Sam Harris: Tận cùng của Ðức tin

Lê Quốc Tuấn chuyển Việt

¿ Mục lục toàn bài bản in ngày 24 tháng 12, 2009

CHƯƠNG 1

Lẽ phải trong lưu đày

Người thanh niên bước lên khi chiếc xe bus vừa ra khỏi trạm. Y mặc một chiếc áo choàng. Dưới lớp áo của y dấu kín một trái bom. Trong các túi áo, đầy những đinh nhọn, bạc đạn và thuốc chuột.

Chuyến xe đầy khách chạy vào trung tâm thành phố. Người thanh niên ngồi chiếc ghế bên cạnh một cặp trung niên. Y sẽ đợi cho xe đến trạm kế. Cặp trung niên cạnh y đang tìm mua cái tủ lạnh mới. Người phụ nữ thích một loại nhưng ông chồng e ngại kiểu đó mắc quá. Ông chọn một kiểu khác trong tờ quảng cáo đặt trên đùi người vợ. Trạm kế vừa trờ đến. Cửa xe bus bung mở ra. Người đàn bà quan sát thấy kiểu tủ lạnh chồng bà lựa không vừa với dàn tủ trong nhà bếp của họ. Những hành khách mới lên đã ngồi kín đến chiếc ghế trống cuối cùng rồi tiếp tục đứng ra cả giữa lối đi. Chiếc xe bus bây giờ đầy ứ. Gã thanh niên mỉm cười. Chỉ một cái ấn nút nhẹ, y đã tự hủy chính mình cùng đôi vợ chồng trung niên bên cạnh và hơn hai mươi người khác trên chuyến xe. Những đinh nhọn, bạc đạn và thuốc chuột bắn tung tóe nhằm vào nhiều nhân mạng nữa trên đường phố và các xe cộ chung quanh. Tất cả xảy ra đúng như kế hoạch đã định.

Chẳng bao lâu sau đó, cha mẹ gã thanh niên biết được số phận của y. Dù buồn vì mất đi đứa con trai, nhưng họ vô cùng tự hào về thành quả của y. Họ biết y đã đến được cõi thiên đàng và sẽ dọn đường cho họ đến sau. Y cũng đọa đày được những nạn nhân của mình vào chốn địa ngục đời đời. Thật là một thắng lợi nhân đôi. Làng xóm láng giềng nhìn sự kiện này như một dịp trọng đại để ăn mừng và vinh danh cha mẹ gã thanh niên bằng cách biếu tặng họ tiền bạc và thực phẩm.

Những điều này là sự thật. Ðây là tất cả những điều mình biết chắc về gã thanh niên ấy. Ta có thể suy luận ra điều gì khác từ hành vi của y hay không? Y có hòa đồng với mọi người trong trường học không? Y giàu hay nghèo? Thông minh hay kém cỏi? Hành vi của y không để lại một dấu vết gì cả. Chẳng hiểu y có tốt nghiệp cao đẳng hay chưa? Liệu y có một tương lai kỹ sư cơ khí sáng sủa hay không? Hành vi của y đơn giản chỉ lặng im trước hàng trăm câu hỏi đại loại như thế (1). Và, tại sao lại quá dễ, thậm chí dễ đến mức bạn có thể lập tức dám đánh cuộc mạng mình để đoán biết được ngay đạo giáo của y là gì? (2)

NIỀM TIN là một cái cần khởi động, một khi đã tác động vào, sẽ chuyển dịch tất cả mọi thứ trong đời sống của một con người. Bạn là một nhà khoa học? Một người phóng khoáng? Một kẻ kỳ thị chủng tộc? Ðấy thật đúng là những dạng của niềm tin khác nhau trong hành động. Niềm tin của bạn sẽ xác định cái nhìn của bạn về thế giới, chi phối đến tình cảm của mình đối với những đồng loại khác. Nếu bạn nghi ngờ điều này, hãy thử xem đời mình sẽ thình lình thay đổi ra sao khi bạn trở nên tin vào một trong những điều sau:

1. Bạn chỉ còn sống được đúng hai tuần nữa.

2. Bạn vừa trúng sổ xố trị giá một trăm triệu dollars.

3. Người hành tinh đã cấy một cái máy trong đầu bạn và khống chế suy nghĩ của bạn.

Ðấy thuần túy chỉ là những câu chữ - trừ khi bạn tin vào chúng. Một khi đã tin, những câu chữ ấy trở thành cơ phận chính cho bộ máy suy tưởng của bạn, định đoạt các ước vọng, nỗi sợ hãi, niềm trông đợi và các hành vi đều hậu quả từ đó.

Tuy nhiên, có lẽ có vấn đề với một số những niềm tin hằng ấp ủ nhất của chúng ta về thế giới: Các niềm tin đã dẩn dắt chúng ta không một cách không thể cưỡng lại được đến việc giết hại người khác. Liếc nhìn vào lịch sử, vào bất cứ trang nhật báo nào, để vạch ra những ý tưởng vốn chia rẽ, phân nhóm nhân loại chúng ta để chỉ đoàn kết họ vào những giết chóc, thường là có căn nguyên từ tôn giáo. Dường như nếu loài người chúng ta từng tự tiêu diệt chính mình trong chiến tranh, thì không phải bởi vì việc ấy đã được viết ra từ trên những vì sao xa xôi mà chính ngay từ các kinh sách của chúng ta; là những gì chúng ta hành động vì các từ như “Thượng đế”, “thiên đàng” và “tội lỗi” trong chính hiện tại này khiến định đoạt đến tương lai của chúng ta.

