VỀ CHUYỆN ĐẢO NGƯỢC DANH DỰ ÔNG HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Mạnh Quang
https://sachhiem.net/NMQ/NMQ020.php
24 tháng 7, 2009
1 2
3 4
5 6
(gửi anh H. về một bức thư trên diễn đàn KM)
Nối tiếp bức thư trước, tôi xin đi vào chi tiết về việc anh thóa mạ danh dự của ông Hồ Chí Minh. Vì hăng say quá anh trở thành “La Mã hơn cả La Mã”, cho nên anh mới viết đoạn
văn đặt ra với giọng kẻ cả như một ông thày ở trong lớp học, hạch sách và đặt
vấn đề với các nhà viết sử bằng một đoạn văn:
“Và tại sao quý vị giáo sư và sử gia khả kính của chúng ta không buộc tôi
ông Hồ Chí Minh là Việt gian khi ông đâ làm tay sai cho Nga Sô,
cho đảng C.S. quốc tế (tức là tay sai của ngoại bang) để làm hại đến nhà yêu
nước Phan Bội Châu, và thủ tiêu nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng vì họ không cùng
quan điểm đấu tranh với ông, và sau đó ông đã ra lệnh giết hại hàng vạn người
dân trong nước bằng những cuộc đấu tố dã man trong cuộc cải cách ruộng đất sau
khi ông lên cầm quyền, và gần đây hơn nữa là cuộc thảm sát hàng ngàn người
thường dân trong biến cô tết Mậu Thân, 1968.”
Thưa anh H.
Về Cụ Hồ Chí Minh, Giáo Sư Trần Chung Ngọc và cá nhân tôi, mỗi người cũng
đã viết một bài tham luận về cụ. Bài viết của Giáo-sư Trần Chung Ngọc có tựa
đề là “Vài Nét Về Cụ Hồ” và anh có thể đọc online trên sachhiem.net
bài 1 và bài 2. Bài viết của tôi
có tựa đề là “Các
Nhân Vật Lãnh Đạo Chính Quyền Việt Minh (Miền Bắc) và Miền Nam (Quốc Gia) trong
những năm 1945-1975”. Bài viết này đã được đăng trên giaodiemonlne.com (https://www.giaodiemonline.com/nov/chuong18.htm)
từ năm 2007, nên tôi sẽ không lập lại những chi tiết trong đó. Riêng trong
bài viết này, trước khi trả lời những điều anh nêu lên như ở trên, tôi xin
trích dẫn những bản văn của các sử gia chân chính, của các chính khách, của
các danh nhân và của nhà văn có tiến tăm nhận xét về Cụ Hổ để anh đọc và suy
nghĩ:
1.-
Một nhân vật chống Cộng rất tích cực ở hải ngọai hiện nay là ông Vũ Thư
Hiên viết về cụ Hồ Chí Minh trong cuốn Đêm Giữa Ban Ngày như sau:
“Ông (Hồ Chí Minh) mở đầu pho sử hoành tráng cho cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc chống lại chế độ thuộc địa toàn cầu, với tư cách một phong trào,
chứ không phải môt cuộc đấu tranh của riêng một Việt Nam. Trận thắng Điện Biên
Phủ đã thổi vào lòng các dân tộc bị trị niềm phấn khích chưa từng có, mở ra cao
trào đấu tranh cho độc lập dân tộc trên thế giới, thúc đẩy sự chấm dứt chế độ
thực dân, làm tan rã hệ thống thuộc địa. Thế giới biết tên ông cùng với tên đất
nước (Việt Nam) nhỏ bé dám dùng gậy tầm vông chống lại vũ khí hiện đại để giành
độc lập, tự do. Tượng đài cho ông, với tư cách nhân vật lịch sử, đã được đúc.”
[i]
2.-
Trong cuốn Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng, tác giả Hồ
Sĩ Khuê viết về cụ Hồ như sau:
“Tên tuổi, sự nghiệp ông Hồ, cả nước đều biết rõ. Ông tổ chức Việt Minh để
tranh thủ chủ quyền. Ông thành lập chính quyền cách mạng, tuyên ngôn độc lập
ngày 2/9/1945 ở Ba Đình. Ngày 19/12/1946, ông mang chính phủ ông vào Khu, hô hào
quốc dân kháng chiến chống thực dân Pháp. Cho đến tháng 5/1954, ông thắng trận
Điện Biên (Phủ), rồi tháng 7 nặm này, ông ký Hiệp Định Genève, thu hồi độc lập.
Kể cả những người chống Cộng, không một ai trong nước phủ nhận được sự nghiệp
ông cứu nước ra khỏi vòng ngoại trị. Ông tiếp tục cầm quyền, người trong nước
xem ông là chuyện đương nhiên.”
“Ông Hồ từ năm 1945 đã xuất hiện trước thế giới là một nhà cách mạng Việt
Nam lão thành, một chính khách có tầm vóc quốc tế. Trận thắng Điện Biên, Hòa Hội
Genève, nêu rõ tài ông lương đống, đưa ông vào lịch sử ngay lúc còn sinh thời,
và làm cho thế giới tôn vinh ông.”
“Nhân sự miền Bắc, bên cạnh ông Hồ, còn có một số lãnh tụ khác, như Phạm
Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, được dư luận thế giới sắp vào hàng nhân vật quốc tế.
Vai vế họ cao, tên tuổi họ vang dội, lòng họ yêu nước ai cũng thấy rõ. Cho nên
thế giới chú mục vào Hà Nội. Tập đoàn này từ nay cầm quyền ở Hà Nội không vướng
mắc liên hệ với thực dân, với triều đình cũ. Đại bộ phận họ là những nhà cách
mạng có một quá khứ kiên trì và hiệu quả.”
