Toàn tập: Dàn bài
Chương 3: 1
2 3
4 5
CHƯƠNG 3
(tiếp theo)...
I.- Ra đời vào một thời điểm trong một hoàn cảnh
lịch sử đặc biệt.-
Quốc kỳ không những là biểu tượng của một quốc
gia mà còn là hình ảnh nói lên khúc quanh lịch sử vào một thời điểm toàn
dân phải vùng lên đồng lòng quyết tâm liều chết chiến đấu cho
lý tưởng cao đẹp nhằm để phục vụ cho quyền lợi tối thượng của tổ quốc
và cho phúc lợi của con người ở trong cõi đời này. Khúc quanh lịch sử đó
có thể là một trang sử oai hùng của dân tộc với những chiến tích đã hoàn
thành được nhiệm vụ lịch sử: hoặc là đánh tan được quân cướp xâm lăng,
hoặc là đạp đổ chế độ đương quyền tham tàn bạo ngược để thiết lập một
chế độ chính trị mới thể theo nguyện vọng của toàn dân (hay ít ra cùng
là tuyệt đại khối dân tộc), thích hợp với trào lưu tiến hóa của nhân
loại. Lá cờ tam tài của nước Pháp hiện nay là biểu tượng hay hình ảnh
của khúc quanh lịch sử mà nhân dân Pháp đã vùng lên đạp đổ chế độ đạo
phiệt Ca-tô tham tàn bạo ngược bắt rễ ở nước Pháp từ nhiều thế kỷ trước,
truyền đến đời tên bạo chúa Louis XVI (1774-1789). Lá cờ sao sọc của Hoa
Kỳ ngày nay là biểu tượng hay hình ảnh cho khúc quanh lịch sử mà nhân
dân Bắc Mỹ vùng lên tiến hành cuộc Chiến Tranh Cách Mạng 1776-1783, nhằm
đạp đổ ách thống trị của người Anh đã thiết lập ở lục địa này từ đầu
thế kỷ 17 để thành lập một quốc gia mới ở Tây Bán Cầu với danh xưng là
Hiệp Chủng Quốc. Lá cờ đỏ sao vàng hiện nay của nước Việt Nam là biểu
tượng hay hình ảnh của khúc quanh lịch sử mà toàn dân Việt Nam dưới
quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh quyết tâm đứng lên làm lịch sử với sứ
mạng đánh đưổi quân xâm lăng Nhật Bản, đánh đuổi Liên Minh Đế Quốc Thực
Dân Xâm Lược Pháp - Vatican để (a) giành lại chủ quyền độc lập cho dân
tộc, (b) hủy diệt cái chế độ quân chủ toàn trị phong kiến thối nát lỗi
thời mà nhân dân thế giới đã đào sâu chôn chặt từ mấy thế kỷ trước để
cởi bỏ cho nhân ta thoát khỏi cái thân phận tôi thần làm nô lệ cho một
tên bạo chúa mang danh nghĩa là một ông vua, (c) thực hiện một cuộc cách
mạng xã hội với chủ trương xóa bỏ hết tàn tích phong kiến và tệ đoan xã
hội của thời Pháp – Vatican bảo hộ còn sót lại, và (d) thực hiện cuộc
cải cách cách ruộng đất sâu rộng, trong đó có cả việc đòi lại ruộng đất
đã bị Giáo Hội La Mã và bọn Việt gian cướp đoạt trong những năm
1862-1945 để đem lại công bằng về kinh tế trong nông thôn hầu giải thoát
cho dân ta cái thảm họa chết đói như đã xẩy ra trong mùa xuân năm Ất
Dậu 1945.
