Phần II : SÁCH KINH
CÔNG GIÁO VÀ TÁC HẠI CỦA NÓ
(tiếp theo)
6. BẦY QUẠ TRÊN THÂN XÁC NGƯỜI
ĐÀN BÀ DO THÁI
Tại Việt Nam chỉ có một dòng tu Công Giáo duy
nhất do người Việt Nam sáng lập là Dòng Đồng Công. Danh hiệu "Đồng
Công" là chữ tắt của danh hiệu "Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc" (The
Co-Redemptrix). Dòng này do LM Trần Đình Thủ sáng lập vào cuối thập
niên 1940 do lệnh của Giáo Hoàng PIO XII. Thoạt tiên, trụ sở dòng
đặt tại làng Liên Thủy (gần với làng Hành Thiện - Nam Định). Sau
1954, dòng dời về xã Tam Hà - Thủ Đức. Sau 1975, một số thầy tu Dòng
Đồng Công tới định cư ở Missouri lập nghiệp từ hai bàn tay trắng.
Ngày nay, chi nhánh Dòng Đồng Công hải ngoại này đã trở thành một
đại công ty kinh doanh lòng sùng kính Đức Mẹ với những cơ sở hết sức
lớn lao rải rác khắp nơi. Trụ sở chính đặt tại Carthage Missouri MO.
64836,USA với những công trình kiến trúc vĩ đại. Với số giáo dân hải
ngoại vừa đông đảo vừa khá giả, thêm vào đó là tài kinh doanh vượt
bực của các thầy tu, Dòng Đồng Công ngày càng làm ăn khấm khá phát
tài, tiền vô như nước! Tôi rất tiếc chưa có dịp đi hành hương "Đất
Thánh" Missouri của Công Giáo Việt Nam hải ngoại, nhưng đã được coi
mấy cuốn băng video của cơ sở ngoại vi của Dòng Đồng Công là Câu Lạc
Bộ Văn Hóa Tố Như (Box 66, Vienna – VA 22183 – Fax (702) 319-9489)
cũng đủ thấy sự khai thác thương mại đại qui mô của dòng tu Việt Nam
này. Tôi thật kinh ngạc phục tài thao lược "tay trắng làm nên" và
tài mê hoặc quần chúng của những chuyên gia Thánh Mẫu Học Việt Nam
(Vietnamese Mariologists).
Trong thời gian gần đây, CLBVH Tố Như mới cho
ra lò một bộ băng video "Ave Maria, Mẹ yêu Dấu" gồm 4 cuốn:
1. FATIMA – Mẹ là niềm hy vọng
2. LỘ ĐỨC – Mẹ là nguồn yêu thương
3. LA VANG – Mẹ củng cố đức tin son sắt
4. GUADELOUP – Chứng tích mẹ yêu dấu
Thông điệp chính yếu trong những lần "Đức Mẹ
hiện ra", nếu có thật, là khuyến cáo các tu sĩ, nhất là các linh
mục, phải cải thiện đời sống để cứu nguy giáo hội Công Giáo đang bên
bờ diệt vong. Nhưng các tu sĩ hoàn toàn làm ngơ trước những khuyến
cáo này của Đức Mẹ. Trái lại, họ chỉ biết chú tâm vào việc khai thác
thương mại lòng sùng kính ngây thơ của giáo dân dành cho Đức Mẹ,
hiện thân của tình mẫu tử theo nhân tính tự nhiên. Nếu Đức Mẹ là
Đấng Hiển Linh như niềm tin của họ thì Đức mẹ đang hiện diện khắp
mọi nơi, cần gì phải tổ chức những cuộc hành hương rềnh rang tốn phí
mà chỉ những kẻ nhiều tiền lắm bạc mới kham nổi. Từ nhiều năm qua,
Dòng Đồng Công đã tổ chức nhiều cuộc hành hương tới những địa danh
nổi tiếng về phép lạ của Đức Mẹ như Fatima ở Bồ Đào Nha, Lộ Đức
(Lourdes) ở Pháp, Núi Mẹ Sầu Bi tại Oregon. Hàng năm, Dòng Đồng Công
tổ chức "Đại Hội Thánh Mẫu" thu hút năm, sáu chục ngàn người từ khắp
nơi qui tụ về "Thánh địa" Carthage – Missouri.
Đây là dịp cho các nhà thần học hoang tưởng về
khoa học "Thánh Mẫu Học" (Mariology) trổ tài hùng biện thuyết giảng
về các phép lạ của Đức Mẹ để thỏa mãn nhu cầu ham chuộng phép lạ vô
bờ bến của giáo dân Việt Nam. Trong số các chuyên gia về Thánh Mẫu
Học nổi tiếng, chúng ta phải kể đến "nhà văn" Phạm Đình Khiêm, tác
giả cuốn "Đức Mẹ La Vang Là Nữ Vương Chiến Thắng". Linh Mục Barnabê
Nguyễn Đức Thiệp, cựu Giám Tỉnh Dòng Đồng Công tại Hoa Kỳ, "nhà khảo
cứu" Nguyễn Đức Tuyên, Giáo sư Trần Ngọc Vân tức "nhà văn" Trần
Phong Vũ. Trần Ngọc Vân là người đã đặt tên cho cuốn sách mới toanh
về Đức Mẹ là cuốn "Mẹ Maria Trong Ánh Sáng Đức Tin" 285 trang, giá
10 đô, của tác giả Ngưỡng Nhân Lưu Âu Nhi, xuất bản tại Hòa Kỳ tháng
10.2000. Nếu coi băng video của Câu lạc bộ Văn hóa Tố Như, chúng ta
sẽ được nghe nhà thần học hoang tưởng trẻ măng là Linh Mục Phan Hữu
Ngọc, tiến sĩ Thánh Mẫu Học thuộc dòng Đồng Công thuyết giảng.
