Sam Harris: Tận cùng của Ðức tin

Lê Quốc Tuấn chuyển Việt

¿ Mục lục toàn bài bản in ngày 24 tháng 12, 2009

CHƯƠNG 2 (tiếp theo)

Ðức Tin và Sự Ðiên Loạn

Chúng ta đã thấy rằng niềm tin của chúng ta kết chặt vào cấu trúc của ngôn ngữ và cấu trúc rõ ràng của thế giới. Sự “tự do tin” của chúng ta, nếu có từng hiện hữu, chỉ là ở mức tối thiểu. Phải chăng người ta thực sự có tự do tin vào một công bố mà y không hề có bằng chứng ? Không. Bằng chứng (dù thuộc về cảm giác hay thuộc về lý luận hữu lý) là điều duy nhất cho thấy một niềm tin có sẵn là thực sự có ý nói về thế gian ngay tự khởi đầu. Chúng ta có những danh xưng cho loại người có nhiều niềm tin không hề minh xác hữu lý được. Khi các niềm tin của họ trở nên cực phổ biến ta gọi đó là “tôn giáo”; nếu không, chúng nên được gọi là “điên”, ”tâm thần” hoặc “ảo tưởng”. Hầu hết những người của đức tin đều lành mạnh tuyệt đối, dĩ nhiên, ngay cả những người gây nên những tội ác từ niềm tin của mình. Nhưng sự khác nhau giữa một kẻ tin rằng Thượng đế sẽ thưởng y bảy mươi hai trinh nữ nếu y giết được nhiều thanh thiếu niên Do Thái, với kẻ tin rằng các sinh vật từ chùm sao Alpha Centauri đã rọi đến y những thông điệp của hoà bình thế giới từ cái máy sấy tóc của y là gì? Chắc chắn có một khác biệt, nhưng đó không phải là điều để đặt đức tin tôn giáo vào trong ánh sáng của tôn vinh.

Phải cần đến một kiểu, loại người đặc biệt nào đó để tin vào những gì mà vốn không ai tin được. Bị cai quản bởi những ý tưởng mà mình không hề có chứng cứ gì (do đó không thể minh định được qua thảo luận trao đổi với một người khác) nói chung là một chỉ dấu cho thấy có điều gì rất là không đúng trong suy nghĩ của mình. Rõ ràng, số đông thì sáng suốt. Thế mà, chỉ một tình cờ ngẫu nhiên của quá khứ đã được xem như bình thường trong xã hội của chúng ta để tin rằng Ðấng tạo nên muôn loài có thể nghe được suy nghĩ của bạn, dù nó được chứng mình theo kiểu bệnh thần kinh để tin rằng Người giao tiếp được với bạn bằng những tiếng mưa đập vào cửa sổ phòng ngủ của mình theo mã Morse. Và do đó, dù những người tin đạo không hề loạn trí, thì chắc chắn các niềm tin cốt lõi của họ đã điên loạn. Ðiều này không có gì ngạc nhiên, bởi vì hầu hết các tôn giáo đã từng phong thánh một số sản phẩm của ngu dốt và loạn trí thời trung cổ rồi truyền lại cho chúng ta như thể chúng là những sự thực có từ ban sơ. Ðiều này dẫn đến việc hàng tỉ chúng ta tin vào những điều mà không một người lành mạnh nào có thể tự mình tin được. Thực ra, khó có thể tưởng tượng ra một tập hợp các niềm tin gần với bệnh tâm thần hơn là các niềm tin nằm trong tâm khảm của đa số truyền thống tôn giáo của chúng ta. Hãy thử xem xét một trong những nền móng của đức tin Công giáo :