Tất cả những lá cờ của Pháp, Mỹ và Việt Nam đều có những đặc tính
như đã trình bày ở trên.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng khi một quốc gia bị áp đặt phải
sống dưới ách thống trị của một đế quốc thực dân xâm lược hay một chế độ
phi nhân bạo ngược, nhất là các chế độ đạo phiệt, thì các nhà ái quốc
của quốc gia đó phải vùng lên phất cờ kêu gọi toàn dân cùng nhau chung
lưng góp sức chiến đấu đạp đổ chế độ bạo ngược này để thiết lập một chế độ
chính trị mới đúng theo nguyện vọng của toàn dân. Ở vào trường hợp này,
khi phát khởi cuộc chiến, họ đều chọn một kiểu mẫu của lá cờ có kích
thước, mầu cờ và hình tượng ở trong đó phải là (1) biểu tượng cho khát
vọng hay lý tưởng mà họ đang theo đuổi, và (2) biểu tượng cho chủ
trương phải dứt khoát diệt tận gốc, trốc tận rễ những tàn tích của chế
độ cũ làm cản trở cho những công trình kiến quốc như phát triển kinh tế,
mở mang giáo dục, nâng cao dân trí, cải tiến dân sinh, thực thi công
bằng xã hội, nhất là phải loại bỏ những phần tử lưu manh mượn danh xưng
thượng đế hay thần thánh để lừa bịp và tác oai tác quái với nhân dân.
Kinh nghiệm cho thấy rằng bọn người lưu manh này thật là ghê gớm và đã được sách
Nho Giáo ghi nhận rõ ràng như sau:
"Phàm người đời đã bị cực khổ mà lại học hành
không có, việc hay dở không biết thế nào, tất là phải chìm đắm vào những
điều mê hoặc và tin những việc quái lạ. Vu là người con gái và hích là
người con trai làm nghề đồng bóng, tức là bọn đồng cốt thày cúng, thày
pháp, v.v... lấy điều cát hung, họa phúc, dùng những phương thuôc huyễn
hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem sự thần thánh ma quỉ mà dọa
nạt người thường để làm nghề kiếm ăn. Ở nước Tầu, về đời Thượng Cổ, bọn
vu hích có thế lực rất mạnh, thậm chí nhà nào cũng thờ quỉ, thờ thần. Cổ
thư nói rằng, "dân thần tạp nhụ, gia vi vu sử: Dân với thần lẫn lộn,
nhà nào nhà ấy cũng có vu sử." Nhà vua thấy thế mới sai quan định rõ
việc thần và việc người để ngăn cấm bọn vu hích làm mê hoặc lòng người.
Thiên Lữ hình trong Kinh Thi nói rằng: "Mệnh, Trọng, Lê tuyệt địa thiên
thông, võng hữu giáng cách : Vua sai họ Trọng, họ Lê định điển lễ rõ
ràng, để phân biệt việc người việc thần, không cho người ta nói bậy là
thế nào thần cũng giáng, hay dùng cách không chính đáng mà cũng cảm cách
được đến thần." Đế vương đời trước cho rằng dân mê tín những sự yêu quái, là
vì không hiểu rõ cái chính lý của trời đất, không phân biệt điều thiện
điều ác, cứ hay tìm mối họa phúc ở chỗ mơ màng mờ mịt. Vậy nên định rõ
việc thờ cúng để chính lòng người và làm cho rõ đạo thường..
Tuy vậy, lòng người vẫn bị những vật dục làm mờ tối đi, thành ra
thế lực của bọn vu hích càng ngày càng mạnh. Về sau vua phải đặt: "Tư vu
chưởng quần vu chi chính lệnh : Quan tư vu cai quản và sai khiến bọn vu
nhân" (Chu Lễ : Tư vu). Xem thế biết rằng đạo thánh hiền tuy là công
chính, nhưng vẫn không có thế lực bằng cái thuật của bọn vu hích. Vì đạo
của thánh hiền chỉ riêng cho những người đi học mà thuật của bọn vu hích
thì lan ra khắp cả bàn dân thiên hạ."
