Phần II : SÁCH KINH
CÔNG GIÁO VÀ TÁC HẠI CỦA NÓ
(tiếp theo)
5. NHỮNG TÁC HẠI NGUY HIỂM
CỦA CÁC SÁCH KINH CÔNG GIÁO
Để trưng dẫn các bằng chứng cụ thể về những
tác hại nguy hiểm do các sách kinh nguyện Công Giáo gây ra cho tinh
thần của giáo dân Việt Nam, chúng tôi chọn hai cuốn sách kinh nguyện
tiêu biểu sau đây:
a). Sách kinh nguyện NHỰT KHÓA của tổng giáo
phận Sài gòn, có sự phê duyệt của TGM Nguyễn Văn Bình ngày
19.3.1971, là sách kinh nguyện chính thức của cả Tổng giáo phận Sài
gòn bao gồm tập thể giáo dân toàn Miền Nam.
b). Sách TOÀN NIÊN KINH NGUYỆN của hai địa phận
Bùi Chu và Hà Nội in chung thành một cuốn, do Cơ Sở Dân Chúa – P.O
Box 1419 Gretna, LA 70053, USA xuất bản. Địa phận Bùi Chu là cái nôi
của Công gíao Việt Nam và địa phận Hà Nội nay đã thành Tổng giáo
phận bao gồm tập thể giáo dân miền Bắc Việt Nam. Trong những lần
xuất bản trước đây tại Việt Nam, những sách này đã được giám mục Hồ
Ngọc Cẩn và các giám mục quản nhiệm khác duyệt xét cẩn thận. Trong
lần xuất bản tại hải ngoại này, Linh Mục Việt Châu là chủ nhiệm
nguyệt san Dân Chúa đứng ra xuất bản và viết lời giới thiệu với các
giáo dân tại hải ngoại.
Do vậy, hai sách kinh nguyện này thiết tưởng
cũng đủ là đại diện cho toàn thể các sách kinh nguyện của Giáo hội
Công Giáo Việt Nam. Để tiện việc trích dẫn, chúng tôi dùng chữ tắt
NK để chỉ sách kinh nguyện Nhựt Khóa và chữ TNKN để chỉ sách Toàn
niên Kinh nguyện, số theo sau những chữ tắt nói trên là số trang
trong các sách dẫn chiếu.
Những điều trình bày sau đây chỉ là những nét
điển hình về tính chất phản văn hóa dân tộc và những tác dụng đầu
độc tinh thần trong nội dung của một số bài kinh nguyện mà thôi.
Hiện nay tại hải ngoại có nhiều tiệm sách Việt ngữ cũng có bày bán
những sách kinh nguyện tương tự, chúng tôi đề nghị quí vị có quan
tâm đến vấn đề này có thể mua về nghiên cứu để kiểm chứng và tìm
hiểu thêm.
1. Đề cao bạo lực:
Người Công Giáo quan niệm Thiên Chúa là một vị
thần chiến tranh luôn luôn đứng cùng phe với họ để giúp họ tiêu diệt
những người chống họ hoặc không theo họ. Trong các lễ Misa ở nhà
thờ, không bao giờ thiếu Kinh Nguyện Thánh Thể, trong đó có câu:
"Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên chúa các Đạo Binh. Đất trời đầy
vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên các tầng trời: (NK 581). Quan
niệm này phát xuất từ đạo Do Thái của Moses qua chuyện kể trong Cựu
Ước Exodus về việc dân Do Thái nổi loạn chống lại Ai Cập để thoát
vòng nô lệ và tìm đến Đất Hứa. Người Do Thái xưa thường ca ngợi
Thiên Chúa là Yahweh Sabaoth có nghĩa là Thiên Chúa của các đạo binh
(God of Armies). Đây là một quan niệm ngây ngô của những bộ lạc bán
khai về thần linh. Bà Karen Amstrong, nguyên là một nữ tu Công Giáo
gốc Ái Nhĩ Lan, đã viết về quan niệm này trong tác phẩm bestseller
của bà như sau: "Đây là một Thiên Chúa tàn bạo, thiên vị và hiếu
sát, một vị thần chiến tranh hay nói đơn giản là vị thần của bộ lạc.
(This is a brutal, partial and murderous god, a god of war... and is
simply a tribal deity – A History of God, p.19).
Tâm lý chung của con người là luôn luôn muốn
mình trở nên giống như thần tượng mà mình tôn thờ. Quan niệm về
Thiên Chúa như một hung thần chiến tranh mà người Công Giáo ngưỡng
mộ dần dần sẽ hình thành nơi tâm hồn họ xu hướng ham chuộng bạo lực.
Lịch sử bành trướng đạo Công Giáo là lịch sử chiến tranh đẫm máu kéo
dài qua nhiều thế kỷ đã chứng minh Công Giáo là một tôn giáo của bạo
lực. Đây cũng là nét đặc trưng phản ảnh tính chất văn hóa phi nhân
bản (inhumanity) của đạo này. Những bài kinh ca ngợi bạo lực đã làm
xói mòn bản chất nhân hậu hiền hòa nơi những người giáo dân vốn xuất
thân từ những nông dân chất phát Việt Nam. Điều này giải thích cho
ta hiểu lý do vì sao mọi người Công Giáo đều mất gốc và đã tự biến
thành những kẻ lạc loài trên quê hương Việt Nam.
2. Công Giáo Việt Nam hùa theo chủ trương diệt
chủng Do Thái của Đế quốc La Mã:
Ai cũng biết đế quốc La Mã, chứ không phải dân
Do Thái, bắt và đóng đinh Jesus trên thập giá vì vào thời đó nước Do
Thái bị La Mã đô hộ nên quyền xét xử các tội nhân bản xứ hoàn toàn
thống thuộc chính quyền của mẫu quốc. Đặc biệt việc áp dụng hình
phạt đóng đinh trên thập giá là đặc quyền của đế quốc La Mã đối với
nô lệ và dân thuộc địa. Người La Mã không áp dụng hình phạt này đối
với các công dân của họ. Ngược lại, chính quyền bù nhìn Do thái thời
đó do vua Herode cầm đầu cũng được phép xử tử tội nhân nhưng chỉ
được dùng những cách thức thông thường như ném đá hoặc chém đầu chứ
tuyệt đối không được phép áp dụng hình phạt đóng đinh tội nhân trên
thập giá.
Đạo Công Giáo do hoàng đế La Mã Constantine
thành lập năm 325, với ý đồ dùng tôn giáo làm phương tiện xâm lược
toàn cầu, đã tôn Jesus vốn là nạn nhân của đế quốc La Mã lên thành
Thiên Chúa tối cao nên bọn đế quốc đã tìm mọi cách đổ tội giết Jesus
cho do Thái. Vì chẳng lẽ đế quốc La Mã lại tôn thờ một người do
chính tay mình giết chết hay sao? Đó là nguyên nhân chính yếu đã
khiến cho đế quốc La Mã ra sức tuyên truyền xuyên tạc lịch sử nhằm
tạo nên thành kiến thù ghét Do Thái triền miên trong lịch sử Âu Châu
và cũng từ đó dẫn đến chủ nghĩa diệt chủng Do Thái của Vatican trong
nhiều thế kỷ qua. Để thực hiện chủ trương này, Vatican đã soạn ra
những bài kinh nhằm mục đích chạy tội giết Jesus của đế quốc La Mã
mà đại diện của nó là quan toàn quyền Phong-xi-ô Phi-la-tô (Pontius
Pilatus). Những âm mưu nham hiểm này được biểu lộ rõ nét nhất qua
những bài kinh ngắm 14 nơi của Đàng Thánh Giá (TNKN 69-86) và kinh
Ba Ngày Lễ Đèn (NK 250-277).
Sự thật lịch sử là quan toàn quyền La Mã
Pontius Pilatus (Pilate) đã tuyên án xử tử Jesus về tội xúi giục dân
chúng chống chính quyền, cũng tương tự như vua Herode chém đầu sư
phụ của Jesus là Gio-an Bao-ti-xi-ta về tội này ba năm về trước.
