 |
23 tháng 8, 2009 - bổ túc vài chi tiết ngày 31 tháng 8, 2009 theo yêu cầu của đọc giả với sự đồng ý của tác giả |
Gần đây, đọc trên Internet, tôi đã biết là ở
hải ngoại mới tung ra một DVD về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, “sản phẩm
trí tuệ” của linh mục Nguyễu Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo. Nhìn vào bản thân của
linh mục Nguyễn Hữu Lễ, và danh sách những tài liệu tham khảo như của Cao
Thế Dung, Minh Võ, Trần Gia Phụng, Hoàng Văn Chí, Mark Moyar, Lê Hữu Mục
v…v… cùng những nhân vật được phỏng vấn để thực hiện DVD như Minh Võ, Nguyễn
Ngọc Bích, Bùi Diễm, Nguyễn Minh Cần, Vũ Ngự Chiêu, Vũ Thư Hiên, Dương Thu
Hương, Lê Hữu Mục, Tôn Thất Thiện, Trần Gia Phụng, Trần Ngọc Thành, Trần
Mạnh Hảo, Bùi Tín, LM Phan Văn Lợi v..v…, chúng ta có thể đoán được nội
dung và giá trị những “sự thật” này là như thế nào. Cho nên, tôi không mấy
quan tâm đến tài liệu này.
Nhưng có người bạn vừa mới cho tôi một bản sao DVD trên, cho nên tôi
đã bỏ chút thì giờ xem trong đó có những gì. Xem xong tôi có thể nói ngay
đó là một tài liệu chống Cộng quen thuộc rất rẻ tiền, và nếu tôi có thể mượn
lời của Ulrich Rippert trong bài “A political evaluation of Schwarzbuch
des Kommunismus” -- [The Black Book of Communism], 15 July 1998, nhận
định về cuốn “Le Livre Noir Du Communisme” của Tổng Biên Tập Stéphane
Courtois như sau: “Là một tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về sử, cuốn
“Sách Bôi Nhọ…” hoàn toàn vô giá trị”. [As a serious
historical work the “black book” is totally worthless], thì tôi cũng có thể
đưa ra một nhận định tổng quát về DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” :
“Là một sản phẩm chống Hồ Chí Minh và chống CS, DVD “Sự Thật Về Hồ Chí
Minh” hoàn toàn vô giá trị” .
Trước khi viết bài phân tích này, tôi có email hỏi vài người bạn thân
xem đã có ai coi DVD này chưa và có ý kiến gì không? Một người bạn đã trả
lời như sau:
Toàn bộ cuốn phim (khoảng
100 phút) được cài đặt trên YouTube (13 đoạn):
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=129707
Tôi chưa xem hết nhưng
sơ khởi có những nhận xét sau:
1- Từ nội dung (tài
liệu) đến hình thức (kỹ thuật) rất chuyên nghiệp. Tôi không tin người Việt
hải ngoại, let alone LM Nguyễn Hữu Lễ, có khả năng thực hiệnđược. Tôi nghi
là có "bàn tay" nào đó chỉ đạo và giúp đở.
2- Thành phần được phỏng
vấn thì đơn điệu, một chiều, cùng phe cánh. Cho nên, at best, có thể gọi là
"Một nữa sự thật về HCM" thì đúng hơn. Những công lao của ông HCM trong sự
nghiệp cứu nước hoàn toàn không được đề cập đến.
3- Nhiều tài liệu hoặc
interviews chỉ là những tuyên bố chủ quan, không có reference.
4- Một trong những kỹ
thuật (tuyên truyền) là associate ông HCM với Staline, Mao, Pol Pot, ... để
force tư duy người xem chấp nhận (một cách vô thức) cái similarity giữa
những nhân vật nầy.
5- Fact Interpretation,
ví dụ về chuyện ông HCM làm đơn xin học trường thuộc địa và nhiều chuyện
khác, cũng chỉ là suy diễn theo chủ quan để phục vụ mục đích tuyên truyền
của DVD.
6- Rất "vui" vì thấy ghi
tên người chủ trương DVD là LINH
MỤC Nguyễn Hữu Lễ. Để cho những ai còn "mơ tưởng" chuyện bang
giao với Vatican ... sáng mắt ra.
Nói tóm lại, đây là một
tài liệu tuyên truyền hơn là một nghiên cứu lịch sử. Nhưng chắc chắn là có
hiệu quả cao trong giới CG và chống Cọng. Và cũng "thuyết phục"được một
số đông lười suy nghĩ và thiếu hiểu biết.
Tôi đồng ý với anh bạn về những nhận xét trên
nhưng đó chỉ là những nhận xét đại cương về một phần của DVD. Đi vào sự
phân tích những chi tiết trong DVD trên, chúng ta có thể chứng minh rằng,
“sản phẩm trí tuệ” của LM Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo, và của một số
người được phỏng vấn, thuộc loại chống Cọng rẻ tiền, không có một giá trị
trí thức nào. Vì thời buổi này mà còn mang những chuyện thuộc loại “tố
Cọng” của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cọng Hòa như “tiêu diệt các
đảng phái quốc gia”, “cải cách ruộng đất”, “Tết Mậu Thân” , “gần 1 triệu
người Bắc di cư năm 1954” v…v… và đổ lên đầu ông Hồ với chủ trương
“character assassination” thì giá trị trí thức là ở chỗ nào. Điều đặc biệt
là ngay cả những bậc được gọi là trí thức cũng nhắc đi nhắc lại những luận
điệu tố Cọng đã lỗi thời trên như là những đĩa hát đã cùn, cứ lập đi lập lại
một điệu.
DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” vô giá trị vì
dựa trên những thông tin sai lầm, khoan kể những phát biểu một chiều của vài
nhân vật Việt Nam được phỏng vấn, như ngay cả khi phỏng vấn những tác giả
nổi tiếng như William J. Duiker, Sophie-Quinn Judge , những tác giả đã
nghiên cứu về Hồ Chí Minh, những người làm DVD trên cũng chỉ đưa ra vài chi
tiết lặt vặt về đời tư của ông Hồ, mà bỏ qua những nét quan trọng và to lớn
hơn nhiều về nhân vật Hồ Chí Minh của chính hai tác giả trên. Những người
làm DVD trên cũng không nhắc đến những cuộc phỏng vấn của đài RFI và BBC,
phỏng vấn chính Giáo-sư Sophie-Quinn Judge và Pierre Brocheux, giáo sư đại
học Pháp. Như vậy sản phẩm DVD trên chỉ là kết quả của một công trình đầu
voi “Sự thật về Hồ Chí Minh” với đuôi chuột “chống Cọng”,
thiếu lương thiện trí thức, một chiều, với một ý đồ là toan tính phá bỏ
những điều mà họ cho là những “huyền thoại về Hồ Chí Minh”. Nhưng họ hoàn
toàn thất bại vì chính nội dung trong DVD về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
lại chẳng có mấy “sự thật về Hồ Chí Minh” mà chỉ là một loạt những quy kết
mọi trách nhiệm lên đầu Hồ Chí Minh. Chúng ta sẽ thấy, tất cả chỉ là những
màn kịch cũ kỹ, diễn xuất bởi nhưng diễn viên hạng ba, trên một sân
khấu mà những đà chống đỡ đã mục nát. Sau đây chúng ta hãy đi vào việc phân
tích một số chi tiết trong vở tuồng “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.
Màn Kịch 1 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
Mở đầu DVD là hình ảnh hàng dài người dân Việt
Nam vào thăm “Lăng Bác Hồ” rồi đối chiếu với lễ khánh thành Đài Kỷ Niệm
Những Nạn Nhân Cọng Sản ở Washington D.C., do tổng thống George W. Bush
(Bush Con), nhân danh người dân Mỹ, đứng ra tố Cọng với luận điệu chứng tỏ
trình độ của Bush về vấn đề này không khác với trình độ của LM Nguyễn Hữu Lễ
và những người Việt chống Cọng ở hải ngoại là bao nhiêu. Thật vậy, ông Bush
nói: “theo sự nghiên cứu của các sử gia trên thế giới, thì con số nạn
nhân của Cọng sản trên thế giới là 100 triệu người”.
Mở ngoặc: Lẽ dĩ
nhiên ông Bush không bao giờ muốn nhắc đến con số những nạn nhân của Mỹ là
bao nhiêu qua mấy trăm năm lịch sử của Mỹ vì có thể ông ta không biết đến.
Chỉ kể nguyên trên đất Mỹ thì người da trắng, con dân Chúa cao quý, đã cướp
hết đất đai của người da đỏ và thi hành chính sách diệt chủng đối với người
da đỏ và cưỡng bách người da đỏ phải theo cái đạo cao quý cầm đầu bởi Chúa
lòng lành vô cùng của họ. Từ 1620 đến 1890, trong vòng 270 năm, những con
cái của Chúa đã giảm dân số dân da đỏ từ 15 triệu xuống còn dưới 250000, và
biến miền đất phì nhiêu của dân da đỏ thành "Tân Thế Giới" của người da
trắng, do người da trắng (Christophe Columbus) tìm ra. Nhiều người da đỏ
ngày nay nuốt nước mắt, không biết làm gì hơn là uống rượu để giải sầu.
(Professor Ward Churchill, Sacramento Bee, Nov.23, 2000: Does anyone
expect us (the Indians) to give thanks [on Thanksgiving day] for the fact
that soon after the Pilgrim fathers regained their strength, they set out to
dispossess and exterminate the very Indians who had fed them that first
winter? Is it reasonable to assume that we might be jubilant that our
overall population, numbering perhaps 15 million at the ouset of the
European invasion, was reduced to less than a quarter- million by 1890?).
Đóng ngoặc.
Nhưng qua câu nói trên của ông Bush về những nạn nhân của Cọng sản, vấn đề
là con số 100 triệu từ đâu mà ra, các sử gia trên thế giới là ai, và nạn
nhân của Cọng sản là những ai. Chẳng cần phải nói, ai cũng biết đó là
con số mà Stéphane Courtois đưa ra trong cuốn “Le Livre Noir Du
Communisme”. Đó là con số mà Courtois đã phóng đại quá lố như chính một
số đồng tác giả của ông ta trong cuốn sách trên đã phê bình:
Trong phần Dẫn Nhập, Stéphane Courtois đưa ra con
số 1 triệu nạn nhân của chính sách khủng bố của CS Việt Nam đối với chính
dân của mình. Con số này lấy ở đâu ra, và có thực tế hay không?
Jean-Louis Margolin, tác giả viết 10 trang về Việt Nam, đã công khai tố cáo
Stéphane Courtois là bịa ra con số 1 triệu ở Việt Nam trong sự ám ảnh để đi
tới mục tiêu là tổng số 100 triệu nạn nhân trên thế giới của Cộng Sản
[Jean-Louis Margolin explique «qu'il n'a jamais
fait état d'un million de morts au Vietnam», contrairement à ce qu'écrit
Courtois.] Mặt khác, 3 tác giả trong cuốn sách trên cũng đã
chính thức lên tiếng trước công luận phản đối Chương Dẫn Nhập của Stéphane
Courtois, không chấp nhận những gì Stéphane Courtois viết để đánh đồng chính
sách diệt chủng của Đức Quốc Xã với sự đàn áp dưới chế độ Stalin, và
những con số phóng đại phi lý của Stéphane Courtois trong Chương này.