[1]
Cho đến ngày nay, bọn lưu manh mượn danh thượng đế hay tôn giáo để
tác oai tác quái vẫn còn xẩy ra ở nước Việt Nam ta. Điển hình là tên
thày cúng lưu manh Ngô Quang Kiệt và đồng bọn mưu đồ chiếm lại thửa đất
mà Vatican đã cướp đoạt của dân ta vào giữa thập niên 1880 bằng thủ đoạn xúi
giục giáo dân tụ tập cầu nguyện bất hợp pháp trước tòa nhà công sở số 42
Phố Nhà Chung, Hà Nội, từ ngày 18/12/2007 đến ngày 30/1/2008, rồi bạo
hành dùng búa, kìm và xà beng phá cổng, đập tường mặt tiền tòa nhà này
làm loạn, gây rối phố phường để gây áp lực với chính quyền.
II.- Biểu tượng cho lý tưởng mà họ đang theo đuổi .-
Biểu
tượng cho lý tưởng mà họ đang theo đuổi có nghĩa là khi thành công họ
phải thết lập một chế độ chính trị mới, hoàn toàn mới với những nhận sự
mới, hiến pháp mới, những luật pháp mới thích hợp với khát vọng của toàn
dân hay tuyệt đại khối nhân dân để mang lại cho người dân một luồng sinh
khí mới với những nếp sống hay sinh hoạt mới. Ta gọi chế độ chính trị
mới như vậy là chính quyền cách mạng. Đây là các chính quyền Cách Mạng
Anh 1689, Cách Mạng Hoa Kỳ 1776, Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Mễ Tây
Cơ 1857, Cách Mạng Ý Đại Lới 1870, Cách Mạng Nga 1917, Cách Mạng Trung
Hoa 1911 và 1949, Cách Mạng Thổ Nhĩ Kỳ 1923, Cách Mạng Tây Ban Nha
1936, Cách Mạng Việt Nam 1945, Cách Mạng Cuba 1959, v.v..., Cách Mạng
Nicaragua 1979, v.v....
III.- Là hình ảnh của những biện pháp mạnh để khử diệt tận gốc
tất cả những tàn dư và tàn tích của chế độ cũ.-
Ngay sau khi lật
đổ được chế độ cũ, thường thường chính quyền cách mạng có nhiệm vụ phải
ban hành những biện pháp mạnh để:
1.- Khử diệt tất cả tàn dư và tất cả những gì nặng tính cách phong
kiến, lạc hậu làm mất phẩm giá con người, những gì làm cho con người hèn
hạ và mất hết liêm sỉ (như phủ phục gục mặt xuống ôm hôn bàn chân của
giáo chủ, gục mặt xuống ôm hôn giầy dép của các nhà truyền giáo, gục mặt
xuống ôm hôn cái nhẫn của giám mục).
2.- Khử diệt tất cả những gì hoang đường và phi lý nặng tính cách
phỉnh gạt và lừa dối nhân dân để thủ lợi.
3.- Truất bỏ hết cả đặc quyền đặc lợi dành cho một nhóm người gây nên
cảnh bất công trong xã hội.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng đánh đuổi được chính quyền đế quốc
thực dân xâm lược hay đạp đổ một chế độ bạo ngược để thiết lập một chế
đô chính trị đúng theo nguyện vọng của đại khối nhân dân đã là một việc
là vô cùng khó khăn, nhưng khử diệt những tàn dư và tàn tích của chế độ
tàn ngược cũ để bảo đàm sự an toàn cho những công cuộc tiến hành những
chương trình cách mạng hầu mang lại phúc lợi cho nhân dân còn khó khăn
gấp bội phần. Hơn các dân tộc nào khác, các dân tộc Anh, Pháp, Ý Đại Lợi Tây
Ban Nha, Đức và nhiều các dân tộc nạn nhân khác của Giáo Hội có kinh
nghiệm xương máu về vấn đề này.