[ii]
3.-
Trong cuốn Con Rồng Việt Nam, ông Bảo Đại viết về ông Hồ Chí Minh như
sau:
“Tôi thích thái độ của ông (Hồ Chí Minh – NMQ) hơn thái độ của các lãnh tụ
Quốc Gia, thật sự là bù nhìn trong bọn Tàu. Giữa sự xáo trộn ấy, Hồ Chí Minh vẫn
giữ được bình tĩnh.” [iii]
4.-
Cụ Hòang Xuân Hãn nhận xét về cụ Hồ như sau:
“Nhưng mà nói cái kết quả tức thì nước mình bây giờ có độc lập, có thống
nhất, thì cái ấy là cái công của Hồ Chí Minh to lắm. Dẫu là người ta dùng chính
sách gì, Cộng Sản hay Quốc Gia, thì cái ấy sau này đối với người viết sử, người
ta xét lại, không khác gì đời LÊ LỢI, mà rồi quân Minh phải về. Hợp Lưu số 29,
trang 83.” [iv]
5.-
Ông Hoàng Văn Chí, một nhân vật chống công cực đoan, viết về cụ Hồ trong
cuốn Từ Thực Dân đến Cộng Sản như sau:
“Trong lúc người Pháp đang ngắm nghía những bức ảnh của ông Hồ và dùng
viễn vọng kính để nhìn mặt ông Hồ mỗi khi ông ra mắt công chúng, thì tất cả nhân
dân Việt Nam đều nhất nhất coi ông Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, vì họ không
tin được rằng trong cùng một thời đại mà một nước lại có thể sinh ra hai người
có tài trí như ông Hồ. Ông Hồ nói lưu loát hàng chục thứ tiếng, và đã từng chu
du khắp thế giới dưới nhiều biệt danh, nửa đời sống trong khám đường – có thể cả
khám đường Soviet – và nửa đời hoạt động chính trị trong bóng tối. Ông hơn hẳn
các đối thủ chính trị của ông về cả chiến thuật cách mạng lãn kinh nghiệm chính
trị. Hồi thiếu thời, ông đã đọc rất nhiều cổ thư Trung Hoa, và sau đó tiếp tục
học trong khi bôn ba khắp Âu Châu và Mỹ Châu. Suốt trong thời kỳ ấy, ông hoạt
động, quan sát và học hỏi ở bạn bè cũng như trong sách báo. Cuối cùng, ông đã
được Đệ Tam Quốc Tế huấn luyện một cách kỹ lưỡng và có quy củ. Do đó, ông đã hấp
thụ được ba nguồn văn hóa khác nhau nhưng có giá trị tương đương: văn hóa Đông
Phương, Tây Phương và Mác-xít. Ông nói chuyện lưu loát với bất cứ ai, dù là nông
dân Việt Nam, quân phiệt Trung Hoa, triết gia Ấn Độ hay là nhà báo Tây Phương.
Trong suốt thời kỳ hoạt động chính trị trong bóng tối, ông Hồ phải dùng
nhiều mánh khóe, mưu mẹo để trốn tránh cạm bẫy của công an và phá hỏng kế hoạch
của kẻ thù. Nhờ sự tập dượt ấy mà ông Hồ đã trở nên một địch thủ vô song, vì qua
bao nhiều năm trời, ông đã học được cái tài đánh lạc hướng bất cứ ai muốn theo
dõi ông. Ông đã nhiều lần trốn thoát khỏi quốc gia Việt Nam, Trung Hoa Quốc Dân
Đảng, và các cơ quan tình báo Anh, Mỹ.
Ngoài trí thông minh xuất chúng, ông Hồ còn có một nhân phẩm rất cao. Nói
tóm lại, ông đã có đủ những đức tính cần thiết của một nhà lãnh tụ. Nếp sống
thanh bạch, lòng nhẫn nại, ý chí sắt đá và sự tận tâm của ông đối với cách mạng
là một nguồn phấn khởi cho tất cả những ai đã làm việc dưới quyền ông và phụng
sự đất nước nói chung. Nhiều người cho rằng ông Hồ đã thừa hưởng tinh thần cách
mạng của tổ phụ và của người đồng hương. Nhẫn nại, thanh đạm, và cần cù là những
đức tính thường thấy ở người dân Nghệ An, nơi sinh quán của ông Hồ. Ông Hồ đã
phát huy những đức
tính của người Nghệ An, gần giống như đức tính của người Nhật
Bản,…” [v]
6.-
Sách Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử Trong Thế Kỷ 20 viết về cụ Hồ Chí
Minh như sau:
“Tất cả công đó là do công trạng của ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đứng
lên lãnh đạo cuộc chiến tranh thần thánh Giải Phóng Dân Tộc, đánh đổ chế độ
thuộc địa, chế độ thực dân trên toàn thế giới. Vì thế cơ quan Giáo Dục, Khoa Học
và Văn Hóa UNESCO của Liên Hiệp Quốc đã quyết định tôn vinh ông Hồ Chí Minh vào
hàng danh nhân thế giới của thế kỷ 20, đồng thời chủ xướng kỷ niệm 100 năm ngày
sinh nhật sinh của ông Hồ tại Paris. Ngày 12/5/1990, họ tổ chức tại Mulhouse và
các ngày sau tại Bordeaux, Toulouse, Lille, Marseille, Lyon. Ở Việt Nam thì tổ
chức tại Quảng Trưởng Ba Đình với nhiều đại diện các quốc gia trong đó có hai
người Mỹ.” [vi]
7.-
Trong bài viết “Vài Nét về Cụ Hồ”, Giáo-sư Trần Chung Ngọc viết:
“Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển
tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme” có bài “Con
Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre
Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Chúng
ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin
tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist). Giáo
sư Brocheux viết, trang 33:
Đối với Quốc (Nguyễn Ái Quốc), chủ thuyết Mác Lênin đã đưa lên
những phương tiện hành động, như là ông ta đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng
ta phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm
vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện,
không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc.
Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động
tương tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có
lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn
Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình
vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân
tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Mác-Lênin đã
cung cấp cho tôi đường lối hành động này.” [vii]
8.-
Sử gia William J. Duiker viết về Cụ Hồ với nguyên văn như sau:
“Tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu
với hàng loạt nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai (22) ngàn
bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca
ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nươc theo chủ nghĩa xã
hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư
Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt
Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản
quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới
Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tung ông như
là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả
ông như là "tinh túy của dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của
sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn
của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có
một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối vào các trẻ
em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm
vi.”
Phản ứng từ các thủ đố Tây Phương thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng
thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không
bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới
truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ
các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng
ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những
người lép vế thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường
khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng
ông như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đầu giành độc
lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất
chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.” [viii]
9.-
Một điểm đặc biệt nữa là cũng vào khi Cụ Hồ nhắm mắt đi vào cõi chết, Chủ
Tịch Nhà Nước Trung Quốc có viết đôi câu đối phúng điếu cụ như sau:
Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất;
Minh tinh quang vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song!
[ix]
Còn nữa và còn nhiều lắm!
Cái nhìn về cụ Hồ Chí Minh của các nhà viết sử chân chính, của các chính
khách và của các danh nhân trên thế giới với lòng trân trọng, khâm phục và kính
yêu như vậy! Ấy thế mà Nhà Thờ Vatican, các ông bà dân Chúa người Việt, những
người theo học các trường đạo như anh và những người chống Cộng cực đoan lại có
cái nhìn về nhà ái quốc cách mạng này một cách hoàn toàn trái ngược, hết sức xấc
xược và cực kỳ ngược ngạo với những lời vu khống, chụp mũ,… Lá thư đề ngày 17/5/2009 của
anh gửi cho GS Nguyễn Thái An và tôi đăng trên DĐ KMTĐ cũng cùng một giọng điệu
như thế.
Xin thử đặt vấn đề như trên với các giáo viên tốt nghiệp môn Sừ Địa tại
trường ĐHSP Sàigòn, ĐHSP Huế, Đại Học Văn Khoa Sàigòn, hoặc là những người đã
dạy môn sử tại Trường KMTĐ hay là những người bạn thân quen của anh đã dạy môn
học này ở bất kỳ trường nào, ngay cả trước năm 1975 (với điều kiện người đó không
phải là Dân Chúa, không phải là những người nhận chị ân sủng
hay đặc quyền đặc lợi của các chính quyền đạo phiệt ở miền Nam trong những năm
1954-1975) để xem người đó nói với anh như thế nào?
Tôi nghĩ rằng, các nhà viết sử có căn bản về sử học (bất kể là những thế hệ
trước tôi, đồng thời với tôi hay sau tôi), không ai có can đảm dám viết về ông
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam theo như ý muốn của anh. Đó chỉ là những
cảm xúc và thiên vị của các ông bà Dân Chúa thuộc loại cuồng tín,
hoặc là của những
người không có căn bản sử học, hay viết sử tài tử.
NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN ĐỀ
Trở lại câu chất vấn của anh. Nếu là một người nào khác trên các diễn đàn
chống Cộng từ bao nhiêu năm qua, thì tôi không
lấy gì làmn lạ. Nhưng không ngờ người
nói ra những lời đó lại là từ cửa miệng của một người bạn mà từ lâu tôi vẫn xem
là hàng trí thức. Đó là lý do tôi càng suy nghĩ thêm và đã thấy được nhiều lý do
cho vấn đề này:
Thứ nhất: Vấn Đề Xúc Cảm.
Như đã nói ở trên, anh đòi hòi người viết sử phải viết theo những điều KHÔNG
ĐÚNG với sự thật lịch sử. Những điều anh tuyên bố là theo cảm xúc của phe phái,
của những người chống Cộng, những người tự xưng là chiến sĩ. Những chiến sĩ
chỉ biết cầm súng nhắm vào đối phương.
Họ có những xúc cảm về sự thắng và bại, xúc cảm về sự trung
thành với những người chủ đã trả lương cho mình. Tiếc rằng chúng tôi không phải
là chiến sĩ của phe nào, chỉ khai quật những sự thật bị giấu giếm mà thôi, thưa
anh. Sự xúc cảm của một công việc như thế, nếu có, chỉ là đến sau những “sự
kiện”, chứ không phải đặt trước họng súng như các anh chiến sĩ.
Thứ hai: Vấn Đề Giáo Dục.
Anh là người theo học trường Pháp (không được học sử Việt Nam, nếu có thì
cũng chỉ là học tượng trưng một số bài đã bị chế độ kiểm duyệt của Nhà Nước Bảo
Hộ gạn lọc), rồi lại theo học trường đạo (Trường Trung Học Taberd của Giáo Hội
La Mã). Có lẽ anh không biết rằng Giáo Hội La Mã rất kỵ môn lịch sử. Lý do là vì
lịch sử là những bản văn kể lại tất cả những việc làm (tốt cũng như xấu, thiện
cũng như ác) của các tác nhân lịch sử và tất cả những biến cố đã xẩy ra trong
quá khứ có liên hệ đến con người hay môi sinh của con người. Như vậy, nếu Giáo
Hội đưa môn lịch sử vào trong chương trình học mà không kiểm soát chặt chẽ, thì
có khác nào tự phơi bày bộ mặt thật cực kỳ ghê tởm của Giáo Hội cho mọi người
nhìn thấy.