[La moitié des auteurs — Nicolas Werth,
Jean-Louis Margolin et Karel Bartosek — ont protesté publiquement contre le
chapitre introductif de Stéphane Courtois, ils y refusent son rapprochement
du génocide nazi et de la répression stalinienne, ainsi que le calcul du
nombre de victimes, dont ils contestent à la fois l’opportunité et les
chiffres utilisés, qui pour certains sont leurs chiffres mais augmentés sans
raison par Courtois.] Những sự kiện này chứng tỏ Stéphane Courtois
không có mấy lương thiện trí thức, và con số 1 triệu nạn nhân của CS Việt
Nam chỉ là một con số bịa đặt quá lố, không có bất cứ một giá trị nào.
Nó thuộc loại những con số tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ về con
số nạn nhân trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở ngoài Bắc, dựa trên con số
đoán mò mà Hoàng Văn Chí đã thú nhận sau khi bị Gareth Porter công bố sự
ngụy tạo của Chí [The Political Economy of
Human Rights : Volume I, p. 343 : Chi eventually conceded to be merely a
« guess »..This admission came after Porter had made Chi’s falsifications
public]
Ngoài ra, giống như những luận điệu chống Cộng của một thiểu số người Việt ở hải ngoại, mọi việc bất hạnh và tệ đoan xã
hội xảy ra trong các xã hội Cộng sản đều đổ lên đầu Cộng Sản, các tác giả
cũng quy kết những người chết trong những nạn đói ở Nga, ở Tàu cũng đều là
do tội ác của Cộng sản gây ra.
Màn Kịch 2 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
Bỏ qua một hình ảnh về những thuyền nhân bỏ nước
ra đi sau 1975 với một câu “tố Cọng” rất cường điệu và láo lếu: “Toàn
dân thù hận đến độ 2 triệu người phải bỏ nước ra đi”, một hình
ảnh chẳng dính dáng gì đến cái gọi là “Sự thật về Hồ Chí Minh”, chúng ta hãy
sang phần đầu của nội dung “Sự thật…” [Ông Hồ Chí Minh chết năm 1969].
Màn Kịch 3 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.
Những người làm DVD đặt nghi vấn về năm sinh,
ngày sinh và ngày chết của Hồ Chí Minh. Đây có phải là những yếu tố quan
trọng để đánh giá con người Hồ Chí Minh hay không? Ông Hồ sinh năm 1890,
hay 1892, hay 1895? Vậy thì sao ?? Ông Hồ không sinh ngày 19 tháng 5? Vậy
thì sao ?? Hiện nay, Chúa Giê-su của hơn 1 tỷ người thờ phụng ông ta
nhưng không có một học giả nào trên thế giới biết được ngày sinh hay năm
sinh của Giê-su. Người ta đã mượn ngày 25 tháng 12, ngày Đông Chí theo
lịch cổ xưa tính sai, một ngày lễ của dân gian, để làm ngày “giáng sinh” của
Giê-su. Vậy mà ngày nay hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 12, tín đồ Ki Tô Giáo
lại rầm rộ chăng đèn kết hoa tổ chức ăn mừng “giáng sinh” mà thật ra không
phải là “giáng sinh”. Vậy thì sao? Có ai thắc mắc gì không? Vậy tại sao
lại thắc mắc về ngày sinh cũng như năm sinh của ông Hồ? Có thể chứng tỏ
được gì? Những chi tiết này nằm trong lãnh vực nghiên cứu của các học giả,
có thể là một chi tiết nằm trong một tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Hồ Chí
Minh, nhưng nó chẳng nói lên được điều gì ngoài yếu tố nghiên cứu chính xác
lịch sử trong lãnh vực học thuật, chứ không thể dùng nó trong những mưu đồ
chính trị để hạ bệ ông Hồ. Người dân, nhất là nông dân, cũng như tôi, có ai
quan tâm đến ngày sinh của ông Hồ là ngày nào. Ông Hồ muốn sinh ngày nào
cũng được, điều quan trọng là ông đã làm gì cho đất nước. Những người làm
DVD không hiểu được những điều này hay sao?
Rồi lại có ông Nguyễn Văn Trần ở Pháp khẳng định
rằng ngày ông Hồ chết là ngày 2 tháng 9 chứ không phải là ngày 3 tháng 9 như
đảng đã tuyên bố, rồi cho rằng đó là sự dối trá “phản khoa học và phản văn
hóa” [sic]. Nhưng chuyện này đâu có gì là lạ, vì Duiker đã viết tại sao
đảng lại lui ngày chết của ông Hồ 1 ngày.
Duiker viết, trang 566:
Đảng cũng tuyên bố là ông Hồ chết ngày 3 tháng
9, một ngày sau ngày ông Hồ thật sự chết, để giữ tâm tình của quần chúng
trong ngày lễ độc lập của quốc gia vào ngày 2 tháng 9, 1945, khi ông Hồ đọc
bản tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình.
[The Party also
announced that Ho had died on September 3, one day later than its actual
occurrence, in order to prseserve the mood of the national holiday of
independence, which celebrated the anniversary of September 2, 1945, when Ho
Chi Minh had read the Declaration of Independence in Ba Dinh Square.]
Và chính ông Nguyễn Văn Linh cũng đã nói rõ:
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút
ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc khánh của nước ta. Để ngày Bác mất không
trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa III) đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ
47 phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI)
cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.
Đây là một việc làm có mục đích hẳn hoi, và mục đích đó là vì lợi ích
của toàn dân chứ không phải vì lợi ích của cá nhân Hồ Chí Minh, thì có gì là
một sự gian dối “phản khoa học và phản văn hóa”? và gian dối để làm gì,
không thấy ông Trần nói. Mấy ông không theo dõi thời cuộc, cứ mang một điều
cũ kỹ đã được sửa lại ra để nói bậy.
Màn Kịch 4 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
DVD nêu vấn đề về ông Nguyễn Sinh Sắc [hay Nguyễn
Sinh Huy ?], thân phụ của ông Hồ. Ông Sắc [Huy] từ quan hay bị cho về
vườn? Ông Trần Gia Phụng cho rằng, vì một thuộc hạ của ông Huy đánh chết
người nên ông Sắc bị triều đình phạt đánh 100 roi sau hạ bản án là cho về
vườn. Ông Lữ Phương viết:
Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng năm 1901; 1906
vào Huế nhậm chức thừa biện Bộ Lễ; 1909 được cử làm tri huyện Bình Khê (tỉnh
Bình Định), nhưng chỉ 7 tháng sau, tháng 1-1910, thì bị bãi chức và bị triệu
hồi về Huế. Lý do: theo Sở mật thám [Pháp] ông đã uống rượu say và đánh chết
người. [Tại sao sở mật thám Pháp lại quan tâm đến một vụ “đánh chết
người” ở một Huyện. Rõ ràng là Pháp đã nghi ngờ ông Huy và muốn loại bỏ ông
Huy. Điều này phù hợp với tài liệu của Pháp mà Giáo sư Sophie Quinn-Judge
cho biết khi nói về gia đình ông Huy ở phần sau. TCN. ]
Nguyễn Sinh Huy phản bác (thừa nhận có đánh
một tù nhân, nhưng cho rằng cái chết không phải do roi của ông), tuy thế do
xét nghiệm cho biết người bị đánh đã phát bệnh mà chết, nên ông vẫn bị giáng
bốn cấp và bãi chức.
Mục đích
của DVD? Chứng tỏ ông Huy không phải là người yêu nước mà từ quan, vậy thì
ông Hồ cũng không phải là người yêu nước. Nhưng, bất kể là ông Huy từ chức
hay bị cho về vườn, gia đình ông Huy là một gia đình yêu nước, điều này
không ai có thể phủ nhận. Trước một câu hỏi của đài BBC, ban tiếng Việt, về
ảnh hưởng của thân phụ đối với ông Hồ, Giáo sư Sophie Quinn-Judge [khá giỏi
tiếng Việt] đã trả lời như sau:
Sophie Quinn-Judge:
Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hi vọng sẽ có
thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này.
Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh
trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ. Bởi sau khi ông
Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông là Nguyễn Tất
Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại
Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.
Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã
tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang
một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã
buộc ông phải ra nước ngoài.
Với câu hỏi tiếp của BBC:
BBC: Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra
nước ngoài không phải với mục đích tìm đường cứu nước?
Sophie-Quinn Judge: Không, ý tôi không phải là như thế.
Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và
những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào
các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm. Tôi tin là ông Hồ Chí
Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay
cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra
nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.
Trên đây là những nhận định rất nghiêm túc của
một học giả cỡ Giáo sư Sophie Quinn-Judge, người không có lý do gì để thương
hay ghét ông Hồ Chí Minh mà chỉ đi tìm sự thật lịch sử. Nhưng quan điểm
trên không đơn giản như vậy. Theo tài liệu phân tích của Jules Archer trong
cuốn “Ho Chi Minh” thì ông Hồ cho rằng Việt Nam không thể tự lực đánh đuổi
được thực dân Pháp mà phải có sự trợ giúp ở bên ngoài. Nhưng ông Hồ không
đồng ý với các ông Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, tìm sự trợ giúp ở Đông
phương như của Nhật Bản hay Trung Hoa. Ông Hồ thấy xã hội Tây Phương tân
tiến hơn nhiều về những vấn đề xã hội như tự do, nhân quyền, bình đẳng
v..v…, do đó ông Hồ tìm đường trợ giúp từ Tây Phương, với hi vọng có thể
những tư tưởng cách mạng của Pháp năm 1789 có thể áp dụng cho Việt Nam.
[Archer, p.6: He (Ho)
decided against joining Phan Boi Chau’s group in Canton, reasoning that the
new Chinese Republic would be far to feeble to offer much practical help.
Some rebel exiles had gone to Japan; but in Ho’s eyes, expecting aid from
Japan’s militarists was to “hunt the tiger and be eaten by wolves”
Who would be more likely
to sympathize with the ideals of independence, freedom and democracy, he
reflected, than the nations of the West? They, after all, had governments
based on the sovereignty of the people. So it was in the West, rather than
the East, that he decided to seek help.]