Nước Anh đã dứt khoát ly khai thoát khỏi bàn tay
máu của Giáo Hội La Mã vào năm 1534 trong thời Anh Hoàng Henry VIII
(1491-1547), nhưng vì chủ quan, coi thường con cáo già Vatican, không
ban hành biện pháp mạnh để khử diệt những tàn dư và tàn tích của cái tôn
giáo ác ôn này, cho nên nhân dân Anh mới phải gánh chịu cái thảm họa của bạo
chúa Bloody Mary trong suốt 5 năm trời (1555-1558). Về cái họa của con
mụ bạo chúa này, sử gia Thomas P. Neil viết:
"Mary đã được khuyến cáo là nên đối xử tử
tế với những người đã bỏ đạo Da Tô (those who had left the faith), nhưng
vây cánh bên cạnh bà vô cùng quá khích, cương quyết chống lại những
người tà giáo. Trong thời gian 5 năm tại vì của bà, có tới khoảng ba
trăm người bị hành hình vì tín ngưỡng của họ khác với đạo Da Tô….và
các sử gia đã đặt cho bà biệt danh là "Bloody Mary" (Mụ Mary khát máu)"
và triều đại tàn ngược ngắn ngủi của bà đã làm cho đạo Kitô La Mã
không có cơ may phục hồi ở Anh quốc được nữa." Nguyên văn:
"Mary was advised to be lenient with those who left the faith. The queen
was not personally inclined to be severe, but many of her subordinates
went to extremes against "heretics." About three hundred were
executed for their anti-Catholic beliefs during her reign..., and
historians soon dubbed her "bloody Mary." Her short reign ruined any
chance for Catholic restoration."[2]
Vì thế mà vào năm 1689, Quốc Hội Anh mỡi cương quyết ban hành nhiều
biện pháp để dứt khoát với những gì còn liên hệ với chế đồ tàn ngược cũ.
Đó là các đạo luật khẳng định công nhận những quyền tự do căn bản của
người dân bằng vịêc ban hành biện pháp gọi là Ổn Định Cách Mạng. Một
trong những biện pháp này là Bản Dân Quyền
gồm những điều khoản
nói về:
“(1) quyền tự do ngôn luận tại diễn đàn quốc hội,
(2) quy định các phiên họp thường xuyên của cơ quan này, (3)
cấm nhà vua không được can thiệp vào các cuộc bầu cử quốc hội, (4)
bảo đảm cho người dân có quyền được gửi thỉnh nguyện thư lên chính quyền
để trình bày những điều phiền muộn về những hành động lạm quyền của các
viên chức chính quyền và chính sách sai lầm của nhà nước, (5)
cấm, không cho (hành pháp) đặt ra các khoản tiền ký qũy tại ngoại hầu
tra cho các nghi can một cách quá đáng, (6) cấm, không cho chính
quyền được sử dụng quân đội một cách bất hợp pháp.” Nguyên văn:
“In order to safeguard the results of the Glorious Revolution,
Parliament passed several important measures, usually called the
Revolution Settlement. One of these, the Bill of Rights of 1689,
guaranteed freedom of speech in Parliament, provided for frequent
meetings of that body and forbade the king to interfere with the
election of its members. Other clauses guaranteed the right of the
people to petition the government, forbade excessive bail, and
protected the nation from the illegal use of the army.”[3]
Cũng vào năm 1689, Quốc Hội Anh lại ban hành Luật
Khoan Dung bảo đảm quyền tự do tôn giáo của các hệ phái Tin Lành không
nằm trong Anh Giáo:
“Một phần khác của những biên pháp Ổn Định Cách
Mạng là Luật Khoan Dung được Quốc Hội thông qua vào năm 1689. Luật này
bảo đảm quyền tự do tôn giáo của các nhóm Tin Lành dù rằng họ không
thuộc về Anh giáo và không được làm việc trong chính quyền.”
