 |
đăng ngày 17 tháng
7, 2007
|
"...Với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi (Ngô Đình Khả) cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh.
Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp...."
( GIÁM MỤC NGÔ ĐÌNH THỤC)
Phần I

ã
viết về “Cụ Hồ” mà lại không viết về “Cụ Diệm” thì quả là một điều
thiếu sót, vì dù sao ông Diệm cũng đã là Tổng Thống của miền Nam
trong 9 năm . Nhưng bài này tuyệt đối không phải để đối chiếu
so sánh “Cụ Diệm” với “Cụ Hồ” vì không ai có đôi chút hiểu biết lại
đi làm công việc vô trí này. Tại sao? Vì một đằng suốt
đời sống gian khổ, tổ chức, tập họp những người yêu nước chống Pháp,
mong giành lại độc lập và thống nhất cho đất nước [Cụ Hồ], một đằng
làm quan cho Pháp, bắt người yêu nước chống Pháp tra khảo, rồi nằm
yên vị trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ, Bỉ trong khi nước nhà
sôi bỏng vì chiến tranh, kháng chiến chống Pháp trở lại Đông Dương,
rồi phút cuối trở về làm “chí sĩ cứu tinh dân tộc” [Cụ Diệm].
Đã có nhiều sách viết về biến cố ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh ở
miền Nam. Và không ai có thể phủ nhận là chính cựu Hoàng Bảo
Đại đã bổ nhiệm ông Diệm về làm Thủ Tướng. Nhưng những chi
tiết từ đâu mà cựu Hoàng Bảo Đại bổ nhiệm ông Diệm thay vì không
phải ai khác thì rất ít được viết đến. Có chăng chỉ là sơ sài
như ông Diệm được Hồng Y Spellman ủng hộ hay được chính giới Mỹ ủng
hộ, tuy rằng dân Việt không có ủng hộ, vì khi đó chẳng có mấy người
biết đến ông Diệm .
Chúng ta biết rằng Ông Ngô
Đình Diệm không phải là một khuôn mặt chính trị có tầm vóc ở Việt
Nam, được nhiều người biết đến trước khi được đưa về Việt Nam làm
Thủ Tướng vào tháng 6, 1954. Thành tích của ông trong thời Pháp
thuộc không lấy gì làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc dòng họ ba đời
làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong
thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Hòa Đa, ông đã dùng đèn cầy đốt hậu
môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo. Chúng ta cũng
biết, từ năm 1950, ông đã rời quê hương đất tổ của ông để sống trong
các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ và ở Bỉ. Vì những thành tích này mà
khi ông về cầm quyền, những người Công giáo đã tôn ông lên làm “chí
sĩ”, và người dân miền đã Nam bị cưỡng bức phải ca bài “Toàn dân
Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống; Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn
năm”. Cuối cùng, “muôn năm” chỉ có vỏn vẹn “chín năm”, và ông
đã yên nghỉ cùng Chúa và ông bạn vàng Torquemada (một Đại Phán Quan
Tây Ban Nha giống như ông Diệm đã từng tự nhận), tới nay được 43 năm
rồi.
Một câu hỏi được đặt
ra: với một thành tích “yêu nước” và chính trị không có gì, với một
khả năng rất giới hạn, tài và đức đều không có, vậy tại sao ông Diệm
lại được chọn để làm Thủ Tướng ở miền Nam? Có lẽ những chi tiết
trong cuốn “The American Pope: The Life and Times of Francis
Cardinal Spellman”, A Dell Book, NY, 1985, của John Cooney, tạm
gọi là đầy đủ nhất. Để viết cuốn sách này, tác giả Cooney đã xử
dụng những nguồn tài liệu từ chính Nhật Ký của Spellman, những hồ sơ
mật của FBI, và qua những cuộc phỏng vấn, nên tác phẩm của Cooney là
một nguồn tài liệu rất có giá trị [By using Spellman’s personal
diary, FBI classified files, and interviews, Cooney’s volume is an
engrossing, valuable document]. Vậy sau đây, tôi xin trích dẫn vài
đoạn trong phần nói về ông Diệm trong cuốn sách trên, từ trang 307
đến trang 314.

“Tuy
rằng không có mấy người biết điều này, Hồng Y Spellman đã đóng một
vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của
một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở
thành Thủ Tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm.
Ở
Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi
người lãnh đạo: Công Giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng.
Spellman
đã gặp Diệm ở New York vào năm 1950, khi người Việt Nam này ở trong
Trường Dòng Marykoll ở Ossining, New York. Một tín đồ Công giáo
trung thành, sinh ra từ một gia đình gia giáo, Diệm ở trong Trường
Dòng do sự cầu xin của người Anh, Ngô Đình Thục, một Giám mục Công
giáo. Là một người độc thân rất sùng tín, Diệm đã tự tách mình ra
khỏi thế giới, đặc biệt là ra khỏi quốc gia tan tác bởi chiến tranh
của ông ta. Và ông ta chỉ được biết đến bởi một nhóm nhỏ
hoạt động chính trị ở Mỹ. Ở Việt Nam tên ông ta không gây nên một
hứng thú nào. Trên chính trường Mỹ, ông ta không được ai biết đến,
một tình trạng mà Spellman giúp ông sửa đổi. Lai lịch của Diệm không
tránh được sự chú ý của Spellman.
Người
đưa Diệm đến Spellman là Linh mục Fred McGuire. Một cựu thừa sai ở
Á Châu, kiến thức về Viễn Đông của McGuire được biết rõ ở Bộ Ngoại
Giao. McGuire nhớ lại, một ngày nọ ông được Dean Rusk, khi đó làm
trưởng ban Á Châu vụ, nhờ dàn xếp để Giám mục Thục, sắp đến Mỹ, tới
gặp các viên chức của Bộ Ngoại Giao. Rusk cũng tỏ ý muốn gặp Diệm.
McGuire
tiếp xúc với người bạn lâu đời, Giám Mục Griffiths, vẩn còn là
chuyên viên ngoại vụ của Spellman. Hắn ta yêu cầu sẽ để cho Thục
được tiếp kiến đúng nghi thức bởi Hồng Y. Trong dịp này Diệm đã từ
Trường Dòng đến nhà riêng của Spellman. Cuộc gặp gỡ giữa Spellman
và Diệm có thể là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Joseph Buttinger, một
người hoạt động cho những người tị nạn Việt Nam, tin rằng Hồng Y Spellman là người Mỹ đầu tiên nghĩ đến việc đưa Diệm về lãnh
đạo Nam Việt Nam.
Tháng 10
1950, hai anh em Diệm đã gặp các viên chức Bộ Ngoại Giao ở khách sạn
Mayflower, có cả Rusk. Diệm và Thục được tháp tùng bởi McGuire và
ba giới chức chính trị của giáo hội khi đó đang hoạt động để ngăn
chận Cộng Sản: Linh mục Emmanuel Jacque, Giám mục Howard Carroll, và
Edmund Walsh ở đại học Georgetown. Mục đích của cuộc gặp gỡ này là
hỏi hai anh em Diệm Thục về đất nước của họ và xác định những niềm
tin chính trị của họ. Điều rõ ràng sau đó là cả Thục và Diệm đều
tin rằng Diệm sẽ cai trị đất nước của họ. Sự kiện là Việt
Nam chỉ có 10% Công Giáo không đáng quan tâm đối với hai anh em
Diệm.
Khi bày tỏ ý kiến trong bữa ăn tối, hai lập trường Diệm tin tưởng
nhất đã rõ ràng. Hắn ta tin vào quyền năng của Giáo hội Công Giáo
và hắn ta thù địch dữ dội và quyết liệt chống Cộng.
Điều
này chắc đã phải gây ấn tượng trên các viên chức Bộ Ngoại Giao.
Quan tâm đến Việt Nam từ khi Truman bắt đầu giúp tài chánh cho Pháp
ở đó (Việt Nam), những viên chức Bộ Ngoại Giao đã luôn luôn để ý đến
những người lãnh đạo chống Cộng cực đoan vì ảnh hưởng của Pháp đã
phai nhạt. Sau Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn ủng hộ một chính phủ
mở rộng hơn là chính phủ của ông Vua, người không được quần chúng
ủng hộ mấy vì đã từ lâu bị coi như là một bù nhìn của Pháp và Mỹ.
Do đó Mỹ muốn có một người Quốc Gia ở địa vị cao ở Nam Việt Nam để
làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh. Kết quả là Bảo Đại đã cho Diệm
một chức vụ mà Diệm mà Diệm vẫn muốn – Thủ Tướng. [[Về chuyện
này Bernard Fall viết trong The Two Viet-Nams, trang 244: “Ý
thức được rằng mình đang ném ngai vàng đi, Bảo Đại bắt Diệm phải thề
(Theo Stanley Karnow, trang 218, Bảo Đại bắt Diệm thề trước cây
Thánh Giá [before the crucifix]) trung thành với ông, và nhiều
nhân chứng có thẩm quyền quả quyết là Diệm cũng còn quỳ xuống trước
Hoàng Hậu Nam Phương là sẽ làm hết sức trong phạm vi quyền lực của
mình để “giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long, con của Bảo Đại”
(Fully realizing that he was throwing his throne away, Bao Dai
allegedly made Diem swear a solemn oath of allegiance to him, and
several authorative witnesses affirm that Diem also swore on his
knees to Empress Nam-Phuong that he would do everything in his power
“to preserve the throne of Viet-Nam for Crown Prince Bao-LOng”, son
of Bao Dai.) Nhưng chúng ta đã biết, chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đã dùng
tiền của CIA để tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý gian lận để phế bỏ Bảo
Đại và lên làm Tổng Thống. Về vụ này Bernard Fall cũng viết, trang
257: “Trong hầu hết các nơi bỏ phiếu, có nhiều ngàn phiếu nhiều
hơn là số cử tri đã bỏ cho Diệm . Thí dụ, Ở vùng Saigon-Chợ Lớn,
đếm được 605,205 phiếu trên số 450,000 cử tri ghi danh”. (In
nearly all electoral areas, there were thousands more “Yes” votes
than voters. In the Saigon-Cholon area, for example, 605,025 votes
were cast by 450,000 registered voters)]]
Diệm trở
về Saigon ngày 26 tháng 6, 1954, sau Edward Lansdale vài tuần.
Lansdale là trùm CIA về quân sự ở Saigon, đặc trách cuộc chiến không
theo quy ước [có nghĩa là đánh phá ngầm]
Lập trường của Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước
của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng Tên phục vụ tại
Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói
rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh
của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến
sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo
hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến
khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”
Do đó
Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ
Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề
đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.
Spellman
và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường
Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát
huy ý hệ Công Giáo.
..Do đó,
rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là
Công Giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của
việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức
cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo
Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công
Giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần
tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình
vào trong đường lối trên của Spellman.
Rồi còn
có vai trò hấp dẫn của một bác sĩ Công giáo trẻ hoạt động ở Việt Nam
tên là Tom Dooley. Một Trung Úy hải quân hoạt động ở Hải Phòng,
Dooley làm việc với các người tị nạn.
Là con cưng
của Spellman, có một lúc Dooley tổ chức được 35,000 tín đố Công Giáo
Việt Nam ở miền Bắc đòi di cư. Có lẽ những nỗ lực của Dooley thành
công ở Mỹ hơn là ở Việt Nam. Hắn viết ra những bài trong nhật báo
và tuần báo và 3 cuốn sách bán chạy nhất để tuyên truyền
cho Công Giáo và chống Cộng theo những niềm tin của hắn.
