Phần II : SÁCH KINH
CÔNG GIÁO VÀ TÁC HẠI CỦA NÓ
Vài lời tâm huyết của tác giả:
Đây là bản thảo trên computer do tôi in ra để
gửi đến một số giới chức cao cấp hữu trách của Giáo hội Công Giáo có
liên quan trực tiếp đến những vấn đề đã được nêu ra trong bản thảo
này. Mặc dầu Giới Tu Sĩ Công Giáo Việt Nam nói chung là đối tượng
phê bình chính yếu tôi nhắm tới, nhưng tôi không coi họ là thù địch.
Nhiều người trong họ vẫn luôn luôn là những người bạn thân thiết và
là anh em ruột thịt của tôi. Tôi chỉ ước mong các anh em bạn hữu
Công Giáo và xin quý vị hãy coi đây như một bản tường trình giải bày
tâm sự của tôi đến quý vị. Đứng trên cương vị quốc gia dân tộc thì
đây là một việc "đóng cửa bảo nhau". Nếu chỉ đứng trên lập trường
thuần túy tôn giáo thì đây là một hành vi "mở cửa bảo nhau", nhưng
dầu sao chăng nữa tôi với quý vị Tu Sĩ Công Giáo vẫn là "người nhà"
với nhau mà thôi. Chẳng qua nói thật mất lòng chứ tôi không hề có
một thù oán riêng tư nào với quí vị. Tôi chỉ chống lại những điều
sai trái của Giáo Hội Công Giáo chứ tôi không chống đồng bào Công
Giáo, trong đó có tổ tiên, ông bà cha mẹ, vợ con, anh chị em ruột
thịt, bà con dòng họ thân thích nội ngoại và 95% bạn bè thân thiết
của tôi đều là Ki Tô Hữu!
Tôi cũng xin thú thật là tuy tôi sinh ra và
lớn lên trong gia đình Công Giáo nhưng Giáo Hội Công Giáo lại là thứ
tôi vô cùng khinh bỉ, tôi căm ghét nó hơn hết mọi thứ trên đời này.
Trong thời đại hiện nay, thiết tưởng tôi chẳng cần nói ra, quý vị
cũng hiểu tại sao tôi lại khinh bỉ ghê tởm đạo Công Giáo đến như
vậy. Người Cộng Sản bỏ tù và hành hạ thân xác tôi gần mười năm, tuy
tôi không ưa chủ nghĩa độc tài Cộng Sản nhưng tôi không cảm thấy căm
thù họ. Trái lại, đạo Công Giáo chẳng làm gì tôi nhưng tôi ước mong
lương tri và lương tâm nhân loại hãy vì sự an lạc và hạnh phúc của
con người mà trừ tiệt nó trên toàn thể thế giới sớm ngày nào hay
ngày ấy. Đó là nguyện vọng tha thiết nhất suốt cả đời tôi. Tôi luôn
luôn sẵn sàng hy sinh để chống lại tà đạo Công Giáo La Mã. Tôi coi
đây như một sứ mạng thiêng liêng mà "Thượng Đế" muốn tôi góp phần dự
vào. "CHIRISTIAN BY BIRTH, ANTI-CHRIST BY CHOICE". Nói như vậy không
có nghĩa là tôi thù ghét hết những người theo đạo Công Giáo. Tôi
chẳng bao giờ mong tất cả những người thân của tôi kể trên trở thành
các "Thánh Tử Đạo" Việt Nam. Hơn nữa, gia tộc nội ngoại của tôi đã
có quá nhiều các Ông "Thánh" , Bà "Thánh Tử Đạo" rồi, tôi không muốn
có thêm một ông thánh hay bà thánh tử đạo nào nữa.
Tôi chỉ có một tâm nguyện thiết tha là phục
vụ lợi ích chung của dân tộc, không phân biệt lương giáo. Bởi lẽ dù
lương hay giáo, chúng ta đều là người Việt Nam.
Dù lương hay giáo, chúng ta đều có chung một di sản văn hóa vô cùng
quý giá của tổ tiên để lại nên chúng ta phải cùng nhau ra sức bảo
tồn và phát huy. Nền văn hóa nhân bản truyền thống của dân tộc là
Quốc Đạo của chúng ta. Tam giáo Phật-Khổng-Lão và Công Giáo đều là
những sản phẩm văn hóa ngoại nhập. Các tôn giáo ngoại nhập sẽ hữu
ích nếu chúng ta chỉ coi chúng như những món trang sức phụ thuộc bổ
khuyết cho Quốc đạo của chúng ta mà thôi. Nếu chúng ta coi một trong
những tôn giáo ngoại nhập là chân lý tuyệt đối là chúng ta sẽ trở
thành những kẻ cuồng tín vọng bản, đắc tội phản quốc và nhất định sẽ
bị toàn dân Việt Nam anh hùng bất khuất trừng trị đích đáng. Mọi tên
Việt gian phản quốc đội lốt tôn giáo nhất định sẽ không còn đất sống
trên quê hương Tổ quốc mình.
Xin đừng để những món hàng tôn giáo ngoại
nhập chia rẻ chúng ta và gây họa cho đồng bào ruột thịt của mình,
nhất là trong thời kỳ đất nước bước vào giai đoạn phát triển. Mọi ý
kiến trình bày ở đây đều chưa thật sự phản ảnh lập trường của tôi vì
chính tôi cũng chưa hài lòng với những điều mình đã viết ra đây. Tôi
rất mong sự hợp tác đóng góp ý kiến của toàn thể các vị nhân sĩ trí
thức trong và ngoài nước để chúng ta cùng chung sức trong nghĩa vụ
thiêng liêng đối với Dân Tộc và Tổ Quốc Việt Nam.
Sau hết, tôi xin minh xác một điều quan trọng: việc viết tài liệu
này đơn thuần là một hành hành vi tự phát của tôi. Tôi không hề nghe
một ai xúi biểu và cũng chẳng đại diện cho một phe phái chính trị
hay tôn giáo nào. Tôi hoàn toàn độc lập từ đầu đến chân và chỉ riêng
một mình tôi chịu trách nhiệm về những điều tôi phát biểu ở đây,
tuyệt đối không liên hệ tới bất cứ một người thứ hai nào khác.
Trân trọng kính chào
Hoa Kỳ, tháng 3 năm 2001.
Charlie Nguyễn
(PO Box 0473, ALIEF, TX 77411-0473)
1. VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
Mỗi giáo phận Công Giáo thường có một cuốn
sách sưu tập các bài kinh do giáo hội soạn sẵn để giáo dân đọc mỗi
khi cầu nguyện tại nhà hoặc đọc chung tại nhà thờ. Sách sưu tập các
bài kinh này được gọi là Sách Kinh Nguyện (prayer-book). Các sách
kinh nguyện gồm có phần lớn là các bài kinh đọc quanh năm gọi là
Toàn Niên Kinh Nguyện. Một số bài kinh đặc biệt khác để đọc theo mùa
(mùa chay, mùa Giáng Sinh, tháng Đức Mẹ, tháng Trái Tim Chúa
v.v...). Các sách kinh nguyện được xuất bản và lưu hành trong mỗi
giáo phận luôn luôn phải có phép chuẩn y của giám mục hay tổng giám
mục quản nhiệm. Sự chuẩn y này thường được ghi bằng tiếng La tinh
(Imprimatur; Imprimi potest; Nihil Obstat) chẳng hạn như ở trang đầu
sách kinh Nhựt Khóa của Tổng giáo phận Saigon có ghi:
Imprimatur
Saigon, die 19 mensis martu 1971
Paulus NGUYỄN VĂN BÌNH
Archiepiscopus de Saigon
Sách Kinh Nguyện của các địa phận có thể khác
nhau về ngôn ngữ địa phương hoặc có một số bài kinh được in trong
sách của địa phương này mà không được in trong sách của địa phận
khác, nhưng về mặt nội dung thì tất cả các sách kinh nguyện đều đồng
nhất. Theo thư của Giám mục Hồ Ngọc Cẩn in trong phần đầu sách toàn
niên Kinh nguyện Bùi Chu thì nội dung của các sách kinh nguyện đã
được minh định là đồng nhất trong cuộc họp của toàn thể các Giám mục
Huế năm 1924.
Để dẫn chứng về trách nhiệm của hội Đồng Giám
Mục Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú ý đến sách "Linh Địa La Vang"
của Linh Mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc, được xuất bản lần đầu tại Việt
Nam với sự chuẩn y của Tổng Đại Diện Tòa Giám Mục Huế ngày 13.4.1970
và được tái bản năm 1978 tại Hoa Kỳ do Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ,
thuộc Dòng Đồng Công ở Missouri (P.O. Box 836 – Carthage MO. 64838).
Sách LĐLV đã được viết ra một cách rất tự nhiên, bộc lộ nguyên vẹn
tim gan sâu kín của giới tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Cuốn sách này đã
được giới chức có thẩm quyền theo giáo luật cho phép và đã được Dòng
Đồng Công hải ngoại cho tái bản. Ngoài việc sách này cho biết thêm
chi tiết về hội đồng san định các kinh nguyện, nó còn cho chúng ta
biết rất nhiều điều đáng ghi nhận về trách nhiệm của Hội đồng Giám
mục Việt Nam.
Theo sách Linh Địa La Vang (LĐLV), Hội Đồng
sửa kinh đã cùng nhau làm việc trong ba tuần lễ, từ 28 tháng 4 đến
17 tháng 5 1924. Ngày 19 tháng 5.1924, Hội Đồng Sửa Kinh đã đến
viếng "thánh địa" La Vang bằng xe hơi của Nguyễn Hữu Bài (Lại-Bộ
Tham-Biện Cơ-Mật tức Bộ trưởng Nội vụ của chính phủ Nam triều thời
Pháp thuộc) cùng với Giám mục Lemasle cai quản địa phận Huế thời đó
(trang 147).
Năm 1885, triều đình Huế thất thủ. Năm 1886,
Giám mục Sohier ỷ vào thế lực thực dân Pháp trưng đất của dân làng
Thanh Tấn và Ba Trục thuộc tỉnh Quảng Trị để mở mang linh địa La
Vang (LĐLV trang 48). Tại đây có một ngôi chùa dưới gốc cây đa trong
rừng Lá Vằng đã được dân làng xây dựng từ đầu đời vua Minh Mạng. Dân
Công Giáo đến phá chùa để cướp đất và họ đã làm những bài vè khá dài
kể về việc này. Có điều là họ cho rằng người phá chùa là Đức Mẹ linh
thiêng chứ không phải người thường. Bài vè này đến nay vẫn được giáo
dân La Vang truyền tụng, Linh Mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc ghi lại
vài vè khá dài (Tr. 39-46), trong đó nhưng đoạn như sau:
"Rằng Phật rằng Thần lao đao
Có Bà bên đạo phép cao lạ lùng
Bà vào Bà đánh tứ tung
Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài
Tiếng Bà thật đã linh oai
Lư hương bát đất đền đài đều hư... (LĐLV
tr. 40-41)
Chốn này là chốn Chúa bà
Cho nên thần Phật Quỉ Ma kiêng dè...
(LĐLV, tr. 45).
Ngôi chùa đã được biến thành nhà thờ Công Giáo
từ đó. Đây là thánh đường đầu tiên tại La Vang nơi chính Đức Mẹ đã
hiện ra . [ Người ta phao tin như thế.]
(Tên cũ Lá Vằng được đổi thành La Vang có lẽ
do các giáo sĩ người pháp viết như vậy trong các văn kiện nói về Lá
Vằng – Ghi chú của Charlie Nguyễn). Từ khi ở linh địa La Vang có nhà
thờ đầu tiên thì sự tích Đức Mẹ hiện ra được thông báo đi khắp nơi
bằng giấy mực của giáo quyền và chính quyền thực dân. Bài vè có ghi
chép:
Các người đều lãnh thơ đi
Kẻ thời ra Nghệ, người đi Kinh thành
Nghe thơ kể việc rành rành
Thảy đểu khen ngợi thanh danh Đức Bà
Tiếng đồn chóng thổi gần xa
Thông qua biển cả huống là non sông...(LĐLV,
tr. 43-44)
Năm 1939, Đức Khâm Mạng Tòa Thánh Drapier gửi
thông báo cho toàn thể Đông Dương chọn ngày 30 tháng 6 Dương lịch là
ngày lễ hai thánh Phê-rô và Phao-lô làm lễ cầu an khắp nơi và sẽ tổ
chức một cuộc rước kiệu thật lớn tại đền thờ Đức Mẹ La Vang. Phủ
Toàn Quyền cũng thông sức khắp nơi cho các công nhân (viên chức nhà
nước) phải đi lễ vào ngày nói trên (LĐLV, tr. 81). Mọi cuộc lễ tại
La Vang bị tạm ngưng do Thế chiến 1939-1945. Sau khi Pháp trở lại
Việt Nam, ngày 12.9.1946, lễ kính Đức Mẹ La Vang lại được cử hành.
Hôm đó có bà Vĩnh Thụy tức Nam Phương Hoàng Hậu đi xe hơi từ Huế ra
tận La Vang để dự lễ cầu an (LĐLV, tr. 82)
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) được chính
thức thành lập do Sắc chỉ ngày 24.11.1960 của Giáo Hoàng Gioan XXII.
Ngày 18.12.1960, HĐGMVN tổ chức đại lễ tạ ơn Tòa Thánh tại nhà thờ
lớn Saigon với sự tham dự của toàn bộ các giới chức cao cấp của
chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Chính hôm ấy,
HĐGMVN và chính phủ Diệm đã quyết định việc dâng hiến tổ quốc Việt
Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ (mà đại diện độc quyền
chính thức của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ trên trái đất này
là Vatican – chú thích của Charlie Nguyễn) đồng thời khấn hứa sẽ xây
dựng một đền thờ dâng kính Trái Tim Đức Mẹ tại La Vang. Nhà thờ La
Vang sẽ được gọi là "Đền Thờ Toàn Quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm
Đức Mẹ" và "Linh Địa" La Vang sẽ được gọi là "Trung Tâm Thánh Mẫu
Toàn Quốc". Ngày 8.8.1961, HĐGMVN họp tại Đà Lạt đã quyết định như
sau:
- Bàn thờ chính tại nhà thờ Lavang sẽ được gọi
là "Bàn thờ dâng hiến giáo hội và Tổ Quốc Việt Nam, cho Trái Tim Vô
Nhiễm Đức Mẹ" và 3 bàn thờ phụ để dâng kính Các Thành Tử Đạo của 3
miền Việt Nam. Các bàn thờ đều được làm bằng đá cẩm thạch lấy từ
vùng núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn) để tượng trưng cho Non Nước Việt
nam.
- Một công trường rộng lớn, ở giữa lễ đài được
xây dựng kiểu Đài Nam Giao của triều đình Huế để dùng vào những ngày
lễ hội (tương tự như lễ hội tế Nam Giao của các vua nhà Nguyễn).
Ngày 20.7.1961, TGM Ngô Đình Thục viết lời phi
lộ trên tờ Nguyệt San Đức Mẹ La Vang số 1 nhấn mạnh: "La Vang là của
chung toàn thể quốc dân Việt Nam, cả lương lẫn giáo". Ngày 1.6.1961,
TGM Ngô Đình Thục thay mặt HĐGMVN gửi hiệu triệu đi toàn quốc như
sau: "Ta vui mừng ban phép và dạy tổ chức Đại Hội kính Đức Mẹ La
Vang năm 1961". Nha Chiến Tranh Tâm Lý của chính phủ VNCH được lệnh
quyên tiền của đồng bào từ Nam chí Bắc không phân biệt lương giáo.
Linh Địa La Vang, tr. 103-109).
Danh tiếng Linh Địa La Vang còn được tung ra
khắp năm châu nhờ cuộc phát hành Bưu Hoa Đức Mẹ La Vang. Lần đầu
tiên trong lịch sử Bưu Chính Việt Nam, một con tem với đề tài tôn
giáo Đức Mẹ La Vang được Phát hành ngày song thất 7.7.1962. Trước
đây, giới sưu tập đã có dịp thưởng thức những loại tem thắng cảnh
như nhà thờ chính tòa Phủ Cam Huế (1958), tháp Thiên Mụ (1959), qua
năm 1964, tem Giáo Sĩ Đắc Lộ. Hôm nay họ lại có dịp sưu tập những
cánh tem Bưu Chính mang chân dung Mẹ từ ái của Việt Nam: Đức Mẹ La
Vang.
Phóng viên Nhật Báo Viễn Đông Journal
d’Extrême Orient mô tả sự tấp nập tại công thự Bưu điện Saigon trong
buổi phát hành tem thơ Đức Mẹ La Vang: Sáng nay, 7.7.1962, ngay từ
khi mới mở các ghi-sê, hàng ngàn người thuộc đủ quốc tịch đã tràn
ngập bưu sảnh Saigon, những linh mục, chủng sinh, sinh viên, học
sinh, để mua những con tem mới dâng kính đức Mẹ La Vang do sở Bưu
điện phát hành. Tổng Hội Những Người Công Giáo Ái Mộ Tem Thơ
(Association Catholique des Amis du Timbre) đã cho biết rằng họ rất
yêu mến loại tem Đức Mẹ La Vang của Việt Nam vì tính các lịch sử
cũng như công trình ấn loát của loại tem ấy...Tem thơ Đức Mẹ La Vang
mang chân dung Đức Mẹ đặt Chúa Hài Đồng trên địa cầu, phía sau là
mấy bụi trúc tốt tươi nằm bên cạnh Mẹ, đó là quốc huy của nước Việt
Nam Công Hòa" (Linh Địa La Vang 133-134 - Điều này ngụ ý thế quyền
Việt Nam Cộng Hòa phải phục tòng thần quyền là HĐGMVN – chú thích
của Charlie Nguyễn).
Đức Hồng y giáo chủ Hoa kỳ Francis Spellman đã
đến thăm Linh địa La Vang ngày 7.1.1955 và làm lễ nơi bàn thờ Đức
Mẹ. Ngài tuyên bố "Tôi cầu nguyện và tôi tin chắc Đức Mẹ La Vang sẽ
thắng" không nói rõ "ai thắng ai" – LĐLV, tr. 138). Hồng y
Agagianian, Đặc sứ Toàn quyền Tòa Thánh đến thăm La Vang ngày
21.2.1959, Ngài tuyên bố: "Tôi khẩn khoản nài xin lòng nhân lành
Thiên Chúa sẽ đổ xuống như mưa trên trời cho giáo hội và dân tộc
Việt Nam để vinh danh Chúa Ki-tô Vua, để sáng danh giáo hội Công
Giáo là Mẹ lành, hầu nên một đoàn chiên dưới sự điều khiển của một
chủ chiên" (LĐLV, 139-140: Từ ngữ Công Giáo "nên một đoàn chiên" có
nghĩa là cả nước VN sẽ trở thành toàn tòng Công Giáo – Ch. N).
Hơn một thế kỷ qua kể từ khi Đức Mẹ "hiện ra"
tại La Vang, linh địa La Vang vẫn khiêm tốn nằm giữa cảnh rừng hoang
núi vắng không mấy ai được biết. Trong thời gian lâu dài trên, đoàn
con của Đức Mẹ sống quằn quại giữa những kỳ cấm đạo liên tiếp và bao
biến cố chính trị xáo trộn. Vì thế, các Đức Giám mục Bề trên của địa
phận Huế lúc bấy giờ như Đức Cha Labarielle, Đức Cha Tabert, Đức Cha
Á Thánh Cuénot, Đức Cha Pellerin, Đức Cha Sohier và Đức Cha Ponviane
phải im hơi lặng tiếng đối với Linh Địa La Vang.
Trái lại, trong thời gian việc đạo được bằng
an phồn thịnh từ 1886 đến 1963, La Vang được lớn hơn, được đẹp hơn
và được sùng mộ hơn. Trước tiên là do sự lo lắng của các Đức Cha Địa
phận như Đức Cha Gaspar, Đức Cha Allys, Đức Cha Chobanon, Đức Cha
Lemasle, Đức Cha Urritia và Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục... Các
đấng vì lòng thành kính Đức Mẹ La Vang đã nỗ lực tô điểm La Vang
bằng tinh thần và bằng vật chất để Linh địa La Vang trở thành giáo
đô của một dân tộc. Các Đức Giám Mục gốc Bình Trị Thiên rất sùng
kính Đức Mẹ La Vang như Đức Cha Đominico Hồ Ngọc Cẩn, Đức Cha Phêrô
Ngô Đình Thục, Đức Cha Anselmo Lê Hữu Từ, Đức Cha Simon Hòa Hiền và
Đức Cha Phancixô Xavie Nguyễn Văn Thuận... (LĐLV 143-144 – xin lưu ý
danh từ "Giáo Đô" Ch. N.)
Cụ Ngô Đình Diệm sinh ngày 3.01.1901 tại Huế,
trong gia dình Công Giáo kỳ cựu. Nguyên quán làng Đại Phong (Quảng
Bình). Trú quán tại làng Phương Quả (Thừa Thiên). Đến 20 tuổi đã vào
trường Hành chánh làm tri phủ Hải Lăng nơi có thánh địa La Vang, ở
gần nhà thờ La Vang một thời gian thì ông phải xa nhà Đức Mẹ mà đi
làm Tổng đốc Bình Thuận, rồi ông lại trở về Huế giữ chức Thượng thư
Bộ Lại... Đến ngày 27.1.1955, cụ Ngô trở về nước với chức thủ tướng
chính phủ... Từ khi lên làm Tổng thống (10.1955), cụ Ngô mỗi năm đều
ra Quảng Trị, việc đầu tiên là cụ tới La Vang để cầu khẩn Đức Mẹ.
Chẳng hạn như ngày 18.6.1961, sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cụ đến
viếng đền Mẹ La Vang với một cử chỉ đạo đức tỏ lòng thành kính Đức
Mẹ đặc biệt. Đoàn xe dừng lại ở đầu đường trải nhựa, cụ xuống xe,
cởi giầy từ đó đi chân không đến cửa để thờ... (LĐLV, 134-135).
Ngày 8.8.1961, HĐGMVN quyết định tổ chức Đại
Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc kéo dài ba năm. Lễ Bế Mạc trọng thể dự tính
sẽ được tổ chức vào tháng 8.1964 dưới sự chủ tọa của một Đức Hồng Y
đại diện Tòa Thánh. Đức Cha Ngô Đình Thục được HĐGM đề cử đứng ra
khẩn xin Tòa Thánh chấp thuận đề nghị cử Đức Hồng Y Agaginian, bộ
trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo sang Việt Nam chủ tọa đại lễ này. Nhưng
Công Đồng Vatican II họp tại La Mã tháng 10.1963 đã bác bỏ đề nghị
của TGM Ngô Đình Thục và ra lệnh hoãn Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc
tại La Vang vô thời hạn (LĐLV, tr. 124-125)"
Mấy trang sách nói trên cũng cho chúng ta nhận
thức được vai trò hết sức quan trọng của HĐGMVN đối với vận mệnh đất
nước như thế nào. Vai trò của HĐGM lại càng trở nên quan yếu hơn nữa
trong một quốc gia có chính quyền nằm trong tay người Công Giáo.
Những trang sách này cũng là những bằng cớ lịch sử không thể chối
cãi chứng tỏ HĐGMVN và chế độ Diệm đã có quyết tâm biến Công Giáo
thành quốc giáo. Đó là ước mơ sâu kín và mãnh liệt nhất của hàng
giáo phẩm và giáo dân cuồng tín Việt Nam. Ước mơ thấy được thể hiện
thường xuyên trong các lời kinh cầu nguyện. Xin quý độc giả cứ lật
mấy cuốn sách kinh nguyện Công Giáo Việt ngữ ra đọc sẽ thấy nhan
nhản những bằng cớ cụ thể. Trong suốt thời gian Pháp thuộc, các giáo
sĩ Tây Phương vẫn cố gieo vào đầu óc các tu sĩ và giáo dân Việt Nam
một "châm ngôn nô lệ" nổi tiếng: "Nước Pháp là trưởng nữ Hội Thánh
và là Mẹ Việt Nam" (France, fille ainée de l’Eglise, mère du Việt
Nam). Nhiều tài liệu lịch sử đã chứng minh TGM Ngô Đình Thục rất
trung thành với thực dân Pháp. Tổng giám mục Ngô Đình Thục và HĐGMVN
đã cố gắng hết sức mình để thực hiện "châm ngôn nô lệ" nói trên
trong suốt thời gian Ngô Đình Diệm làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
Sự thật lịch sử là Giáo quyền Công Giáo do
HĐGMVN đứng đầu và Thế quyền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, do Ngô Đình
Diệm lãnh đạo đã phối hợp chặt chẽ với nhau trong âm mưu hiến dâng
tổ quốc Việt Nam cho bọn thực dân đế quốc. Nếu không có chiến thắng
Điện Biên Phủ năm 1954, nếu không có cuộc đảo chánh thành công của
phe cấp tiến tại Vatican trong Tháng Mười năm 1962 (Công Đồng
Vatican II khai mạc vào tháng Mười năm 1962 là một cuộc đảo chánh
thành công của phe Công Giáo Cấp Tiến Âu Châu loại trừ phe bảo thủ
của giáo hội do Pio XII và Spellman lãnh đạo. Phe bảo thủ Công Giáo
này chính là siêu quyền lực quốc tế cũ đã đưa Kennedy gốc Công Giáo
Ái Nhĩ Lan và thầy tu Diệm lên nắm chính quyền tại Mỹ và Việt Nam).
Nhất là nếu không có cuộc Cách Mạng 1.11.1963 thì Tổ Quốc Việt Nam
có thể đã bị xóa bỏ vĩnh viễn. Lịch sử thế giới đã chứng minh không
có một chế độ độc tài nào khủng khiếp và nham hiểm cho bằng độc tài
Công Giáo. Một khi Công Giáo đã trở thành quốc giáo thì "châm ngôn
nô lệ" nói trên sẽ thành hiện thực. Bọn thực dân đế quốc chỉ mong
đợi Việt Nam trở thành toàn tòng Công Giáo thì nước pháp sẽ chính
thức là mẹ của Việt Nam, tất nhiên Vatican sẽ là bà ngoại của dân
tộc ta! Các tôn giáo khác nhất định sẽ bị tiêu diệt và mọi truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc sẽ không còn. Một khi Văn Hóa
truyền thông bị tiêu diệt thì dân tộc ta chỉ còn là cái xác không
hồn. Có nhận thức được điều này mới thấy rõ Công Giáo là đại họa
khủng khiếp nhất của dân tộc ta từ trước đến nay.
Trong "Vatican Thú Tội và Xin Lỗi" giáo sư sử
học Nguyễn Mạnh Quang đã viết: "Giáo hội La Mã đã liên kết chặt chẽ
với các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Phát xít Ý, Đức Quốc
Xã trong việc đánh chiếm các đất đai tại lục địa Phi, Mỹ và Á Châu
để củng cố quyền lực và thực thi chính sách bất khoan dung "diệt tận
gốc rễ" tất cả các tôn giáo và văn hóa khác mà Giáo Hội đã quyết tâm
theo đuổi từ ngàn xưa. Tất cả những sự kiện trên đều cho chúng ta
thấy rằng Vatican là một đế quốc thực dân xâm lược thâm độc nhất,
gian ác nhất, bạo ngược nhất và dã man nhất trong lịch sử nhân loại
từ thời thượng cổ cho đến ngày nay" (Sdc. tr. 270-271).
"Riêng về tội ác mưu toan hủy diệt các tôn
giáo khác và nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam, sách sử ghi
rõ: Kế hoạch Puginier nhằm xé nhỏ nước Việt Nam ra thành nhiều mảnh
biến thành những tiểu quốc theo biên giới sắc tộc và địa lý, rồi hủy
diệt tất cả ảnh hưởng của nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt
Nam. Kế hoạch này được Tiến sĩ Cao Huy Thuần trình bày rõ ràng trong
cuốn "Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp tại Việt Nam" (Sdc,
tr. 270-271). Tội ác của những Việt gian đội lốt tôn giáo là không
thể tha thứ.
Càng nghiên cứu về lịch sử bành trướng của đạo
Công Giáo, chúng ta càng ngạc nhiên và không khỏi rùng mình ghê sợ
trước những núi tội ác của nó vì mức độ khủng khiếp đã vượt quá sức
tưởng tượng của mọi người bình thường chúng ta. Có nhận thức được
điều này chúng ta mới cảm thấy hú hồn hú vía vì dân tộc Việt Nam ta
quả đã được cứu thoát khỏi đại họa diệt vong trong đường tơ kẻ tóc
vào ngày 1 tháng 11 năm 1963! Đây là một vấn đề thuộc lịch sử mà
phần đông chúng ta chưa nhận thức đúng giá trị của nó. Tuy nhiên,
chúng tôi cũng không dám lạm bàn rộng thêm tại đây và xin để Lịch sử
Việt nam sau này sẽ làm sáng tỏ.
Bài viết này chỉ giới hạn trong việc đề cập
đến các sách Kinh nguyện Công Giáo bằng Việt ngữ mà thôi. Chúng tôi
thiết nghĩ HĐGMVN là cơ quan lãnh đạo cao cấp nhất của giáo hội Công
Giáo Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của các
kinh sách nguyện Công Giáo trên phương diện luật pháp quốc gia.
Ngoài ra, chúng tôi đòi hỏi HĐGMVN phải trả lời trước tòa án lương
tâm và lương tri của dân tộc Việt Nam, về những tác hại tinh thần và
văn hóa mà các sách kinh nguyện Công Giáo đã gây ra cho dân tộc từ
trước đến nay.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hiện do Hồng Y Phạm
Đình Tụng làm chủ tịch, trụ sở đặt tại số 40, Phố Nhà Chung, Hà nội.
Hồng Y Phạm Đình Tụng sinh quán tại Phát Diệm, quê hương lừng danh
của Cha Việt gian Phê-rô Maria Phạm Ngọc Chi và LM Mafia Hoàng
Quỳnh. Nếu Hồng Y Phạm Đình Tụng không phải là hậu duệ xuất sắc bén
gót của các tiền bối khét tiếng bán nước hại dân như Trần Lục, Lê
Hữu Từ thì ông đã long trọng lên tiếng xưng thú các núi tội lỗi của
giáo hội Công Giáo Việt Nam trước quốc dân và đã làm lễ sám hối
trước bàn thờ Tổ Quốc Việt Nam từ lâu rồi.
Trong tác phẩm "The Next Pope – An A to Z of
Holy See", một cuốn sách chính trị bán chạy nhất trong năm 1995 tại
Mỹ (One of the Year’s Political Blockbuster, Harper Collins
Publisher – 1995), ký giả Peter Hebblethwaite viết: "Không có một
cuộc bầu cử nào thu hút sự tập trung chú ý của Giáo hội Công Giáo và
toàn thế giới cho bằng cuộc bầu cử Giáo Hoàng. Bởi vì đằng sau những
bức tường của Vatican, lịch sử thế giới đang được hình thành"
(Behind those walls, history is being made); "Có sáu nước Cộng Sản
hoặc cựu Cộng Sản sẽ lái Hội đồng Hồng y của Vatican về phía bảo thủ
cực hữu. Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám Mục Hà Nội, 75 tuổi,
và Jaime Luca Ortega Alamino, Tổng Giám Mục Havana, Cuba, sinh ngày
18.10.1936, có triển vọng là những kẻ chủ chốt trong quá trình tan
rã chế độ CS của họ" (There are six from Communist or ex-Communist
countries who will swing the college of cardinals to the right. Paul
Joseph Pham Đinh Tung, arbishop of Hanoi, seventy five, and Jaime
Luca Ortege Alamino, arbishop of Havana – Cuba, born October 1936,
will expect to preside over the disintegration of their regimes –
page 170).
Trong bối cảnh thế giới hiện nay đang diễn ra
một cuộc cách mạng tâm linh, tên tội phạm lớn nhất của lịch sử nhân
loại là Vatican cũng đã phải long trọng làm lễ xưng thú hàng núi tội
ác chống loài người của nó trong 17 thế kỷ qua. Hầu hết các giáo hội
Công Giáo Tây phương cũng đã có những hành vi thú tội tương tự từ
lâu. Dân tộc Việt nam đã kiên nhẫn chờ đời sự thú tội muộn màng của
HĐGMVN, nhưng đến nay chúng ta đã phải thở dài thất vọng. Sự im lặng
hoàn toàn của Giáo hội Công Giáo Việt Nam trước các vấn đề lương tâm
là một hành vi cực kỳ ngoan cố và không thể chấp nhận được. Chúng
tôi thiết nghĩ nay đã đến lúc các tội ác phản quốc của Công Giáo
Việt Nam cần phải được dân tộc Việt Nam đem ra tra vấn. Do đó, chúng
tôi xin đặt vấn đề trách nhiệm của HĐGMVN trước công tâm phán xét
của toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước, nhất là trách nhiệm
của HĐGMVN về những tác hại của các sách Kinh Nguyện Công Giáo.
2. CÁI THÒNG LỌNG CÔNG GIÁO
Gia tộc tổ tiên bên nội tôi ở làng Ninh Cường,
tỉnh Nam Định , theo đạo Công Giáo từ đầu thế kỷ 16 nên cha tôi theo
truyền thống lâu đời của gia tộc là mỗi khi có con cháu sinh ra được
3 ngày thì đem đến nhà thờ để cha xứ làm phép bí tích rửa tội. Giáo
dân có thói quen thường hay đưa con đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật
sau khi sinh đứa bé nên thời hạn 3 ngày nói trên có thể du di sớm
hơn hoặc trễ hơn nhưng ít khi nào để lâu quá một tuần. Nay tôi nhận
thấy đây là một hành vi độc đoán của người lớn đối với trẻ thơ vì
việc quyết định theo đạo hay không là điều hệ trọng cần phải đợi đến
lúc con người trưởng thành mới đủ trí óc phán đoán để có thể tự
quyết định vận mệnh của mình. Không một ai dù là cha mẹ có thể tự ý
quyết định thay mà không đếm xỉa tới sự ưng thuận của đương sự được.
Các tôn giáo luôn lớn tiếng kêu gọi tự do tín ngưỡng trong khi hành
vi cưỡng bách trẻ thơ chịu phép rửa tội, thực chất là nghi lễ nhập
đạo, là một hành vi tước đoạt tự do tín ngưỡng thô bạo nhất. Việc
cưỡng bức trẻ thơ chịu các phép bí tích, nhất là bí tích rửa tội
nhập đạo, phải được coi là một hành vi áp đặt cái thòng lọng tôn
giáo vào cổ những người ngây thơ vô tội. Chúng tôi kêu gọi sự can
thiệp của Luật Pháp Quốc Gia để ngăn chận sự vi phạm quyền tự do căn
bản (tự do tín ngưỡng) của những con người chưa có khả năng phán
đoán và khả năng tự vệ. Luật pháp phải đặc biệt chú ý đến Công Giáo
La Mã vì đạo này là một chế độ độc tài ngụy trang tôn giáo (a
dictatorship masquering a religion – Joanne Meehl).