Chính Pilate trao Jesus cho toán lính La Mã thuộc quyền, do đại úy
Longinus dẫn đầu, đem Jesus lên núi Sọ (Golgotha = Skull) để hành
hình bằng cách lột trần truồng trước khi đóng đinh vào thập giá. Cái
khố của Jesus trên thập giá tuy chỉ là một vật ngụy tạo nhỏ xíu
nhưng thật sự nó là một tấm màn vĩ đại che lấp mọi sự dối trá bỉ ổi
của Ki-tô Giáo nói chung và của Công Giáo La Mã nói riêng. Xin đọc
thêm "Cái Khố Của Jesus Trên Thập Giá" của Charlie Nguyễn đăng trên
Đông Dương Thời Báo – Houston, số 69 ngày 30.7.1998. Bài này được in
lại trong tác phẩm "Thực Chất Của Giáo Hội La Mã", quyển 1 của giáo
sư sử học Nguyễn Mạnh Quang, tr. 360 –365).
Tuy nhiên sự ngụy tạo cái khố của Jesus trên
thập giá không bỉ ổi cho bằng sự kiện quân lính La Mã luôn luôn hiện
diện trong suốt lộ trình của Đàng Thánh Giá nhưng trong 14 bài kinh
của nghi thức cầu nguyện này không hề nói đến quân La Mã mà chỉ dùng
những danh từ như "quân dữ", "quân độc ác" hoặc "quân Giu-dêu" để
chỉ người Do Thái. Thí dụ những câu như: "quân dữ toan đóng đinh Đức
Chúa Giê xu thì nó lột áo ra hết"; "Tôi khen lòng mạnh bạo bà
Veronica chẳng sợ quân dữ". Khi đọc các bài kinh này, giáo dân Việt
Nam có ấn tượng "quân dữ" là người Do Thái chứ không phải là quân La
Mã!. Ngoài ra còn có nhiều câu kinh miệt thị Do Thái và cố ý qui
trách nhiệm giết Jesus cho họ như: "Đừng bắt chước quân Giu-dêu...
Khi Phi-la-tô nghe lời quân Giu-dêu gắn vó van nài xin tha Baraba
thì liền phú Đức Chúa Giê-xu cho quân lính đánh đòn cho đẹp lòng dân
Giu dêu..." (KN 297). Ghê gớm nhất là lời nguyền rủa truyền kiếp độc
địa được gán cho là lời của Jesus nguyền rủa dân tộc mình trong kinh
Ba Ngày lễ Đèn (NK 250-277): "Đức Chúa Giê xu liền trở mặt lại mà
phán rằng: Ớ con thành Giê-ru-sa-lem bay chớ khóc thương Tao làm
chi, bay hãy khóc thương bay cùng các con cháu bay ngày sau phải
khốn mà chớ..." (NK 266). Nhiều câu kinh khác trắng trợn xuyên tạc
lịch sử để gở tội cho La Mã: "Khi phi-la-tô thấy quân độc ác làm
khốn cho Đức Chúa Giêxu thới quá [Thái quá, quá nhiều.]
thì động lòng thương" (NK 263), "Vậy quan ấy
tra hỏi căn do mới biết Người chẳng có tội gì cho nên quan ấy có ý
muốn tha mà quân Giu-dêu ngăn cản chẳng chịu" (NK 259).
3. Công Giáo Việt Nam coi rẻ công ơn cha mẹ tổ
tiên và các anh hùng dân tộc,
ngược lại họ hết sức tôn sùng những kẻ
loạn luân mất dạy. Điều này cho ta thấy Công Giáo là đạo mất dạy số
Một.
Trong kinh Ăn Năn Tội có câu: "Lạy Chúa là cha
rất nhân từ hơn cha mẹ thế gian bội phần" (NK 745). Câu kinh này
phản ảnh đúng theo lời dạy của Jesus. Bản thân Jesus là một đứa con
hoang nên Jesus thù ghét cha nuôi và mẹ ruột của y. Vì thế y đã dạy
người khác bất hiếu với cha mẹ của họ. Phúc âm của Matthew
(10:34-37) có chép lời Jesus như sau: "Chớ tưởng rằng ta đem hòa
bình cho thế gian. Ta đến không phải đem lại hòa bình mà là gươm
giáo. Ta đến để phân rẻ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu
với mẹ chồng và mọi người trong gia đình là thù nghịch của nhau. Ai
yêu cha mẹ hơn yêu ta thì không xứng đáng với ta". (Think not that I
am come to send peace on earth. I came not to send peace but a
sword. For I am come to set a man at variance against his father,
and the daughter against her mother and the daughter in law against
her mother in law. And a man’s foes shall be they of his own
household. He that loveth father or mother than me is not worth of
me). Chỉ có những đứa con bất hiếu mới nghe nỗi những lời mất dạy đó
của Jesus. Nếu quả thật Jesus đã nói những lời đó thì Jesus cũng là
một gả mất dạy số Một và cái chết thê thảm của y trên thập giá cũng
chưa đủ đền tội của chính y!
Trong nhiều thế kỷ qua, các giáo hoàng La Mã
luôn luôn qui kết việc thờ cúng tổ tiên là thờ cùng ma quỉ nên người
Công Giáo không lập bàn thờ gia tiên ở trong nhà. Đối với các vị anh
hùng dân tộc thì người Công Giáo hoàn toàn dửng dưng. Ngược lại,
người Công Giáo Việt Nam rất tôn sùng những kẻ loạn luân và vô đạo
đức như Abraham và David... Abraham lấy em gái ruột làm vợ và toan
giết con ruột mình để tế thần. David là một tên vua dâm dật vô độ. Y
có cả ngàn cung nữ trong các nhà chứa gọi là ‘harem" mà vẫn chưa đủ
thỏa mãn dục vọng. Vì quá say mê vẻ đẹp của bà Bathseba trong dịp
David nhìn trộm bà Bathseba tắm truồng trên sân thượng nên y đã tìm
cách sát hại chồng của bà là một vị tướng dưới quyền để cướp vợ của
ông. Kinh Thánh Tân Ước không coi chuyện này là một điều xấu xa tội
lỗi mà còn hãnh diện xác nhận cuộc tình tội lỗi này đã sinh ra các
tổ tiên của Jesus. Tất cả để chứng tỏ Jesus là hậu duệ đời thứ 28
của tên dâm David! Chuyện tình tội lỗi bẩn thỉu này chẳng có gì đáng
hãnh diện cho David và Jesus. Vậy mà các sách kinh Công Giáo hết lời
ca ngợi David là Vua Thánh: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là
chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật đặng hiệp
làm một cùng vua thánh David" (NK 330).
Trong kinh cầu Đức Bà có câu: "Đức Bà là lầu
đài David". Mọi người Công Giáo Việt Nam muốn hiểu lầu đài David" là
cái gì thì hãy chịu khó đem sách kinh Cựu Ước ra đọc (Các Vua-Sách
thứ nhất) tất nhiên sẽ thấy đó là các harem chứa gái cho tên hôn
quân David hành lạc! Ở đây tôi xin trích một đoạn ngắn để quý vị rõ.
Quí vị sẽ thấy chuyện trong Thánh Kinh còn hay hơn chuyện "Chú Tư
Cầu" hoặc chuyện "Cậu Chó" của Việt Nam trước 1975: "Vua David đã
già vì đã cao tuổi lắm, người ta đã lấy vải phủ lên Ngài rất nhiều
nhưng ngài vẫn chẳng thấy ấm chút nào. Bọn hầu cận bàn với nhau là
cần phải tìm cho ngài một cô gái trinh thật đẹp dẫn đến trước mặt
ngài. Hãy dạy cho cô ta biết cách làm cho ngài thích thú. Hãy đặt cô
ta nằm trong lòng ngài thì vua thánh của chúng ta mới sưởi ấm". Xin
để quý vị đọc tiếp Chapter 1, the Third Book of the Kings của Cựu
Ước, tôi xin miễn kể tiếp!
