Sam Harris: Tận cùng của Ðức tin

Lê Quốc Tuấn chuyển Việt

¿ Mục lục toàn bài bản in ngày 24 tháng 12, 2009

CHƯƠNG 4 (tiếp theo)

Vấn nạn đối với Hồi Giáo -2

Zakaria nhận xét rằng người Hồi giáo sinh sống ở phương Tây thường tỏ ra khoan dung với đức tin của người khác. Ngay tại đây, chúng ta thử hãy chấp nhận tính cách này - mặc dù nó bỏ quên đi cái thực tế bất tiện là nhiều quốc gia Tây phương giờ đang trở nên “cái ổ của các lực lượng vũ trang Hồi giáo”.[12] Tuy nhiên, trước khi chúng ta ghi điều này vào cuốn sổ khoan dung của người Hồi giáo, chúng ta hãy tự hỏi mình xem sự bất dung của người Hồi giáo đã tự lộ diện ở phương Tây như thế nào. Thiểu số nào, ngay cả một thiểu số đã cấp tiến hóa, đã thường không “khoan dung” với thành phần đa số trong suốt quá trình phát triển của nó ? Ngay cả những kẻ thừa nhận mình là khủng bố và những nhà cách mạng đã chỉ suốt ngày ngồi rình chờ cơ hội thuận tiện? Chúng ta không nên lầm lẫn về sự “dung thứ” của chính trị, kinh tế và vô số những yếu đuối khác cho chủ nghĩa tự do chân chính.

Lewis nhận xét rằng “đối với người Hồi giáo, không một mảnh đất nào một khi đã hội nhập vào vương quốc của Hồi giáo mà có thể sau cùng bị chối bỏ ”.[13] Chúng ta cũng nên thêm là không một tâm hồn nào, một khi đã nhập vào với vương quốc sau cùng có thể chối bỏ được-bởi vì, như Lewis đã lưu ý, hình phạt cho sự bội giáo là tử hình. Tốt hơn chúng ta nên nán lại sự việc này một chốc, bởi vì sự việc này chính là viên ngọc đen của sự bất dung thứ mà không một bình giải nào có thể tiêu hóa hết được. Trong thế giới Hồi giáo, hình phạt cho sự học hỏi quá nhiều về thế gian – cũng giống như đặt nghi vấn với các tín điều của đức tin – là tử hình. Nếu một người Hồi giáo của thế kỷ hai mươi mốt đánh mất đức tin của y, dù y chỉ từng là một tín đồ Hồi giáo trong một giờ đồng hồ, câu trả lời đúng nguyên tắc, ở bất cứ nơi nào trong Hồi giáo, là giết hắn đi.

Trong khi Koran đơn thuần chỉ diễn tả những sự trừng phạt chờ đợi kẻ bội giáo trong thế giới kế tiếp (Koran 3:86-91), các dòng sử thi rất dứt khoát để loại công lý này phải được phân phối ra trong câu “Bất cứ ai đổi đạo, hãy giết bỏ.” Không có siêu hình gì ẩn dấu trong mệnh lệnh này, và và dường như không có một tiến trình chú giải cổ văn nào có thể phủi sạch được. Chúng ta đã có thể cố gắng để hòa hợp ý nghĩa vĩ đại với sự thực rằng bản thân lệnh huấn thị không có trong bản thân kinh Koran, nhưng trong các ý nghĩa thực tiễn các văn bản thi sử thánh dường như chính là cấu thành của thế giới quan Hồi giáo trong từng chi tiết. Với thực tiễn là thi sử thánh thường được dùng như các ống kính để phiên giải kinh Koran, nhiều nhà làm luật Hồi giáo còn xem nó có thẩm quyền hơn cả trong sự thực hành đạo Hồi.[14] Ðúng là một số nhà làm luật tự do đã đòi hỏi những người bội giáo phải thực là có phát biểu những điều phản lại Hồi giáo trước khi phê chuẩn việc giết hắn, nhưng bản thân sự trừng trị thường không bị xem là “quá đáng”. Cái công lý giết hại kẻ bội giáo là một sự thể được sự chấp nhận, nếu không muốn nói là được thực hiện, của Hồi giáo dòng chính. Ðiều này giải thích tại sao không hề xuất hiện được một người Hồi giáo biết điều nào trên thế gian này khi Ayatollah Khomenini đặt tiền thưởng cho cái đầu của Salman Rushdie. Nhiều người Tây phương băn khăn tại sao hàng triệu người Hồi giáo “ôn hoà” không có ai dám công khai chối bỏ mệnh lệnh này của giáo hội. Những câu trả lời trực tiếp đến từ các tín điều của đạo Hồi, những tín điều mà ngay cả Cat Stevens, một danh ca nhạc folk sinh trưởng ở Âu châu (hiện giờ mang tên là Yosuf Islam) cũng phải nghi ngờ đến khía cạnh công lý của chúng.[15]

Như chúng ta đã thấy, Kitô giáo và Do Thái giáo có thể được thực hiện để cho nốt nhạc thứ tha vang cùng âm điệu - như đã trải qua một vài thế kỷ kể cả hai phía cùng làm như thế. Tuy vậy, thực tế đang xảy ra dưới ảnh hưởng của Hồi giáo là nếu bạn mở sai một cánh cửa vào cái tự do truy cứu thế giới của bạn, các anh em đồng đạo của bạn sẽ nghĩ rằng bạn phải nên chết đi vì sự việc ấy. Rồi, chắc chúng ta phải rất băn khoăn, thế Hồi giáo muốn nói gì đến ý nghĩa của việc ”không ép buộc về đạo giáo.”