Màn Kịch 5 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
DVD đưa ra một tài liệu, bức thư của Hồ Chí Minh
xin học ở trường thuộc địa, và đã bị giám đốc trường nầy từ chối không cho
học, để chứng minh rằng mục đích của ông Hồ không phải là xuất ngoại để cứu
nước mà để tìm đường làm ăn. Bức thư được ông Nguyễn Gia Phụng dịch ra
tiếng Việt và đọc trong DVD. Nhưng đưa ra tài liệu này, những người làm DVD
không nghĩ đến phản tác dụng của nó. Thứ nhất, họ không tìm hiểu tại sao
giám đốc trường thuộc địa lại từ chối đơn xin học của ông Hồ với lý do rất
đáng buồn cười: “Mục đích của ông tới đây là để kiếm sống chứ không phải
là để đi học” Ở trên đời này có trường nào bác đơn xin học của một sinh
viên với lý do là anh ta không có ý định đi học không? Sở dĩ trường thuộc
địa bác đơn xin học của ông Hồ vì trong đơn ông Hồ “đã dại dột” viết rõ là
mục đích của ông là có thể dùng nền học vấn để giúp ích cho đồng bào của
ông, để cho họ được hưởng những hữu ích của nền học vấn mà ông thu thập được
[“Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes
compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des
bienfaits de l’instruction”]. Những người chống Cọng quê mùa
thường bỏ đi đoạn sau trong câu trên và diễn giải là ông Hồ xin học trường
thuộc địa để phục vụ cho Pháp (utile à la France). Nhưng một
người như ông Hồ, thuộc một gia đình yêu nước chống Pháp, thì “phục vụ cho
Pháp” không thể tương hợp với “phục vụ đồng bào”. Đó chỉ là một câu để có
thể xin vào học trường thuộc địa. Trường thuộc địa là để đào tạo
những tay sai phục vụ cho nước Pháp, chứ không phải để phục vụ cho dân thuộc
địa. Giám đốc trường thuộc địa không phải là không biết điều này, nên đã từ
chối với một lý do vốn không phải là lý do, vì nó rất vô lý. Những người
muốn hạ bệ ông Hồ về một bức thư xin học trường thuộc địa không đủ trí tuệ
để thấy sự phản tác dụng khi đưa ra tài liệu này.
Màn Kịch 6 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
Tiếp theo, DVD bàn đến chuyện phòng the của ông
Hồ. Trên thực tế thì từ ngày ông làm Chủ Tịch nước, chúng ta không thấy
bóng dáng người đàn bà nào bên ông. Trong hậu trường thì chúng ta không
biết. Nhưng vấn đề là, ông Hồ có vợ, có con? Vậy thì sao? Người dân chỉ
quan tâm đến chuyện ông thuộc một gia đình yêu nước, bà chị bị chết trong tù
vì tội ăn cắp súng của Pháp, và ông cùng các đồng chí đã mang lại độc lập
cho nước nhà, chiến thắng trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ.. Ông
Ngô Đình Diệm cũng có vợ có con dù người ta đã khoác vai trò độc thân lên
người ông ta. Có sao đâu? Người dân chỉ quan tâm đến chuyện ông Diệm thuộc
gia đình “tam đại Việt Gian”, trong khi toàn dân kháng chiến thì nằm chui
trong mấy tu viện Công giáo ở ngoại quốc, sau đó được Mỹ bưng về thì trở
thành “chí sĩ bao năm lê gót nơi quê người để tìm đường cứu nước” [sic], và
khi cầm quyền ở Việt Nam thì thi hành một chính sách ngu xuẩn, cuồng tín,
gia đình trị, tôn giáo trị. Lôi những chuyện lặt vặt vợ con, bỏ qua những
chuyện quan trọng hơn, lớn hơn, có tầm vóc quốc tế, để nói về những “sự
thật” về một nhân vật quốc tế như ông Hồ, thì đầu óc của những người làm DVD
và cộng tác quả thật là quá hẹp hòi. Dù ông Hồ có vợ nhưng chắc chắn điều
đó không có ảnh hưởng gì đến nhiệm vụ của ông ta đối với dân tộc, quốc gia.
Một thí dụ: Khi nghe tin người anh cả chết, ông Hồ đã viết thư tỏ ý rất
tiếc là không thể về dự đám tang và xin lỗi gia đình vì “đã đặt việc nước
trước việc nhà” [Archer, p. 53: “I humbly apologize for this failure in
brotherly devotion, and beg to be forgiven as one has to put affairs of
state before family feelings.”] Đối với tôi, chuyện ông Hồ có vợ hay
không, không phải là chuyện tôi cần để ý. Nhưng tôi cảm thấy tội nghiệp cho
những người làm DVD vì trong cuốn “Ho Chi Minh: A Life” của William J.
Duiker, dày hơn 600 trang, mà chỉ đưa ra một tài liệu là trong đời ông Hồ đã
có bóng dáng của 5 người đàn bà, trong khi trong đó có cả ngàn “sự thật về
Hồ Chí Minh” to lớn hơn nhiều thì bỏ qua. Người Việt Nam chẳng có ai coi
ông Hồ là thánh, chẳng có mấy người coi ông Hồ là một “thần tượng”, bất kể
đảng nói gì về ông Hồ. Người dân chỉ coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”, và
chừng đó cũng đủ. DVD cũng phỏng vấn Giáo sư Sophie-Quinn Judge về vai trò
của Tăng Tuyết Minh trong đời ông Hồ. Nhưng cũng như Duiker, trong cuốn
“Ho Chi Minh: The Missing Years” của Giáo sư Judge có nhiều “sự thật về
Hồ Chí Minh” to lớn và quan trọng hơn nhiều, và lẽ dĩ nhiên, những người làm
DVD cũng không muốn nhắc tới. Trong phần cuối của bài này tôi sẽ trích dẫn
một vài đoạn ngắn của hai tác giả trên về ông Hồ.
Màn Kịch 7 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.
Vấn đề tiêu diệt các đảng phái quốc gia với những
lời “tố Cọng” quen thuộc của Bùi Diễm, Trần Gia Phụng, Nguyễn Tường Bách.
Bỏ qua, vì thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã qua lâu rồi.
Màn Kịch 8 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.
Vấn đề “cải cách ruộng đất” với Nguyễn Minh Cần,
Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Vũ Thư Hiên kể chuyện cổ tích, không phân
biệt nổi đâu là chính sách và đâu là những sai lầm trong khi thực hành. Con
số người bị giết trong DVD là trên 170 ngàn, viện dẫn con số của chính CS
đưa ra, nhưng xuyên tạc, vì con số này là tổng số những người bị quy vào
hàng địa chủ chứ không phải là số người bị giết.
Chắc chắn là
mấy ông bà này chưa hề đọc đến những công cuộc khảo cứu rất sâu rộng về Cải
Cách Ruộng Đất ở Việt Nam: Mục đích, kết quả, số nạn nhân v..v.. của Gareth
Porter, Edwin E. Moise, Noam Chomsky và Edward S. Herman. Rất có thể họ chỉ
tin vào con số đoán mò của Hoàng Văn Chí, người đã thú nhận là con số nạn
nhân trong cuộc cải cách ruộng đất chỉ là đoán mò sau khi bị Gareth Porter
công khai vạch ra những sự giả mạo trong tài liệu của Chí [Chi
eventually conceded that his number of victims of the land reforms to be
merely a “guess” (The Washington Post, 13 September, 1972). This admission
came after Porter had made Chi’s falsification public.] và đã có lần Minh Võ
đưa ra con số người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất là “nửa triệu”.
Vậy giá trị trí thức của Hoàng Văn Chí và Minh Võ là ở chỗ nào?
Theo những
tài liệu của Noam Chomsky và Edward S. Herman cũng như của Gareth Porter và
Edwin E. Moise thì Hoàng Văn Chí vốn là một địa chủ ở ngoài Bắc, sau đó làm
cho Bộ Thông Tin của Chính Quyền miền Nam, rồi làm việc cho CIA và làm thông
dịch viên cho Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ. Trong bài “The Myth of the
Bloodbath: North Vietnam’s Land reform Reconsidered” (Bulletin of
Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15), Gareth Porter đã vạch
ra vài đoạn Hoàng Văn Chí dịch sai bài thú nhận có sai lầm trong việc thi
hành cải cách ruộng đất của Tướng Võ Nguyên Giáp với mục đích giúp quan thầy
Mỹ và miền Nam tuyên truyền xuyên tạc.
Noam Chomsky và Edward S. Herman còn vạch ra rằng, trong những cuộc phỏng
vấn vào năm 1955, Hoàng Văn Chí không hề nói gì đến cuộc cải cách ruộng đất
và con số những nạn nhân. Chỉ trong vài năm sau, sau khi Mỹ và Saigon biết
đến những vấn đề trong cuộc cải cách ruộng đất từ chính những cuộc thảo luận
trên báo chí ở Hà Nội mà Moise cho là “thẳng thắn kỳ lạ trong sự thảo luận
những sai lầm và thất bại” (sometimes extraordinarily candid in discussing
errors and failures), Chí mới “nhớ lại” những điều viết trong tài liệu của
mình. Do đó, chỉ nhờ vào những thông tin của chính Bắc Việt cho nên Mỹ và
Nam Việt Nam mới dựa vào đó để mà thổi phồng con số cho mục đích tuyên
truyền, chứ thực ra Mỹ và chính quyền miền Nam chẳng biết gì về cuộc cải
cách ruộng đất ở ngoài Bắc.
Noam Chomsky và Edward S. Herman viết trong cuốn The Political Economy
of Human Rights, Vol. I, South End Press, Boston, 1979, trang
342:
“Nguồn thông tin căn bản về những con số giết chóc lớn trong cuộc cải
cách ruộng đất ở Bắc Việt là từ những người của CIA hoặc Bộ Thông Tin Tuyên
Truyền Saigon. Theo một người Việt Công giáo nay sống ở Pháp, Trung Tá
Nguyễn Văn Châu, Chỉ Huy Cơ Quan Chiến Tranh Tâm Lý Trung Ương của quân đội
Saigon từ 1956 đến 1962, số nạn nhân bị “tắm máu” trong cuộc cải cách ruộng
đất là “100% dựng lên” bởi cơ quan tình báo Saigon. Theo Trung Tá Châu,
một chiến dịch có hệ thống dùng các tài liệu ngụy tạo để bôi nhọ đối phương
được thi hành vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho sự kiện là Diệm từ
chối không thương thuyết với Hanoi trong việc sửa soạn tổ chức cuộc bầu cử
để thống nhất đất nước quy định vào năm 1956.”
(The basic sources for the larger estimates
of killings in the North Vietnamese land reform were persons affiliated with
the CIA or the Saigon Propaganda Ministry. According to a Vietnamese
Catholic now living in France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central
Psychological War Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the
“bloodbath” figures for the land reform were “100% fabricated” by the
intelligence services of Saigon. According to Colonel Chau, a systematic
campaign of vilification by the use of forged documents was carried out
during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate with Hanoi in
preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for 1956)
Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless
War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press,
1989, trang 149:
“Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số
những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng
1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên tới 15000
theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon
về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng
đứng.” (Careful later studies, however, have
estimated that the true figures for those executed in the noerthern land
reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or
possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of
Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total
fabrication”.)
Giáo sư Pierre Brocheux viết trong bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí
Minh” [L’Homme qui devint Ho Chi Minh] trang 34:
“Đối
với Hồ Chí Minh, tập thể hóa đất đai là sự bảo đảm phân chia đồng đều tài
sản. Nhưng ông ta tố cáo sự dùng những hành phạt thể xác đối với các
địa chủ và các nông dân giàu có và yêu cầu thi hành một chương trình sửa sai
những sự bất công và phục hồi những sở hữu của nông dân thuộc quyền của họ
(1956). Nhưng ông ta phải nhượng bộ trước đa số trong Đảng. Chiến dịch cải
cách ruộng đất làm cho ít nhất là 15000 người chết.”