Điều bỉ ổi hơn nữa là Công Giáo La Mã ngụy tạo
những bài kinh để che dấu những dối trá bịp bợm đã có sẵn từ trước.
Đó là trường hợp hai bài kinh sau đây:
1. Kinh Ông Thánh Gioakim (trang 189 TNKN):
"Lạy ông Thánh Gioakim là đấng rất sang trọng về dòng dõi vua David,
Đức Chúa Trời đã chọn mà ban mọi sự lành cho cả loài người ta vì đã
dùng người cho được làm nên những mầu nhiệm Đức Chúa Trời tuyền ở
thế gian này..."
2. Kinh Bà Thánh Anna (trang 212 TNKN): "lạy
ơn Bà Thánh Anna là mẹ Thánh Nữ Vương, bà làm sáng thiên hạ vì sinh
được con thanh sạch sáng láng hơn mặt trời mặt trăng. Bà là đấng
sang trọng thuộc dòng vua David..."
Vấn đề đặt ra là tại sao Công Giáo phải bịa ra
hai bài kinh nói trên?
Chuyện rắc rối khởi đầu từ việc Cựu Ước của Do
Thái "tiên tri" Chúa Cứu Thế phải là người thuộc dòng dõi của vua
David. Dù cho David hoang dâm vô độ nhưng lịch sử Do Thái vẫn coi
Daid là vị anh hùng số một. Chúa Cứu Thế được dân chúng mong chờ như
một David tái thế, do đó Chúa Cứu Thế được người Do Thái quan niệm
như một vị vua David mới (Christ is the New King David). Chuyện rắc
rối kế tiếp là trong thế kỷ I sau Công Nguyên, người viết Tân Ước
lại chỉ nhấn mạnh đến ông Joseph là chồng của bà Maria và là cha
ruột của Jesus nên tác giả Tân Ước đã thuật lại cả một hệ thống dọc
gia phả từ David đến Joseph và không hề viết một điều nào chứng tỏ
bà Maria là người thuộc dòng dõi vua David cả. Như vậy rõ ràng Jesus
thuộc dòng dõi David vì là con ruột của Joseph, cho nên Jesus có thể
được chấp nhận là đấng Cứu Thế như Cựu Ước đã tiên tri. Nhưng nếu
điều nầy được chấp nhận thì bà Maria không thể Đồng trinh!
Vấn đề rắc rối kế tiếp xảy ra năm 451, sau khi
Công đồng Chalcedon công bố tín điều Đức Mẹ trọn đời đồng trinh
(dogma of the Perpetual Virginity). Người ta tự hỏi: "Nếu Chúa Jesus
là con của Đức Chúa Thánh Thần và Đức Bà Đồng Trinh thì Chúa Jesus
đúng là con của Đức Chúa Trời thật, Ngài không phải là Chúa Cứu Thế
[ Chúa trời và Chúa Cứu Thế là hai nhân vật khác nhau.]
vì Ngài không thuộc dòng dõi vua Thánh David
như Cựu Ước đã tiên tri! Chẳng lẽ Đức Chúa Thánh Thần cũng là con
cháu của David"? Theo lẽ thường ở trên đời, mọi sự gian dối luôn
luôn đẻ ra những sự gian dối khác, nhưng mọi sự gian dối thường lâm
phải tình trạng "dấu đầu hở đuôi". Tuy vậy, vốn sẵn bản chất đại lưu
manh chuyên nghiệp, tòa thánh La Mã đã trơ trẽn sáng chế hai bài
kinh nói trên (mặc dầu không có căn bản Thánh Kinh – Unscriptural)
nhưng cốt để tín đồ tin rằng cả cha lẫn mẹ của bà Maria là Gioakim
và Anna đều thuộc dòng dõi của vua David, cho nên Jesus dù là con
của Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng trinh cũng vẫn thuộc dòng dõi
David như thường! Tôi nêu lên những điều trên đây để yêu cầu Linh
Mục Việt Châu, Chủ nhiệm Nguyệt San Dân-Chúa kiêm đại diện Cơ Sở
Xuất Bản Dân-Chúa (P.O. Box 1419 Gretna, LA 70053) chịu trách nhiệm
xuất bản sách Toàn Niên Kinh Nguyện, trả lời cho độc giả bốn phương
được biết Kinh Thánh nói ông Gioakim và bà Anna thuộc dòng dõi vua
David ở đoạn nào? Nếu LM Việt Châu không trả lời nổi thì mọi cuốn
sách Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu-Hà nội cần phải được thu hồi để
vứt bỏ.
Cho nên người ta gọi Công Giáo là đạo bịp hay
đạo dối, thật không sai chút nào. Nếu phải kể cho hết những chuyện
bịp của Công Giáo chắc phải viết một tràng thiên tiểu thuyết thì may
ra mới tạm đủ. Riêng về chuyện Thánh Phêrô là giáo hoàng đầu tiên
cũng có hàng chục chuyện bịp. Chẳng hạn cái được gọi là "Chiếc ghế
Phêrô" (Chair of Peter) cốt để mọi người tin rằng Công Giáo là đạo
chính truyền của chúa Jesus qua thánh Phêrô. Vào tháng 7 nam 1968,
một phái đoàn khoa học quốc tế đã đến tận Tòa Thánh giảo nhiệm bằng
phương pháp Carbon (Carbon dating method) đã xác nhận chiếc ghế này
được ngụy tạo trong thế kỷ 9. Còn tượng thánh Phêrô bằng đồng đen
rất lớn đứng gần bàn thờ chính trong Đền Thánh Phêrô đã được toàn
giáo hội Công Giáo tôn kính nhiều thế kỷ qua với hàng triệu triệu
người đã quì mọp hôn chân tượng này. Các nhà khoa học và khảo cổ xác
định bức tượng này là tượng Thần Jupiter của các hoàng đế thời cổ La
Mã vài thế kỷ trước khi Jesus ra đời!. (Babylon Mystery Religion, p.
78-). Chúng ta thường nghe Vatican khoe khoang rằng: "Giáo hoàng là
đấng thừa kế ngôi vị của Thánh Phêrô" (Saint Peter’s Successor)
nhưng có lẽ ít ai biết giáo hoàng nào là người đầu tiên nêu lên danh
hiệu này. Tôi xin kể lại một lần nữa hầu quí vị nghe câu chuyện
thương tâm của giáo hoàng Joanne như sau:
Giáo hoàng này nguyên là một cô gái, hồi còn
nhỏ có tên là Catherine tinh nghịch. Vào đầu thế kỷ 9, cô gái đến
tuổi trưởng thành đã giả trai xin vào tu ở một Dòng Nam với sự cải
tên là Joanne. Dần dần bà trở thành một thầy tu rất nổi tiếng về tài
hùng biện. Bà đã để lại nhiều bài diễn văn độc đáo hiện còn lưu trữ
trong văn khố của Tòa Thánh. Nhiều sử gia Ý như Petrarch, Boccacio
đã viết sách ca ngợi sự học vấn uyên bác của bà. Vào năm 855, Giáo
hoàng Leo IV qua đời. Hội thánh Công Giáo lúc đó nhận thấy chỉ có tu
sĩ Joanne là người xứng đáng nhất kế vị giáo hoàng. Kết quả là Hội
Thánh dưới sự "hướng dẫn" của Đức Chúa Thánh Thần đã bầu tu sĩ
Joanne vào ngôi vị Đại Diện Chúa Ki Tô Dưới Trần Thế. Trong lễ đăng
quang, ngài tuyên bố "Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phê-rô". Giáo
hoàng Joanne cai trị Hội Thánh của Chúa được ba năm rất ngon lành
thì một tai biến bất ngờ xảy ra cho ngài. Năm 858, tòa Thánh tổ chức
một cuộc rước kiệu trọng thể tại Rome.