Trong phần phê bình cuốn sách mới của Lewis viết về Hồi giáo, Kenneth Pollak đã nêu ra một chỉ trích có thể đem áp dụng tốt hơn cho các chứng minh của tôi :

Lewis vẫn không bám sát được những vấn đề sâu sắc hơn cho độc giả của mình. Ông vẫn không mang lại được lời giải thích của mình cho sự việc vì sao vấn đề Hồi giáo ở Trung đông lại đình trệ, tại sao các nỗ lực cải cách bị thất bại, tại sao lại thất bại đặc biệt trong việc trở thành đồng nhất với nền kinh tế toàn cầu trong một phương cách đầy ý nghĩa và tại sao những thất bại này ngay cả không đưa ra được một quyết tâm đổi mới để thành công (như vùng Ðông Á trong 50 năm qua, và có thể cho là cả India, châu Mỹ La tinh và ngay cả các phần của vùng phụ cậ Saharan Phi Châu ngày nay) mà chỉ có những cơn phẫn nộ, thất vọng với phương Tây khiến sinh ra nạn sát nhân, khủng bố tự sát bất chấp tất cả các ngăn cấm của đạo Hồi về những hành động như thế.[16]

Tất cả đấy là những câu hỏi hữu ích – và Zakairia mang lại những câu trả lời khá ngay thẳng – nhưng chúng không phải là những “vấn đề sâu sắc hơn”. Nếu bạn tin những gì như kinh Koran nói bạn phải tin thế nào để chính bản thân mình thoát khỏi được lửa địa ngục, bạn sẽ, tối thiểu, phải có thiện cảm với các hành động của Osama bin Laden. Các ngăn cấm của đạo giáo về “khủng bố tự sát” không có nhiều như Pollak đưa ra. Kinh Koran chỉ có đơn độc có một dòng mơ hồ, “Không được hủy diệt chính mình” (4:29). Như mọi nhà phê bình khác về chủ đề này, Pollak có vẻ không thể đặt mình vào vị trí của một kẻ thực sự tin vào những tiền đề đã đặt để sẵn trong Koran - rằng Thiên đàng đang chờ, rằng ý thức của chúng ta không là gì ngoài một chứng tích của một thế gian tận lực cần đến sự chinh phục cho hào quang của Thượng đế. Hãy mở cuốn kinh Koran, cuốn kinh hoàn hảo trong mỗi vần điệu của nó, và hãy đơn giản đọc lên bằng con mắt của đức tin. Bạn sẽ nhận ra không có bao nhiêu lòng bác ái cần phải phí bỏ đối với những kẻ mà Thượng đế phải tự mình tham dự vào quá trình của những sự “chế diễu”, “nguyền rủa”, “ghê tởm”, “không tha thứ”, “xấu hổ”, ”trừng phạt”, “áp bức”, “thiêu đốt”, “không xá tội”. Thượng đế, một đấng chắc chắn là thông thái vô hạn, từng phải nguyền rủa những kẻ không theo đạo chỉ vì sự hoài nghi của họ. Người kéo dài đời sống và thịnh đạt của chúng để chúng có thể chất chứa hết tội lỗi này đến tội lỗi khác và để sau cùng chúng phải chịu thống khổ bên ngoài mộ huyệt. Trong ánh sáng này, những con người chết đi vào ngày 11 tháng Chín không gì hơn là nhiên liệu cho ngọn lửa miên viễn cho công lý của Thượng đế. Ðể truyền đạt sự tàn nhẫn với những gì mà người không theo đạo đã bị phỉ báng trong văn bản của Koran, tôi cung cấp ở đây một sưu tập dài những trích dẫn, theo thứ tự mà chúng xuất hiện trong kinh bản. Ðây là những gì mà đấng sáng tạo nên vũ trụ chắc chắc đã chứa trong tâm thức (khi ngài không bị cuống lên bởi các hằng số của lực hút hấp dẫn và những trọng lực nguyên tử) :