Vì vậy mà Giáo Hội có chủ tâm là không đưa môn lịch sử vào trong các trường
đạo. Nếu bất đắc dĩ phải đưa môn học này vào trong chương trình học của nhà
trường, thì Giáo Hội phải kiểm soát hết sức chặt chẽ. Việc một ông linh mục can
thiệp với Bộ Giáo Dục trong thời chế độ Ngô Đình Diêm (1954-1963) để ngăn chặn
không cho lưu hành bộ Lịch Sử Thế Giới của hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Thiên
Giang vào năm 1956 là bằng chứng rõ ràng nhất. Vấn đề này đã được tôi nói rõ
trong thư đề ngày 8/5/2009 gửi cho QBH và DĐ KMTĐ. Xin anh xem lại bức thư này.
Thứ ba: Vấn Đề Môi Trường.
Từ nhiều năm nay, anh sống trong khu vực mà ngôn ngữ chính trị đương thời của
người Việt hải ngoại ở Hoa Kỳ gọi là “Xóm Đạo Bolsa”, nghĩa là
một cộng đồng của những người dân
Chúa cuồng tín, giống như dân ở Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Dốc Mơ, Gia Kiệm.
Thói đời, “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Anh đã theo học trường Pháp, được
người ta dạy rằng “Nos ancêtres sont des Gaulois”, và trường đạo Trung Học
Taberd, rồi lại cùng sống trong một cộng đồng dân Chúa cuồng tín thuộc lọai “thà mất
nước, chứ không thà Chúa”. Nghĩa là anh không biết gì về những việc làm tội
ác của Giáo Hội La Mã chống nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua, trong đó có
dân tộc Việt Nam và anh cũng không có đủ kiến thức lịch sử Việt Nam trong thời cận
và hiện đại. Với thực trạng như vậy, làm sao anh có thể đưa ra được những nhận
xét vô tư về các tác nhân và biến cố lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện
đại?
Thứ tư: Vấn Đề Chuyên Môn.
Anh không phải là người chuyên môn trong ngành sử học, chỉ đọc vài tác phẩm
có liên hệ đến vấn đề sử của các tác giả không chuyên ngành, viết theo ngẫu hứng
của định kiến. Những tác giả này, hoặc đã chịu ảnh hưởng bộ máy tuyên truyền của
Giáo Hội La Mã, hoặc vì muốn bênh vực và chạy tội cho những người đồng đạo về
những rặng núi tội ác chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18
cho đến ngày nay. Tất nhiên anh không thể nào không bị ảnh hưởng bởi những luận
điệu và lời lẽ trong những cuốn sách này. Đồng thời anh lại “kỵ” không đọc các
tác phẩm nói về những sự kiện bất lợi cho phe phái của anh, vì nghe không quen
tai anh. Những lời anh trích dẫn trong lá thư đề ngày 17/5/2009 gửi cho Giáo-sư
Nguyễn Thái An và cá nhân tôi đã nói lên như thế.
Nhân đây xin kể anh nghe lại một chuyện "họp mặt" của ba đứa bạn cùng tốt nghiệp Đại Học Sài Gòn ban Sử Địa, và cùng dạy sử của chúng tôi vào khoảng hai năm trước đây. Trong một bữa ăn chiều, khi anh T.A. và tôi cùng trao đổi về một vài biến cố thời sự và lịch sử, anh A.K. xen vào nói:
"Tuy tôi cũng cùng học ngành sử như hai bạn, nhưng tôi không có nghiên cứu nhiều, không tiếp cận được nhiều tài liệu, nên tôi chẳng biết đâu mà bàn. Bây giờ thật sự tôi cần phải học hỏi nhiều ở hai anh."
Câu nói trên chính là tiếng nói lương tâm chức nghiệp của nghề học sử: nghĩa là không dám nói những điều mình không nghiên cứu hoặc không có sự kiện chứng minh. Không biết các ngành khác có vấn đề lương tâm như vậy không. Cũng cần nói thêm, anh bạn này trước đây từng dạy chung hai năm ở Rạch Giá với tôi, đã từng giữ chức Giám học, đảm nhiệm quyền Hiệu trưởng một thời gian.
Thứ năm: Vấn Đề Dẫn Chứng.
Đọan văn trên đây của anh chỉ viết vỏn vẹn có một câu nhưng lại có quá nhiều điều
“bất ổn”.
a.- Câu văn chẳng những gồm quá nhiều mệnh đề, mà lại không có một
mệnh đề nào là sự kiện (facts) để hỗ trợ cho cái luận điệu (allegations) của anh
cả. Do đó câu nói của anh là những lời vu vơ. Tất cả những lời tuyên bố [từ chữ
“khi” trở về sau] trong các mệnh đề kế tiếp chỉ là lời nói nặng tính cách tố
Cộng mà không có cơ sở nào là sự kiện cả.
b.- Anh đã không hiểu hay hiểu sai lạc từ “Việt gian”, cho nên anh đã
áp dụng từ này không đúng cách. Theo Việt Nam Tự Điển Quyển Hạ của tác giả Lê
Ngọc Trụ, thì “Việt gian là người Việt Nam phản quốc” (trang 1777). Theo
Giáo-sư Nguyễn Thái An, "Việt gian đồng nghĩa hay tương đương với từ
“collaborateur” của người Pháp." Trong E-mail có tựa đề là “Hành Trình Đi Tìm Ông
Trương Vĩnh Ký” (ngày 21/5/2009), Giáo-sư An viết: “Theo một tự điển Pháp,
chữ collabo có nghĩa là 'Aide à l'ennemi de 1940-1945' tạm dịch là tay sai cho
quân thù, Pháp gian)”. Theo Tự Điển Pháp - Việt của tác giả Đào Văn Tập, thì
“collaborateur là kẻ cộng tác với địch.” (trang 221).