Trong lúc Đức Thánh Cha đang
nghiêm trang đi theo đoàn kiệu thì bất ngờ ngài bị té xỉu, máu ra
lênh láng ướt hết đũng quần và bộ lễ phục giáo hoàng lộng lẫy sang
trọng. Lúc đó cả giáo hội kinh ngạc khám phá ra là Đức Giáo Hoàng
bị... sẩy thai!. Ngay lập tức sau đó, Giáo hoàng Joanne [Trong nhiều
sách liệt kê các triều đại giáo hoàng, không có tên nữ giáo hoàng
nầy.] bị lột trần truồng và bị đám tu sĩ của Tòa
Thánh lôi ra Công trường Colossium để cho dân chúng ném đá đến chết
tại chỗ. Nữ giáo hoàng thật ra chẳng có tội gì, ngài đã chết thảm
chỉ vì ngài là một phụ nữ. Linh mục nữ còn không được chấp nhận
huống hồ là Nữ Giáo Hoàng!
Ngoài các bài kinh ca ngợi tên hôn quân dâm
dật khét tiếng David, sách kinh Công Giáo Việt Nam cũng không thiếu
gì những bài kinh cầu ca ngợi tên mất dạy Abraham – ông tổ chung của
đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Nhưng điều đáng nói là trong những
bài kinh này, người Công Giáo Việt Nam đã sỉ nhục dân tộc mình: "Xin
Chúa đoái thương dân tộc Việt Nam đang còn ngồi trong bóng tối tăm
ngọai giáo. Chúa đã phán rằng ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi đông tây
đến nghỉ ngơi cùng thánh Abraham trên nước thiên đàng" (NK 144-145);
"Xin các thánh thần đem linh hồn này lên nơi vui vẻ cùng ông thánh
Abraham" (NK 330). Những bài kinh như vậy đã dẫn dắt người Công Giáo
Việt Nam xa rời dân tộc và từ đó đi tới chỗ phản quốc không còn bao
xa. Sách kinh Công Giáo chính là cội nguồn sâu xa đã đưa họ vào con
đường phản bội tổ quốc và dân tộc Việt Nam!
4. Những câu kinh nhục mạ các dân tộc Đông
phương là mọi rợ và nói lên ý đồ của Công Giáo Việt Nam muốn tiêu
diệt đạo Phật:
Trong kinh cầu ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e có
những câu như: "Ông Thánh Phan-xi-cô soi sáng phương Đông... là đá
tảng đỡ Hội thánh Phương Đông... Ông Thánh Phan-xi-cô phá tan đạo
bụt thần... Ông Thánh Phan-xi-cô là lịnh rao tiếng Đức Chúa Thánh
Thần cho những dân mọi rợ" (NK 782-791). Với những câu kinh nói
trên, rõ ràng Giáo hội Công Giáo Việt Nam đã công khai bày tỏ ý muốn
"phá tan đạo Phật" và công khai nhục mạ các dân tộc Đông phương,
trong đó có Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Đại Hàn, Tân Gia Ba,
Thái Lan... là những dân tộc mọi rợ! Quê hương của Phan-xi-cô là Tây
Ban Nha so với những con rồng Châu Á thôi chứ chưa cần phải so sánh
với Nhật Bản cũng đủ thấy cách xa nhau một trời một vực. Nếu dịch
các câu kinh này ra tiếng Tây Ban Nha cho họ đọc, chắc chắn những
người Tây Ban Nha có liêm sỉ phải cảm thấy xấu hổ.
Chúng ta cần phải hiểu thế nào là mọi rợ. Theo
tôi thì người Công Giáo hiện nay còn đang ở trong tình trạng rất mọi
rợ về tâm linh và còn lâu họ mới có thể trở thành người văn minh về
phương diện này. Trước hết, họ luôn luôn mang tâm cảm là những "con
chiên" tức những con cừu non (Lamb: young sheep). Giống cừu, nhất là
cừu non, thường rất ngu, chúng chỉ hùa theo bày như chuyện những con
cừu của Panurge mà học sinh trung học thời trước đã học qua những
giờ về Littérature Francaise đều biết. Muốn trở thành người Việt Nam
bình thường, người Công Giáo phải trải qua nhiều bước trong quá
trình tiến hóa tâm linh mới đạt được. Bước đầu tiên họ phải gạt bỏ
cái mặc cảm là bầy chiên ngu ngốc của Vatican để nhận ra nhân cách
con người của mình. Nghĩa là họ phải trải qua quá trình tiến từ súc
vật để trở thành người đứng thẳng (Homo Erectus).
Sau đó, họ cần phải loại bỏ cái thói xấu thích
ăn thịt người (Cannibal) dù chỉ là ăn thịt người tưởng tượng khi họ
xếp hàng lên phía bàn thờ cố đạo cho "Rước Mình Thánh Chúa". Phép bí
tích Mình Thánh Chúa đã biến người Công Giáo thành những kẻ ăn thịt
người vừa man rợ vừa ngây ngô đến tức cười sống giữa xã hội văn minh
của loài người chúng ta. Cách đây vài chục năm, tôi đã có lần lên
chịu lễ nhưng tôi không nuốt bánh Thánh. Tôi ra khỏi nhà thờ, nhổ
bánh Thánh xuống đất và dùng gót giầy đạp lên nó. Tôi đạp lên bánh
Thánh với cảm giác như mình đang hết sức đạp thẳng vào Giáo Hội Công
Giáo Hoàn Vũ và giáo hoàng ở Vatican. Nhờ hành động này, tôi cảm
thấy đã tiến hóa một lúc tới hai bước: Một là tôi từ bỏ thân phận
làm con cừu của Vatican để "trở lại" làm người. Đồng thời tôi đã
tiến một bước nhảy vọt về tâm linh từ một tên mọi rợ dã man ăn thịt
người để "trở lại" thành người bình thường trong xã hội. Sau khi trở
lại làm người bình thường, tôi phải học hỏi về cội nguồn dân tộc và
nhận thức được giá trị rất cao của nền văn hóa nhân bản của tổ tiên
chúng ta. Phải trải qua một quá trình tự giáo dục và chiến đấu với
bản thân hết sức quyết liệt, tôi mới có thể cải hóa tâm linh của
mình từ một tín đồ Công Giáo để tiến lên làm một người Việt Nam bình
thường như mọi người Việt Nam bình thường khác. Cho tới bây giờ, tôi
mới dám tự hào được làm một người Việt Nam bình thường! Khi bình tâm
nghĩ lại tôi cảm thấy đồng bào Công Giáo của mình thật đáng thương
vì họ còn ở trong tình tạng bán khai tâm linh mà chính họ không biết
nên đã quay ngược chê dân tộc mình là mọi rợ. Thật là một sự đau xót
vô cùng.
Trở lại với bài Kinh Cầu Ông Thánh Phan-xi-cô
Xa-vi-e, sau khi truy tìm qua nhiều sách kinh bằng Anh Ngữ, tôi nhận
thấy Phan-xi-cô tuy được coi là một cộng sự viên của Loyola lập ra
Dòng Tên [Dòng Tên (Jesuit) là một trong những dòng giáo sĩ hung hản
của Vatican, nhất là trong phong trào đi chiếm thuộc địa.]
nhưng chỉ một mình Ignatius Loyola được
Vatican lập lễ kính hàng năm vào ngày 31 tháng bảy. Phan-xi-cô không
có cái vinh dự này. Trong các sách kinh Công Giáo bằng Anh ngữ đều
có kinh cầu "thánh" Ignatius Loyola nhưng không có kinh cầu "thánh"
Phan-xi-cô. Do vậy, tôi nghĩ rằng bài "kinh cầu ông thánh
Phan-xi-cô" nói trên là sản phẩm riêng của giáo hội Công Giáo Việt
Nam. Bài kinh này rất dài so với các bài kinh khác vì nó chiếm tới
10 trang trong sách Nhựt Khóa (782-791). Đọc bài kinh này, chúng ta
sẽ thấy tác giả của nó là một kẻ có đầu óc u tối hẹp hòi và hoàn
toàn mù tịt về tiểu sử của Phan-xi-cô Xa-vi-e (Francis Xavier). Tiểu
sử của F. Xavier chứng minh rằng tu sĩ này đã thành công phần nào ở
Ấn Độ là nhờ biết sống hòa mình với đám tiện dân vốn bị khinh rẻ
trong xã hội theo Ấn giáo. Ông được dân địa phương có cảm tình đặc
biệt vì ông đã liên tục lên án gay gắt sự vô đạo đức và thói tham
lam tàn bạo của bọn thực dân Âu châu trên đất Ấn.
