lang đâm ra lo sợ cho tương lai, số phận
của mình. Đã thế, ông Nhị Lang còn bị điều tra về thâm lạm tiền bạc, bị hai
ông Thành và Lễ làm nhục, ông Nhị Lang đâm ra uất hận và căm thù tự cho là
đã bị phản bội. Ngoài ra, ông Nhị Lang còn bất mãn việc anh em ông Diệm nâng
tướng Văn Thành Cao, một kẻ đối thủ của Nhị Lang, lên thay thế tướng Trình
Minh Thế làm cho ông ta càng ganh ghét và thù hận anh em ông Diệm hơn.
Ngoài
ra, sự việc mà ông Nhị Lang từ Cam Bốt trở về Việt Nam một cách bí mật trước
khi biến cố Nhảy Dù xảy ra để rồi sau biến cố đó, lại bị chế độ Diệm bắt bớ
và suốt thời gian còn lại của chế độ Diệm, ông Nhị Lang phải sống âm thầm
không có một hoạt động nào, càng cho thấy mối căm thù to lớn của ông ta đối
với anh em ông Diệm.
Tôi lại
còn nghi ngờ trong những ngày sống lưu vong tại Cam Bốt, có thể ông Nhị Lang
đã có liên hệ với Việt Cộng (qua một cán bộ Cộng Sản tên là Ngô Điền) và đã
cộng tác với chính quyền Sihanouk trong mưu đồ lật đổ chế độ Diệm. Những lời
phân trần dài dòng của ông về cuộc sống tại Cam Bốt, sự lưu tâm của Quốc
trưởng Sihanouk đối với ông, sự trở về nước của ông trước khi biến cố Nhảy
Dù xảy ra (biến cố mà tôi nghĩ rằng gián điệp Pháp đã cho Sihanouk biết
trước), rồi lại vụ Việt Cộng bắt ông tại Đồng Tháp Mười để rồi lại thả ra,
cho phép tôi nghi ngờ ông Nhị Lang đã có liên hệ với Cộng Sản và đã cộng tác
với Sihanouk.
Một
người già dặn đấu tranh như ông Nhị Lang há lẽ bỏ nước ra đi lưu vong chỉ vì
bất mãn với hai ông Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Chánh Thành? Một người có thành
tích đấu tranh chống Cộng như ông há lẽ Việt Cộng bắt được rồi thả ra một
cách dễ dàng? Ngoài ra ông liên hệ với chính quyền Sihanouk làm gì khi mà
Sihanouk đang coi Việt Nam Cọng Hòa là kẻ thù?
Vấn đề
còn lại là tại sao ông Nhị Lang căm thù chế độ Diệm đến như thế mà trong tác
phẩm PTKCTMT và trong bài Hồi ký đăng trên tuyển tập Quê Hương ông lại hết
lời ca ngợi anh em Tổng thống Diệm và tuyên dương “Phong trào phục hồi
tinh thần Ngô Đình Diệm”. Tiếc thương hai ông Diệm Nhu tại sao mãi đến
năm 1970 Nhị Lang mới vào nghĩa trang thăm mộ hai ông?
Số là từ
sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, cũng như giới báo chí, giới chính trị đảng
phái đã tố cáo lẫn nhau. Dư luận đã lên án ông Nhị Lang chạy theo nhà Ngô
năm 1955 phản bội lại các đảng phái, phản bội Việt Nam Quốc Dân Đảng mà ông
Nhị Lang từng là một đảng viên kỳ cựu, giúp cho nhà Ngô củng cố được địa vị
và làm cho các đảng phái bị tiêu diệt. Từ đó, Nhị Lang thay đổi lập trường,
trở lại đề cao và bênh vực nhà Ngô để chính nghĩa hóa việc làm của mình vào
thời 1955. Ngoài ra, Nhị Lang còn bị dư luận tố cáo là đã hoạt động cho
Sihanouk và Việt Cộng như Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã từng lên án, vì thế
ông Nhị Lang lại càng phải tỏ ra mình vẫn là người chống Cộng quyết liệt.
Muốn thế, ông Nhị Lang phải dựa vào uy thế nhóm Công giáo Cần Lao đang là
hậu thuẫn chính trị chính yếu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và đang tổ
chức phong trào “Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đình Diệm” mà cao điểm là vào năm
1970, năm mà ông Nhị Lang tái xuất giang hồ.
Trong
mưu đồ xóa tội cho ông Diệm và để tỏ ra mình tiếc thương Tổng thống Diệm và
ông Nhu một cách ngoạn mục hơn, ông Nhị Lang đã hư cấu ra việc ông Nguyễn
Ngọc Thơ vì có bà con hoạt động cho Việt Cộng nên đã làm áp lực Tổng thống
Diệm sát hại tướng Lê Quang Vinh. Nếu quả ông Thơ thân với Việt Cọng như ông
Nhị Lang tố cáo thì tại sao suốt 9, 10 năm trời, ông Diệm lại giao cho ông
Thơ những chức vụ quan trọng trong chính quyền, đặc biệt là chức Phó Tổng
thống kiêm nhiệm Kinh Tế và Tài Chánh. Ông Thơ quê ở Long Xuyên, vùng sinh
sống và ảnh hưởng của Hòa Hảo, ông Thơ lại có nhà cửa đồ sộ, có hàng trăm
mẫu đất, có bà con mồ mả cha ông, ông Thơ dại gì mà gây thù oán với một lực
lượng giáo phái đông đảo, can trường và quyết liệt sẵn sàng trả thù cho Đức
Thầy, cho các đồng chí đồng đạo. Huống gì tướng Lê Quang Vinh lại là bà con
gần của ông Thơ, việc này cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Lâm Lễ Trinh (hiện ở Mỹ) biết
rõ. Chẳng qua ông Thơ cũng như đại đa số nhân dân miền Nam lúc bấy giờ tin
tưởng vào tương lai thanh bình hạnh phúc của đất nước do ông Diệm lãnh đạo,
nên ông đã nhận lời chiêu dụ tướng Ba Cụt về đầu hàng cũng như đã chiêu dụ
tướng Nguyễn Giác Ngộ và rất nhiều phần tử Hòa Hảo khác để giúp ông Diệm ổn
định miền Tây. Ông Thơ có ngờ đâu ông Diệm lại ra lệnh cho tòa án xử tử
người anh hùng Hòa Hảo của quê hương ông. Bảo rằng ông Thơ làm áp lực với
ông Diệm giết Lê Quang Vinh, vậy thì ai đã áp lực ông Diệm để ông Nguyễn Bảo
Toàn, một lãnh tụ Hòa Hảo, bị ông Diệm ra lệnh sát hại? Không cần phải dài
dòng mà chỉ cần đọc “PTKCTMT” cũng thấy rằng ông Nhị Lang không đưa ra những
chứng cớ cụ thể nào, chỉ có những suy luận một chiều mà lại dám xác quyết
việc ông Thơ làm áp lực ông Diệm để sát hại tướng Lê Quang Vinh cũng như
việc Mai Hữu Xuân giết tướng Trình Minh Thế.
Cũng
trong mục đích muốn đánh tan dư luận nghi ngờ mình có liên hệ với Việt Cộng,
ông Nhị Lang tỏ ra hung hãn hơn khi đưa ra nhiều nhận xét, nhiều kế hoạch
chống Cộng vô lý như trường hợp ông đã chê trách Tổng thống Truman hay
trường hợp dùng du kích đánh chiếm hai tỉnh địa đầu của Bắc Việt.
Hết lòng
đề cao Tổng thống Diệm ưu ái thủy chung với tướng Trình Minh Thế, ông Nhị
Lang bỏ lơ việc ông Diệm đã có lời lẽ khinh thị tướng Thế trước mặt Lansdale
làm cho Lansdale nổi giận bảo ông Diệm đừng có những lời lẽ khinh chê tướng
Thế như vậy nữa [3].
Hai anh
em ông Diệm–Nhu trong bước đường nguy khốn đã phải đích thân lên tận núi Bà
Đen thỉnh cầu tướng Thế đem quân về thành cứu giúp, hành động đó có khác gì
ba anh em Lưu Quan Trương đến Ngọa Long Cương thỉnh cầu Khổng Minh về phò
tá, thế mà ông Diệm nỡ khinh thị tướng Thế khi quân đội Bình Xuyên đã bị
đánh bật qua bên kia cầu chữ Y. Như vậy ông Diệm có phải là người vong ân
bội nghĩa không hở ông Nhị Lang?
Phê bình
tác phẩm PTKCTMT, bà Linh Bảo trong tạp chí Việt Nam Hải Ngoại (San
Diego) của luật sư Đinh Thạch Bích đã viết như sau nơi mục Giữa Chúng
Mình:
... Theo LB biết thì Hùng vào chiến khu
ra mắt tướng Thế với một cuốn sách tên là “Con đường tranh đấu của chúng
ta”. Tướng Thế đã cho in cuốn ấy để làm tài liệu lý luận căn bản của phong
trào kháng chiến quốc gia. Nghe đâu anh (Nhị Lang) lúc vào khu với tướng Thế
đã ra mắt với một bài thơ ca tụng lãnh tụ, có câu đầu là: “Trình Minh Thế,
đấng anh hùng cứu quốc!” Hai cách ra mắt tương phản nhau như thế không thấy
anh nói đến. Điều LB ngạc nhiên là: anh Hùng chẳng những là một chiến sĩ hữu
danh, không những có tên mà lại có đến ít nhất là ba tên; trong cuốn sách
anh viết anh Hùng thành ra một… chiến sĩ vô danh! Các anh em khác ở đây cũng
đã chuyền tay đọc cuốn sách của anh. Đọc xong, những ai từng ở chiến khu
Trình Minh Thế cũng như những ai tuy không vào khu nhưng đã sống trong thời
kỳ ấy, đều có những ý kiến khá… ly kỳ. Hình như có một vài người bỗng đâm…
ngứa ngáy định viết thêm, hay viết những “lịch sử ký sự” cùng một giai đoạn
để bổ túc hay bổ khuyết, hay điều chỉnh, hay.. và… , hầu giúp người đời sau
có thêm tài liệu mà so sánh… “lịch sử” và “ký sự”. LB hỏi anh ĐTB về 10 điều
luật tử hình trong chiến khu Trình Minh Thế. Anh ấy chỉ nhớ có 5 điều. Anh
có nhớ đủ không?
[4]
Những
lời phê phán trên đây chẳng những cho thấy tác phẩm lịch sử ký sự của ông
Nhị Lang có rất nhiều sai lầm khiếm khuyết mà quan trọng hơn, còn lên án ông
Nhị Lang thiếu tác phong cách mạng và đã có những hành động đáng phải xử tử.
Ngoài
nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại ra, nguyệt san Thanh Niên Hành Động số
ra mắt ngày 1-10-1985 phát hành tại San Jose, trong mục Điểm Sách đã có
những phân tách tỉ mỉ hơn về tác phẩm PTKCTMT. Thanh Niên Hành Động còn so
sánh sách ông Nhị Lang với sách của một ký giả Mỹ và của Lansdale, và đã cho
thấy nhiều sự kiện trái nghịch. Để kết luận, Thanh Niên Hành Động viết như
sau:
… Vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi
đối chiếu giữa cuốn hồi ký của Nhị Lang và của Lansdale có những sự kiện
được viết ra rất trái nghịch…
Chúng ta đọc để có một cái nhìn chín
chắn cho hành động và sự hy vọng. Cái nhìn chín chắn đó là biết rõ hơn nữa,
ai là những thành phần bán đứng dân tộc… Một cuộc cách mạng có chính nghĩa
phải phát xuất từ nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Phải đặt quyền lợi dân
tộc lên trên hết. Một lực lượng cách mạng thể hiện được con đường chính
nghĩa này không thể “hợp tác” với những bọn người thối nát nhưng luôn mang
danh nghĩa “quốc gia”, một chế độ phi dân tộc như Ngô Đình Diệm. Đó là bài
học cần được rút tỉa…[5]
Còn ông
Lê Nhật Thăng (trên tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc) thì viết thẳng rằng:
Tác phẩm “Phong Trào Kháng Chiến
Trình Minh Thế” chỉ đem lại một thông điệp đáng chú ý là tích cực chống
Cộng Sản, còn lại chỉ là sự tập họp những khen ngợi bốn người. Đó là Trình
Minh Thế, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và “Le Moi” (cái Ta) còn ai ai cũng bị
tác giả chê trách, sỉ vả hết thảy.
Riêng
đối với tôi, sau khi tác phẩm PTKCTMT ra đời, ông Nhị Lang và ông Phan Xứng
đã có nhã ý gởi tặng tôi một cuốn với lời đề tặng đầy thân tình gọi tôi là
cố tri. Sau khi đọc xong sách, tôi bèn gởi thư để cám ơn tác giả đồng thời
nêu lên một số sự kiện mà tôi không đồng ý với ông Nhị Lang. Nói rõ ra như
thế để thấy rằng viết lại đoạn hồi ký trên này tôi không có ác ý với người
bạn cũ mà tôi chỉ muốn làm sáng tỏ lịch sử để hậu thế khỏi hiểu lầm cha ông.
Rất
tiếc, tấm lòng chân thành của tôi đã bị ông Nhị Lang phản ứng hết sức hạ cấp
và thô bạo. Ông viết báo để nhục mạ tôi, gán cho tôi là Cộng Sản và kích
thích những thành phần Công giáo cuồng tín ở hải ngoại chống phá tôi. Nhưng
sự thật vẫn là sự thật, nhiều độc giả đã viết bài đăng báo, viết sách để
vạch trần tâm địa xấu xa và hành xử không lương thiện của ông Nhị Lang: như
bà Yến Vân và cụ Vũ Trọng Kỳ trên báo Viet Press, như cụ Nguyễn Duy
Hiệp trên báo Chấn Hưng, như ông Trương Thiện trên báo Tia Sáng,
như nhà văn Lê Nhật Thăng trên báo Saigon Bolsa và Ánh Sáng Dân
Tộc, như nhóm ông Vũ Đăng Quý và nhà văn Xuân Tước trên tờ Văn Hóa
Colorado và đặc biệt là cuốn “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”
của ông Lê Trọng Văn. Tất cả đã lột trần thủ đoạn gian trá và thiếu đạo đức
của ông Nhị Lang và cuốn “Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế” của
ông ta.
-o0o-
Trở lại
biến cố truất phế Bảo Đại, một biến cố lớn đã lột cả xác lẫn hồn của đất
nước để biến thiên từ kỷ nguyên quân chủ qua kỷ nguyên dân chủ, tôi xin có
vài hàng về thân thế và sự nghiệp của hai nhân vật tiêu biểu cho hai kỷ
nguyên đó: ông Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn; và ông Ngô Đình
Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa.
Triều
đại nhà Nguyễn bắt đầu kể từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 cho đến khi
chấm dứt dưới triều Bảo Đại năm 1945, đã trải qua 10 đời vua, mà gác qua một
bên tội ác đã “rước voi về giày mả tổ” thì nhà Nguyễn vẫn có nhiều vị vua đã
có công tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà.
Trước
hết tôi xin sơ lược về vua Gia Long, vị vua sáng lập ra triều Nguyễn, qua
cái nhìn của nhà viết sử Phạm Văn Sơn:
Ở vua Gia Long, từ con người quân nhân
đến con người chính trị có nhiều điểm đặc biệt khiến ta phải coi vua Gia
Long cũng là một nhân vật kỳ liệt của lịch sử trên nhiều phương diện. Nhân
vật này có nhiều điều hay mà cũng có nhiều điều dở.
Chiếu theo cội rễ thì Gia Long thuộc về
một dòng họ có nhiều danh tướng, giàu mưu cơ, đảm lược, nhẫn nại, cần cù,
thông minh, trác lạc, nhờ vậy mà trong thời trung suy, Nguyễn Ánh mới 17
tuổi đã cầm đầu được binh tướng, nắm vững được lòng dân, bốn phen vinh nhục
ở đất Gia Định, nhiều lần xiêu bạt ngoài khơi, trôi giạt cả vào đất Xiêm,
nương nhờ triều đình Vọng Các, có lúc phải hy sinh cả tính mạng (diệt trừ
giặc Miên và Mã Lai cho Xiêm La) để mua chuộc thiện cảm của người hòng có
chỗ nương thân. Trên 20 năm ròng, vua Gia Long xông xáo khắp các chiến
trường, từ vùng Đồng Nai ra Thuận Hóa, vượt biển trèo non trong vùng khói
lửa mịt mùng mà vẫn không bao giờ lui bước, con người ấy thật đáng là một
chiến sĩ. Trước điểm này ta không thể không vỗ tay khen ngợi Thế Tổ nhà
Nguyễn.
Về chính trị, khi sức cùng lực tận, Gia
Long đã cho giám mục Bá Đa Lộc đem con mình là Hoàng tử Cảnh đi cầu cứu với
nước Pháp và luôn luôn giao thiệp khéo léo với các lân bang để lấy ngoại
viện, nhờ đó mà chẳng những người Âu Châu mà cả các quân Xiêm, Miên, Lào
thường qua lại đánh Tây Sơn giúp mình. Ngoại giao đến thế là khéo léo tuy
rằng mang người ngoài về đánh anh em trong nhà là làm một hành động không
đẹp so với việc 12 Sứ quân trên tám thế kỷ về trước. Nhưng đến khi sự nghiệp
đã thành, ngôi quốc chủ đã vững, Gia Long thay đổi luôn thái độ, lên tiếng
kẻ cả với Xiêm, đặt Miên, Lào vào vòng lệ thuộc. Tiến thoái kinh quyền đến
thế quả thật là mau lẹ, quỉ quyệt… Tuy vậy, vua Gia Long cũng có một ít sở
đoản như bạc bẽo và tàn nhẫn với các trung thần, như hành động trả thù dã
man với đối thủ cũ là anh hùng Nguyễn Huệ, như đã biết dã tâm của cường quốc
Tây phương mà không có kế sách để giữ cho nước khỏi bị “Bạch Họa”.[6]
Sau vua
Gia Long, tuy các đế quốc Tây phương (đặc biệt là Pháp) bắt đầu phát động âm
mưu thôn tính nước ta mà các vũ khí ban đầu là các dịch vụ buôn bán và sự
phối hợp chặt chẽ với sinh hoạt truyền bá đạo Công giáo La Mã, nhưng dưới
thời ba vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, quốc gia vẫn còn hoàn toàn độc
lập và nắm giữ chủ quyền.
Ba vị
vua này, nếu không phải là anh quân thời loạn thì cũng đã chứng tỏ là minh
vương thời bình, một lòng vì nước thương dân, phát huy được những thành quả
của cha ông để lại dựa trên nền luân lý nhân nghĩa của nền Tam giáo. Chỉ
tiếc rằng trên mặt phát triển kinh tế và vận dụng nhân tài vật lực của đất
nước, họ vẫn còn nặng tinh thần bảo thủ, chủ trương bế môn tỏa cảng không
chịu tiếp nhận những trào lưu văn hóa và kỹ thuật của nước ngoài để hòa hóa
trong một chính sách cải cách duy tân cho nước nhà thêm hùng mạnh. Đặc biệt
dưới triều vua Tự Đức, ảnh hưởng Tống Nho của “Thiên Triều Trung Hoa” lại
được dịp phát triển mạnh mẽ trong một xã hội tương đối ổn định, mà những ước
lệ từ chương trở thành những mẫu mực đo lường sức mạnh văn hóa của quốc gia.
Cũng
dưới triều đại của ba vị vua này, tuy có gửi một số phái đoàn (Bùi Viện đi
Mỹ là một) để nghiên cứu nước ngoài, nhưng tinh thần bài ngoại triệt để biểu
hiện qua chính sách cấm đạo, giết đạo đã vừa mắc mưu các cố đạo vừa tạo ra
cái cớ cho đế quốc Pháp nắm được chính nghĩa (tại Pháp) để xua quân xâm lấn
giang sơn. Đã có nhiều người của đời sau, hoặc vì những xúc động chủ quan
hoặc vì những thiên kiến bè phái, đã nhìn chính sách này một cách phiến diện
và đơn giản để lên án nặng nề ba vị vua trên mà không chịu đặt mình vào
khung cảnh của thời đại đó để suy nghiệm và phê phán cho khách quan hơn.
Theo ý
kiến riêng của tôi thì trên mặt chính trị, và đặc thù hơn trên bình diện
phát triển quốc gia và giao hệ quốc tế, quả thật các ông vua này đáng bị phê
phán khắt khe. Nhưng ngược lại, trên mặt nhân văn, thì các vị vua đó chỉ
phản ánh ý nguyện của tuyệt đại đa số quần chúng mà thôi. Bốn chữ “Bình
Tây, Sát Tả”trong những bài hịch của các phong trào Văn Thân và Cần
Vương do các sĩ phu chủ xướng là một trong những chủ điểm đấu tranh của các
bản cương lĩnh chính trị này, để thể hiện cái ước vọng lớn lao và đại chúng
của nhân dân là “giết Đạo trước rồi đánh Tây sau”.
Nếu trên
mặt chính trị, các vị vua đó có một chính sách khôn khéo hơn thì Công giáo
La Mã đã được du nhập vào Việt Nam và may ra được hòa hóa thành một thứ Công
giáo Việt Nam như trường hợp đạo Phật cách đây hai ngàn năm. Lỗi lầm chính
trị của các vị vua này, sự cấu kết giữa chính quyền Pháp và Giáo hội La Mã
Vatican lúc bấy giờ, những tham vọng mở mang nước Chúa của hội truyền giáo,
và truyền thống chống ngoại xâm thể hiện chính đáng nhưng không đúng mức của
dân ta. Đó là bốn yếu tố chính chi phối trạng huống lịch sử lúc bấy giờ và
làm cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp quên đi chức năng rao truyền đức
tin của Chúa trong nhân ái, để chỉ còn tiến hành nhiệm vụ cao cả của mình
như một trận chiến xâm thực văn hóa. Sự cố tình phê phán hệ quả của
chính sách cấm đạo chỉ dựa trên mặt chính trị mà không đặt nó trong bối cảnh
nhân văn của thời đại lúc bấy giờ, là một thái độ thiếu trách nhiệm và thiếu
lương thiện của một số nhà viết sử muốn trốn tránh sự thật mà thôi!
Bây giờ
thì lịch sử đã chứng minh một cách quá rõ ràng và quá đầy đủ rằng chính
cái tham vọng xâm thực văn hóa của Hội Truyền Giáo Pháp đã là nguyên nhân
chủ yếu và lợi khí hữu hiệu của chính sách xâm lăng quân sự chính trị của đế
quốc Pháp lúc bấy giờ. Trong tiến trình cấu kết này, những khuôn mặt của
Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Puginier, Pellerin, Taberd… đã là
những chính trị gia lão luyện khoác áo tu sĩ để tiến hành một thủ đoạn chính
trị cổ điển nhất nhưng cũng hữu hiệu nhất: chia để trị. Họ chia dân ta thành
hai khối lương giáo bất khả hòa và bất khả dung.
Lịch sử của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại
gắn liền một cách chặt chẽ với lịch sử bành trướng ảnh hưởng của Pháp tại
Đông Dương. Một trong những sáng lập viên của Hội, ông Pallu, đã đóng vai
trò liên lạc giữa hai triều đình Pháp và Huế. Vị giáo sĩ nổi tiếng nhất của
Hội, Giám mục Adran Pigneau de Béhaine, đã chính thức gia tăng mối quan hệ
này: Sự can thiệp của các hội viên của Hội Truyền Giáo vào chính tình Việt
Nam đã dẫn đến hành động xâm lược võ lực đầu tiên (của Pháp)
[7].
Một số
trí thức Thiên Chúa giáo Việt Nam như các ông Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh
Trung… hơn một trăm năm sau, trong khi suy nghiệm về sự bế tắc nhân văn của
nền văn minh Tây phương và trong nỗi niềm khổ hận của một người Việt Nam lận
đận, cũng đã nhìn thấy và nêu lên rõ sự thật này:
Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ
khi Giáo Hội (La Mã) trở thành “Quốc Giáo” thì cây gươm tinh thần của thánh
Phao Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thật sự. Kể từ
dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đã không ngần ngại để dùng thế
lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “Tà thần”, đốt sách vở
ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là “Lạc Đạo” nếu không chịu sửa sai
[8].
Cái hoàn
cảnh không may đó đã đến với dân ta từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20, để dân Việt
trở thành đối tượng, nạn nhân của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp và đoàn
quân xâm lăng Pháp. Cho nên ông Lý Chánh Trung mới hạ bút viết mấy lời tâm
huyết như là lời thú tội:
Ngày
nay, mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là
một hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị
các nhà vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có
thể làm khác hơn
[9].
“Khó có
thể làm khác hơn” đó chỉ là thái độ “tìm về dân tộc” của những người Công
giáo Việt Nam kiểu Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung. Còn đối với anh em ông
Diệm, đối với nhóm Công giáo Cần Lao thì lời than trách của Lý Chánh Trung
chỉ làm cho anh thêm mang tội: cái tội “lạc đạo”, cái tội “thân Cộng”, cái
tội “bênh vực hành động những kẻ ngoại đạo”. May thay, Lý Chánh Trung vô
tình được nhà trí thức Công giáo Etienne Vũ Đức Hạnh gián tiếp trưng bày
bằng cớ về cái tội thực dân của các giáo sĩ ngoại quốc và cái tội làm tay
sai cho kẻ xâm lăng của giáo dân Việt Nam dưới thế kỷ 19. Trong tác phẩm
La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Viet-Nam
de 1851 à 1870, dựa vào những tài liệu của một số tác giả Pháp và một số
giáo sĩ ngoại quốc, Etienne Vũ Đức Hạnh đã viết như sau:
Sous Tự Đức, un grand
nombre de catholiques Vietnamiens sont d’intelligence avec les Francais,
certes, mais cette collaboration est plus materielle que formelle. Comment
expliquer cet état de fait sans ajouter aux raisons précédentes les
circonstances politiques à la fois troublées et troublantes de l’époque?