Lúc tôi lên 7 tuổi, cha tôi bắt học thuộc lòng
phần lớn cuốn Toàn Niên Kinh Nguyện của địa phận Bùi Chu cùng mấy
tập thơ lục bát như "Thập Điều Tứ Chung" của Giám mục Hồ Ngọc Cẩn và
"Hiếu tự ca" của Cụ Sáu Trần Lục. Tất cả để chuẩn bị tâm tư cho tôi
chịu các phép bí tích xưng tội và rước lễ lần đầu. Ngày nay bí tích
Giải tội được gọi là "Bí tích Hòa giải". Nhưng vào lúc tôi mới 7
tuổi đầu, tôi với Chúa chưa hề có một xích mích nào với nhau tại sao
lại bắt tôi phải hòa giải với Chúa? Mấy năm sau tôi được chịu phép
bí tích Thêm Sức do Giám mục địa phận ban cho vì cha tôi muốn tôi
được tăng cường thêm đức tin vững vàng để sau này về già tới chết
đức tin của tôi vẫn vững như đồng không gì lay chuyển nổi! Vào năm
27 tuổi (1964), tôi chẳng may bị bệnh thương hàn trầm trọng gần
chết. Khi thấy bác sĩ Bệnh viện Đô Thành chuẩn bị cho đem tôi xuống
nhà xác, có lẽ cha tôi lo cho tôi sắp bị quỉ Satan đến bắt nên đã
khẩn thiết mời một linh mục đến nhà thương làm phép Xức Dầu Thánh
cho tôi. Cả gia đình khóc thương tôi và chuẩn bị sẵn sàng tiễn tôi
về Thiên đàng để tôi được xem thấy mặt Đức Chúa Trời Jehovah sáng
láng vui vẻ vô cùng, đồng thời linh hồn tôi sẽ được hợp làm một cùng
thánh tổ phụ Abraham và vua thành David. Đối với tôi, tất cả những
nhân vật này đều là những kẻ bất lương và tôi không hề muốn gặp họ.
Nhưng sau đó tôi may mắn thoát chết và sức
khỏe của tôi dần dần hồi phục nhờ bác sĩ tận tình. Chỉ mấy tháng sau
tôi được gọi động viên vào trường Thủ Đức và trở thành Sĩ quan Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1969, cha mẹ tôi thu xếp cho tôi được đẹp
duyên cùng cô Tê-rê-xa thuộc ca đoàn nhà thờ Huyện Sĩ. Thế là tôi đã
có vợ đạo dòng đúng theo ý muốn của cha mẹ tôi. Vợ tôi nguyên là học
sinh Trưng-Vương đã từng đóng vai Trưng Nhị cầm kiếm cưỡi ngựa tại
Nhà Hát Lớn Sài Gòn trong lễ tưởng niệm Hai Bà năm 1967. Đạo Công
Giáo có cả thảy 7 phép bí tích thì tới nay tính ra tôi đã chịu tới 6
phép, chỉ thiếu một phép bí tích duy nhất còn lại là phép Truyền
Chức Thánh mà thôi! Mọi người Công Giáo chỉ có thể chịu 6 phép bí
tích là mức tối đa tuyệt đối. Mấy ông tu sĩ từ cấp chóp bu là giáo
hoàng, qua các cấp đại thần như ông hồng y, giám mục, cấp lưng chừng
nửa ông nửa thằng là "đức ông", cho nên cấp manager (quản lý) là
linh mục cũng chỉ có thể chịu tới 6 phép là cùng. Các vị này một khi
đã lỡ chịu phép Truyền Chức Thánh rồi thì phép bí tích Hôn Phối dù
đã được "thánh hóa" cũng trở thành một phép bí tích tội lỗi đối với
họ!
Sự đời thật lắm chuyện bất ngờ. Biến cố 30
tháng Tư 1975 đã chấm dứt 10 năm quân ngũ của tôi để mở đầu cho gần
10 năm tù trong các trại cải tạo ở Bắc và Nam Việt Nam. Những năm tù
đó là cơ hội hoán chuyển tâm hồn tôi từ một tín đồ Công Giáo thành
một kẻ vô thần. Ấn tượng hãi hùng nhất đối với bọn tù chúng tôi là
những cơn đói dở sống dở chết triền miên. Cao điểm của sự tàn tạ là
vào khoảng các năm 1978-1979 tại trại tù Yên Báy. Bọn tù chúng tôi
xếp hàng dọc leo lên núi làm rẫy sáng đi tối về như những bóng ma.
Những người Tày ở vùng này thường gọi chúng tôi là "bọn đầu lâu chân
tay". Một hôm bọn tôi tình cớ gặp mấy cô gái Tày lên rừng kiếm củi,
một người bạn tù chỉ tay vào tôi và nói đùa với mấy cô gái: "Có cô
nào muốn lấy thằng này không để tôi gả cho!". Một cô gái vui vẻ trả
lời: "Lấy về để nấu cao à?". Thiên Chúa thân thương của tôi bấy lâu
đã bỏ tôi và chỉ để lại trong tôi một sự trống vắng hoang tàn tuyệt
vọng. Suốt bao nhiêu những ngày tháng ấy tôi không hề đọc kinh cầu
xin Chúa ngự trong linh hồn mà chỉ cầu những hạt cơm, hạt ngô, củ
khoai hay vài miếng sắn lát ngự trong bao tử lép xẹp khốn khổ của
mình! Những thứ vốn tầm thường ấy đã trở thành thiên đàng hiện thực
và giá trị nhất của tôi.
Nhưng sau khi ra tù về nhà, tôi lại chìm đắm
trong một thế giới tâm linh mới. Người em trai của tôi đã thu thập
từ lâu khoảng trên hai chục cuốn sách của Hội Thông-Thiên-Học và
trao trọn gói cho tôi đọc. Tôi đã say mê đọc những sách này trong
khoảng thời gian từ 1985 đến 1989. Điều làm tôi ngạc nhiên với chính
mình là cuối cùng tôi đã không theo Thông Thiên Học vì tôi không thể
chấp nhận những điều huyền họăc của Tổng giám mục Anh Giáo
Leadbeater là một trong những sáng lập Thông-Thiên-Học. Nhưng chính
nhờ Thông-Thiên-học, tôi đã tìm lại được niềm tin mãnh liệt nơi
Thượng Đế và đồng thời tôi hết lòng tâm phục Đức Thích Ca. Từ đó
Thiên-Nhãn Thượng-Đế ngự trên đầu tôi và Đức Thích Ca ngự trong tim
tôi. Trước đó tôi chưa bao giờ vào chùa lạy Phật, không hề thuộc một
kinh Phật nào và không hề quen biết một tu sĩ nào của đạo Phật nhưng
tôi không cảm thấy xa lạ với Đức Phật. Trái lại, tôi cảm thấy hình
như Ngài đã ở sẵn trong tim tôi từ thuở nào! Cả đời tôi chưa bao giờ
đến Tây Ninh, chưa bao giờ đọc sách và cũng chưa bao giờ bước chân
vào một thánh thất Cao Đài. Nhưng tôi có cảm tưởng niềm tin của tôi
rất gần gũi với đạo Cao Đài. Tôi thật sự không hiểu tại sao và không
thể giải thích.
Tôi xin nhấn mạnh là tôi chỉ thuật lại trung
thực những gì đã xảy đến cho tôi, có sao nói vậy, tôi không hề có ý
thuyết phục bất cứ ai về những điều tôi tin. Tôi tuyệt đối không đặt
vấn đề tranh luận có hay không có Thương Đế. Tôi cũng không đặt vấn
đề chúng ta nên hiểu thế nào về Đức Phật A-Di-Đà. Các vấn đề này
hoàn toàn vượt quá sự hiểu biết của tôi và hoàn toàn tùy thuộc vào
sự cảm nhận riêng của mỗi người chúng ta.
Từ năm 1989 đến nay, tôi luôn luôn thành khẩn
niệm Phật "Nam Mô A-Di-Đà Phật" theo ý nghĩa Thông Thiên Học và tôi
đã tìm được niềm an vui trong đời sống tinh thần. Theo Thông Thiên
Học thì Đức Thích-Ca Mâu-Ni chỉ dạy chúng ta niệm "Nam Mô Thích-Ca
Mâu-Ni Phật". Thông Thiên Học giải thích nguyên ngữ chữ Phạn: "Nam
Mô’ là Vinh Danh, Sáng Danh..., "Phật" là Giác Giả tức Tâm linh Giác
ngộ, Trí tuệ thông minh hiểu biết vô lượng. "A-Di-Đà" là Vô Lượng
Quang và Vô Lượng Thọ, thiêng liêng vô cùng, vô thủy vô chung. Tất
cả mọi người chúng ta đều có Phật tính. Nếu chúng ta ra sức tu tâm
thiện hành hướng thượng thì mọi người đều thành Phật cả. Cho nên Đức
Thích Ca đã xác nhận rằng Ngài là "Phật đã thành" và mọi chúng sinh
đều là những vị "Phật sẽ thành". Mọi chúng sinh đều bình đẳng, chỉ
khác nhau ở trình độ tiến hóa về tâm linh mà thôi.
Theo thiển ý của tôi, chân lý không ở đâu xa
mà ở trong sự đơn sơ mộc mạc và giản dị nhất. Người ta càng giải
thích lời dạy của các giáo chủ một cách phức tạp cao siêu bao nhiêu
thì càng làm cho người nghe thêm rối trí và hiểu sai rồi đi lạc lung
tung chẳng còn biết đâu mà mò. Cứ theo lời dạy hết sức đơn giản của
Đức Phật là hãy khởi đầu với lòng từ bi thật sự, sau đó ta sẽ có tất
cả mọi thứ. Ngắn gọn chỉ có vậy thôi, cãi nhau dông dài vô ích! TỪ
là lòng ao ước làm cho người khác được an vui, không muốn ai bị
ngược đã bất công tàn nhẫn, thấy ai bị đau khổ thì động lòng trắc ẩn
xót xa. Lòng yêu người cũng chính là lòng yêu sự công bằng vậy. BI
là tình thương rải ra khắp chúng sinh. Phật dạy: Từ Bi là nước tưới
cây bồ đề làm cho cây nở ra hoa trái trí huệ. Trí huệ là sự hiểu
biết mà ngôn ngữ loài người không thể diễn tả được. Hãy theo con
đường Phật dạy khởi đi từ BI sẽ có TRÍ. Sau khi đã có đủ BI và TRÍ
rồi thì tự nhiên sẽ có DŨNG, nghĩa là ta sẽ trở thành can đảm phi
thường (vô úy). Sự can đảm phát sinh từ lòng thương người sẽ đến với
ta một cách tự nhiên mà không cần phải tập luyện gì hết.
Những điều trên đây xin hãy coi như công thức
thứ nhất. Công thức thứ hai là Chân Thiện Mỹ. Nghĩa là hãy thiết tha
yêu mến sự thật. Hãy vững tin rằng dù cho sự thật bị đàn áp chà đạp
tới đâu, cuối cùng Sự Thật cũng ngóc đầu dậy và chiến thắng vinh
quang. Đó là luật của Thiên nhiên mà không có một sức mạnh tội ác
nào có thể cưỡng lại được. Sự thật là Chân Lý và Chân Lý cao hơn mọi
tôn giáo. Nói cách khác, không một tôn giáo nào cao hơn Sự Thật.
Lòng thiết tha yêu mến sự thật là cội nguồn của sự Thánh Thiện. Vì
vậy phải có Lòng Chân Thật trước hết rồi sau mới có thể có cái tâm
thiện lành được. Rõ ràng phải có CHÂN mới có THIỆN và cuối cùng tự
nhiên ai cũng thấy đó là sự tốt đẹp vô cùng (MỸ).
Hai công thức đó của Đức Thích Ca quyện chặt
vào nhau thành một. Nói cách khác, ta chỉ cần trau dồi lòng từ bi và
tha thiết yêu sự thật là ta sẽ có nguồn sáng tâm linh và lòng can
đảm để giải quyết tất cả mọi sự trên đời này. Đó chính là Đạo Làm
Người (hoặc Đạo Nhân) đã có sẵn trong tâm thức của truyền thống văn
hóa Việt Nam. Tâm thức của tổ tiên Việt Nam chúng ta từ ngàn xưa đã
đạt tới tuyệt đỉnh của sự thánh thiện là lòng từ bi vô-vị-lợi, đúng
như tự điển Anh Ngữ đã định nghĩa: "SAINT; ABSOLUTLY UNSELFISH".
Loại thánh nhân được hiểu theo nghĩa này không cần được Vatican tấn
phong và cũng không nên để cho Vatican tấn phong họ vì Vatican không
đủ trình độ để vương tới loại thánh này. Vả lại, từ xưa đến nay,
Vatican chỉ phong thánh cho những kẻ đã chết từ lâu nên Công Giáo La
Mã chỉ có "những thánh của sự chết" chứ không bao giờ có "thánh của
sự sống". Công Giáo cũng không có "thánh sống" nhưng lại có quá
nhiều "quỉ sống". Các thánh của Vatican cần phải được tra xét lại,
nhất là loại thánh được gọi là tử đạo Việt Nam. Đại đa số các "thánh
tử đạo" đều là những tên Việt gian, chỉ vì ngu ngốc nên đã làm tay
sai cho giặc và chết uổng mạng cho tà đạo khốn nạn nhất trong lịch
sử loài người.
Tổ tiên từ ngàn năm xưa đã truyền dạy chúng ta
chân lý quý báu về sự thánh thiện bằng những câu tục ngữ đơn sơ:
"Thương người như thể thương thân" và dù cho khác nhau về chủng tộc
hay văn hóa cũng vẫn thương như thường: "Bầu ơi thương lấy bí cùng,
tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn". Đó chính là sự thánh thiện
không cần tôn giáo của tổ tiên Việt Nam chúng ta. Cái thói "Bụt chùa
nhà không thiêng" đã làm cho chúng ta coi thường những lời dạy "bình
dân" đó của tổ tiên nên chúng ta đã đánh mất cái kho tàng văn hóa
nhân bản mà ngày nay những tim óc vĩ đại của Tây Phương đã nhận ra
nó trong Chủ Nghĩa Nhân đạo Thế Tục (Secular Humanism) của họ. Hiến
Pháp Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi mục tiêu thực hiện chủ nghĩa nhân
bản thế tục này. Một trong những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa nhân
đạo thế tục có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với Hiến pháp Hoa Kỳ là
tác phẩm "Common Sense" của Thomas Paine, bestselling book năm 1776.
Chủ nghĩa Nhân Đạo Thế Tục được khẳng định lại trong Tu Chính Án I
năm 1791 và Tu Chính Án XIV năm 1870. Tối cao PhápViện Hoa Kỳ cũng
đã có mấy dịp khẳng định tinh thần Hiến Pháp là: Chính phủ tôn trọng
các nhân quyền và dân quyền nhưng phải có mục tiêu thế tục hoặc
vô-tôn-giáo. (Government policy must have a secular or non-religious
purpose – American Government, Politics and Political Culture by
William Lyons. West Pub. Co. 1995, p. 110). Đỉnh cao trí tuệ và tâm
linh Tây Phương đã gặp gỡ tinh-thần nhân-bản vô-tôn-giáo của văn hóa
bình dân cổ đại Việt Nam. Nền văn hóa tổng hợp Đông Tây mang trọn
nhân tính này sẽ là ngọn hải đăng dẫn dắt nhân loại đi vào thiên
niên kỷ thứ ba. Nền văn hóa này sẽ sản sinh ra những thánh sống phục
vụ cho hạnh phúc của nhân loại để mở đầu cho kỷ nguyên của những
thánh sống thật. Các thánh đã chết không thể làm những điều ích lợi
tích cực cho nhân loại được nữa ngoài các tác dụng của những tấm
gương sáng (nếu có) để chúng ta chiêm ngưỡng mà thôi. Dưới ánh sáng
dịu dàng của Đức Phật từ bi và với tâm thức thánh thiện của tổ tiên
xa xưa còn sót lại, tôi đã rà xét lại niềm tin tôn giáo lâu đời của
gia tộc mình. Nhận thức đầu tiên của tôi là: Chánh Đạo phải là đạo
thương người và cứu người. Bất cứ một tôn giáo nào bề ngoài tuy có
vẻ văn minh hào nhoáng hoặc đội lốt bác ái giả dối nhưng trong thực
tế lại là đạo giết người nhiều nhất thì cái đạo đó phải là tà đạo
chứ không thể khác được!
Núp sau hình ảnh nhân ái của ít người nổi
tiếng như Mother Theresa là cả một dãy núi tội ác sát nhân của giáo
hội Công Giáo trong 17 thế kỷ qua. Từ khi bạo chúa La Mã Constantine
lập đạo Công Giáo năm 325 tại Nicaea đến nay, Công Giáo đã giết hại
trên hai trăm triệu người nên Công Giáo không thể tồn tại như một
tôn giáo trên thế giới. Nó phải được coi là một tổ chức tội phạm vô
tiền khoáng hậu và phải bị đào thải khỏi nền văn minh nhân bản của
loài người. Với lương tâm và lương tri bình thường, chúng ta không
thể hình dung được một tôn giáo mà không có đức từ bi. Tôn giáo
chiếm giải vô địch giết người như Công Giáo La Mã là tôn giáo không
có đức BI thì không thể có TRÍ. Cho nên tín đồ của nó chủ yếu gồm
những kẻ thiếu trí tuệ.
Có hai loại người trong hàng ngũ những kẻ
thiếu trí là "những kẻ thất học" gồm đại đa số giáo dân và trí xảo
quyệt là hàng ngũ tu sĩ lãnh đạo cao cấp. Chính những kẻ xảo quyệt
này mới thực sự là đại họa cho nhân loại vì họ là những tên chánh
phạm của các loại tội ác của Công Giáo La Mã từ xưa đến nay! Ai có
thắc mắc gì về những điều này xin hãy tìm đọc "VATICAN THÚ TỘI VÀ
XIN LỖI" của 6 tác giả, 312 trang, Giao Điểm xuất bản năm 2000.
Tôi rất đau buồn nhận ra đạo Công Giáo mà gia
tộc tôi đã theo từ năm 1553 tới nay chính là cái tà đạo oan nghiệt
đó. Tôi xin cảm tạ Ơn Trên đã soi sáng và giải cứu tôi thoát khỏi
ngục tù tư tưởng của tà đạo Ngụy Thiên-Chúa này. Tất cả những gì tôi
kể ra đây đều là những gì đã thật sự xảy ra cho tôi, chuyện ra sao
thì tôi xin kể lại như vậy mà thôi. Sở dĩ tôi phải nói là được Ơn
Trên giải cứu vì hầu như mọi người do một cơ duyên nào đó mà bị
vướng vào cái tà đạo ác ôn này thì chẳng khác nào một con thú bị mắc
bẩy, rất khó có thể tự vùng vẫy thoát ra. Đúng như giáo sư Trần
Chung Ngọc đã viết trong tạp chí Giao Điểm số 38 Mùa Thu năm 2000
(trang 12): "Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, con người một khi cho
chân vào cái rọ Gia Tô rồi thì khó rút ra lắm, vì chính sách nhồi sọ
của Gia Tô Giáo rất tinh vi với đầy đủ phương tiện".
Đó chẳng phải là tình trạng khó khăn của thân
phận giáo dân ở các nước kém mở mang như Việt nam mà ngay những giáo
dân Công Giáo tại nước Mỹ nổi tiếng tự do và văn minh nhất thế giới
này cũng phải công nhận là Đạo Công Giáo có một "cái tròng tâm lý"
đặc biệt mà nữ học giả Joanne H. Meehl gọi là "cái thòng lọng Công
Giáo" (the Catholic Loop). Trong tác phẩm "Người Công Giáo tỉnh ngộ"
(The Recovering Catholic, 300 trang, Promethus Books USA 1995). Tác
giả cho biết hiện nay có rất nhiều tín đồ Công Giáo Mỹ bị khủng
hoảng đức tin trầm trọng nhưng vẫn không thoát ra khỏi "cái thòng
lọng Công Giáo" đó!. Tôi xin trích dẫn một số ý kiến tiêu biểu trong
cuốn sách độc đáo này để chúng ta biết sơ qua về trình độ thức tỉnh
tâm linh của những người trí thức Công Giáo Mỹ hiện nay ra sao:
- Công Giáo thực chất là một chế độ độc tài tự
xưng là một tôn giáo (Catholicism is a dictatorship claiming to be a
religion). Thiên-Chúa Ki-tô-giáo là một gã đàn ông toàn năng
(Christian God is the Male Almighty). Mỗi khi nói tới Thiên Chúa,
người ta luôn luôn sử dụng các từ ngữ thuộc giống đực (gramatically
masculin as He, His, Father, Son). Đối với phụ nữ Công Giáo Mỹ thì
quyền lực của giới tu sĩ đàn ông chứ không phải quyền lực của Chúa
vẫn luôn luôn tồn tại. Thiên Chúa chỉ là tấm màn che cho sự thống
trị của đàn ông (The power of man, not God, still exists. God is
merely a backdrop to man’s ruling). Hồi Giáo và Công Giáo đã "thánh
chiến" với nhau trong nhiều thế kỷ làm chết mấy chục triệu sinh mạng
và ngày nay họ vẫn đang giết nhau ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng
họ lại hết sức đoàn kết với nhau trong chủ nghĩa thù ghét phụ nữ
(They united in their misogyny). Cả hai tôn giáo này tuyệt đối không
cho phụ nữ giữ các chức vụ tư tế (priests). Tại diễn đàn Liên Hiệp
Quốc, họ lớn tiếng chống phá thai mà họ gọi là đấu tranh cho quyền
sống, thực chất là họ đấu tranh cho sự sống còn của tôn giáo họ
(Struggle for the right to life is actually a struggle for the
survival of their religions). Thiên-Chúa-Đực-Rựa của họ còn lắm điều
hơn đàn bà (Their Male Almighty is more talkative than women) các
lời bậy bạ của họ đều được gán cho là lời của Chúa (words of God).
Tác giả dành 4 trang kêu gọi những người Công Giáo Mỹ bỏ đạo. Theo
tác giả, bỏ đạo là từ chối làm kiếp con bò - Refusing to be a cow –
from p.116 to p.119).
- Ngoài những ý kiến của tác giả còn nhiều ý
kiến táo bạo của nhiều tín đồ Công Giáo khác do tác giả phỏng vấn.
Chẳng hạn cô Victoria phát biểu: Cái điều làm cho cô tức giận nhất
là cái ý nghĩ bệnh hoạn cho rằng Jesus chết cho tội lỗi của cô và
của mọi người. Cô nói "Bởi vì tôi và mọi người tôi biết đều không
làm cái điều bệnh hoạn chứng minh cho cái việc tồi tệ của gã đàn ông
bị đóng đinh trên thập ác và chảy máu đến chết đó. Nếu hắn cảm thấy
cần phải chết vì tôi thì, xin lỗi, đó là do tự ý hắn muốn vác lấy
gánh nặng một cách sai lầm kinh khủng. Tôi không thèm làm một việc
tồi tệ đến như vậy". (Victoria says the thing that makes her the
angriest is "the sick idea that Jesus died for my sins or
anyone'’sins. Because neither I nor anyone I know has done anything
that bad that justifies this sick thing of this man being nailed to
a cross and bleeding to death. If he feels he has to do that for me,
I’m sorry, that’s a terribly misplace burden. I didn’t do anything
that bad!", p.131).
- Cô Linda ở Texas viết gởi cho tác giả một
bài tựa đề "Công ty Công Giáo La Mã" với nội dung "Công Giáo La Mã
là tôn giáo hay tiệm buôn? Cái thật sự làm tôi băng khoăn là tài sản
kếch sù của giáo hội. Họ có quá nhiều vàng và liên hệ mật thiết với
Mafia. Họ dạy người ta về đức nghèo khó trong khi họ có trụ sở ở thị
trường chứng khoán New York. Họ dạy lòng yêu thương nhưng lại rất
khinh bỉ những người ngoài Công Giáo. Họ dạy sự bình đẳng nhưng coi
phụ nữ như đất cát. Tôi hết chịu đựng nỗi sự đạo đức giả của họ.
Giáo hội đầy dẫy những thứ đó. Hãy nhìn về nước Tây Ban Nha mà xem,
giáo hội giàu có được vây quanh bởi những kẻ nghèo đói. Tục ngữ xưa
có câu "Giàu nứt đố đổ vách như giáo hoàng". (Hypocrisy – is Roman
Catholicism a religion or a business? Linda of Texas refers to it as
"Roman Catholicism, Inc.,"... What really annoys me is the church’s
vast wealth. They own too much gold... its Mafia connections.. They
preach poverty while they have a seat on the New York Stock
Exchange. They preach love but they look down upon anyone that’s not
Catholic. They preach equality but treat woman like dirt. I can’t
stand hypocrisy, the church is full of it! Look at Spain, where the
richness of the church is surrounded by the poverty... In the old
country people saying "he’s as rich as the popes", p.132-133).
Còn nhiều điều khác rất hấp dẫn táo bạo nhưng
rất tiếc là khuôn khổ bài viết này không đủ sức chứa. Mong quý vị
độc giả sẽ tìm đọc lấy. Ở đây tôi chỉ xin đề cập đến Cái Thòng Lọng
Công Giáo (The Catholic Loop) mà thôi.
Theo kinh nghiệm bản thân, tôi nhận thấy "cái
thòng lọng Công Giáo" này đã được hình thành chủ yếu do sự đọc kinh
hằng ngày từ nhỏ tới lớn khiến cho những tín điều dù vô lý đến mấy
rồi cũng trở trành chân lý do sự lập đi lập lại nhiều lần và do sự
tự kỷ ám thị. Qua những lời kinh cầu nguyện hằng ngày, những tín
điều nhảm nhí ngớ ngẩn dần dần thấm sâu vào cõi vô thức khiến con
người chấp nhận chúng như hiện tượng "phản xạ có điều kiện" trong
khoa học tâm lý và hậu quả là người ta không còn muốn đem lý trí ra
để kiểm chứng nữa!. Ngoài cái tâm lý đó ra còn có một yếu tố khác
rất nặng nề, nó chính là sợi dây vô hình ràng buộc con người với tôn
giáo chặt chẽ không thể tưởng được! Đó là tình cảm gia đình và gia
tộc gắn bó trong niềm tin Công Giáo. Phải là những người đạo gốc lâu
đời mới có thể cảm thông được điều này. Cụ thể là trường hợp cha mẹ
tôi. Tôi biết cha mẹ tôi hết lòng yêu thương tôi và sẵn sàng hy sinh
mọi thứ cho tôi, nhưng nếu bị đặt vào trường hợp bắt buộc phải chọn
lựa một là tôi phải chết hai là tôi phải bỏ đạo thì dứt khoát cha mẹ
tôi muốn tôi chết chứ không muốn tôi "bỏ đạo". Xin hãy khoan nói tới
chuyện "dám chống đạo", người Công Giáo thường gọi là "dám phản
nghịch cùng Chúa", là điều kinh thiên động địa vượt ngoài sức tưởng
tượng của cha mẹ tôi.
Đến khi lớn lên có gia đình riêng, vợ con tôi
đối xử với tôi cũng y hệt như vậy. Ở nước Mỹ này ai cũng có quyền tự
do tư tưởng là một quyền hiến định đàng hoàng, vậy mà tôi không hề
có cái quyền này ở ngay trong gia đình mình! Thật là một điều trái
khuấy kỳ quặc! Vào tháng tư năm 1996, nhân dịp đọc bài "Rethinking
of the Resurrection of Christ" đăng trên tờ Newsweek, tôi lén vợ con
lược dịch thành bài "Suy nghĩ lại về sự phục sinh của Chúa Ki-tô" và
gửi đăng trên tuần san ĐẸP (số 239 ngày 13.4.1996). Vì không muốn ký
tên thật, tôi chẳng cần suy nghĩ và chỉ trong một giây đồng hồ tôi
đã chọn xong cho mình một "bút hiệu" là Charlie Nguyễn. Sau vụ này,
mọi chuyện êm ru!. Đến tháng 8.1996, tôi đến thư viện mượn mấy cuốn
sách về nhà đọc chơi, trong số đó có cuốn "The Jesus Conspiracy" (âm
mưu của Jesus) của hai tác giả Đức nhưng đều tốt nghiệp Đại học Mỹ
là Holger Kersten và Elma R. Gruber. Không ngờ các tác giả viết sách
quá hay khiến tôi cầm lòng không được nên đã táy máy tóm dịch thành
bài "Tấm Vải Liệm Xác Chúa" và gửi đăng trên tuần san ĐẸP số 251
ngày 6.7.1996. Ông bà chủ báo vốn chẳng quen biết gì với tôi nhưng
thấy bài viết trước đây của tôi đã được đăng báo không gây chuyện
rắc rối gì nên hai vị này đã thản nhiên cho đăng tiếp.
Không ngờ bài viết lần này đã gây một sự phẫn
nộ lớn trong giới người Việt Công Giáo ở Houston. "Bản Tin Mục Vụ"
phát tại các nhà thờ và mấy tờ báo thân Công Giáo ở Houston viết bài
chửi tôi thậm tệ với nội dung hàm chứa một sự hăm dọa. Giáo dân
cuồng tín ở mấy xứ đạo tại Houston hăm đánh ông bà chủ nhiệm chủ bút
báo Đẹp, hô hào các thương gia Công Giáo rút lui không đăng quảng
cáo trên báo và chúng còn hăm đốt tòa báo Đẹp nữa, làm cho ông bà
chủ báo mất ăn mất ngủ mấy tuần lễ liền khiến cho hai vị này hốc hác
trông rất thảm não. Tôi không thể tưởng tượng nỗi là một bài viết
cỏn con của tôi đã làm cho những kẻ cuồng tín này phẩn nộ tức tối
đến như vậy!. Bài viết chỉ có mấy trang báo tóm dịch từ một cuốn
sách dầy 337 trang, đã được chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Đức ra 9
thứ tiếng khác từ năm 1994. Riêng bản Anh ngữ được tái bản và phát
hành đồng loạt tại Mỹ, Anh và Úc tổng cộng lên tới cả triệu bản. Tòa
thánh La Mã và toàn thế giới Công Giáo, trong đó có 53 triệu tín đồ
Công Giáo Mỹ là nước chủ nhà, đã đọc nó nguyên con từ lâu mà chẳng
có một phản ứng nào. Vậy mà cái dúm người Việt Công Giáo ở Houston
này làm rùm beng để chống lại cái bài tóm dịch quèn của tôi và đòi
đốt tờ báo Đẹp để làm gì? Phải chăng họ đã quá mù quáng nên đã có
những hành động thật đáng xấu hổ. Sự phẩn nộ điên khùng của họ chỉ
làm cho người Mỹ và các dân tộc khác thấy rõ được cái trình độ thấp
kém cùng cực của họ vì họ chẳng hề hay biết gì về những biến chuyển
lớn lao trong tư duy của nhân loại ngày nay về tôn giáo nói chung và
về Công Giáo nói riêng!. Những kẻ tự xưng là "các chiến sĩ bảo vệ
đức tin" mặc dầu đã may mắn sống trên đất Mỹ hơn hai chục năm qua mà
đến nay họ vẫn cứ tưởng như đang sống ở Hố Nai, Xóm Mới hay Ngã Ba
Ông Tạ thời Ngô tổng thống trước 1963 hoặc thời Hoàng Quỳnh làm loạn
ở Saigon trong các năm 65-66!
Trước đây tôi thực sự chưa hiểu được hết giá
trị của cuộc Cách Mạng 1.11.1963 lật đổ chế độ của bạo quyền Công
Giáo Ngô Đình Diệm. Nhưng nay nhờ chuyện này mà tôi mới nhận thức ra
cái tà đạo ác ôn Công Giáo La Mã là một đại họa ghê gớm của dân tộc
Việt Nam. Xin cám ơn vô cùng cuộc Cách Mạng 1.11.1963!. Đó là cuộc
Cách Mạng đã giải cứu đất nước thoát khỏi nạn nguy hiểm tôn giáo,
trong đó nạn độc tài Công Giáo phải được kể là nguy hiểm trên hết
mọi thứ độc tài! Tôi oán giận tiền nhân của chúng ta ngày xưa đã
đánh mất những cơ hội lịch sử để loại trừ cái tà đạo này ngay trong
thời kỳ trứng nước của nó. Tổ tiên chúng ta đã mắc sai lầm lớn là để
cho nó tồn tại và không ngừng phát triển tới ngày nay trên đất nước
chúng ta. Nó đã nín thở qua sông trong những giai đoạn Trịnh Nguyễn
phân tranh, qua triều Tây Sơn Cảnh Thịnh, qua các triều đại nhà
Nguyễn và thời kỳ Bình Tây Sát Tả của Văn Thân để rồi ngóc đầu dậy
như diều gặp gió dưới thời Pháp thuộc và suýt trở thành quốc giáo
tại Miền Nam Việt Nam dưới thời của mấy anh em Việt gian họ Ngô gốc
gác Công Giáo cuồng tín Quảng Bình!.
Biến cố 30 tháng Tư 1975 là một cơ hội bằng
vàng cho một số rất đông những người Công Giáo ồ ạt chạy ra nước
ngoài làm giàu. Hơn hai chục năm qua họ đã gửi về Việt Nam những
khoản tiền khổng lồ giúp các cha cố trong nước xây dựng nhà thờ và
bành trướng thế lực. Nhiều Việt kiều về thăm quê hương sau 25 năm xa
cách đã phải sửng sốt ngạc nhiên trước những khu nhà thờ và nhà xứ
nguy nga đồ sộ mới được xây cất sau năm 1975. Giáo dân tấp nập lụa
là tha thướt ra vô các thánh đường với các ca đoàn, hội đoàn và đủ
hình thức sinh hoạt giáo xứ tưng bừng hoa lá. Các cha cố mặc com-lê
đúng mốt tay xách Samsonite nườm nượp rủ nhau đi Âu Châu và Bắc Mỹ
chủ yếu nhằm hoạt động kiếm tiền chứ chẳng có ai lo việc đạo đức hay
nhân đạo thực sự. Cố đạo giàu thì cán bộ tham nhũng cũng giàu theo,
đúng là "tốt đạo đẹp trời" chứ có mất mát gì đâu. Chỉ có đám giáo
dân cùng đinh thì trước sau vẫn giữ vững cái khố như tượng Chúa trên
thập giá mà thôi. Tượng Chúa là vật vô tri vô giác thì có cái khố
hay không chẳng sao, nhưng đám giáo dân nghèo không còn cái khố để
mặc, không còn hạt cơm để ăn trong khi cha cố buôn thần bán thánh
trở nên giàu có huênh hoang phè phỡn thì thật là một vấn đề xã hội
nghiêm trọng! Trong khi đó thì chính quyền vẫn bị buộc tội là đàn áp
tôn giáo nhưng sao từ 1975 đến nay chưa thấy xuất hiện một thánh tử
đạo nào? Ngược lại, Công Giáo vẫn phát triển trăm hoa đua nở hơn cả
thời Diệm ở Nam Việt Nam. Sự việc này đã được chính nhà văn Linh Mục
Công Giáo xác nhận.
Trong bài "Nghĩ Về Lễ Hội La-Vang" đăng trên
tuầ讠báo Ngày Nay ở Miền
Đông Hoa Kỳ ngày 12 tháng 8 năm 1999, Linh Mục Trần Quý Thiện đã
viết: "Với nhận định vô tư thẳng thắn, người ta có thể nói mà không
sợ sai lầm rằng: từ ngày chủ thuyết Cộng Sản xuất hiện trên đất nước
Việt Nam năm 1930, một tôn giáo được đảng này đặc biệt chiếu cố và
tìm mọi cách tinh vi khoa học để triệt hạ là đạo Công Giáo. Nhưng
tại sao lãnh tụ của họ đã chết mà Công Giáo vẫn tồn tại và phát
triển hơn trước?! Năm 1969, khi Hồ Chí Minh chết, số giáo dân chỉ
trên hai triệu thì nay đã trên bảy triệu. Trãi qua một quá trình bị
bách hại dã man trong 69 năm (1930-1999) tại sao các thông tín viên
ngoại quốc lại viết: "Lễ hội La-vang là một cuộc biểu dương niềm tin
lớn lao nhất tại Việt Nam kể từ sau ngày Cộng Sản xâm chiếm miền
Nam".