“Cảnh cáo chúng trước cũng thế thôi [những kẻ không theo đạo] , chúng sẽ không có đức tin” (2:6). “Thượng đế sẽ nhạo báng chúng, và giữ chúng dài lâu trong tội lỗi, vấp ngã mù lòa” (2:15). Một đám cháy “mà nhiên liệu là con người và gạch đá” sẽ chờ đợi chúng (2:24). Chúng sẽ “được thưởng bằng sự ruồng bỏ trên thế gian này và sự trừng phạt đau khổ trong Ngày Sống lại” (2:85). “Thượng đế nguyền rủa những kẻ vô đạo” (2:89). “Chúng phải chịu cơn giận không thương xót của Thượng đế. Một sự trừng phạt nhục nhã đang chờ [chúng] ” (2:90). “Thượng đế là kẻ thù của những kẻ không tin đạo” (2:98). “Những kẻ không tin đạo giữa Những kẻ tin Kinh sách [Kitô giáo và do Thái giáo] , và những kẻ thờ đa thần, phật ý vì những phước lành được ban phát cho các ngươi từ Chúa của các ngươi” (2:105). “Chúng sẽ bị cầm giữ trong hổ thẹn ở thế giới này và bị trừng trị nghiêm khắc trong thế giới sau” (2:114). Đối với những kẻ mà ta [Thượng đế] đã cho kinh sách, và đã đọc kinh sách như ý nghĩa vốn phải đọc, đã thực sự tin vào đấy;còn những kẻ chối bỏ chắc chắn là không hiểu” (2:122). “ta sẽ để chúng sống thêm một chút, rồi kéo lê chúng vào trừng phạt của lửa thiêu. Tai họa sẽ là số mệnh của chúng” (2:126). “Phương Đông và phương Tây là của Thượng đế. Người sẽ hướng dẫn cho những ai người muốn đến một con đường thẳng tắp” (2:142). “Đừng bảo rằng những kẻ bị giết hại vì Thượng đế là chết. Họ thực còn sống đấy nhưng các ngươi không trông thấy thôi” (2:154). “Nhưng những kẻ không theo đạo chết không tin đạo sẽ gánh chịu nguyền rủa của Thượng đế, các thiên thần và tất cả mọi người. Họ sẽ chịu lời nguyền ấy mãi mãi, sự trừng trị sẽ không bao giờ được nguôi nhẹ, cũng như không được tha thứ” (2:162). “Chúng sẽ thở dài trong hối tiếc, nhưng sẽ không bao giờ thoát khỏi lửa thiêu” (2:168). “Kẻ không theo đạo cũng giống như thú vật, cứ gọi chúng như thế vì ta được phép, chúng sẽ không nghe được gì cả chỉ biết kêu gào, khóc lóc. Điếc, câm và mù lòa, chúng sẽ không thể hiểu được gì” (2:172). “Đối với chúng, sẽ là một trừng phạt kinh hoàng” (2:175). “Họ tìm lửa thiêu mới kiên định làm sao ! Đó là bởi vì Thượng đế đã hé lộ chân lý từ các Kinh sách; những ai không đồng ý với điều ấy chính là bọn cực kỳ ly giáo” (2;176). “Hãy giết chúng bất cứ nơi nào ngươi tìm thấy. Đuổi chúng ra khỏi mọi nơi chốn mà chúng muốn đuổi ngươi đi. Thờ cúng các ảnh tượng thì còn tệ hơn cả sự tàn sát…Nếu chúng tấn công, hãy lấy kiếm mà đâm chúng. Bọn không theo đạo đáng được ban thưởng như thế : nhưng nếu chúng chừa bỏ, Thượng đế sẽ tha thứ và thương xót. Hãy chiến đấu chống lại chúng cho đến khi chúng không còn thờ ảnh tượng và đạo của Thượng đế được lên ngôi tối cao. Nhưng nếu chúng chừa bỏ, đừng đánh ai trừ bọn làm ác” (2:190-93). “Chiến đấu là bổn phận của ngươi, kể cả ngươi có không muốn thế. Nhưng ngươi được ghét một thứ mặc dù tốt cho ngươi, cũng như phải thích một thứ dù không có lợi cho ngươi. Bởi vì Thượng đế hiểu, ngươi không thể hiểu được” (2;216). “Chúng sẽ không ngừng chiến đấu chống lại ngươi cho đến khi chúng bắt đưọc ngươi phải từ bỏ đức tin của ngươi-nếu chúng có thể. Nhưng bất kể ai trong các ngươi rút lui và chết không tin đạo, thì các công trình của y sẽ trở thành vô nghĩa trong thế giới này và thế giới sau. Những kẻ đó sẽ trở thành kẻ ở thuê trong chốn địa ngục, nơi họ sẽ bị cầm giữ mãi mãi. Còn những ai giữ được đức tin, và những ai bỏ chạy khỏi đất đai mình để chiến đấu cho lý tưởng của Thượng đế, có thể hy vọng được long xót thương của Ngài” (2:217-18). “Thượng đế không hề hướng dẫn những kẻ làm ác” (2:258). “Thượng đế không hề hướng dẫn kẻ không theo đạo” (2:264). “Những kẻ làm ác sẽ không có ai giúp chúng” (2:270). “Thượng đế giúp những ai Người muốn” (2:272).

“Những kẻ chối từ khải huyền của Thượng đế sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc; Thượng đế vĩ đại và có năng lực để trả thù” (3:5). “Đối với bọn không theo đạo, kể cả giàu sang và con cái chúng cũng không thể cứ chúng khỏi phán xét của Thượng đế. Chúng sẽ trở nên nhiên liệu của Lửa thiêu” (3:10). “Hãy nói với bọn không tin đạo” ‘các ngươi sẽ bị lật đổ và bị thảy vào địa ngục-nơi yên nghỉ đầy tai họa’” (3;12). “Ðức tin đúng duy nhất trong cách nhìn của Thượng đế chính là Hồi giáo… Kẻ chối bỏ Khải huyền của Thượng đế nên biết rằng Thượng đế sẽ biết ngay” (3:19). “Ðừng để cho những kẻ tin làm bạn với bọn không đạo hơn là những người sùng đạo-kẻ làm như thế sẽ chẳng có hy vọng gì nơi Thượng đế-trừ trong trường họp tự vệ” (3:28). “Hỡi những kẻ tin, đừng làm bạn với ai ngoài chính người của mình. Chúng sẽ không từ một đau đớn nào để mua chuộc ngươi. Chúng không muốn gì ngoài sự tàn lụi của ngươi. Lòng oán hận của chúng có bằng chứng ngay từ những lời mấp máy trên miệng chúng, nhưng hận thù mà chúng dấu kín trong ngực chúng mới thật lớn lao hơn” (3:118). “Nếu ngươi phải chịu sự thua cuộc, kẻ thù của ngươi cũng sẽ phải chịu như thế. Ta thay đổi luân phiên sự thăng trầm này trong nhân loại để Thượng đế biết được kẻ tin thật và chọn các tử đạo trong các ngươi (Thượng đế không thương kẻ làm ác); và Thượng đế có thể thử thách sự trung tín và tiêu diệt kẻ không theo đạo” (3:140). “ Hõi những kẻ tin đạo, nếu ngươi nhường nhịn kẻ không theo đạo, chúng sẽ kéo lê ngươi trở về sự không tin đạo và ngươi sẽ đâm đầu vào cõi trầm luân… Ta sẽ đem gieo kinh hoàng vào trong tâm bọn không tin đạo… Lửa thiêu sẽ là nhà ở của chúng” (3:149-51). “Hỡi những người tin đạo, đùng tin theo những chứng minh của bọn không đạo, những kẻ nói đến tình anh em của chúng khi chúng đối diện tử thần khắp nơi nhất trong trận địa ‘nếu để chúng ở với ta chúng sẽ không bị chết bằng không chúng sẽ bị giết’ Thượng đế sẽ làm cho chúng hối hận về những lời nói của chúng…Nếu ngươi phải chết hay bị sát hại vì lý tưởng của Thượng đế, lòng thứ tha và thương xót của Thượng đế chắc chắn sẽ tốt lành hơn tất cả của cải giàu có mà y tích lũy” (3:156). “Ðừng bao giờ tưởng rằng những kẻ bị sát hại vì lý tưởng Thượng đế đã chết đi. Thực họ còn sống, và được đầy đủ bởi Chúa của họ, hạnh phúc với những ban thưởng và vui vì những gì ai bỏ lại sau lưng, những ai chưa theo họ, không có gì để sợ hãi hay hối tiếc, vui mừng trong khoan hồng hào phóng của Thượng đế. Thượng đế sẽ không chối từ ban thưởng cho những người ngoan đạo” (3:169). “Ðừng để bọn không tin tưởng rằng ta kéo dài ngày tháng của chúng vì lợi ích của chúng. Ta cho chúng trì hoãn chỉ để chúng phạm thêm nhiều tội lỗi nữa. Các trừng phạt đáng xấu hổ đang chờ chúng” (3:178). “Những ai phải chịu xử tội vì ta, chiến đấu vì ta và bị sát hại :ta sẽ tha cho tội lỗi của họ và cho họ được đến vườn thiêng tưới bằng những vòi phun như một phần thưởng từ Thượng đế. Thượng đế giữ sự thưởng phạt phong phú. Ðừng bị gạt bởi những kho tàng của bọn không tin đạo trên mặt đất . Bởi thịnh vượng của chúng chỉ ngắn ngủi. Ðịa ngục sẽ là nhà ở của chúng, một nơi yên nghỉ buồn thảm” (3:195-96).

