 |
20 tháng 11, 2009 |
Chủ truơng của Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh
Vatican là phải hủy diệt các tôn giáo khác nhất là nếp sống văn hóa
của các quốc gia nạn nhân bất lợi cho niềm tin vào thượng đế của họ.
Từ năm 1975 cho đến nay, Vatican và giáo dân
Ca-tô người Việt càng ngày càng có những thái độ và hành động chống đối mãnh
liệt các việc tôn vinh và lập đền thờ các vị anh hùng dân tộc của dân ta.
Nỗ lực "triệt hạ" các biểu tượng khác không chỉ tiềm tàng trong các quyển giáo lý, mà còn được thể hiện mãnh liệt qua các "tác phẩm" của những con chiên "gương mẫu" của đạo Chúa. Tiêu biểu có thể kể : cuốn Tổ Quốc Ăn của
Nguyễn Gia Kiểng (Paris: TXNH,
2001), và cuốn DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh của Linh-mục Nguyễn Hữu Lễ cùng con chiên Trần Quốc Bảo vừa cho phát hành mấy tháng vừa qua (năm 2009). Những hành động này có xứng hợp với các khẩu hiệu "công bình" và "bác ái" mà các nhà truyền giáo đã mỏi miệng uảng cáo hàng ngày hay không?
Bài viết này có mục đích phân tích nguyên
nhân của những thái độ và hành động hủy diệt các tôn giáo và
nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam ta.
Trước mắt, ta có thể nhìn thấy được hai lý do cho các hành động này.
Thứ nhất,
Vì mang căn bệnh cuồng tín, giới tu sĩ áo đen và giáo dân người
Việt luôn luôn tỏ ra là những người ngoan đạo và hãnh diện “sống
đạo theo đức tin Ki-tô”. Để tỏ ra ngoan đạo, họ triệt để vâng lời và tuân thủ tất cả những điều Giáo hội bắt buộc qua các tín lý vừa hoang đường vừa ngược ngạo. Tính chất ngược ngạo này luôn luôn đặt hàng đầu trong các tín lý của họ để hạ bệ tất cả
những biểu tượng thần linh khác với Chúa Cha (Jehovah), Chúa Con Jesus và Bà Maria của
họ. Những tín điều này đều có ghi rõ ràng trong sách Leviticus (26:1) với
nguyên văn như sau:
“26.1.-
Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng bái cho chính các
ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng nên một trụ
cột thiêng liêng nào để nâng cao cho chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư
ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu
nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các ngươi.”
Vì Cựu Ước đã nói rõ như vậy, cho nên chủ trương hủy diệt các tôn giáo và các nếp sống văn hóa của
dân tộc khác là đặc tính bất di bất dịch của các hệ thống giáo hội các đạo Chúa. Kết quả là họ tiếp tục gây chiến tranh khắp nơi, nóng hay lạnh, và dưới nhiều hình thức khác nhau mà bản chất vẫn là "thánh chiến".
Chủ trương là như vậy, cho nên khi có quyền
lực trong tay hay hoàn cảnh cho phép, thì Giáo Hội và con chiên của Giáo Hội
không từ bỏ một thủ đoạn nào để biến chủ truơng này thành hành động, bất kể là
dã man và bạo ngược đến đâu đì nữa họ cũng làm. Làm để vừa cưỡng bách người dân
dưới quyền phải theo đạo làm nô lệ cho Giáo Hội và làm để cụ thể hóa những lời
dạy như đã nêu lên ở trên.
Thứ hai,
Từ khi Pháp – Vatican phát động chiến tranh đem quân tấn công, khai hỏa bắn phá
các chiến thuyền của ta vào 15/4/1847 rồi bỏ đi, và lai trở lại tấn chiếm nước ta
vào năm 1858, cho đến ngày 30/4/1975, trên võ đài chính trị tại Việt Nam có hai
phe đối đầu với nhau và coi nhau như là những kẻ tử thù:
a.- Một bên là Liên Minh Xâm Lược (Pháp –
Vatican và sau này là Mỹ - Vatican.) Phe này được
các linh mục và hầu hết nhóm thiểu số con chiên người Việt triệt để ủng hộ
với tinh thần “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” và “giữ đạo, chứ
không giữ nước”.
b.- Một bên là nhân dân ta và tất cả các tổ
chức hay lực lượng lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta. Trong các
lực lượng khởi nghĩa kháng chiến này, chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận
Việt Minh là đã hoàn thành được sứ mạng lịch sử này của dân tộc.