Cơ quan tuyên truyền chính yếu của dòng Đồng
Công là Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ. P.O Box 836, Carthage – MO
64836, phone (417) 358-8296. Cũng theo báo này thì từ xưa đến nay,
Đức Mẹ đã hiện ra khắp nơi trên thế giới hơn 30.000 lần. Mỗi lần
Người hiện ra đều có những phép lạ khác nhau và mặc sắc phục khác
nhau. Chắc là Đức Mẹ có khả năng nói thông thạo mọi ngôn ngữ trên
thế giới nên Người mới có thể trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của
Người tới đàn con của Mẹ thuộc mọi chủng tộc. Hay mỗi lần Đức Mẹ
hiện ra lại cần phải có thông dịch viên? Tôi vẫn thắc mắc không biết
khi Đức Mẹ "hiện ra" ở La Vang trên 200 năm trước đây với giáo dân
Quảng Trị, Người có mặc váy và quấn khăn mỏ quạ không? Người có biết
ăn trầu bỏm bẻm không? Và Người nói chuyện với giáo dân La Vang
Quảng Trị bằng giọng Bắc kỳ, Nam kỳ hay bằng giọng rặc Quảng Trị?
Phải chăng Đức Mẹ đã phát âm theo kiểu "Nược cô còn nọng hay là
nguồi"? Xin các nhà thần học Công Giáo thông thái làm ơn giải thích
dùm, nếu không thì đồng bào có quyền nghĩ rằng những chuyện Đức Mẹ
hiện ra chỉ là những chuyện bịp và quý vị Thánh Mẫu Học chỉ là hạng
lưu manh ngụy trí thức chuyên nghề lừa gạt đám tín đồ khờ dại để
hành nghề bất lương với mục đích kiếm tiền một cách đốn mạt hèn hạ
mà thôi.
Tôi không xa lạ gì với Dòng Đồng Công. Tôi đã
đến thăm nhà dòng từ buổi sơ khai vào tháng 7.1950 tại nhà xứ Liên
Thủy Bùi Chu, lúc đó tôi là cậu học trò 13 tuổi. Thầy giáo dạy tôi
tiểu học lúc đó dẫn tôi và mấy đứa cùng trạc tuổi.
7. GÓP Ý VỚI QUÝ VỊ TRÍ THỨC
NGOÀI CÔNG GIÁO
A. Về phương diện tổng quát:
Giáo hội Công Giáo luôn khuyến khích tín đồ
thường xuyên đọc kinh vì đó là cách tốt nhất để nhồi sọ giáo dân các
tín điều nhảm nhí và làm tê liệt óc phán đoán của giáo dân khiến cho
họ không còn biết suy xét gì khác hơn là ngoan ngoản cúi đầu tuân
phục mọi mệnh lệnh của Vatican. Các sách Kinh Nguyện đã được các
chuyên gia của giáo hội soạn sẵn và đã được nghiên cứu chắt lọc hết
công phu qua nhiều thời đại nên các sách kinh này đã trở thành những
công cụ chiến tranh tâm lý cực kỳ tinh vi của bọn đế quốc nham hiểm.
Do đó hậu quả tâm lý của sự tự kỷ ám thị và sự lập lại nhiều lần,
tất cả những giáo điều dù vô lý đến đâu cũng đều trở thành những
chân lý tuyệt đối trong đầu óc của những kẻ có thói quen đọc kinh
cầu nguyện hằng ngày. Bằng các sách Kinh Nguyện, Vatican đã đào
luyện nên những tập thể giáo dân tuyệt đối trung thành với chúng
trong hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới. Những tập thể giáo
dân cuồng tín này luôn luôn sẵn sàng phạm mọi tội ác phản bội đồng
bào và dân tộc để thực hiện mọi âm mưu phá hoại của đế quốc. Hầu hết
các chính quyền gặp phải hoàn cảnh này đều không đám thẳng tay đàn
áp vì sợ gây "thánh chiến" và sợ bị dư luận gán cho tội vi phạm nhân
quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nhờ đó, Vatican đã trở thành
tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc tinh thần (spiritual imperialism).
Muốn chận đứng những tác hại của cuốn sách
kinh, trước hết chúng ta hãy cố gắng giải thích cho đồng bào của
chúng ta nắm được những sự thật về đạo Công Giáo và hiểu rõ bộ mặt
thực rất đểu cán của nó. Sự thật lịch sử chứng tỏ Công Giáo La Mã
không phải là một tôn giáo mà chỉ là một âm mưu vô cùng thâm độc của
đế quốc La Mã được ngụy trang dưới lớp vỏ tôn giáo giả tạo mà thôi.
Nhiều công trình nghiên cứu đa diện của giới học giả Tây phương cận
đại chứng minh rằng hầu hết những kẻ đứng đầu giáo hội ở Vatican là
những kẻ vô thần, vô đạo đức và độc ác (Godless, immoral and
wicked). Chúng chỉ giả vờ là những kẻ đạo đức mà thôi. Bọn đầu não
"Công Giáo La Mã ở Vatican là một tổ chức tội ác hình sự cao cấp".
Chỉ vì kỹ thuật phạm tội của chúng đạt tới mức tinh vi siêu đẳng
vượt thời đại nên ít ai nhận ra được bản chất vô cùng độc ác và nham
hiểm của chúng mà vẫn cứ lầm tưởng chúng là những người thánh thiện.
Tu sĩ được giáo dân xưng tụng là "các đấng chủ chăn" thực chất chỉ
là quỉ mang mặt người. Vatican là sào huyệt của Mafia đội lốt tôn
giáo lưu manh nguy hiểm nhất thế giới vì chúng là những kẻ sát nhân
ác độc nhưng lại được đám đông tín đồ khờ dại cuồng tín kính trọng
và vâng lời chúng tuyệt đối. Đó là lý do tại sao trong gần 17 thế kỷ
qua chúng đã gây ra biết bao thứ tội ác trên khắp thế giới mà bóng
ma của chúng vẫn cứ tiếp tục bao trùm cả nhân loại.