“Thượng đế đã nguyền rủa sự không tin của chúng” (4:46). “Thượng đế sẽ không tha thứ cho kẻ nào phụng thờ các thần thánh khác ngoài Thượng đế; nhưng Ngài sẽ tha thứ cho ai Ngài muốn vì những tội lỗi khác. Kẻ thờ phượng các thánh thần khác ngoài Thượng đế là phạm môt tội ác ghê tởm…Hãy xem những điều mà vì chúng một phần của kinh sách đã phải được ban ra. Chúng tin vào các ảnh tượng, các thần thánh giả tạo và các lời của bọn không tin đạo:’ đây là những hướng dẫn tốt hơn là những người tin đạo;” (4:50-51). “Những kẻ từ chối Khải huyền của Ta ta sẽ thiêu chúng trong lửa. Ðể chúng được nếm mùi tai họa. Thượng đế uy quyền và Thông thái” (4:55-56).

“Hỡi những người tin đạo, đừng tìm bạn với những kẻ không đạo và những kẻ đã được ban cho các kinh sách trước ngươi, những kẻ đã xem tôn giáo của ngươi như trò giải trí giễu cợt” (5:57). “Những gì tiết lộ cho ngươi chắc chắn sẽ làm bọn chúng yếu hơn và không tin hơn như đa số chúng. Ta đã trộn lẫn trong chúng lòng thù địch và oán hận, những thứ sẽ kéo dài đến ngày sống lại” (5:65). “Thượng đế không chỉ đường cho bọn không tin” (5:67). “Những gì tiết lộ cho ngươi chắc chắn sẽ làm bọn chúng yếu đi và không tin hơn. Nhưng không đau buồn cho bọn không tin đạo” (5:69). “Ngươi thấy nhiều người trong họ làm bạn với những kẻ không tin đạo. Sự ác là cái mà từ đó linh hồn chúng xúi giục nên. Chúng đã gánh cơn giận của Thượng đế và sẽ phải chịu đau khổ mãi mãi… Ngươi sẽ thấy rằng những kẻ không bao giờ có thể nguôi thù địch với người ngoan đạo là bọn tà giáo và Do Thái và cái ảnh hưởng gần nhất đến chúng là những kẻ nói ‘Chúng ta là Kitô giáo’” (5:80-82). “Những kẻ không tin và từ chối Khải huyền của ta sẽ trở thành tù nhân của địa ngục” (5:86).