Hoàn cảnh của chúng ta là như thế này: hầu hết mọi người trên thế gian tin rằng Ðấng tạo nên vũ trụ đã từng viết một cuốn sách. Bất hạnh là chúng ta đã có quá nhiều cuốn sách như thế trong tay, mỗi cuốn sách lại độc quyền xác quyết như thể mình không thể sai lầm được. Con người thường tự tổ chức mình thành những phần nhóm nhỏ theo những loại xác quyết vốn đố kỵ lẫn nhau nào mà họ từng tin – hơn là từ căn bản của ngôn ngữ, màu da, nơi sinh quán hay bất cứ các tiêu chuẩn nào khác của tính bộ tộc. Mỗi văn, kinh bản này thôi thúc người đọc chấp nhận một số niềm tin và cách thực hành khác nhau, một số niềm tin thì vô hại nhưng đa số còn lại thì không. Tuy nhiên, tất cả đều ở trong một thỏa thuận ngoan cố về một vấn đề có tầm quan trọng chủ yếu: sự “tôn trọng” các đức tin khác, quan điểm khác của những người không tin theo, đều không phải là thái độ mà Thiên chúa yêu thích. Trong khi ở nơi này nơi khác, tất cả các đức tin đã được đề cập đến trong tinh thần thống nhất Ki-tô giáo trên toàn cầu, tín điều trọng tâm của mọi truyền thống tôn giáo rằng tất cả những niềm tin khác loại chỉ là một kho chứa đựng các sai lầm, hay nói cho đúng nhất là thiếu sót một cách nguy hiểm. Sự bất khoan dung này ẩn sâu trong mọi tín ngưỡng. Khi một người đã tin, thực sự đã tin - rằng một số tư tưởng có thể dẫn mình đến hạnh phúc đời đời hay đến chốn ngược lại, y sẽ không tha thứ cho cái khả năng người mình yêu thương lại bị lạc đường từ sự tán tỉnh của những kẻ không tin. Xác tín về thế giới bên kia đơn giản là không thích hợp với lòng tha thứ trong đời sống này.

Tuy vậy, việc bình phẩm về những điều này trực tiếp mang lại khó khăn cho chúng ta, bởi vì phê bình đức tin của một con người vẫn còn là một điều cấm kỵ trong mọi ngõ ngách của văn hóa chúng ta. Về chủ đề này, những người phóng khoáng và thủ cựu cùng đạt đến một đồng thuận hiếm hoi: các niềm tin tôn giáo đơn giản là đứng trên các phạm vi của bàn luận lý lẽ. Phê bình ý tưởng của một ai về Thiên chúa hoặc đời sau bị xem như bất lịch sự trong khi cùng một phê bình như thế về lịch sử hay vật lý học thì không hề gì. Và như thế có nghĩa là khi một kẻ đánh bom tự sát Hồi giáo xóa sạch dấu vết của chính mình cùng với nhiều người vô tội khác trên một đường phố ở Jerusalem thì vai trò của đức tin trong hành động của y luôn luôn được giảm nhẹ. Động cơ của y chắc chắn phải là do chính trị, kinh tế hoặc hoàn toàn có tính cá nhân. Không có đức tin, những con người tuyệt vọng vẫn hành động các sự việc khủng khiếp. Còn bản thân đức tin luôn luôn được miễn tội, ở đâu cũng thế.

Nhưng khoa học kỹ thuật có một phương cách tạo nên các yêu cầu đạo đức mới. Kỹ thuật tiến bộ của chúng ta trong nghệ thuật chiến tranh cuối cùng phải trao lại cho các khác biệt tôn giáo – chính từ đây các niềm tin tôn giáo của chúng ta - đối nghịch lại sự sống còn của chúng ta. Chúng ta không còn có thể làm ngơ trước sự việc hàng tỉ anh em láng giềng tin vào cái siêu hình của sự tử đạo, hay tin vào sự thật theo nghĩa đen của kinh Khải huyền, hay là từ bất cứ một quan niệm lập dị nào đã từng ẩn náu trong những người ngoan đạo suốt hàng nghìn năm - bởi vì ngày nay láng giềng mình đã trang bị vũ khí sinh học, hóa học và hạt nhân. Không còn nghi ngờ gì nữa rằng những phát triển này đánh dấu giai đoạn cuối cùng cho tính cả tin nhẹ dạ của chúng ta. Các từ ngữ như "Thiên chúa” và “Allah” phải đi theo con đường của “thần Apollo” và “thần Baal” nếu không, thế giới của chúng ta sẽ phải tiêu tan.

Vài phút lang thang trong nghĩa địa của các tư tưởng tồi sẽ thấy rằng một cuộc cách mạng về nhận thức như thế là có khả năng. Hãy xem trường hợp của thuật giả kim: nó đã quyến rũ con người từ nhiều ngàn năm nhưng ngày nay nếu có ai nghiêm chỉnh nhận mình là một người thực hành giả kim thuật chắc chắn y sẽ tự loại mình ra khỏi tất cả các vị trí có trách nhiệm trong xã hội chúng ta. Các tôn giáo dựa trên đức tin lẽ ra cũng phải chịu sự suy thoái tương tự vào lãng quên.

Có một thay thế nào cho tôn giáo mà chúng ta hằng được biết? Đây là một câu hỏi sai. Ngành hóa học không phải là một “thay thế” cho thuật giả kim; đó là sự đổi chác hàng loạt của sự ngu dốt lỗi thời nhất của kiến thức chân thực (3). Chúng ta sẽ nhận ra, như với trường hợp giả kim thuật, rằng nói đến sự “thay thế"đối với đức tin tôn giáo là trật vấn đề.