Thực chất Công Giáo cũng không phải là Ki-tô
Giáo (Christianity) vì đế quốc La Mã đã ra sức tiêu diệt Ki-tô Giáo
rất ác liệt trong hơn 3 thế kỷ đầu Công Nguyên. Từ năm 325 đến cuối
thế kỷ 4, đế quốc La Mã lập ra đạo mới là đạo Công Giáo
(Catholicism) trên xác chết của Ki-tô Giáo nguyên thủy bằng cách
tiêu diệt các giáo phái Ki-tô còn sót lại dám chống Công Giáo. Đồng
thời chúng hủy diệt các dấu tích thật về Chúa Jesus còn sót lại ở
Jerusalem, ngụy tạo Thánh Kinh, xuyên tạc lịch sử, đốt phá các thư
viện và đốt các sách thuộc văn minh nhân bản Hy Lạp. Sỡ dĩ đế quốc
La Mã phải diệt nền văn hóa nhân bản Hy Lạp vì nền văn hóa này hoàn
toàn đi ngược lại bản chất phi nhân bản (inhumanity) của Công Giáo
La Mã do chúng mới thành lập. Tội ác tiêu diệt văn hóa Hy Lạp của đế
quốc La Mã đã làm cho nền văn minh của nhân loại bị chậm lại cả ngàn
năm. Từ năm 325 trở đi, đế quốc La Mã không hề ngược đãi Công Giáo
mà chỉ lo củng cố và bành trướng tôn giáo này mà thôi vì Công Giáo
là con đẻ của đế quốc. Đến thế kỷ 5, sự tiêu diệt nền văn hóa nhân
bản cổ xưa của Hy Lạp gần như hoàn toàn đến nỗi tổng Giám mục
Chrysotom phải khoe rằng: "Mọi dấu vết về triết học và văn chương
của thế giới cổ đã bị xóa sạch khỏi mặt đất" (Every trace of the old
philosophy and literature of the ancient world has vanished from the
face of the earth – Bible Myths by Doane p. 436).
Tiến sĩ Rivera đã rất có lý khi ông viết như
sau: "Tổ chức Công Giáo La Mã không phải và chưa bao giờ là một giáo
hội Ki-tô. Nó là con điếm đã được tiên tri mô tả trong sách Khải
Huyền (cuốn sách cuối cùng trong bộ Thánh Kinh Tân Ước). Đám tín đồ
Công Giáo khốn khổ đã bị nó phản bội và đang phải đối phó với thảm
họa về tinh thần. Bọn người nguy hiểm nhất là những kẻ bề ngoài rất
sùng đạo, đặc biệt nguy hiểm khi chúng qui tụ lại thành tổ chức và
nắm những vị trí chính quyền. Bọn chúng được kính trọng sâu xa bởi
những kẻ ngu dốt không biết gì về những động lực của bọn chúng ở
phía sau sân khấu là hoàn toàn có tính cách vô thần và chỉ để nhắm
đến quyền lực. (The Roman Catholic institution is not a Christian
Church and never was. Prophetically she is the whore of Revelation.
The poor Roman Catholic people have been betrayed by her and are
facing spiritual disaster. The most dangerous men are those who
appear very religious, especially when they are ignorant of their
ungodly push for power behind the scene).
Kẻ gia nô văn hóa số một của Vatican ở Việt
Nam là Linh Mục Phan Phát Huồn, thuộc dòng Chúa Cứu Thế, tác giả
cuốn Việt Nam Giáo Sử (hai tập), xuất bản lần đầu vào năm 1962. Từ
đó đến nay, cuốn sách này được giới "trí thức" Công Giáo thường
xuyên sử dụng như một tài liệu tham khảo sử học chân chính. Tôi chưa
cần đề cập đến phần nội dung của cuốn giáo sử này, chỉ riêng một
đoạn Linh Mục Huồn viết trong bài tựa (trang 20) cũng đã phạm phải
hai điều sai lầm nghiêm trọng về lịch sử: "Máu (tử đạo) đã nhuộm đỏ
đất nước Việt Nam yêu quí làm cho đất phì nhiêu tươi tốt. Lấy võ lực
đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công Giáo thì chẳng những người
Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản đông đúc thêm... Các
hoàng đế Roma muốn tiêu diệt người Công Giáo thì ngày nay trên thủ
đô Roma phất phới trước gió cách oai hùng quốc kỳ Vatican tượng
trưng cho giáo quyền của giáo hội".
Sai lầm thứ nhất của Linh Mục Huồn là đã ngộ
nhận Ki-tô Giáo nguyên thủy (the Early Chistianity) với Công Giáo La
Mã (Roman Catholics). Lịch sử thế giới đã chứng minh: Trong 3 thế kỷ
đầu Công Nguyên, Ki-tô Giáo không có nhà thờ mà chỉ có phòng hội
(synagogue), không biết Thiên Chúa Ba Ngôi là gì, không thờ ảnh
tượng, không tin và không thờ bà Maria đồng trinh. Thậm chí họ cũng
không thờ Jesus mà chỉ coi ngài như một bậc thầy khôn ngoan mà thôi,
do đó không có thánh lễ Misa, không có phép Mình Thánh Chúa.. Cuối
thế kỷ 3, vị giám mục nổi tiếng nhất thời đó là Arius, người Hy Lạp,
đã sáng tác ra những bài thơ tóm tắt giáo lý của Ki-tô Giáo nguyên
thủy: "Thiên Chúa là đấng duy nhất không được sinh ra bởi ai, đấng
duy nhất vĩnh cửu, duy nhất thật, duy nhất khôn ngoan. Jesus là một
tạo vật giống như chúng ta". Năm 325, Arius cũng được Constantine
mời họp công đồng Nicaea cùng với các giám mục Ki-tô khác như
Athanasus và Marcellus. Các vị giám mục này giữ vững niềm tin Ki-tô
nguyên thủy nên không chịu ký tên công nhận kinh Tin Kính của
Constantine. Kết quả là Arius bị Constantine giết chết năm 336,
Athanasus và Marcellus bị bắt đưa đi đày. Hàng ngàn tín đồ Ki-tô bị
đế quốc sát hại. Mười bốn năm sau, Marcellus được thả ra. Ông viết
sách lên án Công Giáo là tà đạo "Tritheism" có nghĩa là đạo thờ ba
Thiên Chúa ám chỉ là một thứ Đa thần giáo (Paganism) với những tín
điều bịa đặt và hoàn toàn trái ngược với Ki-tô Giáo nguyên thủy là
một độc thần giáo chân chính (The Real Monotheism). Năm 340, đế quốc
La Mã chính thức đưa tôn giáo do chúng thành lập lên thành đạo chính
thức của toàn đế quốc và đặt tên cho nó là Công Giáo (Cattolica).