Nguyên văn: “Another part of the Revolution Settlement, also
passed in 1689, was the Toleration Act, which granted religious freedom
to various Protestant groups, although those who were not members of the
England Church could not hold public office.”[4]
Năm 1691, Quốc Hội Anh lại ban hành một biện pháp
khác nữa nghiêm khắc hơn. Đó là Đạo Luật Ổn Định năm 1691. Luật
này cấm, không cho người Anh là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm
quyền (the Act of Settlement of 1691). Đạo luật này quy định rằng:
“Không có một tín đồ Ki-tô La Mã nào có thể trở
thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những
người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua,
không cho họ lên cầm quyền.” Nguyên văn: “A third measure,
the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could
be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II
by his second wife.”[5]
Theo gương nước Anh, chính quyền Cách Mạng 1789 cũng đã ban hành
những biện pháp cưc mạnh để khử diệt những tàn dư và tàn tích chế độ
đạo phiệt Ca-tô Louis XVI và cắt đứt tất cả các mối liên hệ với Vatican
bằng những biện pháp:
1.- Thiết lập chính quyền dân chủ do dân, bởi dân và vì dân.
2.- Tịch biên toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã tại nước Pháp.
3.- Tước bỏ tất cả mọi đặc quyền đặc lợi dành cho Giáo Hội La Mã.
4.- Tước bỏ hết tất cả mọi đặc quyền đặc lợi dành cho giới tu sĩ và
qúy tộc,
5.- Tách rời giáo quyền (tôn giáo) ra khỏi thế quyền (chính quyền).
6.- Ban hành một hiến chế dân sự cho giới tu sĩ,
trong đó tu sĩ được coi như là bình đẳng với tất cả người dân khác và
phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến pháp và
nước Pháp, chứ không phải trung thành với Tòa Thành Vatican hay Giáo Hội
La Mã. Việc này đưa đến việc thiết lập một giáo hội Pháp tách rời khỏi
Giáo Hội La Mã giống như Giáo Hội Anh được thành lập vào 1534.
7.- Xòa bỏ tất cả mọi tục lệ phong kiến.
8.- Xóa bỏ tất cả mọi bất công trong xã
hội để thực thi lý tưởng bình đẳng trong xã hội, tự do cho nhân dân và
bác ái đối với tất cả mọi người, chứ không phải chỉ đối với “dân Chúa”
mà thôi.
9.- Công bố Bản Tuyên Ngôn Dân Quyền vào
ngày 26/8/1789 long trọng xác nhận:
a.- Quyền lực của nhà nước vì nhân dân mà
có. (The authority of a government is derived from the people.)
b.- Mọi người dân phải bình đẳng trước
pháp luật. (All citizens should be equal before the law.)
c.- Tất cả mọi người dân đều có quyền ảnh
hưởng vào việc làm luật. (All should have the right to influence the
making of the law.)
d.- Mục đích của chính quyền là để bảo vệ
những quyền tự nhiên của con người. Đó là quyền tự do, quyền có tài sản,
quyền sống trong an ninh và quyền chống lại áp bức. (The purpose of
government should be the preservation of the natural rights of men to
“liberty, property, security, and resistance to oppression.”)