Dĩ nhiên, con người của đức tin rơi vào một thể tiếp diễn: một số tìm được khuây khỏa và cảm hứng từ một truyền thống tôn giáo đặc trưng những vẫn luôn gìn giữ lòng tận tụy cho sự tha thứ và tính đa dạng, trong khi những người khác sẽ thiêu cháy cả địa cầu ra tro than nếu như cần phải tiêu diệt kẻ dị giáo. Nói một cách khác, có tôn giáo ôn hòa, có tôn giáo cực đoan, và không nên nhầm lẫn về các đam mê cùng các công trình khác nhau của họ. Tuy nhiên, một trong những trọng tâm của tác phẩm này là, những người ôn hòa tôn giáo chính là đang tự chống đỡ cho một giáo lý tệ hại: họ tưởng tượng rằng con đường dẫn đến an hòa sẽ được lát một khi mỗi chúng ta học được cách tôn trọng các niềm tin vô chứng cứ của kẻ khác. Tôi hy vọng chỉ ra rằng chính cái lý tưởng của vị tha tôn giáo này – đã đẻ ra ý tưởng rằng mọi con người nên được tự do tin vào bất cứ điều gì họ muốn tin về Thiên chúa – là một trong các lực chủ yếu kéo chúng ta xuống vực thẳm.

Chúng ta đã chậm nhận ra cái mức độ mà đức tin tôn giáo đã ghi khắc vĩnh viễn cái phi nhân tính của con người vào con người. Điều này không ngạc nhiên bởi vì đa số chúng ta vẫn còn tin rằng đức tin là một bộ phận quan yếu của đời sống con người. Hiện nay, hai điều hoang đường giữ đức tin vượt qua được các tranh cãi của phê phán thuộc về lý lẽ, và các huyền thoại này như đã nuôi dưỡng đồng đều cho cả tôn giáo ôn hòa lẫn chủ thuyết tôn giáo cực đoan: (1) đa số chúng ta tin rằng con người thực có hưởng được những điều tốt từ đức tin tôn giáo mà không thể tìm được ở đâu khác (td. Các cộng đồng vững mạnh, cư xử hợp đạo lý, các chứng nghiệm về tâm linh); (2) đa số chúng ta tin rằng nhiều điều tệ hại đã đôi lúc xảy ra dưới danh nghĩa tôn giáo không phải là sản phẩm của tự bản thân đức tin mà là cái gì thuộc bản chất tự nhiên - các động lực như tham lam, hận thù hay sợ hãi - những thứ mà tự chính niềm tin tôn giáo là thuốc chữa hiểu quả nhất (ngay cả duy nhất). Những điều hoang đường này, gộp chung lại, dường như đã ban cho chúng ta sự miễn nhiễm đến các bùng nổ về sự phải quấy trong các cuộc luận bàn công cộng.

Nhiều người ôn hòa tôn giáo đã xử dụng con đường hiển nhiên cao cả của chủ nghĩa đa nguyên, đòi hỏi đến giá trị đồng đều của tất cả mọi đức tin, nhưng trong khi làm như thế, họ tảng lờ không chú ý đến các khẳng định chân lý có tính bè phái tuyệt vọng của từng đức tin này. Chừng nào người Kitô giáo còn tin rằng chỉ có những đồng đạo đã rửa tội của mình mới được giải thoát trong ngày phán xét, người ấy không thể nào “tôn trọng” niềm tin của kẻ khác, bởi vì người ấy hiểu rằng ngọn lửa địa ngục đã cháy lên ngay từ chính các ý tưởng này và đã chờ đợi những kẻ tin theo ấy ngay từ bây giờ. Người Hồi giáo và người Do thái thường có những quan điểm ngạo mạn tương tự từ sự táo bạo của họ và đã nghìn năm nhiệt thành lập đi lập lại những sai lầm của các đức tin khác. Cố nhiên là những niềm tin đố kỵ nhau này đều không hề bị ô uế bởi chứng cứ.

Song le, trí thức các loại như H.G.Wells, Albert Einstein, Carl Jung, Max Planck, Freeman Dyson và Stephen Jay Gould đã tuyên bố rằng cuộc chiến tranh giữa lẽ phãi và đức tin còn lâu mới chấm dứt được. Theo quan điểm này, không cần phải có tất cả các niềm tin của chúng ta về sự nhất quán của vũ trụ. Một người có thể vừa là người Kitô giáo kính sợ Chúa vào ngày chủ nhật lại đồng thời là một nhà khoa học vào ngày thứ hai mà không hề phải giải thích về sự phân chia dường như đã tự trồi lên trong đầu mình lúc ngủ, và nếu như điều này có xảy ra, người này có thể có lý lẻ riêng của mình và ăn mòn nó luôn. Như những phần trước của cuốn sách này sẽ minh hoạ, chính bởi vì ở phương Tây, các nhà thờ đã đi hàng hai một cách khôn ngoan để ai cũng có thể nghĩ được bằng cách này. Ở những nơi mà các học giả có thể bị ném đá cho chết vì dám nghi ngờ sự chân thực của kinh Koran thì khái niệm của Gould về một “giáo ước thương yêu” giữa lẽ phải và đức tin đáng phải là một sự đánh lừa tuyệt hảo.(4)

Điều này không phải để bảo rằng những quan tâm sâu sắc của những người ngoan đạo, ôn hòa hoặc cực đoan, là sai lầm hoặc không đáng kể. Không hề có sự chối bỏ rằng hầu hết chúng ta đều có những nhu cầu về tâm linh và tình cảm vốn đang được nhắc đến – dù quanh co và ở một cái giá đắt khủng khiếp - từ những tôn giáo chủ đạo. Và đây là những nhu cầu mà chỉ riêng hiểu biết của chúng ta, một cách khoa học hay cách nào khác, sẽ chẳng bao giờ có thể hoàn thiện được. Đây rõ ràng là một chiều kích thiêng liêng cho sự hiện hữu của chúng ta, và đi đến giới hạn của sự việc này chính là mục đích cao nhất của con người. Nhưng chúng ta tìm ra rằng không hề phải cần đến một đức tin trong những tuyên bố không thể kiểm chứng- như Jesus được sinh ra từ sự đồng trinh; Koran chính là lời của Thượng đế - để mà thực hiện mục tiêu cao cả đó.