(Pour Ho Chi Minh, la collectivisation des
campagnes est la garantie d’une répartition égalitaire des resources. Mais
il dénonce l’utilisation des peines corporelles contre les “propriétaires
fonciers et riches paysans” et demande une programme de correction des
injustices et la restauration des paysans propriétaires dans leurs
possessions et leurs droits (1956). Il s’incline pourtant devant la
majorité du Parti. La réforme agraire côutera la vie à 15000 personnes au
moins.)
Về
con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất, chúng ta có một số tài liệu
khác: Của Gareth Porter: từ 800 đến 2500; của Edwin E. Moise (sau một công
cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5000 và chắc chắn trong khoảng từ
3000 đến 15000; của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong
cuốn “A Viet Cong Memoir”: nhiều ngàn (thousands); của Bùi Tín trong
Mặt Thật: “lên tới mười mấy ngàn”; của Vũ Thư Hiên: từ 4000 đến
5000. Chúng ta không thể biết chính xác con số bị giết trong cuộc cải cách
ruộng đất. Nhưng xét đến số làng mạc, ruộng đất ở ngoài Bắc, số địa chủ
thực sự, số nông dân nghèo khổ phải thuê đất [một số của Nhà Chung] để cầy
cấy v..v.. thì những con số trên hợp lý hơn là con số
trên 170 ngàn, nghĩa là thổi phồng từ 1133% đến
34000%, trong DVD.
Trên diễn đàn
Đông Dương Thời Báo, tháng 5, 2006, chúng ta có thể đọc một đoạn về
cải cách ruộng đất của chủ biên người Công Giáo, Giu-se Phạm Hữu Tạo, như
sau:
Thật vậy, Hồ Chí Minh
thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều
người, vì lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng
Pháp chiếm đóng… Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như
ngoài Bắc. Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và
nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa
và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất
nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và
giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ gì tại sao người
Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.
Trong một
cuộc phỏng vấn của đài BBC, trước câu hỏi: “Vậy vai trò của ông Hồ chí
Minh trong Cải Cách Ruộng Ðất là gì, theo những gì ông tìm ra? “ , Giáo
sư Pierre Brocheux đã trả lời:
Pierre
Brocheux: Hồ chí Minh bị coi là phải chịu trách nhiệm về những sai
lầm trong Cải Cách Ruộng Ðất nhưng tôi tìm thấy nhiều tài liệu như các
báo cáo chính trị của chính ông, lên án các vụ đánh người, giết người trong
Cải Cách. Ông gọi làm như thế là hành xử như " bọn đế quốc ", rằng đó là
những hành vi tội phạm. Ông nói tra tấn người là tội ác.
Màn Kịch 9 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.
DVD: Tết Mậu Thân dưới sự
lãnh đạo của Hồ Chí Minh [sic]. Lèm bèm chuyện cũ, nhưng đọc giả nào muốn
biết về sự thực về cuộc tàn sát người dân của CS trong cuộc tấn công Tết Mậu
Thân thì hãy nên tìm đọc bài nghiên cứu chi tiết “THE 1968 'HUE MASSACRE' “
của Tiến sĩ Gareth Porter trong "Indochina Chronicle" #33, June 24, 1974.
Quý vị sẽ thấy rằng những con số mà DVD đưa ra đều nằm trong những thủ đoạn
ngụy tạo, cố ý diễn giải sai tài liệu bắt được của MTGP, phóng đại con số
của Douglas Pike, nhân viên Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, và của chính quyền miền
Nam. Quý vị trong DVD cũng nên đọc cuốn “ The Political Economy of Human
Rights” của Noam Chomsky và Edward S. Herman, Chương 5: “Bloodbaths
in Indochina: Constructive, Nefarious and Mythical”, đặc biệt là những
Mục 5.1.1: French and Diemist Bloodbaths; 5.1.2: The Overall
Assault as the Primary Bloodbath; 5.1.4: The 43-Plus My Lais of the
South Korean Mercenaries; 5.2.2: Land Reform in the Mid-Fifties;
5.2.3: The Hue Masscre of 1968. Bài “The Hue Masscre
of 1968” đã được Lê Hồng Phong trích dịch ra tiếng Việt và
đăng, có kèm theo bản tiếng Anh, trên trang nhà nhandanvietnam:
http://www.nhandanvietnam.org/view.php?storyid=545, và được đăng lại
trên trang nhà sachhiem:
http://sachhiem.net/SACHNGOAI/LeHongPhong.php
Màn Kịch 10 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
DVD: Về tác giả cuốn “Ngục
Trung Nhật Ký” và ông Hồ chính là Trần Dân Tiên và T. Lan, viết sách để tự
ca tụng. Một chi tiết trong DVD là, khi được hỏi về cuốn “Ngục Trung Nhật
Ký” thì ông Hồ phá ra cười, không xác nhận mình là tác giả, chỉ nói là, khi
rảnh rỗi ông cùng với các đồng chí làm thơ chơi. Điều này được dẫn giải là
ông Hồ đã lảng tránh câu hỏi. Về Trần Dân Tiên chính là ông Hồ, những người
chống Cọng dựa vào một tiết lộ của đảng CS vào năm 1976, 7 năm sau khi ông
Hồ đã mất. Tôi không loại bỏ điều này nhưng tôi thắc mắc về một câu trong
đó: “Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu
ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn ký
tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo.” Tôi không nghĩ
là một người đầu óc như ông Hồ, viết một cuốn sách để tự ca tụng, mà lại hạ
thấp khả năng của mình như trên, hơn nữa chi tiết này có thể là sự thật
nhưng có cần thiết phải cho vào cuốn sách hay không? Có một đọc giả trên
Internet cho rằng cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch
có khả năng là của một hay nhiều cán bộ văn hóa viết chứ không phải ông
Hồ. Điều này có vẻ hợp lý hơn. Theo tài liệu của Lữ Phương thì:
Trần Dân Tiên có phải
là bút danh của Hồ Chí Minh như bấy lâu nay người ta vẫn cho là như vậy? Gần
đây, bà Phan Thị Minh đã đưa ra một thông tin mới rất đáng chú ý như sau:
“Chiều ngày 2 tháng 3
năm 1993, tôi đã được gặp ông Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác từ Cách mạng
tháng Tám đến ngày Bác qua đời và đã cùng một số người quanh Bác là đồng tác
giả cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” với bút
danh Trần Dân Tiên”
Nhưng tại sao đảng lại
tiết lộ Trần Dân Tiên chính là ông Hồ. Một giải thích trong DVD là đảng CS
muốn đưa ông Hồ lên như là một nhà văn hóa để vận động với Liên Hiệp Quốc
tôn vinh ông Hồ nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông Hồ. Đảng tiết lộ
7 năm sau khi ông Hồ đã mất. Có lẽ muốn biết sự thật, chúng ta phải đối
chiếu cách hành văn, những từ trong cuốn sách với những gì chúng ta biết qua
những bài viết, lời tuyên bố v…v… của ông Hồ. Tôi không có cuốn sách trên
và cũng không có hứng thú đi vào việc phân tích này.
Màn Kịch 11 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
Về Hiệp Ước Biên Giới.
Văn kiện về Hiệp Ước Biên Giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được bạch hóa.
Và lẽ dĩ nhiên, theo DVD thì đảng CS VN đã bán đất cho Trung Quốc, nhưng đó
là sự thật về Hồ Chí Minh hay sao?. Việt Nam có phần thiệt thòi trong hiệp
ước này, thiệt thòi bao nhiêu? Theo Lữ Giang thì:
- Trên tuyến đường sắt:
Khi phục hồi đường sắt từ biên giới Việt – Trung đến Yên Viên (gần Hà Nội)
cho Việt Nam, Trung Quốc đã đặt điểm nối rây giữa hai nước sâu vào lãnh thổ
Việt Nam thêm 300m và coi đây là biên giới giữa hai nước!
- Trên tuyến đường bộ:
Trung Quốc cho ủi sập cột mốc biên giới số 18 trước Ải Nam Quan, cách ải này
100m, trên đường Quốc lộ 1, rồi đặt cột km số 0 của quốc lộ này vào sâu trên
lãnh thổ Việt Nam 100m và coi đó là cột mốc biên giới giữa hai nước. Như
vậy, theo Công Ước Thiên Tân, cột mốc biên giới chỉ cách Ải Nam Quan của
Trung Quốc 100m, nhưng Trung Quốc đã sửa thành 200m!
Theo một nguồn tin thì Trung Quốc và Việt Nam đã
thỏa thuận cắm những mốc biên giới theo suốt chiều dài của biên giới.
Chuyện chính trị quốc tế không phải là chuyện khơi khơi để chúng ta, ở trong
nước cũng như ở hải ngoại, có thể quyết đoán thế này hay thế nọ. Ai
rảnh rổi hay ai muốn làm “cán bộ tuyên truyền”, dựa vào những thông
tin chủ quan để “bình loạn” thì đó là quyền của họ.
Nhưng có một điểm liên quan đến lịch sử chúng ta cần phải để ý.
Từ ngàn xưa cho đến thời của Đặng Tiểu Bình,
Trung Quốc luôn luôn coi Việt Nam là một phần đất của họ, một “thuộc bang”
giống như Triều Tiên khi xưa. Và nếu có cơ hội thuận tiện là họ có thể thu
về Trung Quốc bất cứ lúc nào. Nhưng nay, Hiệp Ước Biên Giới đã rõ ràng
trước cộng đồng quốc tế, khả năng Trung Quốc xâm lăng quân sự đã bớt đi
nhiều tuy rằng ngày nay, điều này không mấy khó khăn đối với Trung Quốc.
Hiển nhiên là nằm ngay dưới một khối vĩ đại bá quyền như Trung Quốc, Việt
Nam vẫn còn phải chịu thiệt thòi dưới những áp lực kinh tế và chính trị.
Nhưng trên bình diện quốc tế, Việt Nam nay là một nước độc lập, có chủ
quyền, có lãnh thổ riêng, được thế giới công nhận, có một văn kiện pháp lý
có tính quốc tế để phân định biên cương rỏ ràng, thì đổi lấy sự thiệt thòi
về biên giới cũng còn hơn không. Tôi cho rằng nếu nghĩ đến tương lai đất
nước, giảm thiểu sự phập phòng lo sợ nạn Bắc xâm, thì cũng đáng.
Màn Kịch 12 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.
DVD nêu vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh” trong khi
chính ông Hồ đã nói là chẳng có tư tưởng nào.
Cho nên, trong DVD, có vài người đã phê bình là ông
Hồ không có tư tưởng nào nhất quán, mà thay đổi luôn luôn, khi thì theo
Wilson, khi thì Tôn Dật Tiên, khi thì Marx, Mao, Lê-nin v…v… Điều này có thể
đúng, nhưng vì vậy mà phê bình ông Hồ thay đổi như con tắc kè, thì đó là
một phê bình rất hời hợt, thiếu nghiêm túc và không chuyên nghiệp
(unprofessional). Vì họ không hiểu ông Hồ là một con người “thỏa hiệp”
(compromise) chứ không phải là “giáo điều” (dogmatic), con người thực tiễn
trong hành động chứ không giáo điều trong tư tưởng, miễn sao đạt được mục
đích đuổi quân xâm lăng để cứu nước của ông.