Cũng nên biết là bản chất của Giáo Hội La Mã
gồm cả các linh mục và con chiên cuồng tín, đặt biệt là con chiên người
Việt thường tỏ ra khinh rẻ người thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác. Họ coi những
thuộc các tôn giáo khác là những quân mọi rợ, dã man và họ tự phong là có quyền
cướp đoạt tài sản của dân ta, cưỡng bách dân ta làm nô lê và tru diệt dân ta nếu
họ có khả năng hay cơ hội làm được. Điều này đã được viết
thành văn bản trong Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454
trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ sự
thật này như sau:
“Theo quyền lực Chúa ban và
quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha)
"toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất
cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác
của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương
quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt
tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh
viễn." [1]
Đặc biệt hơn nữa là Giáo Hội La Mã cũng như
giới tu sĩ áo đen và con chiên ngoan đạo triệt để tuân hành những điều ghi rõ
trong thánh kinh là phải trả thù một cách hết sức dã man những cá nhân hay thế
lực nào đã bị họ coi là kẻ thù. Sách Deuteronomy (Phục Truyền Luật Ký
19:21) trong Cựu Ước cũng nhắc lại lời dạy dã man này:
“19:21: Your eyes shall not pity, but life
shall be for life, eye for eye, tooth for tooth, hand for hand, foot for foot"
("Mắt ngươi chớ thương xót: Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền
răng, chân đền chân.")
Sách The Decline and Fall Of The Roman Church
cũng viết:
"Cruelty to enemies of Jesus
within and without the heartland could be God's vengence." Tàn bạo đối với những
kẻ thù của Chúa Jesus ở trong hay ở ngoài các vùng đất (do Giáo Hội La Mã kiểm
soát) là sự trả thù của Thượng Đế.” [2]
Giáo Hội lại dạy tín đồ rằng những lời ghi trong thánh kinh và
những lời Giáo Hội dạy dỗ đều là những lời Chúa dạy hay chúa “mặc
khải” (sic) cho Giáo Hội. Người nào làm đúng như
lời dạy của Chúa và của Giáo Hội thì sẽ được Chúa ban cho phước lành, và sẽ được cho lên thiên đàng để đời đời
hưởng nhan Chúa. Người nào không tin theo hay không triệt để tuân theo lời dạy
cúa Chúa và của Giáo Hội thì sẽ bị Chúa đày xuống hỏa ngục.
Với cái bản chất tham lợi và háo danh (đa phần là do lúc trước ông bà theo đạo để được những quyền lợi vật chất) những người này luôn luôn hăng say, năng nỏ làm theo những lời “mất dạy”
của Giáo Hội để hy vọng sẽ được "Chúa" trong giáo hội ban cho những lợi lộc, hay có nhiều cơ hội được chút danh hờ.
Chúng tôi chỉ xin trích dẫn lời tuyên
bố của ông Ngô Đình Nhu vào khi ông Ngô Đình Diệm mới được Liên
Minh thánh Mỹ Vatican đưa lên cầm quyền để độc giả nhìn thấy rõ cái bản chất hay thực trạng của những chính quyền đạo phiệt Ca-tô, :
“Tôi có cả một chương trình đã bàn kỹ với
Đức Giám Mục sẽ lần hồi tiến chố mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt
tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công
Giáo hết.”[3]
Phần nói về hành động của chủ truơng dùng bạo
lực để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo đã được chúng tôi trrình bày
đầy đủ trong các Chương 66, 67, và 68 (Mục XX, Phần VI) trong bộ sách Lịch Sử và
Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Trong bài viết, chúng tôi xin giới han chỉ
trình bày:
1.- Vatican với những hành động đánh phá và
phỉ báng tôn giáo cổ truyền tại Việt Nam, và
2.- Vatican với những hành động phỉ báng và
đánh phá nếp sống văn hóa tôn vinh và thờ cúng anh hùng dân tộc của dân ta.