Sự Hoang Đường của “Tính Ôn hòa” trong tôn giáo.

Ý tưởng rằng mỗi tôn giáo của chúng ta đại diện cho những lời không thể sai lầm được của một Thượng Đế Duy Nhất Thật (One True God) cần được nuôi dưỡng bằng cả một sự ngu đần có tính bách khoa của lịch sử, thần thoại học, và cả nghệ thuật nữa – như các niềm tin, lễ nghi và các mô tả tranh tượng của mỗi tôn giáo đã chứng minh hàng trăm năm giao phấn với nhau. Bất kể các cội nguồn tưởng tượng của họ từ đâu, các học thuyết của tôn giáo hiện đại không còn biện hộ được hơn những học thuyết khác vì những sự thiếu mạch lạc, đúc khuôn từ đống phế thải của thần thoại học hàng nghìn năm trước; bởi vì không còn bằng chứng nào nữa để minh giải một niềm tin vào sự hiện hữu phàm tục của Yahweh và Satan hơn là đã có để giữ thần Zeus trên đĩnh núi đăng quang của ngài hoặc Thủy thần sẽ quậy sóng biển lên.

Theo viện Gallup, 35 phần trăm người châu Mỹ tin Thánh kinh là những lời đúng và không thể sai lầm của Ðấng tạo hóa (5). 48 phần trăm tin đó là những lời “gợi ý” của cùng Ðấng ấy và không thể sai lầm được, mặc dù một số chương đoạn đã phải diễn dịch một cách tượng trưng trước khi sự thật của chúng được mang ra ánh sáng. Chỉ có 17 phần trăm còn lại trong chúng ta nghi ngờ rằng một Thiên chúa nhân tính, trong sự thông thái vô hạn của Người, có thể đã soạn văn bản này, hoặc, vì tầm hệ trọng đó, để tạo nên trái đất này với 250,000 loài bọ khác nhau. Khoảng 46 phần trăm người Mỹ đứng về phía quan điểm nghĩa đen của sự sáng thế (40 phần trăm tin Thiên chúa đã hướng dẫn sự sáng tạo thế gian thông qua hàng triệu năm). Ðiều này có nghĩa là 120 triệu chúng ta đặt sự kiện big bang vào 2500 năm sau khi người Babylon và Summerian biết học làm bia bọt. Nếu các con số thăm dò này là đáng tin cậy, gần 230 triệu người Mỹ tin rằng một cuốn sách không đồng nhất trong văn cách lẫn tính nhất quán nội dung đã được một đấng toàn năng, toàn trí và hiện hữu ở mọi nơi chốn soạn thảo ra. Một cuộc khảo cứu về Ấn độ giáo, Hồi giáo và Do thái giáo khắp thế giới chắc chắn cũng sẽ mang đến một kết quả tương tự, cho thấy rằng chúng ta, như một loài sinh thể, đã trưởng thành được một cách hoàn hảo không hề vẩn đục bởi các hoang đường thần thoại của chúng ta. Trong riêng lãnh vực này của đời sống, chúng ta đã tự thuyết phục được chính mình rằng các niềm tin về thế giới này có thể trôi đi thong dong hoàn toàn không cần đến một lý lẽ, một bằng chứng nào. Như thế là như thế nào?

Chính vì tôn trọng hơn là ngạc nhiên đến bối cảnh của nhận thức này mà chúng ta phải phân định rõ thế nào là một người tôn giáo “ôn hòa” ở thế kỷ hai mươi mốt này. Những người ôn hòa trong mọi đức tin buộc phải giải thích lỏng lẻo (hoặc đơn giản cứ giả vờ quên đi) hầu hết những giáo điều vì các quyền lợi của cuộc sống trong một thế giới tân tiến. Không còn nghi ngờ gì rằng có một thứ chân lý kinh tế tối tăm đang tác động ở đây: các xã hội có vẻ trở nên kém phát triển một cách đáng kể mỗi lúc có một số đông người ngừng sản xuất các widget và bắt đầu giết hại khách hàng và các chủ nợ của mình vì họ dị giáo. Ðiều đầu tiên để nhận xét về sự rút lui của người ôn hòa từ chủ nghĩa đọc thánh kinh theo nghĩa đen là ở chỗ họ rút ra được cảm hứng không phải từ kinh sách mà từ các phát triển xã hội vốn được diễn dịch từ những phát biểu của Thiên chúa vốn khó chấp nhận như đã được viết ra trong kinh sách. Ở Mỹ, phong trào ôn hòa tôn giáo còn được mạnh hơn từ sự thực là đa số người Mỹ và người Do thái không hề đọc Thánh kinh trọn vẹn và hậu quả là họ không biết gì về việc Thiên chúa của Abraham dứt khoát mãnh liệt muốn những kẻ dị giáo phải bị triệt tiêu. Ai đọc sách Ðệ nhị luật sẽ tìm thấy Người có một điều gì rất đặc biệt trong suy nghĩ nếu như con trai, con gái bạn trở về nhà sau buổi học Yoga mà dám bênh vực cho sự sùng kính đấng Krishna:

Nếu anh em của ngươi, con trai của mẹ ngươi, hay con trai, con gái của ngươi, người vợ ôm ấp của ngươi, bạn thân như chính bản thân mình của ngươi, bí mật lén lút cám dỗ ngươi mà nói rằng “Chúng ta hãy đi phụng thờ các thần chúa khác”,… ngươi không được ưng thuận, nghe lời hay nhường bước chúng nó, không được thương hại chúng, không được tha thứ chúng, không được dấu giếm bao che chúng mà phải giết chúng đi. Tay ngươi phải là bàn tay đầu tiên trước tất cả mọi người khác để giết chúng chết đi.Nó phải chết bởi vì đã tìm cách lôi kéo ngươi ra khỏi đất Ai cập, rời khỏi cảnh nô lệ… Nếu ngươi nghe thấy, nơi một trong những thành mà Thiên chúa đã ban cho ngươi để ở, rằng có những kẻ phát xuất từ các ngươi và lôi kéo dân cư mà bảo rằng “Mình hãy đi thờ phụng những thần chúa khác” những thần, chúa mà ngươi không được biết thì các ngươi phải điều tra, xem xét, tra hỏi kỹ lưỡng để chắc rằng đã có điều đáng ghê tởm như thế từng được thực hiện giữa các người,thì chắc chắn rằng ngươi phải đặt những cư dân ấy dưới lưỡi gươm, hủy diệt đến tận cùng, tất cả mọi người trong thành cùng nhà cửa dinh thự.

DEUTERONOMY 13:7-11

Dù việc ném đá vào trẻ con đã trở nên lỗi thời trong đất nước chúng ta, bạn cũng không hề nghe một người Kitô giáo ôn hòa hay một người Do thái tranh cãi gì về việc đọc các chương đoạn như thế này “một cách tượng trưng”. (Thực ra, có một đoạn đã bị ngăn chặn dứt khoát bởi chính Thiên chúa trong sách Ðệ nhị luật 13:1 – "Bất cứ điều gì ta ra lệnh cho ngươi bây giờ, ngươi phải giữ lấy và tôn trọng, không thêm thắt, không bỏ đi gì cả” ) Chương trên đây đã hợp quy tắc giáo hội như bất cứ chương nào khác trong Thánh kinh, và nó đã được như thế chính từ việc tảng lờ đi những hành vi man rợ để cuốn sách tốt lành có thể hòa giải được với cuộc sống trong thế giới tân tiến. Ðây là vấn nạn của “ôn hòa” trong tôn giáo: nó không có cái gì để bảo hiểm mình hơn là sự tảng lờ không thừa nhận về nghĩa chữ của luật thánh.

Lý do duy nhất của một ai “ôn hòa” trong vấn đề đức tin ngày nay là kẻ ấy đã tiêu hóa một số hoa trái của tư tưởng nhân loại suốt hơn hai nghìn năm qua (các nền chính trị dân chủ (6), các tiến bộ của khoa học trên tất cả mọi mặt, các quan tâm về nhân quyền, sự chấm dứt các cô lập về văn hóa và địa lý, v.v…). Cánh cửa dẫn ra khỏi chủ nghĩa kinh bản nghĩa đen không được mở ra tự bên trong. Sự ôn hòa chúng ta nhìn thấy giữa những kẻ không chính thống không phải là những chỉ dấu cho thấy đức tin tự nó đang chuyển hóa. Ðúng hơn, nó là sản phẩm sau nhiều cú đánh trí mạng của nền hiện đại khiến lộ diện ra một số tín điều trở nên đáng nghi hoặc của đức tin. Không một chút gì tối thiểu trong những diễn biến này là sự xuất hiện xu hướng nhằm đánh giá chứng cớ hoặc bị thuyết phục bởi những xác nhận đến mức thực sự tin có bằng chứng cho việc ấy. Ngay đa số những người thuộc tôn giáo chính thống sống trong ánh sáng hợp lý về mặt này; dường như lý trí của họ đã phải phân chia ra sao cho phù hợp với những khẳng định sự thật vốn hoang phí về đức tin của mình. Bảo một người Kitô giáo sùng đạo rằng vợ anh đang gian dối anh, hoặc ăn sữa chua đông lạnh có thể làm anh trở nên vô hình. Như mọi người, hầu như anh ta sẽ đòi hỏi các bằng chứng càng nhiều càng tốt, và anh chỉ có thể bị thuyết phục trong giới hạn của những bằng chứng mình có thể tìm được. Bảo anh ta rằng cuốn kinh sách anh giữ ở đầu giường được viết bởi một đấng thần linh vô hình và đấng này sẽ trừng phạt anh bằng ngọn lửa địa ngục miên viễn nếu anh ta không chấp nhận các khẳng định tồi tệ về vũ trụ thì anh ta lại sẽ không đòi hỏi bằng chứng gì cả.