Ông Hồ Chí Minh không nằm ở trong các định nghĩa trên đây. Vậy chúng ta không
thể gọi nhà lão thành cách mạng này là Việt gian được.
Thứ sáu: Chủ thuyết – Tôn giáo - Nô Lệ.
Anh nói rằng: “ông (Hồ Chí Minh) đâ làm tay sai cho Nga Sô, cho đảng C.S.
quốc tế (tức là tay sai của ngoại bang).” Câu phát biểu trên đây SAI 100% vì
rằng: Ông Hồ Chí Minh không hề làm tay sai cho Nga và cũng không hề làm tay sai
cho một phe đảng quốc tế nào cả”, mà chỉ là theo “chủ thuyết Cộng Sản” mà thôi.
Trong giai đoạn lịch sử mà anh và tôi lớn lên, có lẽ anh chưa hề theo dõi
những hoạt động của chính quyền Hà nội trong nỗ lực bảo vệ nền độc lập của nước
nhà trên mặt trận chính trị, ngoại giao, và cả quân sự như thế nào. Thưa anh,
những việc làm của chính quyền miền Bắc trong giai đoạn lịch sử cận đại chắc
chắn phải cực kỳ cam go. Thưa anh, theo chủ thuyết Cộng Sản” hay “là đảng viên
đảng Cộng Sản Việt Nam” không có nghĩa là lệ thuộc ngoại bang. TẠI SAO? Vì rằng:
Chủ thuyết Cộng Sản (Communism) là một lý thuyết khoa học xã hội, giống như
các đạo hay lý thuyết khác như đạo Phật (Budhism), đạo Khổng (Confucianism), đạo
Lão (Taoism), đạo Ấn Độ (Hinduism), chủ thuyết xã hội (socialism), thuyết tiến
hóa (evolutionism hay Darwinsm), hoặc đạo Thiên Chúa. Tin theo hay thực thi các
đạo hay lý thuyết này không phải là mất gốc, càng không phải là phản quốc hay
bán nước.
Đạo Phật xuất phát từ Ấn Độ, đạo Khổng xuất phát từ Trung Quốc, đạo Thiên
Chúa từ Trung Đông. Có rất nhiều người Việt Nam, người Thái Lan, người Miến
Điện, người Cao Mên, người Lào, người Tích Lan, người Trung Hoa, người Nhật Bản,
v.v… theo những đạo này, không ai lại bảo họ là những người phản quốc hay Việt
gian, Nhật gian, Thái gian,…. Chỉ có điều rất khác biệt là các đạo Á Châu không
có thế lực nào tổ chức những binh đoàn người đi rao giảng lý thuyết này bắt
người ta phải “rửa tội” theo như đạo Thiên Chúa từ lúc ra đời đến nay.
Dù là hầu hết người Việt Nam theo đạo Khổng và theo văn hóa Trung Quốc, nhưng
mỗi lần Trung Quốc đem quân đánh chiếm Việt Nam, thì chính những người Việt Nam
theo đạo Khổng đã phản công đánh trả mãnh liệt để bảo toàn chủ quyền của dân tộc
Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh điều này, tôi xin miễn nói thêm.
Hơn thế nữa, trong lịch sử, chưa có nhà vua hay một lãnh đạo Việt Nam nào tổ
chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng rồi mời vị đại sứ hay sứ thần đại diện
chính quyền hay Ấn Độ hay chính quyền Trung Quốc đứng ra làm chủ tế để dâng nước Việt Nam
cho họ. Anh biết tôi muốn nhắc đến việc chính quyền Sàigòn đã
từng dâng nước (miền Nam)
Việt Nam cho Đức Mẹ (tòa thánh Vatican) mà tôi đã nói trong thư trước. Đây mới
là vấn đề nô lệ. Nếu những người
theo đạo Thiên Chúa không lệ thuộc vào hàng giáo phẩm của
Giáo Hội La Mã, không rước ngoại bang vào chiếm đất nước, mà chỉ thuần tin Thiên
Chúa mà thôi, thí dụ như Tin Lành chẳng hạn, thì không ai cho là “theo đạo Thiên
Chúa là nô lệ ngoại bang.”
Thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882), người Anh,
được phổ biến rất rộng rãi từ khi được công bố vào năm 1859. Hữu xạ tự nhiên
hương! Cho đến ngày nay, chúng ta thấy hầu như tất cả mọi người trên thế giới
công nhận lý thuyết khoa học này (ngọai trừ giáo hội Công giáo thuộc Vatican).
Thực tế là như vậy, nhưng không ai có thể nói rằng công nhận và tin tưởng vào
thuyết tiến hóa là phản quốc, là bán nước cho nước Anh.
Tương tự như vậy, lý thuyết Cộng Sản là do ông Karl Marx (1818-1883), và
Frederick Engels (1820-1895) người Đức lập ra. Có rất nhiều người tin theo lý
thuyết này và có khá nhiều quốc gia đã áp dụng lý thuyết này vào việc thiết lập
chính quyền. Nước Nga là nước đầu tiên thành công thành lập chính quyền Cộng
Sản, sau đó mới đến một vài nước Đông Âu, rồi đến Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn
và Cuba. Ta không thể nói các quốc gia theo chủ nghĩa Cộng Sản là thuộc địa của
Nga hay của Trung Quốc, và cũng không thể nói các nhà lãnh đạo các quốc gia này
là những người bán nước cho Nga hay cho Trung Quốc.
Sự liên minh các quốc gia trên bình diện quốc tế.
