Sam Harris: Thư cho một quốc gia Ki-tô giáo

Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

¿ Mục lục bản in ngày 09 tháng 1, 2010

(xem Lời Giới Thiệu của người dịch)

CHÚ THÍCH GỞI  ÐỘC GIẢ

Sau khi xuất bản cuốn sách đầu tiên của tôi Tận Cùng của Đức Tin (The End of Faith), hàng ngàn người đã viết rằng tôi sai lầm khi không chịu tin vào Thiên chúa. Căm phẫn gay gắt nhất của những trao đổi này đã đến từ người Ki-tô giáo. Ðiều này thật mỉa mai, bởi vì người Ki-tô giáo luôn tưởng tượng rằng không có đức tin nào truyền đạt được đức hạnh yêu thương và thứ tha hiệu quả hơn đức tin của họ. Sự thật lại là nhiểu người vốn tự nhận là mình được cảm hóa bởi Thiên chúa lại thiếu khoan dung đến mức khắc nghiệt, thậm chí triệt hạ lẫn nhau trong bình phẩm. Dù chúng ta muốn quy lỗi việc này cho bản tính tự nhiên của con người, nhưng rõ ràng là sự thù ghét ấy đã tìm được sự ủng hộ một cách đáng kể từ cuốn Kinh thánh. Làm sao tôi biết được điều này ? Bởi vì những phần gây khó chịu nhất của tôi luôn trích dẫn các tiết, chương từ Kinh thánh.

Dù cuốn sách này chủ ý dành cho độc giả của mọi loại đức tin, nhưng nó đã được viết dưới hình thức một bức thư gởi một người Ki-tô giáo. Trong đó, tôi trả lời nhiều tranh luận mà người Ki-tô giáo từng đưa ra nhằm bảo vệ niềm tin vào đạo giáo của họ. Mục đích chính của cuốn sách này là để vũ trang cho những người thế tục trong xã hội của chúng ta, những người tin rằng tôn giáo nên đứng bên ngoài các chính sách công cộng, ngược lại với các đối thủ của họ bên Ki-tô giáo cánh hữu. Kết quả là, “Người Ki-tô giáo” mà tôi nhắm đến xuyên suốt cuốn sách, là một người Ki-tô giáo trong nghĩa hẹp của phạm trù này. Người ấy, chính là người ít nhất đã tin rằng cuốn Thánh kinh là những lời cảm hứng của Thiên chúa và chỉ những ai chấp nhận sự thiêng liêng của Jesus Christ mới có thể hưởng được sự cứu rỗi sau khi chết đi. Hàng chục khảo cứu khoa học cho thấy già nửa dân số Mỹ tin vào một niềm tin như thế. Tất nhiên, những hứa hẹn ảo tưởng ấy không hề ám chỉ riêng một loại Ki-tô giáo nào. Những người bảo thủ thuộc tất cả các giáo phái – Công giáo, Thệ phản giáo dòng chính, phái Phúc âm, Báp tít, Pentecostals, Nhân chứng Jê-hô-va và còn nhiều giáo phái khác nữa - đều được nhắc đến trong cùng một giá trị ngang bằng nhau trong các lập luận của tôi. Niềm tin của những người bảo thủ Ki-tô giáo này, như đã từng được rộng rãi biết đến, đang đặc biệt ảnh hưởng lên các bàn luận cấp quốc gia của chúng ta – trong pháp đình, trường học và trong tất cả các cấp chính phủ ngày nay.

Trong Thư gửi một Quốc Gia Ki-tô giáo, tôi đã sắp xếp để đánh đổ tính tự phụ lố lăng về đạo đức và trí thức của người Ki-tô giáo trong các hình thức thẳng thắn nhất. Hậu quả là, những người Ki-tô tự do và ôn hòa sẽ không nhận ra mình trong ý nghĩa “Ki-tô giáo” mà tôi đề cập đến. Tuy nhiên, họ nên nhận ra điều ấy trong một trăm năm mươi triệu hàng xóm láng giềng của họ. Tôi hơi phân vân rằng những người tự do và ôn hòa cũng nhìn ra các khẳng định kỳ quặc của những người Ki-tơ giáo hữu khuynh như tôi nhìn thấy. Tuy nhiên, tôi hy vọng họ cũng sẽ bắt đầu nhìn thấy rằng sự tôn trọng mà họ đòi hỏi cho các niềm tin tôn giáo của họ đã tạo ra chỗ ẩn nấp cho những kẻ cực đoan của tất cả các đức tin khác. Mặc dù những người tự do và ôn hòa không hề đâm máy bay vào các tòa cao tầng hay tổ chức đời sống của mình theo các lời tiên tri về sự hủy diệt, họ cũng hiếm khi đặt câu hỏi về tính hợp pháp của việc nuôi dạy một đứa trẻ nhằm hướng chúng đến niềm tin rằng mình là Ki-tô giáo, Hồi giáo hay Do Thái giáo. Ngay cả những đức tin tiến bộ nhất cũng đang ngầm giúp vào sự phân rẽ tôn giáo trong thế giới chúng ta. Tuy nhiên, trong Thư Gửi một Quốc gia Ki-tô Giáo, tôi trình bày Ki-tô giáo trong sự thoái hoá, phân rẽ và tổn thương nhất của tôn giáo này. Ở đấy, người tự do, ôn hòa và những người không theo một tôn giáo nào có thể nhận thấy một nguyên nhân chung của lý do ấy.