Ôn hòa tôn giáo phát sinh từ sự thật là ngay cả một người ít học nhất giữa chúng ta cũng hiểu biết nhiều hơn về một số sự thể mà ai đó đã thực hiện từ hai ngàn năm trước – và hầu hết kiến thức này đều tương thích với kinh sách. Nếu được nghe hiểu về các khám phá của y học trong thế kỷ qua, tất cả chúng ta không ai còn coi quá trình bệnh tật như một thứ tội lỗi hay là quỷ ám nữa. Ðược học hiểu về khoảng cách của các vật thể trong vũ trụ, hầu hết chúng ta (đúng ra là khoảng một nửa chúng ta) nhận ra ý tưởng cho rằng tất cả vạn vật đã được tạo nên sáu ngàn năm trước (với ánh sáng từ các vì sao xa xôi đã sẵn sàng để chuyển xuống địa cầu) thì thật không thể nào xem là nghiêm chỉnh được. Những nhượng bộ đối với cái hiện đại như vậy không hề cho thấy đức tin không hề thích hợp một chút nào với lẽ phải, hay các tôn giáo của chúng ta đang có căn bản để học hỏi những cái mới. Ðó chính là cái lợi ích của sự tảng lờ (hay phiên dịch lại) một số chủ đề của đức tin đang tràn ngập hiện nay. Bất cứ ai phải bay đến một thành phố khác để giải phẩu heart-bypass đã thừa nhận, hoặc tối thiểu là ngầm thừa nhận rằng, kể từ thời Moses đến nay, chúng ta đã thực sự học hỏi được một số điều về vật lý học, địa lý, kỹ thuật và y học.

Do đó, không phải là các văn bản ấy giữ được sự vẹn toàn với thời gian (chúng vốn không giữ được như thế) mà chính là vì chúng đã được biên soạn một cách hiệu quả từ sự tảng lờ của chúng ta đối với một số chương đoạn. Hầu hết những chương đoạn còn lại – các phần tốt – đã được tha miễn khỏi sự sàng lọc tương tự bởi vì chúng ta chưa có được sự hiểu biết thực cận đại về các cấu thành luân lý của chúng ta và năng lực của chúng ta đối với kinh nghiệm tâm linh. Nếu chúng ta có hiểu biết tốt hơn về các công việc của não bộ con người, chúng ta chắc chắn sẽ khám phá ra những liên kết đúng giữa tình trạng ý thức của chúng ta và cung cách ứng xử của chúng ta và có thể xử dụng nhiều phương cách khác nữa cho các chú tâm của chúng ta. Cái gì khiến cho người này hạnh phúc hơn người kia? Tại sao yêu thương có ích lợi hơn là oán ghét? Tại sao chúng ta thường thích vẻ đẹp hơn là sự xấu xí, thích trật tự hơn là náo loạn? Tại sao lại cảm thấy sung sướng để mỉm cười hay cười vang lên và tại sao khi chia xẻ những kinh nghiệm này sẽ mang con người lại gần nhau hơn? Phải chăng cái tôi là một ảo giác, và, nếu là ảo giác, cái tôi muốn ám chỉ cái gì cho đời sống con người? Có một đời sống khác sau khi chết hay không? Ðấy là những câu hỏi chủ yếu, cuối cùng, cho một nền khoa học trưởng thành của tâm hồn. Nếu chúng ta đã từng khai triển được một nền khoa học như thế, thì hầu hết các văn bản tôn giáo đã không còn ích lợi cho sự huyền bí hay cho thiên văn học như hiện nay.

Trong khi sự ôn hòa trong tôn giáo có vẻ như là một vị trí hợp lý để khoanh vùng, trong ánh sáng của tất cả những gì chúng ta từng (và chưa từng) hiểu biết về vũ trụ, ôn hòa tôn giáo không mang lại được bức tường thành ngăn cản cực đoan tôn giáo và bạo hành tôn giáo. Từ bối cảnh của những ai tìm cách sống với từng từ ngữ của các văn bản, những người ôn hòa tôn giáo không khác hơn là một người chính thống thất bại. Người ấy, có nhiều khả năng, sẽ đi đến chung cuộc trong cõi địa ngục cùng với tất cả những kẻ không tôn giáo khác còn lại. Cái vấn nạn mà ôn hòa tôn giáo mang đến với chúng ta là họ không cho phép được nói lên một điều gì chống lại chủ nghĩa tôn giáo nghĩa đen. Chúng ta không thể bảo rằng người chính thống là điên bởi vì họ chỉ đơn thuần thực hành quyền tự do tin của mình, ngay cả chúng ta không thể bảo rằng họ đang sai lầm trong các phạm trù tôn giáo, bởi vì kiến thức về kinh sách của họ thường là vô địch. Tất cả những gì chúng ta có thể nói, như một người ôn hòa tôn giáo, là chúng ta không thích các phí tổn cá nhân và xã hội hoàn toàn theo kinh sách đang bắt chúng ta phải gánh chịu. Ðây không phải một hình thức mới của đức tin, hoặc ngay cả không phải là một phạm trù mới của bình giải kinh sách. Nó đơn giản chỉ là một sự thỏa hiệp với một loạt những quyền lợi quá-con-người mà chủ yếu không có gì liên quan đến Thiên chúa. Tôn giáo ôn hòa là sản phẩm của kiến thức thế tục và sự ngu xuẩn kinh sách – và tôn giáo ôn hòa không có thiện ý, trong điều kiện tôn giáo, để đặt nó ngang hàng với trào lưu chính thống (7). Bản thân các văn tự không mang hai nghĩa: chúng hoàn hảo trong tất cả các phân đoạn. Từ ánh sáng của kinh sách, ôn hòa tôn giáo đã phô bày cho thấy chẳng khác gì hơn là một sự không tự nguyện quy phục hoàn toàn vào luật Thiên chúa. Chính từ thất bại trong việc sống theo từng nghĩa chữ của kinh sách, trong khi lại tha thứ cái phi lý của những người tuân phục kinh sách, ôn hòa tôn giáo đã phản bội cả đức tin lẫn lẽ phải. Trừ khi các giáo lý cốt tủy của đức tin được đem ra để xét hỏi – như, rằng chúng ta biết có một Thiên chúa, biết Người muốn gì nơi mình- còn thì ôn hòa tôn giáo sẽ chẳng làm gì để dẫn chúng ta ra khỏi chốn hoang dại.