Phan-xi-cô sinh năm 1506 trong một gia đình
quí tộc tại Tây Ban Nha. Khi lớn lên, y được cha mẹ cho đi du học
Đại học Sorbonne – Paris. Tại đây vào năm 1530, y gặp tu sĩ Ignatius
Loyola và đã cùng với tu sĩ này lập ra dòng Tên (có nghĩa là một
dòng tu mang tên Jesus – The Jesuit Order) vào năm 1534. Từ năm 1540
đến 1548, Phan-xi-cô hợp tác với các tu sĩ Bồ Đào Nha giảng đạo ở Ấn
Độ, đã dụ dỗ được trên 100.000 dân nghèo Ấn Độ theo đạo. Do công
trạng này, Phan-xi-cô được Vatican tuyên dương là "tông đồ của Ấn Độ
(Aspostle of India). Sau khi giảng đạo tương đối có kết quả tại Ấn
Độ, Phan-xi-cô có tham vọng chinh phục Nhật Bản. Ngày 15 tháng 8 năm
1549, Phan-xi-cô Xa-vi-e đặt chân lên đất Nhật và cố gắng truyền đạo
tại đây trong 27 tháng nhưng hoàn toàn thất bại vì tinh thần dân tộc
của người Nhật quá cao. Phan-xi-cô Xa-vi-e quá chán nản nên đã viết
thư gửi cho Ignatus Loyola như sau: "tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ không
bao giờ tìm được một dân tộc nào có thể sánh ngang với người Nhật.
Họ là những người có phong độ tốt, hết sức tôn trọng danh dự là vật
quí giá hơn bất cứ cái gì khác trên thế giới này. Họ chỉ nghe những
điều được dẫn chứng bằng lý luận và khi ai lý luận với họ chứng minh
được điều họ làm là xấu thì họ sẽ bị thuyết phục bởi lý luận đó".
(It seems to me that we shall never find another race to equal the
Japanese. They are a people of good manners. They are men of honor
to a marvel and prize honor above all else in the world. They like
to hear thing propounded according to reason and when one reasons
with them, pointing out that what they do is evil, they are
convinced by this reasoning – All Saints by Robert Ellsberg, The
Crossroad Pub. NY - 1997, P. 528-529).
Năm 1552, sau khi để lại ở Nhật hai tu sĩ dòng
Tên người bản xứ là Arima và Bungo do y đào tạo để tiếp tục truyền
đạo, Phan-xi-cô một mình tìm cách nhập lậu vào Trung Quốc. Khi mới
đến đảo Sancian ở ngài khơi Hồng Kông thì Phan-xi-cô đột nhiên bị
bệnh và chết cô đơn tại đây ngày 3 tháng 12 năm 1552. Phan-xi-cô
hiển nhiên là một nhân tài và là một tông đồ truyền giáo xuất sắc,
nhưng không biết vì lý do gì, Chúa chỉ cho y được hưởng dương có 46
năm. Và dù cho Chúa có cho y được sống tới 460 năm chăng nữa chắc
chắn y cũng chẳng bao giớ "phá tan đạo bụt thần ma qủy" như những tu
sĩ cuồng tín Việt Nam ước mơ. Xa-vi-e được Vatican thương tình phong
thánh năm 1662. Năm 1927, y được Vatican ban thêm cho tước hiệu
"Thánh quan thầy của các đoàn thuyền giáo hải ngoại" (Patron of
foreign missions). Có lẽ vì tước hiệu này mà xứ đạo Công Giáo người
Hoa ở cuối đường Đồng Khánh – Chợ Lớn đã nhận Phan-xi-cô Sa-vi-e làm
thánh bổn mạng và dựng tượng Phan-xi-cô trên tháp chuông nhà thờ của
họ. Dân Saigon thường quen gọi cái nhà thờ Công Giáo Ba Tàu Chợ Lớn
này là nhà Thờ Cha Tam, một địa danh đi vào lịch sử Việt Nam với cái
chết thê thảm đền tội xứng đáng của anh em Diệm – Nhu năm 1963. Tạ
ơn Chúa! Deo Gracias! Tiện thể tạ ơn luôn cả Thánh Phan-xi-cô cho
thánh đỡ tủi.
Vào năm 1587, tại Nhật có khoảng 100.000 tín
đồ Công Giáo, phần đông tập trung tại Nagasaki. Trong thời gian này,
nhiều tàu chiến của Bồ Đào Nha đến xâm chiếm Nhật. Chính quyền Nhật
nắm được đầy đủ bằng cớ chứng tỏ các tu sĩ và giáo dân Công Giáo làm
nội ứng cho địch. Do đó, chính quyền Nhật ra lệnh xử tử bằng cách
đóng đinh các tu sĩ ngoại quốc và chém giết rất nhiều giáo dân. Tuy
nhiên, các tu sĩ dòng Tên vẫn tiếp tục nhập lậu vào Nhật truyền đạo.
Năm 1614, chính quyền Nhật mở cuộc hành quân đợt hai do tướng
Tokogawa Yagasu chỉ huy. Năm 1638, giáo dân còn sót lại ở Nagasaki
nổi loạn chống chính quyền. Lần này chính quyền Nhật nhất quyết
thẳng tay trừng trị nên đã ra lệnh cho tướng Iemitsu mang đại quân
đến dẹp loạn đồng thời đẩy lui quân Bồ Đào Nha xâm lược. Quân Nhật
giết luôn một lúc 37.000 giáo dân tại Nagasaki, đóng đinh các tu sĩ
và đánh đuổi bọn xâm lược Bồ Đào Nha ra khỏi lãnh thổ. Một số tàn
quân Bồ Đào Nha và giáo dân Nhật sống sót tìm cách vượt biên bằng
thuyền đến tỵ nạn tại Hội An - Việt Nam. Từ đó, trong hơn hai thế
kỷ, nước Nhật sạch bóng quân ngoại xâm và bọn giáo dân phản quốc
(The Secret History of the Jesuits, by Edmond Paris, translated from
French 1975. Chick Publications USA, p.51-52; National Geographic
Magazine, Vol.182, No.1, Nov.11.1992, p.56-93: "Portugal’s Sea Road
to the East").
Chiến thắng vẻ vang do quyết tâm tiêu diệt tà
đạo Công Giáo của người Nhật đã bảo toàn nền độc lập và văn hóa của
nước Nhật. Tinh thần dân tộc Nhật đã được hun đúc bởi Thần Đạo
(Shinto), tinh thần Võ sĩ đạo (Samourai) và tinh thần Phật Giáo đã
cứu nước Nhật thoát ách ngoại xâm và đưa nước Nhật lên địa vị siêu
cường ngày nay. Tiểu sử của Phan-xi-cô cũng như lịch sử nước Nhật đã
chứng minh không hề có chuyện Phan-xi-cô "phá tan đạo bụt thần" như
tác giả thiếu trí tuệ của bài kinh đã tưởng tượng và Phan-xi-cô cũng
chẳng bao giờ dám coi một dân tộc Đông phương nào là mọi rợ cả!