Thực tế hiển nhiên là số giáo dân đã tăng gấp
ba lần sau 30 năm sống dưới chế độ Cộng Sản. Điều đó không có nghĩa
là Cộng Sản vì thương yêu nên lo vỗ béo cho Công Giáo. Vậy lý do nào
đã khiến cho Công Giáo chẳng những không bị diệt mà còn mau lớn hơn
cả Phù Đổng như vậy? Chúng ta có thể giải thích hiện tuợng này với
nhận định sau đây: Trước hết Cộng sản không thể tiêu diệt Công Giáo
bằng bạo lực trong hoàn cảnh thế giới hiện nay. Bản chất Công Giáo
là bóng tối nên nó chỉ có thể bị tiêu diệt bằng ánh sáng giáo dục và
ánh sáng tự do dân chủ thực sự với các quyền tự do ngôn luận và tự
do tư tưởng như ở Hoa Kỳ chẳng hạn. Trong khi đó sau nhiều chục năm
cầm súng, ít cầm bút, nên trình độ của các cán bộ Cộng Sản "đặc
trách tôn giáo vụ" còn thấp nên họ không có đủ khả năng tiêu diệt
Công Giáo bằng giáo dục. Cộng Sản có cùng bản chất độc tài giống như
Công Giáo và cả hai đều là những đặc sản của nền văn hóa du mục Tây
phương, do đó Công sản đã không dám dùng cái thứ vũ khí hữu hiệu
nhưng nguy hiểm là tự do dân chủ thật sự vì điều đó có nghĩa là "cả
hai ta cùng chết"! Đó là lý do chính yếu khiến Công Giáo vẫn tồn tại
dưới chế độ Cộng Sản. Trong thực tế cả hai đã dựa vào nhau để cùng
tồn tại và phát triển!
Nữ học giả Joanne Meehl thật hữu lý khi bà
viết: "Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo
và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bởi sự giáo dục và đời sống kinh tế
khá giả". (Catholicism thrives and grows among the poor and
ignorant. It is overcome by education and economic well-being – Sách
đã dẫn, trang 288). Sự phát triển vượt bực của Công Giáo La Mã dưới
chính quyền Việt Nam trong 30 năm qua đã phản chiếu cho ta thấy cái
thực trạng của nền kinh tế và giáo dục ở Việt Nam. Đạo Công Giáo
luôn luôn cất bước song hành với sự nghèo đói ngu dốt và tội ác cùng
những tệ đoan xã hội khác nhau. Vậy con số giáo dân Công Giáo gia
tăng trong chế độ Cộng Sản không phải là một dấu hiệu của sự hãnh
diện mà là một hồi còi báo động về mức suy đồi nghiêm trọng của nền
giáo dục, kinh tế và tham nhũng.
Một chuyện ngược đời nữa là tên đường
Alexandre de Rhodes ở Saigon đã bị chính quyền Việt Nam Đệ Nhị Cộng
Hòa dẹp bỏ sau Cách Mạng 11.11.1963 để thay bằng tên của ông tổ chữ
Nôm là Hàn Thuyên, thì nay chính quyền Việt Nam lại phục hồi tên
Alexandre de Rhodes trở lại để vinh danh tên cố đạo gián điệp cướp
nước này. Đây chẳng những là một quyết định sai lầm nghiêm trọng về
văn hóa và lịch sử mà còn là một hành vi làm nhục quốc thể của chính
quyền. Chúng tôi phản đối về việc làm hoàn toàn sai trái và nhục
quốc thể này!. Trong bài viết ngắn ngủi của tôi mang tựa đề "Thánh
Phanxicô Xaviê, cố đạo Đắc Lộ và chữ quốc ngữ" (đăng trong cuốn
Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ, Giao Điểm xuất bản 1998, trang
160-166) tôi đã trình bày quan điểm như sau:
"Vấn đề chữ quốc ngữ, tôi thiết tưởng chúng ta
không cần phải biểu lộ lòng biết ơn đối với bọn cố đạo vì bọn chúng
không hề tri tình làm ơn cho dân tộc ta. Bọn chúng phát minh ra chữ
quốc ngữ chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là tạo ra một phương tiện
truyền đạo để gieo rắc biết bao tai ương cho đất nước ta mà thôi.
Bọn cố đạo thừa sai là những kẻ địch của tổ quốc Việt Nam. Xin hãy
coi chữ quốc ngữ là CHIẾN LỢI PHẨM do chúng ta tịch thu được từ tay
địch. Chúng ta không cần phải quay đầu lại phía đồn địch để cám ơn
đã cho chúng ta những chiến lợi phẩm đó! Chúng ta cần phải dùng vũ
khí tịch thu được của địch để trừng trị bọn địch và bè lũ tay sai
của chúng là thành phần Việt gian đã tự biến mình thành những kẻ lạ
trên quê hương mình... Chúng ta phải bắt chúng quì xuống tạ tội hỗn
láo với tổ tiên, với Đức Phật và với hồn thiêng Tổ quốc. Chúng ta
sẵn sàng tha thứ nếu chúng tỏ ra biết ăn năn hối cải. Nếu chúng vẫn
tiếp tục ngoan cố láo xược, nhất định chúng ta không tha. Tội ác của
bọn bán nước và cướp nước hãy còn nguyên đó!" Tôi xin chú thích thêm
ở đây là khi viết những dòng chữ này tôi không có ý ám chỉ việc sử
dụng vũ khí đạn dược để bắn giết đồng bào mình. Tôi chỉ tha thiết
kêu gọi việc sử dụng chữ quốc ngữ như một chiến-lợi-phẩm văn hóa làm
vũ khí tiêu diệt tệ nạn mê tín mà thôi – Charlie Nguyễn).
Trong tháng 9.1996, do một sự tình cờ, vợ con
tôi phát giác tôi là Charlie Nguyễn, lập tức vợ con tôi lục soát
khắp nhà tịch thu mọi thứ tài liệu sách báo và bản thảo viết tay của
tôi cho vào bao bố đem vứt ở nơi nào đó thật xa để tôi không thể thu
hồi lại được. Bình thường, bà xã tôi rất di﵍ hiền dễ thương nên tôi
thường đùa gọi vợ là "Nữ Thánh hiền thê Tê-rê-xa của anh"! Nhưng khi
thấy tôi dám xăm mình chống lại tôn giáo của nàng (và cũng là tôn
giáo của tôi thời tấm bé) thì nàng bỗng nhiên biến thành một nữ hiệp
của Tòa Thánh!. Nàng chỉ huy đám con giống như một lực lượng cảnh
sát mở cuộc hành quân truy lùng tài liệu Việt cộng ở Saigon hồi tết
Mậu Thân! Để tránh cho gia đình khỏi lâm vào tình trạng tan vỡ, tôi
đành phải nhượng bộ bằng cách tuyên thệ trước bàn thờ Chúa là từ nay
con không dám tái phạm nữa! Sau đó tôi ngoan ngoãn cùng đi lễ với
gia đình vào các ngày Chủ nhật để tỏ ra là đã "thành tâm ăn năn hối
cải" . Nhờ đó gia đình tôi đã tạm thời qua cơn sóng gió và trở lại
tình trạng yên ổn bình thường. Đây đúng là một hình thức hòa bình
theo kiểu La Mã – Pax Romana! Nhưng thứ hòa bình này không thể bền
lâu, vì như Eistein đã nói: "Peace cannot be kept by force. It can
only be achieved by understanding": Hòa bình không thể được duy trì
bằng sự ép buộc. Nó chỉ có thể được thực hiện bằng sự hiểu biết lẫn
nhau.
Đầu năm 1998, tại Houston bỗng nổ ra một cuộc
bút chiến sôi nổi giữa một bên là báo Con Ong Texas do "một số nhà
thần học tân tòng" chủ trương và bên kia là Đông Dương Thới Báo do
"bổn đạo giác ngộ" Giuse Phạm Hữu Tạo chủ trương. Thoạt đầu tôi chỉ
theo dõi cuộc bút chiến như một kẻ bàng quan vì thật sự tôi cũng
chẳng muốn dây dưa vào cái chuyện mệt xác này. Vả lại cái chuyện cải
nhau về tôn giáo xưa nay và có lẽ muôn năm vẫn luôn luôn là phức tạp
nhức đầu vô cùng tận, chẳng những không ăn cái giải gì mà còn gây
thêm liên lụy làm khổ vợ con. Nhưng sau đó vì thấy những bài viết
của những người bênh vực Công Giáo đăng trên Con Ong Texas quá sai
lầm và lố bịch khiến tôi chịu đựng hết nổi. Do đó, tôi viết bài "Tâm
thư của một người Công Giáo tỉnh ngộ sau nhiều năm khủng hoảng đức
tin". Vì lúc đó cái "bút hiệu" Charlie Nguyễn đã bị lộ nên lần này
tôi phải chọn một "bút hiệu" khác là Nguyễn Chấn rồi gửi bài cho
Đông Dương Thời Báo và vài nơi khác ngày 28.2.1998. Sau đó, đúng
ngày 9 tháng 3 năm 98, không biết vợ tôi kiếm đâu ra tờ Đông Dương
Thời Báo có mục nhắn tin: "Ông Nguyễn Chấn, chúng tôi đã nhận được
bài viết của ông...". Vợ tôi mang về nhà làm toáng lên. Mấy mẹ con
xúm vào tra vấn tôi đủ điều khiến cho gia đình tôi u ám thê thảm như
có đám tang. Vợ tôi trở thành một thứ phán quan Spanish Inquisition,
chỉ còn thiếu dàn hỏa mà thôi!
Cuối cùng tôi phải chọn lựa: một là chấm dứt
viết bài chống tà đạo, hai là phải xách khăn gói quả mướp ra đi. Tôi
dứt khoát chọn giải pháp thứ hai để bảo vệ cái quyền tự do phát biểu
tư tưởng của mình đến cùng. Ngay tối hôm đó, tôi bỏ nhà đi với một
cái túi nhỏ đựng ít đồ cần thiết và ngủ đêm tại gầm cầu Freeway 59
Houston cùng với mấy bác da đen homeless bởi vì lúc đó tôi không có
một xu dính túi. Đây là một kỷ niệm nhớ đời của tôi! Từ đó, tôi sống
một mình như cánh chim tự do, nay đây mai đó bất định tại mấy thành
phố miền Đông Bắc Hoa Kỳ! Tôi làm việc vừa đủ kiếm sống qua ngày để
có nhiều thì giờ rảnh rang dành cho việc nghiên cứu các vấn đề tâm
linh mà tôi luôn luôn cảm thấy thiếu thốn như một kẻ bộ hành khát
nước trong sa mạc. Tôi kể lại những chuyện riêng tư này để quý độc
giả có thể hình dung phần nào về "cái thòng lọng Công Giáo". Nếu tôi
không kể những mẫu chuyện thật này, tôi tin rằng quí độc giả ngoại
giáo khó có thể tưởng tượng được cái tròng mắc vào cổ người Công
Giáo (mà bà Joanne Meehl gọi là The Catholic Loop) nó ra "nàm thao"
và nạn nhân của nó khổ sở như "xế lào"!.
Trong những lúc bình tâm ôn lại quá khứ, tôi
nhận thấy các sách kinh nguyện mà tôi đã thuộc lòng từ nhỏ là những
kho chứa đầy chất độc tinh thần, rất nguy hiểm cho vận mệnh dân tộc
và tương lai đất nước. Với nhận thức đó, tôi không thể vì mối tình
cảm riêng của mình đối với mọi người trong gia tộc và các bạn thân
thiết của tôi hiện nay đang là những tín đồ Công Giáo thuần thành,
nhất là trong số đó có trên mười bạn là linh mục ở rải rác khắp nơi.
Đối với các bạn, tôi vẫn luôn là một người bạn như những năm tuổi
thơ đầy kỷ niệm thân yêu của chúng ta. Tôi hết lòng trân trọng tình
bạn chân tình mà các bạn đã dành cho tôi bấy lâu và tôi thật tình
không muốn làm những mối tình thiêng liêng này bị sứt mẻ. Nhưng xin
mọi người thân, kể cả vợ con cùng các anh chị em ruột thịt và các
bạn của tôi vui lòng tha thứ cho tôi để giải tỏa những nỗi ám ảnh
không nguôi đã đè nặng trên lương tâm tôi trong suốt 50 năm qua. Sau
cùng và quan trọng hơn hết là tôi xin thành khẩn hướng về linh hồn
cha tôi để tạ ơn sinh thành dưỡng dục và tình yêu thương vô bờ bến
mà cha tôi đã dành cho tôi trong cuộc đời. Tôi van vái linh hồn cha
tôi tha tội cho tôi vì tôi đã viết ra những điều bí mật trong quá
khứ của cha tôi. Cha ơi, con chỉ hành động theo tiếng gọi không thể
cưỡng lại của lương tâm mà thôi! Cha ơi, con xin vập đầu lạy Cha,
lúc nầy con yêu thương Cha hơn bao giờ hết.
Tôi cũng không vì lo sợ cho sự an toàn cá nhân
mà im lặng làm ngơ. Tuổi đời tôi nay đã 64 rồi, tôi xin dâng hiến
tất cả những gì còn lại của riêng tôi cho Đạo Làm Người với tất cả
tấm lòng thành khẩn. Với những tâm tư ấy, tôi xin cố gắng nêu lên
một số vấn đề liên quan đến các sách kinh nguyện Công Giáo với ước
mong sẽ được sự góp ý xây dựng của bậc thức giả ở hải ngoại cũng như
ở trong nước, nhằm mục đích góp phần bảo tồn sinh mệnh dân tộc, chấn
hưng văn hoá nước nhà và hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ bé nào
đó vào cuộc cách mạng tâm linh đang diễn ra trên thế giới hiện nay.
Đây hoàn toàn là một hành vi tự phát đơn độc của một người Công Giáo
đã đau khổ nhiều với những trăn trở của lương tri và chỉ vì yêu quê
nhớ nguồn mà thẳng thắn nói lên ý kiến của mình trên lập trường dân
tộc bình thường mà thôi. Tôi biết những bài viết của tôi trong mục
đích này có thể gây khó chịu cho những người cuồng tín, nhưng xét
cho cùng thì tôi cũng chỉ là người có nhiệt tâm hưởng ứng lời kêu
gọi của Giáo hoàng John Paul II. Từ khi lên ngôi năm 1978 đến nay,
Giáo hoàng John Paul II đã hàng trăm lần kêu gọi mọi tín đồ Công
Giáo phải xét lại vấn đề lương tâm của giáo hội (The Church’s
examination of conscience). Toàn bộ nội dung những bài viết của tôi
không đi ra ngoài mục đích trong tư cách là tín đồ Công Giáo. Nếu
suy nghĩ như vậy, tôi tin rằng quý vị khó có thể có lý do chính đáng
để kết án tôi về một tội nào được.
Hầu hết các giáo hội Công Giáo Âu Mỹ hưởng ứng
lời kêu gọi của Giáo hoàng Jean Paul II đã lên tiếng thú nhận tội
lỗi của giáo hội và khẩn xin sự tha thứ của loài người. Chỉ riêng
giáo hội Công Giáo Việt nam, dưới sự lãnh đạo của HĐGM do Hồng y
Phạm Đình Tụng cầm đầu, cho đến nay vẫn cứ im hơi lặng tiếng và vẫn
cố tình giả điếc như chẳng có chuyện gì xảy ra! Thái độ ngoan cố của
Công Giáo Việt Nam nói chung và của HĐGM Việt Nam nói riêng là không
thể chấp nhận được. Theo công tâm mà xét, chỉ những kẻ phạm tội biết
tỏ ra có thành tâm hối hận mới đáng được tha thứ. Trái lại, Giáo hội
Công Giáo Việt Nam là một tập thể tội phạm đối với dân tộc, nếu
không sớm tỉnh thức ăn năn hối hận và xin sự tha thứ mà vẫn cứ tiếp
tục thản nhiên như hiện nay thì nhất định sẽ bị toàn dân Việt Nam
trừng trị đích đáng vì chính thái độ trân tráo của họ đã làm cho họ
không đáng được tha thứ!
Không phải đến bây giờ mọi người mới nhận ra
cái bản chất xấu xa gớm ghiếc của đạo Công Giáo mà khắp thế giới đã
có biết bao phong trào và danh nhân của nhân lọai đã phải lên tiếng
gay gắt kết án nó từ lâu. Chỉ riêng tại Việt Nam, các cụ ngày xưa đã
gọi Công Giáo là Hoa Lang Tả đạo. Cuối thể kỷ 19, cụ đồ ái quốc
Nguyễn Đình Chiểu gọi Công Giáo là Tà đạo, đầu thế kỷ 20, nhà cách
mạng Phan Bội Châu gọi nó là Đạo Chích. Tại hải ngoại, nhân sĩ Công
Giáo tỉnh ngộ là BS Nguyễn Văn Thọ nói là Đạo Dối, nhà nghiên cứu
văn hóa chính trị Lê Trọng Văn gọi nó là Đạo Bịp. Mới đây nhất, ứng
cử viên tổng thống Mỹ George W. Bush trong cuộc vận động bầu cử tại
trường Đại học South Carolina ngày 2.2.2000 đã gọi giáo hội Công
Giáo là Giáo hội của Satan. Có một điều đáng ngạc nhiên là nếu chúng
ta đọc kỹ Thánh Kinh Tân Ước sẽ nhận thấy chính Jesus cũng gọi
Phê-rô, kẻ đứng đầu giáo hội Công Giáo là Satan. Phúc âm của Matthew
[Thánh Kinh Tân Ước cuốn Mathiơ, chương 16, đoạn 23.]
(16:23) có chép lời của Jesus như sau: "Nhưng
Ngài quay mặt lại mà phán cùng Phê-rô rằng: Hỡi Satan, hãy lui ra
đằng sau ngươi, người xúc phạm ta" (But He turned and said unto
Peter: Get thee behind me, Satan, thou art an offence unto me). Theo
nguyên ngữ Hebrew thì Satan có nghĩa là Vật Chất. Phê-rô là Đá. Đá
và Vật Chất là một. Giáo hội Công Giáo của Phêrô quả thật là giáo
hội của Satan vì nó chỉ lo vơ vét tiền của vật chất và chiếm đọat
quyền lực khuynh đảo thế gian. Cho nên trong gần hai ngàn năm qua,
nó đã lao mình vào con đường tội lỗi chống loài người và chống cả
Thiên Chúa!
Từ ngày tên bạo chúa La Mã Constantine biến nó
thành tôn giáo chính thức của đế quốc vào năm 325 đến nay, nó đã
giết hại trên 200 triệu người, trong số đó có 3 triệu người trong
hàng ngũ Thập tự quân đã chết uổng mạng để giải cứu ngôi mộ của
Jesus khỏi tay quân Hồi Giáo, trên 10 triệu người chống đạo bị đưa
lên giàn hỏa và 14 triệu nạn nhân trong các cuộc thánh chiến do
Vatican phát động nhằm tiêu diệt các giáo phái Kit-tô khác
(Deception and Myths of the Bible by Lloyd M. Graham, p.463). Nhưng
có lẽ tội ác lớn hơn mọi tội lỗi kể trên là Công Giáo La Mã đã phá
hủy gần như hoàn toàn nền văn minh nhân bản của Hy Lạp khiến cho đà
tiến hóa của nhân loại đã bị khựng lại trên một ngàn năm! Các bộ óc
vĩ đại của Hy Lạp như Pythagoras vào thế kỷ 16 TCN đã dạy học trò là
trái đất tròn và xoay chung quanh mặt trời. Vào thế kỷ 3 TCN.
Aristarchus đã đưa ra lý thuyết về thái dương hệ tương tự như lý
thuyết của Copernicus (thế kỷ 6). Cũng trong thời gian đó,
Eratosthene đã đo được chu vi trái đất. Đến thế kỷ thứ 2 TCN,
Hippachus đã phát minh ra cách vẽ địa cầu theo kinh tuyến và vĩ
tuyến! (sách dẫn chiếu trang 448).
Để thay thế cho ngọn đuốc Hy Lạp thắp sáng trí
tuệ, Công Giáo La Mã đã bao trùm lên toàn thể nhân loại bóng tối
triền miên qua nhiều thế kỷ bằng cách không ngừng bành trướng thế
lực và truyền bá nền văn hóa du mục máu lửa bắt nguồn từ
Babylon-Israel để gieo rắc không biết bao nhiêu thứ tai họa đau
thương cho cả loài người trong gần 17 thế kỷ qua. Vậy chúng ta nên
gọi Công Giáo La Mã là gì cho đúng với thực tế ghê tởm khủng khiếp
của nó? Tôi đề nghị chúng ta nên gọi Đạo Công Giáo là " ĐẠO MÁU"
hoặc cũng có thể gọi nó là "Tây-Dương Khuyển-Sinh Đại-Đạo"! Bởi vì
Công Giáo La Mã thực chất không phải là đạo thờ Thiên Chúa mà là đạo
thờ con quái vật ba đầu (hoặc ba ngôi) và một người đàn bà Do Thái.
Từ thế kỷ 11 đến nay, Công Giáo La Mã đã ra sức thần thánh hoá người
đàn bà này tới mức ngày nay bà ta đã trở thành ngôi thứ tư của Thiên
Chúa. Do đó, Thiên Chúa của Công Giáo La Mã (The Roman Catholic God)
đã thật sự trở thành Quái Vật Bốn Đầu (gồm có một đầu bò El, một đầu
thanh niên mặt mũi hắc ám đầu đội mão gai, máu me đầy mặt có hình in
trên tấm vải liệm ở nhà thờ lớn Turin, một đầu chim bồ câu đực và
mới thêm một đầu đàn bà). Tuần báo Newsweek số ra ngày 25.8.1997
(trang 49) viết: "Thay vì Thiên Chúa Ba Ngôi, dường như đã xuất hiện
một loại Thiên Chúa Bốn Ngôi với vai trò phức tạp của bà Maria: Cùng
một lúc bà ta là con gái của Chúa Cha, mẹ của Chúa Con và vợ của
Chúa Thánh Thần. (In place of the Holy Trinity, it would appear
there would be a kind of Holy Quartet with Mary playing the multiple
roles of daughter of the Father, mother of the Son and Wife of the
Holy Spirit). Theo giáo lý Công Giáo thì Ba Ngôi là một Thiên Chúa,
cho nên cùng một lúc Jesus là con, là cha và cũng là chồng của bà
Maria. Chỉ riêng một điều này cũng đủ cho ta thấy giáo lý căn bản
của đạo Công Giáo chẳng những nhảm nhí bậy bạ mà còn mang tính chất
loạn luân mất dạy (incestuous, ill-bred).
Ngoài ra, Công Giáo còn tôn sùng nhiều kẻ loạn
luân khác như "thánh" Abraham (lấy em gái làm vợ); cha con Lot trong
Kinh Thánh Cựu Ước (Lot lấy 2 cô con gái, một cô có với y 2 đứa
con), "vua thánh" David giết tướng dưới quyền để cướp vợ của ông ta
là Bathsheba để đẻ ra tổ tiên của Jesus. Giáo hoàng Borgia Alexander
VI (1492-1503) có công xây dựng kiệt tác kiến trúc là Đền Thánh
Phêrô và nuôi các danh họa kỳ tài Michael Angelo, Leonardo da Vinci
[1451-1519, người Ý: họa sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ và khoa học gia.] để họ có phương tiện kiến tạo nhiều kiệt tác
hội họa và điêu khắc để đời. Nhưng đồng thời y cũng tổ chức nhiều
cuộc truy hoan cực kỳ xa hoa trụy lạc cho các giáo sĩ và viên chức
tòa thánh làm tình tập thể (sex orgy) ngay tại Tòa Thánh với những
gái điếm tuyển lựa ở Roma. Giáo hoàng cho người đi hứng tinh dịch
của những người đàn ông tham dự để làm tiêu chuẩn tuyển chọn người
có khả năng làm tình xuất sắc nhất. Sau đó giáo hoàng và con gái y
là Lucrezia đích thân phát thưởng. Con trai của giáo hoàng là "ông
hoàng" Caesar Borgia nổi tiếng độc ác quỷ quyệt đã trở thành đề tài
cảm hứng cho Machiavel [1469-1527, người Ý.] viết nên tác phẩm The Prince lừng danh thế
giới. Lucrezia làm tình với cả cha lẫn anh nên khi nàng sinh ra một
đứa con trai, chính nàng cũng không biết nó là con của ai. Tuy
nhiên, từ khi đứa bé được 6 tháng tuổi thì Giáo hoàng Alexandre VI
công khai cho Lucrezia bế đứa bé ngồi bên cạnh mỗi khi "Đức Thánh
Cha" chủ tọa các buổi họp của tòa thánh hoặc khi y nổi hứng ban phép
lành tòa thánh cho toàn giáo hội Công Giáo hoàn vũ! Giáo hoàng
Borgia Alexander VI chẳng những loạn luân với con gái mà còn loạn
luân với hai cô em ruột và có rất nhiều vợ bé. The Bad Popes by E.R.
Chamberlin, Dorset press N.Y 1969; The Borgias, translated from
Italian by Peter Green, Praeger Bublisher USA 1972; Babylon Mystery
Religion by Ralph Woodrow Evangelistic Association, CA 1990, p. 89).
Một sự thật hiển hiên không thể chối cải là
Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước và Lịch sử Giáo hội Công Giáo
tràn ngập đủ thứ chuyện vô cùng mất dạy của Chúa Cha Jehovah, các
thánh và giáo sĩ Công Giáo các cấp. Giáo hoàng Borgia nói trên không
phải là một trường hợp cá biết. Tôi đã tóm dịch cuốn Tự Điển Bách
Khoa về các Giáo Hoàng (The Pope Encyclopedia from A to Z) và sẽ đưa
in để quý độc giả biết sơ qua về các thủ lãnh mất dạy và gian ác của
đạo Công Giáo từ xưa đến nay. Tôi đề nghị chúng ta nên phát động một
cuộc thăm dò ý kiến với qui mô rộng rãi khắp trong các cộng đồng
người Việt hải ngoại và đồng bào trong nước để thử tìm một danh xưng
xứng hợp nhất với thực chất của Công Giáo La Mã mà chúng ta có thể
nhận thức được trong hoàn cảnh hiện nay, nhất là sau khi Vatican đã
phải thú nhận 7 núi tội của nó ngày 12 tháng 3 năm 2000 vừa qua.
Ngoài những điều xấu xa bẩn thỉu và những tội
ác khủng hiếp thuộc bản chất chung của "Tây-Dương Khuyển-Sinh
Đại-Đạo", giáo hội Công Giáo Việt Nam còn phạm tội phá hoại tinh
thần và văn hóa dân tộc cũng như những âm mưu lũng đoạn quốc gia
nhằm tiếp tay cho thực dân đế quốc nô lệ hóa đất nước. Chúng ta có
thể khẳng định mà không sợ sai lầm Công Giáo là đạo của Việt gian.
Muốn nêu ra bằng chứng về những điều xấu xa ác đức này, chúng ta
chẳng cần phải tìm ở đâu xa vì tất cả đều nằm ngổn ngang ở ngay
trong sách kinh nguyện của Công Giáo Việt Nam. Để đồng bào mọi giới
có tài liệu tìm hiểu vấn đề này, tôi xin trình bày toát lược nội
dung và xuất xứ của các bài kinh nguyện, sau đó phân tích những tác
hại mà các bài kinh này đã gây ra trên phương diện văn hóa và tinh
thần như thế nào. Cuối cùng, chúng ta cùng nhau tìm mọi biện pháp
thật hữu hiệu để chận đứng những tác hại của các sách kinh nguyện
đó.
3. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KINH
NGUYỆN & KINH THÁNH
Ai cũng biết các sách Kinh Thánh (Books of the
Bible) là cái gốc của các đạo độc-thần và được các tín đồ coi là
cuốn sách cao quý nhất trên hết các sách ở trên đời, nhưng trong
thực tế hầu như tuyệt đại đa số giáo dân không đọc Kinh Thánh bao
giờ. Các sách Kinh Thánh thường rất dày như những cuốn tự điển, in
trên giấy mỏng đặc biệt (biblical paper) chữ in nhỏ với lối văn dịch
nhiều chỗ ngô nghê và khó hiểu. Trước đây, sách Kinh Thánh thường
được những người Công Giáo lớn tuổi gọi là Sách Sấm Truyền, ngày nay
người ta thường gọi Kinh Thánh là Sách Phúc Âm hay sách Tin Mừng (do
tiếng Hy Lạp Gospels có nghĩa là Good News). Thông thường vào mỗi
buổi lễ ngày Chủ nhật, các cha cố thường trích một đoạn nào đó trong
Thánh Kinh để thuyết giảng cho giáo dân nghe sau khi đã chọn lọc và
nghiên cứu kỹ càng. Do đó giáo dân có ảo tưởng Thánh Kinh gồm toàn
những lời hay ý đẹp cả. Trong các lễ ngày Chủ nhật hiện nay, một vài
giáo dân được đề cử để đọc một vài đoạn Thánh Kinh nào đó. Sau khi
đoạn sách được đọc xong, người đọc nâng cao sách Thánh Kinh lên rồi
kính cẩn nói: "Đó là Lời Chúa" và mọi người trong nhà thờ cùng đáp:
"Tạ ơn Chúa!".
Sự thật trong cái gọi là Thánh Kinh không
thiếu gì những điều nhảm nhí và vô luân. Ngược lại, có nhiều điều
rất hợp lý và bổ ích nhưng các cha cố đã cố tình tránh né không dám
mang ra giảng cho giáo dân nghe vì những điều này có hại cho nghề
nghiệp của họ. Chẳng hạn như lời của Jesus dạy về sự bình đẳng: "Mỗi
người trong anh em đều là Thầy của nhau. Tất cả đều là anh chị em
của nhau" (For one is your Master and all ye are brethen – Matt.23:
4-10). Lời của giáo chủ dạy về sự bình đẳng rõ ràng như thế nhưng
các tu sĩ Công Giáo chẳng bao giờ coi giáo dân là những người bình
đẳng với họ. Họ luôn luôn cao ngạo tự xưng mình là CHA thiên hạ, các
đấng Bề Trên, Đức Cha, Đức Ông, Đức Thánh Cha... Các giáo chủ lập
đạo là nhữung tâm hồn yêu thương toàn nhân loại và quý trọng giá trị
của mọi người dù bé nhỏ đến đâu. Các vị đó chỉ muốn giúp đỡ phục vụ
con người chứ không lên mặt làm Thầy của bất cứ ai. Trái lại, tu sĩ
Công Giáo đa số rất tự phụ, cao ngạo, ích kỷ, tham lam và đạo đức
giả. Bởi lẽ trí óc của họ rất hẹp hòi và trình độ tâm linh rất thấp
kém nên họ đã không hiểu đạo. Các giáo chủ càng đạo đức và khiêm tốn
bao nhiêu thì đệ tử của các ngài lại càng hư đốn và kiêu căng láo
xược bấy nhiêu.
Phúc âm Tông đồ Công Vụ dạy rằng: "Thánh Linh
Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ được xây dựng bởi bàn tay con
người" và "Anh em là đền thờ của Chúa, Thánh Linh Thiên Chúa ngự
trong anh em" (The Holy Spirit of God no longer dwelt in temples
made with men’s hands – Act.17:24 – Ye are the temples of God, the
Spirit of God dwelt in you – Corinth 3:16). Chúa cũng như Phật đều
xác nhận tâm linh con người mới đích thực là các đền thờ thật. Đức
Phật dạy "Phật tại tâm" chứ không hề dạy "Phật tại Chùa" bao giờ.
Nhưng nhiều tu sĩ của các tôn giáo đã biến các nơi thờ tự thành
những nơi buôn thần bán thánh, làm hủy hoại chân lý của các giáo
chủ. Chính chúng đã làm cho các vị giáo chủ mất hết chỗ đứng trong
những ngôi đền thật là tâm hồn của mọi người. Một sự thật hiển nhiên
là các tu sĩ chỉ lo xây dựng những ngôi đền giả vì nhữntg động lực
ích kỷ thấp hèn của chúng và chúng ra sức phá hủy các ngôi đền thật
quý giá vô cùng là lòng người. Thay vì dùng tôn giáo để giải phóng
con người, các tu sĩ đã biến các tôn giáo thành những nhà tù tư
tưởng để giam hãm đồng loại và biến đồng loại thành nô lệ phục vụ
cho quyền lợi ích kỷ của chúng. Bởi vậy chúng chỉ trích dẫn từ Kinh
Thánh những gì có lợi cho chúng mà thôi, những điều tốt lành nhưng
bất lợi cho chúng thì chúng hoàn toàn dấu nhẹm!
Kinh Thánh là một bộ sách rất phức tạp gồm
nhiều cuốn sách do nhiều người viết trong những thời đại khác nhau.
Tuy nhiên, theo quan điểm của Công Giáo La Mã thì Thánh Kinh gồm có
hai phần: Các sách Kinh Thánh của đạo Do Thái được người Công Giáo
công nhận là Cựu Ước gồm có 46 cuốn được viết bằng tiếng Hebrew
trong khoảng thời gian từ 1000 TCN đến 400 TCN. Các chuyện kể trong
những sách này đều là những chuyện dân gian truyền khẩu được góp
nhặt lại, trong đó có rất nhiều chuyện thần thoại được sáng tác ở
Babylon từ nhiều thế kỷ trước đó. Các giáo phái Tin lành chỉ công
nhận 39 cuốn trong tổng số 46 sách Cựu Ước nói trên mà thôi. Sáu
cuốn khác, trong đó có cuốn Wisdom of Salomon, bị họ coi là những
chuyện bịa đặt nhảm nhí!
Các sách kể chuyện về cuộc đời hoạt động của
Jesus và các môn đệ gọi là Tân Ước gồm 27 cuốn do nhiều người viết
bằng tiếng Hy Lạp trong 60 năm (từ năm 40 đến cuối thế kỷ thứ nhất
sau Công Nguyên). Chúng ta cần chú ý một số điểm là cả Jesus và đồng
bạn đều là người Do Thái nhưng không nói tiếng Do Thái (Hebrew) mà
nói tiếng Aramaic là ngôn ngữ của người Syria. Không một cuốn sách
Tân Ước nào được viết bằng tiếng Aramaic là tiếng mẹ đẻ của Jesus.
Ông giảng đạo và chết tại Do Thái vào khoảng năm 29 sau Công Nguyên,
tới 11 năm sau mới có cuốn sách đầu tiên kể chuyện về ông và người
ta tiếp tục viết cái gọi là Thánh Kinh Tân Ước tại Hy Lạp dài dài
cho tới hơn 70 năm sau để làm chứng cho những phép lạ mà Jesus đã
làm tại một nơi xa xôi là Jerusalem!