Hắn dựng lên những chuyện người Công Giáo bị khổ nạn trong
tay của những người Cộng Sản đã đánh đập vào bộ sinh dục của các
linh mục trần truồng, chọc thủng màng tai của những đứa trẻ bằng đũa
để cho chúng không nghe được về Thiên Chúa, và mổ bụng phụ nữ có
thai. Tốt nghiệp đại học Notre Dame ở Indiana [thực
ra Dooley không tốt nghiệp bác sĩ từ đại học Notre Dame mà từ đại
học St. Louis. Trường Notre Dame có tiêu chuẩn cao nên Dooley không
theo được và phải bỏ Notre Dame theo học ở St. Louis. Nhưng ngay ở
đây, Dooley cũng học rất kém, phải học lại năm cuối, và khi làm nội
trú cũng phải làm thêm 6 tháng. Nhưng vì những công việc chống Cộng
bịp bợm nên Dooley đã trở thành nổi tiếng như là một bác sĩ tận tụy
giúp người di cư và chống Cộng cực đoan. Vì vậy năm 1960, trường
Notre Dame trao tặng cho Dooley chức bác sĩ hàm] , Dooley đi khắp
nước Mỹ để quảng cáo những cuốn sách của mình và hô hào chống Cộng,
rồi chết năm 1961, khi mới có 34 tuổi. Người cuối cùng đến bên
giường bệnh của Dooley là Hồng Y Spellman, người đã tôn ông bác sĩ
trẻ như là nguồn cảm hứng cho mọi người – một thánh tử đạo khác.
Tiếng tăm của Dooley không suy giảm cho đến khi Ủy Ban phong Thánh
của Công Giáo La Mã điều tra năm 1979 và khám phá ra rằng Dooley có
liên hệ với CIA. [Muốn biết sự thực về con người của Tom
Dooley, xin đọc bài “Doctor Tom Dooley” của Peter Brush trong
mục các bài tiếng Anh]
Dooley
đã giúp CIA tạo loạn cho Bắc Việt qua những chương trình tị nạn của
hắn. Những người Công Giáo đổ vào miền Nam đã mang đến cho Diệm một
hậu thuẫn chính trị lờn và được hứa hẹn của Mỹ giúp đỡ để tái định
cư. Quần chúng Mỹ phần lớn tin rằng hầu hết những người Việt Nam
đều khiếp sợ sự độc ác và khát máu của Việt Minh và tìm đến ông Diệm
sợ Chúa để được giải thoát. Nhiều người tị nạn chỉ sợ bị trả thù vì
mình đã ủng hộ Pháp.
...Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công Giáo của chính
quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo
hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền
Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi
Graham Greene, một tín đồ Công Giáo, trong một bài viết từ Saigon,
in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:
“Chính cái giáo thuyết
Công Giáo đã làm cho chính quyền Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông
ta đã bị những cố vấn Mỹ khai thác cho đến khi giáo hội ở trong nguy
cơ làm mất lòng dân như Mỹ. Một cuộc viếng thăm không thích hợp của
Hồng y Spellman (Hồng Y Spellman đến Việt Nam để nâng uy tín của
Diệm đồng thời bi thảm hóa của cuộc di cư lớn lao của người Công
Giáo “dramatizing once more the great exodus of refugees from the
North, the greater part of whom are Catholics.”)
Một linh mục Việt
Nam nói: Ông ta (Spellman) nói nhiều về con bò vàng [mà một số người
Do Thái thờ phụng như được viết trong Cựu ước. TCN] hơn là về Mẹ
Thiên Chúa] đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y
Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn
lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị
khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Công Giáo là của Tây
phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh.
Trong những trường hợp hiếm hoi mà ông Diệm thăm viếng
những vùng của Việt Minh trước đây, bao giờ cũng có một linh mục
đứng bên, và thường là một linh mục Mỹ.
...Nam
Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền
Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ
độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy
bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án.
Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với
một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước
đầy tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-Công Giáo.”
Trong
cuộc viếng thăm, Spellman đã trao một ngân phiếu 100,000 đô-la cho
Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo, một tổ chức hoạt động tích cực trong
chương trình tái định cư những người di cư và sau đó cai quản chương
trình viện trợ của Mỹ, chứng tỏ Tổ Chức này sát cánh với nỗ lực
chiến tranh của Mỹ và đưa tới sự nghi ngờ là Tổ Chức có liên hệ với
CIA. Dùng Giáo hội để làm chức vụ như vậy đã được thi hành ở Châu
Mỹ La-Tinh, ngoài nhiều nơi khác, nhưng ở Việt Nam có vẻ đúng như
những lời khuyến cáo của Graham Greene là Giáo hội và Mỹ
đã cùng nhau thi hành một đường lối thất nhân tâm đối với những
người Việt Nam.
Khả năng tham nhũng ở
Việt Nam rất cao và cũng làm hại tới uy tín của Tổ Chức Cứu Trợ.
Drew Parson ước tính chỉ trong năm 1955 chính quyền Eisenhower đã
bơm vào Việt Nam trên 20 triệu đô-la viện trợ giúp người tị nạn
Công giáo. Không thể tránh được, có quá nhiều gắn ghép và tham
nhũng trong việc phân phối thực phẩm, thuốc men, và các đồ dùng khác
tới các làng mạc. Tờ National Catholic Reporter đã phúc
trình những sự lạm dụng của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo trong nhiều
bài mà một bài có đầu đề là: “Việt Nam 1965-1975. Vai Trò
của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo: Công Trình Của Chúa – Hay Của CIA?”
Những sự lạm dụng bị phanh phui gồm có: dùng viện trợ để
truyền đạo, chỉ giúp những người Công Giáo tuy viện
trợ là cho tất cả mọi người, đồng nhất hóa với quân lực, và
đem cho binh lính Mỹ và Việt thay vì cho dân sự như mục đích của
viện trợ. [Những người ở Việt Nam thời đó đều biết
rõ các Linh mục Công Giáo Việt Nam và tổ chức Công Giáo được giữ độc
quyền để phân phát viện trợ. Sự phanh phui trên là từ một tờ tuần
báo của chính Công Giáo]
1
Qua tài liệu trên, và phối
hợp với nhiều tài liệu khác, thí dụ như của Joseph L. Daleiden, một
học giả Công Giáo trong cuốn The Final Superstition, chúng ta
thấy rõ vai trò then chốt của Vatican đã dự phần đưa tới việc Mỹ
tham chiến ở Việt Nam. Chúng ta cũng còn biết, Hồng Y Spellman đã
đến Việt Nam nhiều lần, đi tới các tiền đồn để khuyến khích lính Mỹ
chiến đấu cho Chúa: “Trong một bài học thuộc Giáo hội thời
Trung Cổ, Spellman bảo với binh sĩ Mỹ là họ là những “thánh chiến
quân” tham gia vào cuộc chiến của Chúa Ki Tô chống Việt Cộng và dân
chúng Bắc Việt” (John Cooney, p.384: In a lesson from the
medieval Church, Spellman told the troops they were “holy crusaders”
engaged in “Christ’s war against the Viet-cong and the people of
North Vietnam). Nhưng tại sao Chúa lại chống Cộng ở một nước nhỏ bé
như Việt Nam, sao Chúa không chống Cộng ở Nga, ở Tàu, hay ở Ba Lan,
Tiệp Khắc ngay bên Âu Châu? Vatican, thêm một lần nữa, đã mang tội
với dân tộc Việt Nam và các tín đồ Công Giáo Việt Nam phải gánh cái
hậu quả này. Chúng ta cũng thấy rõ, Ngô Đình Diệm chẳng qua chỉ là
một con cờ của liên minh Mỹ-Vatican. Và Ngô Đình Diệm không thể ngờ
được rằng về sau, vì quyền lợi của Vatican và của Mỹ, cả Vatican và
Mỹ đều bỏ rơi mình, đưa đến một kết quả quá bi thảm cho chính bản
thân. Thật là tội nghiệp. Dưới hình thức nào thì thực dân cũng đều
như nhau. Ngày nay, những tàn dư của Cần Lao còn cố gắng “phục hồi
tinh thần Ngô Đình Diệm” mà không biết rằng họ đang phục hồi tinh
thần Trần Ích Tắc.
Để cho công
bình, chúng ta cũng còn phải xét thêm việc từ khi về làm Thủ Tướng
và rồi tự lên làm Tổng Thống, “Cụ Diệm” đã làm gì cho đất nước? Đã
có nhiều sách viết về nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: Đỗ Mậu, Lê
Trọng Văn, Hồ Sĩ Khuê, Nguyệt Đam & Thần Phong, Nguyễn Mạnh Quang,
Vũ Ngự Chiêu v..v... Nhưng xin đọc Phần II để biết người Tây Phương
đánh giá ông Ngô Đình Diệm như thế nào.
1. Though few people knew this,
the Cardinal played a prominent role in creating the political
career of a former seminary resident in New York who had just become
Premier of South Vietnam, Ngo Dinh Diem. In Diem, Spellman had seen
the qualities he desired in any leader: ardent Catholicism and rabid
anti-Communist.
Spellman
had met Diem in New York in 1950, when the Vietnamese had been at
the Marykoll Seminary in Ossining, New York. A staunch Catholic
from a patrician family, Diem was at seminary at the intercession of
his brother, Ngo Dinh Thuc, a Roman Catholic bishop. A lay celibate
and deeply religious, Diem had cut himself off from the world,
especially his war-shredded nation, and had been known only to a
small, politically active circle in the United States. In his
homeland his name had hardly evoked enthusiasm. On an official
level in the United, Diem was an unknown quantity, a situation
Spellman helped rectify. Diem’s background meant that he inevitably
came to the attention of Spellman.
The man
responsible for bringing them together was Father Fred McGuire. A
former missionary to Asia, McGuire’s intimate knowledge of the Far
East was well known at the State Department. One day the priest was
asked by Dean Rusk, then head of the Asian section, to see that
Bishop Thuc, who was coming to the United States, met with State
Department officials, McGuire recalled. Rusk also expressed an
interest in meeting Diem.
McGuire
contacted his old friend Bishop Griffiths, who was still Spellman’s
foreign affairs expert. He asked that Thuc be properly received by
the Cardinal, which he was. For the occasion Diem came to the
Cardinal’s residence from the seminary. The meeting between
Spellman and Diem may well have been a historic one. Joseph
Buttinger, a prominent worker with refugees in Vietnam, believed the
Cardinal was the first American to consider that Diem might go home
as the leader of South Vietnam.
In October
1950 the Vietnamese brothers met in Washington at the Mayflower
Hotel with Stae Department officials, including Rusk. Diem and Thuc
were accompanied by McGuire as well as by three political churchmen
who were working to stop Communism: Father Emmanuel Jacque, Bishop
Howard Carroll, and Georgetown’s Edmund Walsh. The purpose of the
meeting was to ask the brothers about their country and determine
their political beliefs. It soon became clear that both Diem and
Thuc believed that Diem was destined to rule his nation. The fact
that Vietnam’s population was only ten percent Catholic mattered
little as far as the brothers were concerned.