Les ambitions des Chúa
Trịnh dans le Đàng Ngoài, des Chúa Nguyễn dans le Đàng Trong et celles
momentanées des frères Tây Sơn ne connaissent plus de limites. Le peuple qui
en souffre, surtout celui du Bắc Kỳ a la nostalgie des rois Lê dont it garde
un souvenir ineffaceable. Bien que Chúa Nguyễn Phúc Ánh ait unifié l’Empire,
la dynastie des Nguyễn n’est pas aimée; elle
est à jamais considérée comme l’engeance d’insurpateurs. La fidèlité des
populations appelle la résurrection des Lê et à la recherche d’un rejeton
royal. Ce qui explique le succès du prétendant catholique Lê Duy Phụng.
Au jour de Tự Đức,
chrétiens et non chrétiens à l’instigation des missionnaires, résistent ici
sourdement, là ouvertement au roi régnant mieux à la dynastie des Nguyễn
pour plusieurs motifs. Les Nguyễn ont volé le trône des rois Lê. Leurs
descendants actuels ont manqué le mandat du ciel pour avoir traité avec les
envahisseurs et cédé à l’ennemi une portion du territoire national. Une
seule différence: les chrétiens font cause commune avec les francais, les
non chrétiens, les combattent”[10].
Tạm dịch:
Dưới triều Tự Đức, một
số đông người Thiên Chúa giáo Việt Nam quả đã làm tình báo cho Pháp, nhưng
sự cộng tác ấy chỉ có tính cách thực tiễn hơn là quy thức. Làm sao có thể
giải thích được tình trạng ấy nếu không thêm cho những nguyên do ấy, những
hoàn cảnh chính trị rối rắm đáng phải lo âu?
Tham vọng của chúa
Trịnh Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Đàng Trong và cả anh em Tây Sơn đều vô giới
hạn. Tình trạng ấy làm cho nhân dân đau khổ, nhất là nhân dân Bắc Kỳ vẫn
hoài vọng nhà Lê mà họ đã có những kỷ niệm khó xóa mờ. Dù chúa Nguyễn Phúc
Ánh đã thống nhất giang sơn, nhưng nhà Nguyễn không được thương mến và mãi
mãi bị coi là những kẻ cướp quyền. Lòng trung thành của dân chúng đòi hỏi sự
phục hồi nhà Lê và tìm kiếm một hậu duệ. Lý do đó giải thích cho sự thành
công của Lê Duy Phụng, kẻ tự nhận là người hậu duệ Thiên Chúa giáo của nhà
Lê.
Dưới triều đại Tự Đức,
theo sự xúi dục của các giáo sĩ ngoại quốc, người Thiên Chúa giáo và người
không Thiên Chúa giáo kẻ thì chiến đấu âm thầm, kẻ thì công khai để chống
lại những nhà vua đang tại vị hơn là chống lại nhà Nguyễn vì nhiều nguyên
nhân. Nhà Nguyễn đã cướp ngôi vua nhà Lê. Những vua nối quyền hiện tại thì
không còn thiên mệnh để ký kết với quân xâm lăng và nhượng một phần lãnh thổ
cho kẻ thù. Chỉ khác nhau là: người Thiên Chúa giáo thì hợp tác với Pháp
trong một mục tiêu chung, còn người không Thiên Chúa giáo thì chiến đấu
chống lại.
Gác một
bên việc Etienne Vũ Đức Hạnh cố tình xuyên tạc lịch sử dân tộc, chúng ta
thấy rõ ràng ông ta đã hân hoan vinh danh hành động làm tay sai cho thực dân
của người Công giáo Việt Nam dưới thế kỷ 19.
Với cái
tội phản quốc đó của giáo sĩ ngoại quốc và giáo dân Việt Nam thì làm sao vua
chúa nhà Nguyễn lại không “cấm đạo, giết đạo”.
Nói cho
rõ ra thì từ ngày đạo Chúa du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 cho đến
đời Tự Đức gần 300 năm trời, vua chúa nước ta với truyền thống hiếu hòa và
bản chất hiếu khách đã biết bao phen mở rộng vòng tay để cho giáo sĩ và giáo
dân tự do hành đạo. Khốn nỗi, các cố đạo “cứ được đằng chân lại lân đằng
đầu” trong mưu đồ thôn tính Việt Nam cho nên mới có tình trạng cây muốn lặng
mà gió chẳng ngừng, các vua chúa nhà Nguyễn phải cấm đạo, giết đạo, sĩ phu
Việt Nam phải phất cờ “Bình Tây Sát Tả”. Những hành động đó tuy tàn ác nhưng
lại là những biện pháp bắt buộc để cứu nước cứu dân trong tình thế quê hương
lúc bấy giờ, một quê hương loạn ly tang tóc do chính các giáo sĩ và giáo dân
gây ra mà nhà trí thức Công giáo Etienne Võ Đức Hạnh lại cố tình để cao và
bênh vực họ.
Vào cuối
đời vua Tự Đức, đất nước từ từ mất dần về tay người Pháp. Rồi đến năm 1884,
với hiệp ước ký kết giữa đại diện Pháp là Patenôtre và đại diện triều đình
An Nam là Nguyễn Văn Tường và Phạm Trọng Duật, thì nước Việt Nam bị chia
thành ba kỳ: Nam kỳ thuộc địa có quy chế như một tỉnh hạt của Pháp quốc do
một Thống đốc Pháp cai trị, Bắc kỳ Bảo hộ do một thống sứ Pháp cai trị, và
Trung kỳ Bảo hộ do một khâm sứ Pháp đứng đầu. Đối với xứ Bảo hộ Trung kỳ từ
Thanh Hóa đến Phan Thiết, Pháp vẫn giữ lại nền quân chủ có vua và triều đình
với chút hư quyền, hư danh. (Vì vậy, từ đây, kẻ viết xin gọi nhà Nguyễn từ
thời nước nhà bị đô hộ là nhà Mạt Nguyễn).
Thời Mạt
Nguyễn, trừ vua Đồng Khánh là một ông vua hiền hậu nhưng chỉ ngồi trên ngai
vàng được có ba năm rồi chết, còn những vị vua khác, có ông thì là vua cách
mạng, có ông thì thuộc loại vua bù nhìn.
Về cách
mạng thì có:
Vua Hàm
Nghi (1884) bỏ kinh thành ra Tuyên Hóa (Quảng Bình) lập chiến khu, phất cao
ngọn cờ Cần Vương chống Pháp. Rồi vì thân cô thế yếu, lại bị một tên Mường
(Trương Quang Ngọc) phản bội bắt Ngài giao cho Pháp nên bị Pháp đem đày ở
Algérie.
Vua Thành
Thái (1888-1920), lên ngôi khi mới 10 tuổi, là vị vua thông minh uyên bác,
thấm nhuần tư tưởng cách mạng Trung Hoa và Nhật Bản, muốn thực hiện công
cuộc cải cách quốc gia, đưa dân tộc đến con đường tân tiến. Nhưng tất cả
việc làm của ông đều bị người Pháp ngăn trở, Vua tức giận giả cách điên rồ,
ngấm ngầm xướng xuất đưa thanh niên ra nước ngoài cầu học để dùng vào đại
cuộc sau này. Chính nhà vua cũng âm mưu xuất ngoại nhưng sự không thành nên
năm 1907, khi Pháp dò biết được vua liên lạc với Phong Trào Đông Du để cầu
viện Nhật Bản, bèn bắt ép vua thoái vị và đày qua đảo Réunion ở Ấn Độ
Dương.
Vua Duy
Tân (trị vì từ 1907-1916) là con vua Thành Thái, còn nhỏ tuổi mà đã nhiều
phen bộc lộ nỗi căm thù thực dân Pháp. Nhân một buổi bơi thuyền câu cá ở cửa
Tùng (Quảng Trị), nhà vua ra một câu đối cho thượng thư Nguyễn Hữu Bài,
người của Pháp, để dò xem lòng dạ ông này như thế nào:
Ngồi
trên nước khôn ngăn được nước,
Trót
buông câu đã lỡ phải lần.
Đáp lại,
thượng thư Nguyễn Hữu Bài khuyên nhà vua nên nhắm mắt chịu thua thời cuộc:
Ngẫm
việc đời mà ngán cho đời,
Liều
nhắm mắt tới đâu hay đó.
Vua Duy
Tân liền phán: “Thầy thì hay liều thôi chứ không bao giờ nghĩ cách đương đầu
với nghịch cảnh”. Tất nhiên, làm sao ông Nguyễn Hữu Bài, con đẻ của Hội
Truyền Giáo Hải Ngoại, có thể đương đầu với thực dân Pháp được.
Tuy
nhiên, vua Duy Tân vốn ý chí bất khuất nên quyết tâm đợi thời cơ để làm cách
mạng phục hồi nền độc lập cho đất nước. Thế chiến thứ nhất xảy ra đã là một
cơ hội tốt đẹp, rồi lại gặp được các đồng chí yêu nước như hai ông Trần Cao
Vân và Thái Phiên hết lòng hỗ trợ, nên Ngài bèn quyết định phất cờ khởi
nghĩa. Chẳng may quốc vận còn gặp lúc truân chuyên, việc đại nghĩa của vua
Duy Tân thất bại, Ngài bị bắt và bị đày qua đảo Réunion lúc mới 17 tuổi.
Trong thế
chiến thứ Hai, hoàng tử Vĩnh San (tức là vua Duy Tân) có một thời gian mang
cấp bậc Thiếu tá của Pháp. Ngày 10 tháng 6 năm 1945, Ngài đã lên tiếng trên
đài phát thanh Brazzaville thuộc Pháp, đại ý hô hào toàn dân Việt Nam nên
nghe theo tiếng gọi của tổ quốc mà đứng lên xây dựng nước nhà, nêu cao danh
dự cho giống nòi.
Ngày 26
tháng 12 năm 1945, Ngài bị chết trong một tai nạn máy bay ở xứ Bangui thuộc
Trung Phi. Theo dư luận hồi đó thì cái chết thê thảm này có nhiều chi tiết
bí ẩn, có giả thiết cho rằng chính thực dân gây nên để chặn đường về nước
của một nhà ái quốc được toàn dân tín nhiệm
[11].
Thế là
nhà Mạt Nguyễn có ba vị vua yêu nước và có tinh thần cách mạng bị Pháp bắt
đi đày ở Châu Phi. Sự kiện đó đã phần nào trực tiếp đóng góp cho quyết tâm
đấu tranh chống Pháp của sĩ phu trong nước và trở thành đề tài gây xúc động
cho nhiều văn nghệ sĩ yêu nước lúc bấy giờ. Nhà Nho Phan Quốc Quang, hiệu là
Thượng Tân Thị, quê ở Thừa Thiên, cảm xúc cảnh cha con vua Thành Thái vì
nước vì dân mà bị đọa đày, ông bèn thác lời vợ vua làm ra mười bài thơ nhan
đề là Khuê Phụ Thán được truyền tụng trong nhân gian mà vào thời Pháp
đô hộ, ai đọc lên cũng không cầm được nước mắt. Bài thơ nói lên nỗi lòng cô
đơn lẻ bóng của một người khuê phụ nơi quê nhà ngày đêm mỏi mòn đợi chồng
trông con:
Khô
héo lá gan cây đỉnh Ngự,
Đầy
vơi giọt lệ nước sông Hương.
Nỗi đau
xót của một người đàn bà trước thảm cảnh quê hương dâu bể, tử biệt sinh ly,
đã làm cho sông núi cỏ cây, vốn là vật vô tình mà cũng phải “giọt lệ đầy
vơi, can trường khô héo”.
Sau những
vùng vẫy tuyệt vọng của vua Duy Tân, các vị vua còn lại của nhà Mạt Nguyễn
chỉ là những đóm lửa le lói của một triều đại đang đến hồi suy tàn, nhất là
lúc đó chính quyền thực dân đã đủ thời gian và lực lượng để củng cố bộ máy
bảo hộ của họ, cũng như lúc đó quần chúng đã ý thức được nhiệm vụ năng động
đích thực của mình để đứng lên thay vua mà cứu nước.
Cho nên
hai vị vua còn lại là Khải Định và Bảo Đại chỉ hành xử như những vị vua bù
nhìn, hoặc cúi đầu tuân phục lệnh người Pháp như vua Khải Định, hoặc cô đơn
buông xuôi theo số mệnh như vua Bảo Đại mà thôi.
Thật vậy,
vua Khải Định (trị vì từ 1916–1925) bị sĩ phu lên án là Việt gian, bù nhìn,
khoán trắng việc nước vào tay thực dân Pháp. Cụ Phan Chu Trinh đã từng gọi
vua Khải Định là “Dân Tặc”, và năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp dự cuộc
triển lãm quốc tế, cụ Phan đã gởi một lá thư trách nhà vua bảy điều: Tôn bậy
quân quyền, Lạm hành thưởng phạt, Thích chuộng hư văn, Xa xỉ quá mức, Phục
sức lố lăng, Chơi bời vô độ, và Hành động ám muội trong việc bang giao với
Pháp.
Còn cụ
Nghè Ngô Đức Kế, hiệu là Tập Xuyên, chủ bút báo Hữu Thanh, năm 1924
thì lại châm biếm bằng bài thơ lên án Khải Định như sau:
[12]
HỎI
GIA LONG
Ai về
địa phủ hỏi Gia Long,
Khải
Định thằng này phải cháu ông?
Một
lễ tứ tuần vui lũ trẻ,
Trăm
gia ba chục khổ nhà nông.
Mới
rồi ngoài Bắc tai liền đến,
Năm
ngoái sang Tây ỉa vãi cùng.
Bảo
hộ trau dồi nên tượng gỗ,
Vua
thời còn đó, nước thời không.
Vua Bảo
Đại (1925–1945), vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, là con trai độc nhất của
vua Khải Định, nhưng đặc biệt diện mạo cùng phong độ lại khác hẳn vua cha.
Ông có nét mặt chữ điền, đi đứng nghiêm trang, ăn nói đàng hoàng, dáng điệu
đường bệ chững chạc. Rất nhiều tài liệu cho thấy ông Bảo Đại không phải là
con ruột của vua Khải Định, vì vua Khải Định mang bịnh bất lực không thể gần
gũi đàn bà.
Vua Bảo
Đại húy là Vĩnh Thụy, sinh năm 1913 (Quý Sửu) tại kinh thành Huế. Ngày 28
tháng 4 năm 1922, ông được vua cha tấn phong làm Đông Cung Hoàng Thái Tử,
nghĩa là tước vị của một thái tử sẽ được quyền nối ngôi vua. Ngày 15 tháng 5
năm 1922, khi ông mới lên chín tuổi, thì được vua cha và chính phủ Bảo Hộ
cho đi Pháp du học. Trong thời gian ở Pháp, ông được vua Khải Định gởi gấm
cho ông Charles (một vị cựu khâm sứ Trung kỳ) để giám hộ như một người cha
nuôi săn sóc trông coi. Năm 1925, khi vua Khải Định băng hà, Bảo Đại về nước
để chịu tang và để làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng Đế. Sau đó, ông trở lại
Pháp để tiếp tục việc học cho đến năm 1932 thì về nước vĩnh viễn, và chính
thức tức vị để điều khiển triều đình An Nam.
Nhân dân
ta từ ngày bị Pháp đô hộ vẫn liên tục kiên cường chiến đấu chống lại kẻ thù
xâm lăng. Ngay cả dưới triều Khải Định mà việc nước hầu như đã khoán trắng
cho thực dân Pháp và cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp qua ông Võ Hiển
Nguyễn Hữu Bài (nhất là trong khoảng thời gian 1925–1932, từ khi vua Khải
Định băng hà cho đến ngày ông Bảo Đại về nước chấp chánh), lửa cách mạng vẫn
hừng hực cháy trong lòng dân tộc Việt. Ngọn lửa đó đã được đốt bừng lên và
được nuôi dưỡng mạnh nhờ ảnh hưởng của bản án tử hình chí sĩ Phan Bội Châu.
Lửa cách mạng mãnh liệt đến nỗi trước cao trào đấu tranh của toàn dân phản
kháng bản án này, thực dân đành phải hủy bản án và đem Cụ về quản thúc tại
kinh thành Huế (1925). Trong khoảng thời gian đó, những phong trào cách mạng
và những biến động quan trọng đã liên tiếp xảy ra: đảng Tân Việt Cách Mạng
gồm đa số là những trí thức trẻ ra đời tại Huế, phong trào Sô Viết nổi lên ở
Nghệ Tĩnh và cuộc nổi loạn đẫm máu của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Bắc Việt do
anh hùng Nguyễn Thái Học cầm đầu. Lại còn ảnh hưởng của phong trào Cường Để
tại hải ngoại, của Phong Trào Đông Kinh Nghĩa Thục, của cuộc tranh đấu đòi
dân quyền của chí sĩ Phan Chu Trinh… tất cả đã là những hỏa sơn ầm ĩ cháy
trong lòng dân tộc. Vì vậy, trước ý chí đối kháng của nhân dân để bày tỏ sự
bất mãn đối với chế độ bảo hộ và nhất là đối với triều đình mục nát già nua,
người Pháp bèn lợi dụng việc vua trẻ Bảo Đại hồi loan để trẻ trung hóa triều
đình, và hứa sẽ để cho nhà vua thực hiện một số cải cách mong xoa dịu lòng
dân, mà việc đầu tiên là sa thải lớp quan lại già cả về hưu trí để thay thế
bằng một lớp người trẻ trung hơn.
Những
quan lại lớn tuổi này chẳng những là lớp người lạc hậu không hợp thời để
theo kịp với dân trí mỗi ngày một tiến bộ, mà đa số những vị quan này là
những nịnh thần tham nhũng, làm tay sai cho Pháp. Bài thơ của Cụ Nghè Ngô
Đức Kế dưới đây đủ nói lên cái tư cách của lớp quan lại áo mão xênh xang mà
thật ra chỉ là những con bung xung làm gai mắt mọi người:
Cu li
đành phận chớ ra oai,
Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài.
Quân
chủ cờ bay vui trước mắt,
Dân
quyền trống đánh chán bên tai.
Bài,
Liêm giảo hiểm khoe tài trí
Huề,
Thụ thông minh gọi bất tài.
Cấm
hết công môn tiền hối lộ,
Ngoài
ra Tiềm Để mặc lòng ai.
[13]
(Bài,
Liêm, Huề, Thụ là tên bốn vị Thượng thư mà Bài tức là ông Nguyễn Hữu Bài
người đỡ đầu cho ông Diệm, và Huề tức là ông Thân Trọng Huề, ông ngoại của
bà Ngô Đình Nhu).
Trong
lớp quan lại già nua đó, người nổi tiếng nhất là ông Nguyễn Hữu Bài. Nổi
tiếng vì ông đã là tay sai đắc lực nhất của hai thế lực Thực Dân lúc bấy
giờ. Một là hệ thống cai trị của Pháp, và một là hội Truyền giáo Hải ngoại
Pháp. Ông cũng nổi tiếng vì với tư cách đó, ông lại là vị tể tướng cầm đầu
triều chính trong thời gian vua Bảo Đại du học tại Pháp, quả thật ông Nguyễn
Hữu Bài là một thứ vua không ngai. Thời bấy giờ, số phận quan lại từ trên
xuống dưới đều nằm trong tay ông, đời sống nhân dân cũng nằm trong tay ông
qua những chính sách ông đề nghị với chính phủ Bảo Hộ.
Theo
giáo sư Nguyễn Văn Xuân thì ông Nguyễn Hữu Bài có đến 5 đồn điền chung quanh
Huế, có đồn điền rộng đến cả 1.000 mẫu ruộng. Phê bình ông Nguyễn Hữu Bài,
vị giáo sư đại học Huế đã viết:
Đối với chúng ta, ngày nay có thể công
kích Nguyễn Hữu Bài, ông gia của Ngô Đình Khôi và ông gia hụt của Ngô Đình
Diệm, cho rằng chỉ là một thứ “bồi Tây” dù ông được liệt vào hạng “Đày vua
không Khả, đào mả không Bài”, và những nhàn điền (đồn điền) của ông chỉ theo
phương thức bóc lột tư bản Tây phương tàn nhẫn và trong sự thật cũng đáng
gọi là tên chủ đồn điền quỷ quyệt
[14].
Ngoài ra
trong tác phẩm “Hoàng Tử Vĩnh Sang” của sử gia Vũ Ngự Chiêu (tr.
113–114) có trích đăng một lá thư của vua Thành Thái từ Saint Denis gởi về
cho vợ, tố cáo Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài – trong cuộc nổi dậy của vua Duy
Tân – đã lập kế xúi dục vua Duy Tân bỏ Đại nội ra ngoài Hoàng thành để Tây
bắt.
Với một
thành tích tay sai đắc lực của hai thứ thực dân như thế, và với sự tích lũy
tài sản lớn lao như thế mà lại tự xưng là người có lòng yêu nước yêu vua,
dám “đày vua không Khả, đào mả không Bài” thì quả thật là một sự lạ đối với
người có hiểu biết về tâm lý tình báo và lý luận chính trị. Còn ông Ngô Đình
Khả thì lại là người đã theo đại Việt gian Nguyễn Thân cầm quân đánh phá
chiến khu Phan Đình Phùng, đào mả Cụ lên rồi lấy thuốc súng trộn với thi hài
Cụ bắn đi cho mất tích (tài liệu của tạp chí Lên Đường số ra mắt,
Houston, trong phần phụ lục E). Ngoài ra, qua bức thư gởi cho Toàn quyền
Decoux, giám mục Ngô Đình Thục (xem phần phụ lục) xác nhận Cụ Ngô Đình Khả
và hai con Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm đều là tay sai đắc lực của thực dân
Pháp.
Còn
trường hợp ông Nguyễn Hữu Bài không ký giấy đào mả vua cần được phân tách kỹ
càng hơn. Theo tác phẩm “Hồ sơ Vua Duy Tân” mà cụ Hoàng Trọng Thược,
một nhân sĩ người Huế và cũng là một nhà viết sử, thì Nguyễn Hữu Bài là
người mà vua Duy Tân không ưa mấy, nhất là lúc ông Nguyễn Hữu Bài cho đào
đất tìm vàng trong Đại nội. Vua hỏi:
- Đại nội nầy thuộc về ai rứa thầy?
- Tâu: của Vua.
- Vậy tôi có bảo đào đâu?
- Tâu: vì kho ta thiếu tiền và người Pháp đang đánh
nhau với Đức.
- Nước Pháp bị xâm lăng chứ nước ta không bị xâm
lăng đó sao?
Nguyễn Hữu Bài vâng đầu bái phục. Song vì tình thế, Ấu Chúa cũng không làm
sao ngăn được việc làm của người Pháp.
Đất cấm
địa nơi vua đang ở và vua còn sống, mà ông Nguyễn Hữu Bài dám cho đào lên để
tìm vàng dâng cho Tây, thì câu “Đày vua không Khả, đào mả không Bài” có còn
ý nghĩa là câu truyền tụng để “vinh danh” cho ông Nguyễn Hữu Bài nữa hay
không?!
Để những
nhà Sử học có thêm tài liệu nghiên cứu về tội làm tay sai cho thực dân Pháp
và cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp của ông Nguyễn Hữu Bài và cha con ông
Ngô Đình Khả, tôi xin đề nghị quý vị đọc thêm các tác phẩm khác như “Hồ
Chí Minh Con Người và Huyền Thoại” của Chính Đạo, như “Hoàng Tử Vĩnh
Sang” của Vũ Ngự Chiêu, như “Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí” của
Chính Đạo do nhà xuất bản Văn Hóa (Houston, Texas, Hoa Kỳ) phát hành.
Trong kế
hoạch trẻ trung hóa triều đình này, vua Bảo Đại đã đồng ý trọng dụng hai
nhân vật nổi tiếng là hai ông Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh. Ông Ngô Đình Diệm
là một vị Tuần Vũ 32 tuổi của một tỉnh nhỏ (Bình Thuận), được Võ Hiển Nguyễn
Hữu Bài tiến cử giữ chức Thượng thư Bộ Lại đầu triều. Và ông Phạm Quỳnh là
một học giả chủ nhiệm báo Nam Phong, nhưng đồng thời cũng là bạn thân
của Marty (Giám đốc sở Chính trị của Phủ Toàn quyền), được cử giữ chức
Thượng thư Bộ Giáo dục kiêm Ngự tiền văn phòng của Hoàng Đế. Khi chấp nhận
hai vị Thượng thư này, rõ ràng trong sự chọn lựa chính trị của vua Bảo Đại,
yếu tố “trẻ” không phải là yếu tố quyết định nhất mà chính vì với một Ngô
Đình Diệm trung quân, rường mối nhà Nguyễn sẽ vững vàng không lo hậu họa, và
với một Phạm Quỳnh thân Pháp, tương quan Pháp Việt sẽ dễ dàng hơn để có thể
thực hiện những cải tổ cần thiết. Hai vị đại thần đó sẽ bổ túc cho nhau để
giúp cho vua Bảo Đại vận hành triều đình An Nam để có thể thực hiện những
cải cách xã hội mà người Pháp đã hứa hẹn với ông.
Nhưng
bao nhiêu lời hứa hẹn của thực dân đều như nước chảy qua cầu, dân bị trị vẫn
là dân bị trị, vua bù nhìn vẫn là vua bù nhìn. Vua Bảo Đại bất lực bó tay để
đi từ bất mãn đến chán nản, Thượng thư Ngô Đình Diệm xin từ quan, việc triều
chính nằm trong tay ông Phạm Quỳnh và người Pháp. Do đó, trong thời gian làm
vua, ông Bảo Đại chỉ còn biết săn bắn và thể thao, thường sống ở đồn điền
Quảng Trị, ở Bạch Mã, Đà Lạt hơn là giam mình trong bốn bức tường thành nội
cung với cỏ mọc rêu phong. Từ khi chấp chánh cho đến ngày 9 tháng 3 năm 1945
(ngày Nhật Bản đảo chánh), ông cố giảm thiểu càng ít càng tốt mối ràng buộc
với Pháp trong những chính sách thất nhân tâm. Công việc của ông chỉ là công
việc tế lễ, như lễ ở Nam Giao, cúng kỵ các tiên vương, ban phát sắc bằng huy
chương cho hàng quan lại, còn mọi việc cai trị ông giữ thế mắt đui tai điếc.