Những việc làm tốt đẹp của hầu hết những người ôn hòa tôn giáo không hề cho thấy đức tin tôn giáo là một điều gì tuyệt vời hơn cuộc hôn nhân tuyệt vọng giữa hy vọng và ngu dốt, cũng chẳng bảo đảm rằng sẽ không phải trả một giá đắt cho việc giới hạn phạm vi của lẽ phải trong cư xử với tha nhân của chúng ta. Ôn hòa tôn giáo, trong mức độ mà nó tiêu biểu cho một nỗ lực muốn bám chặt lấy cái vẫn có ích lợi trong tôn giáo chính thống, đóng lại cách cửa để các tiếp cận giả dối hơn đến tâm linh, luân lý và sự xây dựng những cộng đồng vững mạnh. Ôn hòa tôn giáo dường như tin rằng cái chúng ta cần không phải là sự thấu hiểu, cấp tiến và đổi mới trong những lãnh vực này mà chỉ là thuần một sự pha loãng của triết học thời đại đồ sắt. Thay vì mang lại tất cả năng lực sáng tạo và lý trí của chúng ta để chống đỡ giải quyết các vấn nạn của luân lý, liên kết xã hội và ngay cả các kinh nghiệm tâm linh, những người ôn hòa tôn giáo chỉ đơn thuần yêu cầu chúng ta nới lỏng các tiêu chuẩn liền lạc đối với các cấm kỵ và mê tín cổ đại, trong khi vẫn duy trì một hệ thống niềm tin vốn đã được truyền đến chúng ta từ những con người nam, nữ mà đời sống của họ đã chỉ đơn giản bị tàn phá bởi những ngu dốt căn bản của họ về thế giới. Những quỵ lụy với truyền thống như thế sẽ đuợc chấp thuận trong không gian nào của đời sống? Trong Y học?, Kỹ thuật? Không chỉ riêng chính trị phải chịu đựng sự lỗi thời vốn đang thống trị suy nghĩ của chúng ta về giá trị luân lý và kinh nghiệm tâm linh.

Thử tưởng tượng nếu chúng ta có thể làm sống lại một người Kitô giáo học thức cao rộng của thế kỷ thứ mười bốn. Người ấy sẽ chứng tỏ cả một sự ngu dốt trên mọi lãnh vực, trừ lãnh vực của đức tin. Các niềm tin của kẻ ấy về địa lý, thiên văn và y học sẽ làm xấu hổ đến ngay cả đứa con nít, nhưng y sẽ hiểu biết không ít thì nhiều tất cả những điều gì cần biết về Thiên chúa. Dù y có thể bị coi như một kẻ khờ khạo vì tin rằng địa cầu là trung tâm của vũ trụ hay việc khoan sọ là một sự can thiệp y học sáng suốt và các ý tưởng tôn giáo của y vẫn đứng ngoài mọi quở trách. Có hai cách giải thích cho sự việc này: hoặc là vào một ngàn năm trước – khi kiến thức chúng ta trên tất cả các mặt khác, vẫn còn phôi thai, chúng ta đã hoàn thiện được hiểu biết tôn giáo của mình về thế gian; hoặc tôn giáo vốn chỉ thuần tuý là sự cưu mang, duy trì một tín điều, là một lãnh vực bàn luận không cho phép đến sự tiến bộ. Chúng ta sẽ thấy có rất nhiều điều để nói đến về quan niệm sau.

Mỗi năm trôi qua, các niềm tin tôn giáo của chúng ta có duy trì bảo quản được nhiều hơn dữ liệu về kinh nghiệm của con người không? Nếu tôn giáo nhắm đến một khu vực chân thực của hiểu biết và nhu cầu con người, thì tôn giáo có thể kham được sự tiến bộ, học thuyết của tôn giáo nên trở thành hữu ích hơn thay vì là kém đi. Tiến bộ trong tôn giáo, cũng như tiến bộ trong các lãnh vực khác, phải nên là một nội dung của sự tra vấn hiện tại, chứ không phải chỉ là sự lập lại của một học thuyết lỗi thời. Bất cứ cái gì đúng với hiện tại phải nên khám phá được trong hiện tại và diễn tả được trong các phạm trù không phải là sự sỉ nhục trực tiếp đến những gì chúng ta đang biết được về thế gian. Với tiêu chuẩn này, toàn bộ công trình tôn giáo tựa như thật sự thoái bộ. Tôn giáo không tồn tại được dưới những đổi thay đã đến với chúng ta - về văn hóa, khoa học kỹ thuật – và ngay cả về luân lý học. Nói cách khác, có ít lý do để tin rằng chúng ta có thể cứu sống được tôn giáo.

Những người ôn hòa không hề muốn giết hại ai nhân danh Thượng Đế, nhưng họ muốn chúng ta tiếp tục dùng từ “Thượng Đế” như thể chúng ta phải biết mình đang nói về ai. Và họ không muốn bất cứ những lời phê phán thái quá về những người thực sự tin vào Thiên chúa của tiền nhân mình, bởi vì có lẽ, lòng khoan dung, trên tất cả mọi điều khác, là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Để nói thẳng thắn và công khai về tình trạng của thế giới chúng ta – thí dụ như để nói rằng Kinh thánh và kinh Koran chứa đựng một núi những điều lắp bắp, vô nghĩa và hủy diệt đời sống – là một phản đề với lòng khoan dung như những người ôn hòa đang tưởng tượng. Nhưng chúng ta không thể kham nổi cái xa xỉ của sự phải đạo chính trị đó nữa. Chúng ta phải ý thức được cái giá cuối cùng phải trả để duy trì cái ảnh tượng ngu xuẩn của mình.