Trong thực tế, trong thời Kháng Chiến đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp
(1945-1954) và Liên Minh Mỹ - Vatican (1954-1975), Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng Sản Việt Nam là đồng minh của Trung Quốc, của Liên Sô hay nước Nga và
của các nước Cộng Sản khác. Những quốc gia này thường được gọi là Khối Cộng Sản
và nước Nga được coi như nắm vai trò chỉ đạo, giống như nước Mỹ nắm vai trò chỉ
đạo khối tự do hay dân chủ. Nếu ta không thể nói các nước Anh, Pháp, Nhât, Úc
Đại Lợi, Tân Tây Lan, Canada, v.v… là thuộc địa của Mỹ, thì ta cũng không thể
nói Việt Nam và các quốc gia trong khối Cộng Sản là thuộc địa của Nga hay của
Trung Quốc.
Trên bình diện quốc gia và quốc tế, các quốc gia đứng trong hai khối Tự Do
hay Cộng Sản chỉ là các quốc gia đồng minh với nhau, có nghĩa là các nước này
kết bạn với nhau trong một thời gian nào đó. Ý nghĩa đích thực của việc các quốc
gia kết hợp với nhau thành đồng minh là có tính cách giai đọan vì nhu cầu của
hòan cảnh lịch sử. Chính vì thế mà Tổng Thống de Gaulle mới nói rằng, “Vì
quyền lợi quốc gia, nước Pháp không có đồng minh vĩnh viễn và cũng không có kẻ
thù vĩnh viễn”. Sự thật là như vậy và lịch sử cũng đã xẩy ra như vậy. Trong
thời Đệ Nhị Thế Chiến, nước Nga là nước đồng minh với Hoa Kỳ, hai nước Nhật và Ý
là kẻ thù của nước Mỹ. Nhưng trong thời Chiến Tranh Lạnh (1947-1991), nước Nga
trở thành thù địch của nước Mỹ, Nhật Bản và Ý lại trở thành các quốc gia đồng
minh của Hoa Kỳ.
Tương tự như vậy, từ năm 1950 cho đến năm 1975, Trung Quốc là nước đồng minh
thân thiết của nước Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Nhưng trong những năm 1976-1991, Trung Quốc và Việt Nam lại trở thành hai nước
thù địch, mặc dù là cả hai nước này vẫn theo chế độ Cộng Sản. Trong thời gian
này, ngày 17/2/1979, Trung Quốc xua 600 ngàn quân vượt biên giới tràn vào lãnh
thổ Việt Nam gây thiệt hại rất nhiều cho mấy tỉnh Việt Nam ở vùng ven biên. Các
đạo quân xâm lăng này đã bị quân dân Việt đánh trả mãnh liệt, giáng cho những
đòn chí tử, tổn thất lên đến khoảng 1/10 trên tổng số quân tham chiến. Cuối
cùng, sau 3 tuần lễ tấn công và gặp phải sự chống cự mãnh liệt của quân dân Việt
Nam, Trung Quốc phải rút quân về nước.
Sự kiện này cho mọi người thấy rõ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Cụ Hồ Chí Minh
không hề bán nước cho Liên Sô và cũng không hề bán nước cho Trung Quốc. Chỉ có
những người không cần biết lý lẽ, và lật ngược lịch sử như những người Việt
chống Cộng hiện nay mà đa số là dân Chúa mới có thể nói câu nói của anh.
“Chiến sĩ” của Vatican
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, trong các cuộc tranh chấp về chính trị ở
khắp nơi trên thế giới, Vatican đứng về phía thế lực nào, thì các tín hữu đứng
về thế lực đó. Thời Cách Mạng Pháp 1789, Nhà Thờ Vatican chống lại tân chính
quyền cách mạng, vận động với các nước Áo, Phổ, Anh, Nga thành lập các liên minh
thánh (holy alliances) đem quân tấn công vào lãnh thổ Pháp với dã tâm tiêu diệt
chính quyền Cách Mạng và hủy diệt các công trình Cách Mạng 1789, thì dân Chúa
cuồng tín người Pháp được các nhà tu hành áo chùng thâm xúi giục và kêu gọi vùng
lên nổi loạni đánh phá chính quyền Cách Mạng 1789 để tiếp tay cho các thế lực
ngọai xâm liên minh với Nhà Thờ Vatican. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ
ràng như sau:
“Ngày 11/3/ 1791, rồi ngày 13/4/1791 Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799)
tố cáo đại thể Cách Mạng Pháp, đặc biệt là Bản Hiến Chế Dân Sự Của Các Tu Sĩ và
đương nhiên là ông ủng hộ bản Tuyên Ngôn Pillnitz do Hoàng Đế Habsburg của nước
Áo công bố ngày 27/8/1789. ”[x]
“Sau cuộc lẩn trốn của nhà vua tới Varennes, các nước Âu Châu lại
sôi nổi. Lần này, Louis XVI cam tâm chấp nhận những điều kiện can thiệp của các
nước Âu Châu. Do đó nước Áo và Phổ bắt đầu động binh tới biên giới Pháp - Ở
trong nước, nhiều địa phương trung thành với Giáo Hội và nhà vua, cũng bắt đầu
nổi loạn. Nhất là miền Bretagne, Normandie, Vendée vốn là những miền sùng đạo,
cũng võ tráng bênh vực các tu sĩ không chịu tuyên thệ với cách mạng. – Tình
trạng Pháp quốc lúc đó thực hết sức lung lay.”[xi]
Tại Việt Nam, khi Giáo Hội La Mã cấu kết với Pháp đem quân đánh chiếm Việt
Nam, thì dân Chúa người Việt đứng hẳn về phía Nhà Thờ Vatican chống lại tổ quốc
dân tộc Việt Nam. Gần đây, khi Giáo Hội muốn chiếm lại những khu bất động sản đã
bị quốc hữu hóa (vì trước kia Vatican đã dựa vào chính quyền Bảo Hộ Pháp –
Vatican cướp đoạt của dân ta), thì Giám-mục Ngô Quang Kiệt và một số
các ông áo chùng
thâm xúi giục con chiên nổi loạn phá tường, phá cổng tràn vào chiếm đóng tại tòa
nhà công quyền ở số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội, trong thời gian từ 18/12/2007 cho
đến ngày 30/1/2008 để tiếp tay cho Giáo Hội. Sau đó, họ lại tái diễn những hành
động phi pháp y hệt như vậy, tràn vào chiếm đóng Công Ty May Chiến Thắng tại số
178 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phường Đống Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến
nay (22/9/2008) với cùng một mục đích như vậy. Còn một số nơi khác, tuồng tích
“cấm thánh giá, treo tượng Đức Mẹ và cầu nguyện” chiếm đất cũng xảy ra tương tự
để tiếp ứng.