Thần dân chỉ biết ông Bảo Đại là một vị vua bù nhìn mà có ai hiểu nỗi tâm sự
thầm kín của ông đâu.
Ông Bảo
Đại làm vua bù nhìn nhưng nếu những ai đã từng sống đồng thời với ông, chịu
khó quan sát cảnh ngộ của ông ta đều phải nhận rằng nếu ta ở vào địa vị của
ông thì cũng khó thể làm gì được khác hơn. Vua Bảo Đại hoàn toàn bị bao vây
kềm kẹp, nhất cử nhất động của ông ta đều bị thực dân theo dõi kiểm soát gắt
gao. Họ đặt quan hầu người Pháp bên cạnh, họ lập cho ông một đội lính khố
vàng (Ngự Lâm Quân) do viên Đại úy Bond trực tiếp chỉ huy, đóng ngay trong
Hoàng thành để canh chừng những hành động chống đối của nhà vua. Họ đặt các
vị Thượng thư toàn là tay chân thân tín của họ để ngăn cản vua mưu đồ thực
hiện những cuộc cải cách, hay những âm mưu nổi loạn như các vua tiền triều.
Thế mà người Pháp vẫn chưa vừa lòng, họ còn đặt những viên cố vấn người Pháp
gọi là Hội lý bên cạnh các vị Thượng thư để kiểm soát các vị này, và để
triều đình An Nam thi hành cho đúng những chỉ thị do Toàn Quyền và Khâm Sứ
ban bố.
Vừa
không đủ khả năng và điều kiện nhân tâm cũng như điều kiện hoạt động để phát
khởi một cuộc đấu tranh, vừa phải khôn khéo hóa giải những áp lực chính trị
có thể làm sụp đổ vĩnh viễn triều đại nhà Nguyễn, vua Bảo Đại chỉ còn hai
chọn lựa: hoặc làm một vị vua tay sai mang tội với lịch sử, hoặc làm một vị
vua bù nhìn bất lực cho hậu thế chê cười. Và ông đã chọn lựa. Hậu thế chỉ có
thể chê cười mà không thể kết ông tội bán nước hay tay sai.
Hãy nhìn
vào cuộc hôn nhân của ông Bảo Đại để thấy chính sách cai trị thâm độc và
chặt chẽ của thực dân, để nhìn thấy những kế hoạch đường dài và những toan
liệu kỹ lưỡng của sự cấu kết giữa chính quyền thực dân Pháp và Hội Truyền
Giáo Hải Ngoại Pháp.
Trong
những năm cuối cùng của Bảo Đại ở Pháp vào lúc đã ở tuổi trưởng thành, họ
cho một nữ sinh tên là Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan, con một nhà phú hộ theo
Công giáo là ông Nguyễn Hữu Hào ở Nam Kỳ, đi Pháp du học. Tất nhiên cô Marie
Thérèse phải là một tiểu thư dù không hoàn toàn sắc nước hương trời thì vẫn
có được cái đẹp kiều diễm đài các để có thể làm rung động trái tim của một
nhà vua trẻ đang đến tuổi rạo rực tình yêu đôi lứa. Trong thời kỳ ông Bảo
Đại còn bận học hành, họ chưa cho đôi trai tài gái sắc gặp nhau, mà đợi đến
khi ông xuống tàu về nước chính thức cầm đầu triều đình, đến khi ông thấy
mình đã trưởng thành và có trách nhiệm với quốc dân thì họ mới tổ chức cho
Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan gặp ông Bảo Đại. Ban đầu họ cho cô Lan lân la
gần ông mỗi khi ông đứng một mình trên boong tàu nhìn ngắm sóng nước trùng
dương. Cho đến khi hai người đã vượt khỏi giai đoạn khách sáo sơ giao thì họ
bắt đầu tổ chức cho đôi uyên ương khắng khít nhau hơn trong những buổi dạ
hội trên chuyến tàu xuyên đại dương bất tận.
Chỉ tội
nghiệp cho bà Từ Cung Thái Hậu, vì trong lúc con mình ở nơi đất khách quê
người thì bà đã lo nghĩ đến tương lai của dòng họ, đã nghĩ đến việc tìm bạn
trăm năm cho con. Tại Huế, Bà đã cho dò xét thân thế, phẩm hạnh, sắc đẹp của
bao nhiêu tiểu thư khuê các, con những vị đại thần để Bà có thể lựa chọn một
nàng dâu cho Hoàng tộc, một Hoàng Hậu tương lai cho nước An Nam. Bà đã chọn
được một nữ sinh con một vị đại quan có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành
mà bà mẹ của tiểu thư đó cũng sùng mộ đạo Phật như Bà. (Tiểu thư này sau lấy
chồng họ Phạm, giáo sư trường Quốc học Huế). Bà chỉ đợi con mình ngự giá hồi
loan chính thức điều khiển việc nước là làm lễ thành hôn cho đôi lứa. Cuộc
đời của Bà xuất thân từ nơi dân giả, phúc đức cha ông đẩy đưa Bà được tiến
cung làm Hoàng Hậu nên Bà cố học hỏi cho thành người đài các chốn vi cung,
cố trau dồi đức hạnh cho thành người vợ hiền dâu thảo. Nhưng chẳng may chồng
mất sớm, Bà lại chỉ có một mụn con trai nên Bà thiết tha mong cho con trưởng
thành để nối nghiệp vua cha và nối dõi tông đường. Vì thế, đối với Bà, việc
tìm kiếm một nàng dâu đức hạnh mọi bề là điều quan trọng thiết yếu nhất.
Quan trọng vì không phải chỉ thương con mà còn vì danh dự triều đại nhà
Nguyễn nữa.
Bà không
ngờ rằng trong lúc Bà đang sống những giây phút rộn ràng của bất kỳ một
người mẹ nào đang lo chuyện trăm năm cho con thì người Pháp, ở trong những
văn phòng của các thế lực giáo quyền và thế quyền, cũng âm thầm thực hiện âm
mưu vượt quyền hạn và giết giấc mơ của Bà để cưới vợ cho vua Bảo Đại dựa vào
những tiêu chuẩn chính trị của chính sách bảo hộ lâu dài.
Vua Bảo
Đại về nước được một thời gian, việc triều chính tạm yên thì vợ chồng ông
Charles, người giám hộ, bắt đầu lo chuyện thành hôn cho ông. Vào khoảng cuối
năm 1933, ông bà Charles rủ vua Bảo Đại đi Đà Lạt, tại khách sạn Lang Biang
huy hoàng tráng lệ, bà Charles dẫn tiểu thư Marie Thérèse chính thức giới
thiệu với nhà vua trẻ tuổi trước sự chứng kiến của quan Toàn quyền Pierre
Pasquier. Tất nhiên khi đã có phù phép của chúa tể thực dân tại Đông Dương
thì cuộc hôn nhân chính trị giữa vua Bảo Đại và cô Nguyễn Thị Lan nhất định
phải thành. Nó phải thành trên nỗi đau khổ cay đắng của Bà Từ Cung, của
những vị đại thần trong Tôn Nhân Phủ và của cả Hoàng gia. Đó là lần đầu tiên
trong lịch sử nước nhà, triều đình Việt Nam có một vị Hoàng Hậu theo Công
giáo La Mã qua sự sắp đặt của các thế lực phương Tây. Sau 400 năm, công tác
truyền giáo đạt đến cao điểm bằng sự có mặt của một nữ tín đồ trong chốn
thâm cung của triều đình Việt Nam. Và cô Marie Thérèse từ nay được mang danh
hiệu là Nam Phương Hoàng Hậu.
Lịch sử
đế quốc thực dân Pháp đã cho thấy rằng Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp luôn
luôn chủ trương Công giáo hóa Việt Nam, không chỉ là đối với người Việt Nam
thuộc hàng dân dã mà chủ yếu là hạng người Việt Nam thuộc đẳng cấp cao nhất
của triều đình. Thời Nguyễn Ánh, Pigneau de Béhaine đã khuyến dụ được Hoàng
Tử Cảnh, nay đến thời vua Bảo Đại họ đặt một hoàng hậu người Công giáo thì
tất nhiên trong tương lai vị vua kế vị ông Bảo Đại cũng sẽ là một ông vua đã
được rửa tội từ lúc mới sinh ra để tô bồi cho “la fille ainée de l’Eglise
en Extrême Orient” (Trưởng nử cuả Giáo hội tại Viễn đông)
Chẳng
thế mà vị đại diện tòa Thánh ở Đông Dương, Đức Khâm Mạng Drapier, đã tôn
vinh cuộc hôn nhân Bảo Đại - Nguyễn Thị Lan trong cuốn Lịch sử đạo Thiên
Chúa ở Việt Nam. Trong bài đề tựa cuốn sách, sau khi ca ngợi sự bành
trướng của đạo Công giáo La Mã trên mảnh đất thuộc địa màu mỡ, Đức Khâm Mạng
Drapier huênh hoang viết:
“… Việc kể ra cũng đi theo một thứ tự
với lịch sử thế tục vì đời sống của Công giáo đã lẫn với đời sống xã hội
Việt Nam từ bốn trăm năm nay. Trong khoảng thời gian ấy, có hai việc cách
nhau hàng trăm năm đã tỏ rằng Công giáo bao giờ cũng “trung thành với đế
quốc Việt Nam”(sic). Việc đức giám mục D’Adran giúp nhà Nguyễn và việc đức
Bảo Đại phong (?) lên ngôi Hoàng Hậu một thiếu nữ dòng dõi vọng môn Công
giáo hồi đầu chiến tranh [15].
Tuy
nhiên đây là một cuộc hôn nhân dị giáo trái với giáo luật thời bấy giờ nhưng
tại sao Bảo Đại vẫn cưới được Nguyễn Thị Lan. Thì ra thực dân đã có kế hoạch
sẵn. Theo cuốn “Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí” của Chính Đạo (tr.
36, 37) thì:
Năm 1934: Lấy Nguyễn Hữu Thị Lan, con
gái một đại điền chủ miền Nam. Vì Thị Lan có đạo Kitô, gây nhiều trở ngại.
Ngô Đình Thục cực lực chống đối vì theo đúng phéo đạo Kitô, Bảo Đại phải
“rửa tội” rồi mới được thành hôn. Sau đó, Pháp dàn xếp cho một giáo sĩ ngoại
quốc bí mật làm lễ cưới theo phép đạo. Như thế Bảo Đại trở thành vua Kitô
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
Cũng
trong cuốn sách này, Đức Khâm Mạng lại trách móc những phản kháng của người
Việt Nam mà đại diện là giới sĩ phu nho sĩ: “Núp mình sau bức thành chữ Nho,
các nhà cựu học không thể nhận được Tin Lành Cứu Thế. Các nhà tân học chịu
ảnh hưởng một nền giáo hóa thế tục cố tình không muốn biết đến đạo lý Gia
Tô”.[16]
Lúc nêu
lên hai sự kiện lịch sử của thời Gia Long và thời Bảo Đại, cũng như lúc chê
bai giới sĩ phu VN, Đức Khâm Mạng Drapier muốn chứng tỏ một cách công khai
rằng quá trình phát triển của Công giáo tại Việt Nam luôn luôn gắn liền với
giai cấp triều đình quý tộc ở mức độ cao nhất, và có cả “Thế” lẫn “Lực” mạnh
nhất trên đất nước Việt Nam này mà thể hiện rõ ràng nhất (của sự liên tục
này) là Thượng thư đầu triều Nguyễn Hữu Bài khi từ chức đã đề cử (và đã được
chấp thuận) một vị khác thế mình, ông Ngô Đình Diệm, mà cả hai người, cũ
cũng như mới, đều có những liên hệ chặt chẽ trên cả hai mặt đức tin lẫn sự
tuân phục với Hội Truyền Giáo Hải Ngoại.
Nói cho
đúng, từ khi gặp cô Marie Thérèse trên chuyến tàu hồi hương cho đến tận khi
lập thành Hoàng Hậu, ông Bảo Đại không cảm thấy bị ép buộc và tình yêu đôi
lứa hẳn phải có sự đồng thuận của cả hai bên. Tuy nhiên, điểm đáng nhấn mạnh
ở đây là tình yêu đó được tác thành trong một thủ đoạn chính trị vượt hẳn sự
sáng suốt của một người thanh niên đang ngụp lặn trong tình yêu, như Lý Bạch
ngày xưa ngây ngất nhảy xuống nước ôm trăng mà không biết mình sẽ vùi thân
dưới dòng sông lạnh.
Trường
hợp hôn nhân của vua Bảo Đại và cô Marie Thérèse chỉ là một trong rất nhiều
hình thái kiểm soát, vận dụng, khai thác một vị vua của các thế lực thế
quyền và giáo quyền Pháp. Tôi muốn nêu lên trường hợp đó là để chứng minh
rằng ông Bảo Đại dù có muốn cũng không thể làm gì hơn được, dù có lúc ông đã
muốn có những cải cách, những vận động để cứu triều đại nhà Nguyễn và cứu
chính nước Việt Nam của ông. Trôi nổi trong một hoàn cảnh như thế, sự bất
lực chính trị đã biến sự bất mãn thành ra một sự chán nản tâm lý và sinh lý.
Ông chỉ còn biết mượn những thú thể thao để khuây khỏa cho phù hợp với thói
quen phóng khoáng của cuộc sống Paris mà ông đã bị điều kiện hóa từ ngày ông
du học ở Pháp.
Năm
1945, sau khi được tiếp xúc nhiều lần với vua Bảo Đại, học giả Trần Trọng
Kim đã có nhận xét: “Vua Bảo Đại thông minh, am hiểu tình hình. Trong thời
Bảo hộ của nước Pháp, hình như Ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và
tập thể thao. Ngài có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đứng đắn”[17].
Học giả Trần Trọng Kim quả thật đã mô tả đúng tâm sự của một con người bất
đắc dĩ phải làm vua bù nhìn, làm một vị vua không nổi loạn được vì bị kềm
kẹp, không làm tay sai được vì lòng yêu nước nồng nàn, và nhất là không tự
xử thân mạng được vì trách nhiệm duy trì dòng dõi nhà Nguyễn.
Khi Nhật
đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông Bảo Đại đã biết lợi dụng vận hội
mới đó để khước từ dĩ vãng đau thương, ông đã tuyên bố Độc Lập cho Việt Nam,
xé bỏ mọi hiệp ước liên hệ với nước Pháp, chấm dứt nền đô hộ gần trọn thế
kỷ. Có lẽ sẽ có người cho rằng súng đạn và sức mạnh của quân đội Nhật Bản đã
giúp cho ông Bảo Đại có lòng yêu nước. Nói thế quả thật tội nghiệp cho ông
ta bởi vì ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Bản sửa soạn đầu hàng Đồng Minh
và nước Pháp của De Gaulle đang sửa soạn đổ bộ để tái chiếm Việt Nam, ông
vẫn có can đảm và sáng suốt gởi thông điệp cho Tổng thống Truman để nhờ Tổng
thống Mỹ gởi lời phản kháng đến Tổng thống De Gaulle:
Hoàng Đế Bảo Đại
Gởi Tổng Thống Truman
Được tin Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Pháp sẽ yết
kiến Các hạ để giải quyết tình thế tương lai của Đông Dương, Quả nhân xin
tin Các hạ biết rằng các nước Đông Dương đã tuyên bố độc lập và quả quyết
giữ vững nền độc lập ấy.
Riêng về phần dân tộc Việt Nam, chúng tôi không coi
kiều dân Pháp là kẻ thù, lại trọng nhân mạng và tài sản của họ, nhưng chúng
tôi sẽ cực lực phản kháng việc nước Pháp lập lại nền thống trị của họ trên
đất nước Việt Nam bất cứ theo một chế độ nào.
Chính sách thực dân nay không hợp thời nữa! Một dân
tộc Việt Nam đã có bốn ngàn năm lịch sử và một dĩ vãng vẻ vang không thể
chịu ở dưới quyền một dân tộc khác.
Nước Pháp nên cúi đầu theo lẽ công bằng ấy, mà Mỹ
quốc là một nước hào hiệp đã từng công khai tuyên bố và bảo vệ điều đó.
Nước Pháp phải vui lòng thừa nhận chân lý đó để
tránh khỏi tai vạ và để cho chiến tranh đừng xảy ra trên đất nước chúng tôi.
Trong cuộc chiến tranh vừa kết liễu, dân tộc chúng tôi tuy không tham chiến
mà cũng đã chịu bao nhiêu nỗi khổ, nên chúng tôi chỉ mong tham dự vào một
cuộc kiến thiết mới: kiến thiết một nền hòa bình với công lý trên toàn thế
giới.
Quả nhân nhờ Các hạ chuyển đạt thư này sang quý
chính phủ của hai nước Anh Quốc và Trung Hoa.
Bảo Đại
Đồng
thời với bức thông điệp gởi cho Tổng Thống Truman, vua Bảo Đại cũng đã gởi
cho tướng De Gaulle một bức thư với lời lẽ hết sức nhã nhặn mà cũng vô cùng
cứng rắn. Ông báo cho tướng De Gaulle biết là nếu nước Pháp vẫn quyết tái
lập nền thuộc địa trên đất nước Việt Nam thì “… dân tộc Việt Nam không muốn
và cũng không thể chịu đựng một cuộc đô hộ nào nữa, mỗi làng sẽ là một ổ
kháng chiến, mỗi người cộng sự cũ của Pháp sẽ là một kẻ thù…”
[18]
Những
lời tuyên bố nồng nàn tình yêu nước và sự bày tỏ thái độ quyết liệt đối với
Pháp khi quân đội Pháp sắp sửa tái xâm chiếm Việt Nam, đã nói lên quyết tâm
của vua Bảo Đại nhất định khước từ quá khứ, dù quá khứ ấy đã được đan bằng
những sợi dây liên hệ giữa ông và nước Pháp.
Nhưng
chẳng may cho vận nước còn phải chịu cảnh ngửa nghiêng nên toàn dân lại
hướng về cuộc kháng chiến của Việt Minh, và thêm vào đó ông Bảo Đại lại
không tham quyền cố vị, không luyến tiếc điện ngọc ngai vàng, vui vẻ từ bỏ
ngôi báu để tránh cho quốc dân một cuộc huynh đệ tương tàn. Ông đã tuyên bố:
Hạnh phúc của dân Việt Nam,
Độc lập của nước Việt Nam,
Muốn đạt được mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố hy sinh
tất cả mọi phương diện và cũng vì phương diện ấy, Trẫm muốn sự hy sinh của
Trẫm phải bổ ích cho tổ quốc.
… trong giờ phút nghiêm trọng này, đoàn kết là
sống, chia rẽ là chết.
… cho nên mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm
vua 20 năm, mới gần gũi dân được mấy tháng, chưa làm được ích lợi gì cho
quốc dân như lòng Trẫm mong muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường
quyền điều khiển quốc gia cho một chính phủ dân chủ cộng hòa.
… còn về phần Trẫm, sau 20 năm ngai vàng bệ ngọc đã
biết bao ngậm đắng nuốt cay, từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân Tự Do của
một nước Độc Lập, chứ Trẫm nhất quyết không để ai lợi dụng danh nghĩa của
Trẫm hay của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa…
(trích
một đoạn trong chiếu thoái vị của vua Bảo Đại nhân dịp trao bảo kiếm, ngọc
tỷ cho ông Trần Huy Liệu, đại diện Việt Minh tại lầu Ngọ Môn ngày 25 tháng 9
năm 1945)
Chính
tấm lòng hy sinh cao cả của vua Bảo Đại, hy sinh quyền uy tối thượng, hy
sinh bệ ngọc ngai vàng, hy sinh cả sự nghiệp mấy trăm năm trời của vua chúa
nhà Nguyễn mà lúc bấy giờ vào thời điểm quân Pháp đang lăm le tái chiếm Việt
Nam, quốc dân đã quên hết cái dĩ vãng 20 năm trời làm vua bù nhìn của vua
Bảo Đại để chỉ thấy nơi ông một công dân Vĩnh Thụy đầy lòng yêu nước.
Năm
1946, khi Cựu Hoàng đang thong dong với đời sống tự do của một công dân thì
ông Hồ Chí Minh, vì gặp nhiều khó khăn chống đối, nên muốn nhường quyền lại
cho ông để ông hứng chịu những hậu quả đen tối của tình thế. Tuy nhiên ông
Bảo Đại đã không tham quyền tham danh để bị mắc mưu. Ông kể chuyện này cho
ông Phạm Văn Bính nghe khi ông Bính đến gặp ông ở một biệt thự tại đường
Trần Hưng Đạo, Hà Nội. (Lúc bấy giờ, ông Bính đang là cộng sự viên của ông
Nguyễn Tường Tam và đang hoạt động cho phong trào Ngũ Xã, một phong trào
chống Cộng do bác sĩ Phan Quang Đán cầm đầu).
Cựu Hoàng mỉm cười bảo tôi:
Tôi
đã nhã nhặn nhưng cương quyết từ chối. Cụ Hồ khôn ngoan quá mức. Một là Cụ
thử lòng tôi còn ham chính quyền không, hai là Cụ muốn trút lên đầu tôi
những sự khó khăn hiện tại.
Cụ
thấy sinh viên, thanh niên và dân chúng biểu tình đòi Việt Minh trả lại
chính quyền cho tôi. Cụ làm như Cụ dân chủ tột bực. Cụ biết nội các nào cũng
không qua nổi mặt Việt Minh, và một khi nội các Vĩnh Thụy không làm được gì
cho quốc dân đồng bào, thì sinh viên, thanh niên đang ủng hộ tôi sẽ chán nản
và không còn tín nhiệm tôi nữa.
Tôi
đã thoái vị để được hưởng tự do của một người công dân, chẳng lẽ tôi tham
một chức Thủ tướng làm bù nhìn cho Cụ Hồ hay sao? [19]
Vai trò
Cộng Sản quốc tế của ông Hồ Chí Minh lần lần hiện rõ nên lợi dụng chuyến đi
Trùng Khánh, khi trở về, vua Bảo Đại đã ở lại luôn Hồng Kông. Sau đó, theo
lời kêu gọi của người Quốc gia, ông đứng ra thương thuyết với đại diện của
Pháp, ông Bollaert, Cao ủy của Pháp tại Đông Dương.
Kể về
giai đoạn này, ông Đoàn Thêm, một nhà văn nổi tiếng, một cựu Đổng lý Văn
phòng của Bộ Phủ Tổng Thống Việt Nam Cọng Hòa, đã viết:
Ngày 15-5-1947 và ngày 10-9-1947 tại Hà
Đông, ông Ballaert đọc diễn văn hứa hẹn thừa nhận trên nguyên tắc sự độc lập
trong Liên Hiệp Pháp. Y cũng biết rằng những nhân vật được mời ra hợp tác
đều mắc tiếng bị mua chuộc nên không được ủng hộ, nên y kêu gọi tất cả đoàn
thể các gia đình tinh thần (famille spirituelle).
Khốn nỗi, các gia đình ấy lại chia rẽ,
lục đục, hoặc chưa có dịp xum họp để tìm đường lối chung. Nếu nói chuyện với
từng nhà thì chỉ thấy những thành kiến, những ý niệm cố chấp, những quyền
lợi tương phản. Vậy phải tìm một nhân vật nào sẵn uy tín, được toàn quốc
biết tên tuổi, đứng trên các đảng phái để liên lạc, quy tụ các phe nhóm địa
phương rồi chính thức đàm thoại với Pháp. Tất nhiên người đó lại phải có
thái độ ôn hòa, có dĩ vãng đáng tin cậy, thực lòng thừa nhận cho Pháp những
quyền lợi quan trọng mà Pháp phải huy động toàn lực để duy trì.
Đủ các điều kiện ấy thì ai cũng thấy
chỉ có Cựu Hoàng Bảo Đại… Tại Việt Nam, báo Thời Sự của nhóm Nghiêm
Xuân Thiện, Trần Trung Dung ở Hà Nội là một trong những tờ báo đầu tiên đưa
ra ý kiến thỉnh Cựu Hoàng về nước lãnh đạo quốc gia và để chống Cộng. Rồi
nhiều cuộc biểu tình khá lớn đã tiếp diễn như ở Huế ngày 12-8-1947, ở Hà Nội
ngày 1-9-1947, và cả ở Sài Gòn để ủng hộ và yêu cầu Cựu Hoàng đứng ra cứu
vãn thời cuộc…
Trước sự ủng hộ nồng nhiệt của quốc dân
và của mọi giới nhân sĩ, Bảo Đại mới lên tiếng với phóng viên ngoại quốc:
“Nếu quả thật quốc dân còn tín nhiệm thì ông sẵn sàng đàm phán với Pháp”. Kế
đó, ông nhận lời mời của Bollaert tới gặp Cao ủy tại vịnh Hạ Long (6-12-47)
trao đổi ý kiến rồi lại trở về Hương Cảng…
Sau một thời gian trả giá, cuộc thương
thuyết ngày 5 tháng 6 năm 1948 đi đến một thỏa thuận: “Bollaert nhân danh
chính phủ Pháp long trọng tuyên bố thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên
Hiệp Pháp”. Cựu Hoàng xác nhận chính thức hóa việc điều đình với Pháp trên
căn bản đó và chính phủ trung ương lâm thời của tướng Nguyễn Văn Xuân ra đời
[20].
Mặc dầu
đã xác nhận chính thức đứng ra thương thuyết với Pháp, nhưng vua Bảo Đại
cũng tự biết những nhược điểm và ưu điểm của mình cho nên ông đã tỏ ra rất
khôn ngoan cẩn trọng trong việc đấu tranh cho đất nước. Ông biết người Pháp
cần ông ta làm người đối thoại, nhưng ông cũng biết người Pháp sẵn sàng phản
bội để quay về thỏa hiệp với lực lượng của ông Hồ Chí Minh. Ông biết chống
Cộng Sản là điều tối quan trọng của phe quốc gia, nhưng ông cũng biết phải
làm thế nào để thỏa mãn ý nguyện tối thiểu của quốc dân, cho nên sau thỏa
ước vịnh Hạ Long, ông tiếp tục ráo riết đấu tranh với Pháp một cách can đảm
(bravely) và khôn khéo (skillfully) để tạo cái thế đứng vững chắc cho ông và
cho phe quốc gia chống Cộng sau này như Buttinger đã nói rõ
[21].