Bất cứ ý tưởng nào mà ông Hồ thấy có thể áp dụng để thực hiện mục đích tranh
đấu giành độc lập cho Việt Nam thì ông ta chấp nhận. Rồi nếu thấy không có
hiệu quả thì ông bỏ. Pha trộn từ các tinh hoa trong các luồng tư tưởng thế
giới, ông ta đã thành công thực hiện được mục đích trên của ông ta. Các học
giả nghiên cứu về ông Hồ đều đồng ý ở điểm này.
Mặt khác, vấn đề là chúng ta định nghĩa thế nào
là tư tưởng. Nếu chúng ta hiểu tư tưởng là một thuyết lý hay một hệ thống
triết học thì chắc chắn là ông Hồ không có thứ tư tưởng này. Nhưng nếu
chúng ta hiểu tư tưởng là những suy tư sâu thẳm của con người về quốc gia,
dân tộc, xã hội và chính trị quốc tế thì ông Hồ quả có rất nhiều tư tưởng,
và nếu thực hiện những tư tưởng này trong xã hội thì không phải là điều
không hay cho quốc gia dân tộc. Đề tài này quá rộng, tùy theo người ta hiểu
tư tưởng của ông Hồ như thế nào. Nếu chúng ta vào Internet, đánh cụm từ “Tư
tưởng Hồ Chí Minh” thì sẽ thấy hiện ra rất nhiều ý kiến, thảo luận về chủ đề
này. Theo một bạn trẻ trên Internet thì có lẽ chúng ta nên bỏ qua những gì
thuộc thần thánh hóa Ông Hồ và chỉ nên đào sâu những ý nghĩ của ông Hồ về
quốc gia, dân tộc, có thể áp dụng những gì trong việc xây dựng đất nước.
Tôi đồng ý với ý kiến này và đơn cử vài thí dụ về “tư tưởng” của ông Hồ.
Ông Hồ rất quan tâm đến vấn đề giáo dục quần chúng,
ngay sau khi lên cầm quyền ông đã tích cực phát động phong trào “truyền bá
quốc ngữ”. Ngày nay các em học sinh ở Việt Nam đều phải học 5 câu về tiêu
chuẩn giáo dục của ông Hồ:
http://vi.wikipedia.org/wiki/
Yêu tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn, thật thà, dũng
cảm
Tết Trung Thu năm 1946,
ông Hồ gửi một thông điệp cho các thiếu nhi, đại khái như sau, dịch từ “Ho
Chi Minh” của Jules Archer, trang 53-54::
Các cháu ngoan… Hôm
nay là ngày Tết Trung Thu. Cha mẹ các cháu đã mua cho các cháu đèn, trống,
pháo, hoa v..v… Các cháu đang vui đùa và Bác Hồ của các cháu cũng chung vui
với các cháu. Các cháu có biết tại sao không? Thứ nhất vì Bác yêu các cháu
vô cùng. Thứ nhì, vì năm ngoái…đất nước của chúng ta vẫn còn đang sống
trong sự đàn áp và các cháu vẫn còn là những nô lệ nhỏ… Ngày hôm nay, các
cháu hãy vui đùa thỏa thích. Ngày mai, Bác hi vọng các cháu hãy đề hết
tâm trí vào việc học hành… Năm nay Bác không có quà gì cho các cháu.
Bác chỉ có thể gửi cho các cháu những nụ hôn thân yêu của Bác.
Jules Archer phê bình:
“Đối với hầu hết các bậc cha mẹ Việt Nam, chừng đó cũng đủ” (For most
Vietamese parents, that was enough).
Có một bài rất đặc sắc
của Lê Cường viết về “Yếu tố tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Bài viết này chứng tỏ ông Hồ không phải là người “vô thần”, trái lại bản
thân ông có những niềm tin tôn giáo truyền thống của Việt Nam.
Tinh thần quốc gia của ông Hồ rất mạnh. Trong bức
thư trả lời Tổng Thống Lyndon B. Johnson vào tháng 2, 1967, có đoạn sau đây:
Người dân Việt Nam yêu quý sâu đậm nền độc lập,
tự do và hòa bình. Nhưng trước sự xâm lăng của Mỹ, tất cả đã đứng giậy,
muôn người như một, không ngại hi sinh và gian khổ: Họ quyết định tiếp tục
kháng chiến cho đến khi giành được độc lập thực sự và tự do, hòa bình..
Người dân Việt Nam sẽ không bao giờ chịu khuất
phục trước vũ lực: họ sẽ không bao giờ chấp nhận sự đàm phán dưới sự đe dọa
của bom đạn.
[Jack Woddis, Ho Chi Minh: Selected
Articles and Speeches, 1920-1967, p. 171: The Vietnamese people deeply
love independence, freedom and peace. But in the face of the U.S.
aggression, they have risen up, united as one man, fearless of sacrifices
and hardships: They are determined to carry on their Resistance until they
have won genuine independence and freedom and true peace…
The Vietnamese people will never submit to
force: they will never accept talks under the threat of bombs.]
Có những câu nói của ông
Hồ mà người dân khó có thể quên được và cảm thấy cần phải truyền lại cho các
thế hệ sau. Điển hình là:
- Không có gì quý hơn
độc lập, tự do!
- Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi
ích trăm năm thì phải trồng người.
- Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một;
sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
- Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam.
- Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta
phải cùng nhau giữ lấy nước.
Màn Kịch 13 của DVD
“Sự Thật Về Hồ Chí Minh”
DVD phỏng vấn một vài người về “Di Sản Hồ Chí
Minh”. Chỉ tiếc rằng những người được phỏng vấn mỗi người hiểu “di sản” một
khác, và nhiều khi rất ngớ ngẩn. Tôi chỉ kể mấy quan niệm kỳ quặc về “di
sản Hồ Chí Minh” của mấy người được phỏng vấn:
-
Gây nên cái chết của 3 triệu người [sic]
-
Hồ Chí Minh phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam…[sic]
(Nguyễn Minh Cần)
-
Di sản gian dối, gian dối từ năm sinh…[sic] (Nguyễn Ngọc Bích)
Vậy thì “di sản Hồ Chí Minh” thực sự là cái gì? Đơn giản thôi. Cái
di sản mà ông Hồ Chí Minh để lại cho người dân Việt Nam là một nước Việt Nam
độc lập và thống nhất, và niềm hãnh diện quốc gia. Lẽ dĩ nhiên đây
không phải là công của mình ông Hồ mà là của toàn dân, ít ra là của đại đa
số người Việt đã coi ông Hồ như là biểu tượng truyền thống yêu nước của
người Việt Nam, do đó đã không ngại mọi hi sinh để đạt thành. Nhưng quan
trọng hơn là thế giới đã biết nhiều hơn về Việt Nam và không còn dám coi
thường Việt Nam tuy Việt Nam vẫn còn là một nước tương đối nghèo và kém phát
triển.
Trong cuốn Ho Chi
Minh: Legend of Hanoi, tác giả Jules Archer viết, trang 190:
Một trong những thành
quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đã đạt thành một “Cộng sản
quốc gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa
Đỏ và Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được
sự giúp đỡ mà nước ông cần đến. Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là
một nước chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hãnh diện, cương quyết trên sự
thiết lập cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam…
[Not the least of
his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national
Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the
Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get
the help his country needed. When he died, North Vietnam was no satellite
but a proud, independent country, determined on nationhood for all
Vietnamese…]
http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,901394,00.html? :
Khi Chủ tịch Bắc Việt
Nam chết về một cơn đau tim ở Hà Nội lúc 79 tuổi, ông ta đã để lại một di
sản gây ấn tượng sâu sắc về những thành quả của ông ta. Ông đã khôi phục
được ý nghĩa quốc gia cho Việt Nam. Ông đã là biểu thị của một dạng
“cọng sản quốc gia” giữ cho ông ra khỏi quỹ đạo của cả Trung Quốc lẫn Nga
Sô, nhưng làm cho hai cường quốc này phải ve vãn ông ta.
[When North Viet Nam's President died of a heart attack in Hanoi at the
age of 79, he left an impressive legacy of accomplishment. He had restored a
sense of nationhood to Viet Nam. He had come to represent a form of
"national Communism" that left him out of both the Chinese and the Soviet
orbits, but prompted both powers to court him.]
Màn Kịch 14 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí
Minh”
Bây giờ chúng ta hãy sang
phần mấy ông triết gia, văn sĩ Tây phương nói về Hồ Chí Minh trong phần
cuối: Nhận Định Tổng Hợp. DVD cho chúng ta có cảm tưởng là đang phỏng vấn
những vị này. Trên màn ảnh chúng ta chỉ thấy các vị đó nói vài câu không rõ
rồi bước sang phần diễn giải bằng tiếng Việt, người xem cũng không biết là
phần diễn giải bằng tiếng Việt này có đúng như là người trong DVD nói
không..
Nhưng thật ra đây chỉ là
những mẩu phim không biết những người làm DVD lấy ở đâu, từ bao giờ. Điển
hình là với Jean Francois Revel, người đã chết hơn 3 năm trước đây, tháng 4,
2006. Câu tiếng Việt của Jean Francois Revel là:
“Mục tiêu đấu tranh
của HCM không phải là độc lập của VN mà là sát nhập VN vào Quốc Tế CS.”
Đây là một câu trong bài
“Ho Chi Minh, l’homme et son héritage” mà Jean Francois Revel viết năm 1990,
ngay sau khi CS sụp đổ ở Tây phương vào năm 1989. Chúng ta cũng biết, Jean
Francois Revel, Olivier Todd, Stéphane Courtois, cũng như Bùi Tín, Nguyễn
Minh Cần v…v… đã là những người từng nồng nhiệt ủng hộ Cọng sản. Nhưng câu
nhận định cũ kỹ của Jean Francois Revel như trên thì hoàn toàn sai, vì tất
cả những tài liệu của các học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh đều cho rằng
chẳng làm gì có chuyện ông Hồ sát nhập Việt Nam vào CS Quốc tế. Rất
nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng ông Hồ tuyệt đối không phải là người “bị
chủ nghĩa Marx mê hoặc” (Bùi Tín); hay “hoàn toàn gắn bó với chủ
Nghĩa CS” (Jean Sainteny); “trung thành vô điều kiện với Stalin”
(Bernard Fall); hay “là một tay diệt chủng, có tội với dân tộc mình”
(Nhà báo Balan Robert); hay “là tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa CS”
(Olivier Todd); hay “là một nhà độc tài có nhiều tham vọng” (Vũ Ngự
Chiêu).. Những nhận định đầy cường điệu và cảm tính như trên không đáng để
cho tôi phê bình.
Nhưng để thêm thông tin cho mấy bộ óc vĩ đại trên, chúng ta hãy đọc một số “sự
thật về Hồ Chí Minh” của một số học giả đã được trích dẫn trong DVD và một
số khác. Thường thường, trong một tác phẩm, phần kết là những nhận định tổng
kết về chủ đề của sách. Vậy trước hết chúng ta hãy đọc vài đoạn trong phần
Epilogue của Williams J. Duiker trong cuốn “Ho Chi Minh: A Life”.
Tôi thực sự thấy những sự thật này quan trọng hơn là những sự thật về … Tăng
Tuyết Minh, hay Nguyễn Thị Minh Khai nhiều.