Ngược lại, Phan-xi-cô rất tôn trọng phong tục tập quán của các nước
ông ta đến giảng đạo và đó chính là yếu tố thành công của ông. Bài
kinh nói trên là một bằng cớ cụ thể chứng tỏ tính vong bản nặng nề
của các tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Chúng đã mù quáng xuyên tạc tiểu
sử của Phan-xi-cô và tán tận lương tâm đến mức dám cố tình nhục mạ
tổ quốc và các dân tộc Đông phương là những dân mọi rợ! Các tu sĩ
này thật sự là một đám cỏ dại trên cánh đồng văn hóa Việt Nam. Muốn
bảo vệ cánh đồng văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không tính đến
chuyện trừng trị đám cỏ dại nguy hiểm này. Việc đặt Công Giáo ra
ngoài vòng pháp luật phải là điều đương nhiên trong giai đoạn sắp
đến như nước Nga đã làm mấy năm trước đây.
5. Những câu kinh gây hận thù và chia rẽ dân
tộc:
Sau hơn bốn thế kỷ xâm nhập Việt Nam, tổng số
tín đồ Công Giáo cũng chỉ chiếm được khoảng 8% dân số cả nước. Cái
thiểu số này đã coi 92 % còn lại của dân tộc Việt Nam là "những
người ngoại đạo khinh rẻ công ơn cứu chuộc của Chúa". Kinh Cầu Cho
Kẻ Ngoại có câu: "Cúi xin Chúa từ rày về sau đừng để những người
ngoại đạo khinh dễ công ơn cứu chuộc, một xin Chúa nhậm lời cầu
nguyện các thánh cùng hội thánh là bạn thanh sạch con Chúa mà dong
thứ cho những kẻ ấy. Xin Chúa hãy nhớ lòng nhân từ Chúa mà che lấp
lỗi những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ lạy bụt thần (TNKN Bùi Chu,
Hà Nội, tr.18). Tệ hơn nữa là tới năm 1971, sách Kinh Nhựt Khóa của
TGP Saigon vẫn còn những câu kinh nhục mạ Phật Giáo nặng nề như sau:
"Ai chẳng nghe lời Hội Thánh trong mọi việc ấy là chẳng nghe lời
Chúa tôi. Tôi ước ao cho muôn vàn kẻ ngoại xứ này đặng bỏ bụt thần
ma quỉ mà trở lại cùng Chúa tôi" (NK 139). Trong thực tế, chẳng có
ai thờ quỷ cả, vì quỉ là những kẻ có tội bị Chúa giam cầm trong lửa
hỏa ngục đời đời, như tín đồ Công Giáo đã được dạy như thế, làm gì
còn quyền hành tung hoành tùy ý được. Chẳng qua là các tu sĩ Công
Giáo sử dụng danh từ "ma quỉ" chỉ nhằm mục đích để hạ nhục Phật Giáo
cho bỏ ghét mà thôi.
Nhưng theo kinh nghiệm bản thân của tôi thì
Kinh Bản (Kinh Bổn) nguy hiểm nhất vì kinh này trước đây giáo hội
buộc những người tân tòng và các trẻ em trong các gia đình Công Giáo
đều phải học thuộc. Riêng kẻ viết bài này đã bị cha mẹ bắt phải học
thuộc lòng từ năm lên bảy tuổi để được chịu phép xưng tội và rước lễ
lần đầu. Kinh Bổn được viết theo lối vấn đáp và trước đây ở quê nhà,
kinh này thường được đọc tại nhà thờ vào ngày Chủ nhật. Tôi nhớ như
in câu kinh sau đây vì nó đã làm cho tôi có ác cảm với mọi người
ngoại đạo trong suốt thời niên thiếu của tôi: "Hỏi: Kẻ lành là ai? –
Thưa: Kẻ lành là kẻ giữ đạo nên. Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo và kẻ giữ
đạo chẳng nên" (TNKN 325). Câu kinh này đã gây ấn tượng sâu xa trong
đầu óc non nớt của tôi cho rằng mọi người không theo đạo Công Giáo
đều là những kẻ ác cả? Do đó trong lòng tôi luôn luôn mang nặng một
mặc cảm nghi ngờ và thù ghét mọi người ngoại đạo. Sau này, khi đến
tuổi lớn khôn, tôi tự hỏi là tôi làm sao có thể sống sót được nếu
tôi phải sống giữa một đất nước có tới 92% dân số là những kẻ ác? Và
nếu 8% dân số Việt Nam theo đạo Công Giáo vẫn sống còn và phát triển
như ngày nay thì hiển nhiên những người Việt Nam ngoại đạo không
phải là những kẻ ác như kinh Bổn đã dạy! Quả thật, Kinh Bổn đã là
công cụ đầu độc tinh thần trẻ thơ Công Giáo Việt Nam trong nhiều thế
hệ qua, và nay cũng vẫn còn tiếp tục. Ngoài ra, người Công Giáo Việt
Nam còn bị nhiễm cái định kiến của giáo sĩ ngoại quốc cho rằng "có
đạo" là văn minh và ngoại đạo (Heathen) đồng nghĩa với kém văn minh
(uncivilized) hay mọi rợ (barbarous). Với các định kiến sai lầm về
dân tộc cũng như đối với đồng bào ngoại giáo do các sách kinh nguyện
đầu độc, tập thể Công Giáo Việt Nam vĩnh viễn xa rời dân tộc và vĩnh
viễn bị coi như cùi hủi đáng ghê tởm trên quê hương mình. Các sách
kinh nguyện đã biến tập thể Công Giáo thành một đám người xa lạ
không hồn, chẳng những sống gửi vô ơn trên quê hương Việt Nam mà còn
luôn luôn sẵn sàng làm nội ứng đắc lực cho đủ loại kẻ thù của Tổ
Quốc.
6. Những bài kinh nguyện sặc mùi văn hóa du
mục Do Thái – Ả Rập đã biến tập thể Công Giáo Việt Nam thành một
giáo hội súc vật hèn hạ:
Như đã trình bày ở trên, nếu cứ nhìn theo bề
ngoài thì ta thấy mọi người Công Giáo đều là những người bình
thường, nhưng sự thật bên trong họ là những tim óc bán khai. Họ
không phải là bán khai sao được khi họ còn ham đến nhà thờ để được
ăn thịt uống máu Chúa (cannibal). Nam nữ tín đồ ăn thịt uống máu
(Chúa) cho đả để rồi sau đó nam nữ tín đồ bài tiết Chúa ra ngoài qua
lối cửa trên hoặc cửa dưới um tùm. Thấy phát khiếp.
Do hậu quả của sự tự kỷ ám thị, những bài kinh
sặc mùi văn hóa du mục đã biến các tín đồ Công Giáo thành một đàn
cừu non và hạng tu sĩ đương nhiên trở thành những "chủ chăn" của họ.
Đầu óc ô nhiễm giáo lý Công Giáo của họ u tối như đêm ba mươi không
đèn không đóm nên họ không thấy điều đó là nhục. Trong khi đó, các
tu sĩ cao cấp như giám mục , hồng y, giáo hoàng cứ tưởng mình là
những "đấng" chăn cừu chăn dê thật nên mỗi khi làm lễ, chúng thường
cầm cây gậy mạ vàng tượng trưng cho cây gậy của những kẻ mục đồng
trên những đồng cỏ hoang dã ở Do Thái – Ả Rập xưa kia. Dưới con mắt
của tu sĩ cao cấp này, đoàn giáo dân chỉ là một bầy súc vật để cho
chúng ăn thịt. Kinh Dâng Cõi Đông Dương cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria
có câu: "Sau nữa, vì công nhiệp, Đức Mẹ chuyên cầu, xin cho cả dân
cõi Đông Dương nhờ có máu châu báu của con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu
chuộc, thảy đều nên một ràn cùng một kẻ chăn." (NK 170-172).