Tôi cũng công bố rằng trong Thánh lễ, một sự hy sinh thực sự đúng

đắn làm nguôi giận đã dâng lên Thiên chúa thay cho những người sống

và kẻ chết, và rằng thân xác cùng máu huyết cùng linh hồn và thần

thánh của chúa Jesus chúng ta đã thực sự, đúng như thế chứ không hề

tưởng tưọng đã dâng hiến trong một sự thiêng liêng nhất của phép

Mình thánh chúa, và phép ấy mang ý nghĩa một sự hoán đổi của chất

bánh mì thành thân xác, và toàn thể rượu đỏ thành máu, và sự này

nhà thờ công giáo gọi là sự hóa thể. Tôi cũng công bố rằng tất cả và

toàn bộ Chúa Jesus cùng bánh rượu lễ đã được tiếp nhận trong từng

phần dạng riêng.[30]

Chúa Jêsu, hoá ra, là người sinh từ một trinh nữ, đánh lừa được sự chết và trở dậy về nước thiên đàng bằng thân xác mình- giờ có thể ăn được người trong hình dạng một mẩu bánh. Cùng một vài từ Latin được chua thêm vào rượu ngon Burgundy là bạn có thể uống máu của Người được nữa. Có nghi ngờ gì rằng một kẻ tin vào những niềm tin này nên được xem là bị loạn trí ? Hay nói cho đúng hơn, có nghi ngờ gì là y bị loạn trí không ? Nguy hiểm của đức tin tôn giáo là ở chỗ nó cho phép những con người lẽ ra bình thường thu hoạch hoa quả của sự điên loạn và nghĩ rằng chúng thiêng liêng. Vì mỗi một thế hệ trẻ con mới đều được dạy dỗ rằng các tiền đề tôn giáo không cần phải minh định lại trong cách cách thức như những thứ tiền đề khác, nền văn minh vẫn bị chặt đầu bởi các đội quân lố bịch. Ngay cả lúc này, chúng ta đang giết hại lẫn nhau vì những chữ nghĩa thời cổ đại. Ai có thể nghĩ được đến một điều gì vô lý đầy thảm kịch như thế có thể xảy ra?

Chúng ta nên Tin vào cái gì ?

Chúng ta tin hầu hết những gì chúng ta tin về thế gian bởi vì những người khác bảo chúng ta tin như vậy. Trông cậy vào uy tín của những người có chuyên môn, hoặc các chứng thực của những con người thông thường, là những thứ mà từ đó các quan điểm về thế gian đã được hình thành. Thực ra, càng có học thức chừng nào, các niềm tin của chúng ta càng đến với chúng ta bằng sự gián tiếp hơn. Một kẻ tin vào những giả định mà mình chỉ có có thể cung cấp được những minh giải bằng cảm giác hay lý thuyết suông sẽ là một người hầu như chẳng biết gì về thế gian; nghĩa là, nếu như y không bị giết ngay lập tức bởi sự ngu dốt của mình. Làm thế nào để biết được rằng té từ một khoảng cách cao xuống là nguy hiểm cho tính mạng ? Trừ khi mình chứng kiến một người nào đã chết vì té như vậy, mình đã nhận được niềm tin này từ căn cứ của một người khác.[31] Ðây không phải là một điều khó hiểu. Ðời sống quá ngắn và thế gian thì quá phức tạp để cho chúng ta có thể đơn độc trong các phạm trù của nhận thức luận. Chúng ta từng trông cậy vào tri thức và sự chính xác nếu không thì là trông cậy vào lòng tốt của những người lạ.

Song le, điều này không hề có ý là tất cả các hình thức của căn cứ, uy tín đều có giá trị, ngay cả các căn cứ tốt nhất cũng không luôn luôn đáng tin cậy. Có những lý lẽ đúng, có những lý lẽ sai, có những nhận xét chính xác, có cái không; và mỗi một chúng ta phải là người phán quyết cuối cùng xem nên hay không nên để chấp nhận rước vào mình một niềm tin có sẵn về thế gian.