Trong bản di chúc cuối
cùng, cũng như trong cuộc sống, ông Hồ Chí Minh đã tìm cách cân bằng giữa sự
hiến thân của ông ta cho nền độc lập của Việt Nam và sự cống hiến tương tự
cho cách mạng thế giới. Trong tài liệu này mà ông ta thảo lần đầu vào năm
1965 và sau đó sửa đổi vào những năm 1968, 1969, ông ta đã khẳng định lại
sự quan trọng của cả hai chủ nghĩa quốc gia và xã hội chủ nghĩa, tuy rằng
ông nhấn mạnh về ưu tiên tức thời là hàn gắn những vết thương của chiến
tranh và cải tiến mức sống của người dân Việt. Ông đặc biệt chú ý đến sự
quan trọng của sự thực hiện nam nữ bình quyền. Ông ta khen tặng Đảng đã
đóng vai trò chỉ đạo trong cuộc các mạng Việt Nam, nhưng kêu gọi một
chiến dịch sửa sai và tự kiểm để dân chủ hóa tổ chức và nâng cao đạo đức của
các cán bộ đảng sau cuộc chiến.
[Duiker: Epilogue,
p.563: In his final testament, as in his life, Ho Chi Minh has sought to
balance his commitment to Vietnamese independence with a similar dedication
to the world revolution. In this document, which he first drafted in 1965
and then amended by hand in 1968 and 1969, he reaffirmed the dual importance
of nationalism and socialism, although he emphasized that the immediate
priority was to heal the wounds of war and improve the living standards of
the Vietnamese people. He paid particular attention to the importance of
realizing equality of the sexes. He praised the Party for having played the
leading role in the Vietnamese revolution, but called for a campaign of
rectification and self-criticism to democratize the organization and raise
the level of morality among Party cadres after the end of the war.]
Đối với nhiều quan sát viên, điểm then chốt
trong cuộc tranh luận về ông Hồ Chí Minh tập trung vào vấn đề nên đặt ông ta
vào là một người Cọng sản hay một người quốc gia. Nhiều người quen biết
ngoại quốc của ông ta nhấn mạnh ông ta là một người yêu nước hơn là một
người cách mạng Mác-xít. Có vẻ như ông Hồ thừa nhận quan điểm này năm
1961, khi ông tuyên bố công khai là sự mong muốn cứu đồng bào của ông đã dẫn
ông ta tới chủ thuyết Lê-nin. Trong khi ông bày tỏ điều này trong nhiều
trường hợp khác, không có gì rõ ràng hơn là ý kiến của ông nói với viên sĩ
quan tình báo Hoa Kỳ Charles Fenn vào năm 1945 là ông ta coi chủ nghĩa
cọng sản như là phương tiện để đạt được mục đích quốc gia. Khi yêu cầu
ông giải thích, ông Hồ đã trả lời:
“Trước hết, ông cần phải hiểu rằng giật độc
lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà
người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết
phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc. Chúng ta
không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương
tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có
lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn
Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình
vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự
phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết
Mác-Lênin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này.”
[Duiker, Epilogue, p.
569-570 : To many observers, the crux of the debate over Ho Chi Minh has
centered on the issue of whether he should be identified as a Communist or a
nationalist. Many of his foreign acquaintances insist that Ho was more a
patriot than a Marxist revolutionary. Ho appeared to confirm this view in
1961, when he publicly declared that it was the desire to save his
compatriots that initially led to Leninism. While he voiced such sentiments
on numerous other occasions, there is perhaps no clearer exposition than his
remark to the U.S. intelligence officer Charles Fenn in 1945 that he viewed
communism as the means to reach nationalist end. When asked to explain
himself, Ho replied:
First, you must
understand that to gain independence from a great power like France is a
formidable rask that cannot be achieved without some outside help, not
necessary in thingd like arms, but in the nature of advice and contacts.
One doesn’t in fact gain independence by throwing bombs and such. That was
the mistake the early revolutionaries all too often made. One must gain it
through organization, propaganda, training and discipline. One also needs..
a set of beliefs, a gospel, a practical analysis, you might even say
abible. Marxism-Leninism gave me that frame work.]
Giống như các lãnh tụ Á Châu trong thời đó,
kinh nghiệm của ông Hồ với chủ nghĩa tư bản không phải là những kinh nghiệm
thoải mái, và những sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân mà ông ta quan sát
trong những năm thiếu thời đã xúc phạm mạnh đến tình cảm của ông. Tuy
nhiên, nhiều niềm tin triết lý của ông có vẻ như phù hợp với những lý
tưởng Tây phương hơn là những lý tưởng của Karl Marx và Vladimir Lenin.
Tuy ông thường tỏ ra vẻ một người Mác-xít chính thống với những đồng nghiệp,
có vẻ như rõ ràng là ông ta không mấy quan tâm đến những vấn đề giáo điều
và thường hay có những nỗ lực
chân thật để giảm bớt những khía cạnh cứng rắn
khi áp dụng cho Việt Nam.
[Duiker, Epilogue, p.
576: Like many other Asian leaders of the day, his experience with
capitalism was not a happy one, and the brutalities perpetrated by by
Western colocialism that he observed during his early years deeply offended
his sensibilities. However, many of his philosophical beliefs appear to be
more compatible with Western ideals than with those of Karl Marx and
Vladimir Lenin. Although he sought to portray himself to colleagues as an
orthodox Marxist, it seems clear that he had little interest in doctrinal
matters and frequently made sincere efforts to soften communism’s hard edges
when applied in Vietnam. Nonetheless, as the founder of his party and the
president of his country, Ho Chi Minh must bear full responsibility for the
consequences of his actions, for good or ill. In the light of the
conditions that prevail in Vietnam today, even many of his more ardent
defenders must admid that his legacy is a mixed one.]
“Như vậy, ông Hồ Chí Minh là “người tạo thời thế” một “đứa con của sự
khủng khoảng” đã tổ hợp trong người mình hai lực chính trong lịch sử hiện
đại của Việt Nam: lòng mong muốn quốc gia độc lập và sự đòi hỏi của công
lý xã hội và kinh tế. Vì những lực đó vượt ra ngoài biên giới quốc gia
của ông, nên ông Hồ đã có thể gửi thông điệp của ông cho những dân thuộc địa
trên khắp thế giới và nói lên tiếng nói thay cho họ, đòi hỏi thoát ra khỏi
sự đàn áp của đế quốc. Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của
ông [Hồ] để lại cho dân tộc mình ra sao, ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong
ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người
cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ.”
[Duiker, Epilogue, p.
577: Ho chi Minh, then, was an “event-making man” a “child of crisis” who
combined in his own person two of the central forces in the history of
modern Vietnam: the desire for national independence and the quest for
social and economic justice. Because these forces trancended the borders of
his own country, Ho was able to project his message to colonial peoples all
over the world and speak to their demand for dignity and freedom from
imperialist oppression. Whatever the final judgment on his legacy to his
own people, he has taken his place in the pantheon of revolutionary heroes
who have struggled mightily to give the pariahs of the world their true
voice.]
Sau đây, xin thêm một đoạn Duiker viết về cái
chết của ông Hồ:
“Khi tin tức về cái
chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét
về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22000) bức điện tín từ
các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và
chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã
hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô
Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh
hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân
tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các
nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với
những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một
bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện
thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác
đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ
báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có
một tình thương vô bờ bến đối với các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính
giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi.”
Phản ứng từ các thủ đô
Tây Phương thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên
chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không bình luận gì
cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền
thông trong các nước Tây Phương thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các
phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng
ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những
người lép vế thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn
thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời
lẽ kính trọng ông như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc
chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như
là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”
(Duiker, Epilogue, p.562: The news of Ho Chi
Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the
globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more
than twenty-two thousand messages from 121 countries offering the
Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of
socialists states held memorial services of their own and editorial comment
were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as
a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the
international Communist and national liberation movement, and a great friend
of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his
role as a defender of the oppressed. An article published in India described
him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration
for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his
simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in
Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a
boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”
Reaction from Western
capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior
Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death
in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar
cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a
defender of the weak and oppressed. Even those who had admandtly opposed the
Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated
himself first and foremost to the independence and unification of his
country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of
the world.”)
Trên đây, Duiker đã viết lên một sự kiện.
Sự kiện này, hơn gì hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải
ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về ông Hồ. Cho nên bất
kể những luận điệu nhằm hạ uy tín của ông Hồ đều không thể thuyết phục được
ai, ít nhất là trong giới hiểu biết và trong giới những công nhân nông dân
tiểu thương lòng dạ chân chất, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ
cấp, đầy hận thù, vụn vặt, chỉ nhắm vào những tiểu tiết mà không nhìn thấy
những mặt to lớn của sự việc, và chỉ có thể lấy được sự đồng tình của một số
người nhỏ nhoi cuồng tín, buôn bán hận thù, thu hẹp trong cộng đồng người
Việt ở hải ngoại..
DVD đã đưa tài liệu của
Duiker trong cuốn Ho Chi Minh: A Life để chứng minh là ông Hồ có vợ.
Chuyện nhỏ thôi mà. Để biết thêm về cuốn Ho Chi Minh: A Life của
Duiker, chúng ta
hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn “Ho Chi Minh,
A Life” [Kutler vốn là tác giả cuốn "The Wars of Watergate"
và là chủ biên của "The Encyclopedia of the Vietnam War."]
Stanley Kutler cho rằng
trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về “một nhà cách mạng ái quốc gần
với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin” [A patriot closer to Thomas
Jefferson than to V.I. Lenin]. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới
nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như
vậy. TCN)
Trước hết, Kutler cho
rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ
đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu,
có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho chính phủ, cho một số
viên chức được ưu đãi, và cho những công ty Tây phương. Nhưng Kutler ghi
nhận là:
“Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác
nhờ ông Hồ, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu
và hi sinh để giải phóng quốc gia của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm
của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc.”
(Nevertheless, the world is a different place
because of Ho, and others like him, who agitated, fought and died to
liberate their lands from the stigma and yoke of foreign tyranny.)
Sau đó Kutler viết:
“Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến Tranh Lạnh về vấn
đề ông Hồ là người Cộng sản theo chính thống Mác-Lênin hay là một nhà ái
quốc quốc gia, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?”
(Duiker has moved beyond the simplistic Cold War
debate of whether Ho was a dedicated Communist, beholden to Marxist-Leninist
orthodoxy, or whether he was a patriot and a nationalist, dedicated to
freeing and uniting his country.) “Duiker đã nhận định đúng, Hồ
Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông
luôn luôn là một người quốc gia đã mang lại sự lãnh đạo, viễn kiến và sự
cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết “
(Duiker rightly notes that Ho had deep roots in
the international Communist movement; but he was a constant nationalist who
provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of
self-determination.)…
“Ông Hồ không hề nao
núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc gia. Lời tuyên bố
của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà
phù hợp với chủ nghĩa Mác. Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ,
độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về
một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai”
[Ho unabashedly used communism for his own
nationalist ends. His statement that "the peoples of Indochina still live
and will live forever" is hardly compatible with Marxism. Duiker insists
that for Ho, national independence always was the primary goal, while the
doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the
future.] Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc vì những
nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đã
thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho
người Việt Nam và cho thế giới (Duiker
painfully reminds us that external Cold War considerations led to the
failure of Paris and then Washington to grasp Ho's hand, resulting in
profound consequences for the Vietnamese people and the world.)