As Diem
spoke during the dinner, his two most strongly held positions were
readily apparent. He believed in the power of the Catholic Church
and he was virulently anti-Communist. The State Department
officials must have been impressed. Concerned about Vietnam since
Truman first made a financial commitment to helping the French
there, they were always on the lookout for strong anti-Communist
leaders as the French faded. After Dien Bien Phu, Eisenhower wanted
to support a broader-based government than that of Emperor, who
enjoyed little popular support and had long been considered a puppet
of the French and the Americans. Thus US officials wanted a
nationalist in high office in South Vietnam to blunt some of Ho Chi
Minh’s appeal. The result was that Bao Dai offered Diem the job he
had always wanted – Prime Minister. Diem returned to Saigon on June
26, 1954, or several weeks after the arrival of Edward Lansdale, the
chief of the CIA’s Saigon Military Mission, who was in charge of
unconventional warfare..
Spellman’s
Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope.
Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the
years of the escalating U.S. commitment to Vietnam, said the Pope
wanted the US to back Diem because the Pope had been influenced by
Diem’s brother, Archbishop Thuc. “The Pope was concerned about
Communism making more gains at the expense of the Church,” Martin
averred. “He turned to Spellman to encourage American commitment to
Vietnam”.
Thus
Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to prop up
the Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the
problem of confronting anti-Communism in Indochina became widely
known in America. One of the men Spellman aided in promoting the
Diem cause was Buttinger, a former Austrian Socialist who headed the
International Rescue Committee, an organization that had helped
refugees flee Communism after Worl War II and now helped people
fleeing North Vietnam. The Geneva Accords provided that people
moving between the north and south should have 300 days in which to
do so. The refugee problems were enormous. When he visited New
York, Buttinger met with Spellman and explained the situation. The
Cardinal placed him in touch with Joe Kennedy, who arranged meetings
for Buttinger with the editorial boards of major publications such
as Time and the Herald tribune. Editorials sympathetic to the
plight of refugees fleeing Ho Chi Minh’s Vietnam began appearing in
the American press.
Spellman
and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington. The
rallying cries were anti-Communism and Catholicism. Through their
connections, they soon had a high-powered committee, which was a
lumpy blend of intellectuals and conservatives… Spellman’s man on
the board was Monsignor Harnett, who headed the Cardinal’s Catholic
Near East Welfare Association and now served as the Vietnam lobby’s
chief link with the Catholic Relief Services.
To a large
extent, many Americans came to believe that Vietnam was a
preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly
from Diem’s emergence as ruler. With the help of the CIA-rigged
election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced
to live in exile. The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby
also accounted for much of the widespread belief. Still another
factor was Spellman’s identification with the cause.
Then there
was the role of a winsome young Catholic doctor working in Vietnam
named Tom Dooley. A navy lieutenant who operated out of Haiphong,
Dooley worked with refugees. At one point Dooley, a favorite of
Spellman, even organized 35000 Vietnamese Catholics to demand
evacuation from the north. Dooley’s efforts were perhaps even more
successful in the US than in Vietnam. He churned out newspaper and
magazine articles as well as three best selling books that
propagandized both the Catholic and anti-Communist nature of his
beliefs. He fabricated stories about the suffering of Catholics at
the hands of perverted Communists who beat naked priests on the
testicles with clubs, deafened children with chopsticks to prevent
them from hearing about God, and disembowed pregnant women. A
graduate of Notre Dame in Indiana, Dooley toured the US promoting
his books and anti-Communism before he died, in 1964, at age 34.
One of the last people to visit his sickbed was Cardinal Spellman,
who held up the young physician as an inspiration for all – another
martyr. Dooley’s reputation remained untarnished until a Roman
Catholic sainthood investigation in 1979 uncovered his CIA ties.
Dooley had
helped the CIA destabilize North Vietnam through his refugee
programs. The Catholics who poured into South Vietnam provided Diem
with a larger political constituency and were promised US-supported
assistance in relocating. The American public largely believed that
most Vietnamese were terrified of the cruel ad bloodthirsty Viet
Minh and looked to the God-fearing Diem for salvation. Many
refugees simply feared retaliation because they had supported the
French…
Spellman's
propagandizing of the Catholic nature of Diem's regime reinforced a
negative image of the Church's position in Vietnam. The sectarian
nature of Diem's government and the problems of that government were
noted by the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch
from Saigon printed in the London Sunday Times on April 24, 1955:
An
unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of
Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are
spent on organizing demonstrations for the visitors, and an
impression is given that the Catholic Church is occidental and an
ally of the US in the cold war.
...The
South, instead of confronting the totalitarian North with the
evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship:
newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by
administrative order and not by judgement of the courts. It is
unfortunate that a government of this kind should be identified with
one faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of
anti-Catholicism.)
During his
visit Spellman presented a check for $100000 to the Catholic relief
Services, which was active in the refugee-relocation program and
later administer a great deal of the US aid program, which closely
bound the CRS to the US war effort and later led to the suspicion
that the CRS had CIA ties. Turning to the Church to perform such a
function was done in Latin America, among other places, but in
Vietnam it eventually seemed to bear out Graham Greene’s warnings
that the Church and the US were being tied to a cause unpopular
among Vietnamese.
The potential for
corruption in Vietnam was tremendous and also harmed the CRS’s
reputation. Drew Parson estimated that in 1955 alone, the
Eisenhower administration pumped more than $20 million in aid into
Vietnam for the Catholic refugees. Unavoidably, there was much
graft and corruption involved in getting food, medical supplies, and
other goods from ship to villages. By 1976 the National Catholic
Reporter, a hard-nosed weekly newspaper, reported apparent CRS
abuses in articles such as one entitled “Vietnam 1965-1975. CRS
Role: Christ’s Work – or the CIA’s” The abuses cited included using
supplies as a mean of proselytizing; giving only Catholics aid mean
for everyone, being identified with the military; and giving CRS
goods to American and Vietnamese soldiers rather than to the
civilians for whom the goods were meant.)
Phần II
Sau khi về làm Thủ Tướng và
rồi Tổng Thống, ông Ngô Đình Diệm đã cai trị miền Nam như thế nào.
Những tài liệu nhận định về con người Ngô Đình Diệm và chính quyền
Ngô Đình Diệm của một số tác giả ngoại quốc có tên tuổi sau đây sẽ
trả lời câu hỏi này. Những tài liệu này cũng còn cho thấy ý nghĩa
đích thực của phong trào tranh đấu Phật Giáo 40 năm trước đây và
không còn bị lừa dối bởi những luận điệu quái gở như Phật Giáo thân
Cộng, Phật Giáo làm “mất nước” (sic) v..v.. của một đoàn thể đã nổi
tiếng là “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc.”
1. "Vietnam: Crisis of Conscience" by Robert McAfee Brown, Abraham
J. Heschel & Michael Novak, Associated Press, New York 1967, p. 30:
Ký giả
người Úc Denis Warner viết “Trong nhiều năm, cái chế độ
bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với ở Saigon
(chế độ Ngô Đình Diệm) thì còn tệ hơn là cái chế độ mà Tây
phương đang chiến đấu để chống (chế độ CS)”. Diệm
và gia đình ông ta đã giết hoặc lưu đày tất cả những thế đối lập.
“Diệm đã mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng”
như Bộ Trưởng McNamara đã nhận định ngày 26 tháng 3, 1964.
(The Australian writer
Denis Warner wrote that "the tyranny the West allied with in Saigon
was in many years worse than the tyranny it was fighting against."
Diem and his family had murdered or exiled all potential
opposition. Diem had "lost the confidence and loyalty of his
people," as Secretary McNamara put it on March 26, 1964.)
2. "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald (Winner of the Pulitzer Prize, Winner of the
National Book Award, Winner of the Bancroft Prize For History),
Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139:
Cái chất
công giáo của Diệm, không hề mở mắt hắn đến với những ý tưởng mới,
mà chỉ thuyết phục hắn là cai trị bằng nghi lễ và huấn thị đạo đức
là có thể thành công, mà nó có vẻ như vậy trong các làng
mạc ở miền Bắc và Trung sống trong cái vỏ bằng sắt và điều khiển bởi
các linh mục.
Cái
mà hắn ta không ý thức được là cái kiểu cai trị thiển cận như vậy
của các giáo xứ có thể thực hiện chỉ vì người Pháp đã bảo vệ họ và
tổ chức nền hành chánh quốc gia. Do đó, tham vọng của
hắn phục hồi xã hội cổ xưa giống như là của những tên thực dân Pháp,
coi mình như cha người ta, đã chống những chương trình cải cách của
những giới chức hành chánh nơi thành thị – sự khác biệt là trong khi
người Pháp giữ lãnh vực hiện đại cho riêng họ thì Diệm không nhận ra
được sự quan trọng của vấn đề hiện đại hóa. Đối với hắn, thế giới
hiện đại là Sài-Gòn, cái thị trấn ký sinh trùng đó đã trở
nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương...
Những ký
giả như Robert Shaplen đã chỉ trích Diệm như làm cho những
nông dân xa lánh vì những biện pháp đàn áp của hắn.
Một số
đông những giới chức và ký giả, kể cả những người có nhiều kinh
nghiệm và có khuynh hướng chính trị khác nhau như Douglas Pike,
Chester Bowles, và chuyên gia chống nổi loạn người Anh, Robert
Thompson, đều coi Diệm như là kẻ thù của chương trình
chống Cộng.
Trong tất cả những năm cầm quyền, Ngô Đình Diệm chỉ có một đồng
minh ở thôn quê, đó là những người Công giáo, đặc biệt nhất là những
người di cư từ ngoài Bắc vào. Ngay từ đầu, Diệm dùng
trong bộ máy hành chánh phần lớn là những người Công giáo, và thiên
vị các làng Công giáo đối với phần còn lại của quốc gia.
Những giới chức của Diệm, làm việc chặt chẽ với các linh mục, đem
phần lớn viện trợ Mỹ cho các làng Công giáo, và phần lớn những nông
sản. Chúng cho những người Công giáo quyền khai thác lâm sản và độc
quyền sản xuất loại hàng hóa nông sản mới do các kỹ thuật gia Mỹ đưa
vào giúp. “Theo đạo có gạo mà ăn” là một câu tục ngữ khi xưa của
người Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Dưới thời Diệm người
dân Việt đã phải theo cái lệnh này. Đặc biệt ở miền Trung, hàng
ngàn người, trong vài trường hợp hầu như toàn thể khu định cư, theo
đạo để tránh những dịch vụ cỏ vê của chính phủ, hoặc để tránh biện
pháp tái định cư trong vài vùng rừng rú hay sình lầy gian khổ – để
giúp những người Công giáo lân cận. Nuôi người Công giáo
trong sự tổn hại của phần còn lại của dân chúng, lẽ dĩ nhiên, là một
chính sách thiển cận, nhưng Diệm không thấy một đường lối nào khác,
và Mỹ cũng không đề nghị cho Diệm một đường lối nào khác.
(Diem's
Catholicism, far from opening him up to new ideas, only persuaded
him that government by ritual and moral instruction could work, as
indeed it seemed to in the ironclad, priest-ridden villages of the
north and center.
What he did
not realize was that such parochial governments could operate merely
because the French protected them and organized the administration
of the country. His ambition to restore the old society therefore
resembled that of the paternalistic French colons who had opposed
the reformist programs of the metropolitan administrators - the
difference being that while the French wished to keep the modern
sector for themselves, Diem did not recognize its importance. For
him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened
from the blood of the countryside and the lucre of the West.
...Journalists, such as Robert Shaplen, criticized Diem for
alienating the peasants by his oppressive measures.
..A host of
officials and journalists, including such experienced and
politically diverse men as Douglas Pike, Chester Bowles, and the
British counterinsurgency expert, Sir Robert Thompson saw Diem as
the enemy of the anti-Communist project.