SÁCH LƯỢC ĐÁNH PHÁ VÀ PHỈ BÁNG
CÁC TÔN GIÁO CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TA
Sách lược của Vatican trong chủ trương đánh
phá các tôn giáo cổ truyền của các dân tộc nạn nhân bị chinh phục (mà Việt Nam
là một thí dụ điển hình) được điều nghiên rất công phu và được tiến hành từ
bước thứ 1 (giáo dục giáo dân),rồi tới khi nào có hoàn cảnh thuận tiện thì sẽ
tiến hành bước thứ 2 (bằng hành động cụ thể). Sách lược này cũng được áp dụng
đối với các nhà viết sử có tác phẩm nói lên những sự thật về những việc làm bất
chính, bất nhân của Vatican cũng như đối với các chính khách hay chính quyền
không chịu khuất phục hay có chính sách đi ngược lại với chủ trương của Giáo Hội
La Mã. (Đây là trường hợp của chính quyền Việt Nam hiện nay.)
Bước thứ nhất: biên sọan thành văn bản để giáo dục
Bước đầu của Giáo Hội La Mã trong chủ trương đánh phá và hủy diệt tôn giáo cổ truyền của
dân tộc Việt Nam là việc biên sọan thành văn bản để giáo dục con chiên và phải
được phổ biến sâu trong cộng đồng con chiên hay trong các họ đạo tại các địa
phương. Đây cuốn sách Phép Giảng Tám Ngày của Linh-mục Alexandre de Rhodes
trong đó có Chương Bốn tác giả dùng những lý luận chủ quan, trịch thượng và
những ngôn từ thiếu văn hóa đúng theo truyền thống của Đạo Ki-tô La Mã để phỉ
báng và mạt sát các tôn giáo cổ truyền của dân ta.
Ai cũng biết rằng các tôn giáo cổ truyền của
dân tộc còn được thể hiện ra bằng những nếp sống văn hóa cổ truyền của đất nước.
Đó là một nền đạo lý vị tha gồm những quy tắc đạo lý nhân bản để cho mọi người theo đó mà hành xử sao cho “vừa mắt ta ra mắt người”
(kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Đó là nếp sống vừa nặng tính cách hiếu hòa, khoan dung và nhân
ái, vừa nặng tính cách tín ngưỡng với lòng tôn kính tất cả các đấng thần linh
trong thế giới vô hình một cách hết sức vô tư vô, vô vị lợi. Trong nếp sống văn hóa đó, người Việt Nam chúng ta không đặt nặng vấn
đề dâng lễ vật cúng tế như một thứ đồ hối lộ để mong được các đấng thần linh ban
ân sủng hay phép mầu, phép lạ gì hết, và cũng không có ý đồ cầu xin để được xóa
bỏ những tội ác do chính mình đã gây ra. Nhờ có những nếp sống văn hóa cao đẹp
như vậy mà các xã hội Đông Phương mới có được sự hài hòa giữa các đạo Khổng,
đạo Lão, đạo Phật và đạo thờ cúng tổ tiên. Các tôn giáo này gặp nhau ở
chủ trương mở rộng tâm hồn để đón nhận tất cả những tư tưởng hay triết thuyết cao đẹp của tất cả các tôn giáo hay của nền văn hóa từ phương trời khác, do đó người Á đông có lòng khoan dung về tôn giáo. Lòng khoan dung tôn giáo như vậy
đã khiến cho trong xã hội Đông Phương nói chung, và Việt Nam nói riêng, có rất
nhiều người sống theo cái nguyên tắc “một tôn giáo là tốt, vậy thì càng nhiều
tôn giáo càng tốt hơn”. Sự kiện này được nhà viết sử Virginia Thompson viết:
“Tôn giáo ở Việt Nam có thể so sánh như một khu rừng
nhiệt đới trong đó không có một cây nào chiếm giữ một chỗ biệt lập. Không có
biên giới rõ ràng giữa các tôn giáo ở Việt Nam, và ở đây một người có thể tin
theo hàng nửa tá tín ngưỡng mà không cảm thấy mâu thuẫn. Người Việt Nam sống
theo nguyên tắc nêu một tôn giáo là tốt thì ba tôn giáo càng tốt hơn. Nếu có gây
ra hỗn loạn thì ít nhất cũng làm mất đi tính cách cuồng tín về tôn giáo. Cả lòng
khoan dung và nghi thức tôn giáo đều bắt nguồn từ Trung Hoa nhưng cũng bao gồm
rất nhiều tín ngưỡng bản địa (Việt Nam) mà không bao giờ bị xóa bỏ hay biến mất.”