e.- Quyền tự do tư tưởng và tự do hành xử
tín ngưỡng của mọi người phải được bảo đảm. (Freedom of thought and
religion should be guaranteed to all.)[6]
10.- Thẳng tay trừng trị những giáo sĩ và tín đồ
Ca-tô có những hành động phản quốc và chống lại Cách Mạng. Con số giáo
sĩ, nữ tu và tín đồ Ca-tô bị đưa ra pháp trường đền tội phản quốc lên
đến gần năm mươi (50) ngàn và được cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi nhận
trong sách The Decline And Fall Of The Roman Church như sau:
"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hòang Pius VI
(1775-1799) thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" xóa bỏ toàn thể
tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí
lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám
mục, tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều
bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi,
chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte
(Sau này là Hòang Đế Napoléon I) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có
toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang". Tháng 5 năm
1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte tuyên bố,
"Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hung củ dân
tộc La Mã) và dân Scipios.... Chủ định của chúng tôi là phục hồi điện
Capitol và giải phong nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi
đòi." Quân Cách Mạng Pháp tiến chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa Ước
Tolentino được ký kết giữa Tướng Bonaparte và Giáo Triều Vatican. Đây
là một sự sỉ nhục cho Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp
một khoản tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ
(Giáo Hòang Pius VI phải đem các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra
đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị
tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong lãnh thổ của Tòa
Thánh Vatican phải mở cửa cho hạm đội Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ
bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý, Pháp,
Naples, và Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799)
than thở, "Hòa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và
Quirinal, truất phế Giáo Hoàng Pius VI và thiết lập nước Cộng Hòa La
Mã...." Nguyên văn:("First, France, "eldest daughter of the
church "he used to call it, abolished all religion, beheaded its king,
enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000
priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished
all seminaries, schools, religious orders, burned all churches and
libraries, then sent the Corsian Bonaparte to liberate Italy and Rome"
"Just as you please," wrote the Paris government to the Corsian.
"Destroy Rome and the papacy utterly " "We are the friends of the
descandants of Brutus and the Scipios... Our intention is to restore the
Capitol to free the Roman people from their long slavery," The Corsian
declared in May 1796, just before taking Rome. Then the capture, and the
humiliation of the Peace of Tolentino between the papacy and the
Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius melted
down all available siver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500
rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal harbors to the
French fleet; renunciation of all property in Italy and France and
Naples and Sicily - everywhere. "They made us their prisoner Spina,"
mutters Pius. "Peace treaty! Bah!" The Vatican and Quirinal were
occupied by French troops. They deposed Pius, and created the republic
of Rome...."[7]
Kể từ đó, nhân dân Pháp được tự do sử dụng thành
ngữ "les corbeaux noirs"(lũ quạ đen) để nói về các ông linh mục mà
không còn sợ bị trừng phạt vì "phạm tội báng bổ thần thánh." Nhờ vậy mà
Cách Mạng Pháp 1789 mới được nhân dân thế giớihết lòng khâm phục. Cũng
từ đó, mỗi khi nhìn thấy lá cờ tam tài là người ta nhớ ngay đến cái
hào hùng hiên ngang của nước Pháp đã giơ cao ngọn cờ tự do phất lên cho
các dân tộc khác noi theo vùng lên đạp đổ bạo quyền, khử diệt cái ách
độc tài của “cái tôn giáo ác ôn”[8]
Thế nhưng, vì các biện pháp mạnh trên đây vẫn chưa đủ mạnh
để diệt tận gốc trốc tận rễ cái họa Vatican. Lý do: vì chính quyền Cách
Mạng Pháp 1789 đã không ban hành một bằng đạo luật, cấm không cho tín đồ
Ca-tô được lên cầm quyền như nước Anh đã ban hành đạo luật Đạo Luật Ổn
Định 1691. Vì thế mà tín đồ Ca-tô người Pháp vẫn còn là cái nguồn nhân
lực cho Vatican lợi dụng, xúi giục họ nổi loạn chống lại dân tộc Pháp và
gây ra cái họa chế độ đạo phiệt Ca-tô của hai tên bạo chúa Louis XVIII
(1814-1824), Charles X (1824-1830), phá nát cả công trình Cách Mạng
1789. Tình trạng này khiến cho nhân dân Pháp lại một lần nữa phải vùng
lên bằng cuộc Cách Mạng tháng 7/1830, và lùng bùng kéo dài cho tới đầu
thập niên 1870 (gần một thế kỷ) mới dứt khoát khử diệt được cái họa
Ca-tô này. Kể từ đó, tín đồ Ca-tô người Pháp không còn có cách nào trỗi
dậy được nữa. Xin xem Chương 4 trong sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt
Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX Đa Nguyên, 2004) của tác giả Nguyễn
Mạnh Quang.