Trong sách kinh Công Giáo Việt Nam đầy dẫy
những câu kinh nhồi sọ giáo dân tinh thần nô lệ mù quáng khiến họ
chỉ biết cúi đầu tuân phục mọi mệnh lệnh của Vatican và tuyệt đối
tin tưởng vào một điều quái đản là "giáo hoàng La Mã không thể sai
lầm". Chẳng hạn như trong kinh Phạt Tạ Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa
Giê-xu có câu: "Chúng tôi xin đền tội chung cho các nước thiên hạ
hằng chống cưỡng cùng chẳng vâng phục lời Hội Thánh Chúa truyền dạy"
(N 130-131). "Ai chẳng vưng lời Hội Thánh truyền dạy trong mọi việc
là chẳng vưng lời Chúa tôi" (NK 137). "Chính đấng cai trị ở trên
trời là Đức Chúa Giê-xu và đấng ở dưới đất cai trị các giáo hữu khắp
thế gian là Đức Giáo Hoàng ở thay mặt Đức Chúa Giê-xu... Đức Chúa
Trời hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm
được" (TNKN 126-127). Tập thể giáo dân trở thành một bầy con chiên
tức bầy cừu non dại hoàn toàn tùy thuộc vào sự lãnh đạo của hệ thống
tu sĩ đứng đầu bởi giáo hoàng.
Giáo hoàng và bộ tham mưu đầu não trung ương
của thế giới Công Giáo đặt tại Vatican. Bộ tham mưu địa phương của
chúng nằm vùng tại các quốc gia có tín đồ Công Giáo là các Hội Đồng
Giám Mục. Tại nước ta, HĐGMVN trụ sở đặt tại số 40 phố Nhà Chung, Hà
Nội, là bộ tham mưu của bọn Việt gian nằm vùng thường trực trong
lòng dân tộc Việt Nam. Mọi mệnh lệnh của Vatican ban ra đều được ban
tham mưu này răm rắp thi hành, miễn sao phục vụ tối đa quyền lợi của
Vatican, chẳng bao giờ quan tâm đến quyền lợi và danh dự của dân
tộc. Các sách kinh nguyện là những công cụ chiến tranh tâm lý hữu
hiệu của Vatican nhằm đầu độc tinh thần giáo dân và biến họ thành
một lực lượng chính trị của Vatican mai phục sẵn trong lòng dân tộc
Việt Nam. Điều nguy hiểm là lực lượng chính trị này đồng nhất, đa số
là những tim óc bán khai và hung hăng cuồng tín, cho nên kẻ lưu manh
quốc tế ở Vatican rất dễ dàng xử dụng họ để tha hồ thao túng lũng
đoạn nội bộ nước ta. Các sách kinh nguyện thực sự đã trở thành những
trái mìn cài sẵn trong mọi ngóc ngách của căn nhà Việt Nam.
7. Các lời cầu nguyện của GH Jean Paul II
trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam năm 1988 tại Vatican có
nội dung vinh danh hay mạ lỵ người Công Giáo Việt Nam?.
Các sách kinh Công Giáo đều có những "kinh cầu
các thánh tử đạo Việt Nam". Nhưng các kinh ngày thường chỉ là những
lời ca tụng suông mà thôi. Phải đợi đến khi giáo hoàng Jean Paul II
tuyên đọc những lời cầu nguyện để tôn vinh 117 tử đạo Việt Nam ngày
19 tháng 6 năm 1988 [Trong Tòa "Thánh" Vatican có một số giáo sĩ
người Việt, họ đã vận động cố tình chọn ngày 19-6 với mưu đồ chính
trị. Đó là ngày của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.]
tại Vatican, chúng ta mới có thể hiểu được
những người tử đạo Việt Nam đã chết cho ai và với mục đích gì. Trong
bài kinh phong thánh có những câu sau đây:
"Các Ngài là niềm vinh quang của Jerusalem
"Là nỗi vui mừng của Israel
"Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam!
Tôi dám quả quyết rằng ngoài một thiểu số tín
đồ Công Giáo cuồng tín ra, tuyệt đại đa số người Việt ở trong nước
cũng như tại hải ngoại chẳng có ai cảm thấy một vinh dự nào trong
việc Vatican phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam. Trái lại, sự phong
thánh đó chỉ làm cho người Việt Nam gai mắt vì bị coi là một hành vi
khiêu khích đối với cả một dân tộc. Bởi lẽ người Việt Nam không quên
rằng sự du nhập đạo Công Giáo đã là nguyên nhân chính yếu đưa dân
tộc Việt Nam vào vòng nô lệ thực dân Pháp trong hơn 80 năm đau
thương ô nhục!. Chính những người tử đạo đã là nguyên nhân gây hận
thù và chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng
cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo ở Phát Diệm, Bùi Chu, Thái
Bình và Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo ở Miền Nam Việt Nam, gọi tắt là
UMDC (Unités Mobiles de Defense des Chrétiens) trong công cuộc chiến
tranh Việt-Pháp 1946-1954.
Trong cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của
thực dân Pháp 1946-1954, các giám mục Việt gian Lê Hữu Từ và Phạm
Ngọc Chi đã ra sức phục vụ cho thực dân tại miền Bắc dưới chiêu bài
chống Cộng Sản vô thần. Sau 1954, Lê Hữu Lễ và đàn em là Hoàng Quỳnh
tiếp tục phục vụ quyền lợi của thực dân pháp tại Việt Nam bằng cách
hợp tác với đại tá Le Roy, Tổng chỉ huy UMDC và đảng cướp Bình
Xuyên. Từ 1954 đến 1963, người Công Giáo huênh hoang tự phong cho
mình là những người chống cộng hàng đầu. Họ đã điên cuồng chống cộng
không phải vì yêu nước hay vì chính nghĩa quốc gia mà chỉ để phục vụ
cho chủ trương chống cộng cực đoan của giáo hoàng Pio XII
(1939-1958). Pio XII là tên trùm của siêu quyền lực Mafia. Trước khi
lên ngôi giáo hoàng, Pio XII đã sống nhiều năm ở Đức. Mặc dầu là
người Ý, nhưng rất thông thạo về mọi vấn đề của Đức quốc và nói
tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ. Trong thế chiến thứ hai, Pio XII đã góp
công đặc lực cho Hitler tiêu diệt Do Thái. Hiện nay tại bảo tàng
viện Bronx (New York) có một gian hàng triển lãm tội ác của Pio XII
với một tấm bảng ghi: "Tên đồ tể Quốc xã tại Rome" (The Nazi butcher
at Rome). Pio XII là một giáo hoàng rất cuồng tín đã ra lệnh cho
giáo phận Bùi Chu lập Dòng Đồng Công trong thập niên 1940 do LM Trần
Đình Thủ đứng đầu. Pio XII tích cực hỗ trợ thực dân Pháp tái chiếm
Việt nam. Năm 1954, chính y đã kêu gọi Mỹ ném bom nguyên tử xuống
Bắc Việt để cứu Pháp nhưng người Mỹ đã bác bỏ đề nghị này của y.
Sau khi Pio XII chết vào năm 1958, các giáo
hoàng kế nhiệm là John XXIII (58-63) và Paul VI (63-78) đã quay
ngược 180 độ bắt tay với Liên Xô. Đầu thập niên 1960, John XXIII móc
nối với Hồ Chí Minh để thiết lập chính phủ trung lập tại Nam Việt
Nam và hợp tác với Kennedy sát hại anh em Ngô đình Diệm năm 1963.
TGM Ngô Đình Thục suốt đời làm thân khuyển mã cung cúc phục vụ quyền
lợi của đế quốc thế tục Pháp và đế quốc tinh thần Vatican nhưng đã
bị bỏ rơi tàn nhẫn. Vatican (sau Công đồng tháng Mười 1962) đã không
ngần ngại ban cho tên tổng giám mục Việt gian này án phạt tuyệt
thông, đó là một hình phạt nặng nề và nhục nhã nhất đối với một tín
đồ Công Giáo. Ngày 30.1.1967, GH Paul VI tiếp thủ tướng Liên Xô tại
Vatican. Cũng trong thời gian này (65-67), LM Hoàng Quỳnh và hàng
chục ngàn giáo dân liên tục biểu tình phá rối trị an tại Nam Việt
Nam, nhất cử nhất động đều răm rắp theo lệnh của Vatican! Ngày
12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh cùng với gán điệp CS Vũ Ngọc Nhạ đến Củ
Chi họp mật với MTGPMN để lập Thành Phần Thứ Ba trong chính phủ liên
Hiệp theo như hiệp định Paris dự liệu. Sau 1975, GH Paul VI đã ban
thưởng huy chương cho gián điệp Vũ Ngọc Nhạ và không thèm đếm xỉa gì
đến các chiến sĩ QLVNCH chống cộng đang nằm trong các trại tù cải
tạo. Giới trí thức Công Giáo hoàn toàn nín khe không dám nói nửa lời
chống lại các hành vi phản bội trắng trợn này của Vatican đối với
Việt Nam Cộng Hòa. Vậy mà tại hải ngoại, bất cứ ai lên tiếng đả kích
Công Giáo về bất cứ vấn đề gì, luôn luôn bị nhóm trí thức Công Giáo
này gán ngay cho cái mũ Cộng Sản vô thần.