[ “The religions of Annam [Vietnam] have been compared to a
tropical forest where no one tree can live isolated. There is no clearcut
boundary between them, and one may hold simultaneously and without friction a
half dozen beliefs. The Annamites [Vietnamese] work on principle that if one
religion is good, three are better. If the result is chaos, there is at least a
comforting absence of fanaticism. Both this tolerance and the all pervading
formalism of Annamite [Vietnamese] religions, which are Chinese origin, cover a
multitute of indigenous beliefs that have never been eradicated…”]
[4]
Tiến-sĩ Vũ Tam Ích nói rõ ràng hơn như sau:
“Người Việt Nam tin rằng có rât nhiều loại thần khác nhau
ở khắp mọi nơi trong Thiên Nhiên. Trên Trời dưới đất ở đâu cũng có đầy dẫy những
thần là thần. Ở trên mặt trời, mặt trăng, các hành tinh, tinh tú đều có thần
hết. Thần làm cho gió và mây di chuyển. Thần làm ra mưa làm ra sấm sét. Ngay ở
cả những nơi như trên đồi, trong các dòng sông, dòng suối, trên các cây cối,
trong các ruộng lúa, trên các hòn đá cũng như trong nhà, phòng ngủ, nhà bếp cũng
đều có thần ngự trị cả. Thêm vào đó, người ta còn thờ Trời, thờ thần Đất (thổ
công), thần nông, và mỗi làng đều có thờ thành hoàng, vị thần này có địa vị
chính thức ở Việt Nam.” [“The
Vietnamese people believed that spirits of many different kinds exist everywhere
in Nature. Heaven and Earth are, so to speak, crowded with spirits, which occupy
the sun, the moon, the planets, and the stars, which move the winds and the
clouds, which make rain and thunder, which dwell in hills, streams, trees,
ricefields, stone, as well as in each house, room, kitchen. In brief, everything
has its own spirits. Added to that was the cult of Heaven, Earth, deities of
agriculture, and village genii, which had acquired an official status in
Vietnam.”] [5]
Nhờ những đặc tính khoan dung theo tinh thần của đạo nhân trong
Khổng Giáo và đức từ bi hỉ xả của Nhà Phật mà người dân Việt
Nam nói riêng, người dân Đông Phương nói chung, không mang căn bệnh cuồng tín về
tôn giáo. Cũng vì thế mà các quốc gia Đông Phương không hề xẩy ra chiến tranh
tôn giáo và cũng không hề xẩy ra chuyện chính quyền bách hại tôn giáo.
Tính cách đa dạng tôn giáo, thờ cúng quá nhiều
thần linh như vậy là hoàn toàn trái ngược với chủ trương độc thần của đạo Thiên
Chúa, đặc biệt là các hệ phái Ki-tô giáo và điển hình là đạo Ki-tô La Mã hay
Giáo Hội La Mã. Tôn giáo này chỉ tôn vinh và kính thờ có tên ác thần bạo ngược
là Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus bất hiếu mà họ gọi là Jesus Christ hay Chúa Cứu Thế. Chính những lời phán của Chúa Con Jesus được ghi lại trong Tân Ước sách Mathew (10:34-36) đã nói lên
đặc tính khùng khùng điên điên, phi luân, bất nhân và bất hiếu của ông Chúa con
Jessus. Điểm quái lạ là tôn giáo này không những đã thờ phượng
hai bố con ông Chúa Jehovah như vậy mà
còn cưỡng bách các nhóm dân khác tôn giáo
theo cái tôn giáo quái đản này và hủy diệt các nếp sống văn hóa và
các tôn giáo cổ truyền của họ.