“Chúng dám chối từ chân lý khi chân lý công bố cho chúng biết; nhưng chúng sẽ nhận thấy hậu quả về sự coi khinh của chúng” (6:5), “Ta đã tạo cho chúng nhiều quyền lực trên đất đai hơn các ngươi [người Meccans] , gởi từ trời xuống cho chúng nhiều nước và cho chúng các dòng sông chảy dưới chân. Nhưng bởi vì chúng tội lỗi, ta sẽ hủy diệt tất cả để nuôi dậy một thế hệ mới sau chúng nó. Nếu ta gởi xuống các ngươi một Thánh thư khắc ghi trên giấy da thật và khi chúng sờ vào bằng chính tay mình, những đứa không tin đạo vẫn khăng khăng: ‘đây chỉ là trò ma thuật’. Chúng hỏi :’Tại sao không có thiên thần giáng xuống cùng ông ta [Muhammad] ?’. Nếu ta gửi xuống một thiên thần, số mạng của chúng sẽ được định đoạt và chúng sẽ không bao giờ được tha tội” (6:5-8), “Còn ai quỷ quái hơn kẻ dám chế ra các lời giả dối về Thượng đế hoặc từ chối Khải huyền của Ngài ?” (6:21), “Một số đứa trong bọn chúng nghe lời ngươi. Nhưng ta đã tạo một mạng che tâm hồn chúng và khiến chúng khó nghe được để chúng không thể hiểu lời ngươi nói. Chúng sẽ không tinvào các dấu chỉ của chúng ta, ngay cả chúng được nhìn một lần. Khi chúng đến tranh cãi với ngươi, bọn không tin đạo sẽ bảo ‘Ðây chỉ là những chuyện kể giả tưởng thôi’. Chúng ngăn cấm và từ bỏ đi. Chúng đã không hủy diệt được ai trừ chính chúng nó, dù chúng không hề nhận thức được. Nếu ngươi có thể gặp chúng trước khi chất lửa đốt. Chúng sẽ nói ‘Phải chi chúng tôi có thể quay lại ! Chúng tôi sẽ không chối bỏ Khải huyền của Thiên chúa nữa và sẽ trở nên người tin đạo thật sự” (6:23-27), “Nhưng nếu được trở lại, chúng sẽ quay về với những gì chúng bị ngăn cấm. Chúng là bọn dối trá cả thôi” (6:29), “Nếu Thượng đế hài long, hẳn Người đã thí cho chúng một cơ hội chỉ dạy” (6:35), “Những đứa chối bỏ Khải huyền của chúng ta là những đứa ngu và điếc; chúng ngớ ngẩn trong bóng tối. Thượng đế sẽ làm bẽ mặt những kẻ Người muốn, và chỉ ra con đường thẳng tắp cho những ai người hài lòng” (6:39), “Tâm hồn chúng đã đông cứng, và quỷ satan đã khiến các hành vi của nó thành phải lẽ đối với chúng. Và khi chúng quên sạch những lời khuyên răn của Ta, Ta đã ban cho chúng tất cả những gì chúng muốn; nhưng ngay khi chúng vui sướng vì những gì chúng được ban phát, ta sẽ thình lình vả vào mặt chúng và chúng sẽ rơi vào những tuyệt vọng không cùng. Vì đó là những sỉ nhục dành cho bọn làm ác. Hãy ngợi ca Thượng đế, Chúa tể của vũ trụ” (6:43-45), “Những kẻ chối bỏ khải huyền của ta sẽ phải bị trừng phạt vì tội ác của chúng” (6;49), “Những kẻ bị nguyền rủa vì tội lỗi của mình. Chúng phải uống nước sôi và bị trừng phạt nghiêm khắc cho sự không tin theo của chúng” (6:70), “Ngươi không nhìn thấy bọn làm sai bị tử thần áp đảo chúng hay sao ! Với hai tay bị căng ra, các thiê thần phán rằng ‘Linh hồn ngươi hãy chịu thua. Hôm nay ngươi sẽ được ban thưởng bằng sự trừng phạt nhục nhã vì những gì ngươi nói sai về Thượng đế và khinh thường khải huyền của Người” (6:93), “Hãy tránh bọn tà giáo. Nếu muốn làm Thượng đế hài lòng, chúng đã không thờ bái các ảnh tượng… Vì chúng không tin từ đầu, ta sẽ mang chân lý ra khỏi tâm hồn và ánh mắt chúng. Ta sẽ để chúng mò mẫm trong sai lầm. Nếu ta gửi các thiên thần xuống, và khiến người chết nói chuyện với chúng… và bày tất cả ra trước mặt, chúng cũng sẽ vẫn không tin, trừ khi Thượng đế có ý gì khác hơn… Do đó, ta đã phân công cho mỗi tiên tri một kẻ thù : bọn quỷ sứ giữa con người và thần thánh, bọn đang cổ vũ nhau bằng các giả dối vốn phai nhạt và vô hiệu. Nhưng nếu muốn thiên chúa được vui, chúng đã không nên làm như thế. Do đó, mặc kệ chúng với các sáng tạo của chúng, để tâm hồn của những kẻ không có đức tin trong đời sống sẽ xuống dốc như những gì chúng nói, và vui, trong các phương cách tội lỗi của chúng.” (6:107-12), “Bọn quỷ sứ sẽ dạy bảo kẻ tôn sùng chúng cãi nhau với ngươi. Nếu ngươi vâng theo chúng ngươi sẽ tự mình biến thành bọn thờ ảnh tượng… Thượng đế sẽ làm nhục bọn phạm tội và sẽ phân phát cho chúng các trừng phạt đau đớn cho các âm mưu của chúng” (6:121-25), “Nếu Thượng đế muốn hướng dẫn một con người, Ngài sẽ mở tâm hồn kẻ ấy ra với hồi giáo. Nhưng nếu Ngài thích làm hỏng y, Ngài sẽ khiến tâm hồn y nhỏ bé lại. Vì thượng đế mang phiền muộn đến những kẻ không tin theo” (6:125).

Dĩ nhiên, đấy là tất cả những gì chán phèo và liều lĩnh. [17] Nhưng không hề có gì thay thế được để đối đầu với bản thân các kinh tự đó. Tôi không thể đánh giá được chất lượng của ngôn ngữ Ả rập, chắc là tuyệt vời lắm. Nhưng nội dung của cuốn kinh sách này thì hoàn toàn không. Trên từng trang giấy, kinh Koran chỉ bảo kẻ tuân phục Hồi giáo khinh miệt những người không tin đạo. Trên từng trang giấy, kinh bản này chuẩn bị sẵn chiến trường cho các xung khắc tôn giáo. Bất cứ ai có thể đọc những đoạn trích dẫn trên mà vẫn không thấy được một gạch nối giữa đức tin Hồi giáo và bạo lực Hồi giáo có lẽ nên đi viếng một bác sĩ thần kinh.

Hơn tất cả các tôn giáo khác mà nhân loại đã nghĩ ra, Hồi giáo có tất cả các cấu thành của một giáo phái triệt để về cái chết. Sayyid Qutb, một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất trong thế giới Hồi giáo, cha đẻ của Hồi giáo hiện đại trong phái Sunni, đã viết: “Kinh Koran nhắm vào một tính cách đáng khinh khác của người Do Thái: nỗi khao khát hèn nhát để được sống, bất chấp cái giá phải trả và bất kể đến danh dự, phẩm giá và nhân cách.” [18] Lời công bố này thực là một phép lạ của tính súc tích. Dù có vẻ chỉ là một cú đánh nhẹ vô ý thức đối với người Do Thái, nhưng đấy thực là một sự cô đọng mạnh mẽ về thế giới quan của Hồi giáo. Hãy nhìn thẳng vào đấy trong chốc lát, cả một cơ cấu của bất dung và tự sát quy mô sẽ thành hình ngay trước mắt bạn. Sự ngăn cấm mơ hồ của Koran về việc tự sát trở thành hết sức không đáng đặt ra. Chắc chắn có những nhà làm luật Hồi giáo phán rằng việc đánh bom tự sát là trái ngược với tín lý của Hồi giáo (nhân tiện xin hỏi là các nhà làm luật này đang ở đâu ?) và do đó những kẻ đánh bom tự sát chẳng phải là những thánh tử vì đạo mà là các cư dân mới của địa ngục. Thật là những ý kiến thiểu số, nếu có từng hiện hữu, các ý kiến này không làm thay đổi được thực tế là việc đánh bom tự sát đã được hợp lý hóa bởi hầu hết các nước Hồi giáo (những nơi gọi đánh bom tự sát là các “vụ nổ thần thánh”). Thực thế, căn cứ vào các tín lý của Hồi giáo, những hợp lý hóa ấy thật dễ dàng. Trong ánh sáng của Thượng đế về niềm tin của các tín đồ Hồi giáo ngoan đạo - về thánh chiến, về thánh tử đạo, về thiên đường, và về những kẻ vô đạo – việc đánh bom tự sát không có vẻ gì là một điều khác thường trong đức tin của họ. Và không có gì ngạc nhiên khi tất cả nhũng kẻ chết đi theo cách này được nhiều đồng đạo của họ xem là thánh tử đạo. Trong bất cứ trường họp nào, một kế hoạch quân sự đưa đến những hiểm nguy đủ gây ra các tử thương có thể bị xem như một kế hoạch “tự sát”, khiến cần đến một bàn luận về đặc thù phân biệt giữa tự sát và tử thương trong hàng ngũ những kẻ muốn “chiến đấu cho lý tưởng của Thượng đế”. Tận cùng của kẻ khao khát tử vì đạo là như thế này: miễn là mình giết hại được bọn vô đạo hoặc bọn bội giáo “nhằm bảo vệ cho Hồi giáo”, đức Allah không cần xét đến việc mình có tự sát trong công cuộc ấy hay không.