Vào đầu thế kỷ thứ 7, tại thành phố Mecca
thuộc xứ Ả Rập Seoudite, một thương gia giàu có là Mahomet đã lập ra
đạo Hồi với sự cộng tác của Zayd là một tín đồ Do Thái Giáo và của
Waraqua là một tín đồ Ki-tô Giáo. Do đó, đạo Hồi là một sự tổng hợp
của hai đạo nói trên. Đạo Hồi công nhận một phần Thánh Kinh Cựu Ước
và một phần Thánh Kinh Tân Ước. Họ tin tổ tông loài người là Adam và
Eva, họ nhận Baraham là tổ phụ và là người sáng lập Đạo Thiên Chúa
(Monotheism). Người Hồi Giáo thù ghét Do Thái Giáo và Ki-tô Giáo vì
họ cho đó là những tà đạo phỉ báng Thiên Chúa (blasphemous). Họ hết
sức khinh bỉ giáo lý "Thiên Chúa Ba Ngôi" của Ki-tô Giáo. Nhưng họ
lại rất tôn trọng các tiên tri Do Thái từ Abraham, Isaac, Jacob,
Moses, Isaiah cho đến Jesus. Đối với người Hồi Giáo chỉ có Mahomet
là tiên tri cuối cùng và cao hơn hết thảy. Kinh Thánh Coran do
Mahomet viết liên tục trong 23 năm là sách Thánh Kinh đúng đắn nhất.
CORAN (tiếng Ả Rập là Quran) có nghĩa là Sự Thuật Lại (Recitation)
vì Mahomet không nhận mình là tác giả mà chỉ nhận là người ghi chép
lại những điều thiên thần Gabriel đọc cho ông ta viết mà thôi.
Mahomet viết: "Abraham là tín đồ Hồi Giáo đầu tiên biết tuân phục
Đức Chúa Trời. Đức tin của chúng ta là đức tin của Abraham. Chúng ta
tin Thiên Chúa và những điều đã được Ngài truyền cho Abraham, Isaac,
Jacob, Ismael và dòng dõi của các vị đó. Chúng ta tin vào những điều
đã được làm chứng bởi Moses và Jesus" (Abraham had been the first
Muslim to surrender to God. Ours is the creed on Abraham. We believe
in God and in that which has been bestowed upon Abraham, Isaac,
Jacob, Ismael and their descendants and that which has been vouched
to Moses and Jesus – Koran 2:135-136).
Nói tóm lại, các đạo thờ Chúa gồm có Do Thái
Giáo, Ki-tô Giáo và Hồi Giáo gọi chung là Thiên Chúa Giáo hay Độc
Thần Giáo (Monotheism) đều coi Thánh Kinh là bộ sách quan trọng
nhất. Tuy nhiên, mỗi tôn giáo có những quan niệm riêng về thành phần
của Bộ Thánh Kinh: Do Thái Giáo chỉ công nhận Cựu Ước. Ki-tô Giáo
công nhận phần lớn các sách Cựu Ước nhưng Tân Ước là chủ yếu. Đạo
Hồi công nhận một phần các sách trên nhưng kinh Coran là chủ yếu.
Chỉ vì những chi tiết khác biệt nhỏ nhặt mà ba tôn giáo thờ cùng một
Chúa và có chung các thánh tổ phụ đã chém giết nhau trong nhiều thế
kỷ làm thiệt mạng hàng trăm triệu người! Đó là hậu quả của nền văn
hóa du mục bắt nguồn từ Babylon. Chính Kinh Thánh Khải Huyền cũng
phải công nhận: "Huyền thoại Babylon vĩ đại là mẹ của những con điếm
và những chuyện khủng khiếp trên thế giới!" (Mystery Babylon the
Great, mother of harlots and abominations of the earth. Rev.17:1-6).
Nội dung của các Sách Kinh Nguyện Công Giáo
(Catholic prayer-books) trên nguyên tắc phải phù hợp với nội dung
của các sách Kinh Thánh bao gồm cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Trong thực
tế có nhiều bài kinh nguyện (prayers) đã phản lại tinh thần Thánh
Kinh (antiscriptural) hoặc không có căn bản Thánh Kinh
(Unscriptural). Theo Thánh Kinh Cựu Ước thì mọi người chỉ có thể cầu
nguyện với Thiên Chúa mà thôi chứ không được cầu nguyện với bất cứ
ai khác vì chỉ có Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống. Việc cầu nguyện các
thánh bị coi là nói chuyện với những người đã chết bị Cựu Ước lên án
(All attempts to communicate with the dead are condemned – Isaiah
8:19-20). Trong các sách kinh nguyện Công Giáo có rất nhiều bài kinh
dùng để cầu nguyện với các thánh đã chết, như vậy là đã chống lại
Thánh Kinh.
Những bài kinh dùng để lần chuỗi Mân Côi được
người cầu kinh lặp đi lặp lại nhiều lần là trái với lời dạy của
Jesus: "Khi anh em cầu nguyện đừng lặp đi lặp lại như những kẻ ngoại
vì họ lầm tưởng rằng cứ nói nhiều thì sẽ được nghe nhiều". (When ye
pray, use not vain repititions as the heathen do for they think that
they shall be heard for their much speaking -–Matt. 6:7-13).
Những bài kinh ca ngợi Đức Mẹ Đồng Trinh là
trái với Cựu Ước vì Cựu Ước chỉ nói rằng Chúa Cứu Thế sẽ được sinh
ra bởi một người mẹ "Trẻ" chứ không phải là "Đồng Trinh". Sách của
Matthew là sách duy nhất trong bộ Tân Ước nói Đức bà Maria đồng
trinh bằng cách trích dẫn sách của Isaiah trong Cựu Ước, nhưng các
nhà nghiên cứu Thánh Kinh đã phát giác ra sự ngụy tạo của Matthew vì
Isaiah dùng chữ Hebrew "ALMAH" có nghĩa là trẻ (young) chứ không hề
có nghĩa là Đồng Trinh (virgin). Ngoài ra còn rất nhiều điều ngụy
tạo trong bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng La Tinh của Jerôme
(Vulgate) so với chính bản Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp hoặc những
điều ngụy tạo trong các bài kinh nguyện so với Thánh Kinh sẽ được
trình bày ở những đọan sau.
4. XUẤT XỨ CÁC BÀI KINH
NGUYỆN
Các bài kinh nguyện (prayer) phát sinh từ
nhiều nguồn khác nhau và xuất hiện trong nhiều thời điểm khác nhau
nhưng nói chung các bài kinh này đều đã phải trải qua sự kiểm duyệt
kỹ càng của Vatican. Căn cứ vào Thánh kinh và lịch sử giáo hội Công
Giáo, ta có thể biết được nguồn gốc của một số kinh nguyện như sau:
1. Kinh Mười Điều Răn xuất
phát từ đạo Do Thái.
Theo Thánh Kinh Cựu Ước Exodus thì khoảng năm
1200 TCN, Moses (tức thánh Mai-sen) một mình leo lên núi Sinai ở
phía Bắc Hồng Hải (hiện thuộc lãnh thổ Ai Cập) để gặp và nói chuyện
mặt đối mặt với Thiên Chúa Jehovah. Moses nhận hai phiến đá ghi 10
điều răn, tức 10 điều luật, từ tay Thiên Chúa Jehovah trực tiếp trao
cho. Sau đó Moses xuống núi công bố cho dân Do Thái biết rằng
Jehovah là Thiên Chúa của Israel và chính là thần EL của các tổ Phụ
Abraham, Issac và Jacob. Chúa phán cùng Moses rằng: "Ta là Thiên
Chúa của tổ phụ ngươi, Thiên Chúa của Abraham, của Issac và Jacob"(I
am the God of your father, the God of Abraham, the God of Issac and
the God of Jacob – Exodus 3:5-6). Tuy xác nhận Jehovah chính là thần
bò EL (còn gọi là Elohim) nhưng Moses lại cấm dân chúng thờ ảnh
tượng bò thần. Moses ra lệnh giết liền một lúc trên 3000 người bất
tuân lệnh. Y ra lệnh cho những người Levy là đồng bọn của y nấu chảy
tượng thần bò đúc bằng vàng rồi lấy vàng nóng chảy đổ vào tai, mắt,
miệng của những người đã đúc ra nó để xử tử họ.
Điều thứ nhất cấm không ai được thờ thần nào
khác ngoài Jehovah. Điều thứ hai cấm thờ ảnh tượng. Điều thứ ba cấm
mọi người làm việc trong ngày thứ bảy (Sabbath). Có nhiều người lên
rừng kiếm củi để nấu bếp vào ngày Sabbath bị Maisen bắt đem đi xử
tử. Điều thứ tư khuyên mọi người phải thảo kính cha mẹ. Điều thứ năm
cấm giết người nhưng trong thực tế Moses giết người như ngóe!... Tóm
lại, Kinh Mười Điều Răn chỉ là bản tóm tắt các luật lệ của đạo Do
Thái, Kinh Thánh Cựu Ước Pentateuch mới là văn bản luật pháp chi
tiết khai triển 10 điều răn thành 613 điều luật (mitzvot). Tuy điều
thứ tư có dạy người ta phải thảo kính cha mẹ, nhưng trong Luật
Pentateuch lại có những điều khuyên mọi tín đồ không được thương xót
cha mẹ vợ con anh em mà phải giết họ nếu họ tuyên truyền đạo khác.
Nhiều điều luật chi tiết buộc tín đồ phải cung cấp cho các tu sĩ
những nông sản đầu mùa, rượu ngon và lông cừu để họ làm áo (Exodus
22:20 – Pentateuch 5:12-15), buộc tín đồ phải diệt hết các đạo của
kẻ ngoại, đập tan đền thờ và đốt trụi hết các tượng thần của chúng,
treo cổ các tu sĩ của những đạo đó để làm nguôi cơn thịnh nộ của
"đức" Jehovah... (Pentateuch 12:2-3). Chẳng khác gì giáo dân La Vang
nghe lời xúi giục của bọn cố Tây đi cướp phá chùa Phật Giáo để xây
nhà thờ kính Đức Mẹ Maria của họ vào cuối thế kỷ 19!
Mong rằng sẽ có nhiều người Công Giáo biết
chịu khó lấy Kinh thánh Cựu Ước ra mà đọc để tận mắt nhìn thấy Thiên
Chúa Jehovah của họ độc ác và mất dạy như thế nào. Nếu thấy Kinh
Thánh dầy quá hoặc khó đọc thì xin hãy tìm đọc cuốn "Lòng Tin Âu Mỹ
Đấy!" do Đồng Thanh xuất bản năm 1996, Văn Nghệ phát hành. Sách có
hai phần: Phần đầu là tác phẩm Tín Ngưỡng Tây Phương (144 trang) của
tác giả Trần Quý và phần sau là tác phẩm The Age of Reason của
Thomas Paine viết vào cuối thế kỷ 18, Trần Quý dịch ra Việt Ngữ dưới
tựa đề "Thời Đại Lý Trí" (156 trang). Khi đọc sách này, xin quý vị
đừng vội nghĩ rằng các tác giả thù ghét Công Giáo nên viết bậy bạ để
bêu xấu. Thật sự không phải đến ngày nay người ta mới nhận thức được
Thiên Chúa Jehovah (tức Đức Chúa Cha của Công Giáo) thực chất là một
con quỷ mà nhiều giáo phái Ki-tô Giáo nguyên thủy trong 3 thế kỷ đầu
Công Nguyên, tức trước khi Ki-tô Giáo bị Constantine diệt vào đầu
thế kỳ 4 để lập ra đạo Công Giáo, cũng đã nói rất rõ những điều này
trong các sách giáo lý của họ:
- Giáo Phái Ngộ Đạo (Gnosticism) là một giáo
phái Ki-tô nguyên thủy thịnh hành tại Ai Cập và vùng Tiểu Á trong
hơn 3 thế kỷ đầu, chủ trương tôn thờ Thượng Đế và phủ nhận Jehovah
của đạo Do Thái. Đối với họ, con rắn ở vườn Địa Đàng là một vị thần
khôn ngoan muốn giúp tổ tiên loài người là Adam và Eve trở nên khôn
ngoan sáng suốt bằng cách ăn trái của Cây Hiểu Biết (The Tree of
Knowledge). Vì lẽ đó, con rắn không phải là quỷ mà là một đại ân
nhân của loài người. Điều không may là Adam và Eva quá sợ ác thần
Jehovah nên đã không ăn trái cây này nên loài người đã chìm đắm
trong sự ngu dốt và đau khổ triền miên vì không thoát ra được sự ức
chế của con qủy Jehovah!. Con quỷ Jehovah biết rất rõ rằng sự hiểu
biết sẽ giúp con người thoát ra khỏi sự thống trị ác độc của nó nên
nó đã cấm tổ tiên loài người không được ăn Trái Cây Hiểu Biết, vì
vậy trái cây này được gọi là trái cấm!
- Giáo phái Marcionism do tín đồ Ki-tô tên
Marcion ở Rome sáng lập năn 160 rất thịnh hành tại Tây Âu cho đến
khi bị Constantine tiêu diệt. Giáo phái này kêu gọi tín đồ Ki-tô tẩy
chay Thiên Chúa Jehovah vì Jehovah là một ác thần vô cùng dữ tợn,
thiên vị, nông nổi và vô đạo đức, Jehovah chẳng những rất thấp kém
về đạo đức mà còn ngu hơn cả người thường nữa cho nên nó không đáng
được tôn xưng là Thiên Chúa và không đáng được tôn thờ. Theo họ,
Thiên Chúa thật phải là Thiên Chúa của tình thương yêu và sự tha thứ
(The Real God is a God of Love and Mercy) chứ không thể là Thiên
Chúa Jehovah mô tả trong Cựu Ước của đạo Do Thái được. Vì vậy, ai
thờ Thiên Chúa Jehovah thực chất là thờ quỷ! Công Giáo thực chất là
đạo thờ quỷ Satan vì đạo này đã tôn vinh con quỉ Jehovah lên thành
Đức Chúa Cha!
2. Hai bài kinh được viết theo
những lời giảng của Jesus là Kinh Lạy Cha và Kinh Phúc Thật Tám Mối.
Theo Phúc âm của Luca (11:2-4) một hôm sau khi
thấy Jesus vừa cầu nguyện xong, một môn đệ xin Jesus dạy cách cầu
nguyện. Jesus đã dạy: "Lạy Cha chúng con ở trên trời. Chúng con
nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến...". Qua kinh Lạy Cha, ta
thấy rõ ý định của Jesus muốn mọi người nhận biết một Đấng Thiên
Chúa là Cha Chung và mọi người phải biết thương yêu nhau vì tất cả
là anh chị em cùng Cha. Điều đáng ghi nhận là Jesus đã biến Thiên
chúa hung ác Jehovah của đạo Do Thái thành một người cha nhân từ và
biến đổi các tín đồ từ những ngưòi sợ Chúa (God fearers) thành những
người yêu Chúa (God lovers). Nếu so sánh với đạo Do Thái thì những
lời dạy này của Jesus là những điều mới lạ và rất tiến bộ. Tuy
nhiên, những kẻ lập đạo Công Giáo đã không quan tâm đến những điều
này. Họ đã biến Jehovah thành Chúa Cha, Jesus thành Chúa Con. Điều
điên khùng nhất là họ đã biến Jesus thành Đấng Tạo Hóa sáng tạo ra
vũ trụ vạn vật (Creator)! Tất cả những điều này đều do người ta ngụy
tạo và cố tình gán ghép cho Jesus, sự thật Jesus không bao giờ giám
lộng ngôn tự xưng mình là Thiên Chúa. Trong các sách Tân Ước, ta
thấy Jesus luôn luôn tự xưng mình là Con của Người (Son of Man) chứ
chẳng bao giờ Jesus dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa (Son of God).
Kinh Phúc Thật Tám Mối là bản tóm tắt các bài
giảng của Jesus ở trên núi (The Sermons on the Mount). Nội dung của
những bài giảng này thật ra không phải của Jesus mà là những chủ
trương của giáo phái Essene do Jean Baptist lãnh đạo. Vào thời của
Jesus, đạo Do Thái chia ra làm ba giáo phái: Giáo phái Pharisees
đông tín đồ nhất, chiếm giữ Đền Thánh Jerusalem. Gia đình của Jesus
theo giáo phái Pharisees nên năm lên 12 tuổi, Jesus được cha mẹ dẫn
đến Đền Thánh để học đạo. Giáo phái bảo thủ cuồng tín cực đoan là
Sadducees chủ trương tuân hành triệt để luật Mai-sen, Phêrô và
Giu-đa theo phái này nên cả hai được gọi là kẻ cuồng tín (The
Zealots – Mark 3:18). Giáo phái thứ ba là Essense cấp tiến nhất vì
họ đứng về phía người nghèo và sống tập thể với nhau theo chế độ
cộng đồng tài sản. Jean Baptist, tức Gio-an Bao-ti-xi-ta, là tu sĩ
khổ tu cao cấp của giáo phái Essenes, trụ sở đặt tại vùng Qumran ở
gần Biển Chết. Quanh năm suốt tháng ông chỉ khoác trên người một tấm
da cừu mà thôi. Jean Baptist là con trai của bà Elizabeth (tức bà
thánh I-xa-ve) lúc đó bà dì này đang mang thai Jean Baptist được 6
tháng. Như vậy Jean Baptist là cậu họ của Jesus và lớn hơn Jesus 6
tháng tuổi. Đến khi trưởng thành, Jesus đã theo Jean Baptist để học
đạo. Jean Baptist làm lễ rửa tội cho Jesus trên sông Jordan để chính
thức thâu nhận Jesus làm đệ tử. Cũng từ đó, Jesus được phép mặc áo
dài trắng là đồng phục của các tu sĩ thuộc giáo phái Essenes.
Vào năm 25 sau Công Nguyên, Jean Baptist bị
vua Herode bắt giam về tội xúi giục dân làm loạn. Trong lúc còn đang
bị giam, Jean Baptist viết thư và nhờ một người lính gác ngục tốt
bụng chuyển cho Jesus. Ông gọi Jesus là "Người đến sau rốt" (the
coming One after all – Mark 1;14-15). Sau khi Jean Baptist bị vua
Herode chém đầu vào khoảng năm 26, Jesus bắt đầu đi giảng đạo thay
sư phụ. Jesus tiếp tục đi theo con đường của Jean Baptist nên tự
biết sớm muộn cũng bị Herode bắt giết. Hơn nữa, Jesus thừa hiểu đạo
Do Thái đã định nghĩa Messiah (Ki-tô) là Vua Do Thái, cho nên khi tự
xưng mình là Messiah, đương nhiên Jesus tự biết mình đã phạm tội
chính trị. Đó chính là quan điểm của chính quyền Do Thái và đế quốc
La Mã đã nhìn Jesus trên khía cạnh chính trị của truyền thuyết Ki-tô
(The Political view of Messiah). Nói tóm lại, đường lối chính trị và
tôn giáo của Jesus là sự nối nghiệp rập khuôn theo sư phụ Jean
Baptist thuộc giáo phái Essenes mà thôi.
Các học giả nghiên cứu tôn giáo Tây phương gọi
Jeam Baptist và Jesus là những tiên tri chuyên về ngày tận thế
(apocalyptic prophets) chủ trương khôi phục vương quốc Do Thái khỏi
ách thống trị của đế quốc La Mã bằng cách tuyên truyền ngày tận thế
sắp đến để kích động tâm lý quần chúng nổi loạn chống đế quốc. Judas
Escariot thuộc giáo phái bảo thủ Sadducees và cũng là một du kích
quân Zealot chủ trương phải phản công đế quốc La Mã bằng quân sự nên
đã hợp tác với các tu sĩ Sadducees bắt Jesus để giao cho chính
quyền. Sau khi xử tử Jesus, quân lính La Mã đã ghim trên thập giá
một tấm bảng nhỏ ghi hàng chữ La Tinh: Jesus Nazarenus Rex Judaeorum
(Jesus người làng Nazarenus là vua nước Do Thái). Trên các tượng
thánh giá ngày nay, hàng chữ La Tinh này được ghi tắt là "JNRJ".
Điều đó đủ cho ta thấy ý nghĩa chính trị trong cái chết của Jesus.
Năm 1947, các nhà khảo cổ đã tìm thấy cả một
kho sách vĩ đại của giáo phái Essenes tại Qumran ở gần Biển Chết,
chỉ cách nơi Jean Baptist làm phép rửa tội cho Jesus xưa kia 5 cây
số. Kho tàng này gồm có hàng trăm cuốn sách viết trên những cuộn da
lừa, trên những thanh đồng hoặc những thanh gỗ được gọi chung là
"The Dead Sea Scrolls". Ngày nay, các sách này đã được dịch giả Tây
phương kết luận: Giáo phái Essenes là tiền thân của Ki-tô giáo hoặc
có thể gọi "Ki-tô Giáo trước Jesus". (Chrisanity before Christ – Xin
đọc thêm Newsweek số đặc biệt về Phục sinh ra ngày 8.4.1996). Tóm
lại, Kinh Phúc Thật Tám Mối là bản tóm lược giáo lý của giáo phái
Essenes chứ không phải là của Jesus. Trong thực tế, Jesus không phải
là người tài giỏi siêu phàm như người ta tưởng! Jesus của sự thờ
phượng hoàn toàn không phải là Jesus thật (the cultic Jesus is not
the real Jesus)!.
3. Kinh Tin Kính (The Creed)
là kết quả của Công đồng Nicaea do hoàng đế La Mã Constantine triệu
tập năm 325.
Tác giả bài kinh này là Irenaeus, gốc Ả Rập,
làm giám mục tại Lyon (Pháp) vào cuối thế kỷ 2. Năm 185, Iraneus
xuất bản cuốn sách "Against the Heretics" kết tội hai giáo phái
Ki-tô Gnosticism và Marconism là các tà giáo vì họ dám gọi Jehovah
là quỷ và ca ngợi con rắn đã cám đỗ Adam-Eva ăn trái cây hiểu biết
(the tree of Knowledge) là vị thần khôn ngoan muốn cứu loài người
thoát khỏi sự ức chế của con quỷ Jehovah. Giám mục Irenaeus chủ
trương tôn Jehovah của đạo Do Thái lên thành Đức Chúa Cha và tôn
Jesus lên thành Đức Chúa Con. Điều quan trọng là Irenaeus viết bản
dự thảo "Đức tin của các thánh tông đồ" The Creed of Apostles): ‘Tôi
tin Đức Chúa Cha toàn năng. Chúa Jesus là Con một Thiên Chúa sinh
bởi bà Maria đồng trinh, ngài xuống thế chịu chết để chuộc tội thiên
hạ, ba ngày sau lại lên trời và sẽ tái lâm để phán xét mọi người
sống và mọi người chết. Tôi tin Chúa Thánh Thần và sự sống lại của
kẻ chết". Các bài viết này của Irenaeus đã lót đường cho sự hình
thành đạo Công Giáo La Mã.
Vào mùa hè năm 325, hoàng đế La Mã Constantine
triệu tập Công đồng tại thành phố Nicaea thuộc Thổ Nhĩ Kỳ qui tụ
trên 300 giám mục trong toàn đế quốc để thành lập đạo mới của đế
quốc bằng cách thống nhất mọi giáo phái Ki-tô thành một tổ chức duy
nhất dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đế quốc. Năm 340, đế quốc La Mã
chính thức đặt tên cho tôn giáo do họ thành lập là Đạo Công Giáo
(Cattolica) có nghĩa là đạo của toàn cầu (universal). Công đồng
Necaea đã thông qua bản văn "Đức tin của các tông đồ" do Irenaeus
soạn thảo sau khi thêm vào một số điều: Đức Chúa Cha dựng nên trời
đất muôn vật. Đức Chúa Con bởi Đức Chúa Cha mà ra như ánh sáng bởi
ánh sáng và cùng với chúa Cha tạo thành vạn vật. Đức Chúa Thánh Thần
bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra". Từ đó văn bản của Irenaeus
và các điều đước viết thêm vào tại Công đồng Nicaea đã chính thức
trở thành Kinh Tin Kính của giáo hội Công Giáo ngày nay.
Năm 1054, các giáo hội Đông phương gồm có Nga,
Hy lạp và một số nước Đông Âu qui trách La Mã có tham vọng lãnh thổ
nên tách rời khỏi Công Giáo La Mã để thành lập Chính Thống Giáo
(Orthodox Church). Đầu thế kỷ 13, Công Giáo La Mã và Chính Thống
Giáo cãi nhau về điều liên quan đến Chúa Con (Filioque clause). Giáo
lý Công Giáo quyết đoán rằng Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa
Con mà ra. Phía Chính Thống Giáo không chấp nhận điều đó và quả
quyết rằng Chúa Con sinh ra bởi Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng
trinh thì không thể nói Chúa Thánh thần bởi Chúa Con mà ra được.
Cuộc cãi vã về giáo lý này đã dẫn đến cuộc thánh chiến thảm khốc.
Năm 1204, giáo hoàng La Mã kéo Thập tự quân tới tàn phá bình địa thủ
đô của Chính Thống Giáo là thành phố Constantinople, nay là Istambul
của Thổ Nhĩ Kỳ, giết chết nhiều người và cướp đi rất nhiều tài sản
đưa về Rome, trong số đó có tượng bốn con ngựa bằng đồng đen trên
khải hoàn môn ở Constantinople. Hiện những con ngựa đồng đen này
đang đứng trên nóc nhà thờ lớn ở Venice, nước Ý. Tóm lại, Kinh Tin
Kính là bản tuyên ngôn lập đạo Công Giáo theo chủ trương của đế quốc
La Mã, chủ trương này hoàn toàn trái ngược với giáo lý của Ki-tô
Giáo nguyên thủy. Nó cũng là đầu mối gây chia rẽ và tạo ra nhiều
cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai giáo hội Ki-tô Đông và Tây Âu
Châu từ thế kỷ 11 cho tới ngày nay. (xin đọc thêm ĐỨC TIN CÔNG GIÁO
của Trần Chung Ngọc, Giao điểm xuất bản năm 2000. Tác giả dành riêng
chương II dài 112 trang trình bày hết sức đầy đủ về Kinh Tin Kính).
4. Kinh KÍNH MỪNG và phép lần
hạt Mân Côi được đặt ra từ năm 1050.
Tự điển Bách Khoa Britanica (vol.14, p.999,
article: Mary) cho biết Ki-tô Giáo trong những thế kỷ đầu Công
Nguyên không thờ bà Maria cho đến khi Công đồng Chalcedon (Hy Lạp)
năm 451 công nhận bà Maria "trọn đời đồng trinh" (perpitual
virginity). Khi tín điều này được công bố, nhiều nhà thần học thời
đó đã phản đối vì theo Thánh Kinh, bà Maria có 8 người con gồm 5
trai 3 gái. Jesus là người con trưởng chứ không phải là người con
trai duy nhất của bà. (Jesus is Mary’s firstborn son – Matt. 1:25).
Ba em gái của Jesus không được nêu tên, nhưng bốn em trai của ngài
được nêu tên đầy đủ trong Thánh Kinh là: James, Joses, Simon, Judas
(không phải là Judas Escariot – Matt. 13:55). Cũng theo Thánh Kinh
thì Jesus không phải là con của Joseph, nhưng tên Jesus là do chính
Joseph đặt cho (Joseph knew her not till she had brought forth her
firstborn son and he called him Jesus. Matt. 1:25). Như vậy, bảy
người anh chị em kia chỉ là những anh chị em cùng mẹ khác cha với
Jesus mà thôi.
Vấn đề đặt ra: Ai là cha
ruột của Jesus? Có hai câu trả lời:
a. Theo sách Talmud, một cổ thư của các tu sĩ
Do Thái Giáo, thì Jesus là một đứa con hoang. Vào năm bà Maria lên
16 tuổi, trong dịp đến nhà ông cậu là Gioakim để săn sóc bà vợ của
ông ta là I-sa-ve (Elizabeth) lúc đó đang mang bầu Gioan – Baotixita
được 6 tháng thì bà Maria đã bị một người lính La Mã tên là Panthera
hiếp dâm. Tên này gốc người Sidon (tức Li Băng ngày nay (đi lính lê
dương cho đế quốc La Mã và được giữ chức xạ thủ. Y chết tại Đức, lúc
đó cũng là thuộc địa của La Mã, vào năm 62 tuổi và được chôn tại
Bingerbruck. Hiện nay người ta đã tìm thấy bia mộ của tên lính này,
trên đó có khắc hình một người lính La Mã với tên là Panthera. Tấm
bia mộ hiện được lưu trữ tại bảo tàng viện Bad Kreuzenach, Đức quốc.
Trường Đại học của Dòng Tên tại Trung Tây Hoa Kỳ hiện dùng các tài
liệu này để giảng dạy "giáo lý mới" về gia phả của Jesus.
b. theo giáo lý Công Giáo, bà Maria thụ thai
và sinh ra Jesus là do Đức Chúa Thánh Thần. Sách Phúc Âm của Luca
chép lời của thiên thần Gabriel truyền tin cho bà Maria rằng "Đức
Chúa Thánh Thần sẽ đến cùng bà, Thánh linh thiên chúa sẽ phủ bà, cho
nên đứa con sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (The Holy Ghost
shall come upon thee and the Power of the Highest shall overshadow
thee, therefore this holy thing which shall be born of thee shall be
called the Son of God – Luke chap.1).
Nếu người Công Giáo tin rằng Ba Ngôi là một
Thiên chúa thì đương nhiên phải chấp nhận là Jesus đã phủ [ Ăn nằm ]
mẹ mình vì Jesus cũng chính là đức Chúa Thánh
Thần! Chẳng lẽ Jesus lại là đứa con khốn nạn loạn luân với mẹ ruột
như vậy sao? Nhưng nếu không tin Jesus là một đứa khốn nạn phạm tội
loạn luân với mẹ của y thì cũng không thể tin y là Thiên Chúa được
vì y không phải là Chúa Thánh Thần. Tôi thách thức các nhà thần học
Công Giáo, nhất là các tiến sĩ Thánh Mẫu Học (Mariologists) thuộc
Dòng Đồng Công phản bác lại những điều trình bày trên. Nếu các ông
không phản bác nổi thì hãy tự biết liêm sĩ của một người mang tiếng
là trí thức. Các ông hãy lấy mảnh bằng tiến sĩ thần học của các ông
cho giáo dân lau bàn rồi đắp lên mặt các ông. Các ông chỉ bịp được
đám giáo dân kém trí tuệ của các ông thôi. Cả cái Dòng Đồng Công ở
Carthage Missouri chỉ là một tổ chức bịp bợm lường gạt đồng bào.
Về việc đọc kinh Kính Mừng (the Hail Mary), Tự
Điển Bách Khoa chính thức của Giáo hội Công Giáo cho biết: "Không có
bằng cớ chứng tỏ bài kinh Kính Mừng được công nhận như một công thức
của lòng sùng kính Đức Mẹ trước năm 1050". (There is little or no
trace of the Hail Mary as an accepted devotional formula before
about 1050 – The Catholic Encyclopedia Vol.7, p.11 article: Hail
Mary). Kinh này được đọc đi đọc lại nhiều lần với chuỗi hạt gọi là
chuỗi hạt Mân Côi (the Rosary-beads). Mân Côi có nghĩa là hoa hồng
vì mỗi một bài kinh Kính Mừng được coi như một bông hồng dâng lên
Đức Mẹ. Việc tôn thờ bà Maria với chuỗi hạt Mân Côi và hình tượng Mẹ
bồng con hoàn toàn rập khuôn theo đạo cổ truyền của Ai Cập đã có từ
nhiều thế kỷ trước Công Nguyên. Khi giảng đạo tại Jerusalem, chính
Jesus đã ngăn cấm sự bắt chước ngoại giáo bằng cách lần chuỗi đếm
những bài kinh được lặp đi lặp lại nhiều lần (Matt.6:7-13). Việc lần
chuỗi này đã biến đổi Công Giáo từ đạo thờ Chúa thành đạo thờ bà
Maria. Đây là điều khác biệt rõ nét nhất giữa Công Giáo và Tin lành.
Người ta tính ra mỗi ngày giáo dân Công Giáo trên khắp thế giới kêu
tên Đức Mẹ nhiều hơn kêu tên Chúa gấp 6 lần và Đức Mẹ phải nghe tới
46.296 bài kinh Kính Mừng bằng đủ thứ tiếng trong một giây đồng hồ!
(Babylon Mystery Religion, p.18).
5. Kinh Cầu Hồn và ngày Lễ Các
Linh Hồn xuất hiện do sự phát minh ra Luyện Ngục của giáo hoàng
Gregory the Great năm 600.
Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước chỉ nói
tới Thiên đàng và Hỏa ngục chứ không hề nói tới một nơi thứ ba để
tạm giam giữa các linh hồn. Vào năm 600, Giáo hoàng Gregory I the
Great công bố giáo lý mới là có một nơi thứ ba giam giữ các linh hồn
để thanh tẩy hết mọi tội nhẹ trước khi vào thiên đàng, nơi đó giáo
hoàng gọi là Luyện Ngục (Purgatory). Năm 1459, công đồng Florence đã
biến phát minh nầy thành tín điều hiện hành buộc mọi tín đồ phải tin
(an actual dogma). Nhờ có tín điều này, giáo hội Công Giáo đã trở
thành giáo hội giàu nhất thế giới do tiền của giáo dân nộp cho cha
cố nhà thờ để xin lễ cầu hồn cho các thân nhân quá cố. Ngoài ra,
trong thời Trung cổ, Vatican còn tổ chức nhiều đại lý ở khắp nơi để
rao bán ơn đại xá của tòa Thánh (indulgence sales) đã thu về Rome
những nguồn tài sản kếch sù gồm đủ thứ vàng bạc nữ trang và báu vật.
Nhờ vào những nguồn lợi lớn lao này, giáo hoàng và tu sĩ cao cấp ở
Vatican đã có một lối sống hết sức xa hoa tội lỗi. Chính điều này đã
là động lực trực tiếp thúc đẩy Martin Luther từ bỏ Công Giáo để lập
ra đạo Tin Lành. Ông nói: Những kẻ bán ơn tha tội là những kẻ phạm
tối lớn nhất. (Those who sold indulgences to sinners were great
sinners themselves).
Việc thu tiền lễ cầu hồn là một thủ đoạn làm
tiền trắng trợn của cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ Lan là nước toàn
tòng Công Giáo có câu ca dao nổi tiếng như sau: "High money high
Mass; low money low Mass; no money no Mass" (Nhiều tiền lễ lớn, ít
tiền lễ nhỏ, không tiền không lễ!". Thành thử chỉ những linh hồn có
thân nhân giàu có mới hy vọng được vào nước thiên đàng của Chúa mà
thôi. Trải qua nhiều thế kỷ bị bọn cường quyền cấu kết với tu sĩ lưu
manh áp lực bóc lột và lừa bịp, đám dân nghèo ở Âu Châu vào đầu thế
kỷ 19 đã lên tiếng đòi hỏi giáo hội phải tổ chức một ngày lễ cầu hồn
miễn phí chung cho những người thiếu may mắn vì không có thân nhân
bỏ tiền ra xin lễ. Họ gọi những linh hồn này là những linh hồn bị bỏ
quên ở luyện ngục (the forgotten souls in Purgatory). Năm 1856,
Vatican đã đáp ứng lời yêu cầu của đám giáo dân nghèo bằng cách lập
ra ngày Lễ Các Linh Hồn (All Soul’s Day) vào ngày 2 tháng 11 hàng
năm, tương tự như lễ cúng các cô hồn vào rằm tháng Bảy của ta. Vì
vậy, một số các bài kinh cầu hồn đã được sáng tác để đáp ứng nhu cầu
này. Quả thật sự phát minh ra Luyện ngục của GH Gregory, tiếp theo
là các lễ cầu hồn, đã biến Núi Sọ (Golgotha) của Chúa thành Núi Vàng
(Golconda) của giáo hội Công Giáo La Mã!