Vì có chủ trương trịch thượng như vậy, cho nên Linh-mục
Alexandre de Rohodes Viết cuốn Phép Giảng Tám Ngày và dành hẳn Chương Bốn (được
gọi là Ngày Thứ Bốn) để gièm pha, phỉ báng và hạ nhục các tôn giáo cổ truyền của
dân ta bằng những ngôn từ vô giáo dục và vô văn hóa.
Sách Phép Giảng Tám Ngày được in bằng hai thứ
tiếng Việt và La-tinh gồm 324 trang, do nhà in của Thánh-bộ Truyền Giáo ấn hành
vào năm 1651. Trong phần Phép Giảng Ngày Thứ Bốn, tác giả Alexandre de Rhodes
vu khống, bịa đặt ra nhiều điều xấu xa để phỉ bang và làm hạ giá Phật giáo,
Khổng giáo, Lão giáo và đạo thờ cúng tổ tiên bà của người Việt Nam. Chính vì thế cho nên sách
này không được chính quyền ta trước năm 1885 và chính quyền Bảo Hộ (do người
Pháp cầm trịch) không cho phép lưu hành. Dưới đây là những lời lẽ do chính nhà
truyền giáo Alexandre de Rhodes viết:
1.- Về đạo Khổng:
“Nhân vì sự ấy trong Đại Minh (Trung Hoa)
thì lấy thờ ông Khổng là nhất, mà gọi Thánh-hiền, là thánh và hiền nhất vậy.
Song le nói thế ấy chẳng phải lẽ đâu, vì chưng hay là ông Khổng Tử ấy biết đức
Chúa cả làm nên moi sự, là cội rễ mọi sự thánh, mọi sự hiền, hay là chẳng biết.
Vĩ bằng đã biết, mà làm thày, thì phải dạy đầy tớ cho biết cùng, mà thờ đấy cho
nên. Song le ông Khổng chẳng có làm sự ấy, vì vậy chẳng phải hiền, chẳng phải
thánh, thật là độc dữ, vì sự nhất phải hay đầu nhất, mà chẳng có dạy ai. Ví
bẳng ông Khổng chẳng biết đức Chúa trời là cội rễ, và cội rễ mọi sự lành, nên
thánh, nên hiền làm chi được?” Vì vậy thì chẳng khá gọi ông là thánh sốt.
Huống lọ lấy phép phải thờ một đức Chúa trời mà thôi; cũng chẳng nên cầu đí gì
đí gì cũng ông Khổng, vì chưng mọi sự ta phải cầu và cậy một đức Chúa trời mà
thôi.”[6].
2.- Về đạo Phật:
“Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn
ta: Bởi tam giáo này, như bởi nguồn đục, có ra nhiều sự dối khác. Song le bắt
mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường
lả dối thì à vừa. Như thế có chém. cây nào đục cho ngã, các ngành cây ấy tự
nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người
ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã
với thì tỏ.”[7].
3.- Về đạo thờ cúng tổ tiên:
“Mà sao người An Nam dám cúng cho
cha mẹ, khi đã sinh thì, những của dối ấy? Có kể rằng: đốt thì mã
biến hóa ra khác. Nó làm vậy phải chốc, vì đốt thì phần ra lửa, phần thì ra gio
(tro). Mà gửi phần nào cho cha mẹ? Ví bằng gửi gio thì làm sao cho cha mẹ ở
trong gio mà sướng ru? Mặc gio mà sạch sẽ và lịch sự lắm ru? Ví bằng gửi lửa, ắt
thật gửi lửa, vì chưng khi làm những việc dối thì phạm tội, học mà bắt chước cha
mẹ xưa có làm thế ấy, cho nên có thêm hình lửa cho cha mẹ đã qua đời này.”
[8]
Những bản văn thiếu văn hóa với những lời lẽ vô cùng hạ cấp
trên đây đối với các tôn giáo và tín ngưỡng cổ truyền của dân ta chỉ
được sử dụng trong các xóm đạo mà thôi. Lý do có thể là chính quyền bảo hộ lúc
đó do phe Thực Dân Cấp Tiến người Pháp cầm trịch. Phe này vốn đã không ưa Giáo
Hội La Mã, lại sợ phản ứng của nhân dân ta, cho nên cuốn sách này mới bị bị
chính quyền Bảo Hộ Pháp-Vatican (Pháp luôn luôn nắm thế thượng phong) không cho
phép phổ biến công khai.