Tất cả những gì là đặc trưng của Công Giáo ngày nay đều do đế quốc
La Mã bày đặt ra sau năm 325. Từ đó chẳng có hoàng đế La Mã nào muốn
tiêu diệt người Công Giáo vì Công Giáo và đế quốc La Mã là một.
Những nhận định của Linh Mục Huồn là hoàn toàn sai trái vì những
điều đó, trái ngược với lịch sử đã được các yếu tố khách quan xác
nhận.
Chúng ta không nên quên một điều rất thực tế
là trong các loại sách Công Giáo, không có sách nào quan trọng cho
bằng các sách Kinh- Nguyện. Đại đa số các gia đình giáo dân không có
sách Thánh kinh nhưng gia đình nào cũng có ít nhất một cuốn sách
Kinh Nguyện. Đại đa số giáo dân không đọc Thánh Kinh (Bible) nhưng
đã là giáo dân thì nếu không thuộc nhiều cũng phải thuộc một số Kinh
Nguyện cần thiết. Các bài kinh nguyện là chủ chốt hình thành tư
tưởng của tập thể tín đồ chứ không phải là Thánh kinh hay một thứ
sách nào khác.
Từ đầu thập niên 1990 đến nay, khắp thế giới
bùng lên phong trào giải trừ Ki-tô Giáo với hàng trăm cuốn sách và
hàng ngàn bài báo giá trị, tấn công mọi mặt khiến cho tôn giáo này
đã bị lung lay tận nền tảng của nó. Điều đáng chú ý là hầu hết các
tác giả của các sách báo này đều là những người Ki-tô Giáo tỉnh ngộ
(recovering christians) trong thế giới Tây phương, trong số đó đặc
biệt có nhiều tác giả nguyên là những tu sĩ cao cấp (đáng chú ý là
những tu sĩ thuộc Dòng Tên) hoặc là những giáo sư chuyên khoa
tôn-giáo-học tại các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Cũng
trong thời gian đó, tại hải ngoại chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều
sách báo Việt ngữ có nội dung lên án đạo Công Giáo và đặc biệt tố
giác tính cách phản dân tộc của Công Giáo Việt Nam. Nhưng hầu hết
các sách báo Việt ngữ này đều là sản phẩm của quý vị Việt kiều trí
thức ngoài Công Giáo, khác với những sách chống Công Giáo ác liệt
nhất ở các nước Âu Mỹ hầu như đều là sản phẩm tinh thần của những
người Công Giáo tỉnh ngộ.
Trước 1975, tại miền Nam Việt Nam, hầu như
không một ai dám viết sách báo bằng Việt ngữ để công khai và trực
diện đã kích Công Giáo. Điều đó dễ hiểu vì miền Nam Việt Nam dưới
hai thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa, áp lực chính trị của Công Giáo
quá mạnh. Bọn mật vụ Cần lao, bọn chính trị hoạt đầu Công Giáo cũng
như bọn cha cố Mafia không từ bỏ một thủ đoạn ác độc đê tiện nào mà
không dám làm để triệt hạ những người dám lên tiếng chống bọn chúng.
Tập san "Tiếng Loa Cảnh Báo" của nhóm Công Giáo cực đoan do cựu nghị
sĩ Trương Tiến Đạt chủ biên, xuất bản tại San Jose tháng 11.1998 đã
viết: "Cộng Sản chiếm chính quyền và quyết tâm diệt đạo nhưng chỉ
phá được cảnh yên vui sống đạo, phá nhà thờ, nhà trường, các hội
đoàn và cản trở các hoạt động tôn giáo nhưng đã không phá được đức
tin và lòng mộ đạo. Hơn nữa, số người mới theo đạo Công Giáo lại còn
nhiều hơn thời trước. Rõ ràng Cộng Sản Việt nam chỉ biết phá đạo
cách vụng về và đã thất bại (trang 39). Lối phá đạo của Cộng Sản
không nguy hiểm vì đó là sự tấn công từ bên ngoài và dùng sự cưỡng
bách là chính (tr. 40). Công Giáo sợ nhất là sự phá đạo từ trong phá
ra!
Thứ đến, Công Giáo rất sợ sự giáo dục và tự do
tư tưởng vì đó là những thứ vũ khí hữu hiệu nhất để tiêu diệt mê tín
chẳng khác nào dùng ánh sáng để tiêu diệt bóng tối. Căn bản của lòng
cuồng tín tôn giáo là sự ngu dốt. Giáo dục và tự do tư tưởng soi rọi
ánh sáng vào những vùng tối tâm linh thì sự mê muội tôn giáo phải
đội nón ra đi. Chính nhờ kết quả của giáo dục và tự do tư tưởng tại
các nước dân chủ tự do Âu Mỹ mà Công Giáo La Mã đang lâm nguy dẫy
chết. Dùng cưỡng bách và đàn áp để diệt đạo là hạ sách vì Công Giáo
chẳng khác nào cỏ dại, nếu ta càng dập nó mạnh bao nhiêu thì bông cỏ
dại càng văng xa tung tóe và lan rộng thêm bấy nhiêu!. Do những nhận
định trên, tôi không tin tưởng vào khả năng diệt đạo của chính quyền
Việt Nam ở quê nhà mà đặt nhiều hy vọng vào khả năng giáo dục và bài
trừ mê tín nơi quý vị trí thức ngoại giáo tại hải ngoại. Những cố
gắng của qúy vị trong những năm qua chắc chắc đã soi sáng tâm linh
cho một số giáo dân cuồng tín tại hải ngoại cũng như ở trong nước.