Dù chính
phủ Nguyễn Văn Xuân ra đời (27-5-48), vua Bảo Đại vẫn chưa chịu về nước mà
tiếp tục kiên nhẫn đấu tranh để đạt cho bằng được hai mục tiêu: thứ nhất là
thống nhất ba kỳ mà đặc biệt là sát nhập Nam Kỳ vào cộng đồng quốc gia (là
điều kiện mà lực lượng hữu phái của Pháp và “nhóm ly khai Nam Kỳ quốc” vẫn
ngoan cố chống đối), và việc thứ hai là nước Pháp phải chính thức thừa nhận
nền thống nhất và độc lập của Việt Nam. Ông đi Pháp và qua bao nhiêu vận
động khó khăn, cuối cùng, một hiệp ước chính thức ra đời (ký kết ngày
8-3-1949) giữa ông và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Dù vậy, ông vẫn chờ
đợi cho việc thống nhất ba kỳ thật sự hoàn thành rồi ngày 13-6-49 ông mới
chịu trở về nước và chính thức giữ chức quốc trưởng.
Khách
quan nhìn lại khung cảnh phức tạp của lịch sử lúc bấy giờ với hai lực lượng
ưu thế nhất đang tranh giành quyền làm chủ nước Việt Nam mà một bên là bộ
máy viễn chinh Pháp có binh hùng tướng mạnh, có một tập đoàn tay sai bản xứ
trung thành, có một mẫu quốc to lớn yểm trợ… và một bên, lực lượng kháng
chiến Việt Nam có đảng Cộng Sản lãnh đạo, có đại đa số quần chúng sẵn lòng
hy sinh, có thế lực Cộng Sản quốc tế làm hậu phương lớn… thì, trong cái thế
gọng kìm nghiệt ngã đó, nếu không có vua Bảo Đại với ý thức trách nhiệm (dù
chưa thật sự toàn vẹn), với khả năng ngoại giao (dù chưa thật sự đủ khôn
khéo) để đấu tranh với cả Pháp lẫn Việt Minh để tạo một thế đứng cho phe
quốc gia, để khai sinh lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì thử hỏi số phận những
người chống Cộng sẽ đi về đâu? Vào bưng thì bị Cộng Sản vận dụng, dinh Tề
thì trở thành Việt gian, nhắm mắt bịt tai làm kẻ đui điếc thì mang tội hèn
nhát với lịch sử trong khi Việt Minh đã giành lấy mất chánh nghĩa dân tộc,
trong khi thực dân Pháp đang giành độc quyền chống Cộng để thực hiện chủ
trương tái xâm lăng của De Gaulle như lời tuyên bố của ông ta trong bài diễn
văn đọc tại Brazzaville (Congo) năm 1944. Cho nên lá cờ chống Cộng của vua
Bảo Đại phất lên, cho nên chính quyền Việt Nam (quốc gia) mà vua Bảo Đại là
biểu tượng, nếu chỉ thực sự phản ánh đúng đắn mà chưa đầy đủ ước nguyện và
vị thế của các lực lượng thì ít nhất, trong giai đoạn đó, cũng đã đặt nền
móng và cũng đã phân định biên cương cho sự hiện diện của một lực lượng “đả
Cộng chống Pháp” mà, ít nhất trên mặt quốc tế, đã được các cường quốc và tòa
thánh La Mã Vatican công nhận.
Nếu cho
rằng không có ông Bảo Đại thì cũng sẽ có một nhân vật khác thoát thai từ lực
lượng này để điền vào chỗ trống đó của lịch sử, thì xin hỏi nhân vật đó là
ai? Những chánh khách thân Pháp ư ? Những chính trị gia trong “gia đình tinh
thần” được khối Thiên Chúa giáo quốc tế công nhận ư? Ông Đoàn Thêm đã trả
lời rồi nhưng ở đây tôi cũng xin liệt kê thêm một số nhân vật mà lập trường
và tư thế có nhiều triển vọng để xem họ có đóng được vai trò lịch sử đó
không?
Đó là
các lãnh tụ cách mạng, các lãnh tụ đảng phái đã lần lượt bị sa lưới Việt
Minh hay đã bị tê liệt chính trị, không còn một phương thế nào tạo nổi một
chủ lực, một hậu thuẫn để đương đầu với ông Hồ Chí Minh hoặc với Pháp, hoặc
với cả hai. Cụ Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Cách, các ông Vũ Hồng Khanh,
Nguyễn Tường Tam, lãnh tụ Việt Quốc, đều đã bỏ sang Tàu khi không chống nổi
Việt Minh dù có quân Lư Hán yểm trợ. Lãnh tụ Đại Việt Trương Tử Anh đã bị
Việt Minh sát hại ngay tại Hà Nội năm 1946, lãnh tụ Duy Dân Lý Đông A cầm
quân kháng Cộng một thời gian ngắn rồi mất tích luôn ở vùng Hòa Bình Bắc
Việt. Lãnh tụ Đệ Tứ Quốc Tế, ông Tạ Thu Thâu, bị Việt Minh âm mưu sắp đặt
cho dân quân Quảng Ngãi giết trên đường vào Nam. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của
lực lượng Hòa Hảo từng tỏ thiện chí hợp tác với Việt Minh cũng bị lừa và bị
giết trong chiến khu Nam Bộ năm 1947. Lãnh tụ Cao Đài, ông Nguyễn Văn Sâm,
thì bị Việt Minh giết ngay khi họ vừa cướp chính quyền năm 1945. Còn Đức Hộ
Pháp Phạm Công Tắc, giáo chủ Cao Đài, thì bị Pháp đày ra đảo Comores từ
1940, mới được thả về năm 1946 và vẫn bị Pháp canh chừng. Những trí thức
nhân sĩ có thể làm lãnh tụ hàng nhì thì hoặc là đã chạy theo Việt Minh hoặc
là giữ thái độ trùm chăn, cầu an, chờ thời. Ngay như ông Ngô Đình Nhu có thù
máu với Cộng Sản mà cũng chỉ tìm đường trốn về Thanh Hóa rồi qua Lào để cuối
cùng về sống an nhàn ở Đà Lạt, và làm một chính khách xa lông đợi thời. Ông
Ngô Đình Diệm, lãnh tụ của phe Công giáo, là người có tên tuổi thế mà sau
khi được ông Hồ Chí Minh trả tự do, dù có mối thù không đội trời chung với
ông Hồ Chí Minh và Việt Minh, cũng chỉ biết về sống tại Sài Gòn, Đà Lạt,
trong vùng Pháp chiếm đóng cho đến cuối năm 1947 mới qua lại Hồng Kông để
yết kiến Cựu Hoàng mong chống Cộng bằng giải pháp Bảo Đại. Theo giáo sư
Buttinger, thì chính ông Ngô Đình Diệm lần đầu tiên đã đứng chung trên một
mặt trận do ông Lê Văn Hoạch thành lập vào năm 1947, gồm nhiều nhân vật Cao
Đài, Hòa Hảo, Việt Quốc, Đại Việt, Công giáo và một số người Phật giáo để
ủng hộ vua Bảo Đại. Buttinger lại còn cho biết rằng trước khi Cựu Hoàng Bảo
Đại thành công trong việc xây dựng những cơ sở pháp lý và các điều kiện
chính trị thuận lợi cho một nước Việt Nam qua thỏa ước Vịnh Hạ Long vào
tháng 5 năm 1948, ông đã phái ông Ngô Đình Diệm về Sài Gòn ngày 30 tháng 3
năm 1948 để thương thuyết trước với Pháp mà ông Diệm không hoàn thành nổi
công tác này.
Ngoài
các lãnh tụ trên đây còn phải kể đến bác sĩ Phan Quang Đán và Đức Giám mục
Lê Hữu Từ.
Trong
những năm đói (trước và sau năm Ất Dậu), bác sĩ Đán cầm đầu phong trào khất
thực để cứu giúp đồng bào. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông dám ngang
nhiên thành lập Phong Trào Ngũ Xã gần hồ Trúc Bạch Hà Nội để chống lại lực
lượng võ trang Việt Minh. Phong Trào Ngũ Xã không theo Pháp, không dựa vào
quân đội Trung Hoa, chỉ là một phong trào nhân dân chống Cộng. Tờ báo
Thiết Thực của Phong Trào đã gây phấn khởi cho nhiều người quốc gia, đã
phổ biến vào tận miền Trung. Khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp xảy ra
vào tháng Chạp năm 1946 thì Phong Trào mới tan rã.
Còn Giám
mục Lê Hữu Tư, lúc đầu làm Cố vấn Tôn giáo cho ông Hồ Chí Minh nhưng sau đó
đã viết thư luân lưu lên án Việt Minh là Cộng Sản, rồi giữ vùng Phát Diệm
trong thế tự trị cho đến ngày Quốc trưởng Bảo Đại về nước cầm quyền năm
1949, ông mới xin sát nhập vùng Phát Diệm vào cộng đồng quốc gia và triệt để
ủng hộ Quốc trưởng.
Nêu tên
tuổi và trường hợp tất cả các lãnh tụ ra, nhất là trường hợp ông Ngô Đình
Diệm, người sau này truất phế vua Bảo Đại, là để chứng minh rằng ông Bảo
Đại quả thật là một con cờ, nhưng là một con cờ cần thiết độc nhất cho giai
đoạn 1948-1954 không ai thay thế được. Chỉ tiếc rằng con cờ đó đã
không được lực lượng quốc gia sử dụng một cách khôn khéo. Nếu không muốn
nói rằng ông Bảo Đại là vị cứu tinh cho phe quốc gia trong giai đoạn và bối
cảnh đất nước lúc bấy giờ thì ít nhất ông cũng đã có công làm kẻ lót
đường cho người quốc gia có đất đứng để tiếp tục cuộc hành trình chống
Cộng sau 1954. Vua Bảo Đại đã đóng đúng vai trò cần thiết và bi hùng của ông
trong một giai đoạn lịch sử khó khăn đến vậy.
Mặc dù
mang tiếng là người thân Pháp, nhưng trong thời gian làm Quốc trưởng, ông
vẫn tỏ rõ phong cách và thái độ một lãnh tụ quốc gia. Ông trọng dụng những
phần tử cách mạng, các nhân sĩ có thành tích yêu nước, các nhân tài trí
thức, ông không phân biệt chia rẽ đảng phái, không kỳ thị tôn giáo. Gia đình
của ông không mang tiếng tham nhũng khủng khiếp như các chế độ sau ông. Ông
đã tỏ rõ tư thế một vị Quốc trưởng của một quốc gia độc lập, làm cho chính
tướng De Lattre De Tassigny vừa là Cao ủy vừa là Tổng Tư lệnh quân đội Pháp,
tuy hết sức bất mãn nhưng vẫn kính trọng.
Sau năm
năm lãnh đạo quốc gia, ông Bảo Đại đã xây dựng được những gì? Theo ông Đoàn
Thêm thì chế độ Bảo Đại đã để lại nhiều thành quả, nhiều định chế mà giá trị
vẫn còn được các chế độ sau mặc nhiên thừa nhận, nghĩa là thừa hưởng, và duy
trì như:
- Từ
1949, sau khi được một số khá đông cường quốc công nhận, Việt Nam mới bước
chân ra chính trường ngoại giao và tuy chưa thể vào Liên Hiệp Quốc vì sự
ngăn trở của Nga Sô, nhưng cũng đã được gia nhập vào 35 cơ quan quốc tế.
- Hoa Kỳ
đặt phái bộ viện trợ quân sự từ ngày 6-3-50 và ký hiệp ước tương trợ với
Việt Nam ngày 7-9-1951, đồng thời viện trợ kinh tế và cứu trợ cho Việt Nam.
- Quân
đội quốc gia được thành lập và phát triển mau lẹ: Từ 5 tiểu đoàn (1950) lên
26 tiểu đoàn (1951) và vào năm 1953 gồm 167.000 binh sĩ với 3.500 phụ lực
quân. Các cấp chỉ huy được đào tạo tại các trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt,
khai giảng ngày 5-11-1950, trường Cao Đẳng Võ Bị thành lập ngày 25-6-1950,
trường Quân Y ngày 7-8-1950, trường Không Quân ngày 24-6-1951, và Hải Quân
ngày 1-1-1952. Các tổ chức khác cũng được thành lập như Tòa Án Quân Sự, Bộ
Tổng Tham mưu, nhiều luật lệ quân sự cũng được ban hành như: Quy chế quân
đội, chế độ quân dịch, thể thức sát nhập các lực lượng giáo phái vào quân
đội quốc gia (10-4-1954).
- Tổ
chức Tư Pháp và các tòa án.
- Hành
chánh địa phương.
- Giáo
dục, Văn hóa: Trường đại học Văn Khoa, Sở Bảo Tồn Cổ Tích, trường Cao Đẳng
Sư Phạm, Văn Hóa Nguyệt San.
- Kinh
tế, xã hội: Bộ Luật Lao Động, Bộ Luật Cải Cách Điền Địa.
- Các tổ
chức chuyên môn: Viện Thống Kê, Việt Nam Thông Tấn Xã, Quốc gia Kiến Ốc Cục
và Vé số Kiến Thiết Quốc Gia, Sở Du Lịch Quốc Gia, Công ty Hàng Không Việt
Nam, trùng tu Điện Lực Cuộc, trường Quốc Gia Hành Chánh.
- Quy
chế Nghiệp Đoàn, Chế độ Bảo vệ quyền phát minh và sáng chế công nghệ, chế độ
Phim ảnh và Quay phim.
- Các
thiết bị và Quy chế quan trọng: Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh,
ngày Phụ Nữ Việt Nam, Quy Chế Công Chức Quốc Gia, Quy Chế các Hiệp Hội, Quy
Chế Thể Thao, Thanh Niên, Quy Chế Hàng Hải, Chế độ Thuê nhà và quyền lưu cư.
Bộ Luật thuế Trực thu và Gián thu.
Ông Đoàn
Thêm cho rằng người ta đã vô tình hay hữu ý thổi phồng những khuyết điểm,
những thất bại của ông Bảo Đại một cách quá đáng, đã mô tả cuộc đời và sự
nghiệp của ông Bảo Đại một cách lố lăng mà không nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn
của đất nước dưới thời ông Bảo Đại, so với hoàn cảnh dễ dàng hơn của thời
ông Ngô Đình Diệm. Thậm chí người ta đã dễ dàng gắn cho Bảo Đại là trụy lạc
dâm ô, trong lúc Bảo Đại lấy vợ hầu chỉ là để đền ơn trả nghĩa cho một người
đàn bà đã từng giúp đỡ ông trong khi ông đang bôn ba ở Hồng Kông.
Theo ông
Đoàn Thêm, người ta chỉ trích vua Bảo Đại mà quên đi công lao to lớn của ông
ta. Trước hết, nếu không có vua Bảo Đại thì người Quốc gia chưa chắc đã còn
hiện diện trong cuộc tranh chấp Pháp – Cộng, lại nữa, trong lúc đầu, tuy ông
chỉ giành được một nền độc lập trong Liên Hiệp Pháp, nhưng trước khi Việt
Nam bị chia đôi bởi hiệp ước Genève, ông đã cương quyết đòi cho Việt Nam
được hoàn toàn độc lập và bình đẳng với nước Pháp qua hai Hiệp ước Độc lập
(Traité d’Indépendence) và Hiệp ước Liên kết (Traité d’Association). Nhờ hai
hiệp ước đó mà ông Ngô Đình Diệm thừa hưởng chủ quyền trọn vẹn trên một nửa
đất nước sau này.
Nói tóm
lại, sau 8 năm đấu tranh và 5 năm lãnh đạo, vua Bảo Đại đã tạo dựng cho phe
quốc gia, phe chống Cộng ba thành quả cơ bản to lớn: (1) Một quốc gia với
thế đứng hợp pháp, (2) Một nền độc lập và thống nhất toàn vẹn, (3) Nhiều cơ
sở về ngoại giao, hành chánh, kỹ thuật, văn hóa làm nền tảng cần thiết cho
sinh hoạt quốc gia.
So sánh
hai ông Bảo Đại và Ngô Đình Diệm, ông Đoàn Thêm sau khi nói về công tội của
vua Bảo Đại, đã chê trách ông Diệm nhiều điều mà điều quan trọng nhất là
thiếu đạo đức và tài trí để làm một nhà lãnh đạo.
Phê phán
những nhà lãnh đạo là một việc làm hết sức tế nhị mà nếu nhầm lẫn thì hậu
quả sẽ không những nguy hiểm cho mình mà còn cho hậu thế nữa. Muốn tỏ tấm
lòng vô tư và tinh thần khách quan của mình, sau khi nêu lên những sự kiện
lịch sử, những dẫn chứng rõ ràng, ông Đoàn Thêm đã đưa ra những phân trần để
tránh ngộ nhận: “… Song đối với kẻ đem tâm thành mà tìm hiểu việc nước,
thiết nghĩ “bình tĩnh nhận xét” là điều kiện ưu tiên để tới gần sự thật. Nên
tôi đã lặng lẽ kiểm điểm một mình công cuộc của ông (Bảo Đại) và của một lớp
người, để tự soi sáng cho tôi. Vì đối với bất cứ nhân vật nào, chánh thể
nào, tôi không muốn nghĩ ác vì tưởng lầm, hoặc nói ác vì không biết rõ”
[22].
Ông Đoàn Thêm là một nhà hành
chánh kinh nghiệm và có thực tài, một công chức cao cấp đã từng làm việc với
nhiều chế độ từ thời Pháp thuộc, qua chế độ Quốc trưởng Bảo Đại, đến chế độ
Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông không thuộc một đảng phái nào mà chỉ là một
công chức tận tâm và kỷ luật, liêm chính và cương trực, đứng trên những mâu
thuẫn phe phái để ghi nhận các biến cố lịch sử. Nhưng quan trọng hơn cả, ông
cũng là một nghệ sĩ đa tài, cả văn lẫn thơ lẫn hội họa, vốn là những chất
liệu hun đúc nên một tâm hồn luôn luôn đối nghịch với cái gì xấu xa, bất
thiện. Tôi không quen biết nhiều ông Đoàn Thêm nhưng vốn có ít nhiều hiểu
biết về ông Bảo Đại, về ông Ngô Đình Diệm và đã từng sống và làm việc dưới
cả hai chế độ, nên tôi nhận thấy tác phẩm “Những Ngày Chưa Quên” sẽ
giúp ích rất nhiều cho những ai muốn biết về giai đoạn lịch sử 30 năm Việt
Nam chiến tranh Quốc Cộng, viết bởi một người quốc gia mang nhiều tâm tư cố
tìm hiểu lịch sử. Ông không cố tình bóp méo lịch sử như ông Cao Thế Dung hay
bà Margueritte Higgins, ông không lợi dụng viết hồi ký để xuyên tạc và bôi
lọ người khác như Linh mục Cao Văn Luận, ông Nhị Lang, ông Nguyễn Văn Chức, ông Nguyễn Trân…
Để tóm
tắt lại trường hợp của ông Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, của
chế độ quân chủ tại Việt Nam, thì kể từ lúc tức vị (1932) cho đến năm bị
truất phế (1955) là 24 năm chịu trách nhiệm trước quốc dân và trước lịch sử,
ông Bảo Đại quả thật đã mang đầy đủ vóc dáng của một vị nguyên thủ quốc gia
vào lúc mạt vận, nghĩa là có đầy đủ khuyết điểm của một vị lãnh đạo không có
thực quyền và không có thực tài để hoán chuyển định mệnh. Nhưng ông cũng có
đầy đủ những công lao của một nhân vật lịch sử trong giai đoạn giao thời, là
xây dựng cơ sở cho giai đoạn kế tiếp chứ không đạp đổ những nền móng cơ bản
để gây xáo trộn cho kẻ thừa kế.
Khi công
dân Vĩnh Thụy đứng dậy, ông đã chứng tỏ được lòng yêu nước và ý thức trách
nhiệm đối với cộng đồng dân tộc và tiền đồ tổ quốc. Khi trở thành kẻ thất
bại (dù là thất bại trước đối thủ thực dân Pháp hay cựu thần Ngô Đình Diệm)
ông vẫn giữ được cái phong thái lãnh đạo trong cách hành xử chững chạc cũng
như trong thái độ quân tử an nhàn. Giai đoạn nào thì có nhân vật đó, chỉ
khen vua Bảo Đại mà không biết đến tội của ông hay chỉ chê mà không biết đến
công của ông thì quả thực bất công. Tôi không có khả năng và cũng không có ý
định phê phán ông, nhưng chẳng qua vì muốn bắt chước người xưa, nói thẳng
những điều mình biết để đóng góp vào sự thật cho những người làm công việc
viết sử sau này mà thôi.
Vì thật
ra, có lẽ chính ông Bảo Đại cũng không màng những lời phê phán đó khi mà
hoàn cảnh của ông cũng như của đất nước đã là những thảm trạng tột cùng của
sự đau khổ.
-o0o-
Song
song với nhân vật Bảo Đại trong thời gian đó là nhân vật Ngô Đình Diệm,
người từ tư cách là một thần tử của nhà Mạt Nguyễn, với thời thế và nỗ lực,
đã đi đến hành động quyết liệt nhất của mối liên hệ vua tôi bằng cách truất
phế vị Hoàng đế của mình.
Dòng họ
Ngô Đình vốn quê làng Xuân Dục, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và theo đạo
Công giáo La Mã từ thế kỷ thứ 17. Trong giai đoạn quân Pháp đánh chiếm Trung
Kỳ và Bắc Kỳ (khoảng 1870), khi phong trào Văn Thân nổi lên chống Pháp cứu
nước và phát động chiến dịch chống Đạo thì dòng họ Ngô Đình phải bỏ làng
Xuân Dục phủ Quảng Ninh mà di cư về làng Đại Phong thuộc huyện Lệ Thủy của
cùng tỉnh Quảng Bình, nơi có nhiều làng Công giáo hơn tại Quảng Ninh.
Theo
những bô lão ở Quảng Bình thì nội tổ của ông Diệm thuộc vào hàng bần dân
khốn khổ. Ký giả Robert Shaplen xác định rõ ràng hơn rằng nội tổ của ông
Diệm sinh sống bằng nghề chài lưới
[23], cho đến đời thân phụ của ông Diệm
là ông Ngô Đình Khả, nhờ quân Pháp đánh chiếm và bình định được tỉnh Quảng
Bình, nên liên hệ được với các vị Cố đạo để được các giáo sĩ cho đi học chữ
Hán và chữ Pháp tại một trường dòng ở Penang (Mã Lai). Trong đám du học sinh
này còn có ông Nguyễn Hữu Bài, người Công giáo quê Quảng Trị, một nhân vật
thủ đoạn và có cùng một cảnh ngộ thơ ấu bần hàn như cụ Ngô Đình Khả.
Hai ông
Khả và Bài sau khi học xong, được người Pháp đưa về nước và cho làm thông
dịch viên ở tòa Khâm sứ Huế. Thời bấy giờ số người Việt nói và viết được
tiếng Pháp còn rất hiếm hoi, nhất là ở Trung Kỳ, hai ông lại được Hội Truyền
Giáo Hải Ngoại Pháp đặc biệt nâng đỡ nên đã được các viên chức cai trị Pháp
trọng dụng và được triều đình An Nam phong chức tước và phẩm hàm rất mau.
Năm
1885, khi phong trào Cần Vương ở Quảng Bình nổi lên phò vua Hàm Nghi chống
Pháp, ông Ngô Đình Khả được quân Pháp và triều đình An Nam cử giữ chức An
Phủ Sứ về tỉnh nhà lo việc bình định và chiêu an dưới quyền điều khiển của
Đại tá Pháp Duvilllier, ủy viên chính phủ vùng Bắc xứ Trung Kỳ (Commissaire
du Gouvernement pour le Nord Annam)
[24].
Ông Thái
Văn Kiểm chuyên nghiên cứu về phong thổ miền Trung thuộc nhà Nguyễn, năm
1945, lúc đang ở Quảng Bình, thâu thập được một tờ báo cáo viết tay của ông
Ngô Đình Khả gởi cho công sứ Pháp Quảng Bình trình bày kết quả của cuộc bình
định tỉnh này. Năm 1956, nhân làm việc tại Nha Văn hóa Bộ Giáo dục, ông vào
dinh Độc Lập tặng tờ báo cáo đó cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhìn thấy bút
tích của thân phụ, ông Diệm mừng lắm, ngỏ lời khen ngợi và cám ơn, ông Diệm
còn nói thêm: “Trong việc bình định tỉnh Quảng Bình, thầy tôi không dùng đến
quân sự mà chỉ đem theo gạo lên núi chiêu dụ những kẻ chống đối về với chính
phủ”. Dù bình định bằng võ lực hay bằng chiêu dụ thì hành động của ông Ngô
Đình Khả cũng là làm tay sai cho Pháp trong việc đàn áp Phong Trào Kháng
Chiến chống thực dân xâm lăng của dân tộc.
Thật
thế, ông Ngô Đình Khả không phải làm tay sai hạng thường mà là thứ tay sai
cao cấp của Thực dân. Ông Ngô Đình Khả đã từng làm bộ tướng cho đại Việt
gian Nguyễn Thân cầm quân đánh phá chiến khu Phan Đình Phùng. Năm 1944, Giám
mục Ngô Đình Thục cũng viết thư cho Toàn quyền Decoux kể lể công lao của cha
và cũng gọi nhà anh hùng Phan Đình Phùng là giặc. (Xem thư Ngô Đình Thục gửi
cho Toàn quyền Decoux ở phần Phụ Lục). Quả thật tội ác của ông Ngô Đình Khả
đối với Dân Tộc không bút nào tả hết.