Thử cân nhắc những nguồn gốc thông tin sau :

1. Viên xướng ngôn viên trong chương trình tin tức buổi tối nói rằng một đám cháy lớn đang hoành hành tại tiểu bang Colorado. Một trăm ngàn mẫu khu dân cư đã ra tro và ngọn lửa vẫn còn chưa suy chuyển.

2. Các nhà sinh học nói rằng DNA là các căn bản phân tử cho sự tái tạo tình dục. Mỗi con người chúng ta giống cha mẹ mình bởi vì chúng ta thừa kế một DNA bổ sung từ họ. Mỗi chúng ta có chân, tay bởi vì DNA của mình đã được mã hoá để các chất bổ dưỡng giúp tạo nên tứ chi ấy ngay từ trong giai đoạn mới phát triển.

3. Ðức Giáo Hoàng nói rằng chúa Jesus đã được sinh ra từ một đồng trinh và thân xác đã sống lại sau khi chết đi. Người là con trai của Thượng đế, đấng đã tạo nên vạn vật muôn loài trong sáu ngày. Nếu bạn tin điều này, bạn sẽ được lên nước thiên đàng sau khi chết đi, nếu không tin, bạn sẽ phải xuống địa ngục, nơi bạn phải chịu khổ hình đời đời.

Ðâu là sự khác biệt giữa những dạng chứng thực này ? Tại sao không phải tất cả các “ý kiến chuyên môn” đều đáng cho chúng ta tôn trọng như nhau ? Phân tích đến đấy sẽ không có gì khó khăn để tin vào điều 1, điều 2 trong khi phải bỏ đi điều 3.

Tiền đề 1 : Tại sao chúng ta thấy bản tin về hỏa hoạn ở Colorado có thuyết phục ? Tin ấy có thể là một chuyện hoang đường thôi. Nhưng còn những hình ảnh truyền hình các ngọn đồi đang bốc lửa và các máy bay đang rải thuốc chữa cháy xuống thì sao ? Hay có thể có một đám hỏa hoạn, nhưng là ở tiểu bang khác cơ. Có lẽ chính ra là Texas đang bị hoả hoạn thì đúng hơn. Phân vân về những giả thiết như thế có hợp lý không ? Không. Tại sao không ? Ðây chính là lúc nhóm chữ “hiểu biết thông thường” bắt đầu hưởng được sự tín nhiệm. Có được những niềm tin về tri thức con người, sự thành công từ các hợp tác rộng rãi của chúng ta với những con người khác, cùng mức độ mà chúng ta vốn tin cậy vào các tin tức, thật hiếm khi mà một hệ thống truyền hình uy tín cùng một người xướng ngôn có lương hậu lại tạo ra một tin nhảm, hay là cả ngàn lính cứu hỏa, các gia chủ kinh hoàng kia lại tưởng lầm Texas thay vì Colorado. Những tiềm tàng ẩn chứa trong các phán xét theo lẽ thông thường kia ẩn náu một hiểu biết về những liên hệ nhân quả giữa các tiến trình khác nhau trên thế gian, những cái có thể đúng của các kết quả khác nhau, tầm quan trọng có liên quan hoặc thiếu sót từ đấy, của những ẩn ý mà chúng ta còn đang phải minh xét. Một người xướng ngôn viên truyền hình chuyên nghiệp được lợi lộc gì để dối gạt về một vụ hỏa hoạn ở Colorado ? Chúng ta không cần phải đi vào chi tiết ở đây; nếu người xướng ngôn viên loan báo có một vụ hỏa hoạn ở Colorado và chiếu cho chúng ta xem những hình ảnh cây cối cháy rụi, chắc chắn chúng ta tin ngay rằng thực đang có hỏa hoạn ở Colorado.