Đây là một công tác giáo dục hết sức chính đáng và cần thiết để cứu
nguy dân tộc và góp phần bảo tồn truyền thống văn hóa nước nhà.
Tuy nhiên, những cố gắng của quý vị đã bị hạn
chế rất nhiều bởi những nguyên nhân sẽ được trình bày sau đây mà
theo thiển ý của tôi, quý vị có thể đã không biết hoặc không để ý
tới vì lý do quý vị không phải là những người trong cuộc.
Nguyên nhân 1. Trước hết, mỗi khi phát hiện có
sách báo chống đạo, các cha cố thường giảng tại nhà thờ lưu ý giáo
dân về những sách báo đó và công khai ngăn cấm giáo dân đọc. Phần
đông giáo dân ngây thơ răm rắp tuân lệnh các cha cố nên họ đã không
đọc và không hề biết nội dung của những sách báo chống đạo nói gì.
Bằng phương cách đơn giản này, các cha cố đã dễ dàng vô hiệu hóa tác
dụng giáo dục của quý vị. Do vậy, cái não trạng của đa số giáo dân
vẫn như xưa và chẳng có gì thay đổi. Nói lên điều này, tôi muốn lưu
ý quý vị một sư thật: muốn cho công cuộc giáo dục bài trừ mê tín đạt
kết quả tốt, việc trước hết là phải bằng mọi cách loại trừ toàn bộ
hệ thống tu sĩ Công Giáo vì họ là một bức tường kiên cố ngăn cản ánh
sáng giáo dục khiến nó không thể soi tới vùng bóng tối tâm linh của
tập thể giáo dân. Nói cách khác, chừng nào còn hệ thống tu sĩ Công
Giáo thì chừng đó công cuộc giáo dục bài trừ mê tín sẽ không thành
công.
Nguyên nhân 2. Khi viết sách báo chống Công
Giáo, quí vị thường quá chú trọng đến những điều sai trái trong
Thánh Kinh như thuyết Tạo Dựng (Creation) hay thuyết Cứu Rỗi
(Salvation) và quý vị chủ quan tin rằng quý vị đã nắm chắc phần
thắng trong việc tấn công những điều sai trái này, quý vị tưởng rằng
cứ tấn công vào những điều căn bản đó thì đạo Công Giáo sẽ sụp đổ.
Nhưng thưa quí vị, đây thật sự là một ảo tưởng! Bởi lẽ, dưới sự lãnh
đạo vô cùng xảo quyệt của Vatican, các cha cố đã có sẵn trong tay vô
số những lập luận lươn lẹo để giải thích cho giáo dân. Hầu hết giáo
dân có trình độ hiểu biết thấp kém nên khi nghe cha cố giải thích
đều thấy xuôi tai, không thắc mắc gì thêm và vẫn tiếp tục sùng đạo
như xưa. Muốn biết nghệ thuật giải thích lươn lẹo rất tài tình của
bộ tham mưu thần học Vatican ra sao, xin quý vị hãy tìm đọc cuốn
"Giáo Lý Mới Thời Đại Mới", 517 trang, do Đất Mẹ phát hành tại
Houston – Texas 1996. Thí dụ: Thánh Kinh dạy rằng Thiên Chúa tạo
dựng vũ trụ trong 7 ngày. Sách Giáo Lý Mới giải thích nên hiểu chữ
"ngày" ở đây là "thời đại" và mỗi thời đại có thể kéo dài qua nhiều
triệu năm! [Nhưng không có ai luận rằng nếu ngày có nghĩa là thời
đại thì làm sao cây cỏ, thảo mộc sống được vì theo Thánh Kinh, Chúa
sinh cây cỏ trước mặt trời.]
Về trường hợp thánh tổ Abraham lấy em gái làm
vợ và toan giết con để tế thần, sách Giáo Lý Mới giải thích: "Chúng
ta không được mời gọi để bắt chước những việc Abraham làm, nhưng cốt
để chú ý đến thái độ trung thành của ông đối với Thiên Chúa (tr.54).
Nguyên nhân 3. Có một điều quý vị trí thức
ngoại giáo không thể ngờ tới: đó là sự uyển chuyển linh động và co
dãn như cao su của đức tin Công Giáo (the resilience of the Catholic
faith). Đây là một khám phá của giới học giả Tây phương trong thời
gian gần đây. Vào đầu thập niên 1970, tiến sĩ sử học Tim Dooley đã
qui tụ 70 giáo sư chuyên khoa về các môn sử học, khảo cổ học, tôn
giáo học, triết học và thần học thuộc các trường đại học danh tiếng
Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản vác các nước Âu Châu. Họ đã cùng nhau làm
việc trong 7 năm để hoàn thành một công trình nghiên cứu về Ki-tô
Giáo. Họ đã đúc kết công trình nghiên cứu của họ trong hai tác phẩm
đồ sộ mang tên "Eerdmans Handbook of the Bible" và "Eerdmans
Handbook of Christianity", mỗi bộ sách này dày trên 700 trang giấy
khổ lớn, do Eerdmans Publishing Co. xuất bản lần đầu tại Anh và Mỹ
năm 1977, tái bản năm 1987, mỗi lần in mỗi đầu sách 750.000 cuốn.