Năm
1888, vua Đồng Khánh băng hà sau ba năm trị vì ngắn ngủi, người Pháp thành
lập Liên Bang Đông Dương (gồm bốn đơn vị hành chánh: Cochinchine, Annam,
Tonkin, và Cambodge. Vương quốc Lào được sát nhập sau đó vào năm 1893) để
thống nhất các cơ cấu hành chánh, đồng thời áp lực với triều đình An Nam để
lập con của ông Dục Đức là Bửu Lân lên làm vua, hiệu là Thành Thái.
Vua
Thành Thái lên ngôi khi mới 10 tuổi nên triều đình cử hai vị đại thần là
Nguyễn Trọng Hợp và Trương Quang Đáng làm Phụ Chánh. Riêng cụ Ngô Đình Khả,
nhờ có công dẹp được các cuộc nổi loạn chống Pháp ở tỉnh Quảng Bình và Hà
Tĩnh, nhờ có liên hệ chặt chẽ với các giới chức Pháp cả bên chính quyền lẫn
bên Hội Truyền Giáo, nên được cử vào chức Tổng Quản Cấm Thành
(Superintendent du Palais) có lẽ là Lưu Kinh Đại Thần và có ảnh hưởng với
vua Thành Thái, đồng thời người Pháp cũng vận động đề cử Nguyễn Hữu Bài làm
Thượng thư Bộ Công. Hai nhân vật này dù không xuất thân từ nơi khoa giáp và
không thăng chức theo hệ thống quan trường mà vẫn một bước nhảy vọt nắm giữ
những chức vụ tối quan trọng với những phẩm hàm cao cấp nhất là vì người
Pháp, với sức mạnh toàn quyền trong tay, muốn có những người thân tín là cụ
Khả để kiểm soát nhà vua và cụ Bài để kiểm soát triều đình.
Tuy
nhiên, trong lúc con đường quan trường của ông Nguyễn Hữu Bài kéo dài cho
đến thời già cả (trên 70 tuổi), mà chức vụ cuối cùng là Thượng thư đầu triều
hàm Võ Hiển Đại học sĩ, thì công danh của ông Ngô Đình Khả lại nửa đường đứt
gánh. Theo Tổng thống Diệm kể lại cho ký giả Shaplen trong một cuộc phỏng
vấn dài sáu tiếng đồng hồ tại dinh Gia Long năm 1962, thì thân phụ của ông
mất chức vì người Pháp nghi ngờ cụ Khả có liên hệ đến một âm mưu chống Pháp,
vì cụ Khả đã chống lại việc người Pháp đã truất phế và đày vua Thành Thái
[25]. Nhưng theo bạn của tôi và những vị cựu quan lại,
những nhân vật thuộc Nguyễn Phước tộc kể lại, thì việc ông Khả bị mất chức
thật ra là vì lúc còn làm Cận thần, ông đã tự động dựng một ngôi giáo đường
trong Hoàng thành trái với bầu không khí và màu sắc hoàn toàn Tam giáo nơi
cung cấm của nhà Nguyễn, và bất cần những lời phản đối của các vị quan khác
và Hoàng gia. Vì thế mà nhân cơ hội vua Thành Thái bị truất phế, triều đình
hạch tội ông Ngô Đình Khả đã khinh mạn Hoàng gia, giáng ông xuống ba cấp và
cho về hưu non. Thật ra thì vụ xây ngôi giáo đường chỉ là một cái cớ, cái cớ
cuối cùng và cụ thể nhất của một chuỗi dài những mâu thuẫn và xung khắc của
nhiều thế lực. Nguyên Khâm sứ Trung kỳ lúc bấy giờ là Lévêque, thuộc hội Tam
Điểm (Franc–Macon), có khuynh hướng chống sự bành trướng quyền lực của Hội
Thánh Công giáo La Mã và cũng thường có thái độ khinh mạn nhà vua và triều
đình An Nam. Với tư cách là Khâm sứ Trung kỳ, y có toàn quyền trực tiếp hay
gián tiếp quyết định bổ nhiệm, thay đổi hay cách chức các quan lại An Nam
[26]. Ông Ngô Đình Khả hội đủ hai yếu tố cho Lévêque
khinh ghét: “quan lại” và “Công giáo”, lại không được các bạn đồng liêu bênh
vực, nên khi vua Thành Thái bị truất phế ông không còn tư cách gì để làm Cận
thần, và Hội Truyền Giáo cũng không đủ sức mạnh để cứu ông khỏi bị Lévêque
vận động với một triều đình sẵn sàng đuổi ông về.
Do đó,
ngôi giáo đường trong Đại Nội chỉ là cái cớ có thật cuối cùng. Và cũng do
đó, tiếng đồn rằng vì “Đày vua không Khả” nên ông Ngô Đình Khả bị mất chức
cũng chỉ là tiếng đồn được phóng đại thêm vì rõ ràng chính cụ Nguyễn Hữu
Bài, vừa không chịu ký giấy đào mồ vua (Đào mả không Bài), lại vừa công khai
bênh vực Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một hoàng thân quốc thích có khuynh hướng và
hành động chống Pháp rõ rệt, mà vẫn thăng quan tiến chức mau lẹ và nắm giữ
giềng mối triều đình mấy chục năm trời.
(Tuy
nhiên, phải nói thêm rằng quyết định ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để của ông
Bài lúc đó, và cả ông Diệm của những năm 40 sau này, chỉ phản ánh chiến lược
chính trị của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại muốn phục hồi chi hệ của Hoàng Tử
Cảnh, vị hoàng tử đã được Giám mục Pigneau de Béhaine đỡ đầu theo Công giáo
La Mã và bị vua Minh Mạng biếm vị từ cả gần thế kỷ rưỡi trước).
Những
“tiếng đồn” loại “đày Vua không Khả, đào mả không Bài” nầy cần phải
được kiểm chứng bằng những tài liệu khả tín chứ không thể mù quáng tin theo
một cách nhẹ dạ được. Cũng như trường hợp Linh mục Trần Lục dưới thời Pháp
thuộc được vinh danh là “Nam Tước, Quốc Công”, là “Phúc tinh, anh hùng vang
danh bốn bể”, lại được đặt tên cho một trường Trung học dưới thời đệ I Cộng
Hòa. Chỉ đến sau này, nhờ tài liệu như cuốn “Những trận đánh Pháp”
của học giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, “Thập Giá và Lưỡi Gươm” của Linh
mục Trần Tam Tĩnh, ta mới biết rõ Trần Lục là một tên Việt gian đã từng bị
cụ Phan Đình Phùng lúc còn làm Tri phủ Yên Khánh, nọc ra đánh tại Phát Diệm.
Trần Lục đã cùng với 5.000 giáo dân Phát Diệm, Kẻ Sở, Điền Hộ, Bố Xương giúp
quân Pháp đánh phá chiến khu Ba Đình của anh hùng Cần Vương Đinh Công Tráng
(xin xem thêm “Hội hè của đồng bào Thiên Chúa giáo” của giáo sư Toan
Ánh trong phần Phụ Lục).
Theo cụ
Trương Văn Huế, một nhân sĩ lão thành Công giáo tại Phú Cam, nơi gia đình
ông Ngô Đình Khả trú ngụ, thì khi bị giáng chức rồi về hưu sớm, cụ Khả
thường mặc đồ nâu, quần ống cao ống thấp, chân đi guốc gỗ và thường đến ngồi
trước sân nhà thờ Phú Cam, miệng lẩm bẩm chửi bới đích danh các vị quan tại
triều. Thái độ hằn học một cách sống sượng với các vị đại thần này phản ánh
một tình cảm căm thù vì quyền lợi mất mát, đường tiến thủ bị bế tắc hơn là,
và đáng lẽ là, một tình cảm kiêu hãnh vì giữ tấm lòng trung trinh không chịu
... đày ải vị vua của mình.
Khi về
hưu, cụ Ngô Đình Khả tạo được một ngôi nhà lầu tại Phú Cam, một cảnh vườn
khá rộng và mấy mẫu ruộng ở cánh đồng An Cựu gần thành phố Huế. Cụ Khả có
chín người con: 6 trai và 3 gái. Con trai là các ông: Ngô Đình Khôi, Ngô
Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Luyện. Ba
người con gái là các bà Ngô Thị Giao, Ngô Thị Hiệp, thân mẫu của đức cha
Nguyễn Văn Thuận, và bà Ngô Thị Hoàng, nhạc mẫu của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Trần Trung Dung.
-o0o-
Ông Ngô
Đình Diệm sinh tại Huế ngày 3 tháng Giêng năm 1901 (Canh Tý), ra đời khi
thân phụ còn làm quan tại triều, nhưng lại trưởng thành khi gia đình không
còn được sung túc vì cụ Khả đông con mà lại về hưu sớm. Lớn lên, ông Diệm
vào học trường tư thục Công giáo Pellerin
tại Huế, đỗ bằng Thành Chung tức là bằng Trung Học Đệ Nhất cấp sau này, rồi
thi vào trường Hậu Bổ dưới triều vua Khải Định, một vị vua nổi tiếng Việt
gian.
Trường
Hậu Bổ là hậu thân của trường Quốc Tử Giám, nơi đào tạo ra ngạch thuộc quan
để phục vụ cho Nam triều. Từ thời vua Duy Tân trở về trước, trường Quốc Tử
Giám ở Huế còn giữ được ít nhiều truyền thống và thực chất giai đoạn mà định
chế này mới được thiết lập lần đầu tiên vào đời vua Lý Nhân Tông (1072–1127)
tại kinh thành Thăng Long. Nghĩa là trường được điều khiển bởi một vị đại
khoa giáp mang chức Tế Tửu, và sĩ tử cũng là hạng người đã đỗ đạt, khi ra
trường sẽ là “dân chi phụ mẫu”. Trái lại, dưới thời vua Khải Định
(1916–1925) kể từ năm 1918, trường Hậu Bổ do một viên Công Sứ Pháp được tòa
Khâm sứ ủy nhiệm làm hiệu trưởng, dưới quyền viên Công sứ thì có vị Thượng
thư Bộ Học (Nam triều), Thủ hiến học chánh Trung Kỳ (người Pháp) và Học
chính hội lý (người Pháp) là các hội viên lo việc quản trị và giáo huấn của
nhà trường. Nói cách khác, trường Hậu Bổ dưới triều Khải Định đã bị Tây hóa
trong tinh thần Bảo Hộ, và không còn cái nho phong của các thời tiền triều
mặc dù vẫn còn một số các ông Tú, ông Cử Hán học theo đòi hoạn lộ qua con
đường trường Hậu Bổ.
Muốn
được vào trường Hậu Bổ thí sinh chỉ cần có học lực ngang cấp tiểu học nhưng
phải có trình độ căn bản về Hán học. Thời gian học là ba năm có nghỉ hè,
nghỉ lễ theo niên khóa của các trường phổ thông. Khi ra trường, thí sinh
phải có trình độ ngang với cấp bằng trung học đệ nhất cấp, ngoại trừ có thêm
môn Kinh Nghĩa, thi phú và môn luật bằng Hán văn. (Xem thêm “Văn Hóa
nguyệt san” do các học giả Nguyễn Khắc Kham, Thái Văn Kiểm, Bùi Đình
San, Nguyễn Văn Ninh biên tập, hiện lưu trữ tại thư viện Sorbonne, Paris).
Đọc
trong Tản Đà bát cú bài thơ Thi Hậu Bổ Trượt Kỳ Vấn Đáp của Nguyễn
Khắc Hiếu nói về trường Hậu Bổ Nam Định ở Bắc, một trường đào tạo ngạch quan
lại đồng thời với trường Hậu Bổ ở Huế, ta sẽ có một khái niệm rõ ràng hơn về
giá trị của một ông quan thời vua Khải Định như thế nào:
Hồi
Pháp thuộc lập trường Hậu Bổ, trường Nam Định học chữ quốc ngữ, chữ Pháp,
qua lớp dự bị thi vào lớp chánh ngạch, học ba năm ra làm quan. Những người
muốn đỗ phải đút lót mới được. Tản Đà tiên sinh vì không có tiền lo lót nên
làm ra bài thơ sau đây:
THI HẬU BỔ TRƯỢT KỲ VẤN ĐÁP
Mỗi
năm Hậu Bổ một kỳ thi,
Năm
ngoái năm xưa tớ cũng đi,
Cử,
Tú, Ấm sinh vài chục kẻ,
Tây,
Ta, Quốc ngữ bốn năm kỳ.
Đĩa,
nghiên, lọ mực, bìa bao sách,
Thước
kẻ, đinh găm, ngọn viết chì.
Lại đến o-ran là bước
khó,
Mình ơi! Ta bảo có thì
đi.
Rõ ràng
vua Khải Định, một ông vua nổi tiếng Việt gian, đã cùng với thực dân Pháp
trong buổi giao thời Hán–Việt Tây–Ta lẫn lộn, cải đổi trường Quốc Tử Giám,
nơi đào tạo quan trường theo tinh thần “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”của đạo lý
Khổng Mạnh thành ra trường Hậu Bổ, nơi khai sinh một lớp người thừa hành của
Nam triều để phục vụ cho bộ máy cai trị của chế độ bảo hộ Pháp. Từ thời đó
cho đến ngày tàn của thực dân vào năm 1945, việc thăng quan tiến chức của
một ông quan An Nam tùy thuộc vào ba yếu tố: Thứ nhất là phải có lòng trung
thành tuyệt đối với mẫu quốc Pháp, lập được nhiều công trạng cho chế độ Bảo
Hộ. Thứ hai là phải có liên hệ thân thiết với nhà vua và các vị đại thần.
Thứ ba là phải có tiền lo lót cho cấp trên. Lịch sử còn cho thấy dưới triều
vua Khải Định có nhiều ông quan dâng vợ dâng con gái cho quan Tây để mau lên
chức, mau làm quan to.
Lẽ dĩ
nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt mà một vị quan, dù ở bậc Thượng thư
hay chỉ có hàm Cửu phẩm, thu đạt được địa vị của mình không nhờ ba yếu tố kể
trên mà nhờ chính thực tài và sự ngay thẳng của mình. Tuy nhiên, biệt lệ này
quả thật hiếm hoi.
Ông Ngô
Đình Diệm xuất thân từ trường Hậu Bổ đó và được bổ làm quan dưới triều Khải
Định. Cụ Tôn Thất Toại, vị Thượng thư trí sĩ bạn vong niên của kẻ viết, từng
hoạt động hăng hái cho Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ở Nha Trang và là cựu
Dân biểu khóa I thời Đệ Nhất Cộng Hòa, cho biết rằng Cụ và hai ông Ngô Đình
Khôi và Ngô Đình Diệm vốn là bạn chí thân cùng học ở trường Pellerin và
trường Hậu Bổ. Nhưng khi học xong thì tất cả các sĩ tử chỉ được bổ vào các
ngạch tập sự, riêng một mình ông Diệm là được bổ ngay vào chức Tri huyện
Hương Trà tỉnh Thừa Thiên. Trong ngạch quan lại thời đó, mỗi chức vụ phải
qua ba bốn cấp, mỗi cấp phải có ít nhất ba năm thâm niên, thế mà ông Diệm
lại thăng quan tiến chức mau như diều gặp gió, một đặc cách vượt bực không
ai có trừ những nhân vật làm quan tắt như ông Phạm Quỳnh chẳng hạn. Năm 23
tuổi, ông Diệm làm tri huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), lên tri phủ Hải Lăng
(Quảng Trị), lên Quản Đạo Ninh Thuận (tỉnh trưởng hạng nhỏ), lên Tuần Vũ
Bình Thuận (tỉnh trưởng hạng trung). Năm 1933, lúc ông mới 32 tuổi, được
thăng lên Thượng thư Bộ Lại, nghĩa là chức vụ đầu triều đứng trên hết hàng
quan lại An Nam. Chỉ trong vòng mười năm mà ông Diệm vượt hết mọi nấc thang
hoạn lộ, việc mà những quan lại khác phải mất ít nhất là 30 năm trời. Ông
Diệm chưa bao giờ ra Hà Nội học trường Luật hay trường Quốc Gia Hành Chánh
như văn phòng báo chí phủ Tổng Thống đã đưa ra để huyễn hoặc một số ký giả
Việt Nam và ngoại quốc lầm lẫn ghi vào sách báo của họ. Tuy nhiên, ông Diệm
là một ông quan nổi tiếng cần mẫn thanh liêm.
Thời làm
quan huyện quan tỉnh, ông bận áo gấm đội nón chóp đeo bài ngà, mỗi lần đi
hành hạt thường cỡi ngựa để về các làng quê. Ông vừa là quan cai trị vừa là
quan Tư pháp, vừa làm nhiệm vụ cảnh sát giữ gìn trật tự an ninh cho địa
phương do ông cầm đầu dưới sự giám sát của quan công sứ Pháp và theo chánh
sách của chế độ bảo hộ Pháp. Nhiệm vụ đặc biệt của ông quan huyện tỉnh lúc
bấy giờ là đốc thúc dân chúng trong việc nạp thuế má và ngồi ở công đường
xét xử các vụ kiện cáo của dân trong quản hạt. Thời làm quan, ông Diệm đặc
biệt có tài khám phá nhiều tổ Cộng Sản hoạt động bí mật nên được chính phủ
Bảo Hộ rất tín nhiệm, do đó mà mới 29 tuổi ông đã được thăng lên chức Tuần
Vũ Bình Thuận và sau đó ông thăng chức Thượng Thư Bộ Lại như đã nói trên
kia.
Nhưng
trong lúc ông Diệm là một vị quan lại thanh liêm thì người anh ruột là ông
Ngô Đình Khôi làm Tổng Đốc tỉnh Quảng Nam, một tỉnh lớn thứ hai của triều
đình An Nam, của xứ Trung Kỳ, lại là một vị quan mang tiếng tham quan ô lại
và có tác phong bê bối. Dư luận còn nói rằng ông Khôi tằng tịu với vợ con
thuộc cấp. Dư luận còn nói rằng sở dĩ ông Khôi thích ăn hối lộ, kể cả những
món tiền rất nhỏ, vì ông rất cần tiền để gởi cho hai người em ăn học ở Pháp.
Những dư luận trên đây vẫn còn được các bậc cao niên quê tỉnh Quảng Nam hiện
nay ở hải ngoại kể lại mỗi khi nhắc đến chuyện xưa cũ nơi quê nhà… Ông Ngô
Đình Cẩn, thời ông Diệm chưa cầm chính quyền cai trị miền Nam, có kể lại cho
chúng tôi nghe rằng sau khi từ chức Thượng Thư Bộ Lại, ông Diệm thường vào
Quảng Nam ở chơi với ông Ngô Đình Khôi, có lần thấy tư cách bất chính của
anh mình ông giận lắm, bèn đi bộ từ Hội An ra Đà Nẵng (40 cây số) lấy tàu
hỏa để về Huế rồi gửi thư trách móc anh mình thiếu tác phong của một bậc
“dân chi phụ mẫu”.
Việc
thăng quan tiến chức vượt bực của anh em nhà họ Ngô Đình làm cho giới quan
trường vừa ganh tức vừa khinh bỉ. Họ làm thơ để chế giễu “vây cánh” nhà Ngô
sở dĩ tiến mau trên đường lợi danh là chỉ nhờ thế thần vây cánh:
LÀM QUAN NAM TRIỀU
Lênh đênh chiếc bách buổi ba đào,
Chèo lái xem chừng khó biết bao.
Tôi tớ mấy người dâng lễ hậu,
Quan thầy mấy kẻ nặng hầu bao.
Chật trong bể hoạn thêm mình nữa,
Theo hết rừng “Hàn” biết kiếp nao.
Vây cánh Ngô Đình ghê gớm thật,
Mềm lưng dẻo gối chóng lên cao.
(ghi chú:
“rừng Hàn” là hệ thống phẩm trật “Hàn Lâm” trong ngạch văn giai của quan lại
Nam triều).[27]
Những ai
đã từng chịu khó theo dõi không khí và khung cảnh quan trường thời Mạt
Nguyễn đều biết rằng tất cả các hàng quan lại, nhất là hàng quan cao cấp từ
Tuần Vũ trở lên, không mấy ai thân yêu kính phục anh em nhà họ Ngô Đình.
Thời bấy giờ, những dòng họ có người làm quan to như họ Phạm, họ Võ, họ Thân
Trọng, Hồ Đắc, Trương Như, Nguyễn Khoa, Tôn Thất… đều coi anh em nhà họ Ngô
Đình như người xa lạ, nếu không muốn nói là như kẻ thù. Sở dĩ có tình trạng
đó là vì dòng họ Ngô Đình vừa theo đạo Thiên Chúa vừa không xuất thân từ
hàng khoa giáp, không có trình độ học vấn cao mà chỉ dựa vào thế lực của các
cố đạo và các quan cai trị Pháp để được thăng thưởng mau lẹ. Đã thế, vì anh
em họ Ngô lại khép kín, cao ngạo, nên rất tự nhiên mà giới quan lại ngấm
ngầm chia rẽ ra hai phe, phe Phật giáo và phe Công giáo.
Nếu tổng
hợp sự kiện cụ Khả bị triều đình cách chức cho về hưu sớm, sự kiện có những
bài thơ phổ biến trong nhân gian để chế giễu “phe” Ngô Đình, với lời phê
phán của giáo sư Nguyễn Văn Xuân về tính thâm hiểm của cụ Bài, và nhận định
của Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí về con người “thâm” của ông Ngô Đình
Diệm
[28]
ta có thể hình dung ra được nếp sống cách biệt với lề lối hành xử thiếu giao
cảm của nhà Ngô Đình, cũng như tình cảm nghi kỵ và ganh ghét của các bạn
đồng liêu lúc bấy giờ.
Sở dĩ
bước đường công danh của anh em ông Diệm ông Khôi thênh thang dễ dàng và
thăng tiến mau lẹ là nhờ vào cột trụ Nguyễn Hữu Bài, vị tể tướng đứng đầu
triều đình An Nam, người đã được thực dân Pháp hun đúc từ ngày mới đi học ở
trường đạo Penang về, từ thời còn là thông ngôn ở tòa Khâm sứ Huế. Võ Hiển
Nguyễn Hữu Bài lại còn là nhạc phụ của ông Ngô Đình Khôi và là người đỡ đầu
cho ông Ngô Đình Diệm. Chỉ có vị quan đầu triều thế lực tột đỉnh như Nguyễn
Hữu Bài, người nắm toàn quyền giềng mối triều đình An Nam trong lúc vua Bảo
Đại còn bận du học ở Pháp, mới có đủ quyền lực hóa phép cho ông Diệm mang
đôi hia bảy dặm trên con đường hoạn lộ, để chỉ trong 10 năm mà từ Tri Huyện
lên đến chức Thượng Thư. Cũng chỉ có Nguyễn Hữu Bài mới có đủ uy thế để tiến
cử ông Diệm với Bảo Đại làm Thượng Thư Bộ Lại thay thế mình về hưu, dù ông
Diệm tuổi còn rất trẻ, dù ông Diệm mới chỉ là Tuần Vũ một tỉnh nhỏ. Cái gì
đã tạo cho ông Nguyễn Hữu Bài uy quyền và sức mạnh để khuynh loát triều đình
An Nam lúc bấy giờ? Cái gì đã cho phép ông Nguyễn Hữu Bài một bước nhảy vọt
lên làm Thượng Thư đầu triều, quán xuyến mọi sinh hoạt triều chính để có thể
đạp mọi thủ tục mà nâng người này lên hay đè người khác xuống, trong khi khả
năng thực sự và quá trình đóng góp cho triều đình của ông không đáng kể? Câu
trả lời mà nhiều người biết gồm hai phần: Phần thứ nhất là cái trạng huống
chung của đất nước thời Bảo Hộ mà định chế được gọi là “triều đình” chỉ là
một cơ quan bất lực và vô quyền, ai có sức mạnh thì thao túng được. Và phần
thứ hai là chính Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp đã trao cho Nguyễn Hữu
Bài cái sức mạnh vô địch của giáo quyền phối hợp với thế quyền của kẻ chiến
thắng để, xuyên qua lá bài này, tiến hành chính sách Công giáo hóa Việt Nam
(gli affari publici).
Lịch sử Hội Truyền Giáo
Hải Ngoại gắn liền với lịch sử bành trướng của Pháp ở Đông Dương. Một sáng
lập viên của Hội, Giáo sĩ Pallu, đã làm gạch nối giữa hai triều đình
Pháp-Việt. Giáo sĩ Pigneau de Béhaine sau đó thắt chặt thêm sợi dây liên hệ:
sự can thiệp của những thành viên của Hội đưa đến cuộc can thiệp quân sự của
Pháp tại Việt Nam.[29]
Nếu từ
thế kỷ thứ tư, lịch sử Giáo Hội La Mã đã có những vị Giáo hoàng như
Silvester cấu kết với Hoàng đế Constantine để xây dựng Giáo hội (năm 314)
[30],
đã có những Giáo hoàng như Léo khi chết để lại một chúc thư (năm 461) rằng “Hội
Thánh Công giáo thì bất phân ly với đế quốc La Mã và khi tốt cũng như khi
xấu, chính là đế quốc La Mã”
[31]…
thì Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp, trong giai đoạn của một chính quyền Pháp
còn sống với những ảo tưởng vàng son của một đế quốc oai hùng xa xưa, cũng
đã hành xử với đầy đủ uy lực trên mảnh đất Việt Nam nghèo nàn xa xăm để phối
hợp chặt chẽ chính sách thực dân (chính trị) với chính sách truyền giáo (tôn
giáo).