Tiền đề 2 : Thế còn các “chân lý” của khoa học ? Chúng có đúng không ? Ðã có nhiều sách vở viết về tính cách tạm thời cố hữu của các lý thuyết khoa học. Karl Propper từng cho chúng ta biết rằng chúng ta chưa từng chứng minh được một lý thuyết nào đúng cả; chúng ta chỉ không chứng mình được là chúng sai mà thôi. [32] Thomas Kuhn dạy chúng ta rằng lý thuyết khoa học chịu đựng những hàng loạt sửa chữa trong từng thế hệ do đó không hội tụ về chân lý được.[33] Không có gì đã được nói trước về những lý thuyết hiện tại của chúng ta sẽ bị chứng minh là sai lầmtrong một ngày mai, do đó chúng ta tin tưởng các lý thuyết khoa học được bao nhiêu ? Nhiều người tiêu thụ bất cẩn của những ý tưởng này đã kết luận rằng khoa học cũng chỉ là một lãnh vực khác của các bàn luận của nhân loại và do vậy không còn bắm chặt được vào các sự thực của thế gian này hơn văn chương và tôn giáo. Tất cả chân lý đều hoàn toàn nháo nhào cả.

Nhưng tất cả các phạm vi của bàn luận đều không ở trên cùng một nền tảng, vì lý do đơn giản là không phải tất cả các bàn luận cùng tìm đến một nền tảng chung (hay bất kỳ nền tảng nào). Khoa học là khoa học bởi vì khoa học tiêu biểu cho các nỗ lực cao nhất của chúng ta để minh định được rằng những trình bày của chúng ta về thế gian là đúng (hoặc tối thiểu là không sai lầm).[34] Chúng ta thực hiện điều này bằng nhận xét quan sát và chứng nghiệm trong phạm vi nội dung của một lý thuyết. Ðể nói rằng một lý thuyết khoa học có sẵn có thể là sai không có nghĩa là bảo lý thuyết đó sai trong tất cả tính chất của nó, hay là bất kỳ các lý thuyết nào khác cũng hưởng được cơ hội ngang bằng nhau để được là đúng. Có khả năng nào cho thấy rằng DNA không phải là căn bản của sự thừa kế mang tính di truyền ? Ðấy, nếu nó không phải thì chắc ngưòi Mẹ thiên nhiên của chúng ta phải thực hiện rất nhiều giải thích. Thiên nhiên phải giải thích các kết quả của năm mươi năm thí nghiệm, vốn đã minh chứng được mối tương quan đáng tin cậy giữa dạng di truyền và hiện tượng (kể cả các ảnh hưởng có thể tái lập được của các hoán chuyển qua lại đặc thù có tính di truyền. Bất cứ lợi ích nào của sự kế truyền thay thế được các giả định hiện tại của sinh học phân tử sẽ trở thành lợi ích cho cả một đại dương những dữ liệu hiện đang phù hợp với những giả định này. Có thể nào một ngày kia chúng ta khám phá ra rằng DNA tuyệt đối không có liên quan gì với sự di truyền? Hoàn toàn không thể có được.

Tiền đề 3 : Chúng ta có thể tin vào uy tín của đức Giáo Hoàng ? Dĩ nhiên là hàng triệu người Công giáo đã tin thế. Thực ra, ông không thể sai lầm được trong các sự việc về đức tin và đạo đức. Chúng ta có thể thực sự nói rằng đạo Công giáo sai lầm khi tin vào những điều ông ta phát biểu ? Chắc chắn chúng ta có thể nói được như thế.

Chúng ta hiểu rằng không có bằng chứng nào có thể đủ để minh xác nhiều niềm tin chính yếu của đức giáo hoàng. Làm sao một con người sinh ra trong thế kỷ hai mươi lại có thể biết được là Jeusu thực đã sinh ra từ một người con gái trinh trắng ? Tiến trình suy luận, thần bí hay cái gì khác đã có thể mang lại các sự thực cần thiết về cái lịch sử tình dục của một người đàn bà kiểu Galilê (các sự thực vốn có chiều hướng hoàn toàn ngược lại với những sự thật nổi tiếng về sinh học nhân loại) ? Không thế có một tiến trình như vậy. Ngay cả một cỗ máy thời gian cũng không giúp chúng ta được, trừ khi chúng ta sẵn lòng canh chừng bà Mary hai mươi bốn giờ một ngày trong suốt những ngày tháng chung quanh khoảng thời gian có thể thụ thai ông Jesus.