...In all the
years of his reign Ngo Dinh Diem found only one ally in the
countryside, and that was the Catholics, most particularly the
northern refugees. From the beginning he staffed his administration
heavily with Catholics and favored the Catholic villages over all
the rest. The Diemist officials, working closely with the priests,
saw to it that the Catholic villages took the bulk of US relief aid,
the bulk of agricultural credit.
They gave the Catholics the
right to take lumber from the national reserves and monopoly rights
over the production of the new cash crops introduced by the American
aid technicians. "Turn Catholic and have rice to eat", went the old
Vietnamese saying under the French regime. Under Diem the South
Vietnamese continued to follow the injunction. In Central Vietnam
particularly, thousands of people, in some cases virtually whole
settlements, turned Catholics so as to escape the government corvés
or to avoid resettlement - for the benefit of their Catholic
neighbors - into some hardship zone of jungle and swamp. To feed
the Catholics at the expense of the rest of the population was, of
course, a shortsighted policy, but Diem saw no alternative, and the
Americans offered him none.)
- "Background to Vietnam" by Bernard Newman. Signet Books,
New York 1965, p. 117:
Bất
kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm cai trị như là một nhà độc tài.
Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công giáo Pháp,
những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị. Thuyết này nhấn mạnh đến nhân
cách để chống với quan niệm đưa quần chúng vào kỷ luật của Cộng Sản.
(Thực ra, đây chỉ là một chiêu bài chống Cộng vì trong cấu trúc
toàn trị của Công Giáo thì tín đồ chỉ có quyền vâng phục các bề
trên, do đó làm gì có Nhân Vị. TCN). Chi tiết về thuyết này phức
tạp, khó hiểu đối với mọi người trừ một triết gia. Một chuyên gia
Mỹ được mời đến để cố vấn cho hệ thống thuế má địa phương mô tả thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh
của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những
tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan
niệm là không thể thành đạt được gì nhiều ở Việt Nam nếu không có
sự kiểm soát của chính phủ.”
Trên
thực tế chính phủ đây là chính phủ Diệm.
...Ngày
tháng qua, cách cai trị của Diệm càng ngày càng trở nên không thể
chịu được, và tới năm 1963 hắn là một nhà độc tài hoàn
toàn, chỉ nghe những thân nhân trong gia đình. Hắn hoàn
toàn xa lạ với quần chúng. Người ta phàn nàn là hắn đã trao những
chức vụ tốt nhất cho người Công giáo: nhưng những người
Công giáo là “người ngoại quốc” – những người di cư từ ngoài Bắc
vào. Sự bất mãn đưa đến phong trào chính trị của Phật Giáo.”
(Whatever
the constitution might say, Diem ruled as a virtual dictator. His
political philosophy was derived from a group of French Catholics,
who formulated a doctrine known as Personalism. It emphasises human
dignity as opposed to the Communist concept of disiplined masses.
Its detail is complicated, and difficult of comprehension to all but
a philosopher. An
American
expert who was called in to advise on the local system of taxation
described Personalism as "a confused mélange of papal encyclicals
and kindergarten economics, combined with a suspicion of private
businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude that little
could be accomplished in Vietnam without direct government control."
In practice,
it meant government by Diem.
...With the passing months
Diem's attitude became more intolerable, and by 1963 he was the
complete dictator, seeking advice only from his immediate
relatives. He was completely aloof from the common people. It was
complained that he gave all the best posts and showed all the favor
to Catholics: but the Catholics were "foreigners" - refugees from
the North Vietnam. The resentment brought about the rise of a
Buddhist political movement.)
4. "Backfire: Vietnam -
The Myths That Made Us Fight, the Illusions That Help Us Lose, The
Legacy That Haunts Us Today" by Loren Baritz, Ballantine Books,
New York 1985, pp. 83-85:
Công
giáo Việt Nam phát triển do chính sách kỳ thị Phật Giáo một cách có
hệ thống của Ngô Đình Diệm. Người Công giáo được dùng
trong các dịch vụ dân sự, trong khi những người Công giáo sống trong
những làng mạc thường không bắt buộc phải làm những công việc nặng
nhọc làm đường xá và những việc công cộng. Không giống
như những Chùa Phật Giáo, nhà thờ Công giáo được đặc quyền sở hữu
tài sản đất đai, cũng như trong thời Pháp thuộc. Với thời gian, sự
kỳ thị đối với tuyệt đại đa số dân chúng này đưa đến những phản đối
chính trị chống Diệm của những nhà sư Phật Giáo.
...Diệm làm
cho người Mỹ khó chịu không chỉ vì đường lối cai trị của hắn.
Hắn thích thú trong việc đàn áp những đối lập chính trị mà hắn
đã bắt giữ lên tới 40000 người. Đầu năm 1959,
Diệm hợp thức hóa sự tàn bạo của mình bằng sự thiết lập những tòa án
quân sự để xử những đối lập chính trị và xử tử hình trong vòng ba
ngày. Những tòa án này bắt giữ, điều tra, và tuyên án
những kẻ phạm tội.
Diệm hăng say đóng cửa những nhà báo không ủng hộ hắn. Tệ hơn
cả, hắn dẹp bỏ cấp lãnh đạo trong các làng mạc và thay thế họ bằng
những người của Diệm. Hắn đã trở thành một nhà độc tài.
(The
Catholic Vietnamese thrived under Diem's systematic discrimination
against the Buddhists. The Catholics were preferred in the civil
service, while those who lived in the villages were not always
required to do the hard labor of building roads and other public
works. The Catholic Church, unlike the Buddhist Pagodas, had
special rights to acquire and own property, as had been the case
under the French. In time, this discrimination against the vast
majority of the country would lead to politically lethal protests
against Diem by the Buddhist bonzes.
...Diem
annoyed Americans not only because his personal way of doing things.
He was an enthusiast when it came to repressing his political
opponents, of whom he arrested upwards of 40,000. In early 1959,
Diem legalized his brutality by creating special military courts to
try political opponents and to pass sentences of death in no more
than three days. These courts made the arrests, conducted the
inquiries, and sentenced the guilty.
...Diem closed newspapers that
did not support him with the requisite fervor. Worst of all, he
destroyed the leadership in the villages and replaced it with his
own appointees. He had become a dictator.)
5. "A Bright Shining Lie"
by Neil Sheehan, Vintage Books, New York 1989, p. 143:
Lansdale
để cho những tiên kiến của mình đưa tới những giả định sai lầm...
Lansdale nghĩ rằng những người Công giáo di cư từ miền Bắc
là những người yêu nước đã “chiến đấu giành lại sự tự do của đất
nước từ người Pháp”. Hắn không nhìn thấy sự sai lầm nào trong vấn
đề Mỹ chỉ tin cậy vào sự trợ giúp đặc biệt của người Công Giáo. Hắn
không nhìn thấy vấn đề có một người Công Giáo làm tổng thống của cái
mà hắn quan niệm là “Việt Nam Tự Do” là không thích hợp.
Công
giáo Rô Ma là một thiểu số có nhiều tỳ vết ở Việt Nam.
Lansdale lo việc phân biệt giữa người Mỹ và những tên “thực dân”
Pháp. Điều hắn làm là đưa ra sự phân biệt tuy chẳng có gì khác
nhau.. Chỉ dựa vào người Công giáo giúp đỡ, và bằng cách
đặt một người Công Giáo lên cầm quyền ở Saigon, hắn ta đã chứng tỏ
là Mỹ đã nhảy vào thay thế người Pháp. Những
người Việt Nam theo đạo Công giáo đã được người Pháp sử dụng như là
một đạo quân thứ 5 để xâm nhập Việt Nam trước thời thuộc địa và
những người Công Giáo đã được Pháp tưởng thưởng cho sự hợp tác của
họ với những tên thực dân Pháp. Người Công Giáo thường bị coi như
là thuộc một tôn giáo”ngoại lai”, “không phải là Việt Nam”. Với sự
ra đi của người Pháp, hiển nhiên là người Công Giáo phải tìm một một
ngoại bang khác để bảo vệ họ. Họ nói với Lansdale những gì mà họ
cho rằng Landale muốn nghe...
..Trong sự
hướng dẫn Diệm của Lansdale đến thành công bằng cách diệt các giáo
phái dựa trên lý thuyết Diệm là Magsaysay để lập một chính phủ tập
trung quyền lực mới, không bao giờ Lansdale lại nghĩ rằng Diệm bắt
đầu chính sách cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người chống
Cộng hữu hiệu nhất ở miền Nam.
Dòng họ Ngô Đình tiến tới sự áp đặt trên miền Nam Việt Nam cái
tôn giáo Công giáo ngoại lai của họ, đảng Công giáo bảo
thủ từ ngoài Bắc vào và từ vùng quê hương của họ ở miền Trung. Diệm
và gia đình bổ nhiệm những sĩ quan chỉ huy đơn vị, những nhân viên
hành chánh và cảnh sát bằng những người Công giáo, từ miền Bắc và từ
miền Trung, quê hương của Diệm. Diệm và gia đình hắn bổ nhiệm những
người Công giáo vào cấp chỉ huy quân đoàn, hành chánh và cảnh sát.
Nông dân ở miền đồng bằng sông Cửu Long thấy mình bị cai
trị bởi những tỉnh trưởng, hạt trưởng, bởi những viên chức hành
chánh ngoại lai và thường là cao ngạo và tham nhũng...
(Lansdale
let his preconceptions lead him to false assumptions...Lansdale
thought the Catholic refugees from the North were Vietnamese
patriots who had "fought for their country's freedom from the
French"..He saw nothing wrong with the US singling out these
Catholics for special assistance. He saw nothing inappropriate about
having a Catholic as president of what he perceived to be a "Free
Vietnam"
Roman
Catholics were a tainted minority in Vietnam. Lansdale was anxious
to draw a distinction between Americans and French "colonialists."
What he did was to make the distinction one without a
difference...By singling out the Catholics for help, and by putting
a Catholic in office in Saigon, he announced that the US was
stepping in to replace the French. Vietnamese converts to
Catholicism had been used by the French as a fifth column to
penetrate precolonial Vietnam and then had been rewarded by the
colonizer for their collaboration. They were popularly regarded as
a foreign-inspired, "un-Vietnamese" religious sect. With the French
leaving, the Catholics were naturally seeking another foreign
protector. They told Lansdale what they sensed he wanted to hear.
...As Lansdale
guided Diem to success in crushing the sects on the theory that Diem
was the Magsaysay to form a new and central government, it would
never have occured to Lansdale that Diem was beginning his rule by
eliminating the most effective OPPONENTS of the Communists in the
South.
...The Ngo Dinhs proceeded to
impose on South Vietnam what amounted to their own alien sect of
Catholics, Northern Tories, and Central Vietnamese from their home
region. Diem and his family filled the officer corps of the army
and the civil administration and the police with Catholics,
Northerners, and Central Vietnamese they trusted. The peasants of
the Mekong delta found themselves being governed by province and
district chiefs, and by civil servants on the province and district
administrative staffs, who were outsiders and usually haughty and
corrupt men.)
6. "American in Vietnam"
by Dr. John Guilmartin, United Press International/Bettmann, England
1991, p.69:
Những
ảnh hưởng đối nghịch của sự thiếu khả năng và tính toán sai lầm của
Diệm không chỉ chấm dứt ở sự thất bại về quân sự chống Việt Cộng.
Nghi ngờ tất cả những người không có cùng đức tin Công
giáo của mình, và hoan hỉ với sự thành công trong việc dẹp bỏ các
giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, họ khởi sự chiến dịch chống Phật Giáo.