6. Kinh Ngắm Đàng Thánh Giá
(Way of the Cross).
Theo sách The Essential Catholic Prayer Book
(Liguory Missouri – 1999, p.67) thì trong những thế kỷ đầu Công
Nguyên cho tới thời Trung cổ, giáo dân Âu châu thường tổ chức những
cuộc hành hương viếng thăm thánh địa Jerusalem. Họ đi theo lộ trình
khổ nạn của Jesus (Via Dolorosa) khởi đầu từ Praetorium là nơi Jesus
bị xử án đến núi Golgotha là nơi Jesus bị đóng đinh. Tới mỗi nơi đặc
biệt trong lộ trình này họ dừng lại để suy niệm và cầu nguyện. Trong
thời Trung cổ, do việc thánh điạ Jerusalem bị quân đội Hồi Giáo
chiếm đóng nên các cuộc hành hương nói trên bị chấm đứt. Từ thế kỷ
16, Vatican ra lệnh cho toàn giáo hội phải trang trí chung quanh
phía trong của các nhà thờ 14 ảnh hoặc tượng mô tả 14 nơi đặc biệt
trong lộ trình khổ nạn của Jesus (14 stations of the Cross). Tuy
việc lập ra nghi lễ ngắm (meditating) Đàng Thánh Giá phát sinh từ
cuộc thánh chiến do Vatican phát động kéo dài nhiều thế kỷ chống Hồi
Giáo nhưng nội dung của 14 bài kinh cho 14 nơi của Đàng Thánh giá
lại chứa đầy những sự xuyên tạc lịch sử nhằm mục đích diệt chủng Do
Thái bằng cách trắng trợn đổ tội giết Jesus cho Do Thái. Vấn đề này
sẽ được trình bày ở đoạn sau.
7. Các kinh do tu sĩ Việt gian
sáng tác và được Vatican khuyến khích:
Đó là các kinh "Dâng Nước Việt Nam"; "Dâng Cõi
Đông Dương" nói là dâng cho Chúa và Đức Mẹ nhưng thực chất là dâng
cho Vatican. Ngoài ra, họ còn sáng tác nhiều bài kinh khác như Kinh
Bản (Kinh Bổn) dùng để đầu độc tinh thần trẻ thơ. Các kinh "Cầu cho
dân nước Việt Nam đặng trở lại đạo thánh", "Kinh cầu cho kẻ ngoại"
và nhất là "Kinh Cầu Ông Thánh Phan-xi-cô-Xa-vi-e" đều có nội dung
nhục mạ những người ngoại giáo, nhục mạ quê hương tổ quốc Việt Nam
và mạ lỵ Phật Giáo hết sức nặng nề. Tôi lần lượt trình bày trong
những đoạn sau.
Qua phần mở đầu bài viết này, quý độc giả cũng
đã thấy rõ tham vọng của HĐGM Việt Nam dưới thời bạo quyền Ngô Đình
Diệm muốn biến Công Giáo thành quốc giáo của nước Việt Nam và muốn
đưa "thánh địa" LA-VANG lên hàng với "thánh địa" Lộ Đức (Lourdes)
của giáo hội Công Giáo Pháp. Sự việc này đã giúp chúng ta nhận rõ
chân tướng cướp nước của thực dân Pháp, đế quốc Vatican và những
Việt gian bán nước núp dưới nhãn hiệu tôn giáo.
9. Các kinh do giáo dân sáng
tác và được giám mục giáo phận phê chuẩn:
Trong vài thế kỷ trước đây, tại nước ta có một
số giáo dân xuất thân từ giới nho sĩ rất giỏi Hán văn đã sáng tác
những bài kinh bằng chữ Hán và được giám mục địa phận chấp nhận. Các
bài kinh này được phổ biến rộng rãi trong giáo dân ở miền quê thuộc
các địa phận Đàng Ngoài (miền Bắc Việt Nam). Trong số các kinh thuộc
loại này có kinh Phục Dĩ, còn gọi là kinh Cảm Tạ Cầu Hồn, do cụ Phan
Tự Thiện sáng tác (không rõ năm nào). Cụ Thiện quê ở xứ Cốc Thành,
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, đậu cử nhân không rõ thuộc triều đại
nào. Cụ viết Kinh Phục Dĩ theo lối văn giống như Bình Ngô Đại Cáo
của Nguyễn Trãi. Đa số giáo dân ở Bùi Chu, Phát Diệm và Thái Bình
thuộc bài kinh này để cầu hồn cho thân nhân quá cố trong các dịp giỗ
chạp: "Chí tôn chân Chúa cửu trùng cao ngự chi thiên. Khả tiểu phá
phu vạn vật hữu sinh chi địa. Thần Chúa Gia-tô thục tội thi ân chi
đại. Nhân từ Thánh mẫu vì kỳ xá quá chi đa..."
5. NHỮNG TÁC HẠI NGUY HIỂM
CỦA CÁC SÁCH KINH CÔNG GIÁO
Để trưng dẫn các bằng chứng cụ thể về những
tác hại nguy hiểm do các sách kinh nguyện Công Giáo gây ra cho tinh
thần của giáo dân Việt Nam, chúng tôi chọn hai cuốn sách kinh nguyện
tiêu biểu sau đây:
1. Sách kinh nguyện NHỰT KHÓA của tổng giáo
phận Sài gòn, có sự phê duyệt của TGM Nguyễn Văn Bình ngày
19.3.1971, là sách kinh nguyện chính thức của cả Tổng giáo phận Sài
gòn bao gồm tập thể giáo dân toàn Miền Nam.
2. Sách TOÀN NIÊN KINH NGUYỆN của hai địa phận
Bùi Chu và Hà Nội in chung thành một cuốn, do Cơ Sở Dân Chúa – P.O
Box 1419 Gretna, LA 70053, USA xuất bản. Địa phận Bùi Chu là cái nôi
của Công gíao Việt Nam và địa phận Hà Nội nay đã thành Tổng giáo
phận bao gồm tập thể giáo dân miền Bắc Việt Nam. Trong những lần
xuất bản trước đây tại Việt Nam, những sách này đã được giám mục Hồ
Ngọc Cẩn và các giám mục quản nhiệm khác duyệt xét cẩn thận. Trong
lần xuất bản tại hải ngoại này, Linh Mục Việt Châu là chủ nhiệm
nguyệt san Dân Chúa đứng ra xuất bản và viết lời giới thiệu với các
giáo dân tại hải ngoại.
Do vậy, hai sách kinh nguyện này thiết tưởng
cũng đủ là đại diện cho toàn thể các sách kinh nguyện của Giáo hội
Công Giáo Việt Nam. Để tiện việc trích dẫn, chúng tôi dùng chữ tắt
NK để chỉ sách kinh nguyện Nhựt Khóa và chữ TNKN để chỉ sách Toàn
niên Kinh nguyện, số theo sau những chữ tắt nói trên là số trang
trong các sách dẫn chiếu.
Những điều trình bày sau đây chỉ là những nét
điển hình về tính chất phản văn hóa dân tộc và những tác dụng đầu
độc tinh thần trong nội dung của một số bài kinh nguyện mà thôi.
Hiện nay tại hải ngoại có nhiều tiệm sách Việt ngữ cũng có bày bán
những sách kinh nguyện tương tự, chúng tôi đề nghị quí vị có quan
tâm đến vấn đề này có thể mua về nghiên cứu để kiểm chứng và tìm
hiểu thêm.
1. Đề cao bạo lực:
Người Công Giáo quan niệm Thiên Chúa là một vị
thần chiến tranh luôn luôn đứng cùng phe với họ để giúp họ tiêu diệt
những người chống họ hoặc không theo họ. Trong các lễ Misa ở nhà
thờ, không bao giờ thiếu Kinh Nguyện Thánh Thể, trong đó có câu:
"Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên chúa các Đạo Binh. Đất trời đầy
vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên các tầng trời: (NK 581). Quan
niệm này phát xuất từ đạo Do Thái của Moses qua chuyện kể trong Cựu
Ước Exodus về việc dân Do Thái nổi loạn chống lại Ai Cập để thoát
vòng nô lệ và tìm đến Đất Hứa. Người Do Thái xưa thường ca ngợi
Thiên Chúa là Yahweh Sabaoth có nghĩa là Thiên Chúa của các đạo binh
(God of Armies). Đây là một quan niệm ngây ngô của những bộ lạc bán
khai về thần linh. Bà Karen Amstrong, nguyên là một nữ tu Công Giáo
gốc Ái Nhĩ Lan, đã viết về quan niệm này trong tác phẩm bestseller
của bà như sau: "Đây là một Thiên Chúa tàn bạo, thiên vị và hiếu
sát, một vị thần chiến tranh hay nói đơn giản là vị thần của bộ lạc.
(This is a brutal, partial and murderous god, a god of war... and is
simply a tribal deity – A History of God, p.19).
Tâm lý chung của con người là luôn luôn muốn
mình trở nên giống như thần tượng mà mình tôn thờ. Quan niệm về
Thiên Chúa như một hung thần chiến tranh mà người Công Giáo ngưỡng
mộ dần dần sẽ hình thành nơi tâm hồn họ xu hướng ham chuộng bạo lực.
Lịch sử bành trướng đạo Công Giáo là lịch sử chiến tranh đẫm máu kéo
dài qua nhiều thế kỷ đã chứng minh Công Giáo là một tôn giáo của bạo
lực. Đây cũng là nét đặc trưng phản ảnh tính chất văn hóa phi nhân
bản (inhumanity) của đạo này. Những bài kinh ca ngợi bạo lực đã làm
xói mòn bản chất nhân hậu hiền hòa nơi những người giáo dân vốn xuất
thân từ những nông dân chất phát Việt Nam. Điều này giải thích cho
ta hiểu lý do vì sao mọi người Công Giáo đều mất gốc và đã tự biến
thành những kẻ lạc loài trên quê hương Việt Nam.
2. Công Giáo Việt Nam hùa theo chủ trương diệt
chủng Do Thái của Đế quốc La Mã:
Ai cũng biết đế quốc La Mã, chứ không phải dân
Do Thái, bắt và đóng đinh Jesus trên thập giá vì vào thời đó nước Do
Thái bị La Mã đô hộ nên quyền xét xử các tội nhân bản xứ hoàn toàn
thống thuộc chính quyền của mẫu quốc. Đặc biệt việc áp dụng hình
phạt đóng đinh trên thập giá là đặc quyền của đế quốc La Mã đối với
nô lệ và dân thuộc địa. Người La Mã không áp dụng hình phạt này đối
với các công dân của họ. Ngược lại, chính quyền bù nhìn Do thái thời
đó do vua Herode cầm đầu cũng được phép xử tử tội nhân nhưng chỉ
được dùng những cách thức thông thường như ném đá hoặc chém đầu chứ
tuyệt đối không được phép áp dụng hình phạt đóng đinh tội nhân trên
thập giá.
Đạo Công Giáo do hoàng đế La Mã Constantine
thành lập năm 325, với ý đồ dùng tôn giáo làm phương tiện xâm lược
toàn cầu, đã tôn Jesus vốn là nạn nhân của đế quốc La Mã lên thành
Thiên Chúa tối cao nên bọn đế quốc đã tìm mọi cách đổ tội giết Jesus
cho do Thái. Vì chẳng lẽ đế quốc La Mã lại tôn thờ một người do
chính tay mình giết chết hay sao? Đó là nguyên nhân chính yếu đã
khiến cho đế quốc La Mã ra sức tuyên truyền xuyên tạc lịch sử nhằm
tạo nên thành kiến thù ghét Do Thái triền miên trong lịch sử Âu Châu
và cũng từ đó dẫn đến chủ nghĩa diệt chủng Do Thái của Vatican trong
nhiều thế kỷ qua. Để thực hiện chủ trương này, Vatican đã soạn ra
những bài kinh nhằm mục đích chạy tội giết Jesus của đế quốc La Mã
mà đại diện của nó là quan toàn quyền Phong-xi-ô Phi-la-tô (Pontius
Pilatus). Những âm mưu nham hiểm này được biểu lộ rõ nét nhất qua
những bài kinh ngắm 14 nơi của Đàng Thánh Giá (TNKN 69-86) và kinh
Ba Ngày Lễ Đèn (NK 250-277).
Sự thật lịch sử là quan toàn quyền La Mã
Pontius Pilatus (Pilate) đã tuyên án xử tử Jesus về tội xúi giục dân
chúng chống chính quyền, cũng tương tự như vua Herode chém đầu sư
phụ của Jesus là Gio-an Bao-ti-xi-ta về tội này ba năm về trước.
Chính Pilate trao Jesus cho toán lính La Mã thuộc quyền, do đại úy
Longinus dẫn đầu, đem Jesus lên núi Sọ (Golgotha = Skull) để hành
hình bằng cách lột trần truồng trước khi đóng đinh vào thập giá. Cái
khố của Jesus trên thập giá tuy chỉ là một vật ngụy tạo nhỏ xíu
nhưng thật sự nó là một tấm màn vĩ đại che lấp mọi sự dối trá bỉ ổi
của Ki-tô Giáo nói chung và của Công Giáo La Mã nói riêng. Xin đọc
thêm "Cái Khố Của Jesus Trên Thập Giá" của Charlie Nguyễn đăng trên
Đông Dương Thời Báo – Houston, số 69 ngày 30.7.1998. Bài này được in
lại trong tác phẩm "Thực Chất Của Giáo Hội La Mã", quyển 1 của giáo
sư sử học Nguyễn Mạnh Quang, tr. 360 –365).
Tuy nhiên sự ngụy tạo cái khố của Jesus trên
thập giá không bỉ ổi cho bằng sự kiện quân lính La Mã luôn luôn hiện
diện trong suốt lộ trình của Đàng Thánh Giá nhưng trong 14 bài kinh
của nghi thức cầu nguyện này không hề nói đến quân La Mã mà chỉ dùng
những danh từ như "quân dữ", "quân độc ác" hoặc "quân Giu-dêu" để
chỉ người Do Thái. Thí dụ những câu như: "quân dữ toan đóng đinh Đức
Chúa Giê xu thì nó lột áo ra hết"; "Tôi khen lòng mạnh bạo bà
Veronica chẳng sợ quân dữ". Khi đọc các bài kinh này, giáo dân Việt
Nam có ấn tượng "quân dữ" là người Do Thái chứ không phải là quân La
Mã!. Ngoài ra còn có nhiều câu kinh miệt thị Do Thái và cố ý qui
trách nhiệm giết Jesus cho họ như: "Đừng bắt chước quân Giu-dêu...
Khi Phi-la-tô nghe lời quân Giu-dêu gắn vó van nài xin tha Baraba
thì liền phú Đức Chúa Giê-xu cho quân lính đánh đòn cho đẹp lòng dân
Giu dêu..." (KN 297). Ghê gớm nhất là lời nguyền rủa truyền kiếp độc
địa được gán cho là lời của Jesus nguyền rủa dân tộc mình trong kinh
Ba Ngày lễ Đèn (NK 250-277): "Đức Chúa Giê xu liền trở mặt lại mà
phán rằng: Ớ con thành Giê-ru-sa-lem bay chớ khóc thương Tao làm
chi, bay hãy khóc thương bay cùng các con cháu bay ngày sau phải
khốn mà chớ..." (NK 266). Nhiều câu kinh khác trắng trợn xuyên tạc
lịch sử để gở tội cho La Mã: "Khi phi-la-tô thấy quân độc ác làm
khốn cho Đức Chúa Giêxu thới quá [Thái quá, quá nhiều.]
thì động lòng thương" (NK 263), "Vậy quan ấy
tra hỏi căn do mới biết Người chẳng có tội gì cho nên quan ấy có ý
muốn tha mà quân Giu-dêu ngăn cản chẳng chịu" (NK 259).
3. Công Giáo Việt Nam coi rẻ công ơn cha mẹ tổ
tiên và các anh hùng dân tộc,
ngược lại họ hết sức tôn sùng những kẻ
loạn luân mất dạy. Điều này cho ta thấy Công Giáo là đạo mất dạy số
Một.
Trong kinh Ăn Năn Tội có câu: "Lạy Chúa là cha
rất nhân từ hơn cha mẹ thế gian bội phần" (NK 745). Câu kinh này
phản ảnh đúng theo lời dạy của Jesus. Bản thân Jesus là một đứa con
hoang nên Jesus thù ghét cha nuôi và mẹ ruột của y. Vì thế y đã dạy
người khác bất hiếu với cha mẹ của họ. Phúc âm của Matthew
(10:34-37) có chép lời Jesus như sau: "Chớ tưởng rằng ta đem hòa
bình cho thế gian. Ta đến không phải đem lại hòa bình mà là gươm
giáo. Ta đến để phân rẻ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu
với mẹ chồng và mọi người trong gia đình là thù nghịch của nhau. Ai
yêu cha mẹ hơn yêu ta thì không xứng đáng với ta". (Think not that I
am come to send peace on earth. I came not to send peace but a
sword. For I am come to set a man at variance against his father,
and the daughter against her mother and the daughter in law against
her mother in law. And a man’s foes shall be they of his own
household. He that loveth father or mother than me is not worth of
me). Chỉ có những đứa con bất hiếu mới nghe nỗi những lời mất dạy đó
của Jesus. Nếu quả thật Jesus đã nói những lời đó thì Jesus cũng là
một gả mất dạy số Một và cái chết thê thảm của y trên thập giá cũng
chưa đủ đền tội của chính y!
Trong nhiều thế kỷ qua, các giáo hoàng La Mã
luôn luôn qui kết việc thờ cúng tổ tiên là thờ cùng ma quỉ nên người
Công Giáo không lập bàn thờ gia tiên ở trong nhà. Đối với các vị anh
hùng dân tộc thì người Công Giáo hoàn toàn dửng dưng. Ngược lại,
người Công Giáo Việt Nam rất tôn sùng những kẻ loạn luân và vô đạo
đức như Abraham và David... Abraham lấy em gái ruột làm vợ và toan
giết con ruột mình để tế thần. David là một tên vua dâm dật vô độ. Y
có cả ngàn cung nữ trong các nhà chứa gọi là ‘harem" mà vẫn chưa đủ
thỏa mãn dục vọng. Vì quá say mê vẻ đẹp của bà Bathseba trong dịp
David nhìn trộm bà Bathseba tắm truồng trên sân thượng nên y đã tìm
cách sát hại chồng của bà là một vị tướng dưới quyền để cướp vợ của
ông. Kinh Thánh Tân Ước không coi chuyện này là một điều xấu xa tội
lỗi mà còn hãnh diện xác nhận cuộc tình tội lỗi này đã sinh ra các
tổ tiên của Jesus. Tất cả để chứng tỏ Jesus là hậu duệ đời thứ 28
của tên dâm David! Chuyện tình tội lỗi bẩn thỉu này chẳng có gì đáng
hãnh diện cho David và Jesus. Vậy mà các sách kinh Công Giáo hết lời
ca ngợi David là Vua Thánh: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là
chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật đặng hiệp
làm một cùng vua thánh David" (NK 330).
Trong kinh cầu Đức Bà có câu: "Đức Bà là lầu
đài David". Mọi người Công Giáo Việt Nam muốn hiểu lầu đài David" là
cái gì thì hãy chịu khó đem sách kinh Cựu Ước ra đọc (Các Vua-Sách
thứ nhất) tất nhiên sẽ thấy đó là các harem chứa gái cho tên hôn
quân David hành lạc! Ở đây tôi xin trích một đoạn ngắn để quý vị rõ.
Quí vị sẽ thấy chuyện trong Thánh Kinh còn hay hơn chuyện "Chú Tư
Cầu" hoặc chuyện "Cậu Chó" của Việt Nam trước 1975: "Vua David đã
già vì đã cao tuổi lắm, người ta đã lấy vải phủ lên Ngài rất nhiều
nhưng ngài vẫn chẳng thấy ấm chút nào. Bọn hầu cận bàn với nhau là
cần phải tìm cho ngài một cô gái trinh thật đẹp dẫn đến trước mặt
ngài. Hãy dạy cho cô ta biết cách làm cho ngài thích thú. Hãy đặt cô
ta nằm trong lòng ngài thì vua thánh của chúng ta mới sưởi ấm". Xin
để quý vị đọc tiếp Chapter 1, the Third Book of the Kings của Cựu
Ước, tôi xin miễn kể tiếp!
Điều bỉ ổi hơn nữa là Công Giáo La Mã ngụy tạo
những bài kinh để che dấu những dối trá bịp bợm đã có sẵn từ trước.
Đó là trường hợp hai bài kinh sau đây:
1. Kinh Ông Thánh Gioakim (trang 189 TNKN):
"Lạy ông Thánh Gioakim là đấng rất sang trọng về dòng dõi vua David,
Đức Chúa Trời đã chọn mà ban mọi sự lành cho cả loài người ta vì đã
dùng người cho được làm nên những mầu nhiệm Đức Chúa Trời tuyền ở
thế gian này..."
2. Kinh Bà Thánh Anna (trang 212 TNKN): "lạy
ơn Bà Thánh Anna là mẹ Thánh Nữ Vương, bà làm sáng thiên hạ vì sinh
được con thanh sạch sáng láng hơn mặt trời mặt trăng. Bà là đấng
sang trọng thuộc dòng vua David..."
Vấn đề đặt ra là tại sao Công Giáo phải bịa ra
hai bài kinh nói trên?
Chuyện rắc rối khởi đầu từ việc Cựu Ước của Do
Thái "tiên tri" Chúa Cứu Thế phải là người thuộc dòng dõi của vua
David. Dù cho David hoang dâm vô độ nhưng lịch sử Do Thái vẫn coi
Daid là vị anh hùng số một. Chúa Cứu Thế được dân chúng mong chờ như
một David tái thế, do đó Chúa Cứu Thế được người Do Thái quan niệm
như một vị vua David mới (Christ is the New King David). Chuyện rắc
rối kế tiếp là trong thế kỷ I sau Công Nguyên, người viết Tân Ước
lại chỉ nhấn mạnh đến ông Joseph là chồng của bà Maria và là cha
ruột của Jesus nên tác giả Tân Ước đã thuật lại cả một hệ thống dọc
gia phả từ David đến Joseph và không hề viết một điều nào chứng tỏ
bà Maria là người thuộc dòng dõi vua David cả. Như vậy rõ ràng Jesus
thuộc dòng dõi David vì là con ruột của Joseph, cho nên Jesus có thể
được chấp nhận là đấng Cứu Thế như Cựu Ước đã tiên tri. Nhưng nếu
điều nầy được chấp nhận thì bà Maria không thể Đồng trinh!
Vấn đề rắc rối kế tiếp xảy ra năm 451, sau khi
Công đồng Chalcedon công bố tín điều Đức Mẹ trọn đời đồng trinh
(dogma of the Perpetual Virginity). Người ta tự hỏi: "Nếu Chúa Jesus
là con của Đức Chúa Thánh Thần và Đức Bà Đồng Trinh thì Chúa Jesus
đúng là con của Đức Chúa Trời thật, Ngài không phải là Chúa Cứu Thế
[ Chúa trời và Chúa Cứu Thế là hai nhân vật khác nhau.]
vì Ngài không thuộc dòng dõi vua Thánh David
như Cựu Ước đã tiên tri! Chẳng lẽ Đức Chúa Thánh Thần cũng là con
cháu của David"? Theo lẽ thường ở trên đời, mọi sự gian dối luôn
luôn đẻ ra những sự gian dối khác, nhưng mọi sự gian dối thường lâm
phải tình trạng "dấu đầu hở đuôi". Tuy vậy, vốn sẵn bản chất đại lưu
manh chuyên nghiệp, tòa thánh La Mã đã trơ trẽn sáng chế hai bài
kinh nói trên (mặc dầu không có căn bản Thánh Kinh – Unscriptural)
nhưng cốt để tín đồ tin rằng cả cha lẫn mẹ của bà Maria là Gioakim
và Anna đều thuộc dòng dõi của vua David, cho nên Jesus dù là con
của Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng trinh cũng vẫn thuộc dòng dõi
David như thường! Tôi nêu lên những điều trên đây để yêu cầu Linh
Mục Việt Châu, Chủ nhiệm Nguyệt San Dân-Chúa kiêm đại diện Cơ Sở
Xuất Bản Dân-Chúa (P.O. Box 1419 Gretna, LA 70053) chịu trách nhiệm
xuất bản sách Toàn Niên Kinh Nguyện, trả lời cho độc giả bốn phương
được biết Kinh Thánh nói ông Gioakim và bà Anna thuộc dòng dõi vua
David ở đoạn nào? Nếu LM Việt Châu không trả lời nổi thì mọi cuốn
sách Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu-Hà nội cần phải được thu hồi để
vứt bỏ.
Cho nên người ta gọi Công Giáo là đạo bịp hay
đạo dối, thật không sai chút nào. Nếu phải kể cho hết những chuyện
bịp của Công Giáo chắc phải viết một tràng thiên tiểu thuyết thì may
ra mới tạm đủ. Riêng về chuyện Thánh Phêrô là giáo hoàng đầu tiên
cũng có hàng chục chuyện bịp. Chẳng hạn cái được gọi là "Chiếc ghế
Phêrô" (Chair of Peter) cốt để mọi người tin rằng Công Giáo là đạo
chính truyền của chúa Jesus qua thánh Phêrô. Vào tháng 7 nam 1968,
một phái đoàn khoa học quốc tế đã đến tận Tòa Thánh giảo nhiệm bằng
phương pháp Carbon (Carbon dating method) đã xác nhận chiếc ghế này
được ngụy tạo trong thế kỷ 9. Còn tượng thánh Phêrô bằng đồng đen
rất lớn đứng gần bàn thờ chính trong Đền Thánh Phêrô đã được toàn
giáo hội Công Giáo tôn kính nhiều thế kỷ qua với hàng triệu triệu
người đã quì mọp hôn chân tượng này. Các nhà khoa học và khảo cổ xác
định bức tượng này là tượng Thần Jupiter của các hoàng đế thời cổ La
Mã vài thế kỷ trước khi Jesus ra đời!. (Babylon Mystery Religion, p.
78-). Chúng ta thường nghe Vatican khoe khoang rằng: "Giáo hoàng là
đấng thừa kế ngôi vị của Thánh Phêrô" (Saint Peter’s Successor)
nhưng có lẽ ít ai biết giáo hoàng nào là người đầu tiên nêu lên danh
hiệu này. Tôi xin kể lại một lần nữa hầu quí vị nghe câu chuyện
thương tâm của giáo hoàng Joanne như sau:
Giáo hoàng này nguyên là một cô gái, hồi còn
nhỏ có tên là Catherine tinh nghịch. Vào đầu thế kỷ 9, cô gái đến
tuổi trưởng thành đã giả trai xin vào tu ở một Dòng Nam với sự cải
tên là Joanne. Dần dần bà trở thành một thầy tu rất nổi tiếng về tài
hùng biện. Bà đã để lại nhiều bài diễn văn độc đáo hiện còn lưu trữ
trong văn khố của Tòa Thánh. Nhiều sử gia Ý như Petrarch, Boccacio
đã viết sách ca ngợi sự học vấn uyên bác của bà. Vào năm 855, Giáo
hoàng Leo IV qua đời. Hội thánh Công Giáo lúc đó nhận thấy chỉ có tu
sĩ Joanne là người xứng đáng nhất kế vị giáo hoàng. Kết quả là Hội
Thánh dưới sự "hướng dẫn" của Đức Chúa Thánh Thần đã bầu tu sĩ
Joanne vào ngôi vị Đại Diện Chúa Ki Tô Dưới Trần Thế. Trong lễ đăng
quang, ngài tuyên bố "Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phê-rô". Giáo
hoàng Joanne cai trị Hội Thánh của Chúa được ba năm rất ngon lành
thì một tai biến bất ngờ xảy ra cho ngài. Năm 858, tòa Thánh tổ chức
một cuộc rước kiệu trọng thể tại Rome. Trong lúc Đức Thánh Cha đang
nghiêm trang đi theo đoàn kiệu thì bất ngờ ngài bị té xỉu, máu ra
lênh láng ướt hết đũng quần và bộ lễ phục giáo hoàng lộng lẫy sang
trọng. Lúc đó cả giáo hội kinh ngạc khám phá ra là Đức Giáo Hoàng
bị... sẩy thai!. Ngay lập tức sau đó, Giáo hoàng Joanne [Trong nhiều
sách liệt kê các triều đại giáo hoàng, không có tên nữ giáo hoàng
nầy.]
bị lột trần truồng và bị đám tu sĩ của Tòa
Thánh lôi ra Công trường Colossium để cho dân chúng ném đá đến chết
tại chỗ. Nữ giáo hoàng thật ra chẳng có tội gì, ngài đã chết thảm
chỉ vì ngài là một phụ nữ. Linh mục nữ còn không được chấp nhận
huống hồ là Nữ Giáo Hoàng!
Ngoài các bài kinh ca ngợi tên hôn quân dâm
dật khét tiếng David, sách kinh Công Giáo Việt Nam cũng không thiếu
gì những bài kinh cầu ca ngợi tên mất dạy Abraham – ông tổ chung của
đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Nhưng điều đáng nói là trong những
bài kinh này, người Công Giáo Việt Nam đã sỉ nhục dân tộc mình: "Xin
Chúa đoái thương dân tộc Việt Nam đang còn ngồi trong bóng tối tăm
ngọai giáo. Chúa đã phán rằng ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi đông tây
đến nghỉ ngơi cùng thánh Abraham trên nước thiên đàng" (NK 144-145);
"Xin các thánh thần đem linh hồn này lên nơi vui vẻ cùng ông thánh
Abraham" (NK 330). Những bài kinh như vậy đã dẫn dắt người Công Giáo
Việt Nam xa rời dân tộc và từ đó đi tới chỗ phản quốc không còn bao
xa. Sách kinh Công Giáo chính là cội nguồn sâu xa đã đưa họ vào con
đường phản bội tổ quốc và dân tộc Việt Nam!
4. Những câu kinh nhục mạ các dân tộc Đông
phương là mọi rợ và nói lên ý đồ của Công Giáo Việt Nam muốn tiêu
diệt đạo Phật:
Trong kinh cầu ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e có
những câu như: "Ông Thánh Phan-xi-cô soi sáng phương Đông... là đá
tảng đỡ Hội thánh Phương Đông... Ông Thánh Phan-xi-cô phá tan đạo
bụt thần... Ông Thánh Phan-xi-cô là lịnh rao tiếng Đức Chúa Thánh
Thần cho những dân mọi rợ" (NK 782-791). Với những câu kinh nói
trên, rõ ràng Giáo hội Công Giáo Việt Nam đã công khai bày tỏ ý muốn
"phá tan đạo Phật" và công khai nhục mạ các dân tộc Đông phương,
trong đó có Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Đại Hàn, Tân Gia Ba,
Thái Lan... là những dân tộc mọi rợ! Quê hương của Phan-xi-cô là Tây
Ban Nha so với những con rồng Châu Á thôi chứ chưa cần phải so sánh
với Nhật Bản cũng đủ thấy cách xa nhau một trời một vực. Nếu dịch
các câu kinh này ra tiếng Tây Ban Nha cho họ đọc, chắc chắn những
người Tây Ban Nha có liêm sỉ phải cảm thấy xấu hổ.
Chúng ta cần phải hiểu thế nào là mọi rợ. Theo
tôi thì người Công Giáo hiện nay còn đang ở trong tình trạng rất mọi
rợ về tâm linh và còn lâu họ mới có thể trở thành người văn minh về
phương diện này. Trước hết, họ luôn luôn mang tâm cảm là những "con
chiên" tức những con cừu non (Lamb: young sheep). Giống cừu, nhất là
cừu non, thường rất ngu, chúng chỉ hùa theo bày như chuyện những con
cừu của Panurge mà học sinh trung học thời trước đã học qua những
giờ về Littérature Francaise đều biết. Muốn trở thành người Việt Nam
bình thường, người Công Giáo phải trải qua nhiều bước trong quá
trình tiến hóa tâm linh mới đạt được. Bước đầu tiên họ phải gạt bỏ
cái mặc cảm là bầy chiên ngu ngốc của Vatican để nhận ra nhân cách
con người của mình. Nghĩa là họ phải trải qua quá trình tiến từ súc
vật để trở thành người đứng thẳng (Homo Erectus).
Sau đó, họ cần phải loại bỏ cái thói xấu thích
ăn thịt người (Cannibal) dù chỉ là ăn thịt người tưởng tượng khi họ
xếp hàng lên phía bàn thờ cố đạo cho "Rước Mình Thánh Chúa". Phép bí
tích Mình Thánh Chúa đã biến người Công Giáo thành những kẻ ăn thịt
người vừa man rợ vừa ngây ngô đến tức cười sống giữa xã hội văn minh
của loài người chúng ta. Cách đây vài chục năm, tôi đã có lần lên
chịu lễ nhưng tôi không nuốt bánh Thánh. Tôi ra khỏi nhà thờ, nhổ
bánh Thánh xuống đất và dùng gót giầy đạp lên nó. Tôi đạp lên bánh
Thánh với cảm giác như mình đang hết sức đạp thẳng vào Giáo Hội Công
Giáo Hoàn Vũ và giáo hoàng ở Vatican. Nhờ hành động này, tôi cảm
thấy đã tiến hóa một lúc tới hai bước: Một là tôi từ bỏ thân phận
làm con cừu của Vatican để "trở lại" làm người. Đồng thời tôi đã
tiến một bước nhảy vọt về tâm linh từ một tên mọi rợ dã man ăn thịt
người để "trở lại" thành người bình thường trong xã hội. Sau khi trở
lại làm người bình thường, tôi phải học hỏi về cội nguồn dân tộc và
nhận thức được giá trị rất cao của nền văn hóa nhân bản của tổ tiên
chúng ta. Phải trải qua một quá trình tự giáo dục và chiến đấu với
bản thân hết sức quyết liệt, tôi mới có thể cải hóa tâm linh của
mình từ một tín đồ Công Giáo để tiến lên làm một người Việt Nam bình
thường như mọi người Việt Nam bình thường khác. Cho tới bây giờ, tôi
mới dám tự hào được làm một người Việt Nam bình thường! Khi bình tâm
nghĩ lại tôi cảm thấy đồng bào Công Giáo của mình thật đáng thương
vì họ còn ở trong tình tạng bán khai tâm linh mà chính họ không biết
nên đã quay ngược chê dân tộc mình là mọi rợ. Thật là một sự đau xót
vô cùng.