Hãy đọc
bản báo cáo của toàn quyền Beau gởi trình cho chính phủ Pháp nhân dịp tìm
người kế vị vua Thành Thái thì đủ thấy thế lực của ông Nguyễn Hữu Bài, dù
chỉ là một con cờ ủy nhiệm bản xứ, nhưng cũng đã mạnh như thế nào:
… Ngày 3 tháng 9 năm
1907, tôi đến Huế để chứng kiến lễ thoái vị của vua Thành Thái. Viên chánh
văn phòng của tôi liền đi thăm các quan đại thần của triều đình Huế để dò la
cho biết tư tưởng của họ đối với thời cuộc. Các vị này đều công kích kịch
liệt tất cả các nhân vật đưa ra, nhưng họ thận trọng không đề nghị một ai
cả, chỉ cùng thốt câu sáo ngữ: “Chúng tôi sẽ đồng ý và hoan nghênh bất kỳ
một ông vua nào mà chính phủ Bảo hộ tuyển chọn”.
Riêng có Nguyễn Hữu
Bài, Công bộ Thượng Thư, có nói đến cái tên Cường Để và tỏ thái độ thẳng
thắn ủng hộ. Ông ta làm tôi lưu ý vì ông có đạo Thiên Chúa, ý kiến của ông
có thể được đoàn thể thế lực ấy tán đồng [32].
Nếu “ý
kiến của ông có thể được Hội Truyền giáo tán đồng” thì điều chắc chắn là ý
kiến của Hội Truyền giáo cũng sẽ được phản ánh qua lập trường và hành động
của ông Nguyễn Hữu Bài, mà chính quyền bảo hộ Pháp cần lưu tâm đến.
Thế lực
Hội Truyền giáo mạnh mẽ như thế để cho ta thấy rõ vì sao khi mà ông Nguyễn
Hữu Bài đã muốn là có thể xây dựng được uy thế cho một Ngô Đình Diệm từ thời
ông Diệm còn là một sinh viên trường Hậu Bổ, vì sao vua Bảo Đại phải chấp
nhận cho ông Ngô Đình Diệm làm Thượng Thư Bộ Lại, và vì sao Hội Truyền Giáo
Hải Ngoại Pháp khi đã muốn là có thể sắp đặt được để có một bà Hoàng Hậu
theo Công giáo.
Về triều
giữ chức Thượng Thư Bộ Lại, ông Diệm đòi hỏi người Pháp phải thực hiện những
cải cách xã hội như họ đã hứa với vua Bảo Đại. Những cải cách xã hội đại để
gồm có những mục như:
- Triều
đình An Nam có toàn quyền bổ báo, thưởng phạt trong vấn đề nhân sự của Nam
triều.
- Triều
đình An Nam có ngân sách riêng, có tài chánh riêng, tư pháp riêng.
- Mở rộng
nền giáo dục.
- Thiết
lập Viện Dân Biểu.
- Người
Pháp phải thực thi đứng đắn Hòa Ước 1884, nghĩa là Hòa Ước vẫn còn để cho
Triều đình An Nam (Trung kỳ) một ít quyền hành nội bộ, dù Hòa Ước vẫn công
nhận nền Bảo Hộ Pháp là điều kiện chính yếu.
Điều cần
phải nói rõ là những dự định cải cách trên đây là do vua Bảo Đại đòi hỏi khi
ông mới về nước và đã được người Pháp hứa hẹn. Những dự định cải cách này
cũng đã được ông Phạm Quỳnh, nguyên chủ bút báo Nam Phong, đề nghị từ năm
1931 khi vua Bảo Đại chưa hồi loan. Ông Phạm Quỳnh còn đi xa hơn là đòi hỏi
việc sát nhập Bắc kỳ và Trung kỳ, vốn là hai xứ Bảo hộ riêng biệt, thành một
vương quốc có hiến pháp hẳn hòi, nghĩa là chủ trương một nước Việt Nam theo
chế độ quân chủ lập hiến tự trị trong một Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp
[33].
Còn ông
Diệm thì vẫn trung thành với chính sách của người Pháp từ ngày ông làm Tri
Huyện cho lên đến chức Tuần Vũ tỉnh Bình Thuận. Cho đến khi được vua Bảo Đại
cử làm Thượng Thư Bộ Lại và được chỉ định cầm đầu “Ủy Ban Cải Cách”, ông mới
đòi hỏi việc thi hành những cải cách mà người Pháp đã hứa với nhà vua.
Nhưng ông
Diệm gặp phải phản ứng quyết liệt của ông Phạm Quỳnh, người của Sở Chính Trị
Pháp (Service Civil). Ông thất bại trong việc tranh chấp với ông Quỳnh nên
chỉ làm Thượng thư Bộ Lại được 4 tháng thì phải xin từ chức.
Để giải
thích sự tranh chấp có vẻ khó hiểu của hai vị Thượng thư cùng được đỡ đầu và
bảo vệ từ một nguồn thế lực là Pháp, ta cần phải thấy rõ bản chất thật sự
của sự cấu kết giữa Hội Truyền Giáo Hải Ngoại và chính quyền thực dân Pháp.
Sự cấu kết đó dựa trên căn bản hỗ tương quyền lợi và quân phân trách
nhiệm: Thực dân Pháp phải núp đàng sau những chiếc áo chùng thâm mới có được
cái chính nghĩa “nhiệm vụ khai hóa” (mission civilisatrice); các tu sĩ Thiên
Chúa giáo phải được che chở bằng súng đạn của bộ máy xâm lược mới bình định
được các cuộc chống ngoại xâm bản xứ để rao truyền đức tin của Chúa Kitô.
Đó là quyền lợi hỗ tương giữa Giáo truyền và Thế quyền mà lịch sử Giáo hội
La Mã và đế quốc La Mã đã tiến hành từ thế kỷ thứ 4 và hiện vẫn còn là mối
đe dọa lớn cho sự sinh tồn của Giáo hội, và chính Đức Giáo Hoàng John Paul
II vào năm 1978 đã phải lên tiếng cảnh cáo rằng “khói lửa của quỷ Satan
đã tràn vào Giáo hội”[34].
Tuy nhiên, trong tiến trình cấu kết này, vấn đề quân phân trách nhiệm không
phải lúc nào cũng minh bạch và được tôn trọng, Giáo hội đã có lúc vượt hạn
chế để hành xử thế quyền cũng như các đế quốc cũng đã có lúc uy hiếp Giáo
hội để khuynh loát giáo quyền.
Những va
chạm dễ hiểu đó đã chạy dài suốt quá trình phát triển của Giáo hội La Mã và
các đế quốc Địa Trung Hải, và ở một kích thước nhỏ hơn nhưng rõ rệt hơn, đã
thể hiện rõ ràng trong cuộc xâm thực văn hóa–chính trị trên đất nước ta
trong những triều đại nhà Nguyễn. Ví dụ hiển nhiên nhất là chính sách ngu
dân của Pháp tìm đủ mọi cách để duy trì và khuyến khích các truyền thống và
hình thái cổ tục của dân ta, trong khi các vị truyền đạo lại tìm đủ mọi cách
để đả phá và bài trừ những tục lệ cổ truyền đó của văn hóa dân tộc để dễ
dàng len lỏi giáo lý Thiên Chúa giáo vào tín ngưỡng dân ta.
Chính
Giám mục Puginier đã chủ trương trong 30 năm phải thực hiện cho xong công
cuộc Công giáo hóa toàn bộ Bắc kỳ để biến miền này thành một tỉnh quận của
Pháp gồm toàn người Việt theo đạo Công giáo, trong khi đó thì Toàn quyền
Đông Dương Lanessan lại tìm cách gây cảm tình với người Việt, đối đãi với
người Việt theo lễ phép và phong tục địa phương, nhiều khi còn long trọng
đến dự lễ khánh thành các chùa đền, lăng miếu. Chính sách của Lanessan đã
làm cho các giáo đoàn e sợ, vì thế giáo đoàn phải vận động để Lanessan bị
mất chức và bị triệu hồi về Pháp.
Vì các
viên chức cai trị Pháp ở Đông Dương không thể chịu đựng mãi sự thao túng của
các vị cố đạo, nên nhân dịp triều đình An Nam chỉnh đốn nội bộ lúc vua trẻ
Bảo Đại mới về nước, họ bèn đặt ông Phạm Quỳnh là người thân tín của họ vào
để cản trở những kế hoạch của Hội Truyền giáo mà ông Ngô Đình Diệm là đại
diện. Trong cuộc tranh chấp này, Sở Chính Trị không những chỉ phải lo đối
phó với ông Ngô Đình Diệm mà còn muốn nắm vững bà Nam Phương Hoàng Hậu vốn
cũng là con bài của Hội Truyền Giáo, họ bèn đặt cạnh bà một người thân tín
khác của họ làm bí thư, đó là ông Nguyễn Tiến Lãng, một người của toàn quyền
Robin. Thật ra, không phải chỉ vì không đòi hỏi được những cải cách mà ông
Diệm xin từ chức ngay, chứng cớ là hơn mười năm làm quan Huyện quan Tỉnh,
ông vẫn thi hành chính sách của người Pháp một cách yên lặng. Đã vậy, trong
các cuộc tranh luận công khai, ông Diệm lại bị đàn áp về lý luận cũng như về
ngôn ngữ trước tài hùng biện và kiến thức uyên bác của một Phạm Quỳnh vừa là
nhà báo vừa là học giả lại kém phẩm hàm hơn ông. Theo dõi cuộc đời chính trị
của ông Diệm, ta thấy số mạng đã an bài cho ông luôn luôn nắm giữ những chức
vụ chỉ huy, an định ở những vị trí lãnh đạo. Làm quan triều Nguyễn hai đời
vua, ông không hề giữ những chức vụ thừa hành ở các Viện hay các Bộ mà chỉ
làm Tri Huyện, Tri Phủ, Quản Đạo, Tuần Vũ rồi cuối cùng là làm một vị Thượng
Thư giang sơn một cõi. Sau này, thì làm Thủ tướng toàn quyền cho một vị vua
biệt xứ để rồi cuối cùng trở thành một vị Tổng thống mà không bị Tư pháp và
Lập pháp phân quyền hoặc kiểm quyền. Quan niệm lãnh đạo của ông Diệm là luôn
luôn đòi cho được toàn quyền dù khả năng không đủ để cáng đáng, dù tình hình
phức tạp khó khăn đòi hỏi một sự tản quyền và phân quyền hợp lý.
Thời làm
Thủ tướng (1954–55), ông Diệm đòi Bảo Đại trao cho ông toàn quyền và thề sẽ
bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn dù sau đó trở nên lúng túng và tê liệt, đành phải
bỏ rơi Bắc Việt. Trước đó, thời làm Thượng Thư Bộ Lại (1933), ông cũng đã
đòi toàn quyền để cải cách xã hội mà không biết rằng những cải cách đó, nếu
thực hiện được, chỉ làm đẹp thêm vai trò thực dân và làm mạnh thêm vị trí
bảo hộ của người Pháp tại Việt Nam. Huống gì là người của Hội Truyền Giáo
Hải Ngoại Pháp, ông làm sao đi ngược lại được chính sách thực dân của Hội,
làm sao lên án và tiêu trừ được những hành vi áp bức quá khích của các vị cố
đạo đối với lương dân.
Trong
Việt Nam Pháp Thuộc Sử của giáo sư Phan Khoang, trong Lịch Sử Nội
Chiến Việt Nam của giáo sư Tạ Chí Đại Trường, trong rất nhiều lời kêu
gọi của cụ Phan Bội Châu, ta đã biết rõ ràng và đầy đủ việc các vị Cố đạo
dựa vào bạo lực của quân đội viễn chinh Pháp để bênh vực con chiên mà áp bức
người lương [35].
Ở đây, tôi xin dẫn chứng thêm nhận định của học giả Đào Trinh Nhất khi phê
phán những tệ hại do các Cố đạo gây ra:
… Thật thế, các ông ấy
giảng đạo, song nếu “con chiên” có chuyện gì kiện cáo với lương dân, tức
thời các ông mang bộ “áo dài thâm” vào rồi thân hành lên quan Phủ, quan
Huyện kêu nài, và dọa nạt quan Phủ, quan Huyện phải xử cho con chiên được
kiện. Nếu quan không bênh vực theo ý muốn của các ông thì các ông hăm dọa
lên nói với quan Công sứ tìm cách ám hại. Các ông cố đạo gọi dân đến dụ dỗ,
hễ đứa nào chịu theo Đạo thì lãnh sáu đồng bạc. Những đứa đã ngửa tay lấy
tiền để đi Đạo thì còn có ra hồn gì đâu. Lấy tiền xong chúng về làng dọa nạt
anh em đồng bào mình: “Bây liệu hồn, chúng tao đây đã có Tây đỡ đầu, nếu bây
dám chửi tao, gây gổ với tao là tao nướng xác của bây và lấy hết của cải của
bây”. Đêm tối, chúng nó chụm lửa tự đốt tiêu nhà tranh vách nát của chúng để
rồi la làng giá họa vu oan cho bọn Văn Thân, bọn dân lương. Thế là chúng vừa
lấy được tiền của nhà nước mà bọn lương dân kia thì phải tù tội
[36].
Với một
tình trạng xã hội “quan tha ma bắt” như thế, với một triều đình bạc nhược
thối nát như thế, thử hỏi ông Diệm dù có đòi hỏi thật sự thì làm sao ông có
thể thực hiện những cải cách được. Dưới thời Cộng Hòa, là một Tổng thống
toàn quyền mà ông còn để cho các Linh mục và nhóm Cần Lao khủng bố áp bức
lương dân thì dưới thời Pháp thuộc, ông làm sao có thể chống lại chính sách
của Hội Truyền giáo và chống lại cái bổn phận tông đồ của ông, khi chính ông
là một vị quan tay sai của Pháp, tay chân của Giáo Hội. Cho nên năm 1933, dù
người Pháp có để cho ông Diệm thực hiện những cuộc cải cách thì ông Diệm
cũng chỉ làm được công việc tô vẽ cho chiếc lồng đẹp đẽ hơn, nặn đúc cho cái
chậu rộng lớn hơn, nhưng dân Việt Nam vẫn là thứ dân cá chậu chim lồng, thứ
dân bị ru ngủ để thực dân Pháp củng cố và kéo dài nền đô hộ. Dưới thời
quân Nhật chiếm đóng (1941-45), Toàn quyền Decoux vì sợ dân ngã theo Nhật
Bản đã đưa ra nhiều cải cách rộng lớn như mở viện “Nhân Dân đại biểu”, như
bình đẳng hóa nhiều ngạch công chức Pháp–Việt, ngạch sĩ quan Pháp–Việt, như
mở thêm trường đại học… Thế mà chính phủ Bảo Hộ vẫn vững vàng, dân Việt Nam
vẫn là dân thuộc địa cho đến khi có cuộc cách mạng của chính dân Việt nổi
lên thì mới thực sự được giải thoát khỏi gông cùm.
Như vậy,
việc ông Diệm từ chức Thượng thư rõ ràng phần lớn là do áp lực của người
Pháp và Phạm Quỳnh. Riêng Bảo Đại, khi cho thu hồi bằng sắc, huy chương của
ông Diệm chẳng qua cũng chỉ như ông Diệm, nghĩa là vì áp lực của thực dân mà
chính vua Bảo Đại, trong công việc này, cũng tỏ ra bất mãn với người Pháp,
tỏ ra luyến tiếc sự ra đi của một trung thần mà dòng họ đã ba đời khuông phò
nhà Nguyễn, mà thế hệ anh em ông Diệm đã là thần tử tận tụy với tiên vương.
Thế mà sau khi từ chức, ông Diệm lại phò Cường Để với ý đồ nhờ quân đội Nhật
Bản lật đổ ngai vàng của Bảo Đại. Trước sự phản bội của ông Diệm, vua Bảo
Đại vẫn không thù oán, vẫn nhớ đến kẻ cựu thần, hai lần đánh điện vào Sài
Gòn mời ông Diệm về lập chính phủ. Không ngờ người Nhật đã bỏ rơi lá bài
Cường Để và Ngô Đình Diệm, và do đó không chịu trao điện tín lại làm cho
cuộc tái hợp vua tôi không thành tựu, và cũng do đó mà vua Bảo Đại phải mời
học giả Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng. Nhưng rồi Việt Minh cướp chính quyền,
vua Bảo Đại từ bỏ ngai vàng trở thành một công dân, rồi làm Tối cao Cố vấn
cho ông Hồ Chí Minh trong lúc ông Ngô Đình Diệm bị Việt Minh đày ải nơi miền
sơn cước, gần biên giới Hoa–Việt.
Chính trị
đúng là tấn tuồng muôn mặt vì có ai ngờ việc quân Pháp trở lại Việt Nam lại
gián tiếp giải thoát được cả cho hai ông Bảo Đại lẫn Ngô Đình Diệm khỏi vòng
kềm kẹp của ông Hồ Chí Minh để Bảo Đại đi Hồng Kông và hai năm sau trở thành
đối thủ của ông Hồ, còn ông Ngô Đình Diệm trở về Sài Gòn để một lần nữa quay
về với vị Vua mà mình đã hai lần bội phản.
Năm
1947–1948, khi Pháp bỏ giải pháp Hồ Chí Minh để quay về thương thuyết với
Cựu Hoàng Bảo Đại trong âm mưu sử dụng ông vua bù nhìn cũ hầu tái lập nền
thuộc địa, thì ông Diệm, hơn ai hết, đã nhận biết được Bảo Đại chính là
người của thời cuộc, chính là tụ điểm cần thiết cho lực lượng quốc gia trong
bối cảnh đất nước lúc bấy giờ. Vì vậy, cùng với một số chính khách thuộc
nhiều khuynh hướng và tổ chức khác nhau, ông Diệm đã qua Hồng Kông hội kiến
và thảo luận với vua Bảo Đại để tìm một giải pháp chống Cộng cứu nước.
Kết quả
của những thảo luận này là sự mâu thuẫn về mục tiêu đấu tranh giữa ông Diệm
và các chính khách khác, dù sách lược đấu tranh của cả hai phía hoàn toàn
giống nhau. Nghĩa là trong cái thế tam phân lực lượng lúc bấy giờ (Việt Minh
kháng chiến, Pháp bảo hộ và Bảo Đại quốc gia), mà lực lượng chính trị chống
Cộng của người Việt Nam thì không có được một hậu thuẫn nhân dân và một sức
mạnh võ lực đáng kể, thì phương thức đấu tranh còn lại duy nhất là những vận
động ngoại giao. Tuy nhiên, trong khi các chính khách khác chủ trương vận
động cho một nước Việt Nam Độc Lập dần dần thì ông Diệm chủ trương vận động
cho một Việt Nam độc lập theo quy chế Dominion (tương tự như Khối Thịnh
Vượng Chung của Anh). Được sự đồng ý của vua Bảo Đại và được ủy thác thi
hành công tác này, ông trở về Sài Gòn và bắt đầu vận động theo chiều hướng
đó. Nhưng ông đã hoàn toàn thất bại trong nỗ lực này và do đó, quyết định ở
lại Sài Gòn để tiếp tục hoạt động chính trị qua các phương tiện truyền thông
và báo chí để chống lại vua Bảo Đại và Pháp.
Năm 1949,
ông bảo trợ cho nhật báo Hoa Lư do một người đồng hương là ông Đinh
Xuân Tiếu, tự là Thiết Mộc, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút mà hai cộng sự viên
thân tín nhất là Huỳnh Hoài Lạc và Phan Xứng ở trong ban biên tập và ông Hồ
Sĩ Khuê là giám đốc chính trị. Ông Diệm chủ trương thân thiện với Thủ tướng
Nguyễn Văn Xuân và đối lập với các chính khách khác. Đến thời ông Trần Văn
Hữu giữ chức Thủ Hiến Nam Phần (1948-49), ông Đinh Xuân Tiếu bị ám sát, nhật
báo Hoa Lư tự ý đình bản vĩnh viễn. Song song với nhật báo Hoa Lư, ông Diệm
còn được sự yểm trợ của tuần báo Tinh Thần của nhóm các bác sĩ Trần
Văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên, Huỳnh Kim Hữu.
Tôi xin
mở một dấu ngoặc để nói thêm rằng trụ sở của nhật báo Hoa Lư ở tầng giữa của
ngôi biệt thự lầu số 152 đường Général De Gaulle, tức là đường Công Lý sau
này. Tầng trên do một người Pháp làm việc cho Phòng Nhì Pháp chiếm cứ, còn
tầng dưới thì thuộc về văn phòng và gia đình của luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Lúc
bấy giờ vì cả ông Diệm lẫn luật sư Nguyễn Hữu Thọ đều là những nhân vật
chính trị chống Pháp và chống những chính phủ đương thời cho nên hai người
liên hệ với nhau rất tương đắc. Nhưng đến năm 1954, 1955, khi ông Nguyễn Hữu
Thọ ở trong Phong trào Hòa Bình, anh em ông Diệm bắt ông Thọ quản thúc ở Tuy
Hòa, từ đó ông Thọ trở nên con người cho Hà Nội khai thác. Thật ra Luật sư
Nguyễn Hữu Thọ cũng như Dược sĩ Trần Kim Quan và tiến sĩ Âu Trường Thanh
(hiện ở Pháp)… không phải là Cộng Sản, nếu anh em ông Diệm khôn khéo hơn,
không chủ trương độc tài mà thực hiện một chính sách cởi mở hơn với mọi
thành phần quốc gia thì ắt hẳn ông Nguyễn Hữu Thọ đã không theo Hà Nội làm
Chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau này.
Lại cũng
phải nói thêm rằng, sau này, khi ông Diệm làm Tổng thống được một thời gian,
hai cộng sự viên của ông trong ban biên tập nhật báo Hoa Lư là các ông Phan
Xứng và Huỳnh Hoài Lạc cũng trở thành những phần tử bất mãn với chính ông và
chế độ của ông. Còn ông Đinh Xuân Tiếu, người đã hy sinh tính mạng mình cho
ông Diệm, có người chú là luật gia Đinh Xuân Quảng thì cũng trở thành đối
lập với ông Diệm nên bị bắt giam một thời gian, sau đó ông lại có chân trong
Mặt Trận Dân Chủ Tự Do của bác sĩ Phan Quang Đán nên bị chế độ ông Diệm bắt
giam vào tù thêm một lần thứ hai nữa.
Giữa năm
1949, Quốc trưởng Bảo Đại về nước lãnh đạo quốc gia, đặt văn phòng tại Đà
Lạt để tránh cái nghênh ngang của Cao ủy Pháp đang ngự trị tại dinh Norodom
Sài Gòn. Không lẽ Quốc trưởng mà lại ở dinh Gia Long, sao còn thể thống?
Người
ngoài không ai biết được giữa ông Bảo Đại và ông Ngô Đình Diệm có liên lạc
công khai hay bí mật nào không, nhưng có một điều chắc chắn là ông bà Ngô
Đình Nhu (vốn ở đường Hoa Hồng tại Đà Lạt) vẫn giao du với Quốc trưởng, đặc
biệt là bà Nhu, mỗi tuần ba bốn lần, có khi cả ban đêm, thường đến Biệt điện
số Một, nơi Quốc trưởng trú ngụ, để dạy Quốc trưởng đàn dương cầm. Việc này
thì nhân viên văn phòng đức Quốc trưởng và ngự lâm quân không mấy ai không
biết.
Môi
trường và các thế lực chính trị lúc bấy giờ tại Việt Nam quả thật không
thuận lợi cho những nỗ lực hoạt động của ông Diệm. Ngoài kẻ thù Cộng Sản
đang điều động kháng chiến, các lực lượng chống Cộng khác như chính quyền
Pháp thì không tin tưởng ở ông, chính phủ Việt Nam mà thể hiện rõ ràng là
thành phần lãnh đạo thì chống ông, các đảng phái và giáo phái thì nghi ngờ
ông, đại đa số giáo dân và giám mục Lê Hữu Từ cũng không đặt kỳ vọng hay
dành thiện cảm cho ông. Triển vọng của ông Diệm để xây dựng một thế đứng
chính trị thoát dậy từ một trạng huống như vậy để tiến lên áp lực vua Bảo
Đại hầu được ủy nhiệm làm Thủ tướng nắm chính quyền, tỏ ra rất mong manh,
nếu không muốn nói là vô vọng.
Lượng giá
đúng như vậy cho nên lối thoát còn lại cho ông Diệm để khai thông bế tắc
sự nghiệp chính trị của đời mình là nương dựa vào ngoại lực để áp đảo và san
định tình hình trong nước. Đối với ông Diệm, phương thức này không phải
là mới mẻ. Thời đô hộ, ông dựa vào Hội Truyền giáo và thực dân Pháp để làm
quan; thời Nhật chiếm đóng, ông dựa vào người Nhật để hoạt động, cho nên bây
giờ, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Pháp–Việt, với một chính thể quốc
trưởng Bảo Đại không thuận lợi cho ông, ông bèn, dĩ nhiên, tìm một thế lực
quốc tế khác để nhờ cậy. Cuối năm 1950, ông xuất ngoại mãi cho đến năm 1954,
nhờ thế lực của Tòa Thánh La Mã, của Hồng Y Spellman, của phong trào Cộng
Hòa Bình Dân Thiên Chúa giáo Pháp (MRP), và đặc biệt là nhờ Hoa Kỳ làm áp
lực với chính quyền Pháp cùng Bảo Đại, và cũng nhờ vận động ngầm của Nam
Phương Hoàng Hậu, cuối cùng ông Diệm đã được Quốc trưởng chỉ định làm Thủ
tướng.
Bác sĩ
Phan Huy Quát, nguyên Bộ trưởng trong nội các của ông Bửu Lộc, đã cho tôi
biết rằng sau ngày Nội các Bửu Lộc họp lần chót ở lâu đài Thorence dưới
quyền chủ tọa của Quốc trưởng Bảo Đại, nhiều vị Bộ trưởng đã tỏ ra bất mãn
về việc đề cử ông Diệm làm Thủ tướng, nhưng vua Bảo Đại đã gạt đi:
“Tôi là Việt gian của
Pháp, Ngô Đình Diệm là Việt gian của Mỹ. Nay thời của Pháp đã hết mà Mỹ thì
đang lăm le nhảy vào Việt Nam, tại sao ta lại không giao chánh quyền cho Ngô
Đình Diệm để nhờ Mỹ bảo vệ Việt Nam”.