Với những bằng chứng lịch sử đã nêu lên trên đây, ta có thể nói là bất cứ
người nào mang quốc tịch Vatican, thì cũng đều phải tuyệt đối trung thành với
Vatican (như ông Ngô Đình Diệm đã từng tuyên bố rằng ông “tin tưởng vào quyền
lực của Vatican”, và bất cứ kẻ nào tin tưởng vào quyền lực của Vatican, thì
đương nhiên là “phản dân tộc và phản quốc”.
Thứ bảy: Chuyện các nhà cách mạng chính trị
Anh nói nói rằng, Cụ Hồ Chí Minh “làm hại đến nhà yêu nước Phan Bội Châu,
và thủ tiêu nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng vì họ không cùng quan điểm đấu tranh
với ông, và sau đó ông đã ra lệnh giết hại hàng vạn người dân trong nước bằng
những cuộc đấu tố dã man trong cuộc cải cách ruộng đất sau khi ông lên cầm
quyền, và gần đây hơn nữa là cuộc thảm sát hàng ngàn người thường dân trong biến
cô tết Mậu Thân, 1968.”
Tôi nhận thấy câu văn trên đây
của anh là những câu tuyên bố nặng tính cách ý kiến (opinions)
cá nhân gán (chụp mũ) cho cụ Hồ Chí Minh mà không có một sự kiện (fact) nào
chứng minh cả. Trường hợp cụ Hùynh Thúc Kháng hoàn toàn mới, tôi chưa bao giờ
được nghe hay đọc một tài liệu nói như vậy. Còn những chuyện liên hệ đến cụ Phan
Bội Châu và những người bị mưu hại tại Huế trong biến cố tết Mậu Thân, theo tôi
biết, đều là luận địêu của Nhà Thờ Vatican qua bộ máy tuyên truyền của chính
quyền quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu đưa ra. Vấn đề này đang có sự tranh luận
giữa các nhà biên khảo lịch sử. Bàn thêm vấn đề này là lạc đề (với nội dung của
lá thư tối viết cho em QBH) .
Cho dù, giả thử như những luận điệu của anh đưa ra đều đúng cả, thì cũng vẫn
không thể lên án hay kết tội Cụ Hồ Chí Minh là Việt gian được. Lịch sử Việt Nam
và lịch sử thế giới đã có khá nhiều nhà cầm quyền giết hại những người yêu nước
hay giết hại rất nhiều người, nhưng cũng không vì thế mà gọi những người này là
Việt gian hay phản quốc được. Xin dẫn vài thí dụ:
1.- Cụ Nguyễn Trãi (1380-1442) là một nhà đại ái quốc của dân tộc (mưu thần
giỏi nhất của Vua Lê Lợi). Năm 1442, cụ bị Hoàng Hậu Nguyễn Thị Anh và bọn quyền
thần trong triều đình vua Lê Thái Tông (1334-1442) giết hại và tru di tam tộc.
Sự thực là như vậy, nhưng không một sử gia hay một người nào dám gọi người chủ
trương sát hại cả gia đình của Nguyễn Trãi là Việt gian!
2.- Đặng Trần Thường (1759-1813) giết hại nhà ái quốc Ngô Thời Nhậm
(1746-1802) vào năm 1802 vì lòng đố kị và hiềm khích cá nhân. Các nhà viết sử
không hề lên án Đặng Trần Thường là Việt gian hay phản quốc.
3.- Trong 20 năm cầm quyền, vua Minh Mạng (1820-1840) ra lệnh xử tử khá nhiều
người nổi loạn chống lại triều đình. Tuyệt nhiên không có nhà viết sử nào lên án
nhà vua này là Việt gian hay phản quốc.
4.- Joseph Stalin (1879-1953) cầm quyền ở nước Nga từ năm 1924 đến năm 1953,
đã giết hại tới trên dưới 10 triệu người Nga. Ấy thế mà không có một nhà viết sử
nào của nước Nga cũng như ở khắp nơi trên thế lên án kết tội ông ta là phản quốc
hay Nga gian. Trái lại, họ còn nói rằng chính ông đã đưa nước Nga lên hàng siêu
cuờng ngang hàng với siêu cường Hoa Kỳ trong thời chiến lạnh (1947-1991).
5.- Adolf Hitler (1889-1945) cầm quyền ở nước Đức từ ngàn 30/1/1933 cho đến
ngày 1/5/1945, được coi như là thủ phạm gây ra cuộc Đệ Nhị Thế Chiến và trực
tiếp gây ra cái chết của 6 triệu người Do Thái. Ấy thế mà cũng vẫn không có
người dân Đức nào gọi ông ta là phản quốc hay Đức gian, và cũng không có một nhà
viết sử nào gọi ông ta là Đức gian.