(The adverse effects of
the Diem's ineptitude and miscalculation did not end with military
failure against the Viet Cong. Suspicious of all who did not share
their Catholic faith, and having enjoyed success in suppressing the
Hoa Hao and Cao Dai, they embarked on an anti-Buddhist campaign.)
7. "Vietnam: The Valor and the Sorrow" by Thomas D. Boettcher,
Little Brown & Company, Boston 1985, p.150:
“Trong 10
đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công
tác chiến đấu chống du kích Cộng sản hay cải cách ruộng đất. Diệm
lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là Cộng sản.
...Như
là hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng gia tăng, sự
bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể
là toan tính của Diệm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội.
Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với Diệm.
Không lạ gì, hoạt động của Cộng sản gia tăng cùng với sự bất mãn của
quần chúng. Và những biện pháp đàn áp của Diệm cũng gia tăng theo
cùng nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt vào tù.
Cho tới
năm 1960, điều khác biệt duy nhất giữa hai chính quyền Ngô Đình Diệm
và Hồ Chí Minh là ở những lá cờ của họ.”
(Eight of
ten American aid dollars went for internal security, not to fight
Communist guerrillas or implement reforms such as land
redistribution. Diem was more worried about coups than Communists.
..As a
consequence of his increasingly repressive internal measures,
popular discontent with Diem gradually intensified, despite his
attempt to squelch it at every opportunity. The millions of
peasants in the countryside became estranged from him.. Not
surprisingly, Communist activity intensified as discontent
increased. And Diem's repressive measures increased accordingly.
Thousands were put in jail..
By 1960, the only difference
between the governments of Ngo Dinh Diem and Ho Chi Minh was their
flags.)
8. "The Indochine Story"
by the Committee of Concerned Asian Scholars, A Bantam Book, New
York 1970, pp. 32 & 34:
“Một nhân vật Mỹ ủng hộ Diệm lúc đầu kết luận: Lạm dụng quyền
lực, độc tài, tham nhũng, coi thường cấp dưới, và không đếm xỉa gì
đến nhu cầu của dân chúng một cách ác độc, đó là tấm gương mà gia
đình họ Ngô để cho những bộ trưởng, nhà lập pháp, tướng lãnh, tỉnh
trưởng, trưởng làng mà họ Ngô dùng như những quân cờ noi theo.
Đàng sau gia đình nhà Ngô là Mỹ. Ở dưới gia đình này
chẳng có gì mấy. Gia đình này đã trải cái bóng của họ
trên xã hội Việt Nam; tuy nhiên cái rễ của họ thật sự chỉ cắm nông
vào đất Việt. Điều này định trước những phương pháp Diệm
dùng để kiểm soát đất nước... Chỉ có một đường lối: đàn
áp và củng cố quyền lực trong tay những anh em và thuộc hạ của
Diệm.. Săn lùng toàn diện những người bất mãn được tổ
chức ở thôn quê năm 1956, và tăng gia cường độ khi tình hình suy
kém.
75000
người hay hơn nữa bị giết trong chiến dịch này. Còn
nhiều người hơn nữa bị tống giam bởi sắc lệnh số 6 của tổng thống,
ký trong tháng 1, 1956. Sắc lệnh nói: “Những cá nhân coi là nguy
hiểm cho quốc phòng và an ninh chung có thể bị bắt giam trong những
trại tập trung do lệnh của cơ quan hành pháp. Tình trạng
trong những trại tập trung của Diệm, chỉ bị phanh phui sau khi Diệm
đổ, thật sự nhơ nhớp. Cố ý để cho chết đói, cố ý làm cho mù, cố ý
hành hạ..., danh sách này thật là dài.”
(An early
American supporter of Diem concluded: Abuse of power, nepotism,
corruption, contempt for inferiors, and cruel disregard of the needs
of the people were the example set by the Ngo's "Family" for the
ministers, legislators, generals, province chiefs, and village
commissioners whom they used as pawns.
Behind the
family stood the US. Below it stood very little at all. It threw
its shadow over all Vietnamese society; yet its roots penetrated
shallowly indeed into Vietnamese soil. This predetermined the
methods by which Diem could extend his control over the
country...Only one way was open: repression and further
consolidation of power in the hands of his brothers and their
followers...Full scale manhunts against dissidents were organized on
the rural areas in 1956, and increased in later years as the
situation deteriorated.
75,000 or more people were
killed in this campaign. As many or more were incarcerated under
Presidential Ordinance No. 6, signed in January 1956 "Individuals
considered dangerous to national defense and commun security," it
said, could be confined by executive order in a "concentration
camp." Conditions in Diem's "reeducation centers," brought to light
only after his overthrow in 1963, were sordid indeed. Deliberate
starvation, deliberate blinding, deliberate maiming. The list is
long."
9. "The
Story of Vietnam" by Hal Dareff, An Avon Camelot Book, New York
1966, p. 108:
“Nay Diệm
đã thắng mọi kẻ thù, anh em nhà Diệm muốn chắc rằng không ai có thể
bứng họ đi. Ở ngoài mặt, Nam Việt Nam là một thể chế Cộng Hòa với
một hiến pháp mới toanh hứa hẹn tự do và dân chủ cho quần chúng.
Tuy nhiên, thực tế thì lại trái ngược hẳn... Nhu là cánh
tay phải của Diệm.. Hắn tổ chức gian lận bầu cử, đưa vào quốc hội
những tay sai của hắn, và sai bọn Cần Lao đi rình mò khắp nước để
kiếm những người chống đối hắn.
Chế độ
Diệm bắt đầu thoái trào vào đầu năm 1963. Tổng thống cai trị dân
trong dinh thự của mình như là một thể chế quân chủ, cắt lìa khỏi
quần chúng. Sự thù ghét Diệm và gia đình hắn gia tăng đến
độ người ta có thể cảm thấy đầy trong bầu không khí ở Saigon.
Tin đồn về đảo chánh loan truyền trong thành phố hầu như hàng ngày.
Trong những hoàn cảnh như vậy, Diệm chỉ lo bám chặt vào quyền lực.
Cuộc chiến (chống Cộng) trở thành thứ yếu. Sĩ quan được thăng cấp
nếu giữ được mức tổn thất thấp. Chỉ có một cách chắc chắn giữ được
như vậy – không tác chiến. Không tác chiến đã trở thành một cách
sống đối với một số cấp chỉ huy và là cách duy trì địa vị.
...Cuộc
tranh chấp giữa Diệm và các Phật tử đã được tích lũy kể từ ngày Diệm
lên làm thủ tướng năm 1954. Diệm, một tín đồ Công giáo, đương nhiên
là cảm thấy thoải mái hơn đối với những tín đồ Công giáo khác.
Nhiều chức vụ chỉ huy trong chính quyền và quân đội được trao cho
những người Công giáo, những người này được đặc quyền đặc lợi làm
tiền trong những thương vụ của chế độ.
Trong số
15 triệu dân ở miền Nam Việt Nam, hơn 1 triệu một chút là người Công
giáo. Phần còn lại, phần lớn là Phật tử, phẫn nộ vì chính sách
thiên vị người Công giáo. Sự đối xử khác biệt này còn trắng trợn
hơn ở các tỉnh lỵ, nơi đây các linh mục địa phương và các giới chức
chính quyền, hầu hết là Công giáo, có toàn quyền. Khi các ấp chiến
lược được dựng lên, những người Công giáo được miễn làm việc và
những người phi-Công giáo bị đưa vào chỗ thay thế họ để làm những
công việc lao dịch. Những vùng đất mới được mở mang và phát triển,
người Công giáo được chọn những miền đất phì nhiêu ở những miền
duyên hải có an ninh. Những đất đai dành cho Phật tử ở sâu trong
nội địa, ở đây họ phải lao động dưới sự đe dọa của Việt cộng.
Nhiều Phật tử theo đạo (không có nghĩa là tin đạo. CTN) để
được sống dễ dàng hơn.”
(Now
that Diem had won out over all his foes, the brothers wished to make
sur that no one else would unseat them. On the surface, South
Vietnam was a republic with a brand-new constitution promising
freedom and democracy to its people. In practice, however, the very
opposite was true...Nhu was Diem's right arm...He fixed elections,
packed the National Assembly with his henchmen and hirelings, and
sent his Can Lao prowling the country in search for dissidents..
Twilight had
begun to settle over the regime of Ngo Dinh Diem as the year 1963
began. The president ruled in his palace like a monarch cut off
from his people. Hatred of him and his family mounted until the air
of Saigon seethed with it. Runors of plots and coups swirled
through the city almost daily. In these circumstances, Diem sought
only to hold on to his power. The war became secondary. Officers
were promoted when they kept the casualty lists down. There was
only one sure way to do that - not to fight. Not fighting became a
way of life with some commanders and a way of keeping their jobs.
...A
showdown between Diem and the Buddhists had been building ever since
he became premier in 1954. Diem, a Catholic, naturally felt more at
home with other Catholics. Many of the leading posts in the
government and army were held by Catholics, who were also privileged
when it came to making money out of business deals engineered by the
regime.
Of the 15 million people of
South VN, a little more than a million were Catholic. The rest,
mainly Buddhist, resented the favoritism shown Catholics. The
difference in treatment was even more blatant in the provinces where
the local priests and government officials, mostly Catholic, too,
were all-powerful. When strategic hamlets were built, the Catholic
inhabitants were exempted from working and non-Catholics were
brought in to labor in their places. When new land was opened for
development, Catholics got the pick of the land in the safe coastal
regions. The land given to Buddhists was inland, where they would
have to work under the menacing shadow of the Viet Cong. Many
Buddhists, seeing where the grass was greener, tried to become
Catholics.)
10. The Two Viet-Nams" by Bernard B. Fall, Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967:
Trang
236: Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như
thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất từ ái của các
tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của một Đại Phán Quan Tây
Ban Nha của Tòa Án Dị Giáo (Torquemada); và
Quan điểm của ông ta về chính quyền thì ít có tính chất của một tổng
thống theo hiến định của một nước cộng hòa hơn là
một bạo chúa theo truyền thống quan lại
phong kiến . Một người Pháp theo Công Giáo khi nói chuyện
với ông ta muốn nhấn mạnh về ảnh hưởng văn hóa Pháp đối với ông Diệm
đã nhấn mạnh những từ như "tín ngưỡng của chúng ta", thì
Diệm thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là
một người Công Giáo Tây Ban Nha", có nghĩa là, ông ta
là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) của một đức
tin hung hăng, hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và
khoan dung giống như người Pháp theo hệ phái Công Giáo Gallican."
(Ngo Dinh
Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the
kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the
Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the
constitutional strength of a President of the republic than of the
petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic
interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture
by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered
calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic,"
i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith
rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican
Catholicism.)
Trang
250: “Trong số những người lên cầm quyền cùng với Diệm
năm 1954-55, KHÔNG MỘT NGƯỜI NÀO còn giữ chức vụ bộ trưởng khi Diệm
bị giết năm 1963. Một vài người bị lưu đày ở Pháp hoặc Mỹ, và một
vài người rút lui với thái độ trông chờ ở Saigon. Một sự dập theo
những phương pháp toàn trị của Cộng sản Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng
Đảng của Ngô Đình Nhu. Đảng này trở thành một hệ thống quyền lực
hoàn toàn giống như của Cộng sản, với những thành viên mật và chỉ
biết nhau trong những tổ 5 người, và những “nhóm hành động” có nhiệm
vụ dẹp bỏ mau chóng và kín đáo những người đối lập... Như vậy, chế
độ Diệm sai lầm trong hai phương diện: Quân đội không bao giờ thực
sự hữu hiệu, và các sĩ quan ở quân đoàn thì không trung thành với
những ông chủ dân sự và nhắm mắt làm ngơ trước sự thất bại của chế
độ.