Gần đây, hơn 38.000 người tham dự vào một cuộc thăm dò trên toàn cầu thực hiện bởi Trung tâm Khảo cứu Pew cho Báo chí và Dân chúng. Kết quả cuộc khảo sát tạo nên ấn bản đầu tiên của Ðề án về Tính cách Toàn cầu có tựa đề “Thế giới Nghĩ gì trong năm 2002”[19] . Cuộc khảo sát đưa ra câu hỏi sau đây, đặt ra với riêng người Hồi giáo :

Một số người cho rằng việc đánh bom tự sát và các hình thái bạo lực khác hướng đến các mục tiêu dân sự là chính đáng trong tính thần bảo vệ Hồi giáo trước các kẻ thù của họ. Một số khác cho rằng, bất kể từ nguyên nhân nào, hành động bạo lực như thế này không bao giờ được xem là chính đáng. Cá nhân quý vị cảm thấy hành vi bạo lực này thường là chính đáng để bảo vệ Hồi giáo, đôi khi là chính đáng, hiếm khi được coi là chính đáng hay không bao giờ được coi là chính đáng ?

Trước khi nhìn vào kết quả cuộc nghiên cứu này, chúng ta nên hiểu rõ giá trị tầm quan trọng của các nhóm từ ghép “đánh bom tự sát” và “các mục tiêu dân sự”. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người Hồi giáo đã được thăm dò một cách khoa học (với tỉ số sai biệt chênh lệch từ 2 đến 4 phần trăm) xem họ có ủng hộ (“thường”, “độ khi”, “hiếm khi” hay “không bao giờ”) việc giết người và gây thương tật cho đàn ông , đàn bà, trẻ em một cách có chủ tâm và để bảo vệ Hồi giáo. Sau đây là một vài kết quả từ nghiên cứu của tổ chức Pew :

ÐÁNH BOM TỰ SÁT ÐỂ BẢO VỆ HỒI GIÁO

Chính đáng hay không?

  Chính đáng Không CÐ Không Biết/Từ chối
 
Lebanon 73 21 6
Ivory Coast 56 44 0
Nigeria 47 45 8
Bangladesh 44 37 19
Jordan 43 48 8
Pakistan 33 43 23
Mali 30 57 11
Ghana 30 57 12
Uganda 29 63 8
Senegal 28 69 3
Indonesia 27 70 3
Turkey 13 73 14

Nếu bạn thấy những con số này chửa đủ phiền muộn, hãy nhớ là những nơi như Saudia Arabia, Yemen, Egypt, Iran, Sudan, Iraq và các khu vực của người Palestine không hề có trong kết quả khảo sát trên. Nếu các nước này ở trong danh sách, những người Lebanon chắc chắn mất vị trí hàng đầu của họ phải dưới nhiều bậc. Ðánh bom tự sát ,dĩ nhiên là dẫn đến việc tự sát mà hầu hết người theo đạo Hồi tin rằng đã bị Thượng đế cấm đoán rõ ràng. Hậu quả là, nếu nhu câu hỏi là “ Có từng là chính đáng để nhắm vào các mục tiêu dân sự nhằm bảo vệ Hồi giáo”, chúng ta sẽ thấy được một sự ủng hộ lớn hơn từ tín đồ Hồi giáo cho chủ nghĩa khủng bố.

Nhưng kết quả khảo sát của Pew thực sự ảm đạm hơn là những gì mang lại trên bảng liệt kê trên. Nhìn kỹ vào các dữ liệu sẽ thấy rằng người thăm dò đã bóp méo kết quả bằng cách nhập nhằng kết quả của “hiếm khi chính đáng” và “không bao giờ chính đáng” với nhau, từ đó dẫn đến một ý nghĩa sai về chủ nghĩa hòa bình của Hồi giáo. Hãy nhìn lại một lần nữa vào dữ liệu của Jordan: 43% dân Jordan rõ ràng đứng về phía bên vực khủng bố, trong khi 48% thì không. Tuy nhiên, vấn đề là, có phải 22% dân Jordan ấy thực sự trả lời câu “hiếm khi chính đáng” và số phần trăm này tính vào gần một nửa của các câu trả lời “không”. “Hiếm khi chính đáng” vẫn có nghĩa là ở một số trường hợp, những người trả lời câu hỏi này có thể đồng ý sự giết hại bừa bãi, không phân biệt vào những con người không tấc sắt trong tay (và đồng ý cả hành vi tự sát nữa), không phải như một sản phẩm phụ có nguyên nhân từ tai nạn của một chiến dịch quân sự mà là một thứ có chủ đích. Một bức tranh rõ ràng hơn về lòng tha thứ của người Hồi giáo về sự khủng bố nổi rõ khi chúng ta tập chú vào phần trăm của những người trả lời vốn không thể nào tìm được trong tâm mình để trả lời “không bao giờ là chính đáng” (bỏ qua một bên những người vẫn lẩn trốn trong bóng che của câu trả lời “Không biết/Từ chối). Nếu chia các dữ kiện ra theo cách phân tích này, mặt trời của tính hiện đại sẽ lặn xuống khỏi thế giới Hồi giáo:

ÐÁNH BOM TỰ SÁT ÐỂ BẢO VỆ HỒI GIÁO

Có khi nào là chính đáng được không?