(còn tiếp)

 


Chú thích:

(1) Như chúng ta sẽ thấy trong phần 4, các đoán biết cho thấy đa phần là y không thuộc về một thành phần thấp kém trong xã hội.

(2) Một số độc giả có thể phản đối vì cho rằng người đánh bom này nhiều khả năng là một phần tử của Phong trào giải phóng Tigers của Tamil Eelam - Tổ chức ly khai Sri Lanka đã gây ra nhiều hành vi khủng bố tự sát hơn tất cả các nhóm khác. Quả thực, tổ chức “Tamil Tigers” thường được dùng như một thí dụ phản lại tất cả những tố cáo nào cho rằng những kẻ khủng bố tự sát là sản phẩm của tôn giáo. Nhưng để mô tả nhóm Tamil Tigers như một tổ chức thế tục – như R. A. Pape, “The Strategic Logic of Suicide Terrorism” trong American Political Science Review 97, số 3 (2003): trang 20-32, và những học giả khác- chính là một sự đánh lừa. Dù động cơ của Tigers không rõ ràng vì tôn giáo nhưng họ là những người Ấn độ giáo vốn tin tưởng mù quáng vào nhiều điều không đúng đắn về bản chất của đời sống và sự chết. Sự sùng bái tử đạo mà họ đã nuôi dưỡng trong nhiều thập niên mang nhiều đặc tính tôn giáo rằng người ta có thể tin vào việc con người sẵn lòng hy sinh dễ dàng mạng sống của mình cho một lý tưởng. Những người thế tục Tây phương thường đánh giá thấp đến một số nền văn hóa ở mức độ họ mê mải như thể ở trong một thế giới khác, nhìn về cái chết với ít sợ hãi hơn là có vẻ hoàn toàn lý trí. Một lần tôi đi du lịch qua Ấn độ khi chính phủ sở tại đã sửa lịch thi cử cho các học sinh muốn thi vào ngành phục vụ dân sự: Cái mà đối với tôi đúng là những chuyện nhỏ nhặt của bất tiện hành chánh đã xô đẩy cả làn sóng thanh thiếu niên phải quên mình mà phản đối. Những người theo Ấn giáo Hindu, ngay cả những người vốn có thiên kiến như một người căn bản trần tục, thường nuôi dấu những niềm tin tôn giáo mạnh mẽ.

(3) Ở đây tôi đang nói đến về “Thuật giả kim” như một thành phần của các kỹ thuật luyện kim, hóa kim hoang đường thời thượng cổ với mục đích chuyển hóa các kim loại sắt thép thường thành vàng ròng và các vật chất trần tục thành ra một loại “thuốc tiên”. Cũng đúng khi có người cho rằng các tài liệu về thuật giả kim đã tiên tri được các sự thực hiện đại nhất của các ngành vật lý thể rắn, ngành dược lý học, và một số nguyên lý khác. Tuy nhiên tôi không hứng cảm lắm từ những kết quả như tài liệu của Rorsach. Tuy nhiên, hãy đọc T. McKenna, The Archaic Revival ([San Francisco]: Harper San Francisco, 1991), Food of the Gods: The Search for the Orginal Tree of Knowledge (New York: Battam book, 1992), và True Hallucinations ([San Francisco]: Harper San Francisco, 1993) để tìm thấy một minh chứng của một tâm thức sáng sủa và đẹp đẽ đã từng nghiêm túc với việc đánh giá lại môn Thuật giả kim.

(4) Theo S. J. Gould, trong “Nonoverlapping Magisteria”. Natural History, số tháng Ba 1997.

(5) Theo G. H. Gallup Jr., Religion in America 1996 (Princeton: Princeton Religion Research Center, 1996)

(6) Ðiều này không phải để chối bỏ việc có những vấn nạn đối với nền dân chủ, đặc biệt khi dân chủ được mang ứng dụng quá sớm vào các xã hội vốn đang có tỉ lệ trẻ em tử vong cao, kém dân trí, có tư tưởng bè phái, chủng tộc sâu sắc và kinh tế kém ổn định. Rõ ràng có những thứ đại loại như một thể chuyên quyền rộng lượng, và thể loại này có thể là một giai đoạn trung gian trong sự phát triển về chính trị của nhiều xã hội. Xin đọc R. D. Kaplan, “Was Democracy Just a Moment ?”, Atlantic Monthly, tháng 12. 1997, trang 55-80, và đọc F. Zakaria, The Future of Freedom: Illiberal Democracy at Home and Abroad (New York: W.W. Norton, 2003).

(7) Theo Bernard Lewis, trong “The Revolt of Islam” New Yorker, 19 Tháng 11, 2001, tr. 50-63, và theo The Crisis of Islam: Holy War and Unholy Terror (New York: Modern Liberary, 2003), đã vạch rõ rằng thuật ngữ “Chủ nghĩa chính thống” đã được đặt ra bởi những người theo Thệ Phản giáo Mỹ và có thể trở nên sai lạc khi dùng với các đức tin khác. Ðối với tôi tuy rằng dường như thuật ngữ này đã thoát vào trong các xữ dụng rộng rãi, hiện thời nó vẫn biểu thị cho bất cứ thứ loại nào của chủ nghĩa kinh thánh nghĩa đen. Tôi xử dụng thuật ngữ ấy trong chính ý nghĩa này. Các vấn nạn của việc xử dụng các nhóm chữ ấy đặc biệt trong Hồi giáo sẽ được nhắc đến trong chương 4.

 

nguồn http://www.x-cafevn.org/node/2218

Trang Tôn Giáo