Trong sự
mô tả đảng Cần Lao, John C. Donnell định nghĩa Cần Lao như là “một
đảng chính trị mạnh gồm những thành viên thường tin rằng mình thuộc
những đảng chính trị khác và ngự trị những đảng này.” Nói cách
khác, những hoạt động trong hệ thống nội bộ của họ y hệt như của
đảng Cộng sản: dò thám bạn bè, xâm nhập đồng minh, và hoạt động như
“một quốc gia trong một quốc gia” trong chính guồng máy chính quyền
của mình. Nếu không còn cái gì khác, những điều trên có thể làm cho
chế độ Nam Việt Nam mang nhãn hiệu một loại “dân chủ của quần chúng”
chống-Cộng mà sự khác biệt lớn nhất đối với người anh em song sinh
Cộng sản Bắc Việt Nam là thái độ hành trì Công giáo và là sở hữu chủ
của những đồn điền cao su.”
(Of the men
who came to power with Diem in 1954-55, NOT ONE still held a cabinet
portfolio when he was murdered in 1963. Some were sent into exile
in France or the US, and a few simply retired and maintained a
"wait-and-see" attitude in Saigon. Another imitation of Communist
totalitarian methods was Ngo Dinh Nhu's Can-Lao Nhan-Vi Cach Mang
Dang, which became the perfect hierarchie paralle’le, with its
secret membership and five-men cells whose members knew only each
other, and "action groups" that could swiftly and quietly do away
with bothersome oppositionists...As it was, the Diem regime erred on
both counts: Its army never became really proficient, and its
officer corps remained disloyal to its civilian masters and connived
in their demise.
In his description of the
Can Lao, John C. Donnell defined the Can-Lao as a "powerful elite
political party whose members are commonly believed to belong to
other political parties also and to dominate them." In other words,
it did within its own system exactly what a Communist Party would
do: It spied on its own friends, infiltrated its own allies, and
acted as a "state within a state" in its own government's
machinery. If nothing else, this would brand the South Vietnamese
regime as a sort of anti-Communist "people's democracy" whose major
difference from its Communist North Vietnam TWIN was its attitude
toward the practice of Catholicism and the ownership of rubber
plantations.)
11. "An Eye For The
Dragon" by Dennis Bloodworth; Farrar, Straus & Giroux, New York
1970, p. 209:
“Cho
tới năm 1963 mật vụ của Diệm đã bắt giữ hoặc đẩy vào tay những kẻ
thù hầu như mọi người quốc gia có tên tuổi đã chiến đấu cho tự do
của đất nước trong 20 năm trước. Hắn và gia đình hắn đã đàn áp mọi
đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo chí, gian lận bầu cử, và bám
vào quyền lực.”
(...By 1963 Diem's secret
police had picked up or pushed into the arms of his enemies nearly
every prominent nationalist who had fought for the freedom of his
country during the previous 20 years. He and his familly suppressed
all opposition, filled the jails, muzzled the press, rigged the
elections, and clung to all power..)
12. " Intervention and
Revolution" by Richard J. Barnet, A Meridian Book, New York
1972, pp. 233-235:
“Khuyến
cáo rằng “nếu bầu cử được tổ chức ngày nay (1956) thì tuyệt đại đa
số dân Việt sẽ bầu cho Cộng sản,” Cherne tuyên bố rằng uy tín của Mỹ
ở Á Châu tùy thuộc vào sự ngăn chận cuộc bầu cử này. Phương pháp
giải quyết là củng cố lớp người Công giáo ở miền Nam Việt Nam, chỉ
có những người này mới có lý do thuộc về lý tưởng chống Cộng. Nhà
văn Công giáo người Anh, Graham Greene, đã mô tả việc Mỹ sử dụng
giáo hội Công giáo trong cuộc chiến tranh lạnh ở Việt Nam như sau:
Chính
cái ý hệ Công giáo đã làm cho chế độ của ông Diệm sụp đổ, vì sự
sùng tín của ông ta đã bị các cố vấn Hoa Kỳ khai thác cho đến khi
giáo hội Công giáo ở Việt Nam ở trong cơ nguy cùng chung số phận bất
thiện cảm của người dân Việt đối với Mỹ...Những khoản tiền to lớn
được dùng để tổ chức những cuộc đón tiếp quan khách ngoại quốc và
tạo nên ý niệm giáo hội Công giáo là của Tây phương và là đồng minh
của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi
mà Diệm đi kinh lý những vùng trước đây bị Việt Minh chiếm, bao giờ
cũng có một linh mục ở bên cạnh, và thường là một linh mục Mỹ...
Điều
quan tâm chính của chính quyền Diệm là sự an toàn của chính quyền.
Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định tổ chức vào tháng 7,
1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và chấm dứt quyền lực của
những chính trị gia không Cộng sản..
Những ước tính của cơ quan tình báo quốc gia CIA, soạn trong
tháng 2, 1957, mô tả chế độ Diệm như sau:
Chế độ
Diệm phản ánh ý nghĩ của Diệm. Một bộ mặt chính quyền đại diện cho
dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài.
Quyền lập pháp của quốc hội bị hạn chế gắt gao; quyền tư
pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp; và những nhân
viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của Diệm.
Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được
phép thành lập, và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp...Quyền
lực và trách nhiệm tập trung nơi Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những
thân nhân của Diệm, những người quan trọng nhất là Nhu và Cẩn.”
Chế độ độc tài của Diệm, dựa trên một mạng lưới mật vụ, tòa án
quân sự, và công chức tham nhũng, tuyên bố không những chiến đấu
chống Cộng mà cho tới năm 1957 Cộng sản vẫn chưa có hoạt động gì, mà
còn chống bất cứ nhóm nào không chắc là trung thành với Diệm. Thật
vậy, nhiều người không-Cộng-sản vào tù hơn là người Cộng sản.
...Sự
chuyên chế của Diệm, sự thiên vị trơ trẽn của hắn đối với những
người Công giáo tị nạn từ ngoài Bắc vào so với phần còn lại của dân
chúng, và sự bạo hành của hắn đối với mọi người không đồng quan niệm
chính trị với hắn đã tạo nên một sự liên kết chống hắn mà hắn rất
sợ.”
(Warning
that "if the elections were held today the overwhelming majority of
Vietnamese would vote Communist," Cherne declared that American
prestige in Asia was dependent upon preventing that result. The
answer was to strengthen the Catholic faction in South Vietnam, who
alone among Vietnamese had ideological reasons to be against the
communists. The British Catholic writer Graham Greene has described
the American use of the Catholic Church
in fighting
the Cold War in Vietnam:
It is a
Catholicism which has helped to ruin the government of Mr. Diem, for
his genuine piety...has been exploited by his American advisors
until the Church is in danger of sharing the unpopularity of the
US...Great sums are spent on organized demonstration for the
visitors, and an impression is given that the Catholic Church is
occidental and an ally of the US in the cold war. On the rare
occasions when Mr. Diem has visited the areas formerly held by the
Viet Minh, there has been a priest at his side, and usually an
American one.
...The major
interest of the Diem government was its own security. It feared
that the elections scheduled for July, 1956, would spell a victory
for Ho Chi Minh and the end of power for noncommunist
politicians....
The CIA
national intelligence estimates prepared in February, 1957,
described the Diem regime in these words:
Diem's
regime reflects his idea. A facade of representative government is
maintained, but the government is in fact essentially
authoritarian. The legislative powers of the National Assembly are
strictly circumscribed; the judiciary is underdeveloped and
subordinate to the executive; and the members of the executive
branch are little more than the personal agents of Diem. No
organized opposition, loyal or otherwise, is tolerated, and critics
of the regime are often repressed...The exercice of power and
responsibility is limited to Diem and a very small circle mainly
composed of his relatives, the most important being Nhu and Can.
...Diem's
dictatorship, supported with a network of informers, military
tribunals, and corrupt functionaries, declared war not only on the
communists, who until 1957 were quiescent, but also against any
group whose personal loyalty was not assured. Indeed, more
non-communists than communists ended up in Diem's jails.
...Diem's despotism, his
shameless favoring of Catholic refugees from the North over the rest
of the population, and his persecution of all political dissidents
produced the coalition against him that he dreaded.)
13. "Vietnam Revisited"
by David Dellinger, p. 35:
Ngay từ
lúc đầu Diệm đã có khuynh hướng toàn trị và gia đình trị mà 8 năm
sau dư luận quần chúng lên án chính quyền của hắn.
“Khuynh
hướng toàn trị” của Diệm đã đưa đến việc thành lập một đảng chính
trị riêng tư, đảng cần Lao, một đảng duy nhất. [Thời đó không thấy ai đòi đa nguyên đa dảng. TCN]
Đảng Cần
Lao cũng phục vụ hắn như là mật vụ, dập theo khuôn mẫu của Nhật Bản
trong Thế Chiến II – mà Diệm đã nghiên cứu kỹ chi tiết.
Như chúng ta đã thấy, đảng này đã giết hại 90000 người và cầm tù
800000 trong đó có nhiều người bị tra tấn.
..Khi
Diệm về Việt Nam năm 1954, một người Công giáo theo lệnh
của một thế lực ngoại quốc về cai trị một nước mà 80% là Phật tử,
CIA đã thuê vài trăm người để hoan hô hắn tại
bến tàu. Nhưng cả CIA lẫn những giới chức Mỹ ủng hộ Diệm đều không
làm sao làm ngược được sự kiện là Diệm không có sự ủng hộ của quần
chúng, chính sách đàn áp đẫm máu của Diệm đối với từ các nhà sư Phật
giáo và các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài cho tới những nông dân yêu nước,
giới tư sản tôn trọng luật pháp, trật tự và một chút công lý, và
những tướng lãnh đối thủ – “kéo theo (và đã xảy ra) tất cả những khó
khăn vì một con người với nhân cách như vậy.”
(From the
very beginning Diem displayed that tendency toward autocracy and
family rule for which the mass media would belatedly condemn his
administration 8 years later.
Diem's
"tendency toward autocracy" led to the formation of a private
political party, the Can Lao, which was the only party.
The Can Lao
also served as a secret police, modeled after the system the
Japanese used in Vietnam during WWII - which Diem had studied in
detail.
It also
produced, as we have seen, the death of 90,000 opponents and the
imprisonment of another 800,000, with many of them tortured...
...When
Diem first arrived in Vietnam in 1954, a Catholic coming to rule at
the behest of a foreign power in a country whose population was 80%
Buddhists, the CIA had hired a crowd of several hundred "welcomers"
to greet him at the dock.
But not even the CIA and
Diem's more respectable US backers could permanently counteract his
lack of an indigenous base, his bloody suppression of all
opposition, from Buddhist monks and members of the Hoa Hao and Cao
Dai indigenous religions to peasant patriots, bourgeois devotees of
law, order and a modicum of justice, and rival generals - "all the
difficulties the presence of such a personality would [and did]
entail.")
14. "Vietnam: Why Did We Go?" by Avro Manhattan, Chick Publication,
California 1984, pp. 56 & 89:
“Tổng
thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là một ngưòi theo đạo Công giáo
cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt. Hắn ta thật
tình tin rằng Cộng sản là ác và giáo hội Công giáo là duy nhất.