Bên trong hay tự bản thân các kinh nghiệm hão huyền không bao giờ có thể đủ để trả lời cho những tra vấn của các sự thực đã qua. Thử cho rằng đức giáo hoàng nằm mơ thấy Jesus, và Jesus đã đến rõ ràng như từ cọ vẽ của Da Vinci ra thì đức giáo hoàng cũng không thể có được tư cách để nói rằng chúa Jesus trong giấc mơ của ông trông giống hệt như chúa Jesus thật. Sự không thể sai lầm của đức giáo hoàng, bất kể đến bao nhiêu giấc mơ và sức nhìn ông có thể có, cũng không thể ngay cả kéo dài đến việc đưa ra những nhận xét rằng có thể chúa Jesus của lịch sử có hàm râu, chứ chưa nói gì đến việc ông có phải là con trai của Thượng đế, sinh ra từ một người trinh nữ hoặc có thể sống lại sau khi chết. Ðây không phải là những dạng tiền đề mà các kinh nghiệm tâm linh có thể minh xác được.

Dĩ nhiên, chúng ta có thể tưởng tượng ra một kịch bản trong đó chúng ta cho ảo mộng của đức giáo hoàng hay cho chính mình sự tin tưởng. Nếu như Jesus đến và nói những điều như “Thư viện của Vatican có đúng ba mươi bảy ngàn hai mươi sáu cuốn sách” và điều đó là đúng sự thật thì chúng ta ắt có cảm giác là, tối thiểu, chúng ta đang nói chuyện được với một người có chút điều để nói về chuyện của thế gian. Cứ lấy số lượng đủ của các trình bày có thể kiểm chứng được, gặt hái trong chín từng mây từ mơ màng của đức giáo hoàng, chúng ta có thể khởi sự nói chuyện nghiêm chỉnh về các khẳng định khác mà Jesus có thể nói đến. Ðiểm chính là ở chỗ tín nhiệm của ông có thể bắt nguồn từ phương cách duy nhất mà uy tín ấy từng có được- bằng cách tạo nên các khẳng định về thế gian có thể chứng thực được bằng những phán xét khác nữa. Ðối với cân nhắc cho tiền đề số 3, hiển nhiên là đức giáo hoàng không có gì để căn cứ vào trừ bản thân cuốn thánh kinh. Tài liệu (thánh kinh) này không phải là một phán xét đủ cho các niềm tin của ông ta, nếu căn cứ vào những chuẩn mực của chứng cứ vốn lưu hành vào thời điểm kinh sách này được soạn thảo.

Thế còn về sự tự do gần như vô địch vào các niềm tin đạo giáo của chúng ta thì sao ? Chúng thực chẳng có gì khác với các tự do của chúng ta về niềm tin vào báo chí hoặc vào ngành sinh học- và bất cứ ai tin rằng báo chí truyền thông đang gây ra một âm mưu hỏa hoạn vĩ đại, hay tin rằng sinh học về phân tử chỉ là một lý thuyết có thể minh chứng được là hoàn toàn sai lầm, đã chỉ thực hành quyền tư do suy nghĩ của y như một kẻ ngu dốt. Sự phi lý của tôn giáo đáng dành được một sỉ nhục nặng nề hơn trong các luận bàn của chúng ta, nếu như chúng vẫn còn tồn tại giữa các nguyên nhân chính của các xung đột vũ trang trong thế giới của chúng ta. Trước khi quý bạn đến phần cuối của chương này, chắc có lẽ một người nào khác nữa đã chết vì những điều gì mà ai đó tin về Thượng đế. Chắc có lẽ đến lúc chúng ta yêu cầu những con người đồng loại của mình nên có các lý lẽ khá hơn để duy trì những khác biệt tôn giáo của họ nếu như những lý lẽ đó từng hiện hữu.