Đó là lời
nói chí tình tha thiết muốn bảo vệ quê hưong trước một tình thế khó khăn của
một Bảo Đại không hẹp hòi và cố chấp, mà ngược lại, lại có tinh thần trách
nhiệm của một cấp lãnh đạo quốc gia. Vua Bảo Đại trao trọn quyền hành chánh
và quân sự cho ông Ngô Đình Diệm mà chỉ đổi lấy một lời thề, lời thề trước
Chúa, phải bảo vệ quê hương. Lời thề này cũng hàm ý phải trung thành với
Quốc trưởng, vì trước ông Diệm cũng đã có 5 vị thủ tướng nhưng không có một
vị nào bị vua Bảo Đại bắt thề trước khi nhận chức vụ và quyền hành cả (ngoại
trừ lễ trình diện chính phủ).
Sau lời
thề “tận trung báo quốc” năm 1954 đó, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên đường về
nước để lèo lái con thuyền quốc gia trước cơn sóng gió, trong lúc Quốc
trưởng Bảo Đại còn ở lại Pháp để theo dõi cuộc Hội đàm Genève định đoạt số
phận đất nước và tranh đấu quyết liệt với Pháp để giành lại trọn vẹn chủ
quyền quốc gia
[37].
Như vậy,
sau 6 năm trời xa lánh Quốc trưởng mà trong đó có hơn 4 năm “lê gót nơi quê
người”, 6 năm xa lánh trong tư thế đối lập với cá nhân vị Quốc trưởng chứ
không phải với chế độ của Quốc trưởng, cuối cùng ông Diệm lại quay về để
nhận chức Thủ Tướng do chính Quốc trưởng bổ nhiệm. Dù sự bổ nhiệm đó có dưới
áp lực của Mỹ thì nó cũng mang cùng bản chất với những bổ nhiệm dưới áp lực
của Pháp của ba vị thủ tướng tiền nhiệm là các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn
Hữu, Nguyễn Văn Tâm. Với tư cách Thủ tướng, ông Diệm đã ký tất cả các văn
kiện chính thức dưới dòng chữ “Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng”, ông đã
đứng dưới ngọn cờ vàng ba sọc đỏ do vua Bảo Đại khai sinh để chống Cộng Sản,
ông cũng đã trông cậy hoàn toàn vào quân đội quốc gia của vua Bảo Đại, lực
lượng mà ông từng chê bai là “lính đánh thuê cho Pháp”, để dẹp Bình Xuyên và
các giáo phái hầu xây dựng và củng cố quyền lực lẫn địa vị cho ông.
Tuy
nhiên, cuộc tái hợp giữa Cựu Hoàng và vị cựu thần nhà Nguyễn chỉ là một hệ
quả tạm thời của cuộc tranh chấp chính trị Mỹ–Pháp, nên chỉ sau mấy tháng
phải tan vỡ. Hồi cuối cùng của tấn tuồng trăm năm đô hộ là những diễn
viên tận tình múa may cho vừa lòng các đạo diễn nhiều phù phép: Diễn
viên Hồ Chí Minh khoác áo dân tộc, lãnh đạo cuộc kháng chiến; diễn viên Bảo
Đại đóng vai quốc gia bám vào lực lượng người Pháp để kháng Cộng; và diễn
viên Ngô Đình Diệm dựa vào thế lực Mỹ để tìm cách thay thế Bảo Đại trong
cuộc tương tranh Quốc–Cộng. Trên mặt lịch sử và hiển hiện trong thực tế, đó
là cuộc đấu tranh quyền lực của những tay sai bản xứ, mà dân tộc, đau đớn
thay, lại là nạn nhân bất lực bị cuốn hút vào. Trong chiều dài của cuộc
đấu tranh sống mái Quốc–Cộng, nếu phía Cộng Sản chỉ có một hậu phương lớn là
khối Cộng Sản quốc tế, một cấp lãnh đạo duy nhất là đảng Cộng Sản Việt Nam,
thì ngược lại, phía những lực lượng gọi là quốc gia, vì không đủ tư cách
và khả năng vận dụng được sinh lực của dân tộc nên liên tục thay thầy đổi tớ.
Trong những năm từ 1953 đến 1956, mà cao điểm là cuộc Trưng Cầu Dân Ý vào
ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm phải thay Bảo Đại cho phù hợp với
ông thầy Pháp đã nhường quyền cho ông chủ Mỹ trên quê hương ta.
Cuộc
Trưng Cầu Dân Ý do chính quyền đương nhiệm của ông Diệm đứng ra tổ chức và
cũng do chính quyền đương nhiệm (dưới hình thức Quốc Hội Lập Hiến) kiểm
soát. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, dân chúng miền Nam Việt Nam đến phòng phiếu
để chọn lựa giữa hai ông Bảo Đại và Ngô Đình Diệm theo khẩu hiệu đã được
chính quyền và Phong trào Cách mạng Quốc gia giáo dục trước: “Xanh bỏ
giỏ, Đỏ bỏ bì”, hoặc:
Phiếu đỏ ta bỏ vô bì
Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vất đi.
Kết quả
chính thức cuộc Trưng Cầu Dân Ý được đăng vào công báo là 5.721.735 phiếu đỏ
có hình ông Diệm (98.2%) và 63.107 phiếu xanh có hình vua Bảo Đại (1.1%).
Tại Sài Gòn, tổng số cử tri là 450.000 người mà số phiếu bỏ cho ông Diệm lên
đến 650.000, nghĩa là số phiếu gian lận là 200.000. Giữa thủ đô Sài Gòn có
tai mắt quốc tế mà còn gian lận trắng trợn đến thế, thử hỏi tại các tỉnh,
tại thôn quê thì sự gian lận đến mức độ nào?
Buồn cười
là sự gian lận này đã bị đại tá CIA Lansdale, cố vấn Mỹ của ông Diệm, đoán
trước thế nào cũng sẽ xảy ra nên đã cảnh cáo ông Diệm. Sau khi giúp ông Diệm
đánh dẹp được Bình Xuyên rồi, Lansdale khuyên ông Diệm phải tổ chức “Trưng
cầu Dân Ý” để truất phế Bảo Đại cho có chánh nghĩa. Trước ngày lên đường về
Mỹ để lánh mặt cuộc “Tổng Tuyển Cử”, Lansdale còn dặn ông Diệm: “Trong lúc
đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin ông thắng 99.99 phần trăm,
vì biết đó là âm mưu sắp đặt trước”[38].
Và ông Diệm đã vâng lời để chỉ thắng… 98.2 phần trăm!
Lansdale
bảo ông Diệm nên tỏ ra công bằng và chỉ cần thu lượm được một đa số phiếu
tương đối là tốt đẹp rồi, không nên tham lam quá. Nhưng với bản chất muốn
cho mình cái gì cũng “Nhất”, anh em ông Diệm bèn tổ chức bầu cử gian lận.
Khốn nỗi, việc gian lận quá lộ liễu xảy ra ngay tại thủ đô Sài Gòn để cho
ngoại giao đoàn và báo chí quốc tế biết được.
Nói cho
cùng thì nếu không tổ chức bầu cử gian lận chưa chắc ông Diệm đã đắc thắng
vẻ vang. Thật thế, nhìn vào bối cảnh đất nước vào mùa Thu 1955, lực lượng
nhân dân hướng về ông Bảo Đại vẫn còn đông đảo: Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt,
Việt Quốc, Duy Dân, Nguyễn Phước tộc, khối người miền Nam không ưa người
miền Bắc, khối người miền Nam còn nhớ ơn nhà Nguyễn, khối dân tộc thiểu số
của Hoàng Triều Cương Thổ, số người thân Pháp v.v… có thể làm lệch cán cân
“Trưng cầu Dân Ý”. Nhưng quyền lực trong tay, thủ đoạn gian lận và tiền bạc
của Mỹ đã giúp ông Diệm đánh ngã vị cựu Quốc trưởng của ông một cách dễ
dàng.
Tuy
nhiên, dù gian lận thì kết quả cuộc đầu phiếu, riêng đối với ông Diệm, cũng
đã giúp ông đạt được hai mục tiêu mà ông đã nhắm đến là trình diện được một
bề mặt dân chủ với chính quyền lẫn Quốc hội Hoa Kỳ, và nâng cao uy thế cá
nhân của ông lên đến mức độ tôn sùng như một vị cứu tinh anh minh của dân
tộc
[39].
Riếng đối với dân tộc Việt Nam, ngày 23 tháng 10 năm 1955 có một ý nghĩa
lịch sử quan trọng hơn hẳn những mục tiêu chính trị giai đoạn của ông Diệm.
Đó là ngày chấm dứt triều đại nhà Nguyễn và chế độ quân chủ tại Việt Nam và
trao lại quyền quản trị đất nước để chống Cộng, và quan trọng hơn cả, để xây
dựng nền móng cho kỷ nguyên dân chủ sau này. Chính sách và chế độ ông
Diệm 9 năm sau đó có làm cho nền móng đó thui chột và có làm cho Cộng Sản
mạnh thêm là tội của ông và gia đình ông đã phản bội lại những lá phiếu tín
nhiệm của nhân dân Việt Nam thể hiện trong ngày 23 tháng 10 lịch sử này.
Bên lề
của biến cố này có hai nhận định tôi cần ghi lại ở đây như tiếng thở dài
chán chường của nhân thế vẫn thường vang vọng trong những nổi trôi của lịch
sử. Nhận định thứ nhất về ông Ngô Đình Diệm của Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu
Trí chỉ một năm trước ngày trưng cầu dân ý: “Ông Diệm là người đạo gốc, lại
mấy đời thờ nhà Nguyễn, chắc chắn là tôn quân bảo hoàng và hết lòng với Quốc
trưởng Bảo Đại, tài cán ông Diệm thì chưa ai rõ nhưng trung thành với Ngài
thì tôi có thể tin”
[40].
Và nhận
định thứ hai về ông Bảo Đại của ký giả Stanley Karnow gần một phần tư thế kỷ
sau: “… Khi cử ông Diệm làm Thủ tướng, Bảo Đại có ngờ đâu chính quyết định
của mình lại là một hành động tự ý đào huyệt chôn vùi sự nghiệp chính trị
của mình”
[41].
Thế là ông Ngô Đình Diệm từ chủ trương cho Việt Nam quy chế “quân chủ lập
hiến” với một Bảo Đại là nhà vua, một Ngô Đình Diệm là Thủ tướng, đã đưa
miền Nam Việt Nam đến một thể chế “Cộng Hòa” mà ông là vị Tổng thống đầu
tiên, còn vị vua đã từng bổ nhiệm ông làm Thủ tướng, từ nay trở thành kẻ lưu
vong biệt xứ, ngậm đắng nuốt cay nơi đất khách quê người.
-o0o-
Năm 1955,
với vị thế là cán bộ chính trị trung kiên của Thủ tướng Ngô Đình Diệm, với
tư cách là chủ tịch phong trào Cách Mạng Quốc gia của bốn tỉnh duyên hải
miền Nam Trung phần, tôi đã hăng say hoạt động cho chiến dịch truất phế vua
Bảo Đại mà tôi cho là không còn đủ khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống
Cộng, và không còn đủ vóc dáng để khai mở một kỷ nguyên dân chủ cho đất nước
nữa.
Thật ra
thì dân ý đang đòi hỏi và hướng về một cuộc thay đổi gốc rễ để đáp ứng với
biến đổi mới của thời đại. Nhưng những tài liệu do Bộ Thông Tin Sài Gòn gởi
ra cũng như những chỉ thị mật của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia từ Huế gởi
vào cho tôi đều chủ yếu tập trung vào việc lên án những tội lỗi của vua Bảo
Đại vô đức vô tài… Lên án không chưa đủ, chỉ thị còn bắt phải khơi dậy lòng
căm thù ông Bảo Đại trong quần chúng nữa!
Cả một
chiến dịch bao trùm từ Cà Mâu đến Bến Hải do chính quyền yểm trợ trên cả hai
mặt nội dung lẫn phương tiện, hung hăng và rầm rộ tìm cách đạp Bảo Đại xuống
bùn dơ của lịch sử. Cả nước được vận động để phỉ nhổ Bảo Đại như là một hiện
thân xấu xa nhất hơn cả Lê Chiêu Thống và Lê Long Đĩnh. Hai đài phát thanh
Sài Gòn và Huế, phối hợp với báo chí trong gần một tháng trời, liên tục mạt
sát ông Bảo Đại và thúc dục dân chúng quất roi và đốt lửa những hình nộm Bảo
Đại. Chiến dịch to lớn của một nhân vật quốc gia chống Cộng (theo Mỹ) để
truất phế một nhân vật quốc gia khác cũng chống Cộng (nhưng theo Tây) còn
tàn độc và khủng khiếp hơn chiến dịch hạ bệ Bảo Đại của kẻ thù là Cộng Sản
Việt Minh thời 1948, 1949, khi giải pháp Bảo Đại mới ra đời để đối phó với
ông Hồ Chí Minh.
Sau biến
cố đó, nghĩa là khi kết quả chính thức đã được công bố và thể hiện tượng
trưng là việc thu hồi chiếc du thuyền của vua Bảo Đại và ngôi biệt thự một
tầng ở đường Công Lý của bà Từ Cung, vị Cựu Hoàng âm thầm lui vào bóng tối
để kéo dài cuộc sống tha hương, còn bà Từ Cung thì được phép trở về An Định
Cung An Cựu ở ngoại Hoàng thành Huế để sống nốt chuỗi ngày già lão. Trong
thảm cảnh đau thương đó, có lẽ đêm đêm bà đã ngậm ngùi ngâm câu thơ cũ, khóc
thương cho một triều đại suy tàn để nhớ tiếc triều đại nhà Nguyễn của Bà:
Cung miếu triều xưa đâu vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải quốc kêu thâu.
(Chu
Mạnh Trinh)
Trong gần
mười năm kể từ biến cố đó, cho đến
khi ông Diệm bị lật đổ và giết chết năm 1963, rồi ông Hồ Chí Minh từ giã
cuộc đời vào năm 1969, quê hương đã trải qua bao độ thăng trầm và dân tộc đã
nhận chịu biết bao thống khổ. Gần mười năm đọa đày trong tang tóc và binh
lửa mà ba nhân vật lịch sử đã từng hằn in dấu tích của mình trong dòng sông
lịch sử, thì nay mỗi người một ngả, mỗi người một số phận: Hai ông Hồ Chí
Minh và Ngô Đình Diệm đã ra người thiên cổ để lại rất nhiều nợ nần oan trái
cho dân tộc, còn cựu hoàng Bảo Đại thì kéo dài cuộc sống tha hương vô vị mà
ngày trở về quê cũ chỉ còn có thể có trong giấc mộng mà thôi.
Tôi không
dám bắt chước tiền nhân làm công việc “cái quan định luận” về giai đoạn
truân chuyên này của lịch sử nước ta, tôi cũng không muốn phê phán ông Hồ
Chí Minh vì cả nước đều đã biết công tội của ông ta, mà tôi chỉ muốn để lòng
mình lắng xuống trong những ngày tháng còn lại của cuộc đời biệt xứ, để tự
tâm nhìn về hai nhân vật Bảo Đại và Ngô Đình Diệm bằng cái nhìn của người
không những đã kinh qua cả hai chế độ trong tư thế của một cán bộ đấu tranh,
mà còn bằng cái nhìn nghiêm khắc của một người dân khốn khổ nhưng vẫn luôn
luôn là chủ nhân của đất nước.
Rất nhiều
tài liệu, quá nhiều tài liệu, bằng giấy trắng mực đen hay bằng những chứng
tích đau nhục trên các thân thể tàn phế vì bị tra tấn đã phê phán lên án ông
Diệm cũng như chế độ của ông: Lịch sử của sinh viên Việt Nam, lịch sử của
các đảng phái Việt Nam, lịch sử của quân đội Việt Nam, lịch sử của các tôn
giáo lớn và nhỏ tại Việt Nam, lịch sử của văn học Việt Nam… nói tóm lại lịch
sử Việt Nam trước, sau, và trong chín năm ông Diệm cầm quyền đã làm xong cái
công việc phán quyết tối hậu và chung kết rồi, nhưng điều đó không ngăn cản
nổi những cố gắng tội nghiệp của một thiểu số cuồng tín và ngoan cố vẫn muốn
tìm cách đánh tráo lịch sử để phục hồi lại vị trí “cứu tinh dân tộc” và
“lãnh tụ anh minh” của một ông Diệm đã nằm trong vòng xích sắt của lịch sử.
Đến đây
không thể không nêu ra hai sự kiện mà nhờ ánh sáng thời gian đã được lột
trần ra trước lịch sử để nhân dân đi từ mất niềm tin đến chống đối ông Diệm.
Đó là yếu tố Tham Nhũng và yếu tố Dâm Ô được phe nhóm ông Diệm sử dụng để hạ
nhục Bảo Đại trong chiến dịch truất phế Cựu Hoàng. Nhưng khi ông Diệm nắm
vững được chính quyền rồi thì nền tham nhũng của anh em ông ta còn tệ hại
gấp trăm lần thời Bảo Đại. Còn cái huyền thoại “Cụ Ngô không vợ không con
để hiến thân cho đại cuộc” đã trở thành câu chuyện cười ra nước mắt.
Bêu xấu
Bảo Đại nào là dâm ô nào là vợ nọ con kia mà chính ông Ngô Đình Diệm lại dấn
thân vào những cuộc tình bất chính.
Ông Phạm
Văn Nhu, bạn thân ông Diệm và là cựu chủ tịch Quốc Hội, đã viết trên nhật
báo Hòa Bình (Sài Gòn) rằng thời gian làm nhà đối lập với chế độ Bảo
Đại, chính ông Ngô Đình Diệm đã dan díu với một gái me Tây (xem “Làm thế nào
để giết một Tổng thống” của Cao Thế Dung). Nhưng trước đó, vào năm 1945,
thời Nhật chiếm đóng, cũng chính ông Ngô Đình Diệm đã lừa gạt một người con
gái nhẹ dạ đến mang thai. Năm 1958, hai mẹ con đến Sài Gòn xin gặp nhưng bị
ông Diệm từ chối nhất định không thừa nhận đứa con trai huyết thống của
mình, và cũng không phụ cấp cho người đàn bà khốn nạn một đồng xu cắc bạc
nào.
Tài liệu
này (thư và ảnh) do tướng Trần Văn Đôn sưu tầm được trong Hồ sơ mật dinh Gia
Long sau biến cố 1-11-1963, và năm 1989 được ông giao cho một số báo chí
đăng tải. Chúng tôi cũng trích đăng vào phần Phụ Lục cuốn sách nầy.
Về phần
Bảo Đại thì cũng đã có rất nhiều, nếu không muốn nói là quá nhiều tài liệu
viết về ông do các bộ phận tuyên truyền của chế độ Ngô Đình Diệm xuất bản.
Sau đó thì cá nhân của ông cũng như vai trò chính trị của ông hoàn toàn bị
quên lãng. Phê phán về ông, một cách đại chúng và một cách thuận lợi, thì có
những cuốn Một Cơn Gió Bụi của học giả Trần Trọng Kim, Phong Trào
Ngũ Xã của Ký giả Phạm Văn Bính, Việt Nam Máu Lửa của nhà cách
mạng lão thành Nghiêm Kế Tổ. Cũng một cách thuận lợi với rất nhiều cảm phục
là ý kiến riêng tư mà tôi nghe được của Giám mục Lê Hữu Từ, linh mục Hoàng
Quỳnh, của các ông Nguyễn Xuân Chữ, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Hữu Phiếm, Trần
Quang Vinh, sử gia Phan Khoang v.v… những nhân vật tiêu biểu cho các đảng
phái, tôn giáo.
Về phía
quốc tế, dư luận thường gán cho Bảo Đại là ông vua bù nhìn, chơi bời trụy
lạc. Những lời phê phán đó không phải là sai lầm nếu chỉ nhìn vào cuộc sống
bên ngoài của ông Bảo Đại mà không chịu tìm hiểu sâu sắc tâm tư thầm kín của
ông, không chịu phân tách những hoàn cảnh khó khăn mà ông đã phải chịu đựng.
Chẳng hạn như dư luận Pháp thường chê trách vua Bảo Đại mà không nhớ rằng
chính người Pháp đã không để cho ông tự do hành động, không để cho ông cầm
quyền theo ý riêng. Họ không có cái nhìn về con người Bảo Đại như học giả
Trần Trọng Kim, như ký giả Phạm Văn Bính đã từng tiếp xúc và sống gần gũi
với ông trong những giờ phút phức tạp khó khăn. Tuy nhiên vẫn có những người
Mỹ dày công nghiên cứu tình hình Việt Nam như nhà viết sử Joseph Buttinger
hay Thiếu tá Archimedes L. Patti, từng tham dự vào những biến động tại Việt
Nam vào những năm 1945, 1946 nên đã có những cái nhìn lịch sử vô tư hơn.
Thiếu tá
Patti từng chỉ huy một nhóm OSS nhảy dù xuống miền Việt Bắc và giúp đỡ cho
ông Hồ Chí Minh thời còn quân đội Nhật Bản tại Đông Dương. Ông đã ghi chép
chi tiết những biến cố về thời đó, khi về Mỹ ông vẫn tiếp tục theo dõi sát
tình hình Việt Nam và bắt đầu viết sách, nhưng cho đến năm 1980, khi mà
nhiều bí ẩn lịch sử đã được tiết lộ, ông mới cho xuất bản tác phẩm nhan đề
là “Why Vietnam?” để nói lên những sự thật mà ông biết được. Ông hết
sức khâm phục ông Hồ Chí Minh và Mặt Trận Việt Minh, nhưng ông vẫn ca ngợi
Bảo Đại là nhà chính trị lão luyện, là một người thành tâm yêu nước.
Patti
tiết lộ rằng:
Năm 1947, Mặt Trận Quốc
Gia Liên Hiệp của phe chống Cộng (do bác sĩ Lê Văn Hoạch cầm đầu có sự tham
dự của ông Ngô Đình Diệm như giáo sư Buttinger đã kể) đề xướng ra giải pháp
Bảo Đại. Người Pháp bèn bỏ chủ trương thương thuyết với Việt Minh và muốn sử
dụng lá bài Bảo Đại mà họ cho là một ông vua “Playboy” dễ sai khiến. Họ dự
định chỉ để cho Bảo Đại giành lấy một nền độc lập giả hiệu cho Việt Nam vì
họ biết rằng Bảo Đại không thể bình định được xứ sở mà quân lực Pháp tại
Đông Dương mỗi ngày phải một gia tăng.
Người Pháp bèn thúc
giục Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp đòi hỏi Bảo Đại phải đứng ra thành lập một
chính phủ quốc gia, nhưng Bảo Đại từ chối vì lẽ ông không muốn cầm đầu một
chính phủ do người Pháp bảo trợ. Huống chi ông lại quan niệm rằng Mặt Trận
Liên Hiệp Quốc Gia không tiêu biểu đại diện cho ai cả, trong lúc Mặt Trận
Việt Minh mới là lực lượng chính yếu. Bảo Đại chỉ bằng lòng đứng ra thương
thuyết với Pháp nếu có sự thỏa hiệp nào đó của Việt Minh.
Cho đến mùa hè năm
1947, khi Bảo Đại biết chắc chính phủ Pháp do đảng Cộng Hòa Bình Dân cầm đầu
cương quyết bỏ hẳn việc đàm thoại với Việt Minh, Bảo Đại mới công khai tuyên
bố chống lại Việt Minh. Dư luận đồn rằng việc Bảo Đại đưa ra lập trường
chống Cộng rõ rệt là có ý khuyến khích Hoa Kỳ giúp đỡ Bảo Đại chống lại tham
vọng của Pháp, như Hoa Kỳ đã ảnh hưởng Hòa Lan giúp Nam Dương độc lập. Việc
hy vọng vào Hoa Kỳ không phải là một ảo tưởng vì sau đó mấy tuần lễ, đại sứ
Mỹ tại Pháp, ông William Bullit tuyên bố chiến tranh Đông Dương của người
Pháp là thứ “chiến tranh bẩn thỉu nhất”. Lời tuyên bố của Đại sứ Bullit được
mọi người quan niệm như là một lời hứa hẹn của Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho Bảo
Đại (sau này khi Bảo Đại chính thức cầm quyền, Hoa Kỳ liền công nhận quốc
gia Việt Nam và viện trợ cho chính phủ Bảo Đại).
Với hy vọng được Hoa Kỳ
giúp đỡ, Bảo Đại mới chịu gặp Bollaert, Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Nhưng
khi gặp Bollaert rồi, Bảo Đại nhận thấy rằng đại diện nước Pháp chỉ đưa ra
những lời hứa hẹn mù mờ, do đó ông không chịu chấp nhận thương thuyết với
Pháp. Ông trở về Hồng Kông rồi đích thân đi Pháp để thăm dò tình hình. Tại
Pháp ông cũng nhận thấy rằng người Pháp vẫn ngoan cố, chỉ muốn tái lập nền
đô hộ nên ông không muốn tự cột mình vào âm mưu của thực dân.
Thái độ cứng rắn của
ông đã buộc Bollaert phải nhiều lần đến diện kiến với Bảo Đại tại Cannes và
Genève, nơi Bảo Đại trú ngụ. Bollaert đã phải hứa thỏa mãn những điều kiện
của ông trong những cuộc thương thuyết sắp tới, do đó hai nhân vật này mới
gặp nhau lần thứ hai vào ngày 5 tháng 6 năm 1948 tại vịnh Hạ Long. Lần này
thì Pháp long trọng tuyên bố để cho Việt Nam độc lập nhưng ngoại giao và
quốc phòng vẫn do Pháp kiểm soát. Thỏa ước Hạ Long đã làm cho cả thực dân
Pháp lẫn Việt Minh căm tức. Thực dân thì cho rằng Pháp đã đầu hàng Bảo Đại,
trong lúc Việt Minh chửi rủa Pháp (cried foul) vì tại Hội Nghị
Fontainebleau, Hồ Chí Minh đã thất bại không giành được những điều kiện như
Pháp đã thỏa thuận với Bảo Đại.