Hắn đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII trồng vào
cái ghế tổng thống. Hắn đã biến cải ngôi vị tổng
thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn nhẫn nghiền nát những
đối lập chính trị và tôn giáo. Nhiều nhà sư Phật giáo tự
thiêu để phản đối những sự bạo hành tôn giáo của hắn. Sự bạo hành
kỳ thị đối với người phi-Công giáo, đặc biệt là các Phật tử, đã gây
nên sự rối loạn trong chính phủ và trong quân đội thì quân nhân đào
ngũ hàng loạt. Điều này đưa đến sự can thiệp quân sự của Mỹ.
Trong
chính sách khủng bố này hắn được sự phụ giúp của hai người anh em
Công giáo, người đứng đầu mật vụ (Ngô đình Nhu) và tổng giám mục ở
Huế (Ngô đình Thục).
Người ta
ghi nhận rằng, và những con số sau đây tuy không được chính quyền
chính thức khẳng định nhưng có thể coi là đáng tin cậy, là trong
thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960 – ít nhất là có 24000 người bị
thương, 80000 bị hành quyết hay bị ám sát,
275000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không,
và khoảng 500000 bị đưa đi các trại tập trung. Đây
chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường.
Đặt quyền lợi quốc gia ra đàng sau để đẩy mạnh quyền lợi tôn giáo
của hắn, kết quả là tên độc tài Diệm đã đưa đất nước xuống vực
thẳm.”
(President
Ngo Dinh Diem of South Vietnam was a practicing Catholic who ruled
South Vietnam with an iron fist. He was a genuine believer in the
evil of Communism and the uniqueness of the Catholic Church. He had
originally been "planted" into the presidency by Cardinal Spellman
and Pope Pius XII. He transformed the presidency into a virtual
Catholic dictatorship, ruthlessly crushing his religious and
political opponents. Buddhist monks committed suicida by fire,
burning themselves alive in protest against his religious
persecutions. His discriminatory persecution of non-Catholics,
PARTICULARLY BUDDHISTS, caused the disruption of the government and
mass desertions in the army. This eventually led to US intervention
in South Vietnam.
In this
terrorization he was aided by his two Catholic brothers, the Chief
of the Secret Police and the Archbishop of Hue.
...It has been
reckoned, and the figures although lacking any official confirmation
are considered to be concretly reliable, that during this period of
terror - that is from 1955 to 1960 - at least 24,000 were wounded,
80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been
detained, interrogated with or without torture, and about 500,000
were sent to concentration or detention camps. This is a
conservative estimate.
...With the result that by
relegating the interest of his country to the background, so as to
further the interests of his religion, dictator Diem finally brought
his land into the abyss.)
15. "Nobody Wanted War"
by Ralph K. White, A Doubleday Anchor Book, New York 1970, p. 91:
“Diệm,
người em dở điên và vợ hắn (Nhu và vợ), đã làm cho mọi nhóm quan
trọng trong nước, kể cả nhóm chống Cộng thực tế nhất, nhóm này đã
thấy rõ gia đình Diệm đã hạ thấp và làm yếu đi cuộc tranh đấu chống
Cộng, và sau cùng cả những sĩ quan cao cấp trong quân đội, những
người mà mọi tên độc tài không được lòng người phải trông cậy vào họ
để sống còn, xa lìa.
Theo Malcolm Browne, chế độ Diệm đã bị cả nước oán ghét. Nếu nhà
Ngô còn cầm quyền cho đến ngày nay (1965) thì chắc chắn là Việt Nam
sẽ hoàn toàn là Cộng sản.” [Bọn Công giáo hoài Ngô
ngày nay vẫn còn đưa ra luận điệu “Còn cụ thì không mất nước”]
(Diem, his
half-mad brother Nhu and his brother's wife had alineated one by one
every important group in the country, including most of the
realistic anti-Communists who saw how the Ngo family was debassing
and weakening the anti-Communist struggle, and at last including the
upper echelon of the armed forces, on which every unpopular dictator
must rely for survival.
According to Malcolm
Browne, there was a "sweeping hatred" of the regime throughout the
country. If the Ngo family had remained in charge there is little
doubt that Vietnam would be entirely Communist today. (1965).)
- "The Political Economy of Human Rights. Vol I" by Noam
Chomsky and Edward S. Herman, Black Rose Books, Canada 1979, pp.
30, 302-303:
“Joseph
Buttinger, một cố vấn của Diệm lúc đầu và là người đã bày tỏ sự ủng
hộ Diệm nồng nhiệt nhất trong thập niên 1950, khẳng định là gọi Diệm
là phát xít thì không thích hợp vì, tuy chế độ Diệm có tất cả những
sự xấu xa của chế độ phát xít, Diệm thiếu cơ sở quần chúng mà Hitler
và Mussolini đã có thể tập hợp được.
..Theo
Jeffrey Race, một cựu cố vấn quân sự Mỹ cho Nam Việt Nam có rất
nhiều tài liệu về lịch sử Việt Nam cận đại, chính quyền
Diệm đã khủng bố người dân nhiều hơn là phong trào cách mạng nhiều –
thí dụ, thủ tiêu các cựu kháng chiến quân Việt Minh, bắn pháo binh
vào những “làng cộng sản” và bắt bớ những người “có thiện cảm với
cộng sản”. Cũng chính vì những chiến thuật đó mà lực
lượng của phong trào cách mạng càng ngày càng gia tằng ở Long An từ
1960 đến 1963.
..Sử gia của Ngũ Giác Đài viết về “bệnh gần như hoang tưởng của
Diệm lo lắng về vấn đề an ninh,” đưa đến những chính sách “khủng bố
toàn diện nông dân Việt Nam, và làm suy giảm trầm trọng sự ủng hộ
chế độ của quần chúng.”
Sự dùng bạo lực quá mức và trả thù những người cựu kháng chiến
của Diệm là sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Genève (Khoản
14c), cũng như là sự từ chối không thi hành điều khoản
tổng tuyển cử trên toàn quốc (vào tháng 7, 1956) của
Diệm. Lý do chính mà Diệm từ chối không thi hành điều khoản này vào
những năm 1955-56 (tổ chức và tổng tuyển cử trên toàn quốc) thật là
hiển nhiên: viên quan lại ly hương nhập cảng từ Mỹ vào chỉ
có một sự ủng hộ tối thiểu của quần chúng và ít có hi vọng thắng
trong một cuộc tổng tuyển cử...Diệm là mẫu người điển hình của một
tên bạo chúa phát xít, dùng khủng bố để bù đắp cho sự thiếu hụt sự
ủng hộ của quần chúng..”
(Joseph
Buttinger, an early advisor to Diem and one of his most outspoken
advocates in the 1950s, contends that the designation "fascist" is
innapropriate for Diem because, although his regime had most of the
vicious characteristics of fascisme, he lacked the mass base that a
Hitler or Mussolini could muster.
...According
to Jeffrey Race, a former US Army advisor in South Vietnam who had
access to extensive documentation on recent Vietnamese history,
..the government terrorized far more than did the revolutionary
movement - for example, by liquidations of former Vietminh, by
artillery and ground attacks on "communist villages" and by roundups
of "communist sympathizers". Yet it was just these tactics that
led to the constantly increasing strength of the revolutionary
movement in Long An from 1960 to 1963.
...The
Pentagon historian refers to "Diem's nearly paranoid preoccupation
with security," which led to policies that "thoroughly terrified the
Vietnames peasants, and detracted significantly from the regime's
popularity."
...Diem's extensive use of
violence and reprisals against former Resistance fighters was in
direct violation of the Geneva Accords (Article 14c), as was his
refusal to abide by the election proviso. The main reason for
Diem's refuse to abide by this mode of settlement in 1955-56 was
quite evident: the expatriate mandarin imported from the US had
minimal popular support and little hope for winning in a free
election...Diem was a typical subfascist tyrant, compensating for
lack of indigenous support with extra doses of terror..)
17. "The American Pope"
by John Cooney, A Dell Book, New York 1984, pp. 309-312:
“Lập
trường của (hồng y) Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước
của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng tên phục vụ tại
Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói
rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh
của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến
sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo
hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho
Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”
Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng
lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu
trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ
biến rộng rãi ở Mỹ.
Spellman
và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường
Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát
huy ý hệ Công giáo.
..Do đó,
rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là
Công giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của
việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử
gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng
bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công giáo đậm đà
trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan
niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong
đường lối trên của Spellman.
...Sự
tuyên truyền của Spellman về bản chất Công giáo của chính quyền Diệm
đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt
Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề
chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ
Ca Tô, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times
ngày 24 tháng 4, 1955:
“Một
cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman đã được tiếp nối
bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở
Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc
biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo
hội Ca Tô là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến
tranh lạnh.
...Nam
Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng
những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu
lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của
chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh khi
một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm
rất có thể đã để lại trên đất nước có tinh thần khoan nhượng này một
di sản chống-CaTô.”
(Spellman's
Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope.
Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the
years of the escalating US committment to VN, said the Pope wanted
the US to back Diem because the Pope had been influenced by Diem's
brother, Archbishop Thuc.
"The Pope
was concerned about Communism making more gains at the expense of
the Church," Martin averred. "He turned to Spellman to encourage
American committment to Vietnam."
Thus
Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to pop up the
Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the problem
of confronting anti-Communism in Indochina became widely known in
America.
Spellman
and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington. The
rallying cries were anti_Communism and Catholicism.
...To a
large extent, many Americans came to believe that Vietnam was a
preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly
from Diem's emergence as ruler. With the help of CIA-rigged
election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced
to live in exile. The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby
also accounted for much of the widespread belief. Still another
factor was Spellman's identification with the cause.
...Spellman's propagandizing of the Catholic nature of Diem's regime
reinforced a negative image of the Church's position in Vietnam.
The sectarian nature of Diem's government and the problems of that
government were noted by the writer Graham Greene, himself a
Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the London Sunday
Times on April 24, 1955:
An
unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of
Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are
spent on organizing demonstrations for the visitors, and an
impression is given that the Catholic Church is occidental and an
ally of the US in the cold war.
...The South, instead of
confronting the totalitarian North with the evidence of freedom, has
slipped into an inefficient dictatorship: newspapers suppressed,
strict censorship, men exiled by administrative order and not by
judgement of the courts. It is unfortunate that a government of
this kind should be identified with one faith. Mr. Diem may well
leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.)
18. “The Final
Superstition” by Joseph L. Daleiden, Prometheus Books, New York,
1994, p. 62):
"Spelllman là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến
sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức của Vatican, giáo
hoàng "dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam."
Mọi
viện trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của giáo hội
Công Giáo và chỉ có những người Công Giáo là được Diệm
bổ nhiệm vào trong chính phủ. Tuy rằng những chính sách như vậy đưa
đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Công Giáo chỉ chiếm vào khoảng
từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam. Không lạ lùng gì mà
khối đa số Phật Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối chính
sách của Diệm. Tình trạng ngày càng suy kém, Diệm đã dùng đến biện
pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu
viện. Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự
đàn áp chỉ làm cho lý tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát kinh hoàng
của thế giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động chống đối tiêu
cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu. Trong những khoảng thời
gian đáng sợ đó, tôi, một tín đồ Công Giáo,
không nhớ có một lời chỉ trích chính sách của Diệm từ một linh mục
hay giám mục Công Giáo nào. Tuy nhiên, sự việc đã lên quá mức đối
với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ Diệm nữa. Ít
lâu sau đó Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền.
Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai trò của giáo hội đã
theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của giáo hội."