Tại Tây Ban Nha, năm 1936, nhân dân quốc gia này cũng vùng lên đạp đổ
chế độ đạo phiệt Ca-tô đương thời, nhưng rồi bị con cáo già Vatcan liên
kết với Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý đánh bại chính quyền cách mạng, khiến
cho nhân dân quốc gia này phải tiếp tục sống kiếp đời tôi đòi hèn mọn
cho Vatican cho đến khi tên bạo chúa Ca-tô Francisco Franco
(1892-1975) từ giã cõi đời này đi về nước Chúa vào ngày 20/11/1975.
Tại Ý, năm 1870, nhân dân Ý cũng vùng lên làm cách mạng, chiếm lại
tất cả các tiểu quốc nằm dưới quyền trực trị của Vatican (papal states)
và các vùng đất trong kinh thành Rome, chỉ để lại cho Vatican một diện
tích nhỏ bé (0.4 km2) như ngày hôm nay. Nhưng rồi đến năm 1929, Vatican
lại cấu kết với tên bạo chúa Benito Mussolini (1883-1945) qua Thỏa Hiệp
Lateran (11/2/1929) để được hưởng những đặc quyền đặc lợi trên mồ hôi, nước
mắt và xương máu của nhân dân Ý. Mãi tới cuối thập niên 1970, Quốc Hội Ý
mới ban hành một đạo luật theo đó thì quyền độc tôn tôn giáo của Vatican
bị truất bỏ và quyền tự do tôn giáo của người dân được luật pháp triệt
để tôn trọng và bảo vệ.
Tại Đức, cuối thập niên 1520, nhân dân Đức cũng vùng lên theo
Linh-mục Martin Luther (1483-1546) chống lại Vatican. Biến cố này đưa
đến việc hình thành đạo Tin Lành. Tôn giáo này cương quyết đối đầu với
Giáo Hội La Mã cho đến ngày nay. Sau Đệ I Thế Chiến, Đức bại trận, phải
bồi thường chiến phí cho các nước Đồng Minh Anh Pháp, khiến cho kinh tế
Đức kiệt quệ, nhân dân Đức khốn khổ. Tình trạng khốn đốn này của dân Đức đã giúp cho
Adolf Hitler (1889-1945) gây được thanh thế và lên cầm quyền,
rồi cấu kết với Vaticani gây ra cuộc tắm máu tàn sát tới 6 triệu người
Do Thái cùng với việc gây ra thảm họa Đệ Nhị Thế Chiến. Cuộc chiến
này đã làm cho gần một trăm triệu sinh linh bị giết hại, không biết bao
công trình kiến trúc bị tàn phá, không biết bao nhiêu tài sản và mùa
màng bị tiêu hủy.
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy con cáo già Vatican đã lợi
dụng tín đồ Ca-tô và xúi giục họ đánh phá các dân tộc và các quốc gia
trên thế giới để thiếp lập chế độ đạo phiệt Ca-tô làm tay sai cho Giáo
Hội La Mã rồi tàn sát những người dân thuộc các tôn giáo khác. Đây cũng là
lý do TẠI SAO nhân dân Âu Châu lại ghê tởm và lánh xa Giáo Hội như lánh
hủi:
“Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh trong thời
cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành
dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng
bạc biển, đã không biết tự chế, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như
cỏr rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử con nằm trơ ra đó. Người Âu Châu
khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi.”[9].
Theo gương nước Anh, Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha,
các nước khác như Mễ Tây Cơ, Liên Sô, Trung Quốc, Cuba, Nicaragua,
v.v.. lần lượt vùng lên làm lịch sử, giải trừ cho dân tộc họ thoát khỏi
cái ách thống trị bạo ngược của “cái giáo hội khốn nạn” này. Vấn đề
này sẽ được trình bày đầy đủ nơi Phần VII trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ
Tội Ác của Giáo Hội La Mã.