Sau đây là những ý kiến của Giáo sư Sophie-Quinn
Judge về ông Hồ Chí Minh, ngoài chuyện…Tăng Tuyết Minh trong DVD:
Trong cuộc
phỏng vấn của đài RFI, Giáo sư Sphie-Quinn Judge nói:
Qua những
năm được nghiên cứu trong quyển sách này, ông Hồ chí Minh rõ ràng là một
người đã có quyết tâm và đã khéo léo vận động cho nền độc lập của nước Việt
Nam. Từ Hội Nghị Hòa Bình Paris năm 1919 cho đến năm 1945 khi ông đọc tuyên
ngôn độc lập. Ðộng cơ thúc đẩy ông Hồ Chí Minh là một lòng yêu nước thành
thật và một thái độ căm ghét đế quốc Pháp. Tuy nhiên ông Hồ Chí Minh
không phải là một người Cộng sản thánh thiện. Ông đã nhiều lần chung sống
với phụ nữ, sẵn sàng thỏa hiệp và thâm nhập vào các đảng phái khác. Mức
độ tin tưởng vào Chủ Nghĩa Cộng Sản của ông rất khó đo lường, nhưng điều
người ta có thể nói là ông Hồ Chí Minh rất ít chú ý đến giáo điều "
Trong phần kết của cuốn Ho Chi Minh, The
Missing Years, Giáo sư Judge viết:
Bằng chứng từ tài liệu của Moscow lẫn của Pháp đều cho rằng Quốc tế Cọng
Sản đã không hề là một công cụ đắc lực để truyền bá quyền lực của Cọng sản
mà giới khoa học chính trị và lịch sử thời Chiến Tranh Lạnh muốn chúng ta
tin vào. Nó cũng không nhất quán trong việc ủng hộ những phong trào chống
thuộc địa. Nhưng mối liên hệ mà ông Hồ đã tạo dựng với Quốc tế Cọng sản đã
đóng một vai trò chủ đạo trong việc phát triển chủ nghĩa Cọng sản cũng như
phong trào độc lập quốc gia tại Việt Nam. Quốc tế Cọng sản đã cung cấp cho
ông Hồ và những đồng chí của ông phương pháp cũng như tài chánh trong việc
đào tạo những cán bô tổ chức và tuyên truyền; nó đã giúp họ phân tích để
hiểu tình trạng của họ trong tay của người Pháp. Mặc dù sự can thiệp và
cố vấn của nó không luôn luôn được chấp nhận , khi còn hoạt động nó vẫn
được vị thế trọng tài tối cao trong những tranh chấp chính trị quốc tế, điều
này đã giúp đảng Cọng sản phần nào giữ vững được tình đoàn kết. Nó cũng đã
cung cấp nơi nương tựa cho những học viên Cọng sản tại Moscow để họ có thể
quay về Việt Nam xây dựng lại Đảng Cọng sản Đông Dương vào những năm đầu
1930. Ngay cả việc ông Hồ bị đối xử lạnh nhạt tại Moscoe từ năm 1934 đến
năm 1938 cũng đã cứu sống ông để ông tiếp tục chiến đấu. Nhưng nếu
cho rằng ông Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Đông Dương chỉ đơn thuần là những
sản phẩm của Quốc tế Cọng sản thì điều này là bóp méo sự thật. Họ tồn
tại một cách song song trong những phạm vi khác nhau – xã hội truyền thống
của Việt Nam, đế chế Pháp, tổ chức Nam Dương và cộng đồng thế giới mà trong
những năm 1920 và 1930 đã bị bó gọn bởi những phương tiện thông tin hiện đại
việc phụ thuộc lẫn nhau về giao thông và kinh tế. Chính khả năng có thể
chuyển vận giữa những lãnh vực khác nhau của Hồ Chí Minh cuối cùng đã giúp
ông giữ vững được vị thế của mình như là một nhà lãnh đạo thành công nhất
trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
Tiếp theo,
chúng ta hãy bước sang phần những ý kiến của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn
Giảng Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Trước hết là trong vài
cuộc phỏng vấn.
Trong cuộc
phỏng vấn của đài RFI, Giáo sư Pierre Brocheux phát biểu:
Tôi cố
gắng mô tả thật xác thực con người của ông Hồ Chí Minh hơn là nói về hoạt
động của một chính khách. Tôi chỉ cố đào sâu hơn một số mặt của nhân vật này
vì hiện giờ chưa có tài liệu gì thật sự mới. Thật ra tôi muốn nhấn mạnh
đến vai trò mà tôi gọi là người chuyển tải giữa phương Tây và phương Ðông.
Ông Hồ Chí Minh đã ứng dụng một học thuyết của phương Tây vào Việt Nam,
nhưng vẫn giữ được tính chất rất là Châu Á, rất là Việt Nam. Tôi muốn
nói đến sứ mệnh của một nhà lý tưởng, một nhà nhân bản muốn làm cách mạng
nhưng buộc phải thỏa hiệp với thực tế cay nghiệt của cuộc cách mạng.
RFI:
Cuốn tiểu sử Hồ chí Minh do ông Pierre Brocheux viết cũng tuần tự theo thứ
tự thời gian, từ khi ông sinh ra ở làng Kim Liên, rời Việt Nam sang Pháp,
chu du khắp thế giới, cho đến thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, rồi
hoạt động bí mật trong nước. Trong những khoảng thời gian nói trên, ông Hồ
Chí Minh, một mặt phải làm theo lệnh của Quốc Tế Cộng Sản, vốn chủ trương
đấu tranh giai cấp triệt để. Nhưng mặt khác, lại cố gắng tập hợp mọi tầng
lớp, kể cả các thành phần tư sản, để giải phóng đất nước khỏi ách thực dân
Pháp.
Về điểm này
tác giả Pierre Brocheux cho rằng:
" Tôi nghĩ
nên nhìn vấn đề một cách khác. Người ta vẫn thường đặt câu hỏi, " Ông Hồ Chí
Minh là một người Cộng sản hay một nhà ái quốc." Nhưng theo tôi, ông là
một người có bản chất rất Việt Nam, hay đúng hơn là một nhà nhân bản Khổng
giáo. Ông muốn giải phóng đất nước, giành độc lập cho Việt Nam nên phải chấp
nhận một số thỏa hiệp với thực tế”.
Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC, Giáo sư Pierre
Brocheux phát biều:
Tôi nghĩ
rằng ông Hồ Chí Minh về bản chất thực ra là một người theo Khổng giáo. Ông
luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng giáo, một truyền thống ý thức
hệ Ðông Á, với các dòng tư tưởng Châu Âu, từ Marxism đến Lenism. Tôi bỏ cách
nhìn từ trước đến nay là tranh luận xem ông Hồ thực sự là một người Cộng sản
hay một người theo đường lối dân tộc chủ nghĩa.
Theo tôi,
trước sau ông là một người tốt, một người Khổng giáo. Những gì người ta nói
về ông ở Việt Nam hiện nay chỉ đúng một phần mà thôi. Theo tôi, ông đã cố
gắng đưa vào thực tế tính nhân đạo và tính công bằng xã hội theo kiểu của
Khổng giáo.
BBC:
Cứ cho là ông Hồ Chí Minh có tính cách như ông nói đi, thì theo ông, ông Hồ
nếu sống đến thập niên 70 thì liệu có cách giải quyết khác cho miền Nam sau
1975 hay không?
Pierre
Brocheux: Tôi tin là khác, chắc chắn không có cách giải quyết như các
ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Hồ Chí Minh khác Lê Duẩn, Lê Đức Thọ rất nhiều.
Sẽ không có chuyện bắt người miền Nam đi cải tạo hàng loạt hay những điều
tương tự. Sau 56 năm nghiên cứu Hồ Chí Minh, tôi có thể nói rằng ông Hồ
Chí Minh là một người ưa các giải pháp ôn hòa hơn là cực đoan.
Để thêm tài liệu về Hồ
Chí Minh, tôi muốn nói đến tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23,
Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres
et Communisme”, trong đó có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh”
[L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng
Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có
vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí
Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist).
Trước hết là
một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử
gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:
“Năm 1934,
Ông Hồ trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh
trừng lớn bắt đầu năm 1937. Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là
nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó
cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ
là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay
vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.”
(En 1934, il est de retour à
Moscou. Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en
1937. Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être
victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune
responsabilité. Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme
qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution
prolatérienne.)
“Về vấn đề
này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924. Được huấn luyện về
cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc
tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở
Tây phương. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý
nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử Âu Châu. Nhưng Âu
Châu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.”
(À ce sujet, il a expliqué son
point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme,
Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de
classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti
sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire. Mais quelle
histoire? Celle de l’Europe. Mais qu’est ce que l’Europe? Ce n’est pas
toute l’humanité).
“Hồ Chí
Minh có thực sự là mgười Mác-xít không? Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia
sau lớp sơn đỏ, như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn
Độ, đã nói? Vấn đề này đáng được đặt ra. Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc
bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh
hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của ông với chủ
nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“
(Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste? Ou
n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du
Komintern, l’Indien M.N. Roy? La question mérite đêtre posée… S’il a
certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises
sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme
ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)
“Năm 1963,
người Cộng Sản Lưu Thiếu Kỳ đã phác họa một hình ảnh chính trị của ông Hồ,
nếu đúng, cho thấy một vị thế không thoải mái [của ông Hồ] đưa đến
một sự gắn bó đôi đàng với lòng yêu nước chấp nhận thỏa hiệp, và chủ nghĩa
xã hội độc quyền: “Hồ luôn luôn là người hữu khuynh. Khi chiến tranh Đông
Dương chấm dứt, ông ta không thể quyết định là thiết lập một chế độ tư bản
hay một chế độ theo xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi đã quyết định cho ông ta.””
(Le communist Chinois Liu Shaoqi esquisse en
1963 un portrait politique de Ho qui, s’il est exact, indique la position
inconfortable qui résulte d’une double adhésion au patriotisme consensuel et
au socialisme exclusif: “Ho a toujours été un droitiste.. Lorsque la guerre
d’Indochine prit fin, il ne put se décider à choisir d’instaurer soit un
régime capitaliste soit un régime socialiste. Ce fut nous qui décidâmes
pour lui.”)
“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa
Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của
Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông Hồ
đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã
trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn
đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối
phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .”
(Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi
Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu
Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960. Ho avait déclaré qu’il n’était pas
moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue,
je tue, ce n’est pas une question de morale.” Et Liu Shaoqi de renchérir
qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux
contre-révolutionnaires capitalistes.)
Trên đây là những nhận
định về Hồ Chí Minh của ba học giả mà không ai có thể nghi ngờ khả năng
chuyên nghiệp của họ: William J. Duiker, Sophie-Quinn Judge, và Pierre
Brocheux, và DVD của LM Nguyễn Hữu Lễ đã chỉ đưa ra một chi tiết nhỏ, rất
nhỏ, trong những tác phẩm đồ sộ của họ.