(Spellman
was the papal point man to lead America into deeper involvement
in Vietnam. According to a Vatican official letter, the pope
"turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam."
All US relief to the South
was funneled through the Catholic Church's agencies and only
Catholics were appointed to government positions by Diem.
Although these policies resulted in a wave of conversions, Catholics
still made up only about 12 to 13 percent of the South Vietnamese
population. Not surprisingly, the resentment among the Buddhist
majority soon resulted in their open resistance to Diem's policies.
As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and
suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries. As
the Church should have known from its own early experience,
persecution can only strengthen a cause. As a horrified world
watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive
resistance and several monks set themselves ablaze. During these
terrible times, when I, too, was a Catholic, I don't recall one word
of criticism of Diem's policies from a Catholic priest or bishop.
However, it finally became too much for President John Kennedy, who
withdrew US support for Diem. Diem was soon executed in a coup.
Throughout this dreadful ordeal the role of the Church followed true
to the course of its sordid history.)
19. "America's Longest
War" by George C. Herring, John Wiley & Sons, New York 1979,
pp. 62-65:
“Để làm
vui lòng các cố vấn Mỹ, thỉnh thoảng Diệm cũng nói trên đầu môi chót
lưỡi về dân chủ, nhưng trong thực hành hắn nắm lấy những quyền lực
tuyệt đối. Đích thân hắn ngự trị ngành hành pháp của chính phủ,
dành cho hắn và anh em hắn mà hắn đã đưa ba người vào nắm ba chức
trong nội các có sáu bộ, mọi quyền quyết định.
Sự tấn
công dữ dội của Diệm vào những đối lập chính trị đã gây nên sự bất
mãn trong các thành phố cũng như ở thôn quê. Báo chí chỉ trích
chính phủ bị đóng cửa ngay.. Dùng quyền hành trong các sắc lệnh của
tổng thống, chính quyền Diệm đã lùa vào những “ trại cải huấn” nhiều
ngàn người Việt Nam, cộng sản cũng như không cộng sản, những người
bị coi như là đe dọa cho trật tự công cộng. Chương trình cải huấn
lúc đầu nhắm vào các thành phần kháng chiến Việt Minh ở lại miền
Nam, nhưng rồi với thời gian chương trình này được áp dụng cho bất
cứ ai dám chống đối chính quyền.
...”Chính quyền có khuynh hướng cai trị dân với lòng nghi ngờ và
cưỡng bức”, một phúc trình tình báo của Mỹ kết luận năm 1960, và “đã
được đáp ứng bởi thái độ bất thiện cảm và bất mãn của người dân”.
(To please
his American advisors, Diem occasionally paid lip-service to
democracy, but in actual practice he assumed absolute powers. He
personally dominated the executive branch of government, reserving
to himself and his brothers, three of whom were appointed to a
cabinet of six, all power of decision-making.
...Diem's
vigorous assault against political opponents spawned rising
discontent in the cities as well as the countryside. Newspapers
which criticized the government were promptly shut down...Using
authority handed down in various presidential ordinances, the
government herded into "reeducation centers" thousands of
Vietnamese, Communists and non-Communists alike, who were alleged to
be threats to public order. The reeducation program was originally
aimed at the Viet Minh "stay-behinds," but in time it was extended
to anyone who dared speak out against the government.
...The government "has tended
to threat the population with suspicion or coerce it," an American
intelligence report concluded in 1960, "and has been rewarded with
an attitude of apathy or resentment.”)
20. "Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace" by Reese
Williams, The Real Comet Press, Seattle 1987, p. 431:
Sau khi
Pháp bị đánh bại và có vẻ như nền độc lập (của Việt Nam) sẽ tới,
theo hiệp định Genève. Nhưng thay vào đó Mỹ đã nhảy vào,
quyết định là Hồ (Chí Minh) không được thống nhất đất nước đang tạm
thời chia cắt, và những nông dân lại cảnh giác khi chúng ta ủng hộ
một trong những tên độc tài đồi bại nhất của thời hiện đại – Thủ
tướng Diệm, người chúng ta chọn. Người nông dân cảnh
giác và co rúm người lại khi Diệm tàn nhẫn dẹp mọi đối lập, hỗ trợ
những tên địa chủ bóc lột họ, và từ chối thảo luận với Bắc Việt về
sự thống nhất của đất nước
(After the
French were defeated it looked as if independence would come again
through the Geneva Agreements. But instead there came the US,
determined that Ho should not unify the temporarily divided nation,
and the peasants watched again as we supported one of the most
vicious modern dictators - our chosen man, Premier Diem. The
peasants watched and cringed as Diem ruthlessly routed out all
opposition, supported their extortionist lanlords, and refused even
to discuss reunification with the North.)
(From an address delivered
by Dr. Martin Luther King in New York City on April 4, 1967).
Trên đây chỉ là 20 lời phê
phán điển hình về chế độ Ngô Đình Diệm của một số trí thức ngoại
quốc: ký giả, chính trị gia, giáo sư đại học, nhà quân sự, trong số
hàng trăm lời phê phán tương tự khác. Chúng ta cũng nên để ý là hơn
phân nửa số tài liệu trích dẫn ở trên được viết sau năm 1975. Nếu
độc giả muốn đọc những lời phê phán của người Việt, xin tìm đọc cuốn
Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cố Thiếu Tướng Đỗ Mậu,
trong đó ở phần cuối có 100 lời phê phán của các nhân sĩ, chính trị
gia, tướng lãnh, giáo sư đại học, nhà báo v..v.. về Ngô Đình Diệm và
chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Cho tới ngày nay, cuốn hồi ký
chính trị này, với rất nhiều chi tiết lịch sử, vẫn là cuốn sách có
giá trị nhất trong những cuốn viết về chế độ Ngô Đình Diệm và những
diễn biến chính trị trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa..
Từ 20 lời phê phán của các
tác giả ngoại quốc trên, chúng ta có thể rút tỉa ra được những gì?
Sau đây là vài điểm chính.
1). Ngô Đình
Diệm là người vô tài, vô đức, nhu nhược, được Hồng Y Spellman, với
sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính
khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa
Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam vì Diệm thuộc loại người Công giáo
cuồng tín khát máu Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên
dại nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho
Vatican. Ngoài ra Vatican cũng còn góp phần vận động, thuyết phục
Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cái tội này của Vatican đối với Việt Nam
sẽ được ghi vào sử sách.
2). Chế độ
Ngô Đình Diệm là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, không có sự hậu
thuẫn của quần chúng. Đó là một chế độ mà hầu hết những người nắm
quyền hành chánh, quân sự là những gia nô vô liêm sỉ.
3). Chính cái chất Công Giáo
cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh
[theo giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đã làm hại Diệm. Sách
lược Công giáo hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu diệt các giáo phái
khác của Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7% là một
sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của
dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân Việt
Nam. Sách lược này đã ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo
hội Công giáo Việt Nam, một giáo hội vốn đã nổi tiếng là: “Hễ phi
dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.”
Kết
Luận: Trước sách lược “Công giáo hóa miền Nam” ngu xuẩn, bạo
tàn, hại dân, hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm, con cờ giai
đoạn của Vatican và Mỹ, Phật Giáo Việt Nam không còn có thể chọn lựa
con đường nào khác ngoài con đường tranh đấu, không riêng gì cho
Phật Giáo mà còn cho cả dân tộc. Những bằng chứng tràn ngập về tính
cách bạo tàn, kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, đã
chứng minh một cách hùng hồn là cuộc tranh đấu của Phật Giáo cách
đây 40 năm ở miền Nam Việt Nam là có chính nghĩa, hợp với lòng dân.
Thật vậy,
tuy Phật Giáo phát động phong trào chống chế độ Ngô Đình Diệm nhưng
lòng dân oán ghét chế độ bạo tàn phi dân chủ này đã âm ỉ từ lâu, như
chúng ta đã thấy trong một số tài liệu vừa trích dẫn ở trên. Chúng
ta không nên quên là ông Diệm đã bị ám sát hụt tại Ban Mê Thuột ngay
từ năm 1957, ngày 21 tháng 5. Rồi đến cuộc đảo chánh thất bại của
lực lượng nhảy dù ngày 11 tháng 11, 1960, vụ dội bom dinh độc lập
của 2 sĩ quan VNCH ngày 27 tháng 2, 1962. Và sự kiện là, trong cuộc
tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật tử mới tham gia
tranh đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các em học sinh trung
học đến các sinh viên đại học, các giới sĩ, nông, công, thương, kể
cả những người Công giáo tiến bộ gồm một số linh mục và tín đồ Công
giáo.
Phật Giáo
là tôn giáo hòa bình. Những bậc tôn đức trong cuộc tranh đấu Phật
Giáo 1963 không chủ trương lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bằng bạo
động, kể cả Bồ Tát Thích Quảng Đức. Nhưng không ai có thể phủ nhận
là cuộc tranh đấu này đã góp phần lớn lao đưa đến sự cáo chung của
chế độ Công giáo trị, gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng
11, 1963. Ý thức được lòng dân, chính quân đội Việt Nam, chỉ huy
bởi nhiều tướng lãnh, trước đã theo và ủng hộ ông Diệm, đã đứng lên
làm tròn sứ mạng dẹp bỏ một chế độ Công giáo độc tài, phi dân tộc,
phi tổ quốc. Như đã từng nhiều lần có công với dân tộc trong nhiệm
vụ bảo vệ, giữ nước, cuộc tranh đấu 1963 của Phật Giáo ở miền Nam
cũng đã góp được nhiều công to lớn cho dân tộc. Ngoài việc đưa đến
sự chấm dứt một chế độ ác ôn đã mất đi lòng dân, chính yếu là cuộc
tranh đấu của Phật Giáo đã thành công trong việc bảo vệ được nền văn
hóa truyền thống và tôn giáo dân tộc, tôn giáo dân tộc ở đây phải
được hiểu theo nghĩa tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong
nước, thí dụ như Ki Tô Giáo ở Mỹ, ngăn chận được hiểm họa của Công
giáo trong toan tính đưa toàn dân Việt Nam xuống hàng súc vật (con
chiên), cúi đầu tuân phục một định chế có thủ phủ đặt tại Vatican,
ngự trị bởi một số người ngoại quốc vô đạo đức tôn giáo như John
Paul II và Benedict XVI, mà lịch sử đen tối ô nhục của tôn giáo này
đã không còn là một vấn đề xa lạ đối với thế giới ngày nay.

Những bài viết về Ngô Đình Diệm:
Ai Là Ác Nhân Nhất Thế Kỷ 20 ? (Trần Chung Ngọc sưu tầm)Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” (Trần Chung Ngọc) Nguyễn Trường Tộ - Từ Huyền Thoại Đến Thực Chất (Trần Chung Ngọc)Nhận Định Về DVD "Sự Thật Về Hồ Chí Minh" (Trần Chung Ngọc)Thư mục để tham khảo (Trần Chung Ngọc)Tôi Đọc Bài Của PCD Về ĐT Võ Nguyên Giáp (Trần Chung Ngọc)Vài Nét Về Cụ Diệm (Trần Chung Ngọc)Vài Nét Về Cụ Hồ -1 (Trần Chung Ngọc)Vài Nét Về Cụ Hồ -2 (Trần Chung Ngọc)Xét Lại Huyền Thoại Nguyễn Trường Tộ - Nhân Đọc... (Trần Chung Ngọc)ĐIỆN BIÊN PHỦ, hay Đâu Là “Sự Thật Lịch Sử” Của Lữ Giang (Trần Chung Ngọc)