Mãi đến cuối thập niên 1950, khi chế độ đạo phiệt Ca-tô
Ngô Đình Diệm đã được chính quyền Mỹ bảo vệ, được củng cố vững mạnh và đang tiến
hành Kế Hoạch Công Giáo Hóa (Spanish Inquisition hay Sứ Mạng Constantine) tại
miền Nam Việt Nam, bọn tay sai của Giáo Hội mới cho in lại cuốn sách này lồng
trong một tác phẩm khác có danh xưng là ”Giáo Sĩ Đắc Lộ Và Tác Phẩm Quốc
Ngữ Đầu Tiên do Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm
(không biết ông này có phải là linh mục hay không) biên soạn và được nhà xuất bản Tinh
Việt Văn Đoàn (Ban Sử Học, 232/17 Hiền Vương, Saigon) phát hành vào khoảng tháng
5 năm 1961. Đây cũng là một chiến dịch được phối hợp với việc chính quyền đang
tiến hành Kế Hoạch Da Tô Hóa để làm hạ giá nền đạo lý Tam Giáo cổ truyền của dân
tộc Việt Nam ta lúc bấy giờ.
Sau này, vào sau năm 1975, cuốn sách này được
nhà Xuất Bản Đại Kết ở Việt Nam in lại nguyên bản gốc, nhưng không thấy ghi thành phố hay nơi xuất bản và năm xuất bản. Hiện chúng tôi có
cả bản chụp (photocopied) của bản gốc do Nhà Xuất Bản Đại Kế in lại và bản chụp
của nhà xuất bản Tinh Việt Văn Đoàn in và phát hành vào năm 1961.
Họ không phải chỉ rao giảng những lời lẽ chống
đối, phá bỏ tôn giáo và tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc mà còn ra công dạy dỗ
giáo dân người Việt không được công nhận và cũng không được tuân hành luật pháp
của chính quyền Việt Nam nếu chính quyền này không chịu khuất phục hay không thần phục Giáo Hội
La Mã. Bản văn sử dưới đây là bằng chứng:
“Các vị truyền giáo còn yêu cầu người Công
Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực Nhà Vua và luật pháp nước họ. Họ nói với
các “con chiên”: Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất
của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican.”[9]
Bước thứ hai: Chủ trương đánh phá các tôn giáo
của dân ta được thể hiện ra bằng hành động cụ thể.
Vì bị ảnh hưởng sâu nặng của những lời dạy trên
đây của Giáo Hội, nhất là được nhắc nhở thường xuyên, cho nên giới linh mục
của Giáo Hội và giáo dân người Việt đã dựa vào quyền lực của chính quyền Bảo Hộ
Liên Minh Pháp – Vatican trong thời kỳ 1862-1954 và chính quyền Liên Minh Mỹ -
Vatican ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 để tiêu hủy các công trình
kiến trúc thuộc các tôn giáo khác (chùa chiền, miếu đền, đình, quán và các cơ sở
khác) vào những khi họ có cơ hội.
Có nhiều nơi, họ phá hủy các công trình kiến
trúc của các nơi thờ tự như chùa, đình, miếu đền rồi chiếm đất xây Nhà Thờ và
thiết lập các cơ sở khác ngay ở trên đó. Tòa Khâm Sứ của Tòa Thánh Vatican tọa lạc
trên thửa đất số 42 Phố Nhà Chung, Hà Nội, Ngôi Nhà Thờ Bà Đức Bà ở giữa Thành
Phố Hồ Chính Minh, Đền Thờ Đức Mẹ La Vang ở Quảng Trị ở vào trường hợp này và
chỉ là một vài thí dụ điển hình trong rất nhiều trường hợp tương tự như vậy.
Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 29 (Mục X, Phần
III) trong bộ sách Lịch Sư và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này
có tựa đề là Cướp Chùa, Chiếm Đất Xây Nhà Thờ, Chiếm Đoạt Ruộng Đất của Nhân Dân
và có thể đọc online
trên sachhiem.net.