Trong khi cùng làm việc với nhau, họ cố gắng
tìm hiểu nguyên nhân tại sao Ki-tô Giáo (đặc biệt là Công Giáo La
Mã) vẫn có khả năng vượt thoát mọi đình đốn và vẫn tồn tại sau biết
bao đợt tấn công dữ dội của các giới trí thức Âu Châu như phong trào
Enlightenment trong thế kỷ 18 và của các giới khoa học trong thế kỷ
19-20. Phần đông chúng ta đều nghĩ rằng Đức Tin là những điều căn
bản cố định và không một ai có tư cách để sửa đổi. Trong thực tế
không phải vậy! Ki-tô Giáo nói chung và Công Giáo La Mã nói riêng có
khả năng đáng kinh ngạc trong việc tự điều chỉnh và canh tân đức tin
của mình, đó là một khả năng đặc biệt đã giúp Ki-tô Giáo vượt thắng
mọi đợt tấn công để tiếp tục tồn tại và phát triển như ngày nay.
Một thí dụ điển hình cho việc tự điều chỉnh
đức tin là vụ Vatican sửa đổi Kinh Tin Kính. Chúng ta đã biết Kinh
Tin Kính đã được hình thành trong Công đồng Nicaea năm 325 để trở
thành một bản tóm lược tín điều căn bản của đạo Công Giáo trong 16
thế kỷ qua. Vậy mà Vatican đã dám sửa đổi một số điều quan trọng để
bài kinh này có thể phù hợp với thời đại ngày nay:
- Kinh Tin Kính cũ có câu: "(Chúa Jesus) chết
và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà
sống lại..."
- Kinh Tin Kính mới sửa lại: "(Chúa Jesus)
chịu khổ hình và mai táng đời Phong-xi-ô Phila-tô, ngày thứ ba sống
lại như lời Thánh Kinh" (Giáo Lý Mới Thời Đại Mới, tr.160). Như vậy
ta thấy qua bài kinh Tin Kính mới, Vatican không xác nhận Jesus đã
chết trên thập giá mà chỉ nói trống là Jesus chịu khổ hình mà thôi.
Chúng ta được biết qua vụ khám nghiệm thánh tích Tấm Vải Liệm Turin
vào tháng 10 năm 1978, giới khoa học quốc tế đã xác nhận tấm vải
liệm Turin là thật và các dấu vết trên tấm vải liệm này chứng tỏ
Jesus đã thoát chết sau khổ hình đóng đinh trên núi Sọ. Sau cơn hôn
mê, Jesus đã tỉnh dậy chứ không phải từ kẻ chết sống lại. Xin đọc
bài Tấm Vải Liệm Xác Chúa của Charlie Nguyễn trong cuốn "Kitô Giáo
Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại" tr. 267-281, hoặc trong cuốn Petrus
Trương Vĩnh Ký Tuyển Tập tr. 157-165). Do đó, Vatican đã sửa lại
kinh Tin Kính bằng cách không xác nhận Jesus đã từ kẻ chết sống lại
và chỉ nói trống là Jesus đã sống lại... "như lời Thánh Kinh".
Vatican cũng loại bỏ việc Chúa xuống ngục tổ
tông (tức Luyện Ngục – The Purgatory) vì ngục tổ tông là một vấn đề
gây tranh cãi sôi nổi tại các nước Tây phương đã dồn Vatican vào thế
bí. Cuối cùng, Vatican đã bỏ luôn câu này khỏi kinh Tin Kính.
d. Muốn giáo dục tập thể giáo dân có hiệu quả,
quý vị cần xử dụng văn phong rõ ràng mạch lạc (để soi sáng vấn đề và
phải dùng những từ ngữ thông dụng để họ có thể hiểu được. Thí dụ:
Khi nói đến Holy Spirit hay Jean Baptist, xin quý vị cần xử dụng
những danh từ mà người Công Giáo quen dùng là Đức Chúa Thánh Thần và
Thánh Gio-an-Bao-ti-xi-ta thì họ sẽ hiểu ngay. Nếu quý vị gọi Holy
Spririt là Con Ma Thánh và gọi Jean Baptist là Giăng Rửa Tội thì mọi
người Công Giáo sẽ không hiểu quý vị nói cái gì. Khi quý vị viết
sách mà người đọc không hiểu được thì mọi cố gắng giáo dục của quý
vị sẽ thành vô hiệu.
B. Về một số từ ngữ tôn giáo.
Tôi đề nghị quí vị tác giả ngoại giáo không
nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia-tô vì danh từ này không chính xác.
Chúng ta đã biết trong các Kinh Nguyện được viết bằng Hán tự, Chúa
Jesus được gọi là "Thần Chúa Gia-tô". Chẳng hạn như trong Kinh Phục
Dĩ có câu: Thần Chúa Gia-tô thục tội thi ân chi đại, có nghĩa là
Chúa Jesus chuộc tội và ban ơn rất lớn. Như vậy, "Gia-tô" là tiếng
Hán tự phiên âm tên Chúa Jesus chứ không phải là tiếng phiên âm chữ
Catholic. Trong tác phẩm Phá Ngục Tù, nơi trang 283, tác giả Trần
Văn Kha đã lầm lẫn viết rằng: "Gia-tô là tiếng phiên âm từ chữ
Catholic". Thật ra, đạo Công Giáo đã được truyền vào Việt nam từ năm
1533, đến nay đã gần 5 thế kỷ. Chữ quốc ngữ mới được phổ biến tại
Việt Nam trong đầu thế kỷ 20. Từ đầu thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 20,
các sách kinh cũng như các tài liệu truyền giáo đều được viết bằng
chữ Hán hoặc chữ Nôm. Sở dĩ người Việt thời xưa quen gọi Đạo Công
Giáo là đạo Gia-tô vì các cụ đồ nho thấy đạo này thờ Chúa Giê-su mà
chữ Hán gọi là Gia-tô, nên gọi đạo này là đạo Gia-tô. Về điểm này,
ông Trần Quý đã viết rất đúng: "Người Việt ta thường gọi đạo Giê-su
là đạo Gia-tô; nguyên nhân vì người Trung Hoa phiên dịch chữ Giê-su
sang chữ Hán, người Việt đọc chữ hán theo âm ngữ Nho thành Gia-tô"
(Phần mở đầu tác phẩm Lòng Tin Âu Mỹ Đấy – Đồng Thanh xuất bản,
1996).