Chúng ta phải khởi sự phát biểu tự do về những gì thực sự chứa trong các sách thánh thiêng của chúng ta, vượt lên trên các tư tưởng không chính thống bẽn lẽn của nền hiện đại - các vị mục sư đồng tính nam, nữ, các giáo sĩ Hồi giáo từng đánh mất sở thích của mình vì các què cụt của công chúng, hay những người đi lễ nhà thờ mỗi chủ nhật chưa bao giờ đọc thông Thánh kinh. Một nghiên cứu tỉ mỉ những kinh sách này và lịch sử đã cho thấy rằng không có một hành vi tàn ác kinh hoàng không thể bị phán xét được.Chính chỉ vì các hết sức né tránh kiểu nhào lộn nghệ thuật trong các chương đoạn mà các quy tắc kinh điển chưa từng bao giờ ngờ được rằng chúng ta có thể thoát khỏi sự giết hại lẫn nhau triệt để cho hào quang của Thượng đế. Bertrand Russell đã có lý khi ông nhận xét như sau :

Những người Tây ban Nha ở Mễ Tây cơ và Pêru thường rửa tội cho các trẻ em thổ dân da đỏ rồi ngay lập tức đập vỡ sọ chúng ra: bằng các phương cách này họ đảm bảo được những đứa trẻ ấy lên được cõi thiên đàng. Không một người Kitô giáo chính thống nào có thể tìm được một lý lẽ gì để đả phá các hành động của họ, mặc dù tất cả thời nay làm như thế. Trong biết bao phương cách không thể đếm xuể cái học thuyết về tính bất tử của cá nhân trong hình thái Kitô giáo của nó đã có những hậu quả huỷ hoại đến đạo lý…[35]

Ðúng là đức tin đã chuyển hóa hàng triệu con người để thực hiện được những hành động hy sinh thân mình một cách phi thường cho lợi ích của tha nhân. Sự trợ giúp đem đến cho người nghèo của các dòng tu Kitô trong những quốc gia đang phát triển minh chứng rằng các lý tưởng tôn giáo có thể dẫn đến những hành động vừa cao đẹp vừa cần thiết. Nhưng có những lý lẽ cho sự hy sinh tốt đẹp hơn nhiều so với những lý lẽ mà tôn giáo từng có thể mang lại.Cái sự thật rằng đức tin từng khuyến khích được bao người làm điều tốt lành không thể mang lại ý nghĩa rằng đức tin tự nó là một sự cổ vũ cần thiết (hoặc tốt) cho điều thiện. Thật khá dể dàng và còn hợp lý nữa, để hy sinh mạng sống người này nhằm cứu vớt kẻ khác mà không phải tin vào bất cứ lý tưởng kỳ cục gì về bản chất của vũ trụ.

Ngược lại, những tội ác khủng khiếp nhất chống lại nhân loại đã luôn luôn từng được xúi dục bởi những niềm tin phi lý. Ðây gần như là một sự thật quá hiển nhiên. Các kế hoạch diệt chủng có khuynh hướng không phản ánh sự hợp lý của thủ phạm đơn giản bởi vì không thể có nguyên nhân tốt lành nào cho việc giết hại những con người hiền lành một cách bừa bãi. Ngay cả ở những nơi tội ác là chuyện trăm năm mới xảy ra một lần, chúng đã phải cần đến một sự quá đỗi nhẹ dạ của cả xã hội để đưa đến thành công. Hãy nghĩ đến hàng triệu người bị giết bởi Mao và Stalin: dù những bạo chúa này chỉ thừa nhận ngoài miệng đối với lẽ phải, chủ nghĩa cộng sản không có gì lớn lao hơn một thứ tôn giáo chính trị.[36] Ngay tâm điểm của con bạch tuộc đàn áp và khủng bố ẩn nấp một tư tưởng tàn nhẫn, đến nỗi bao thế hệ đàn ông đàn bà phải hy sinh. Dù các niềm tin của họ không vươn đến được tầng cao hơn của thế gian, họ đều là các loại giáo phái và ngu xuẩn. Ðể dẫn chứng chỉ cần đến một thí dụ: chính cái học thuyết được ôm ấp bởi ngành sinh học “xã hội chủ nghĩa” của Lysenko-như để phân biệt với sinh học “tư bản chủ nghĩa” của Mendel và Darwin- đã giúp dọn đường cho hàng chục triệu cái chết của phụ nữ ở Liên Xô và Trung Hoa trong phầu đầu của thế kỷ hai mươi.