Có nhiều nơi, họ phá hủy các công trình kiến
trúc thuộc về tôn giáo cổ hay văn hóa có truyền của dân tộc ta với mục đích duy
nhất là chứng tỏ cho các đáng bề trên của họ thấy rằng họ đã tuân hành đúng theo
thánh kinh (sách Leviticus 26: 1-18) đã dạy. Một trong những trường hợp phá hủy
các nơi thờ tự của các tôn giáo khác xẩy ra vào mùa thu năm 1954. Lúc đó, khi
rút quân vào miền Nam đám lính đạo của Linh-mục Hoàng Quỳnh đã phá hủy Ngôi Chùa
Một Cột ở Hà Nội. Sự kiện này được sách Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị
ghi lại như sau:
“Ngôi chùa lịch sử này kể từ ngày dựng chùa
cho đến ngày 10/09/1954 mới bị phá hủy do toán lính công giáo của Lm Hoàng Quỳnh
đặt mìn giật sập. Toán lính công giáo này từ Bùi Chu, Phát Diệm lên tạm trú tại
Trường Thiếu Sinh Quân Hà Nội để chờ phương tiện vào Nam. Một nhóm lính công
giáo trong đó có Cai Long đã tham dự vào việc đặt mìn giật sập Chùa Một Cột vào
đêm 10/09/1954. Cai Long sau này là Thượng Sĩ thuộc Tiểu Đòan 3, Trung Đoàn 46,
Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Thượng Sĩ Long là bạn thân thừ hồi còn nhỏ với Trung Tá Nhẩy
Dù Đào Văn Hùng, cựu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Nhẩy Dù và Trung Đoàn Trưởng
Trung Đoàn 46 Bộ Binh. Thượng Sĩ Long đã vui miệng khoe thành tích giật sập chùa
Một Cột trong lúc vui say cùng đồng đội.”
[10]
Sau đó, ngôi chùa này được chính quyền miền Bắc
trùng tu như cũ. Năm 2006, khi về thăm lại quê nhà, người viết có đến thăm và
thấy có rất nhiều du khách đến cúng lễ và thăm viếng.
Những hành động như vậy thường xẩy ra ở bất kỳ
nơi nào trên thế giới và vào bất kỳ thời điểm nào, chứ không phải chỉ ở Việt Nam
mà thôi. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Chương 8 (Mục III,
Phần II) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã, tựa đề là Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại và Thành Tích Tàn Sát Lương Dân.
Trên đây là nói về những hành động phá hủy
những công trình kiến trúc của các tôn giáo cổ truyền của dân tộc và chiếm đất
để xây nhà thờ và các cơ sở khác của Vatican, hoặc là chỉ phá hủy các công
trình kiến trúc của các nền văn hóa và tôn giáo khác theo cái bản chất hay
truyền thống dã man mà họ đã hấp thụ được qua nếp sống văn hóa Ki-tô của họ.
CHÚ THÍCH
[1]
Trần Tam Tỉnh, Thập
Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Tre: 1978), tr. 15.
[2] Malachi Martin, The Decline and Fall Of The Roman Church (New York: G.P.
Putnam’s Sons, 1981, p. 110-111.
[3] Hoàng Trọng
Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản
Việt Nam, 1989), tr. 428.
[4]
Vũ Tam Ích, A Historical Survey Of Educational Developments In
Vietnam (Lexington, Kentucky: College of Education, Uuniversity of
Kentucky, 1959), p. 27.
[5]
Vũ Tam Ích, Ibid., p. 27.
[6] Nguyễn Khắc
Xuyên và Phạm Đình Khiêm, Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu
Tiên (Sàigòn: Tinh Việt Văn Đoàn, 191), tr 81
[7] Nguyễn Khắc
Xuyên và Phạm Đình Khiêm, Sđd., tr. 83
[8] Nguyễn Khắc
Xuyên và Phạm Đình Khiêm, Sđd., tr. 87.
[9] Nguyễn Xuân Thọ,
Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858–1897
(Saint Raphael, Pháp: TXB, 1995), tr.17.
[10] Cửu Long, Lê
Trọng Văn, Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1991), tr 51.