Tuy nhiên, chúng ta không thể gọi đạo Công
Giáo là đạo Gia-tô được vì trên thế giới không có đạo nào được gọi
là đạo Giê-su hay đạo Gia-tô cả. Người ta gọi các đạo thờ Chúa
Giê-su (Chúa Gia-tô) là CHRISTIANITY tức Cơ-đốc-giáo theo phiên âm
Hán tự, hoặc Ki-tô Giáo theo phiên âm Việt Nam. Các tín đồ thờ Chúa
Giê-su đều tin rằng ngài chính là Đấng Cứu Thế (Christ). Christ là
tiếng Anh và Pháp phiên âm tiếng Hy Lạp CHRISTOS. Người Hán phiên âm
Christos là Cơ-Đốc. Trước Công Đồng Vatican II, các sách Kinh Nguyện
Công Giáo Việt Nam phiên âm Christos là Ki-ri-xi-tô, sau 1965, danh
từ Ki-ri-xi-tô được rút ngắn lại thành Ki-tô. Nếu ta dùng danh từ
Gia-tô để gọi đạo Công Giáo thì chẳng hóa ra Công Giáo là đạo duy
nhất thờ Chúa Giê-su hay sao?. Ngoài Công Giáo ra còn có nhiều đạo
khác cũng thờ Chúa Giê-su như Chính Thống Giáo, Anh Giáo và trên hai
trăm giáo phái Tin Lành.. Tất cả các tín đồ của các tôn giáo này đều
được gọi chung là các Ki-tô-hữu (Chritians) vì mặc dù họ thuô những
giáo hội khác nhau nhưng họ có chung một niềm tin Chúa Giê-su là
đấng Christ (Kitô). Công Giáo La Mã chỉ là một trong những giáo phái
của Ki-tô Giáo và không phải là đạo duy nhất tôn thờ Chúa Jesus
(thần Chúa Gia-tô) nên không thể gọi đạo này là đạo Gia-tô được.
Thiết tưởng chúng ta cần phân biệt rõ rệt giữa
nhân vật Giê-su và huyền thoại Ki-tô. Giê-su (Gia-tô) là một nhân
vật có thật trong lịch sử, tên thật theo ngôn ngữ Hebrew do cha nuôi
Joseph đặt cho lúc mới sinh là Yeshua, tiếng Hy Lạp phiên âm thành
Iesous, tiếng La Tinh cũng như tiếng Anh và Pháp đều phiên âm là
Jesus. Theo các cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và lịch sử trong những
thế kỷ gần đây thì Jesus sinh khoảng năm thứ 4 trước Công Nguyên. Bị
đế quốc La Mã đóng đinh trên thập giá năm 29, lúc đó Jesus 33 tuổi.
Theo kết quả giảo nghiệm tấm vải liệm xác Jesus của phái đoàn khoa
học quốc tế tại Turin nước Ý vào tháng 10 năm 1978, căn cứ vào những
vết máu, mồ hôi và chất nhờn da thịt (skin oil) của Jesus hiện còn
dính trên tấm vải liệm, các nhà khoa học đã ước đoán Jesus cao 1 mét
82 và cân nặng 79 kí.
Tôi đã trình bày hơi dài dòng về vấn đề này
không ngoài mục đích để xác nhận Jesus là một nhân vật có thật trong
lịch sử. Trái lại, Ki-tô là một huyền thoại chứ không phải là một
nhân vật có thật. Huyền thoại Ki-tô đã phát sinh từ Babylon vào
khoảng 4000 năm trước Công Nguyên và huyền thoại này đã xâm nhập vào
Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái vào khoảng thế kỷ 10 trước Công Nguyên.
Cho tới nay, những người theo đạo Do Thái vẫn tin rằng Chúa Ki-tô
chưa ra đời. Họ phủ nhận Jesus là Ki-tô. Đối với họ, Jesus đã chết
không phải với tư cách của một Đấng Cứu Thế (Ki-tô/Cơ đốc/Messiah)
nhưng với tư cách là một công dân Do Thái chống đế quốc La Mã. Bọn
đế quốc đã thần thánh hóa Jesus bằng huyền thoại Ki-tô. Nói cách
khác, Jesus đã được chúng Ki-tô hóa để trở thành Thiên Chúa (JESUS
WAS CHRISTED) nhằm mục đích biến Jesus thành cái Boomerang quay
ngược trở lại tàn sát dân tộc Do Thái để trả thù.
Tôi cũng đề nghị quý vị không nên gọi Công
Giáo là Thiên Chúa Giáo vì trên thế giới, người ta gọi các dạo thờ
chung Một Thiên Chúa (one-God religions) là Monotheism tức Nhất Thần
Giáo hoặc Độc Thần Giáo chứ không có đạo nào được gọi là Thiên Chúa
Giáo cả. Monotheism gồm có ba tôn giáo là Do Thái Giáo, Ki-tô Giáo
và Hồi Giáo. Công Giáo chỉ là một giáo phái của Ki-tô Giáo và Ki-tô
Giáo chỉ là một trong ba tôn giáo thuộc hệ thống Nhất thần giáo mà
thôi. Chúng ta đã biết rằng các đạo thờ Chúa là sản phẩm của Tây
phương, bao gồm các nước Âu Mỹ và các nước Do Thái Ả Rập, do đó
chúng ta nên hiểu tôn giáo này theo định nghĩa của họ. Đối với người
Tây phương, nếu nói tới Monotheism là người ta nghĩ ngay đến những
tôn giáo bắt nguồn từ Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái gồm có đạo Do Thái
(Judaism) đạo Ki-tô (Christianity) và đạo Hồi (Islam). Tất cả mọi
người ngoài ba tôn giáo này đều được gọi là người ngoại giáo
(heathen: One who adheres to a religion that does not acknowledge
the God of Judaism, Christianity or Islam).