  Chính đáng Không CÐ Không Biết/Từ chối
 
Lebanon 82 12 6
Ivory Coast 73 27 0
Nigeria 66 26 8
Jordan 65 26 8
Bangladesh 58 23 19
Mali 54 35 11
Senegal 47 50 3
Ghana 44 43 12
Indonesia 43 54 3
Uganda 40 52 8
Pakistan 38 38 23
Turkey 20 64 14

Ðây là những con số bị che dấu. Nếu tất cả mọi người Hồi giáo trả lời như Turkey đã trả lời (nơi mà chỉ có 4 phần trăm cho rằng đánh bom tự sát “thường” là chính đáng , 9 phần trăm là “đôi khi” chính đáng, và 7 phần trăm “hiếm khi”), ta vẫn có một vấn nạn đáng để lo lắng; sau cùng, ta sẽ nói về hơn 200 triệu người thú nhận có ủng hộ nạn khủng bố. Nhưng Turkey là một bán đảo có thiện chí chứ không phải như các phần khác của thế giới Hồi giáo.

Chúng ta hãy tưởng tượng một ngày hòa bình sẽ đến trong vùng Trung Ðông. Người Hồi giáo sẽ nói gì về những vụ đánh bom tự sát mà họ từng rộng rãi tán đồng ? Họ sẽ bảo “Chúng tôi bị điên cả lên vì sự chiếm đóng của Do Thái” hay không ? Họ sẽ bảo “Chúng tôi đã từng là một thế hệ bị tâm thần” hay không ? Họ sẽ giải thích thế nào về những liên hoan theo sau những vụ “nổ thần thánh” ? Một người thanh niên, sinh ra trong hoàn cảnh tương đối khá, gói ghém trong y phục của mình các chất nổ, bi đạn rồi tự hủy mình theo hàng loạt trẻ con khác trong một vũ trường disco, và mẹ y lập tức được chúc tụng bởi hàng trăm hàng xóm láng giềng. Người Palestin sẽ nghĩ thế nào về các hành vi này một khi hòa bình được thiết lập ? Nếu như họ vẫn còn là những tín đồ Hồi giáo ngoan đạo thì đây là những gì họ phải nghĩ : Các con trai mình đã ở trên thiên đàng, và chúng đang dọn đường cho chúng ta đi theo. Chốn địa ngục đã sắp sẵn cho bọn vô đạo rồi”. Ðối với tôi, dường như có một chân lý hết sức hiển nhiên rành rọt của bản chất con người khiến không thể có một nền hoà bình nào, nếu như đã từng được thiết lập, có thể tồn tại lâu giữa những niềm tin như thế này.

Chúng ta không nên xem thường thực tế là một số phần trăm đáng kể của các niềm tin Hồi giáo trong thế giới chúng ta cho rằng những kẻ phá xập tòa nhà Thương mại Quốc tê giờ đang ngồi ngay bên phải của Thượng đế, giữa các dòng sông nước chảy tinh khiết, các dòng suối của sữa tươi mát, các dòng sông rượu nho ngọt ngào cho kẻ nào được uống cùng các dòng sông của mật ong tinh khiết” (47:15). Những kẻ này – đã cắt đứt cuống họng những chiêu đãi viên hàng không và giao nộp các cặp vợ chồng trẻ cùng con cái của họ đến cho thần chết ở tốc độ năm trăm dặm một giờ - hiện nay đang được “chăm sóc bởi các trẻ trai mãi mãi thanh xuân” trong một “vương quốc sung sướng và huy hoàng.” Họ chưng diện trong các y phục bằng lụa xanh cùng kim tuyến dầy đặc, tô điểm bằng những dây vàng bạc” (76:15). Danh sách các bổng lộc của họ thì vô kể. Nhưng cái gì đã đánh thức các vị thánh tử đạo ấy thức dậy trong buổi sáng cuối cùng giữa những người sống chung quanh mình ? Có ai trong số mười chín không tặc ấy vội vã đến khu vườn của Allah đơn giản chỉ vì muốn nhận thưởng phần lụa là của mình ? Rất đáng ngờ là như thế. Sự mỉa mai ở đây chính là một phép lạ trong chính cái lý do của nó: ngày nay, những kẻ bị ức chế tình dục nhất trong cuộc sống - những kẻ bị kích động đến cơn phẫn nộ giết chóc để được hưởng những gì như trong phim truyền hình Baywatch - bị quyến rũ vào tử đạo từ một ý niệm thiên đàng vốn thêu dệt nên bởi những điều không khác gì hình ảnh trên bức tranh treo trên tường vẽ một ổ chứa điếm.[20]

Ngoài những hậu quả luân lý khủng khiếp đến từ những kiểu cách trần tục khác này, chúng ta nên chú ý đến sự đáng ngờ vực của loại thiên đường trong kinh Koran này sâu nặng đến đâu. Thay vì để cho một nhà tiên tri vào thế kỷ thứ bảy phán được rằng thiên đàng là một vườn cảnh, hoàn thiện bởi các dòng sông của sữa và mật ngọt, tốt hơn nên để cho một nhà tiên tri của thế kỷ hai mươi mốt mô tả thiên đàng như một thành phố tráng lệ nơi tất cả các linh hồn đều lái xe Lexus mới tinh. Một chút suy nghĩ sẽ lập tức nhận ra rằng những công bố như thế chẳng cho thấy một điều gì về thế giới kế tiếp và chỉ thực giới hạn trong các tưởng tượng của con người mà thôi.