Nhưng sự thật lịch sử xưa và nay đều chứng
minh rằng tập thể Công Giáo Việt Nam chỉ là một bầy cừu hèn hạ luôn
nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán và cực kỳ nham hiểm của
Vatican. Vì cuồng tín, họ đã tự biến mình thành một tập thể Việt
gian luôn luôn có hành động đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
Trách nhiệm hàng đầu thuộc về cái gọi là Hội Đồng Giám Mục. Xét cho
cùng, mọi hành vi xuẩn động phản quốc của tập thể Công Giáo là do
hậu quả của những bài kinh cầu xin Chúa cho làm súc vật: "Xin Chúa
hãy lùa tôi vào một đoàn cùng các con chiên Chúa." NK 721). "Vì công
nghiệp Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho cả dân Đông Dương (Indochine
Francaise) thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (NK 170-172). Thiên
Chúa là đấng thiêng liêng chẳng thấy đâu, cho nên đoàn chiên gọi là
của Chúa trong thực tế chỉ là một bầy cừu khờ dại của Vatican!.
Tu sĩ Công Giáo Việt Nam là những kẻ đốn mạt
tự nguyện từ bỏ tư cách làm người để hạ mình ngang hàng súc vật. chỉ
có tín đồ cuồng tín mới tôn họ lên làm "Các Vị Lãnh Đạo Tinh Thần"
và tâng bốc gọi họ là Cha, Đức Cha, Đức Ông hoặc Các Đấng Bề trên mà
thôi. Các tu sĩ Công Giáo hay ghi nhớ nằm lòng những điều đó và chấm
dứt ngay hành vi láo xược xưng Cha xưng Ông với những người Việt Nam
ngoại giáo. Trình độ nhận thức của dân tộc Việt Nam ngày nay về thực
chất của đạo Công Giáo đã khác xa với thời Ngô Đình Diệm và tấm
gương sáng oanh liệt Nagasaki của Nhật Bản thế kỷ 16-17 sẽ được dân
tộc Việt Nam học tập. Sống trên quê hương Việt Nam, những người Công
Giáo chỉ biết ca ngợi hết lời đối với quân cướp nước và bán nước rồi
quay đầu lại nhục mạ dân tộc mình là mọi rợ. Các người mù quáng đến
độ Giáo hoàng Jean Paul II đã chưởi khéo mà các người không biết.
Lời cầu nguyện của GH John Paul II trong lễ
phong thánh cho 117 tử đạo năm 1988 đã cho chúng ta thấy rõ là những
người tử đạo đó đã hy sinh tính mạng nhằm phục vụ cho ai: "Người là
niềm vinh quang của Jerusalem, là nỗi vui mừng của Israel!". Thật rõ
ràng là họ đã chết không phải vì dân tộc Việt Nam mà vì Jerusalem và
Israel! Chúng ta hãy tự hỏi: Cái thành phố Jerusalem kia có liên
quan gì đến dân tộc Việt Nam mà 117 kẻ tử đạo đã phải chết để đem
lại vinh quang cho nó? Ngay cái thành phố này tự nó đã là hiện thân
của sự chia rẻ tôn giáo đáng nguyền rủa, hà cớ gì người Việt Nam lại
phải đem sinh mạng của mình để lo cho vinh quang của nó? Báo
Washington Post ngày 25.3.2000 loan tin GH Jonh Paul II đến nhà thờ
The Holy Sepulbsher tại Jerusalem làm lễ đã kêu gọi bảy giáo phái
Ki-tô Giáo tại thành phố này hãy xóa bỏ hận thù chém giết lẫn nhau
trong nhiều thế kỷ qua để hợp nhất trong tinh thần anh em cùng cha
là Chúa Ki-tô. Nhưng trong khi GH John Paul II làm lễ thì các nhà
thờ thuộc các giáo phái Ki-tô khác đã khua chuông ầm ĩ để phá đám!
Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng đã phải thở dài và than
rằng: "Phương cách này là một cuộc chiến!" (This process is a
battle) và John Paul II cũng đành thú nhận: "Từ xưa đến nay, tôn
giáo vẫn được xử dụng làm phương tiện cho sự chia rẽ và chiến tranh"
(Religion has been used as a means for division and war). Như vậy rõ
ràng Jerusalem là một chứng tích hùng hồn về sự thất bại của cái gọi
là "công ơn cứu chuộc của Chúa Jesus" và là biểu tượng nhục nhã của
chiến tranh tôn giáo đã gieo rắc biết bao thảm họa cho nhân loại
trong 2000 năm qua. Cả hàng triệu tử đạo trên khắp thế giới cũng
không đủ sức đem lại một chút xíu vinh quang nào cho Jerusalem huống
hồ 117 tử đạo cắc ké Việt Nam?
Mọi người Việt Nam ngoại giáo rất ngạc nhiên
vì không thể hiểu nổi tại sao người Công Giáo Việt Nam lại phải đổ
máu cho nỗi vui mừng của Israel?. Các đây 4000 năm, cháu nội của
Abraham là Jacob đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để vinh danh
con bò thần tên EL. Chẳng lẽ cái chết của 117 tử đạo Việt Nam chỉ để
mang lại niềm vui cho dân tộc thờ bò? Người Việt Nam vẫn thường quan
niệm con bò là biểu tượng của sự ngu đốt, vì vậy tục ngữ Việt Nam có
câu: "ngu như bò". Không có một trường hợp nào có thể áp dụng câu
tục ngữ này thích hợp cho bằng trường hợp những người Việt Nam tử
đạo "vì vinh quang của Jerusalem và vì nỗi vui mừng của Israel".
Thật đau buồn để phải nhận ra rằng máu bò Do Thái còn quí hơn máu tử
đạo Việt Nam bội phần! Do đó, những lời cầu nguyện của Giáo hoàng
Jean Paul II đọc trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam năm
1988 thực chất là những lời nhục mạ Công Giáo Việt Nam! Bà Joanne
Meehl viết: "bỏ đạo là từ chối làm kiếp con bò" (refusing to be a
cow) thật là chí lý!
(Xem tiếp: Bầy Quạ Trên Xác Người Đàn Bà Do Thái)
Các chương khác
trong sách:
Vài lời tâm huyết - Sách Kinh Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Bầy Quạ Trên Xác Người Đàn Bà Do Thái (Charlie Nguyễn)
Cha Con Giáo Hoàng Alex VI (Charlie Nguyễn)
Cách Làm Tiền của Vatican (Charlie Nguyễn)
Công Giáo Và Thánh Tử Đạo (Charlie Nguyễn)
Giáo Hội Gian Ác (Charlie Nguyễn)
Kinh Nguyện Và Kinh Thánh (Charlie Nguyễn)
Những Tác Hại Của Các Kinh Sách Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Phụ Lục: Tấm Vải Liệm (Charlie Nguyễn)
Sách Kinh Công Giáo - Dòng Tu Đồng Công (Charlie Nguyễn)
Tín Điều Huyền Thoại (Charlie Nguyễn)
Vatican, Xưởng Sản Xuất Phép Lạ (Charlie Nguyễn)
Đoạn Kết - Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Charlie)