Chúng ta cũng không nên gọi Công Giáo La Mã là
Ca-tô Rôma. Theo tôi hiểu, quý vị muốn tránh dùng danh từ Công Giáo
vì quý vị cho rằng danh từ này ám chỉ Công Giáo là quốc giáo (state
religion/official religion of state/public religion). Thật ra,nếu
chúng ta hiểu chữ Catholic là state religion hay public religion là
chúng ta đã đánh giá quá thấp ý đồ thâm độc của đế quốc La Mã. Trong
ba thế kỷ đầu Công Nguyên, không có đạo Công Giáo mà chỉ có đạo
Ki-tô với rất nhiều giáo phái khác nhau. Năm 325, đế quốc La Mã
thống nhất các giáo phái Ki-tô bằng võ lực. Năm 340, đế quốc La Mã
đổi tên Ki-tô Giáo thành Công Giáo, tiếng La Tinh "Catholica" có
nghĩa là toàn cầu (universal). Kẻ chủ mưu là hoàng đế Constantine
không tin đạo Công Giáo nhưng đã cố tình biến đạo này thành một công
cụ chính trị giúp y thực hiện mộng bá chủ toàn cầu dưới chiêu bài
tôn giáo. Y nêu ra khẩu hiệu "In Hoc Signo Vinces" có nghĩa là "Với
dấu hiệu Thánh giá, ta sẽ chiến thắng thế giới". Tự điển Bách Khoa
Công Giáo đã viết rõ về điều này như sau: "Constantine favored
Christianity merely from political motives and he has been regarded
as an enlightened despot who made use of religion only to advance
his policy – The Catholic Encyclopedia Volume 4, p.300). Thực chất
Công Giáo La Mã là mộ đạo do đế quốc La Mã lập nên trên nấm mồ của
Ki-tô Giáo nguyên thủy và đi ngược lại giáo lý của đạo Ki-tô lúc ban
đầu chỉ thờ Một Thiên Chúa chứ không thờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì đạo
Ki-tô đã được Đế quốc La Mã biến đổi thành Công Giáo và Công Giáo đã
thống trị tâm linh Âu Mỹ nhiều thế kỷ nên ngưởi ta quen gọi Công
Giáo là Ki-tô Giáo. Cũng do đó, người ta đã gọi Thiên Chúa Ba Ngôi
là Thiên Chúa của Ki-tô Giáo (Xin đọc chương 4, tác phẩm bestseller
A HISTORY OF GOD của cựu nữ tu sĩ Công Giáo Anh quốc Karen
Armstrong, tác giả trình bày vấn đề này hết sức rõ ràng dưới tiểu đề
"Trinity: The Christian God" , tr. 107-131). Một số vị trí thức
ngoài Công Giáo đã lầm lẫn dịch chữ "Christian God: là "Thần
Gia-tô". Thật ra, Christian God có nghĩa là "Thiên Chúa theo quan
niệm của Ki-tô Giáo", tức quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong các
Kinh Nguyện bằng chữ Hán thì danh từ "Thần Chúa Gia-tô" có nghĩa là
"Đức Chúa Giê-su". Như vậy Gia-tô là tiếng phiên âm chữ Hán để gọi
tên Giê-su. Còn chữ Christianity là Ki-tô Giáo theo phiên âm Việt
Nam, người Hán phiên âm là Cơ đốc giáo (bắt nguồn từ chỗ phiên âm
tiếng Hy Lạp Christos là Cơ đốc). Tiến sĩ Lý Khôi Việt dịch chữ
"Christian God" là "Thần Gia tô" theo tôi nghĩ là không đúng nghĩa
(sách "Phật Giáo & Quốc Đại Việt Nam" của tác giả Lý Khôi Việt, Viện
Tư Tưởng Việt-Phật xuất bản năm 2000, trang 378). Giáo sư Trần Chung
Ngọc lầm lẫn Christian God với Thiên Chúa Jehovah (còn gọi là Elohim
tức con bò thần El) của đạo Do Thái. Ông viết: "Theo Thánh Kinh Thần
Ki tô đã dạy dân mà Ngài chọn".
Nếu chúng ta thấu hiểu âm mưu vô cùng thâm độc
của đế quốc La Mã khi chúng lập ra đạo Công Giáo (có nghĩa là tôn
giáo toàn cầu) vào năm 325, thì chúng ta sẽ cố gắng làm cho đồng bào
của chúng ta hiểu rõ ý nghĩa xâm lược toàn cầu của chúng qua chiêu
bài tôn giáo bịp bợm hơn là phiên âm thành "Ca-tô-Rô-ma" vì tiếng
phiên âm này đã làm mất đi chữ CÔNG với ý nghĩa nguyên thủy là tham
vọng toàn cầu (universal) của bọn đế quốc. Ngoài ra, cũng xin nói
thêm là sở dĩ người ta dùng danh từ Công Giáo La Mã (Roman Catholic)
cốt để phân biệt với nhiều giáo phái Công Giáo khác như Công Giáo Ai
Cập (Coptic), Công Giáo Hy Lạp (Greek Catholic), Công Giáo Anh tức
Anh Giáo (Anglicanism). Tôi sẽ cố gắng trở lại vấn đề nêu trên với
đầy đủ chi tiết trong một bài viết riêng.
(xem phụ lục: Tấm Vải Liệm)