Trong chương kế tiếp chúng ta sẽ mổ xẻ hai hồi đen tối nhất của lịch sử đức tin: thời đại tòa dị giáo và Lò thiêu người Do Thái. Tôi đã chọn thời đại tòa dị giáo làm một trường hợp nghiên cứu bởi vì không có một thí dụ nào mà quá nhiều đàn ông đàn bà bình thường đã loạn trí vì niềm tin vào Thượng đế đến thế, không ở đâu khác có sự đánh đổ lý lẽ quá trọn vẹn hay hậu quả của nó quá khủng khiếp như thế. Lò thiêu người Do thái cũng thích đáng để được xem xét ở đây vì nó từng được xem như một hiện tượng hoàn toàn thế tục. Thực ra không phải như thế. Chủ nghĩa bài Do thái vốn xây nên lò thiêu người từ từng viên gạch một-và vẫn còn phát triển đến ngày nay-đã đến với chúng ta chính bằng phương tiện của thần học Kitô giáo. Dù có được biết đến hay không, chính những đảng viên Quốc xã là các đại biểu của tôn giáo.

 

Chú thích:

[30] Ðoạn trích dẫn có thể tìm trong The Profession of Faith of the Roman Catholic Church.

[31] Niềm tin rõ ràng này có nền tảng thần kinh và hành xử tuyệt đối, và rõ ràng là một sự kiện của sự thừa kế có tính di truyền của chúng ta. Những động vật cấp thấp sẽ được tự lưu ý trước, không có thói quen trượt chân khỏi vách đá.

[32] K. Popper, The Logic of Scientific Discovery (1959; reprint, London;Routledge, 1972), và Objective Knowledge (1972. Reprint, Oxford Claredon Press, 1995)

[33] T. Kuhn, The Structure of Scientific Revolution (1962; reprint, Chicago: Univ. of Chicago Press 1970)

[34] Cả Popper và Kuhn đều có các điều rất hữu ích và thích thú để nói về triết lý của khoa học và về các vấn nạn mà chúng ta đang đối đầu trong việc khẳng định mình biết được thế giới ra sao, nhưng một ảnh hưởng từ công trình của họ, đặc biệt cho những ai chưa từng đọc, đã sinh ra sự nở rộ của những tư tưởng kỳ khôi trong các sân trường đại học. Trong khi có những vấn đề chân thực của nhận thức luận để nghĩ đến, lại có những thay đổi tiệm tiến của tính hợp lý có thể được trân trọng từ bất kỳ kẻ điên loạn nào. Quả là không phải tất cả khẳng định về kiến thức đều ở cùng chung một nền tảng.

[35] B. Russell, Why I am not a Christian, ed., P. Edwards (New York:Simon and Schuster 1957); 35.

[36] J. Glover, Humanity, A Moral History of the Twentieth Century (New Haven: Yale Univ., Press, 1999). Cùng một ghi chú, xem thêm A. N. Yakolev, A Century of Violence in Soviet Russia (New Haven: Yale Univ., Press, 2002).

 

 

Trang Tôn Giáo