Trở lại với bài Kinh Cầu Ông Thánh Phan-xi-cô
Xa-vi-e, sau khi truy tìm qua nhiều sách kinh bằng Anh Ngữ, tôi nhận
thấy Phan-xi-cô tuy được coi là một cộng sự viên của Loyola lập ra
Dòng Tên [Dòng Tên (Jesuit) là một trong những dòng giáo sĩ hung hản
của Vatican, nhất là trong phong trào đi chiếm thuộc địa.]
nhưng chỉ một mình Ignatius Loyola được
Vatican lập lễ kính hàng năm vào ngày 31 tháng bảy. Phan-xi-cô không
có cái vinh dự này. Trong các sách kinh Công Giáo bằng Anh ngữ đều
có kinh cầu "thánh" Ignatius Loyola nhưng không có kinh cầu "thánh"
Phan-xi-cô. Do vậy, tôi nghĩ rằng bài "kinh cầu ông thánh
Phan-xi-cô" nói trên là sản phẩm riêng của giáo hội Công Giáo Việt
Nam. Bài kinh này rất dài so với các bài kinh khác vì nó chiếm tới
10 trang trong sách Nhựt Khóa (782-791). Đọc bài kinh này, chúng ta
sẽ thấy tác giả của nó là một kẻ có đầu óc u tối hẹp hòi và hoàn
toàn mù tịt về tiểu sử của Phan-xi-cô Xa-vi-e (Francis Xavier). Tiểu
sử của F. Xavier chứng minh rằng tu sĩ này đã thành công phần nào ở
Ấn Độ là nhờ biết sống hòa mình với đám tiện dân vốn bị khinh rẻ
trong xã hội theo Ấn giáo. Ông được dân địa phương có cảm tình đặc
biệt vì ông đã liên tục lên án gay gắt sự vô đạo đức và thói tham
lam tàn bạo của bọn thực dân Âu châu trên đất Ấn.
Phan-xi-cô sinh năm 1506 trong một gia đình
quí tộc tại Tây Ban Nha. Khi lớn lên, y được cha mẹ cho đi du học
Đại học Sorbonne – Paris. Tại đây vào năm 1530, y gặp tu sĩ Ignatius
Loyola và đã cùng với tu sĩ này lập ra dòng Tên (có nghĩa là một
dòng tu mang tên Jesus – The Jesuit Order) vào năm 1534. Từ năm 1540
đến 1548, Phan-xi-cô hợp tác với các tu sĩ Bồ Đào Nha giảng đạo ở Ấn
Độ, đã dụ dỗ được trên 100.000 dân nghèo Ấn Độ theo đạo. Do công
trạng này, Phan-xi-cô được Vatican tuyên dương là "tông đồ của Ấn Độ
(Aspostle of India). Sau khi giảng đạo tương đối có kết quả tại Ấn
Độ, Phan-xi-cô có tham vọng chinh phục Nhật Bản. Ngày 15 tháng 8 năm
1549, Phan-xi-cô Xa-vi-e đặt chân lên đất Nhật và cố gắng truyền đạo
tại đây trong 27 tháng nhưng hoàn toàn thất bại vì tinh thần dân tộc
của người Nhật quá cao. Phan-xi-cô Xa-vi-e quá chán nản nên đã viết
thư gửi cho Ignatus Loyola như sau: "tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ không
bao giờ tìm được một dân tộc nào có thể sánh ngang với người Nhật.
Họ là những người có phong độ tốt, hết sức tôn trọng danh dự là vật
quí giá hơn bất cứ cái gì khác trên thế giới này. Họ chỉ nghe những
điều được dẫn chứng bằng lý luận và khi ai lý luận với họ chứng minh
được điều họ làm là xấu thì họ sẽ bị thuyết phục bởi lý luận đó".
(It seems to me that we shall never find another race to equal the
Japanese. They are a people of good manners. They are men of honor
to a marvel and prize honor above all else in the world. They like
to hear thing propounded according to reason and when one reasons
with them, pointing out that what they do is evil, they are
convinced by this reasoning – All Saints by Robert Ellsberg, The
Crossroad Pub. NY - 1997, P. 528-529).
Năm 1552, sau khi để lại ở Nhật hai tu sĩ dòng
Tên người bản xứ là Arima và Bungo do y đào tạo để tiếp tục truyền
đạo, Phan-xi-cô một mình tìm cách nhập lậu vào Trung Quốc. Khi mới
đến đảo Sancian ở ngài khơi Hồng Kông thì Phan-xi-cô đột nhiên bị
bệnh và chết cô đơn tại đây ngày 3 tháng 12 năm 1552. Phan-xi-cô
hiển nhiên là một nhân tài và là một tông đồ truyền giáo xuất sắc,
nhưng không biết vì lý do gì, Chúa chỉ cho y được hưởng dương có 46
năm. Và dù cho Chúa có cho y được sống tới 460 năm chăng nữa chắc
chắn y cũng chẳng bao giớ "phá tan đạo bụt thần ma qủy" như những tu
sĩ cuồng tín Việt Nam ước mơ. Xa-vi-e được Vatican thương tình phong
thánh năm 1662. Năm 1927, y được Vatican ban thêm cho tước hiệu
"Thánh quan thầy của các đoàn thuyền giáo hải ngoại" (Patron of
foreign missions). Có lẽ vì tước hiệu này mà xứ đạo Công Giáo người
Hoa ở cuối đường Đồng Khánh – Chợ Lớn đã nhận Phan-xi-cô Sa-vi-e làm
thánh bổn mạng và dựng tượng Phan-xi-cô trên tháp chuông nhà thờ của
họ. Dân Saigon thường quen gọi cái nhà thờ Công Giáo Ba Tàu Chợ Lớn
này là nhà Thờ Cha Tam, một địa danh đi vào lịch sử Việt Nam với cái
chết thê thảm đền tội xứng đáng của anh em Diệm – Nhu năm 1963. Tạ
ơn Chúa! Deo Gracias! Tiện thể tạ ơn luôn cả Thánh Phan-xi-cô cho
thánh đỡ tủi.
Vào năm 1587, tại Nhật có khoảng 100.000 tín
đồ Công Giáo, phần đông tập trung tại Nagasaki. Trong thời gian này,
nhiều tàu chiến của Bồ Đào Nha đến xâm chiếm Nhật. Chính quyền Nhật
nắm được đầy đủ bằng cớ chứng tỏ các tu sĩ và giáo dân Công Giáo làm
nội ứng cho địch. Do đó, chính quyền Nhật ra lệnh xử tử bằng cách
đóng đinh các tu sĩ ngoại quốc và chém giết rất nhiều giáo dân. Tuy
nhiên, các tu sĩ dòng Tên vẫn tiếp tục nhập lậu vào Nhật truyền đạo.
Năm 1614, chính quyền Nhật mở cuộc hành quân đợt hai do tướng
Tokogawa Yagasu chỉ huy. Năm 1638, giáo dân còn sót lại ở Nagasaki
nổi loạn chống chính quyền. Lần này chính quyền Nhật nhất quyết
thẳng tay trừng trị nên đã ra lệnh cho tướng Iemitsu mang đại quân
đến dẹp loạn đồng thời đẩy lui quân Bồ Đào Nha xâm lược. Quân Nhật
giết luôn một lúc 37.000 giáo dân tại Nagasaki, đóng đinh các tu sĩ
và đánh đuổi bọn xâm lược Bồ Đào Nha ra khỏi lãnh thổ. Một số tàn
quân Bồ Đào Nha và giáo dân Nhật sống sót tìm cách vượt biên bằng
thuyền đến tỵ nạn tại Hội An - Việt Nam. Từ đó, trong hơn hai thế
kỷ, nước Nhật sạch bóng quân ngoại xâm và bọn giáo dân phản quốc
(The Secret History of the Jesuits, by Edmond Paris, translated from
French 1975. Chick Publications USA, p.51-52; National Geographic
Magazine, Vol.182, No.1, Nov.11.1992, p.56-93: "Portugal’s Sea Road
to the East").
Chiến thắng vẻ vang do quyết tâm tiêu diệt tà
đạo Công Giáo của người Nhật đã bảo toàn nền độc lập và văn hóa của
nước Nhật. Tinh thần dân tộc Nhật đã được hun đúc bởi Thần Đạo
(Shinto), tinh thần Võ sĩ đạo (Samourai) và tinh thần Phật Giáo đã
cứu nước Nhật thoát ách ngoại xâm và đưa nước Nhật lên địa vị siêu
cường ngày nay. Tiểu sử của Phan-xi-cô cũng như lịch sử nước Nhật đã
chứng minh không hề có chuyện Phan-xi-cô "phá tan đạo bụt thần" như
tác giả thiếu trí tuệ của bài kinh đã tưởng tượng và Phan-xi-cô cũng
chẳng bao giờ dám coi một dân tộc Đông phương nào là mọi rợ cả!
Ngược lại, Phan-xi-cô rất tôn trọng phong tục tập quán của các nước
ông ta đến giảng đạo và đó chính là yếu tố thành công của ông. Bài
kinh nói trên là một bằng cớ cụ thể chứng tỏ tính vong bản nặng nề
của các tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Chúng đã mù quáng xuyên tạc tiểu
sử của Phan-xi-cô và tán tận lương tâm đến mức dám cố tình nhục mạ
tổ quốc và các dân tộc Đông phương là những dân mọi rợ! Các tu sĩ
này thật sự là một đám cỏ dại trên cánh đồng văn hóa Việt Nam. Muốn
bảo vệ cánh đồng văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không tính đến
chuyện trừng trị đám cỏ dại nguy hiểm này. Việc đặt Công Giáo ra
ngoài vòng pháp luật phải là điều đương nhiên trong giai đoạn sắp
đến như nước Nga đã làm mấy năm trước đây.
5. Những câu kinh gây hận thù và chia rẽ dân
tộc:
Sau hơn bốn thế kỷ xâm nhập Việt Nam, tổng số
tín đồ Công Giáo cũng chỉ chiếm được khoảng 8% dân số cả nước. Cái
thiểu số này đã coi 92 % còn lại của dân tộc Việt Nam là "những
người ngoại đạo khinh rẻ công ơn cứu chuộc của Chúa". Kinh Cầu Cho
Kẻ Ngoại có câu: "Cúi xin Chúa từ rày về sau đừng để những người
ngoại đạo khinh dễ công ơn cứu chuộc, một xin Chúa nhậm lời cầu
nguyện các thánh cùng hội thánh là bạn thanh sạch con Chúa mà dong
thứ cho những kẻ ấy. Xin Chúa hãy nhớ lòng nhân từ Chúa mà che lấp
lỗi những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ lạy bụt thần (TNKN Bùi Chu,
Hà Nội, tr.18). Tệ hơn nữa là tới năm 1971, sách Kinh Nhựt Khóa của
TGP Saigon vẫn còn những câu kinh nhục mạ Phật Giáo nặng nề như sau:
"Ai chẳng nghe lời Hội Thánh trong mọi việc ấy là chẳng nghe lời
Chúa tôi. Tôi ước ao cho muôn vàn kẻ ngoại xứ này đặng bỏ bụt thần
ma quỉ mà trở lại cùng Chúa tôi" (NK 139). Trong thực tế, chẳng có
ai thờ quỷ cả, vì quỉ là những kẻ có tội bị Chúa giam cầm trong lửa
hỏa ngục đời đời, như tín đồ Công Giáo đã được dạy như thế, làm gì
còn quyền hành tung hoành tùy ý được. Chẳng qua là các tu sĩ Công
Giáo sử dụng danh từ "ma quỉ" chỉ nhằm mục đích để hạ nhục Phật Giáo
cho bỏ ghét mà thôi.
Nhưng theo kinh nghiệm bản thân của tôi thì
Kinh Bản (Kinh Bổn) nguy hiểm nhất vì kinh này trước đây giáo hội
buộc những người tân tòng và các trẻ em trong các gia đình Công Giáo
đều phải học thuộc. Riêng kẻ viết bài này đã bị cha mẹ bắt phải học
thuộc lòng từ năm lên bảy tuổi để được chịu phép xưng tội và rước lễ
lần đầu. Kinh Bổn được viết theo lối vấn đáp và trước đây ở quê nhà,
kinh này thường được đọc tại nhà thờ vào ngày Chủ nhật. Tôi nhớ như
in câu kinh sau đây vì nó đã làm cho tôi có ác cảm với mọi người
ngoại đạo trong suốt thời niên thiếu của tôi: "Hỏi: Kẻ lành là ai? –
Thưa: Kẻ lành là kẻ giữ đạo nên. Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo và kẻ giữ
đạo chẳng nên" (TNKN 325). Câu kinh này đã gây ấn tượng sâu xa trong
đầu óc non nớt của tôi cho rằng mọi người không theo đạo Công Giáo
đều là những kẻ ác cả? Do đó trong lòng tôi luôn luôn mang nặng một
mặc cảm nghi ngờ và thù ghét mọi người ngoại đạo. Sau này, khi đến
tuổi lớn khôn, tôi tự hỏi là tôi làm sao có thể sống sót được nếu
tôi phải sống giữa một đất nước có tới 92% dân số là những kẻ ác? Và
nếu 8% dân số Việt Nam theo đạo Công Giáo vẫn sống còn và phát triển
như ngày nay thì hiển nhiên những người Việt Nam ngoại đạo không
phải là những kẻ ác như kinh Bổn đã dạy! Quả thật, Kinh Bổn đã là
công cụ đầu độc tinh thần trẻ thơ Công Giáo Việt Nam trong nhiều thế
hệ qua, và nay cũng vẫn còn tiếp tục. Ngoài ra, người Công Giáo Việt
Nam còn bị nhiễm cái định kiến của giáo sĩ ngoại quốc cho rằng "có
đạo" là văn minh và ngoại đạo (Heathen) đồng nghĩa với kém văn minh
(uncivilized) hay mọi rợ (barbarous). Với các định kiến sai lầm về
dân tộc cũng như đối với đồng bào ngoại giáo do các sách kinh nguyện
đầu độc, tập thể Công Giáo Việt Nam vĩnh viễn xa rời dân tộc và vĩnh
viễn bị coi như cùi hủi đáng ghê tởm trên quê hương mình. Các sách
kinh nguyện đã biến tập thể Công Giáo thành một đám người xa lạ
không hồn, chẳng những sống gửi vô ơn trên quê hương Việt Nam mà còn
luôn luôn sẵn sàng làm nội ứng đắc lực cho đủ loại kẻ thù của Tổ
Quốc.
6. Những bài kinh nguyện sặc mùi văn hóa du
mục Do Thái – Ả Rập đã biến tập thể Công Giáo Việt Nam thành một
giáo hội súc vật hèn hạ:
Như đã trình bày ở trên, nếu cứ nhìn theo bề
ngoài thì ta thấy mọi người Công Giáo đều là những người bình
thường, nhưng sự thật bên trong họ là những tim óc bán khai. Họ
không phải là bán khai sao được khi họ còn ham đến nhà thờ để được
ăn thịt uống máu Chúa (cannibal). Nam nữ tín đồ ăn thịt uống máu
(Chúa) cho đả để rồi sau đó nam nữ tín đồ bài tiết Chúa ra ngoài qua
lối cửa trên hoặc cửa dưới um tùm. Thấy phát khiếp.
Do hậu quả của sự tự kỷ ám thị, những bài kinh
sặc mùi văn hóa du mục đã biến các tín đồ Công Giáo thành một đàn
cừu non và hạng tu sĩ đương nhiên trở thành những "chủ chăn" của họ.
Đầu óc ô nhiễm giáo lý Công Giáo của họ u tối như đêm ba mươi không
đèn không đóm nên họ không thấy điều đó là nhục. Trong khi đó, các
tu sĩ cao cấp như giám mục , hồng y, giáo hoàng cứ tưởng mình là
những "đấng" chăn cừu chăn dê thật nên mỗi khi làm lễ, chúng thường
cầm cây gậy mạ vàng tượng trưng cho cây gậy của những kẻ mục đồng
trên những đồng cỏ hoang dã ở Do Thái – Ả Rập xưa kia. Dưới con mắt
của tu sĩ cao cấp này, đoàn giáo dân chỉ là một bầy súc vật để cho
chúng ăn thịt. Kinh Dâng Cõi Đông Dương cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria
có câu: "Sau nữa, vì công nhiệp, Đức Mẹ chuyên cầu, xin cho cả dân
cõi Đông Dương nhờ có máu châu báu của con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu
chuộc, thảy đều nên một ràn cùng một kẻ chăn." (NK 170-172).
Trong sách kinh Công Giáo Việt Nam đầy dẫy
những câu kinh nhồi sọ giáo dân tinh thần nô lệ mù quáng khiến họ
chỉ biết cúi đầu tuân phục mọi mệnh lệnh của Vatican và tuyệt đối
tin tưởng vào một điều quái đản là "giáo hoàng La Mã không thể sai
lầm". Chẳng hạn như trong kinh Phạt Tạ Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa
Giê-xu có câu: "Chúng tôi xin đền tội chung cho các nước thiên hạ
hằng chống cưỡng cùng chẳng vâng phục lời Hội Thánh Chúa truyền dạy"
(N 130-131). "Ai chẳng vưng lời Hội Thánh truyền dạy trong mọi việc
là chẳng vưng lời Chúa tôi" (NK 137). "Chính đấng cai trị ở trên
trời là Đức Chúa Giê-xu và đấng ở dưới đất cai trị các giáo hữu khắp
thế gian là Đức Giáo Hoàng ở thay mặt Đức Chúa Giê-xu... Đức Chúa
Trời hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm
được" (TNKN 126-127). Tập thể giáo dân trở thành một bầy con chiên
tức bầy cừu non dại hoàn toàn tùy thuộc vào sự lãnh đạo của hệ thống
tu sĩ đứng đầu bởi giáo hoàng.
Giáo hoàng và bộ tham mưu đầu não trung ương
của thế giới Công Giáo đặt tại Vatican. Bộ tham mưu địa phương của
chúng nằm vùng tại các quốc gia có tín đồ Công Giáo là các Hội Đồng
Giám Mục. Tại nước ta, HĐGMVN trụ sở đặt tại số 40 phố Nhà Chung, Hà
Nội, là bộ tham mưu của bọn Việt gian nằm vùng thường trực trong
lòng dân tộc Việt Nam. Mọi mệnh lệnh của Vatican ban ra đều được ban
tham mưu này răm rắp thi hành, miễn sao phục vụ tối đa quyền lợi của
Vatican, chẳng bao giờ quan tâm đến quyền lợi và danh dự của dân
tộc. Các sách kinh nguyện là những công cụ chiến tranh tâm lý hữu
hiệu của Vatican nhằm đầu độc tinh thần giáo dân và biến họ thành
một lực lượng chính trị của Vatican mai phục sẵn trong lòng dân tộc
Việt Nam. Điều nguy hiểm là lực lượng chính trị này đồng nhất, đa số
là những tim óc bán khai và hung hăng cuồng tín, cho nên kẻ lưu manh
quốc tế ở Vatican rất dễ dàng xử dụng họ để tha hồ thao túng lũng
đoạn nội bộ nước ta. Các sách kinh nguyện thực sự đã trở thành những
trái mìn cài sẵn trong mọi ngóc ngách của căn nhà Việt Nam.
7. Các lời cầu nguyện của GH Jean Paul II
trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam năm 1988 tại Vatican có
nội dung vinh danh hay mạ lỵ người Công Giáo Việt Nam?.
Các sách kinh Công Giáo đều có những "kinh cầu
các thánh tử đạo Việt Nam". Nhưng các kinh ngày thường chỉ là những
lời ca tụng suông mà thôi. Phải đợi đến khi giáo hoàng Jean Paul II
tuyên đọc những lời cầu nguyện để tôn vinh 117 tử đạo Việt Nam ngày
19 tháng 6 năm 1988 [Trong Tòa "Thánh" Vatican có một số giáo sĩ
người Việt, họ đã vận động cố tình chọn ngày 19-6 với mưu đồ chính
trị. Đó là ngày của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.]
tại Vatican, chúng ta mới có thể hiểu được
những người tử đạo Việt Nam đã chết cho ai và với mục đích gì. Trong
bài kinh phong thánh có những câu sau đây:
"Các Ngài là niềm vinh quang của Jerusalem
"Là nỗi vui mừng của Israel
"Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam!
Tôi dám quả quyết rằng ngoài một thiểu số tín
đồ Công Giáo cuồng tín ra, tuyệt đại đa số người Việt ở trong nước
cũng như tại hải ngoại chẳng có ai cảm thấy một vinh dự nào trong
việc Vatican phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam. Trái lại, sự phong
thánh đó chỉ làm cho người Việt Nam gai mắt vì bị coi là một hành vi
khiêu khích đối với cả một dân tộc. Bởi lẽ người Việt Nam không quên
rằng sự du nhập đạo Công Giáo đã là nguyên nhân chính yếu đưa dân
tộc Việt Nam vào vòng nô lệ thực dân Pháp trong hơn 80 năm đau
thương ô nhục!. Chính những người tử đạo đã là nguyên nhân gây hận
thù và chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng
cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo ở Phát Diệm, Bùi Chu, Thái
Bình và Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo ở Miền Nam Việt Nam, gọi tắt là
UMDC (Unités Mobiles de Defense des Chrétiens) trong công cuộc chiến
tranh Việt-Pháp 1946-1954.
Trong cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của
thực dân Pháp 1946-1954, các giám mục Việt gian Lê Hữu Từ và Phạm
Ngọc Chi đã ra sức phục vụ cho thực dân tại miền Bắc dưới chiêu bài
chống Cộng Sản vô thần. Sau 1954, Lê Hữu Lễ và đàn em là Hoàng Quỳnh
tiếp tục phục vụ quyền lợi của thực dân pháp tại Việt Nam bằng cách
hợp tác với đại tá Le Roy, Tổng chỉ huy UMDC và đảng cướp Bình
Xuyên. Từ 1954 đến 1963, người Công Giáo huênh hoang tự phong cho
mình là những người chống cộng hàng đầu. Họ đã điên cuồng chống cộng
không phải vì yêu nước hay vì chính nghĩa quốc gia mà chỉ để phục vụ
cho chủ trương chống cộng cực đoan của giáo hoàng Pio XII
(1939-1958). Pio XII là tên trùm của siêu quyền lực Mafia. Trước khi
lên ngôi giáo hoàng, Pio XII đã sống nhiều năm ở Đức. Mặc dầu là
người Ý, nhưng rất thông thạo về mọi vấn đề của Đức quốc và nói
tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ. Trong thế chiến thứ hai, Pio XII đã góp
công đặc lực cho Hitler tiêu diệt Do Thái. Hiện nay tại bảo tàng
viện Bronx (New York) có một gian hàng triển lãm tội ác của Pio XII
với một tấm bảng ghi: "Tên đồ tể Quốc xã tại Rome" (The Nazi butcher
at Rome). Pio XII là một giáo hoàng rất cuồng tín đã ra lệnh cho
giáo phận Bùi Chu lập Dòng Đồng Công trong thập niên 1940 do LM Trần
Đình Thủ đứng đầu. Pio XII tích cực hỗ trợ thực dân Pháp tái chiếm
Việt nam. Năm 1954, chính y đã kêu gọi Mỹ ném bom nguyên tử xuống
Bắc Việt để cứu Pháp nhưng người Mỹ đã bác bỏ đề nghị này của y.
Sau khi Pio XII chết vào năm 1958, các giáo
hoàng kế nhiệm là John XXIII (58-63) và Paul VI (63-78) đã quay
ngược 180 độ bắt tay với Liên Xô. Đầu thập niên 1960, John XXIII móc
nối với Hồ Chí Minh để thiết lập chính phủ trung lập tại Nam Việt
Nam và hợp tác với Kennedy sát hại anh em Ngô đình Diệm năm 1963.
TGM Ngô Đình Thục suốt đời làm thân khuyển mã cung cúc phục vụ quyền
lợi của đế quốc thế tục Pháp và đế quốc tinh thần Vatican nhưng đã
bị bỏ rơi tàn nhẫn. Vatican (sau Công đồng tháng Mười 1962) đã không
ngần ngại ban cho tên tổng giám mục Việt gian này án phạt tuyệt
thông, đó là một hình phạt nặng nề và nhục nhã nhất đối với một tín
đồ Công Giáo. Ngày 30.1.1967, GH Paul VI tiếp thủ tướng Liên Xô tại
Vatican. Cũng trong thời gian này (65-67), LM Hoàng Quỳnh và hàng
chục ngàn giáo dân liên tục biểu tình phá rối trị an tại Nam Việt
Nam, nhất cử nhất động đều răm rắp theo lệnh của Vatican! Ngày
12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh cùng với gán điệp CS Vũ Ngọc Nhạ đến Củ
Chi họp mật với MTGPMN để lập Thành Phần Thứ Ba trong chính phủ liên
Hiệp theo như hiệp định Paris dự liệu. Sau 1975, GH Paul VI đã ban
thưởng huy chương cho gián điệp Vũ Ngọc Nhạ và không thèm đếm xỉa gì
đến các chiến sĩ QLVNCH chống cộng đang nằm trong các trại tù cải
tạo. Giới trí thức Công Giáo hoàn toàn nín khe không dám nói nửa lời
chống lại các hành vi phản bội trắng trợn này của Vatican đối với
Việt Nam Cộng Hòa. Vậy mà tại hải ngoại, bất cứ ai lên tiếng đả kích
Công Giáo về bất cứ vấn đề gì, luôn luôn bị nhóm trí thức Công Giáo
này gán ngay cho cái mũ Cộng Sản vô thần.
Nhưng sự thật lịch sử xưa và nay đều chứng
minh rằng tập thể Công Giáo Việt Nam chỉ là một bầy cừu hèn hạ luôn
nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán và cực kỳ nham hiểm của
Vatican. Vì cuồng tín, họ đã tự biến mình thành một tập thể Việt
gian luôn luôn có hành động đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
Trách nhiệm hàng đầu thuộc về cái gọi là Hội Đồng Giám Mục. Xét cho
cùng, mọi hành vi xuẩn động phản quốc của tập thể Công Giáo là do
hậu quả của những bài kinh cầu xin Chúa cho làm súc vật: "Xin Chúa
hãy lùa tôi vào một đoàn cùng các con chiên Chúa." NK 721). "Vì công
nghiệp Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho cả dân Đông Dương (Indochine
Francaise) thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (NK 170-172). Thiên
Chúa là đấng thiêng liêng chẳng thấy đâu, cho nên đoàn chiên gọi là
của Chúa trong thực tế chỉ là một bầy cừu khờ dại của Vatican!.
Tu sĩ Công Giáo Việt Nam là những kẻ đốn mạt
tự nguyện từ bỏ tư cách làm người để hạ mình ngang hàng súc vật. chỉ
có tín đồ cuồng tín mới tôn họ lên làm "Các Vị Lãnh Đạo Tinh Thần"
và tâng bốc gọi họ là Cha, Đức Cha, Đức Ông hoặc Các Đấng Bề trên mà
thôi. Các tu sĩ Công Giáo hay ghi nhớ nằm lòng những điều đó và chấm
dứt ngay hành vi láo xược xưng Cha xưng Ông với những người Việt Nam
ngoại giáo. Trình độ nhận thức của dân tộc Việt Nam ngày nay về thực
chất của đạo Công Giáo đã khác xa với thời Ngô Đình Diệm và tấm
gương sáng oanh liệt Nagasaki của Nhật Bản thế kỷ 16-17 sẽ được dân
tộc Việt Nam học tập. Sống trên quê hương Việt Nam, những người Công
Giáo chỉ biết ca ngợi hết lời đối với quân cướp nước và bán nước rồi
quay đầu lại nhục mạ dân tộc mình là mọi rợ. Các người mù quáng đến
độ Giáo hoàng Jean Paul II đã chưởi khéo mà các người không biết.
Lời cầu nguyện của GH John Paul II trong lễ
phong thánh cho 117 tử đạo năm 1988 đã cho chúng ta thấy rõ là những
người tử đạo đó đã hy sinh tính mạng nhằm phục vụ cho ai: "Người là
niềm vinh quang của Jerusalem, là nỗi vui mừng của Israel!". Thật rõ
ràng là họ đã chết không phải vì dân tộc Việt Nam mà vì Jerusalem và
Israel! Chúng ta hãy tự hỏi: Cái thành phố Jerusalem kia có liên
quan gì đến dân tộc Việt Nam mà 117 kẻ tử đạo đã phải chết để đem
lại vinh quang cho nó? Ngay cái thành phố này tự nó đã là hiện thân
của sự chia rẻ tôn giáo đáng nguyền rủa, hà cớ gì người Việt Nam lại
phải đem sinh mạng của mình để lo cho vinh quang của nó? Báo
Washington Post ngày 25.3.2000 loan tin GH Jonh Paul II đến nhà thờ
The Holy Sepulbsher tại Jerusalem làm lễ đã kêu gọi bảy giáo phái
Ki-tô Giáo tại thành phố này hãy xóa bỏ hận thù chém giết lẫn nhau
trong nhiều thế kỷ qua để hợp nhất trong tinh thần anh em cùng cha
là Chúa Ki-tô. Nhưng trong khi GH John Paul II làm lễ thì các nhà
thờ thuộc các giáo phái Ki-tô khác đã khua chuông ầm ĩ để phá đám!
Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng đã phải thở dài và than
rằng: "Phương cách này là một cuộc chiến!" (This process is a
battle) và John Paul II cũng đành thú nhận: "Từ xưa đến nay, tôn
giáo vẫn được xử dụng làm phương tiện cho sự chia rẽ và chiến tranh"
(Religion has been used as a means for division and war). Như vậy rõ
ràng Jerusalem là một chứng tích hùng hồn về sự thất bại của cái gọi
là "công ơn cứu chuộc của Chúa Jesus" và là biểu tượng nhục nhã của
chiến tranh tôn giáo đã gieo rắc biết bao thảm họa cho nhân loại
trong 2000 năm qua. Cả hàng triệu tử đạo trên khắp thế giới cũng
không đủ sức đem lại một chút xíu vinh quang nào cho Jerusalem huống
hồ 117 tử đạo cắc ké Việt Nam?
Mọi người Việt Nam ngoại giáo rất ngạc nhiên
vì không thể hiểu nổi tại sao người Công Giáo Việt Nam lại phải đổ
máu cho nỗi vui mừng của Israel?. Các đây 4000 năm, cháu nội của
Abraham là Jacob đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để vinh danh
con bò thần tên EL. Chẳng lẽ cái chết của 117 tử đạo Việt Nam chỉ để
mang lại niềm vui cho dân tộc thờ bò? Người Việt Nam vẫn thường quan
niệm con bò là biểu tượng của sự ngu đốt, vì vậy tục ngữ Việt Nam có
câu: "ngu như bò". Không có một trường hợp nào có thể áp dụng câu
tục ngữ này thích hợp cho bằng trường hợp những người Việt Nam tử
đạo "vì vinh quang của Jerusalem và vì nỗi vui mừng của Israel".
Thật đau buồn để phải nhận ra rằng máu bò Do Thái còn quí hơn máu tử
đạo Việt Nam bội phần! Do đó, những lời cầu nguyện của Giáo hoàng
Jean Paul II đọc trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam năm
1988 thực chất là những lời nhục mạ Công Giáo Việt Nam! Bà Joanne
Meehl viết: "bỏ đạo là từ chối làm kiếp con bò" (refusing to be a
cow) thật là chí lý!
6. BẦY QUẠ TRÊN THÂN XÁC NGƯỜI
ĐÀN BÀ DO THÁI
Tại Việt Nam chỉ có một dòng tu Công Giáo duy
nhất do người Việt Nam sáng lập là Dòng Đồng Công. Danh hiệu "Đồng
Công" là chữ tắt của danh hiệu "Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc" (The
Co-Redemptrix). Dòng này do LM Trần Đình Thủ sáng lập vào cuối thập
niên 1940 do lệnh của Giáo Hoàng PIO XII. Thoạt tiên, trụ sở dòng
đặt tại làng Liên Thủy (gần với làng Hành Thiện - Nam Định). Sau
1954, dòng dời về xã Tam Hà - Thủ Đức. Sau 1975, một số thầy tu Dòng
Đồng Công tới định cư ở Missouri lập nghiệp từ hai bàn tay trắng.
Ngày nay, chi nhánh Dòng Đồng Công hải ngoại này đã trở thành một
đại công ty kinh doanh lòng sùng kính Đức Mẹ với những cơ sở hết sức
lớn lao rải rác khắp nơi. Trụ sở chính đặt tại Carthage Missouri MO.
64836,USA với những công trình kiến trúc vĩ đại. Với số giáo dân hải
ngoại vừa đông đảo vừa khá giả, thêm vào đó là tài kinh doanh vượt
bực của các thầy tu, Dòng Đồng Công ngày càng làm ăn khấm khá phát
tài, tiền vô như nước! Tôi rất tiếc chưa có dịp đi hành hương "Đất
Thánh" Missouri của Công Giáo Việt Nam hải ngoại, nhưng đã được coi
mấy cuốn băng video của cơ sở ngoại vi của Dòng Đồng Công là Câu Lạc
Bộ Văn Hóa Tố Như (Box 66, Vienna – VA 22183 – Fax (702) 319-9489)
cũng đủ thấy sự khai thác thương mại đại qui mô của dòng tu Việt Nam
này. Tôi thật kinh ngạc phục tài thao lược "tay trắng làm nên" và
tài mê hoặc quần chúng của những chuyên gia Thánh Mẫu Học Việt Nam
(Vietnamese Mariologists).
Trong thời gian gần đây, CLBVH Tố Như mới cho
ra lò một bộ băng video "Ave Maria, Mẹ yêu Dấu" gồm 4 cuốn:
1. FATIMA – Mẹ là niềm hy vọng
2. LỘ ĐỨC – Mẹ là nguồn yêu thương
3. LA VANG – Mẹ củng cố đức tin son sắt
4. GUADELOUP – Chứng tích mẹ yêu dấu
Thông điệp chính yếu trong những lần "Đức Mẹ
hiện ra", nếu có thật, là khuyến cáo các tu sĩ, nhất là các linh
mục, phải cải thiện đời sống để cứu nguy giáo hội Công Giáo đang bên
bờ diệt vong. Nhưng các tu sĩ hoàn toàn làm ngơ trước những khuyến
cáo này của Đức Mẹ. Trái lại, họ chỉ biết chú tâm vào việc khai thác
thương mại lòng sùng kính ngây thơ của giáo dân dành cho Đức Mẹ,
hiện thân của tình mẫu tử theo nhân tính tự nhiên. Nếu Đức Mẹ là
Đấng Hiển Linh như niềm tin của họ thì Đức mẹ đang hiện diện khắp
mọi nơi, cần gì phải tổ chức những cuộc hành hương rềnh rang tốn phí
mà chỉ những kẻ nhiều tiền lắm bạc mới kham nổi. Từ nhiều năm qua,
Dòng Đồng Công đã tổ chức nhiều cuộc hành hương tới những địa danh
nổi tiếng về phép lạ của Đức Mẹ như Fatima ở Bồ Đào Nha, Lộ Đức
(Lourdes) ở Pháp, Núi Mẹ Sầu Bi tại Oregon. Hàng năm, Dòng Đồng Công
tổ chức "Đại Hội Thánh Mẫu" thu hút năm, sáu chục ngàn người từ khắp
nơi qui tụ về "Thánh địa" Carthage – Missouri.
Đây là dịp cho các nhà thần học hoang tưởng về
khoa học "Thánh Mẫu Học" (Mariology) trổ tài hùng biện thuyết giảng
về các phép lạ của Đức Mẹ để thỏa mãn nhu cầu ham chuộng phép lạ vô
bờ bến của giáo dân Việt Nam. Trong số các chuyên gia về Thánh Mẫu
Học nổi tiếng, chúng ta phải kể đến "nhà văn" Phạm Đình Khiêm, tác
giả cuốn "Đức Mẹ La Vang Là Nữ Vương Chiến Thắng". Linh Mục Barnabê
Nguyễn Đức Thiệp, cựu Giám Tỉnh Dòng Đồng Công tại Hoa Kỳ, "nhà khảo
cứu" Nguyễn Đức Tuyên, Giáo sư Trần Ngọc Vân tức "nhà văn" Trần
Phong Vũ. Trần Ngọc Vân là người đã đặt tên cho cuốn sách mới toanh
về Đức Mẹ là cuốn "Mẹ Maria Trong Ánh Sáng Đức Tin" 285 trang, giá
10 đô, của tác giả Ngưỡng Nhân Lưu Âu Nhi, xuất bản tại Hòa Kỳ tháng
10.2000. Nếu coi băng video của Câu lạc bộ Văn hóa Tố Như, chúng ta
sẽ được nghe nhà thần học hoang tưởng trẻ măng là Linh Mục Phan Hữu
Ngọc, tiến sĩ Thánh Mẫu Học thuộc dòng Đồng Công thuyết giảng.