Chúng ta biết rằng,
ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng Sản và đã từng
khẳng định là Lenin đã gây cảm hứng cho ông trong công cuộc giành lại độc
lập cho đất nước. Qua những tài liệu trên, nay chúng ta đã hiểu ông Hồ là
người Cộng sản như thế nào. Đây là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của
những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng sự lương
thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết
theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng
tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng
hộ hay chống đối một phe nào..
Để thêm thông tin cho những người
làm DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, chúng ta hãy đọc thêm một số tài liệu của
vài học giả khác.
Có một bài viết về ông Hồ Chí Minh của Wilfred
Burchett khá hay: Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com).
Wilfred Burchett là một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại Trưởng Henri
Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã
viết một cuốn có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam
Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi: Tại Sao [Nam]
Việt Nam Sụp Đổ” (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo
tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đã
viết về những gì đã tạo nên ông Hồ: Không phải thuần túy chỉ là Marx,
là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm
của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ. Có thể nói, tác giả hiểu
Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức, nhất là những “trí
thức” Việt Nam. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett.

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam
cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có
quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity). Họ
thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình
chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa
là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông”
(oriental human beings). [với ý coi thường, miệt thị]
Sự thực là người
nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa
và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ
(Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate,
is usually culturally and morally superior to his American adversary.).
Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ vì đất nước
hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều
này đã thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his
mother’s milk). Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập
với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong
lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000
năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền
thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của
xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã
bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị
đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v… Sự
hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của
người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là
một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai
và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên
trong cái “hồ tư duy” (think tank) [của Mỹ] không thể hiểu được
(The
knowledge of two thousand years' struggle against invaders is in the
bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an
inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future
and contempt for those who try to wreck the present-qualities
incomprehensible to the "think tank" specialists.).
Ông Hồ Chí Minh là mẫu
mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì
đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ
Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông
trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho
Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every
Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost
every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese
nation.) .
Một vấn đề mà
Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng
chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của
toàn thể quốc gia Việt Nam
(that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.) Không có một
lằn ranh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ
Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận
là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã
lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.
(No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce
the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be
on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and
source of inspiration for all Vietnamese - except the handful who served
Japanese, French and American masters in turn.)
Chúng ta hãy
đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ:
Trong cuốn
“The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble
Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:
“Ông Hồ
ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lê-nin;
thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông ta có
thể khá co dãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông ta: nền độc
lập và thống nhất của Việt Nam.”
(Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his
genius was for political action, and his ideology was capable of
considerable stretching as long as it tended toward the purpose that
obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)
Marilyn B.
Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New
York, 1991, viết, trang 4:
“Trong vài
năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo vì những “mùi hôi quốc
gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng rãi bao gồm cả
các địa chủ cỡ nhỏ và trung bình, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét
lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù). Phải mười năm sau sự tranh
luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xã hội mới
được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt
Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.”
(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings
were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad
alliance that could include even small and medium landowners, provided they
were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist. A decade
would pass before this bitter debate on the relationship between national
and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the
formation of the Viet Minh.)
Qua những tài
liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông Hồ không phải là tay sai của Nga và
Tàu như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông ta là tay sai
của Đệ Tam Quốc Tế, tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng Sản Quốc tế”, hay ngu
xuẩn hơn nữa là “Việt gian bán nước” Họ không hề biết chính trị của ông Hồ
giữa Nga và Tàu, đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Nga cũng như
Tàu gửi quân tình nguyện vào đánh giúp.
Thật vậy,
chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer,
Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear
and Chinese Dragon), trang 109:
“Đến Bắc
Kinh năm 1959 dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận
đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov. Trong những
cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc
Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng
khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến
Việt Nam. Ông Hồ biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng
Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị
cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành
một quốc gia bị chiếm.” (Visiting Peking in
1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was
careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail
Suslov. In private negotiations, he managed to win pledges of additional
arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers
to send “volunteer” troops or military advisers. Ho knew that if either the
Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside
Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam
lost its independence and became a captive nation.)
Tại sao ngày nay người
dân Việt Nam vẫn còn kính ngưỡng ông Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn
truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí
Minh”? Một trong những lý do rất dễ hiểu là
phần lớn những điều viết về ông Hồ của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn
cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là Quốc Gia, chứ
không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử. Thật vậy, những người
chống Cộng cực đoan như LM Nguyễn Hữu Lễ et al… chỉ nhìn thấy những điều lặt
vặt, nhiều khi sai lầm, như chúng ta thấy trong DVD “Sự Thật Về Hồ Chí
Minh”.
Để chấm dứt những tài liệu
về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” tôi xin trích dẫn đoạn kết trong cuốn Ho Chi
Minh của Jules Archer, trang 189-190:
“Cộng Sản hay
không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu
nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế
kỷ này. Không vị kỷ, can đảm, hiến thân cho nền độc lập của Việt
Nam bằng mọi giá, ông ta đã vật nước Pháp phải khụyu đầu gối và chiến đấu
chống Hoa Kỳ, một thế lực mạnh nhất thế giới, đưa đến một thế bí quân sự.
Sự cương quyết về một
mục đích đã làm thay đổi giòng lịch sử, làm phân rẽ dư luận quần chúng ở Hoa
Kỳ, bắt buộc một Tổng Thống Mỹ phải rút lui không tái cử cho nhiệm kỳ hai,
khiến cho hàng triệu giới trẻ trên khắp thế giới kính ngưỡng ông ta ủng hộ
cách mạng và xuống đường biểu tình ủng hộ ông ta, hô “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”
[Nếu ai đã ở Madison, Wisconsin, nơi tôi đang học, vào đầu
thập niên 1970 thì sẽ hàng ngày chứng kiến cảnh này, ngoài những “sit-in”,
của sinh viên đại học Wisconsin-Madison. TCN]
Sự pha trộn duy nhất
chủ nghĩa Mác-xít với chủ nghĩa gia trưởng, và chủ nghĩa quốc gia cao độ của
ông Hồ đã thành công vĩ đại trong việc gây cảm hứng cho dân ông chịu đựng
những sự hi sinh to lớn. Họ cũng còn kính yêu “Bác Hồ” vì nhân cách khiêm
nhường và những cách cư xử từ ái của ông. Ông Hồ là sự thất vọng của
những kẻ thù – Pháp, chế độ Sài gòn, và Mỹ - vì họ không thể nào làm cho
người ta thù hận được ông. Ông ta được sự kính yêu của người trong Nam
cũng như của những người ở ngoài Bắc.
Một trong những thành
quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đã đạt thành một “Cộng sản quốc
gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa Đỏ và
Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được sự giúp
đỡ mà nước ông cần đến. Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là một nước
chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hãnh diện, cương quyết trên sự thiết lập
cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam…
Khi những trang
sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên
đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông
dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông coi như là một người Việt Nam vĩ
đại nhất trong của lịch sử của họ - người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”
(Communist or not,
Ho Chi Minh will probably go down in history as a great Vietnamese patriot
who was one of the extraordinary world figures of this century. Selfless,
courageous, dedicated to Vietnamese independence at all costs, he wrestled
France to her knees and fought the United States, the world’s mightiest
power, to a military stalemate.
His single mind resolution changed the
course of history, polarized public opinion in the United States, forced an
American President to withdraw from seeking a second term, and radicalized
millions of admiring youth around the world who demonstrated in his support
chanting, “Ho, Ho, Ho Chi Minh”.
Ho’s unique mixture of Marxism, paternalism,
and intense nationalism was enormously successful in inspiring tremendous
sacrifice among his people. They also loved “Bac Ho” (Uncle Ho) for his
winning personal modesty and gentle ways. Ho was the despair of all his
enemies – the French, the Saigon regime, the Americans – because they were
unable to muster hatred of him. He was held in as much affection in South
Vietnam as among the people he led in the North.
Not the least of his great achievements was
that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his
country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he
skillfully played one off against the other to get the help his country
needed. When he died, North Vietnam was no satellite but a proud,
independent country, determined on nationhood for all Vietnamese…
When the books of his life are balanced, and
peace is finally restored to the tragic land of Vietnam, Ho Chi Minh will
always be known to the peasants who loved and followed him as the greatest
Vietnamese in their history – the revere uncle of his country.)
Tổng kết hết cuộcđời của ông Hồ, qua những tài
liệu trên, ta chỉ thấyông chỉ có mộtđiểm nổi bật, và dân tộc cũng như lịch
sử Việt Nam cũng chỉ ghi và nhớ một điều: Không có ông Hồ Chí Minh thì Việt
Nam không thể thoát ra khỏi nền đô hộ của thực dân Pháp, và các đồng chí của
ông đã không thể thực hiện được ý nguyện của ông là thắng giặc Mỹ , mang
lại độc lập, thống nhất và hòa bình cho Việt Nam. Biết bao nhiêu người yêu
nước khác cùng tâm nguyện, cũng đã cống hiến đời mình để chống xâm
lăng,nhưng đều thất bại: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa
Thám, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thái Học ...Chỉ có ông Hồ Chí Minh là thành
công.
Vậy thì, như một hệ luận,
ai là những người không muốn ghi công và nhớ ơn đó
của ông Hồ Chí Minh và ngụy biện tìm cách phỉ báng ông? Câu trả lời là
những kẻ từng làm tay sai cho giặc xâm lược Pháp (và Mỹ), những kẻ từng
được đặc quyền đặc lợi dưới chế độ bảo hộ Pháp (và Mỹ), những kẻ giờ nầy còn
đòi lại đất đai do Thực dân ban cho hoặc cướp của Phật Giáo, của nhân dân.
Những kẻ đó chính là lực lượng Công Giáo Việt Nam, và LM Nguyễn Hữu Lễ với
cuốn DVD là một tiêu biều!
Đoạn kết ngắn, rất
ngắn, của TCN:
Khi qua đời,
ông Hồ Chí Minh chỉ để lại một bản di chúc, ngoài ra không có một tài sản
riêng nào. Trong suốt cuộc đời, ông Hồ có một nếp sống giản dị. Trong DVD,
hình ông chụp với Mao Trạch Đông, dưới chân cũng chỉ có đôi dép. Với cương
vị là Chủ Tịch Nước, ông không cần phải như vậy.
Trong di
chúc của ông Hồ Chí Minh có hai câu:
Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!
[Jack Woddis dịch:
Our rivers, our mountains, our people will
always be;
The American aggressors defeated, we will build
a country ten times more beautiful]
Hơn 10 hay hơn 100? Tùy
theo nhận định của những người đã về thăm quê hương như tôi. Đảng CS VN đã
hoàn thành một ý nguyện trong di chúc của ông Hồ Chí Minh: “Thắng Giặc Mỹ”.
Nhưng còn những ý nguyện khác như “cần, kiệm, liêm, chính”; “hỏa
thiêu để khỏi tốn tiền của nhân dân”; “sửa sai và tự kiểm để dân chủ hóa
tổ chức và nâng cao đạo đức của các cán bộ đảng sau cuộc chiến.” thì
sao? Xin hãy học tập theo gương “Bác Hồ” và xin đừng phụ lòng của “Bác”.
Trần Chung
Ngọc
19 tháng 8,
2009
Xin cảm ơn GS Trần Chung Ngọc và Sachhiem.net (Minh Nho)