(còn tiếp)>>


Chú thích:

[12] A. Cowel, “Zeal for Suicide Bombing Reaches British Midland” New York Times, ngày 2 tháng Năm, 2003. Hãy thử suy nghĩ trường hợp của Anh quốc : những người Hồi giáo quốc tịch Anh đã được tìm thấy đang chiến đấu cùng Taliban, đã sắp đặt âm mưu khủng bố ở Yemen, toan làm nổ tung các chuyến bay và bắt cóc cũng như sát hại các nhà báo tại Pakistan. Gần đây, hai công dân Anh đã tình nguyện cho sứ mạng tự sát ở Do thái (một người đã thành công, người kia thất bại).

Terrorist Hunter (New York:HarperCollins, 2003), mà tác giả ẩn danh đã bí mật thu băng tiến trình ở một cuộc họp của người Hồi giáo trong nước Mỹ, mô tả một mức độ đáng sợ của sự bất dung giữa những người Hồi giáo sống ở Tây phương. Tác giả đã tường thuật là ở một hội nghị, tổ chức tại khách sạn Ramada ở ngoại ô Chicago, trẻ em Mỹ gốc Ả rập đã trình diễn các vở kịch châm biếm trong đó có những cảnh diễn tả việc giết hại người Do Thái để trở nên các thánh tử đạo. Sheik Ikrima Sabri, vị đại giáo sĩ của Jerusalem và Palestine (được bổ nhiệm bởi Yasir Arafat), gần đây đã công bố: “Bọn Do thái không dám làm phiền đến ta, bởi vì chúng là những sinh vật hèn hạ nhất mà đấng Allah từng tạo nên… Ta bảo chúng: các ngươi ham sống chừng nào, chúng ta ham chết và tử đạo chừng nấy” (ibid., 134). Sabri, kẻ luôn luôn kêu gọi huỷ diệt nước Mỹ và tất cả các quốc gia vô đạo khác đồng thời luôn khuyến khích trẻ con trở thành những kẻ đánh bom tự sát. (“Các tử đạo càng trẻ chừng nào, ta càng khâm phục hơn” – ibid., 132), phát biểu những điều này không phải từ các ngôi đền Hồi giáo ở Tây ngạn nhưng ở tại chính ở Hội nghị thưòng niên lần thứ hai mươi sáu của giới Hồi giáo tại Bắc Mỹ, ở Cleveland, Ohio.

[13] Lewis, Crisis of Islam, xxviii

[14] Ruthven, Islam in The Wolrd, 137.

[15] Yosuf Islam, bằng sự lịch duyệt của mình, đã trình bày như sau trong bài trả lời những ai ngạc nhiên về việc ông tán thành rõ ràng sắc luật của Khomeini:

Trong khuôn khổ luật pháp của Hồi giáo, các điều luật về sự phỉ báng rất rõ ràng; kẻ nào vi phạm phải bị giết chết. Sự ăn năn chỉ được chấp nhận trong một số trường hợp…Thực tế là chừng nào việc áp dụng luật Hồi giáo và sự thực hiện đầy đủ phong cách sống Hồi giáo ở Anh quốc được quan tâm đến, những người Hồi giáo ý thức rằng sẽ có rất ít cơ hội cho điều ấy được xảy đến trong một tương lai gần. Nhưng điều ấy không thể ngăn cản chúng ta cải thiện tình hình và trình bày quan điểm Hồi giáo ở bất cứ khi nào, nơi nào có thể làm được. Đó là bổn phận của mội tín đồ Hồi giáo và đó là điều tôi đã làm.

( Xem catstevens.com/artivles/00013). Nếu ngay cả đến một chàng cựu hippie có ăn học mà ăn nói như thế này, thì bạn nghĩ xem các ý kiến trên đường phố ở Tehran sẽ ra sao ?

[16] K. H. Pollak, “’The Crisis of Islam’: Faith and Terrorism in the Muslim World”. New York Times Book Review, ngày 6 tháng Tư năm 2003.

[17] Như Thomas Carlyle (1795-1881)đã viết :”Tôi phải nói rằng, thật là một sự đọc khổ nhọc mà tôi đã từng làm. Một mớ lộn xộn rối beng tẻ nhạt, lỗ mãng, trước tác kém, lập đi lập lại không dứt, dài dòng chán ngắt, vướng víu lung tung… tóm lại là một sự ngu xuẩn không thể chịu được trong kinh Koran”. Trích từ Islam in The World, của Ruthven, 81-82.

[18] Trích dẫn từ P. Berman, Terror and Liberalism (New York: W. W. Norton, 2003), 68.

[19] www.people-press.org

[20] Christopher Luxenberg (đây là một bút hiệu), một học giả về ngôn ngữ Do Thái cổ, gần đây đã tranh luận rằng việc dịch sai có trách nhiệm trong sự trang bị các “trinh nữ” cho cõi thiên đàng (chữ Ả rập hur, chuyển ngữ thành “trinh nữ thiên đàng”-thực ra là “những thứ màu trắng”). Có lẽ những đoạn diễn tả về thiên đàng trong kinh Koran đã lấy từ các kinh bản Kitô giáo trước đó khiến trở thành việc xử dụng thường xuyên của chử Ả rập hur, có nghĩa là “nho màu trắng”. Nho trắng dường như là một cao lương mỹ vị thời cổ đại. Thử tưởng tượng hình ảnh khuôn mặt của một vị thánh tử đạo trẻ khi, thấy mình đang ở trên thiên đàng nhung nhúc các tên du côn đồng loại, và bảy mươi hai trinh nữ thiên đàng hiện đến như một nắm nho trắng. Xin đọc A. Stille, “Scholars Are Quietly Offering New Theories of the Koran, ” New York Times, ngày 2 tháng ba, 2002.

 

Trang Tôn Giáo