Cơ quan tuyên truyền chính yếu của dòng Đồng
Công là Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ. P.O Box 836, Carthage – MO
64836, phone (417) 358-8296. Cũng theo báo này thì từ xưa đến nay,
Đức Mẹ đã hiện ra khắp nơi trên thế giới hơn 30.000 lần. Mỗi lần
Người hiện ra đều có những phép lạ khác nhau và mặc sắc phục khác
nhau. Chắc là Đức Mẹ có khả năng nói thông thạo mọi ngôn ngữ trên
thế giới nên Người mới có thể trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của
Người tới đàn con của Mẹ thuộc mọi chủng tộc. Hay mỗi lần Đức Mẹ
hiện ra lại cần phải có thông dịch viên? Tôi vẫn thắc mắc không biết
khi Đức Mẹ "hiện ra" ở La Vang trên 200 năm trước đây với giáo dân
Quảng Trị, Người có mặc váy và quấn khăn mỏ quạ không? Người có biết
ăn trầu bỏm bẻm không? Và Người nói chuyện với giáo dân La Vang
Quảng Trị bằng giọng Bắc kỳ, Nam kỳ hay bằng giọng rặc Quảng Trị?
Phải chăng Đức Mẹ đã phát âm theo kiểu "Nược cô còn nọng hay là
nguồi"? Xin các nhà thần học Công Giáo thông thái làm ơn giải thích
dùm, nếu không thì đồng bào có quyền nghĩ rằng những chuyện Đức Mẹ
hiện ra chỉ là những chuyện bịp và quý vị Thánh Mẫu Học chỉ là hạng
lưu manh ngụy trí thức chuyên nghề lừa gạt đám tín đồ khờ dại để
hành nghề bất lương với mục đích kiếm tiền một cách đốn mạt hèn hạ
mà thôi.
Tôi không xa lạ gì với Dòng Đồng Công. Tôi đã
đến thăm nhà dòng từ buổi sơ khai vào tháng 7.1950 tại nhà xứ Liên
Thủy Bùi Chu, lúc đó tôi là cậu học trò 13 tuổi. Thầy giáo dạy tôi
tiểu học lúc đó dẫn tôi và mấy đứa cùng trạc tuổi.
7. GÓP Ý VỚI QUÝ VỊ TRÍ THỨC
NGOÀI CÔNG GIÁO
A. Về phương diện tổng quát:
Giáo hội Công Giáo luôn khuyến khích tín đồ
thường xuyên đọc kinh vì đó là cách tốt nhất để nhồi sọ giáo dân các
tín điều nhảm nhí và làm tê liệt óc phán đoán của giáo dân khiến cho
họ không còn biết suy xét gì khác hơn là ngoan ngoản cúi đầu tuân
phục mọi mệnh lệnh của Vatican. Các sách Kinh Nguyện đã được các
chuyên gia của giáo hội soạn sẵn và đã được nghiên cứu chắt lọc hết
công phu qua nhiều thời đại nên các sách kinh này đã trở thành những
công cụ chiến tranh tâm lý cực kỳ tinh vi của bọn đế quốc nham hiểm.
Do đó hậu quả tâm lý của sự tự kỷ ám thị và sự lập lại nhiều lần,
tất cả những giáo điều dù vô lý đến đâu cũng đều trở thành những
chân lý tuyệt đối trong đầu óc của những kẻ có thói quen đọc kinh
cầu nguyện hằng ngày. Bằng các sách Kinh Nguyện, Vatican đã đào
luyện nên những tập thể giáo dân tuyệt đối trung thành với chúng
trong hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới. Những tập thể giáo
dân cuồng tín này luôn luôn sẵn sàng phạm mọi tội ác phản bội đồng
bào và dân tộc để thực hiện mọi âm mưu phá hoại của đế quốc. Hầu hết
các chính quyền gặp phải hoàn cảnh này đều không đám thẳng tay đàn
áp vì sợ gây "thánh chiến" và sợ bị dư luận gán cho tội vi phạm nhân
quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nhờ đó, Vatican đã trở thành
tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc tinh thần (spiritual imperialism).
Muốn chận đứng những tác hại của cuốn sách
kinh, trước hết chúng ta hãy cố gắng giải thích cho đồng bào của
chúng ta nắm được những sự thật về đạo Công Giáo và hiểu rõ bộ mặt
thực rất đểu cán của nó. Sự thật lịch sử chứng tỏ Công Giáo La Mã
không phải là một tôn giáo mà chỉ là một âm mưu vô cùng thâm độc của
đế quốc La Mã được ngụy trang dưới lớp vỏ tôn giáo giả tạo mà thôi.
Nhiều công trình nghiên cứu đa diện của giới học giả Tây phương cận
đại chứng minh rằng hầu hết những kẻ đứng đầu giáo hội ở Vatican là
những kẻ vô thần, vô đạo đức và độc ác (Godless, immoral and
wicked). Chúng chỉ giả vờ là những kẻ đạo đức mà thôi. Bọn đầu não
"Công Giáo La Mã ở Vatican là một tổ chức tội ác hình sự cao cấp".
Chỉ vì kỹ thuật phạm tội của chúng đạt tới mức tinh vi siêu đẳng
vượt thời đại nên ít ai nhận ra được bản chất vô cùng độc ác và nham
hiểm của chúng mà vẫn cứ lầm tưởng chúng là những người thánh thiện.
Tu sĩ được giáo dân xưng tụng là "các đấng chủ chăn" thực chất chỉ
là quỉ mang mặt người. Vatican là sào huyệt của Mafia đội lốt tôn
giáo lưu manh nguy hiểm nhất thế giới vì chúng là những kẻ sát nhân
ác độc nhưng lại được đám đông tín đồ khờ dại cuồng tín kính trọng
và vâng lời chúng tuyệt đối. Đó là lý do tại sao trong gần 17 thế kỷ
qua chúng đã gây ra biết bao thứ tội ác trên khắp thế giới mà bóng
ma của chúng vẫn cứ tiếp tục bao trùm cả nhân loại.
Thực chất Công Giáo cũng không phải là Ki-tô
Giáo (Christianity) vì đế quốc La Mã đã ra sức tiêu diệt Ki-tô Giáo
rất ác liệt trong hơn 3 thế kỷ đầu Công Nguyên. Từ năm 325 đến cuối
thế kỷ 4, đế quốc La Mã lập ra đạo mới là đạo Công Giáo
(Catholicism) trên xác chết của Ki-tô Giáo nguyên thủy bằng cách
tiêu diệt các giáo phái Ki-tô còn sót lại dám chống Công Giáo. Đồng
thời chúng hủy diệt các dấu tích thật về Chúa Jesus còn sót lại ở
Jerusalem, ngụy tạo Thánh Kinh, xuyên tạc lịch sử, đốt phá các thư
viện và đốt các sách thuộc văn minh nhân bản Hy Lạp. Sỡ dĩ đế quốc
La Mã phải diệt nền văn hóa nhân bản Hy Lạp vì nền văn hóa này hoàn
toàn đi ngược lại bản chất phi nhân bản (inhumanity) của Công Giáo
La Mã do chúng mới thành lập. Tội ác tiêu diệt văn hóa Hy Lạp của đế
quốc La Mã đã làm cho nền văn minh của nhân loại bị chậm lại cả ngàn
năm. Từ năm 325 trở đi, đế quốc La Mã không hề ngược đãi Công Giáo
mà chỉ lo củng cố và bành trướng tôn giáo này mà thôi vì Công Giáo
là con đẻ của đế quốc. Đến thế kỷ 5, sự tiêu diệt nền văn hóa nhân
bản cổ xưa của Hy Lạp gần như hoàn toàn đến nỗi tổng Giám mục
Chrysotom phải khoe rằng: "Mọi dấu vết về triết học và văn chương
của thế giới cổ đã bị xóa sạch khỏi mặt đất" (Every trace of the old
philosophy and literature of the ancient world has vanished from the
face of the earth – Bible Myths by Doane p. 436).
Tiến sĩ Rivera đã rất có lý khi ông viết như
sau: "Tổ chức Công Giáo La Mã không phải và chưa bao giờ là một giáo
hội Ki-tô. Nó là con điếm đã được tiên tri mô tả trong sách Khải
Huyền (cuốn sách cuối cùng trong bộ Thánh Kinh Tân Ước). Đám tín đồ
Công Giáo khốn khổ đã bị nó phản bội và đang phải đối phó với thảm
họa về tinh thần. Bọn người nguy hiểm nhất là những kẻ bề ngoài rất
sùng đạo, đặc biệt nguy hiểm khi chúng qui tụ lại thành tổ chức và
nắm những vị trí chính quyền. Bọn chúng được kính trọng sâu xa bởi
những kẻ ngu dốt không biết gì về những động lực của bọn chúng ở
phía sau sân khấu là hoàn toàn có tính cách vô thần và chỉ để nhắm
đến quyền lực. (The Roman Catholic institution is not a Christian
Church and never was. Prophetically she is the whore of Revelation.
The poor Roman Catholic people have been betrayed by her and are
facing spiritual disaster. The most dangerous men are those who
appear very religious, especially when they are ignorant of their
ungodly push for power behind the scene).
Kẻ gia nô văn hóa số một của Vatican ở Việt
Nam là Linh Mục Phan Phát Huồn, thuộc dòng Chúa Cứu Thế, tác giả
cuốn Việt Nam Giáo Sử (hai tập), xuất bản lần đầu vào năm 1962. Từ
đó đến nay, cuốn sách này được giới "trí thức" Công Giáo thường
xuyên sử dụng như một tài liệu tham khảo sử học chân chính. Tôi chưa
cần đề cập đến phần nội dung của cuốn giáo sử này, chỉ riêng một
đoạn Linh Mục Huồn viết trong bài tựa (trang 20) cũng đã phạm phải
hai điều sai lầm nghiêm trọng về lịch sử: "Máu (tử đạo) đã nhuộm đỏ
đất nước Việt Nam yêu quí làm cho đất phì nhiêu tươi tốt. Lấy võ lực
đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công Giáo thì chẳng những người
Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản đông đúc thêm... Các
hoàng đế Roma muốn tiêu diệt người Công Giáo thì ngày nay trên thủ
đô Roma phất phới trước gió cách oai hùng quốc kỳ Vatican tượng
trưng cho giáo quyền của giáo hội".
Sai lầm thứ nhất của Linh Mục Huồn là đã ngộ
nhận Ki-tô Giáo nguyên thủy (the Early Chistianity) với Công Giáo La
Mã (Roman Catholics). Lịch sử thế giới đã chứng minh: Trong 3 thế kỷ
đầu Công Nguyên, Ki-tô Giáo không có nhà thờ mà chỉ có phòng hội
(synagogue), không biết Thiên Chúa Ba Ngôi là gì, không thờ ảnh
tượng, không tin và không thờ bà Maria đồng trinh. Thậm chí họ cũng
không thờ Jesus mà chỉ coi ngài như một bậc thầy khôn ngoan mà thôi,
do đó không có thánh lễ Misa, không có phép Mình Thánh Chúa.. Cuối
thế kỷ 3, vị giám mục nổi tiếng nhất thời đó là Arius, người Hy Lạp,
đã sáng tác ra những bài thơ tóm tắt giáo lý của Ki-tô Giáo nguyên
thủy: "Thiên Chúa là đấng duy nhất không được sinh ra bởi ai, đấng
duy nhất vĩnh cửu, duy nhất thật, duy nhất khôn ngoan. Jesus là một
tạo vật giống như chúng ta". Năm 325, Arius cũng được Constantine
mời họp công đồng Nicaea cùng với các giám mục Ki-tô khác như
Athanasus và Marcellus. Các vị giám mục này giữ vững niềm tin Ki-tô
nguyên thủy nên không chịu ký tên công nhận kinh Tin Kính của
Constantine. Kết quả là Arius bị Constantine giết chết năm 336,
Athanasus và Marcellus bị bắt đưa đi đày. Hàng ngàn tín đồ Ki-tô bị
đế quốc sát hại. Mười bốn năm sau, Marcellus được thả ra. Ông viết
sách lên án Công Giáo là tà đạo "Tritheism" có nghĩa là đạo thờ ba
Thiên Chúa ám chỉ là một thứ Đa thần giáo (Paganism) với những tín
điều bịa đặt và hoàn toàn trái ngược với Ki-tô Giáo nguyên thủy là
một độc thần giáo chân chính (The Real Monotheism). Năm 340, đế quốc
La Mã chính thức đưa tôn giáo do chúng thành lập lên thành đạo chính
thức của toàn đế quốc và đặt tên cho nó là Công Giáo (Cattolica).
Tất cả những gì là đặc trưng của Công Giáo ngày nay đều do đế quốc
La Mã bày đặt ra sau năm 325. Từ đó chẳng có hoàng đế La Mã nào muốn
tiêu diệt người Công Giáo vì Công Giáo và đế quốc La Mã là một.
Những nhận định của Linh Mục Huồn là hoàn toàn sai trái vì những
điều đó, trái ngược với lịch sử đã được các yếu tố khách quan xác
nhận.
Chúng ta không nên quên một điều rất thực tế
là trong các loại sách Công Giáo, không có sách nào quan trọng cho
bằng các sách Kinh- Nguyện. Đại đa số các gia đình giáo dân không có
sách Thánh kinh nhưng gia đình nào cũng có ít nhất một cuốn sách
Kinh Nguyện. Đại đa số giáo dân không đọc Thánh Kinh (Bible) nhưng
đã là giáo dân thì nếu không thuộc nhiều cũng phải thuộc một số Kinh
Nguyện cần thiết. Các bài kinh nguyện là chủ chốt hình thành tư
tưởng của tập thể tín đồ chứ không phải là Thánh kinh hay một thứ
sách nào khác.
Từ đầu thập niên 1990 đến nay, khắp thế giới
bùng lên phong trào giải trừ Ki-tô Giáo với hàng trăm cuốn sách và
hàng ngàn bài báo giá trị, tấn công mọi mặt khiến cho tôn giáo này
đã bị lung lay tận nền tảng của nó. Điều đáng chú ý là hầu hết các
tác giả của các sách báo này đều là những người Ki-tô Giáo tỉnh ngộ
(recovering christians) trong thế giới Tây phương, trong số đó đặc
biệt có nhiều tác giả nguyên là những tu sĩ cao cấp (đáng chú ý là
những tu sĩ thuộc Dòng Tên) hoặc là những giáo sư chuyên khoa
tôn-giáo-học tại các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Cũng
trong thời gian đó, tại hải ngoại chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều
sách báo Việt ngữ có nội dung lên án đạo Công Giáo và đặc biệt tố
giác tính cách phản dân tộc của Công Giáo Việt Nam. Nhưng hầu hết
các sách báo Việt ngữ này đều là sản phẩm của quý vị Việt kiều trí
thức ngoài Công Giáo, khác với những sách chống Công Giáo ác liệt
nhất ở các nước Âu Mỹ hầu như đều là sản phẩm tinh thần của những
người Công Giáo tỉnh ngộ.
Trước 1975, tại miền Nam Việt Nam, hầu như
không một ai dám viết sách báo bằng Việt ngữ để công khai và trực
diện đã kích Công Giáo. Điều đó dễ hiểu vì miền Nam Việt Nam dưới
hai thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa, áp lực chính trị của Công Giáo
quá mạnh. Bọn mật vụ Cần lao, bọn chính trị hoạt đầu Công Giáo cũng
như bọn cha cố Mafia không từ bỏ một thủ đoạn ác độc đê tiện nào mà
không dám làm để triệt hạ những người dám lên tiếng chống bọn chúng.
Tập san "Tiếng Loa Cảnh Báo" của nhóm Công Giáo cực đoan do cựu nghị
sĩ Trương Tiến Đạt chủ biên, xuất bản tại San Jose tháng 11.1998 đã
viết: "Cộng Sản chiếm chính quyền và quyết tâm diệt đạo nhưng chỉ
phá được cảnh yên vui sống đạo, phá nhà thờ, nhà trường, các hội
đoàn và cản trở các hoạt động tôn giáo nhưng đã không phá được đức
tin và lòng mộ đạo. Hơn nữa, số người mới theo đạo Công Giáo lại còn
nhiều hơn thời trước. Rõ ràng Cộng Sản Việt nam chỉ biết phá đạo
cách vụng về và đã thất bại (trang 39). Lối phá đạo của Cộng Sản
không nguy hiểm vì đó là sự tấn công từ bên ngoài và dùng sự cưỡng
bách là chính (tr. 40). Công Giáo sợ nhất là sự phá đạo từ trong phá
ra!
Thứ đến, Công Giáo rất sợ sự giáo dục và tự do
tư tưởng vì đó là những thứ vũ khí hữu hiệu nhất để tiêu diệt mê tín
chẳng khác nào dùng ánh sáng để tiêu diệt bóng tối. Căn bản của lòng
cuồng tín tôn giáo là sự ngu dốt. Giáo dục và tự do tư tưởng soi rọi
ánh sáng vào những vùng tối tâm linh thì sự mê muội tôn giáo phải
đội nón ra đi. Chính nhờ kết quả của giáo dục và tự do tư tưởng tại
các nước dân chủ tự do Âu Mỹ mà Công Giáo La Mã đang lâm nguy dẫy
chết. Dùng cưỡng bách và đàn áp để diệt đạo là hạ sách vì Công Giáo
chẳng khác nào cỏ dại, nếu ta càng dập nó mạnh bao nhiêu thì bông cỏ
dại càng văng xa tung tóe và lan rộng thêm bấy nhiêu!. Do những nhận
định trên, tôi không tin tưởng vào khả năng diệt đạo của chính quyền
Việt Nam ở quê nhà mà đặt nhiều hy vọng vào khả năng giáo dục và bài
trừ mê tín nơi quý vị trí thức ngoại giáo tại hải ngoại. Những cố
gắng của qúy vị trong những năm qua chắc chắc đã soi sáng tâm linh
cho một số giáo dân cuồng tín tại hải ngoại cũng như ở trong nước.
Đây là một công tác giáo dục hết sức chính đáng và cần thiết để cứu
nguy dân tộc và góp phần bảo tồn truyền thống văn hóa nước nhà.
Tuy nhiên, những cố gắng của quý vị đã bị hạn
chế rất nhiều bởi những nguyên nhân sẽ được trình bày sau đây mà
theo thiển ý của tôi, quý vị có thể đã không biết hoặc không để ý
tới vì lý do quý vị không phải là những người trong cuộc.
Nguyên nhân 1. Trước hết, mỗi khi phát hiện có
sách báo chống đạo, các cha cố thường giảng tại nhà thờ lưu ý giáo
dân về những sách báo đó và công khai ngăn cấm giáo dân đọc. Phần
đông giáo dân ngây thơ răm rắp tuân lệnh các cha cố nên họ đã không
đọc và không hề biết nội dung của những sách báo chống đạo nói gì.
Bằng phương cách đơn giản này, các cha cố đã dễ dàng vô hiệu hóa tác
dụng giáo dục của quý vị. Do vậy, cái não trạng của đa số giáo dân
vẫn như xưa và chẳng có gì thay đổi. Nói lên điều này, tôi muốn lưu
ý quý vị một sư thật: muốn cho công cuộc giáo dục bài trừ mê tín đạt
kết quả tốt, việc trước hết là phải bằng mọi cách loại trừ toàn bộ
hệ thống tu sĩ Công Giáo vì họ là một bức tường kiên cố ngăn cản ánh
sáng giáo dục khiến nó không thể soi tới vùng bóng tối tâm linh của
tập thể giáo dân. Nói cách khác, chừng nào còn hệ thống tu sĩ Công
Giáo thì chừng đó công cuộc giáo dục bài trừ mê tín sẽ không thành
công.
Nguyên nhân 2. Khi viết sách báo chống Công
Giáo, quí vị thường quá chú trọng đến những điều sai trái trong
Thánh Kinh như thuyết Tạo Dựng (Creation) hay thuyết Cứu Rỗi
(Salvation) và quý vị chủ quan tin rằng quý vị đã nắm chắc phần
thắng trong việc tấn công những điều sai trái này, quý vị tưởng rằng
cứ tấn công vào những điều căn bản đó thì đạo Công Giáo sẽ sụp đổ.
Nhưng thưa quí vị, đây thật sự là một ảo tưởng! Bởi lẽ, dưới sự lãnh
đạo vô cùng xảo quyệt của Vatican, các cha cố đã có sẵn trong tay vô
số những lập luận lươn lẹo để giải thích cho giáo dân. Hầu hết giáo
dân có trình độ hiểu biết thấp kém nên khi nghe cha cố giải thích
đều thấy xuôi tai, không thắc mắc gì thêm và vẫn tiếp tục sùng đạo
như xưa. Muốn biết nghệ thuật giải thích lươn lẹo rất tài tình của
bộ tham mưu thần học Vatican ra sao, xin quý vị hãy tìm đọc cuốn
"Giáo Lý Mới Thời Đại Mới", 517 trang, do Đất Mẹ phát hành tại
Houston – Texas 1996. Thí dụ: Thánh Kinh dạy rằng Thiên Chúa tạo
dựng vũ trụ trong 7 ngày. Sách Giáo Lý Mới giải thích nên hiểu chữ
"ngày" ở đây là "thời đại" và mỗi thời đại có thể kéo dài qua nhiều
triệu năm! [Nhưng không có ai luận rằng nếu ngày có nghĩa là thời
đại thì làm sao cây cỏ, thảo mộc sống được vì theo Thánh Kinh, Chúa
sinh cây cỏ trước mặt trời.]
Về trường hợp thánh tổ Abraham lấy em gái làm
vợ và toan giết con để tế thần, sách Giáo Lý Mới giải thích: "Chúng
ta không được mời gọi để bắt chước những việc Abraham làm, nhưng cốt
để chú ý đến thái độ trung thành của ông đối với Thiên Chúa (tr.54).
Nguyên nhân 3. Có một điều quý vị trí thức
ngoại giáo không thể ngờ tới: đó là sự uyển chuyển linh động và co
dãn như cao su của đức tin Công Giáo (the resilience of the Catholic
faith). Đây là một khám phá của giới học giả Tây phương trong thời
gian gần đây. Vào đầu thập niên 1970, tiến sĩ sử học Tim Dooley đã
qui tụ 70 giáo sư chuyên khoa về các môn sử học, khảo cổ học, tôn
giáo học, triết học và thần học thuộc các trường đại học danh tiếng
Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản vác các nước Âu Châu. Họ đã cùng nhau làm
việc trong 7 năm để hoàn thành một công trình nghiên cứu về Ki-tô
Giáo. Họ đã đúc kết công trình nghiên cứu của họ trong hai tác phẩm
đồ sộ mang tên "Eerdmans Handbook of the Bible" và "Eerdmans
Handbook of Christianity", mỗi bộ sách này dày trên 700 trang giấy
khổ lớn, do Eerdmans Publishing Co. xuất bản lần đầu tại Anh và Mỹ
năm 1977, tái bản năm 1987, mỗi lần in mỗi đầu sách 750.000 cuốn.
Trong khi cùng làm việc với nhau, họ cố gắng
tìm hiểu nguyên nhân tại sao Ki-tô Giáo (đặc biệt là Công Giáo La
Mã) vẫn có khả năng vượt thoát mọi đình đốn và vẫn tồn tại sau biết
bao đợt tấn công dữ dội của các giới trí thức Âu Châu như phong trào
Enlightenment trong thế kỷ 18 và của các giới khoa học trong thế kỷ
19-20. Phần đông chúng ta đều nghĩ rằng Đức Tin là những điều căn
bản cố định và không một ai có tư cách để sửa đổi. Trong thực tế
không phải vậy! Ki-tô Giáo nói chung và Công Giáo La Mã nói riêng có
khả năng đáng kinh ngạc trong việc tự điều chỉnh và canh tân đức tin
của mình, đó là một khả năng đặc biệt đã giúp Ki-tô Giáo vượt thắng
mọi đợt tấn công để tiếp tục tồn tại và phát triển như ngày nay.
Một thí dụ điển hình cho việc tự điều chỉnh
đức tin là vụ Vatican sửa đổi Kinh Tin Kính. Chúng ta đã biết Kinh
Tin Kính đã được hình thành trong Công đồng Nicaea năm 325 để trở
thành một bản tóm lược tín điều căn bản của đạo Công Giáo trong 16
thế kỷ qua. Vậy mà Vatican đã dám sửa đổi một số điều quan trọng để
bài kinh này có thể phù hợp với thời đại ngày nay:
- Kinh Tin Kính cũ có câu: "(Chúa Jesus) chết
và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà
sống lại..."
- Kinh Tin Kính mới sửa lại: "(Chúa Jesus)
chịu khổ hình và mai táng đời Phong-xi-ô Phila-tô, ngày thứ ba sống
lại như lời Thánh Kinh" (Giáo Lý Mới Thời Đại Mới, tr.160). Như vậy
ta thấy qua bài kinh Tin Kính mới, Vatican không xác nhận Jesus đã
chết trên thập giá mà chỉ nói trống là Jesus chịu khổ hình mà thôi.
Chúng ta được biết qua vụ khám nghiệm thánh tích Tấm Vải Liệm Turin
vào tháng 10 năm 1978, giới khoa học quốc tế đã xác nhận tấm vải
liệm Turin là thật và các dấu vết trên tấm vải liệm này chứng tỏ
Jesus đã thoát chết sau khổ hình đóng đinh trên núi Sọ. Sau cơn hôn
mê, Jesus đã tỉnh dậy chứ không phải từ kẻ chết sống lại. Xin đọc
bài Tấm Vải Liệm Xác Chúa của Charlie Nguyễn trong cuốn "Kitô Giáo
Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại" tr. 267-281, hoặc trong cuốn Petrus
Trương Vĩnh Ký Tuyển Tập tr. 157-165). Do đó, Vatican đã sửa lại
kinh Tin Kính bằng cách không xác nhận Jesus đã từ kẻ chết sống lại
và chỉ nói trống là Jesus đã sống lại... "như lời Thánh Kinh".
Vatican cũng loại bỏ việc Chúa xuống ngục tổ
tông (tức Luyện Ngục – The Purgatory) vì ngục tổ tông là một vấn đề
gây tranh cãi sôi nổi tại các nước Tây phương đã dồn Vatican vào thế
bí. Cuối cùng, Vatican đã bỏ luôn câu này khỏi kinh Tin Kính.
d. Muốn giáo dục tập thể giáo dân có hiệu quả,
quý vị cần xử dụng văn phong rõ ràng mạch lạc (để soi sáng vấn đề và
phải dùng những từ ngữ thông dụng để họ có thể hiểu được. Thí dụ:
Khi nói đến Holy Spirit hay Jean Baptist, xin quý vị cần xử dụng
những danh từ mà người Công Giáo quen dùng là Đức Chúa Thánh Thần và
Thánh Gio-an-Bao-ti-xi-ta thì họ sẽ hiểu ngay. Nếu quý vị gọi Holy
Spririt là Con Ma Thánh và gọi Jean Baptist là Giăng Rửa Tội thì mọi
người Công Giáo sẽ không hiểu quý vị nói cái gì. Khi quý vị viết
sách mà người đọc không hiểu được thì mọi cố gắng giáo dục của quý
vị sẽ thành vô hiệu.
B. Về một số từ ngữ tôn giáo.
Tôi đề nghị quí vị tác giả ngoại giáo không
nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia-tô vì danh từ này không chính xác.
Chúng ta đã biết trong các Kinh Nguyện được viết bằng Hán tự, Chúa
Jesus được gọi là "Thần Chúa Gia-tô". Chẳng hạn như trong Kinh Phục
Dĩ có câu: Thần Chúa Gia-tô thục tội thi ân chi đại, có nghĩa là
Chúa Jesus chuộc tội và ban ơn rất lớn. Như vậy, "Gia-tô" là tiếng
Hán tự phiên âm tên Chúa Jesus chứ không phải là tiếng phiên âm chữ
Catholic. Trong tác phẩm Phá Ngục Tù, nơi trang 283, tác giả Trần
Văn Kha đã lầm lẫn viết rằng: "Gia-tô là tiếng phiên âm từ chữ
Catholic". Thật ra, đạo Công Giáo đã được truyền vào Việt nam từ năm
1533, đến nay đã gần 5 thế kỷ. Chữ quốc ngữ mới được phổ biến tại
Việt Nam trong đầu thế kỷ 20. Từ đầu thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 20,
các sách kinh cũng như các tài liệu truyền giáo đều được viết bằng
chữ Hán hoặc chữ Nôm. Sở dĩ người Việt thời xưa quen gọi Đạo Công
Giáo là đạo Gia-tô vì các cụ đồ nho thấy đạo này thờ Chúa Giê-su mà
chữ Hán gọi là Gia-tô, nên gọi đạo này là đạo Gia-tô. Về điểm này,
ông Trần Quý đã viết rất đúng: "Người Việt ta thường gọi đạo Giê-su
là đạo Gia-tô; nguyên nhân vì người Trung Hoa phiên dịch chữ Giê-su
sang chữ Hán, người Việt đọc chữ hán theo âm ngữ Nho thành Gia-tô"
(Phần mở đầu tác phẩm Lòng Tin Âu Mỹ Đấy – Đồng Thanh xuất bản,
1996).
Tuy nhiên, chúng ta không thể gọi đạo Công
Giáo là đạo Gia-tô được vì trên thế giới không có đạo nào được gọi
là đạo Giê-su hay đạo Gia-tô cả. Người ta gọi các đạo thờ Chúa
Giê-su (Chúa Gia-tô) là CHRISTIANITY tức Cơ-đốc-giáo theo phiên âm
Hán tự, hoặc Ki-tô Giáo theo phiên âm Việt Nam. Các tín đồ thờ Chúa
Giê-su đều tin rằng ngài chính là Đấng Cứu Thế (Christ). Christ là
tiếng Anh và Pháp phiên âm tiếng Hy Lạp CHRISTOS. Người Hán phiên âm
Christos là Cơ-Đốc. Trước Công Đồng Vatican II, các sách Kinh Nguyện
Công Giáo Việt Nam phiên âm Christos là Ki-ri-xi-tô, sau 1965, danh
từ Ki-ri-xi-tô được rút ngắn lại thành Ki-tô. Nếu ta dùng danh từ
Gia-tô để gọi đạo Công Giáo thì chẳng hóa ra Công Giáo là đạo duy
nhất thờ Chúa Giê-su hay sao?. Ngoài Công Giáo ra còn có nhiều đạo
khác cũng thờ Chúa Giê-su như Chính Thống Giáo, Anh Giáo và trên hai
trăm giáo phái Tin Lành.. Tất cả các tín đồ của các tôn giáo này đều
được gọi chung là các Ki-tô-hữu (Chritians) vì mặc dù họ thuô những
giáo hội khác nhau nhưng họ có chung một niềm tin Chúa Giê-su là
đấng Christ (Kitô). Công Giáo La Mã chỉ là một trong những giáo phái
của Ki-tô Giáo và không phải là đạo duy nhất tôn thờ Chúa Jesus
(thần Chúa Gia-tô) nên không thể gọi đạo này là đạo Gia-tô được.
Thiết tưởng chúng ta cần phân biệt rõ rệt giữa
nhân vật Giê-su và huyền thoại Ki-tô. Giê-su (Gia-tô) là một nhân
vật có thật trong lịch sử, tên thật theo ngôn ngữ Hebrew do cha nuôi
Joseph đặt cho lúc mới sinh là Yeshua, tiếng Hy Lạp phiên âm thành
Iesous, tiếng La Tinh cũng như tiếng Anh và Pháp đều phiên âm là
Jesus. Theo các cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và lịch sử trong những
thế kỷ gần đây thì Jesus sinh khoảng năm thứ 4 trước Công Nguyên. Bị
đế quốc La Mã đóng đinh trên thập giá năm 29, lúc đó Jesus 33 tuổi.
Theo kết quả giảo nghiệm tấm vải liệm xác Jesus của phái đoàn khoa
học quốc tế tại Turin nước Ý vào tháng 10 năm 1978, căn cứ vào những
vết máu, mồ hôi và chất nhờn da thịt (skin oil) của Jesus hiện còn
dính trên tấm vải liệm, các nhà khoa học đã ước đoán Jesus cao 1 mét
82 và cân nặng 79 kí.
Tôi đã trình bày hơi dài dòng về vấn đề này
không ngoài mục đích để xác nhận Jesus là một nhân vật có thật trong
lịch sử. Trái lại, Ki-tô là một huyền thoại chứ không phải là một
nhân vật có thật. Huyền thoại Ki-tô đã phát sinh từ Babylon vào
khoảng 4000 năm trước Công Nguyên và huyền thoại này đã xâm nhập vào
Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái vào khoảng thế kỷ 10 trước Công Nguyên.
Cho tới nay, những người theo đạo Do Thái vẫn tin rằng Chúa Ki-tô
chưa ra đời. Họ phủ nhận Jesus là Ki-tô. Đối với họ, Jesus đã chết
không phải với tư cách của một Đấng Cứu Thế (Ki-tô/Cơ đốc/Messiah)
nhưng với tư cách là một công dân Do Thái chống đế quốc La Mã. Bọn
đế quốc đã thần thánh hóa Jesus bằng huyền thoại Ki-tô. Nói cách
khác, Jesus đã được chúng Ki-tô hóa để trở thành Thiên Chúa (JESUS
WAS CHRISTED) nhằm mục đích biến Jesus thành cái Boomerang quay
ngược trở lại tàn sát dân tộc Do Thái để trả thù.
Tôi cũng đề nghị quý vị không nên gọi Công
Giáo là Thiên Chúa Giáo vì trên thế giới, người ta gọi các dạo thờ
chung Một Thiên Chúa (one-God religions) là Monotheism tức Nhất Thần
Giáo hoặc Độc Thần Giáo chứ không có đạo nào được gọi là Thiên Chúa
Giáo cả. Monotheism gồm có ba tôn giáo là Do Thái Giáo, Ki-tô Giáo
và Hồi Giáo. Công Giáo chỉ là một giáo phái của Ki-tô Giáo và Ki-tô
Giáo chỉ là một trong ba tôn giáo thuộc hệ thống Nhất thần giáo mà
thôi. Chúng ta đã biết rằng các đạo thờ Chúa là sản phẩm của Tây
phương, bao gồm các nước Âu Mỹ và các nước Do Thái Ả Rập, do đó
chúng ta nên hiểu tôn giáo này theo định nghĩa của họ. Đối với người
Tây phương, nếu nói tới Monotheism là người ta nghĩ ngay đến những
tôn giáo bắt nguồn từ Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái gồm có đạo Do Thái
(Judaism) đạo Ki-tô (Christianity) và đạo Hồi (Islam). Tất cả mọi
người ngoài ba tôn giáo này đều được gọi là người ngoại giáo
(heathen: One who adheres to a religion that does not acknowledge
the God of Judaism, Christianity or Islam).