Chính quyền Cách Mạng Việt Nam 1945 cũng đã làm gần giống như chính
quyền Cách Mạng Pháp Anh 1691, Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Mế Tây Cơ
1857, v.v… và đã hoàn thành được những nhiệm vụ cao cả của lịch sử:
1.- Đánh tan Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican để
giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.
2.- Đánh tan Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican để đòi lại miền Nam cho
tổ quốc, đem lại thống nhất cho đất nước và vinh quang cho giống nòi.
3.- Tịch thu toàn bộ tài sản của thực dân xâm lược Pháp và của Giáo
Hội La Mã, ngoại trừ các ngôi nhà thờ của tín đồ Ca-tô.
4.- Ban hành những đạo luật pháp nhằm tước bỏ mọi đặc quyền đặc lợi
của giai cấp tu sĩ Ca-tô mà trước kia chế độ bảo hộ Pháp - Vatican đã
dành riêng cho họ.
5.- Giúp đỡ tín đồ Ca-tô còn triền miên trong cơn mộng du mơ về nước
Chúa sớm quay về với dân tộc để họ thức tỉnh trút bỏ cái tinh thần nô lệ
làm tôi tớ hèn mọn cho Vatican, tẩy xóa cái tinh thần "thà mất nước,
chứ không thà mất Chúa" hầu có thể cùng với đại khối dân tộc "khóc
cười theo mệnh nước" và "chìm nổi với quê hương".
6.- Thực hiện một cuộc cách mạng ruộng đất bằng những biện pháp
tịch thu toàn bộ những khoản ruộng đất khổng lồ mà Giáo Hội La Mã và
bọn Việt gian đã dựa vào chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican
cướp đoạt của dân ta trong những năm 1862-1945 để đem lại công bằng về
kinh tế ở trong nông thôn.
7.- Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân để sống xứng
đáng với mức sống và nếp sống của con người trong thời đại văn minh điện
tử.
8.- Mở rộng nền ngoại giao, kết thân với tất cả quốc gia trên thế
giới để cùng sánh vai nhau chung lưng góp sức vào việc cải tiến đời sống
con người ở trên trái đất này cho càng ngày càng thêm tốt đẹp. Nhờ vậy
mà Việt Nam đã được bầu làm hội viên của Hội Đồng Bảo An trong tổ chức
Liên Hiệp Quốc trong nhiệm kỳ hai năm 2007-2009.
Do những thành tích rực rỡ trên đây mà nhân dân khắp nơi trên thế
giới, mỗi khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng là người ta nghĩ ngay đến
người Việt Nam anh hùng, nghĩ đến một dân tộc đáng kính phục, và ngược
lại, mỗi khi người nước ngoài gặp người Việt Nam là nghĩ ngay đến nước
Việt Nam kiên cường và anh dũng với lá cờ đỏ sao vàng.
(xem các bài tiếp trong Chương ba:) 1
2 3
4 5
CHÚ THÍCH
[1] Trần Trọng
Kim, Nho Giáo – Tập I (Sàigòn: Tân Việt, 1952), tr. 45-46.
[2] Thomas P. Neil,
Story Of Mankind (New York: Holt, Rinehart and Winston Inc.,
1968), p 366.
[3] Arnold Schrier
& T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois:
Scott Foresman and Company, 1974), p. 398.
[4] Arnold Schrier
& T. Walter Wallbank, Ibid., p. 398.
[5] Arnold Schrier
& T. Walter Wallbank, Ibid.,p. 398.
[6] Carlton J. H.
Hayes, Modern Times: The French Revolution to the Present (New
York: Macmillan Publishing Co., Inc., 1983), p.35.
[7] Malachi
Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P.
Putnam's Sons, 1981), pp. 232-233.
[8] Bùi Đức Sinh,
Lịch Sử Giáo Hôi Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn: Chân Lý, 1972,
tr.16.
[9] Nhiều tác giả,
Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr.
245.