Nhưng dù thỏa ước Hạ
Long ra đời, Bảo Đại vẫn muốn thỏa ước ấy phải được chính thức hóa, do đó
Bảo Đại phải đi Pháp và ký kết với Tổng Thống Auriol hiệp ước ngày 8 tháng 3
năm 1949, thường được gọi là hiệp ước Elysées. Tuy vậy, Bảo Đại vẫn không
chịu về nước vì ông muốn phải thực hiện cho xong nền thống nhất ba kỳ. Thái
độ cứng rắn của ông làm cho thực dân tức giận la ó lên rằng: “Nó đã bắt đầu
coi chúng ta không ra gì” (ll commence vraiment à se foutre de nous). Nhưng
tại sao Bảo Đại lại chịu ký vào một hiệp ước mà ông ta chưa thỏa mãn. Có ba
lý do: Một là vì sợ nếu không ký, người Pháp sẽ tái lập nền đô hộ; hai là sợ
ảnh hưởng của Việt Minh sẽ lan rộng làm cho phe chống Cộng mất cơ hội thiết
lập một chính quyền quốc gia; và ba là ông hy vọng sẽ được Hoa Kỳ viện trợ
kinh tế đồng thời giúp ông chống Pháp.[42]
Qua những
biến cố trên đây, ta thấy rõ như Patti đã nhận định rằng ông Bảo Đại quả là một nhà ái quốc, một chính
trị gia khôn ngoan, sáng suốt, thâm trầm, độ lượng, và cả cuộc đời chính trị
của ông cho thấy ông không phải là thứ người tham quyền cố vị. Khác với vua
cha là Khải Định được thực dân đẩy ra sân khấu làm bù nhìn thì múa may quay
cuồng, thỏa mãn với địa vị bù nhìn của mình. Trái lại ông Bảo Đại dù được
đẩy ra sân khấu làm bù nhìn, nhưng trên sân khấu, ông chẳng chịu làm trò mà
chỉ đứng ù lì cho qua buổi, bất cần lệnh lạc của thầy tuồng.
Vua Bảo
Đại là bù nhìn nhưng gia đình họ Ngô lại không có quyền gọi Bảo Đại là bù
nhìn. Mười năm làm quan, ông Diệm chẳng đã là thần tử của vua Bảo Đại đó
sao? Được làm Thủ Tướng chẳng là ơn mưa móc của vua Bảo Đại đó sao?
Thật thế,
tuy ông Ngô Đình Diệm nhờ thế lực Thiên Chúa giáo quốc tế và Mỹ đẩy trở lại
chính trường, khốn nỗi muốn được làm Thủ tướng thì ông ta bắt buộc phải qua
cửa ải Bảo Đại, phải thần phục vua Bảo Đại.
Mùa hè
năm 1953, ông Diệm theo lời chỉ dẫn của em là Ngô Đình Luyện, rời Hoa Kỳ về
Paris và ăn ở tại nhà ông Tôn Thất Cẩn, một người bà con của vua Bảo Đại. Về
đây, dù đã nhiều lần vận động xin yết kiến Quốc trưởng nhưng Quốc trưởng vẫn
chưa chịu tiếp. Nhân dịp có linh mục Cao Văn Luận được ông Ngô Đình Cẩn nhờ
đưa thư mật và tiền bạc qua, anh em ông Diệm bèn nhờ ông Luận lấy tình quen
biết cũ đến vận động với ông Nguyễn Đệ, Đổng lý văn phòng của Bảo Đại. Ông
Nguyễn Đệ hứa sẽ giúp nhưng lời hứa vẫn trôi xuôi. Sau năm 1963, những bí ẩn
được tiết lộ dần dần cho biết sở dĩ vua Bảo Đại không chịu tiếp ông Diệm vì
hai lý do: một là vua Bảo Đại thấy năm 1953 chưa phải là thời của ông Ngô
Đình Diệm, và lý do thứ hai mà là lý do chính yếu: Ông Bảo Đại vốn là con
người thâm trầm, cao ngạo, lại cũng đã biết ông Diệm là người cứng đầu đã
nhiều phen quay quắt, nên Bảo Đại cần phải làm khó dễ để ông Diệm khỏi qua
mặt, khỏi phản bội sau này (cũng như khi chính thức cử làm Thủ tướng, Bảo
Đại đã bắt ông Diệm thề).
Cho đến
mùa hè năm 1954, những vận động của gia đình họ Ngô, của những người thuộc
Nguyễn Phước tộc và nhất là của các thế lực quốc tế giúp ông Diệm làm Thủ
tướng đã chín mùi nhưng vua Bảo Đại vẫn không lay chuyển. Ông chờ cho người
Mỹ, kẻ đỡ đầu cho ông Diệm, đến năn nỉ vua Bảo Đại mới vừa lòng. Thật thế,
một tháng trước ngày ký kết hiệp ước Genève, tình thế đã quá sôi động làm
cho Ngoại trưởng Foster Dulles phải xin yết kiến vua Bảo Đại và yêu cầu vua
cử ông Diệm làm Thủ tướng, lúc bấy giờ, ông mới bằng lòng. Đổi lại việc đề
cử ông Diệm làm Thủ tướng để thỏa mãn người Mỹ, ông đòi hỏi Ngoại trưởng
Dulles phải cam kết giúp phe quốc gia tiếp tục chống Cộng (gián tiếp đuổi
Pháp) và viện trợ dồi dào cho Việt Nam, nghĩa là viện trợ cho chính quyền
Bảo Đại. Tiếc rằng những bí ẩn trên đây, ông Bảo Đại đã không viết vào hồi
ký, phải chăng vì thể thống ngoại giao buộc ông muốn nói mà không nói nên
lời.
Ông Bảo
Đại là bù nhìn vậy thì ông Ngô Đình Diệm là gì? Ta hãy nghe Thiếu tá
Patti tiết lộ trong cuốn Why Vietnam?:
“Sau khi Ngô Đình Diệm được Mỹ nâng đỡ
giúp cho cầm quyền thì miền Nam rối loạn, bị các giáo phái và đảng phái
chống đối, tướng Collins Đặc sứ của Tổng thống Eisenhower phần vì nghe lời
xúi giục của Pháp, phần vì sợ Bắc Việt tấn công trước khi có hiệp ước SEATO,
nên đã mất thiện cảm đối với ông Diệm. Nhưng Ngoại trưởng Foster Dulles vẫn
cương quyết ủng hộ ông Diệm, đã thế Hồng Y Spellman, Nghị sĩ Mansfield,
Kennedy đều chống lại việc thay thế Diệm, nên Collins phải chịu theo lập
trường của Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Tình hình khó khăn và sự căng thẳng giữa Hoa
Kỳ và Pháp đã buộc Ngoại trưởng Mỹ phải đưa ra lời hăm dọa: “Hoa Kỳ sẽ cắt
bỏ viện trợ nếu ông Diệm không còn cầm quyền”. Để giải quyết tranh chấp,
tướng Collins đòi Mỹ phải viện trợ cho đội quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam
100 triệu đô la, bấy giờ Cao ủy Ely mới chịu chấp thuận”.
Đó là
chưa kể những tháng tiếp theo, người Mỹ, đặc biệt là Ngoại trưởng Dulles,
làm áp lực nặng nề với Pháp để ông Diệm được tiếp tục cầm quyền như đã trình
bày ở đoạn trước.
Hai biến
cố trên đây đã nói lên rõ rệt nếu Bảo Đại là bù nhìn của Pháp thì Ngô
Đình Diệm là con nuôi của Mỹ không hơn không kém. Nếu có khác là vua Bảo
Đại đã khôn ngoan, sáng suốt, kiên nhẫn đấu tranh cho phe chống Cộng có một
quốc gia, trong lúc ông Ngô Đình Diệm là người chỉ nhờ thế lực ngoại bang mà
được lên cầm quyền, thụ hưởng những kết quả do Bảo Đại để lại.
Nói tóm
lại, những sự kiện lịch sử trên đây đã cho thấy ông Diệm cầu xin vua Bảo Đại
để được làm Thủ tướng, nhưng chỉ một năm sau nhờ áp lực của Hoa Kỳ mà ông đã
tặng cho vị Quốc trưởng của ông hai chữ Bù Nhìn khi bắt đầu mở chiến
dịch truất phế Bảo Đại.
Ông Bảo
Đại là một vị vua bù nhìn do cái thế lịch sử tạo nên từ cả mấy chục năm
trước, tư thế bù nhìn đó không cho phép ta đặt ông vào vùng hào quang vinh
dự của những anh hùng đã xả thân dựng nước. Ông Bảo Đại là một vị vua bất
lực do cái tình trạng bị trị của một đất nước bị đô hộ cả gần trăm năm
trước, khả năng yếu kém đó lại cũng không cho phép ta đặt ông vào đài tưởng
niệm huy hoàng của những hiền nhân quân tử đã đóng góp và xây dựng nên sự
nghiệp Việt Nam. Ta có thể phê phán cái tư cách bù nhìn và cái khả năng yếu
kém đó như một lỗi lầm lớn không thể tha thứ được ở một nhà lãnh đạo quốc
gia, nhưng ta cũng phải công nhận cái quyết tâm bảo tồn sinh lực dân tộc của
ông trong mục đích nuôi dưỡng để tính kế lâu dài: Thời làm Quốc trưởng, ông
biết và có những hành động bênh vực các thành phần quốc gia vừa chống Cộng
vừa chống Pháp, nâng đỡ những nhân vật có thành tích yêu nước và tinh thần
cách mạng dù có bất đồng chính kiến với ông [43]. Cũng trong ý định tính kế lâu dài đó, ông đã
cống hiến cho quốc gia những định chế cơ bản để làm cơ sở nền móng cho bất
kỳ một chế độ nào có hay không có ông sau này được dễ dàng phát triển. Đối
với các viên chức đại diện cho chính quyền Pháp, ông kiêu hãnh giữ thể thống
và phong độ của một vị Quốc trưởng, không để cho họ xem thường như Lansdale
đã đối xử với ông Diệm. Lucien Bodard, một ký giả ngưỡng mộ danh tướng Pháp
là De Lattre de Tassigny, đã chê bai và đả kích vua Bảo Đại vì ông đối xử
với vị Toàn Quyền Cao ủy này như một viên chức cấp dưới trong cuốn La
Guerre d’Indochine.
Nói như
vậy không có nghĩa là vua Bảo Đại tránh được những tội lỗi lịch sử lớn lao
mà ông phải gánh chịu. Những tội lỗi đó, trước tòa án lương tâm và đạo đức
tối hậu của con người, lại không phải là những tội ác như của chế độ Ngô
Đình Diệm.
Thật
vậy, so sánh với chế độ Ngô Đình Diệm, chế độ Bảo Đại đâu có độc tài nắm giữ
hết mọi quyền lực của quốc gia, đâu có gia đình trị, đâu có tiêu diệt đảng
phái sát hại người đối lập, đâu có dựng nhà tù P-42 ở sở thú Sài Gòn, trại
Chín Hầm ở Huế để tra tấn giam cầm hoặc thủ tiêu người quốc gia. Chế độ Bảo
Đại đâu có kềm kẹp, đóng cửa, bỏ tù báo chí, đâu có phản bội bạn bè, ân
nhân. Ông Bảo Đại tuy có lấy tiền của Bảy Viễn nhưng đâu có buôn thuốc phiện
lậu kinh khủng như ông Ngô Đình Nhu, đâu có bắt những nhà giàu tra tấn đến
chết để làm tiền như ông Ngô Đình Cẩn. Bà Từ Cung vẫn sống khiêm tốn thanh
đạm ở Huế, không ỷ vào con làm Quốc trưởng mà hối mại quyền thế, mua tước
bán quan. Bà Nam Phương Hoàng Hậu vẫn sống âm thầm cách biệt ở ngoại quốc,
bà Mộng Điệp vẫn không ảnh hưởng chồng trong việc lãnh đạo quốc gia như bà
Ngô Đình Nhu ở Sài Gòn và mụ Luyến ở Huế, và như toàn thể anh em ông Diệm
mỗi người một chức vị, một giang sơn, một triều đình, một cơ quan mật vụ,
một tổ chức thanh niên, một lực lượng đặc biệt, một cơ quan kinh tài. Chê
vua Bảo Đại là lười biếng không đi thăm dân mà quên đi mỗi lần Tổng thống
Ngô Đình Diệm đi kinh lý, dân phải dậy từ 4, 5 giờ sáng, cơm đùm cơm bới,
phơi nắng 7, 8 tiếng đồng hồ đợi Tổng thống đến để hoan hô, quên đi ông Ngô
Đình Diệm ngồi chễm chệ trên thuyền bắt sĩ quan đẩy và lính sắp hàng dưới
nước mà dàn chào như vua chúa thời Trung Cổ. Cho nên thà không đi thăm dân
như ông Bảo Đại còn hơn là mỗi lần ông Ngô Đình Diệm đi kinh lý là làm khổ
cho quân dân. Ông Bảo Đại cũng đâu có xây nhà cửa riêng tư như năm sáu anh
em ông Diệm tạo dựng không biết bao nhiêu là đồn điền, ruộng đất, khách sạn,
nhà lầu, hãng xưởng, biệt thự. Ông Ngô Đình Cẩn còn bắt cả công binh, công
chánh xây lăng cho mình tốn kém trên hàng trăm triệu bạc công quỹ. Điều trớ
trêu là trong khi nhà Ngô rêu rao tuyên truyền ông Bảo Đại dâm ô trụy lạc
thì chính ông Ngô Đình Cẩn lại dâm loạn vô luân [44]. Ông Võ Văn Hải, chánh văn phòng đặc biệt thân
tín nhất của ông Diệm cũng đã không ngần ngại công nhận với nhóm lãnh đạo
Nhảy Dù trong cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 là “trong dinh Độc Lập có một
bọn đĩ điếm”
[45].
Ông Lê
Nguyên Long, một chiến sĩ cách mạng, một nhân sĩ miền Trung, một chứng nhân
thời đại, sống giữa lòng dân tộc trên 30 năm trời quê hương khói lửa, chứng
kiến bao cuộc thay ngôi đổi chủ, thấm thía với bao thế sự nhân tình, đã
nghiêm khắc lên án rằng:
“Chưa có chế độ quốc gia nào tại Việt
Nam tàn bạo như chế độ Ngô Đình Diệm, trừ chế độ Cộng Sản. Nếu nói chống ông
Bảo Đại thì ai cũng có quyền chống trừ Ngô Đình Diệm, vì cha anh ông Diệm và
cả ông Diệm nữa vốn là “tôi con” nhà Nguyễn. Ông Bảo Đại trên nguyên tắc đã
tín nhiệm ông Diệm và ông Diệm đã phục mệnh. Trước và sau khi truất phế Bảo
Đại, ông Diệm, qua Bộ thông tin, đã thuê bọn bồi bút (hầu hết báo chí thời
Diệm) mở một chiến dịch dài hạn đả kích, bêu xấu, vu cáo, nhục mạ ông Bảo
Đại hết sức tàn tệ. Thiết nghĩ người có lương tâm tối thiểu không ai nỡ hành
xử như thế, Ngô Đình Diệm là người đại phản phúc”[46].
Tuy
nhiên, trong biến cố anh em ông Diệm truất phế vua Bảo Đại, người cay đắng
bẽ bàng nhất có lẽ là ông Tôn Thất Cẩn, người bạn thân thiết của gia đình họ
Ngô, người đã nuôi ông Diệm ăn ở tại Paris, người đã đôn đáo ngược xuôi vận
động với Quốc trưởng và bà Nam Phương, đã đem tinh thần nhà Nho của ông
Diệm, đã đem ba đời thần tử của dòng họ Ngô Đình, đã đem chức giám mục của
ông Ngô Đình Thục, toàn là những thứ cao trọng thiêng liêng để bảo đảm tấm
lòng tôn quân trung thành của anh em nhà Ngô… Không ngờ Quốc trưởng Bảo Đại
lại bị truất phế để cho ông Tôn Thất Cẩn mang tiếng làm hại cho cả nhà vua
lẫn nhà Nguyễn. Không riêng ông Tôn Thất Cẩn mà cả anh ruột của ông, ông Tôn
Thất Toại, một bạn thân của ông Diệm từ thời niên thiếu, cũng mang tâm sự
đắng cay của một người Tôn Thất lỡ phò ông Diệm mà làm buồn lòng cho Nguyễn
Phước tộc, việc mà tôi sẽ nói đến trong một chương sau.
Nói tóm
lại, cả hai ông Bảo Đại và Ngô Đình Diệm đều có tội trước lịch sử và dân
tộc. Nhưng cái tội của Bảo Đại là do cái lỗi gây ra, còn cái tội của
Ngô Đình Diệm thì do cái ác gây ra.
Năm
1969, một năm sau tết Mậu Thân, khi tình hình miền Nam bắt đầu đi vào tuyệt
lộ vì Tổng thống Johnson mật đàm với Hà Nội để mở màn cho Hòa đàm Ba Lê và
để cứu vãn nội tình một nước Mỹ đang bị rối nát, khi chế độ Nguyễn Văn Thiệu
hoàn toàn bất lực trong việc điều động quân dân miền Nam đối kháng với Cộng
Sản đang càng ngày càng lớn mạnh, thì tuy đã về hưu trí từ năm 1965 và quyết
định đứng ngoài mọi sinh hoạt chính trị, tôi vẫn theo dõi thời cuộc và nhìn
thấy rõ cái thảm họa chênh vênh của đất nước bên bờ vực thẳm. Đã thế, cũng
trong năm đó, ông Hồ Chí Minh mắc bệnh mà qua đời, lại chợt nhắc tôi nhớ đến
ông Bảo Đại, người đã xây dựng một thế đứng hợp pháp và một lực lượng cơ bản
cho người quốc gia chống Cộng lúc đó và sau này. Vì vậy, tôi bèn viết một
bài tham luận dài đăng trên nhật báo Độc Lập của ký giả Anh Quân mà
nội dung nhằm cảnh giác chính giới Việt Nam về viễn tưởng người Mỹ sẽ rút
khỏi Việt Nam với hệ quả là miền Nam có thể rơi vào tay Cộng Sản Hà Nội.
Đồng thời, tôi cũng đóng góp một số sử liệu và khai triển một số nhận định
về công và tội của ông Bảo Đại để trả ông lại đúng vị trí trong lịch sử,
cũng như lấy đó làm những suy nghiệm cho tình hình miền Nam lúc bấy giờ, vốn
có nhiều điểm tương đồng cơ bản như lúc Pháp gần rút khỏi Việt Nam 15 năm về
trước.
Tôi
không ngờ bài báo đó của tôi trên tờ Độc Lập lại đến tay Cựu Hoàng tại Paris
và bà Từ Cung tại Huế. Cựu Thủ tướng Bửu Lộc, đại diện cho Cựu Hoàng đã gởi
một tấm thiệp ngỏ lời cảm ơn tôi đã dám nói lên một số sự thật vốn bị người
ta chôn vùi từ nhiều năm nay, và nhờ tôi đem lòng vô tư viết lại những trang
sử thuộc về nhà Nguyễn, và về Cựu Hoàng Bảo Đại với chứng minh công tội rõ
ràng. Đồng thời Đức Từ Cung cũng phái cụ Ưng An, đại diện cho Nguyễn Phước
tộc và ông Trần Quang Vinh một lãnh tụ Cao Đài (người cầm thiệp của ông Bửu
Lộc từ Pháp về), đến nhà tôi chuyển lời cảm tạ của Bà. Rất nhiều nhân vật
thuộc dòng dõi Nguyễn Phước tại Sài Gòn và nhiều địa phương cũng ghé đến
thăm tôi tỏ tình giao hảo (như ông Vĩnh Thọ hiện ở Hoa Kỳ chẳng hạn).
Từ đó,
tôi được mời đến tham dự những buổi hội họp cúng kỵ Đức Thế Tổ và các vị
tiền triều tại trụ sở của Hội Nguyễn Phước tộc ở đường Công Lý, tại ngôi
biệt thự đã bị ông Diệm tịch thu và nay được ông Thiệu trả lại. Nhờ vậy, tôi
có dịp lặng lẽ tìm hiểu thêm và kiểm điểm lại những biến cố chính trị liên
hệ đến hai ông Ngô Đình Diệm và Bảo Đại mà trong những thời gian đó, vì còn
trẻ và vì đam mê chỉ biết một lãnh tụ Ngô Đình Diệm, tôi đã không đủ khôn
ngoan và sáng suốt để thấy được sự thật.
Bây giờ,
viết lại theo ký ức những kết quả đã được đúc kết từ 15 năm trước, trong sự
thiếu thốn mọi sử liệu, tôi đành chỉ viết những gì mình còn nhớ chắc chắn và
chỉ giới hạn những nhận định trong tương quan giữa hai nhân vật Bảo Đại và
Ngô Đình Diệm mà thôi. Tuy nhiên, có một điểm tôi cần nói lên ở đây là đối
tượng thúc đẩy tôi viết lại chương này không còn là các thành viên của dòng
họ Nguyễn Phước tộc nữa mà mở rộng cho thế hệ thanh niên hiện tại, trong
cũng như ngoài nước, để mong đóng góp được thêm cho họ những sự thật và
những quan điểm đã ít được đề cập từ trước.
Khi so
sánh ông Hồ Chí Minh và những lãnh tụ quốc gia trong giai đoạn đó, cụ Hoàng
Văn Chí phê phán rằng:
“Cựu Hoàng Bảo Đại mà người Pháp tái
phong làm Quốc trưởng năm 1949 (và viên cựu quan lại Ngô Đình Diệm), những
kẻ mãi quốc cầu vinh, no lưng ấm cật, những kẻ bất chánh đó không tài nào
địch nổi Hồ Chí Minh…”[47].
Lời phê
phán đó, đứng trên quan điểm cách mạng và áp dụng như một nguyên tắc tiên
quyết cho cuộc đấu tranh cứu nước kể từ sau thảm trạng mùa Xuân năm 1975,
thì hoàn toàn đúng. Tuyệt đối đúng.
Nhưng
đặt nó vào bối cảnh của 20 năm từ 1945 đến 1965, giai đoạn mà ba nhân vật Hồ
Chí Minh, Bảo Đại và Ngô Đình Diệm nắm giữ những trục vận động chính của
lịch sử nước ta, thì tôi e rằng lời phê phán đó có phần quá khắt khe cho
trường hợp của vua Bảo Đại.
Từ 1945
đến 1954, chúng ta có nhiều nhà cách mạng đấu tranh chống cả Pháp lẫn Cộng
nhưng không một ai đủ lực, đủ thế và đủ thời để vận động được toàn dân khởi
phát cuộc cách mạng đó cả. Và trước cơn bão dữ của cuộc chiến tranh
Pháp–Cộng, trong đống bùn nhơ của một triều đình lơ láo dưới chế độ bảo hộ,
ông Bảo Đại ít ra cũng đã vun xới được một cánh sen màu vàng ba sọc đỏ để
làm tụ điểm cho những thành phần chống Cộng, để làm căn bản cho miền Nam
Việt Nam sau này có cơ sở tiếp tục chống lại miền Bắc Cộng Sản. Điều bất
hạnh thê thảm nhất cho dân tộc là người thừa hưởng cánh sen đó, ông Ngô Đình
Diệm, lại phong kiến như vua và độc tài như Cộng Sản nên mới “không tài nào
địch lại Hồ Chí Minh”.
Chữ
Quốc Gia mà chúng ta sử dụng hôm nay, ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà
chúng ta còn dùng hôm nay quả thật đã thuộc về lịch sử và dân tộc. Nhưng nếu
nó cần được duy trì như một biểu tượng lịch sử cần thiết tạm thời cho cuộc
đấu tranh giải phóng đất nước hiện tại, thì hẳn ngoài cái giá trị thời đại
không chối cãi của nó, ta cũng nên suy nghiệm một cách lương thiện và đứng
đắn hơn về cả giá trị của một vị vua đã âm thầm cay đắng mang tiếng bù nhìn
để khai sinh và nuôi dưỡng nó trong những tháng ngày chập chững non nớt đầu
tiên.
©sachhiem.net
Tất cả các chương sách VNMLQHT đã đăng trong sachhiem.net:
VNMLQHT- Ý Kiến Đọc Giả (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục A-Trăm Lời Phê Phán (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục B-Sáu Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục C-Bốn Lá Thư Riêng (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục D-Hai Tài Liệu (HLDM) VNMLQHT-Phụ Lục E- Mười Một Bài Đọc Thêm (HLDM) VNMLQHTch02- Vào Đường Đấu Tranh (HLDM) VNMLQHTch03- Thăng Trầm trong Cuộc Chiến Việt Pháp (HLDM) VNMLQHTch04 Phụ Bản - Những Bức Hình Lịch Sử (HLDM) VNMLQHTch04- Những Ngày Cuối Cùng của Thực Dân Pháp (HLDM) VNMLQHTch05- Góp Công Xây Dựng Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch06- Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (HLDM) VNMLQHTch07- Gia Đình Trị (HLDM) VNMLQHTch08- Đảng Cần Lao (HLDM) VNMLQHTch09- Chính Sách Độc Tài (HLDM) VNMLQHTch10- Những Thất Bại của Chế Độ (HLDM) VNMLQHTch11- Bắt Đầu Sự Sụp Đổ (HLDM) VNMLQHTch12- Hai Năm Khốn Cùng (HLDM) VNMLQHTch13- Tệ Trạng Tham Nhũng (HLDM) VNMLQHTch14- Kỳ Thị Tôn Giáo (HLDM) VNMLQHTch15- Biến Cố Phật Giáo (HLDM) VNMLQHTch16- Từ Đồng Minh với Mỹ (HLDM) VNMLQHTch17 Phụ Bản - Những Bức Hình Kỷ Niệm (HLDM) VNMLQHTch17- Cuộc Cách Mạng 1-11-63 (HLDM) VNMLQHTch18- Ba Năm Xáo Trộn (HLDM) VNMLQHTch19- Chế Độ Thiệu (HLDM) VNMLQHTch20- Kết Luận (HLDM) VNMLQHTthumuc (HLDM)
|