Chúng ta cũng không nên gọi Công Giáo La Mã là
Ca-tô Rôma. Theo tôi hiểu, quý vị muốn tránh dùng danh từ Công Giáo
vì quý vị cho rằng danh từ này ám chỉ Công Giáo là quốc giáo (state
religion/official religion of state/public religion). Thật ra,nếu
chúng ta hiểu chữ Catholic là state religion hay public religion là
chúng ta đã đánh giá quá thấp ý đồ thâm độc của đế quốc La Mã. Trong
ba thế kỷ đầu Công Nguyên, không có đạo Công Giáo mà chỉ có đạo
Ki-tô với rất nhiều giáo phái khác nhau. Năm 325, đế quốc La Mã
thống nhất các giáo phái Ki-tô bằng võ lực. Năm 340, đế quốc La Mã
đổi tên Ki-tô Giáo thành Công Giáo, tiếng La Tinh "Catholica" có
nghĩa là toàn cầu (universal). Kẻ chủ mưu là hoàng đế Constantine
không tin đạo Công Giáo nhưng đã cố tình biến đạo này thành một công
cụ chính trị giúp y thực hiện mộng bá chủ toàn cầu dưới chiêu bài
tôn giáo. Y nêu ra khẩu hiệu "In Hoc Signo Vinces" có nghĩa là "Với
dấu hiệu Thánh giá, ta sẽ chiến thắng thế giới". Tự điển Bách Khoa
Công Giáo đã viết rõ về điều này như sau: "Constantine favored
Christianity merely from political motives and he has been regarded
as an enlightened despot who made use of religion only to advance
his policy – The Catholic Encyclopedia Volume 4, p.300). Thực chất
Công Giáo La Mã là mộ đạo do đế quốc La Mã lập nên trên nấm mồ của
Ki-tô Giáo nguyên thủy và đi ngược lại giáo lý của đạo Ki-tô lúc ban
đầu chỉ thờ Một Thiên Chúa chứ không thờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì đạo
Ki-tô đã được Đế quốc La Mã biến đổi thành Công Giáo và Công Giáo đã
thống trị tâm linh Âu Mỹ nhiều thế kỷ nên ngưởi ta quen gọi Công
Giáo là Ki-tô Giáo. Cũng do đó, người ta đã gọi Thiên Chúa Ba Ngôi
là Thiên Chúa của Ki-tô Giáo (Xin đọc chương 4, tác phẩm bestseller
A HISTORY OF GOD của cựu nữ tu sĩ Công Giáo Anh quốc Karen
Armstrong, tác giả trình bày vấn đề này hết sức rõ ràng dưới tiểu đề
"Trinity: The Christian God" , tr. 107-131). Một số vị trí thức
ngoài Công Giáo đã lầm lẫn dịch chữ "Christian God: là "Thần
Gia-tô". Thật ra, Christian God có nghĩa là "Thiên Chúa theo quan
niệm của Ki-tô Giáo", tức quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong các
Kinh Nguyện bằng chữ Hán thì danh từ "Thần Chúa Gia-tô" có nghĩa là
"Đức Chúa Giê-su". Như vậy Gia-tô là tiếng phiên âm chữ Hán để gọi
tên Giê-su. Còn chữ Christianity là Ki-tô Giáo theo phiên âm Việt
Nam, người Hán phiên âm là Cơ đốc giáo (bắt nguồn từ chỗ phiên âm
tiếng Hy Lạp Christos là Cơ đốc). Tiến sĩ Lý Khôi Việt dịch chữ
"Christian God" là "Thần Gia tô" theo tôi nghĩ là không đúng nghĩa
(sách "Phật Giáo & Quốc Đại Việt Nam" của tác giả Lý Khôi Việt, Viện
Tư Tưởng Việt-Phật xuất bản năm 2000, trang 378). Giáo sư Trần Chung
Ngọc lầm lẫn Christian God với Thiên Chúa Jehovah (còn gọi là Elohim
tức con bò thần El) của đạo Do Thái. Ông viết: "Theo Thánh Kinh Thần
Ki tô đã dạy dân mà Ngài chọn".
Nếu chúng ta thấu hiểu âm mưu vô cùng thâm độc
của đế quốc La Mã khi chúng lập ra đạo Công Giáo (có nghĩa là tôn
giáo toàn cầu) vào năm 325, thì chúng ta sẽ cố gắng làm cho đồng bào
của chúng ta hiểu rõ ý nghĩa xâm lược toàn cầu của chúng qua chiêu
bài tôn giáo bịp bợm hơn là phiên âm thành "Ca-tô-Rô-ma" vì tiếng
phiên âm này đã làm mất đi chữ CÔNG với ý nghĩa nguyên thủy là tham
vọng toàn cầu (universal) của bọn đế quốc. Ngoài ra, cũng xin nói
thêm là sở dĩ người ta dùng danh từ Công Giáo La Mã (Roman Catholic)
cốt để phân biệt với nhiều giáo phái Công Giáo khác như Công Giáo Ai
Cập (Coptic), Công Giáo Hy Lạp (Greek Catholic), Công Giáo Anh tức
Anh Giáo (Anglicanism). Tôi sẽ cố gắng trở lại vấn đề nêu trên với
đầy đủ chi tiết trong một bài viết riêng.
PHỤ LỤC
Câu Chuyện Ly Kỳ về Một Thánh
Tích 2000 Năm Lịch Sử:
TẤM VẢI LIỆM XÁC CHÚA
Hai thuyết quan trọng bậc nhất làm rường cột
cho Kitô Giáo là thuyết Tạo Dựng và Cứu Rỗi.
Theo thuyết Tạo Dựng, Thượng đế sinh ra vũ trụ
và con người khoảng 6-10 ngàn năm trước đây. Thuyết này đã bị khoa
học bác bỏ qua thuyết "Big Bang", và các khám phá của môn khảo cổ
học cho biết con người có mặt trên quả địa cầu từ khoảng trên 150
ngàn năm, mà độc giả sẽ thấy trong bài của Nguyễn Hồng Ngọc.
Về thuyết Cứu Rỗi nói rằng Chúa Jesus (Giê-su)
được Chúa Cha phái xuống trần gian chịu chết trên cây thập tự để
chuộc tội cho nhân loại, sau đó Ngài sống trở lại và bay về trời với
Chúa Cha. Nhưng qua tấm vải liệm mà các nhà khoa học quốc tế giảo
nghiệm ngày 8-10-1978 cho thấy: "Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây
thập tự nhưng không chết, chứ không phải đã chết và sống trở lại rồi
bay về trời qua bài sưu tầm dưới đây của Charlie Nguyễn: (Lời giới
thiệu trong cuốn "Kitô Giáo Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại").
Cuối tháng 5.96 vừa qua, đài phát thanh VOVN
Houston có loan một tin ngắn: Tấm vải liệm xác Chúa Jesus là một
thánh tích rất nổi tiếng qua nhiều thế kỷ đã bị Tòa Thánh La Mã xác
nhận là một vật giả mạo. Thực ra đây không phải là một tin mới mẻ vì
cách đây 8 năm, vào tháng 10.1988, Tòa Thánh đã tổ chức một cuộc họp
báo tại London chính thức công bố thánh tích tấm vải liệm xác Chúa
đã bị "ngụy tạo" trong khoảng thời gian từ 1250 đến 1390.
Sự công bố trên của Tòa Thánh La Mã đã gây
ngạc nhiên cho nhiều giới khoa học, học giả và ký giả từng quan tâm
đến thánh tích này vì sự công bố của La Mã hoàn toàn trái ngược với
kết quả cuộc giảo nghiệm của Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế được tổ chức
tại Turin (Ý) vào tháng 10.1978. Kết quả cuộc nghiên cứu năm 1978 đã
xác nhận tấm vải liệm xác Chúa Jesus là thật.
Do đó, nhiều học giả và ký giả đã tự động mở
cuộc điều tra để tìm hiểu ngọn nguồn sự việc, trong số đó có hai học
giả Đức là Holger Kersten và Elma R. Gruber. Sau nhiều năm nghiên
cứu lịch sử và tiếp xúc với các nhà khoa học đã từng tham dự các
cuộc giảo nghiệm năm 78 và 88 nói trên, họ đã tường trình kết quả
của cuộc điều tra riêng của họ trong một cuốn sách được viết bằng
tiếng Đức. Cuốn sách này do chính các tác giả chuyển ngữ sang tiếng
Anh với tựa đề The Jesus Conspiracy, 337 trang, Element Co, xuất bản
tại Hoa Kỳ năm 1994.
Để độc giả Việt Ngữ hiểu rõ hơn về thánh tích
rất nổi tiếng tại các nước Âu Mỹ trong nhiều thế kỷ qua, chúng tôi
xin tóm lược phần nói về TẤM VẢI LIỆM trong cuốn sách nói trên một
cách ngắn gọn.
I. XUẤT XỨ TẤM VẢI LIỆM
Dưới đề mục Bí Mật Núi Sọ (The Secrets of
Golgotha) Elma R. Gruber đã kể chuyện xuất xứ của tấm vải liệm như
sau: Năm 29 sau Công Nguyên, Jesus 33 tuổi, người xứ thuộc địa
Galilee đã bị quan Toàn Quyền La Mã Pilatus tuyên án tử hình về một
tội chính trị: "Âm mưu gây bạo loạn chống chính quyền". Một toán
lính La Mã đã dẫn Jesus lên núi Sọ Golgotha ở Jerusalem xử tử bằng
cách đóng đinh vào thập giá. Lúc đó là buổi chiều thứ sáu. Ngày hôm
sau là ngày Lễ Vượt Qua (Passover) nhằm ngày thứ bảy (Sabbath). Theo
tục lệ Do Thái thì mọi tử tội đều phải được chôn cất trước ngày
Sabbath vì Thánh Kinh đã dạy: "Mặt trời không chiếu trên xác tử tội
vào ngày Sabbath". Hai người bạn thân của Jesus là Joseph Arimathea
và Nicodemus là những người rất giàu có và quyền thế. Cả hai đều là
thành viên của hội đồng tối cao Do Thái (Sanhedrin) là một chính
quyền bản xứ do La Mã lập ra để trông coi mọi việc về tôn giáo và
luật lệ Do Thái, hai người này cũng đều quen biết Pilatus (Pilate).
Joseph và Nicodemus biết trước từ lâu việc chính quyền La Mã đã
quyết định xử tử Jesus. Tuy họ không thể cứu Jesus thoát khỏi án tử
hình nhưng họ đã cố gắng tìm mọi cách can thiệp với Pilatus
(Pi-la-tớt) cho phép họ tháo xác Jesus xuống càng sớm càng tốt để
kịp thời cứu sống. Joseph đã mua sẵn một khu vườn nằm sát bên núi
Sọ, xây sẵn một ngôi mộ lớn có nhiều phòng, chung quanh có cây cối
che khuất. Nicodemus (Ni-cô-đe-mớt) mua một số lượng thuốc men rất
lớn mà theo kinh Phúc Âm của John (19:30) kể rằng: Nicodemus đến với
Chúa vào ban đêm mang theo dầu myrrh và aloe (lô hội) nặng 100
stones" (tương đương 100 pounds). Đó là chất thuốc có tác dụng gây
mê, tẩy uế và chữa trị vết thương. Trong lúc còn bị treo trên thập
giá, Jesus kêu khát nước. Một sĩ quan La Mã đã dùng một miếng bọt
biển (sponge) thấm dấm rồi lấy cây giáo đưa miếng bọt biển đó lên
miệng cho Jesus uống. Viên sĩ quan đó là thuộc hạ của Pilatus, cấp
bậc như Đại Úy, chỉ huy toán hành hình Jesus nhưng lại là một tín đồ
bí mật của Ngài. Phúc Âm của Mark [Thánh Kinh Tân Ước có tên là
Mác.] ghi rõ (15 39-27:54): "Viên sĩ quan này là người đã từng ngợi
khen Chúa là con của Đức Chúa Trời." Sau khi uống dấm xong, Chúa
nói: "Công việc đã hoàn tất", rồi Ngài cúi xuống trút linh hồn (bất
tỉnh).
Tại sao Jesus chết giả ngay sau khi uống dấm?
Và có phải là dấm thật không? Có thể đó là rượu nho pha myrrh và
aloe là hai chất Nicodemus mang lên núi Sọ rất nhiều. Sau này các
nhà khoa học đã phân chất khám phá ra trong aloe (lô hội) có chất
phenol là chất có tác dụng gây ra tình trạng hôn mê (coma). Dầu
myrrh lấy từ cây Commiphora được ông tổ y khoa Hippocrate ca ngợi là
một thần dược tẩy uế, ngăn ngừa bệnh dịch và chữa trị vết thương.
Cũng không loại trừ giả thuyết cho rằng trong nước "dấm" đó có pha
thêm thuốc phiện vì vào thời Jesus ở Palestine, việc xử dụng thuốc
phiện rất phổ biến. Do đó, uống "dấm" xong, Jesus ngất xỉu. Chỉ sau
đó vài giờ, vì đã được phép của Pilatus, Jesus được Joseph và
Nicodemus tháo xuống khỏi thập giá và đưa ngay vào nhà mộ kín đáo
trong vườn riêng của Joseph. Tại nhà mộ này, Joseph và Nicodemus đã
trải sẵn một tấm vải trắng trên ghế dài bằng đá. Vì tấm vải rất dài
(4m36, rộng 1m10) nên chỉ cần một nửa tấm vải cũng đủ phủ lên mặt
ghế đá. Nicodemus rắc các thứ dầu và thuốc đó trước khi đặt thân xác
Jesus nằm lên trên. Do toàn thân của Jesus lúc đó đẫm máu nên tấm
vải trắng in rõ các vết roi rướm máu ở lưng, mông, đùi và chân. Cũng
nhờ các vết máu này, người ta đã đo được chiều cao của Jesus là 1m82
và ước lượng thân xác Ngài nặng khoảng 79Kg. Với tuổi 33, Ngài là
một thanh niên khá cao lớn lực lưỡng!
Phân nửa tấm vải còn lại được trùm qua đầu,
qua mặt, ngực, bụng xuống tới hai bàn chân. Lúc đó hai tay của Jesus
được đặt vắt chéo nhau trên bụng. Phân nửa tấm vải này in rõ các vết
tròn nhỏ do gai nhọn đâm vào trán. Một số lỗ gai đâm từ lâu trước đó
nên máu đã khô đen. Bấy giờ, người ta tháo đinh gai ra khỏi đầu
Jesus nên máu tươi bật chảy ra làm ướt cả mặt. Jesus được thoa hỗn
hợp dầu myrrh và aloe khắp thân thể. Những chất dầu này hòa lẫn với
máu đã in khuôn mặt của ngài lên tấm vải phủ phía trên thân xác, hai
cánh tay vắt chéo với lỗ đinh trên hai bàn tay, hai ống chân với hai
lỗ đinh trên hai bàn chân. Buổi tối hôm đó là đêm thứ Sáu rạng ngày
thứ Bảy cũng là ngày lễ Vượt Qua. Đó là ngày đại lễ của Do Thái kỷ
niệm ngày thánh Moses (Môi-se), tương truyền Môi-se hóa phép cho
nước Hồng Hải rẽ ra và thánh đã dẫn toàn dân Do Thái thoát ách nô lệ
Ai Cập để đến miền đất hứa Palestine (Pa-lét-tin). Vào thời kỳ đó,
người Do Thái dùng Âm lịch và ngày lễ Vượt Qua trùng vào dịp trăng
tròn rất sáng ban đêm. Mọi người dân Jerusalem (Rê-ru-sa-lem), thủ
phủ của nước Do Thái, đều lo sửa soạn ăn mừng ngày lễ lớn nhất của
họ, không có ai để ý đến người tử tội đã bị xử tử hồi chiều qua.
Người tử tội Jesus lúc này đã tỉnh dậy vì chất "dấm" gây mê đã hết
tác dụng. Đêm đó, dưới ánh trăng rằm, Joseph, Nicodemus và các
"thiên thần mặc áo trắng" đã đưa Jesus từ nhà mồ của Joseph đến một
nơi bí mật an toàn hơn để tiếp tục chữa trị các vết thương cho Ngài.
Về sau, do sự khám phá từ hơn trên một trăm cuốn sách cổ tại Qumran
gần Biển Chết (Dead Sea), người ta mới biết các "thiên thần mặc áo
trắng" đó là các tu sĩ kiêm y sĩ thuộc giáo phái Essene, một giáo
phái xuất phát từ đạo Do Thái nhưng đã được biến cải thành "Kitô
Giáo trước Jesus". Trước đó ba năm, một tu sĩ nổi tiếng của giáo
phái này là Gioan Baotixita đã làm phép rửa tội cho Jesus trên sông
Jordan (Róc-đan), chỉ cách Qumran có 5km. Các tu sĩ thuộc giáo phái
này luôn luôn mặc áo dài trắng, thường hay chữa bệnh miễn phí cho
dân nghèo trên khắp nước Do Thái thời ấy. Sau khi đưa Jesus đến một
nơi an toàn hơn, họ đã để lại ở ngôi mộ tấm vải liệm xác Chúa Jesus.
Sáng hôm Chủ Nhật (Do Thái gọi là ngày đầu tuần), một nữ tín đồ thân
thiết của Jesus là Mary Magdelene đến thăm mộ Chúa. Phúc Âm (Kinh
Thánh) của John (20: 1-18) kể chi tiết như sau: Magdelene đến thăm
mộ Chúa trong buổi sáng ngày đầu tuần. Lúc ấy trời hãy còn tối. Bà
thấy hòn đá chắn cửa hang đã dời đi nơi khác. Bà vô cùng hoảng hốt
bèn đi tìm Peter và John, than khóc với hai người rằng: "Không biết
ai đã mang xác Chúa ra khỏi mộ rồi!" (Peter là Thánh Phêrô, John là
Thánh Gioan tông đồ và cũng là một trong bốn vị thánh viết sách Phúc
Âm). Phúc Âm của John (20: 4-7) kể tiếp: "Peter và John cùng chạy
đến hang mộ Chúa nhưng John chạy nhanh hơn nên tới trước. John nhìn
vào hang thì thấy tấm vải liệm cuộn lại cùng chiếc khăn che mặt của
Chúa."
Xin lưu ý là tác giả Phúc Âm đã dùng động từ
thì hiện tại (present tense) để kể chuyện này, muốn chứng tỏ sự việc
trên do tác giả chứng kiến.
II. TỘT ĐỈNH VINH QUANG CỦA
THÁNH TÍCH SUỐT CHIỀU DÀI LỊCH SỬ BỊ KẾT THÚC BẰNG MỘT DIỄN BIẾN BẤT
NGỜ.
Trong phần lớn cuốn sách The Jesus Conspiracy,
học giả Holger Kersten đã tường thuật cuộc hành trình từ Đông sang
Tây của thánh tích và một biến cố bất ngờ năm 1978 đã đưa thánh tích
này từ tột đỉnh vinh quang xuống đáy vực của sự ô nhục.
Theo Phúc Âm của John thì Peter là người đầu
tiên nhặt tấm vải liệm xác của Jesus lên. Đối với người Do Thái,
không ai dám nhặt vải liệm xác người chết đem về nhà vì họ cho đó là
thứ dơ bẩn. Nhưng đối với các tín đồ tin Chúa và với các môn đệ thì
tấm vải liệm xác Chúa là một thánh tích vô cùng quý giá cần phải
được bảo tồn. Theo một tài liệu của Thánh Nino (chết năm 335) thì
tấm vải liệm xác Jesus có một thời gian lọt vào tay vợ của Pilatus.
Bà này rất có cảm tình với Jesus và chính bà đã khuyên chồng đừng
giết ông ta. Do đó, Pilatus đã rửa tay tuyên bố không liên can đến
vụ án và giao Jesus cho người Do Thái muốn làm gì thì làm. Sau đó
tấm vải này được các cộng đồng tín đồ Kitô Giáo ở Palestine kế tiếp
nhau lưu giữ và truyền lại từ đời này qua đời khác. Tới năm 670,
giám mục người Pháp Arcurf de Périgeux đến Palestine hành hương. Ông
đi theo một đám đông người đến một thánh đường tại đây để viếng tấm
vải liệm xác Chúa. Ông trở về Pháp thuật lại chuyện này và kể chính
ông ta đã hôn lên tấm vải liệm đó.
Năm 944, tấm vải liệm được đưa về lưu giữ tại
một nhà thờ ở Constantinople. Tháng 8.1203, nó được đưa về nhà thờ ở
Blachernal ở Hy Lạp. Nhà thờ này mở cửa vào các ngày thứ sáu hàng
tuần cho dân chúng đến chiêm bái và cầu nguyện.
Năm 1418, tấm vải liệm được đưa về pháo đài
Monfort (Pháp) thuộc quyền sở hữu của dòng họ Charny. Năm 1452,
Margaret Charny đem triển lãm thánh tích này tại lâu đài Germolles.
Cuối cùng, bà hoàng này quyết định đem tấm vải thánh tích tặng cho
Quận Công Savoy. Quận công vô cùng cảm kích đã tặng lại bà hoàng
Margaret tòa lâu đài Varambon ở Geneve và tất cả tiền lợi tức bất
động sản của quận công ở Lyon. Từ đó, tấm vải liệm thánh tích được
lưu giữ và tôn thờ tại một thánh đường riêng của dòng họ này tại
Chambery.
Năm 1506, Giáo Hoàng Julius II ra đạo luật
công nhận tấm vải liệm là một thánh tích của Chúa Jesus và Ngài
quyết định chọn ngày 4 tháng 5 hàng năm là ngày lễ chính thức của
giáo hội tôn kính thánh tích này. (The Feast Day of The Holy
Shrout). Từ đó, các vua chúa, các nhà quí tộc, các giám mục, tu sĩ
và các tín đồ giàu có từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt kéo đến
Chambery hành hương để được cầu nguyện "trước mặt Chúa" (tấm vải
liệm).
Ngày 17.9.1578, Quận Công Emmanuel Philibert
de Savoy dời thủ đô về Turin (thuộc nước Ý ngày nay). Thánh tích tấm
vải liệm của Chúa được đặt trong lồng kiếng khung vàng dựng ở phía
trên bàn thờ tại nhà thờ Turin. Từ đó người ta gọi thánh tích này là
"khăn liệm Turin" (The Turin Shrout).
Vào tháng 5.1931, nhân dịp đám cưới của Hoàng
Tử Umberto, sau này trở thành Vua nước Ý, tấm vải liệm được đưa ra
triển lãm trong 22 ngày để cho dân chúng khắp nơi đến chiêm bái.
Trong cuộc Thế Chiến Thứ Hai, thánh tích được di chuyển đến tu viện
Vergine ở Avellino để được cất giữ an toàn.
Tuy giáo phận Turin có nhiệm vụ bảo quản thánh
tích vải liệm của Chúa đã hơn 400 năm nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc
dòng họ Savoy (Xa-voi). [Ngày 2 tháng 3 năm 1983, Giáo Hoàng John
Paul II đích thân đến Lisbone (Bồ Đào Nha) gặp Cựu Hoàng Umberto
đang tĩnh dưỡng tại đây để xin ông này chuyển nhượng quyền sở hữu
tấm vải liệm. Cựu Hoàng lúc đó đã rất yếu, bằng lòng tặng cho Tòa
Thánh. Hai tuần sau, ông qua đời. Từ nay, Vatican hoàn toàn làm chủ
nên dễ "uyển chuyển" lúc bị thế giới đem ra mổ xẻ Tấm Vải Liệm lần
khác]
Năm 1978, thành phố Turin tưng bừng làm lễ kỷ
niệm 400 năm thành phố này có vinh dự được lưu giữ một thánh tích
thiêng liêng và duy nhất của giáo hội Kitô. Thánh tích được đưa ra
triển lãm trong sáu tuần lễ, từ ngày 28.8.78 đến 8.10.78. Các phương
tiện truyền thông thế giới loan báo rộng rãi tin tức này. Chỉ trong
sáu tuần lễ có tới trên 3 triệu tín đồ từ khắp nơi kéo về Turin hành
hương. Mọi người xếp hàng để lần lượt được đi ngang qua chiêm bái
Nhan Thánh Chúa in trên tấm vải liệm. Dư luận thế giới lúc đó bắt
đầu bàn tán không biết thánh tích khăn liệm của Chúa có thật hay
không. Nhiều nước Âu Mỹ lập các hội khoa học để điều tra vụ này. Tòa
Thánh Vatican cũng hoan nghênh Ủy Ban Quốc Tế gồm các nhà khoa học
ưu tú trên thế giới đến Turin giảo nghiệm vào ngày cuối cùng của
cuộc triển lãm tức là ngày 8.10.1978. Riêng Hoa Kỳ gửi đến Turin một
phái đoàn 25 nhà khoa học với hàng tấn dụng cụ máy móc trong đó có
một số máy dùng vào việc giảo nghiệm thánh tích này. Phái đoàn của
Tòa Thánh có ba nhà bác học: nhà vật lý học Luigi Gonella, chuyên
gia về kính hiển vi Giovani Riggi và giáo sư bệnh lý học Peerluigi
Baina Bollone. Những nước Anh, Pháp, Đức cũng gửi một số nhà khoa
học của họ đến tham dự cuộc giảo nghiệm vô cùng quan trọng này.
Trước hết, tấm vải liệm được đem đến tòa nhà
Palazzo Reale cạnh nhà thờ Turin và được đặt trên một cái bàn rất
lớn, chung quanh được bao vây bằng những tấm kiếng chắn an toàn. Các
nhà khoa học chia tấm vải thành 60 khu vực nghiên cứu. Họ lần lượt
khám nghiệm, chụp hình, phân chất từng inch (phân) vuông của tấm vải
liệm. Những tiến bộ khoa học về các môn học mới như tử thi học, phạm
tội học đã giúp ích rất nhiều cho cuộc thử nghiệm này. Sau hai tuần
lễ làm việc miệt mài với tinh thần vô tư, các nhà khoa học đã đi đến
kết luận như sau:
Tấm vải liệm làm bằng sợi bông Ai Cập, được
dệt tại Syria là một xứ thuộc địa La Mã vào thời Jesus, ở phía bắc
Palestine. Tuổi thọ của tấm vải khoảng 2000 năm. Vào thời kỳ này,
dân Âu Châu chưa biết cây bông là gì và phải đợi đến thế kỷ 14, dân
Âu Châu mới học được kỹ thuật dệt vải hình xương cá trích (herring
bone pattern). Các vết máu in trên vải đúng là máu người. Hình mặt
người in trên tấm vải là do phản ứng hóa học và sự oxýt hóa của chất
nhờn da mặt (skin oil), mồ hôi, dầu aloe và dầu myrrh dính trên mặt
và thân thể thấm vào sợi vải nhiều ngày mà thành. Cuộc thử nghiệm
cũng cho biết đã có một người bị thương nặng đang ở trong tình trạng
hôn mê (coma) nhưng vẫn còn sống nằm trên tấm vải. Chiều cao của
người đó là 1m82 và nặng khoảng 79kg. Có người thắc mắc: "tại sao
tấm vải liệm này có thể tồn tại lâu như vậy?". Các nhà khoa học xác
nhận vải bông có thể tồn tại rất lâu không hư. Hiện nay tại Cairo
(Ai Cập) còn lưu trữ nhiều mẫu vải bông có tuổi thọ từ 3000 đến 5000
năm! Các nhà khoa học đã phân biệt được những vết máu khô trước đó
và những vết máu tươi chảy ra khi "người đó" được đặt nằm trên tấm
vải. Các vết máu tươi có vành huyết tương viền chung quanh. Nhưng
nếu một người đã chết cứng thì không chảy thứ máu tươi này. Hơn nữa,
các vết máu của lưng, mông, đùi, chân đều nằm trên một mặt phẳng. Đó
là tư thế nằm dài của một người còn sống. Người chết trên thập giá,
hai chân gập lại ở đầu gối (ảnh tượng Jesus mà chúng ta thấy thờ
ngày nay), không thể có tư thế nằm thẳng như vậy và có máu chảy
được. Cuộc xét nghiệm năm 1978 đã đi tới kết quả như trên, phần lớn
do công lao của các nhà khoa học Mỹ. Khám phá này phù hợp với kết
quả cuộc điều tra kéo dài trên 200 năm qua (khởi đầu từ phong trào
Enlightenment thế kỷ 18 ở Âu Châu) của các học giả nghiên cứu lịch
sử. Sự thật lịch sử là: Jesus đã thoát chết sau khi bị đóng đinh
trên thập giá tại núi Sọ (Golgotha) vì tội "âm mưu gây bạo loạn
chống chính quyền", không có chuyện Chúa chịu chết để chuộc tội cho
nhân loại và cũng chẳng có chuyện sống lại (phục sinh) rồi trở về
thiên đàng với Chúa Cha nào cả. Hai tín điều này là căn bản cốt yếu
của đạo Kitô. Tấm vải liệm xác Chúa Jesus đã được coi là một thánh
tích thiêng liêng duy nhất của Thiên Chúa Giáo bỗng một sớm một
chiều biến thành ‘Con ngựa thành Troy" có nguy cơ phá hoại giáo hội
từ căn bản giáo lý. Nhiều ký giả của các hãng thông tấn nổi tiếng Âu
Mỹ e sợ Tòa Thánh có thể tiêu hủy thánh tích này. Đã mấy lần Reuter
và UPI loan tin có mật báo cho biết Vatican có âm mưu thủ tiêu thánh
tích. Mỗi lần như thế, Vatican lại phải lên tiếng cải chính là thánh
tích vẫn còn ở Turin. Thực ra vì thánh tích này đã quá nổi tiếng và
nhiều triệu người trên thế giới đã từng hành hương chiêm ngưỡng nó
nên Tòa Thánh cũng khó có thể tiêu hủy nó được.
III. DƯỚI TIÊU ĐỀ VỤ LỪA BỊP
CỦA THẾ KỶ (FRAUD OF THE CENTURY)
HOLGER KERSTEN VIẾT TIẾP: Cuối cùng Tòa thánh
cũng tìm ra được một giải pháp để vô hiệu hóa kết quả giảo nghiệm
của Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế năm 1978 (nhằm bào chữa cho thuyết Cứu
Rỗi và Phục Sinh).
Trong năm 1988, Tòa Thánh triệu tập một ủy ban
khoa học hạn chế gồm toàn những người do Tòa Thánh chọn lựa. Ủy ban
này dùng phương pháp Radiocarbon để định tuổi tấm vải liệm. Kết
cuộc, ủy ban "gà nhà" nói rằng tấm vải liệm đã được ngụy tạo vào
thời trung cổ, khoảng từ 1260 đến 1390. Tòa Thánh tổ chức cuộc họp
báo tại London trong tháng 10.88 để công bố kết quả trên.
Mấy tháng sau, vào ngày 28.4.1989, ký giả Ý
Orazio Petrosillo tháp tùng Giáo Hoàng John Paul II trong chuyến
công du Madagascar. Trên máy bay, ký giả có dịp phỏng vấn Giáo Hoàng
về tấm vải liệm. Giáo Hoàng trả lời "Tấm vải đó hiển nhiên là một
thánh tích" (The Cloth was definitely a relic). Về câu hỏi thánh
tích đó có xác thực không, Ngài trả lời: "Nếu đã là một thánh tích
thì nó phải có tính cách xác thực". Việc ký giả Petrosillo phỏng vấn
Giáo Hoàng trên máy bay được thuật lại trên báo của Tòa Thánh là tờ
Observatore Romano ngày 3.5.89. Nhưng các ý kiến nói trên của Giáo
Hoàng thì lại bị tờ báo đục bỏ. Chẳng qua vì kết quả giảo nghiệm của
Uy Ban Khoa Học Quốc Tế năm 1978 tại Turin đã phát giác một sự thật
lịch sử là "Chúa Jesus đã thoát khỏi nạn chết trên núi Sọ" nên buộc
lòng Tòa Thánh phải phủ nhận tính cách xác thực này để thuyết Cứu
Rỗi và Phục Sinh được tồn tại. Tuy nhiên, khi phủ nhận tính cách xác
thực của tấm vải liệm, Tòa Thánh đã mặc nhiên phủ nhận "tính cách
không thể sai lầm" của ngôi vị Giáo Hoàng, người thay mặt Chúa.
Trong lúc Giáo Hoàng Julius II năm 1506 đã ra đạo luật công nhận
thánh tích này là thật, nay Tòa Thánh nói ngược lại tức đã công khai
xác nhận Giáo Hoàng Julius II sai lầm!. Nói khác đi, Tòa Thánh đã tự
phủ nhận "sự không thể sai lầm" về các vấn đề tín lý của chính mình.
Tín điều "Đức Mẹ Đồng Công" (Co-Redemptrix) và tín điều "Giáo hoàng
không sai lầm" (dogma) sẽ đưa CGLM đến chỗ chết: Tận thế! Đây cũng
là một điều rất đáng buồn cho Tòa Thánh nhưng dầu sao cũng ít nguy
hiểm hơn là sự công nhận tính cách xác thực của thánh tích này (mà
phái đoàn khoa học đã thử nghiệm năm 1978).
Sau tháng 10.88, lễ Kính Thánh Tích hàng năm
vào ngày 4 tháng 5 đương nhiên bị bải bỏ. Thành phố Turin vĩnh viễn
mất đi một nguồn lợi kếch sù thu được của khách thập phương đến hành
hương chiêm bái thánh tích hàng năm. Kể từ ngày 4.5.1990, nhà thờ
Turin được lệnh đóng cửa vô hạn định. Những thế kỷ vinh quang của
tấm vải liệm lịch sử đã chính thức cáo chung. Điều Tòa Thánh mong
muốn là thánh tích và những câu chuyện liên quan đến nó sẽ chìm vào
sự quên lãng của nhân loại. [*]
Charlie Nguyễn
7/1996
(đã sửa lại lần chót 09/24/01)
[*] Tuy vậy, vì cần móc túi những con chiên
khờ khạo, nên ngày 22.8.2000, Tòa Thánh Vatican đem tấm vải liệm
khác ra triển lãm. Theo tờ nhật báo uy tín lớn LA Times, tấm vải
liệm nầy mới chỉ có 13 thế kỷ tuổi mà Jesus thì đã chết cách đây 20
thế kỷ. Xin xem thêm cuốn Vatican Thú Tội và Xin Lỗi, GĐ 2000.
(Xem tiếp: Kinh Thánh và Kinh Nguyện)
Các chương khác
trong sách:
Vài lời tâm huyết - Sách Kinh Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Bầy Quạ Trên Xác Người Đàn Bà Do Thái (Charlie Nguyễn)
Cha Con Giáo Hoàng Alex VI (Charlie Nguyễn)
Cách Làm Tiền của Vatican (Charlie Nguyễn)
Công Giáo Và Thánh Tử Đạo (Charlie Nguyễn)
Giáo Hội Gian Ác (Charlie Nguyễn)
Kinh Nguyện Và Kinh Thánh (Charlie Nguyễn)
Những Tác Hại Của Các Kinh Sách Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Phụ Lục: Tấm Vải Liệm (Charlie Nguyễn)
Sách Kinh Công Giáo - Dòng Tu Đồng Công (Charlie Nguyễn)
Tín Điều Huyền Thoại (Charlie Nguyễn)
Vatican, Xưởng Sản Xuất Phép Lạ (Charlie Nguyễn)
Đoạn Kết - Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Charlie)