Dựa theo một thăm dò mới nhất của viện Gallup, chỉ có 12 phần trăm người Mỹ tin rằng sự sống trên địa cầu đã tiến hóa qua một quá trình tự nhiên, không hề có sự can thiệp của một đấng thần thánh nào. Ba mươi mốt phần trăm tin rằng tiến hoá đã được “hướng dẫn bởi Thiên chúa”. Nếu mang bỏ phiếu, thì khái niệm về “thiết kế thông minh” sẽ thắng thế giới quan của chúng ta gần như ba ăn một. Ðiều này thật đáng lo, khi mà thiên nhiên không hề đem lại một chứng cứ thuyết phục nào cho một nhà thiết kế thông minh, mà chỉ đem đến vô số không kể hết được những thí dụ về sự thiết kế không thông minh. Tuy nhiên, trong cuộc tranh cãi đương thời về “Thiết kế thông minh” chúng ta không nên tự lóa mắt mình vào niềm hoang mang tôn giáo đang thực có vào buổi bình minh của thế kỳ hai mươi mốt. Cũng khảo sát trên của Viện Gallup cho thấy 53 phần trăm người Mỹ thực sự là những người tin theo thuyết sáng thế. Ðiều này có nghĩa là bất chấp những thấu hiểu khoa học của cả một thế kỷ đã chứng thực được tình trạng cổ xưa của sự sống và tình trạng cổ xưa hơn nhiều của địa cầu, hơn nửa láng giềng của chúng ta tin rằng toàn bộ vũ trụ đã được tạo nên từ sáu ngàn năm trước. Thời gian này, nhân tiện mà nói, là vào khoảng một ngàn năm sau khi người Summerian sáng tạo ra keo dính. Những người có quyền bầu cử chọn lựa vị tổng thống và các nghị sĩ quốc hội của chúng ta – và nhiều người trong số đó đã được đắc cử – tin rằng loài khủng long từng sống từng đôi trên con thuyền của Noah, tin rằng ánh sáng từ những ngân hà xa xôi đã được tạo nên trên đường đến trái đất, và tin rằng các thành phần đầu tiên của chủng loại chúng ta đã được nặn ra từ đất cát và hơi thở của thần thánh, trong một khu vườn có con rắn biết nói, từ đôi tay của một Thiên chúa không nhìn thấy được.

Giữa các quốc gia phát triển, nước Mỹ đứng lẻ loi một mình trước những cáo buộc này. Chưa bao giờ trong lịch sử của Mỹ mà đất nước chúng ta đã xuất hiện như một anh khổng lồ hay gây gổ, ì ạch và ngu độn như hiện nay. Bất cứ ai, ngay cả người bạn, đồng minh của mình, quan tâm đến sinh mệnh sống còn của nền văn minh, cũng sẽ phải vất vả để nhận ra rằng sự phối hợp của một quyền lực lớn lao với sự xuẩn ngốc vĩ đại thì đơn giản là một điều đáng kinh sợ.

Tuy nhiên, sự thật chính là nhiều người trong chúng ta không hề lo lắng gì đến vận mệnh của nền văn minh. Bốn mươi bốn phần trăm dân số Mỹ tin rằng Jesus sẽ trở lại để phán xét người sống và kẻ chết vào lúc nào đó trong năm mươi năm tới. Theo diễn giải phổ biến nhất từ khải huyền trong kinh thánh, Jesus sẽ chỉ trở lại khi mọi thứ đã trở nên hư hỏng tồi tệ ở thế gian này. Vì thế, chẳng phải là sự phóng đại khi nói rằng nếu thành phố Nữu Ước đột nhiên biến thành một quả cầu lửa, một phần đáng kể dân chúng Mỹ có thể nhìn ra một lằn chớp bạc trong biển khói hình nấm, như họ đã từng được nhắc bảo về điều mong đợi tuyệt vời nhất đang sắp xảy đến: sự trở lại của Chúa. Thật là một sự đui mù hiển nhiên rằng những niềm tin đại loại như thế có thể giúp chúng ta chút ít gì vào việc tạo nên một tương lai vững bền cho chúng ta về xã hội, kinh tế, môi trường hay địa lý chính trị. Thử tưởng tượng hậu quả sẽ ra sao nếu một bộ phận quan trọng trong chính phủ Mỹ thực tin rằng thế giới sắp tận thế và sẽ tận thế trong một sự huy hoàng. Sự thật là gần một nửa dân chúng Mỹ thực sự tin vào điều này, hoàn toàn chỉ từ các căn bản của một chủ thuyết tôn giáo, đáng xem là một tình trạng khẩn cấp cho đạo đức và tri thức. Cuốn sách mà các bạn sắp đọc đây chính là lời giải đáp của tôi cho tình trạng khẩn cấp này. Tôi chân thành mong mỏi quý bạn tìm được sự hữu ích từ đấy.

Sam Harris

Ngày 1 Tháng Năm 2006

Nữu Ước

 

(xem "Lời Bạt cho ấn bản Của Vintage Books")

Trang Tôn Giáo