6.- Trong thời Cách Mạng Pháp 1789, Maximilien Robespièrre (1758-1794) ra
lệnh giết hại hàng trăm ngàn người trong đó có nhà cách mạng Georges Danton
(1759-1794) và rất nhiều nhà cách mạng khác.
[xii] Tuyệt nhiên, không có một sử
gia nào lên án nhà cách mạng Maximilien Robespièrre là phản quốc hay Pháp gian.
Lý do duy nhất là ông ta không bán nước cho ngọai quốc và cũng không hề làm việc
cho chính quyền ngọai bang xâm lăng nước Pháp. Trái lại, ông ta chỉ ra lệnh xử
tử bọn dân Chúa Pháp gian và những phần tử phản cách mạng trong đó có những
người bị kết tội oan. Trong lúc hăng say, có thể ông đã ra lệnh giết cả những
người không phải là Pháp gian. Ông ta giết người vì lòng yêu nước Pháp và do
lòng tha thiết cuồng nhiệt với cách mạng. Lịch sử không thể xếp loại ông ta là
Pháp gian được, trái lại, ông ta còn được xếp loại là nhà cách mạng yêu nước.
Tương tự như trường hợp Maximilien Robespièrre cúa nước Pháp, lịch sử không
những đã không quy liệt Vua Minh Mạng là Việt gian, mà còn tôn ông là một vị vua
sáng suốt thương nước yêu dân, biết đặt quyền lợi tối thượng của tổ quốc lên
trên hết. Dĩ nhiên điều này không được các ông Dân Chúa người Việt và những
người theo học các trường đạo tán thành.
Cả nhà lãnh đạo cách mạng Maximilien Robespièrre của nước Pháp cũng như Vua
Minh Mạng của Việt Nam đều bị Nhà Thờ Vatican và các ông bà dân Chúa cuồng tín
thù ghét đến tận xương tủy. Cụ Hồ Chí Minh cũng bị Nhà Thờ Vatican thù ghét
như thế, và cũng bị bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã dùng cả trăm phương
ngàn kế, bịa đặt ra không biết bao nhiều chuyện xấu xa để bôi bác và hạ nhục cụ,
giống như họ đã từng làm đối với nhà cách mạng Maximilien Robespièrre hay đối
với Vua Minh Mạng của ta.
KẾT LUẬN:
Như đã nói ở trên, anh viết những điều sai lầm trên đây là vì: 1)
anh bị các cơ quan truyền thông của Nhà Thờ Vatican và đứa con của họ (chính
quyền miền Nam) lạc dẫn. 2) môn lịch sử là môn bị Giáo Hội La Mã
coi như là cấm kị. NẾU không tự mình tìm đọc các tài liệu sử ở các thư viện tại
các quốc gia thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, THÌ ta sẽ mù tịt
về lịch sử thế giới, mù tịt về lịch sử Giáo Hội La Mã và mù tịt lịch sử Việt Nam
trong thời cận và hiện đại. 3) môn Sử không phải là ngành chuyên môn
của anh, cho nên hầu như anh không biết gì về lịch sử Việt Nam trong thời cận và
hiện đại. 4) “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Anh sống
trong vùng ảnh hưởng của “Xóm Đạo Bolsa,” dĩ nhiên là anh cũng có những suy tư,
thái độ, ngôn từ và hành động nếu không giống như họ 100%, thì cũng gần giống
như họ. Kêt quả là khi phát biểu những lời nói trên đây, anh đã rơi vào tình
trạng “ăn ốc nói mò” như họ vậy.

1 2
3 4
5 6
[i] Vũ Thư Hiên,
Đêm Giữa Ban Ngày (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1997), tr. 461- 462.
[ii] Hồ Sĩ Khuê,
Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng (Wesminster, CA: Văn
Nghệ,1992), tr.215 và 216.
[iii] Bảo Đại, Con
Rồng Việt Nam (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1990), tr.214.
[iv] Cửu Long, Lê
Trọng Văn, Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử Trong Thế Kỷ 20 (San Diego, CA:
Mẹ Việt Nam, 1997), tr.267.
[v] Hoàng Văn Chí,
Từ Thực Dân đến Cộng Sản (Tokyo, Japan: Tổ Chức Người Việt Tự Do – Tổ Hợp
Xuất Bản Việt Nam – Cơ sở Nhật Bản, 1980?), tr. 55-57.
[vi] Cửu Long Lê
Trọng Văn, Sđd., tr. 201.
[vii] Nguồn:
https://sachhiem.net/TCN/TCNls/TCNls04.php.
Pour Quoc, le marxisme-léninisme offre des moyens d’action,
comme il l’a expliqué des années plus tard: “Vous devez comprendre qu’arracher
l’indépendance à une puissance comme la France est une tâche formidable qu’on ne
peut accomplir sans une aide extérieure et pas nécessairement une aide en armes
mais sous la forme de conseils et de contacts. On ne gagne pas l’indépendance en
jetant des bombes et par des actes de ce type. Ce fut l’erreur que les premiers
révolutinaires commirent. On gagne l’indépendance en s’organisant et en se
diciplinant. On a aussi besoin d’une foi, d’un évangile, d’une analyse pratique,
on peut même parler d’une bible. Le marxisme-léninisme m’a fourni cette
panoplie.
[viii] William J.
Duiker, Ho Chi Minh (New York: William J. Duiker, 2000), p. 562:
“The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a
outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world
capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121
countries offering the Vietnamese people condolences for the death of their
leader. A number of socialists states held memorial services of their own and
editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow
lauded Ho as a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader
of the international Communist and national liberation movement, and a great
friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his
role as a defender of the oppressed. An article published in India described him
as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for
freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of
manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper:
“He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the
children. He is a model of simplicity in all fields.”
Reaction from Western capitals was more muted. The
White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials
followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was
intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in
favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed.
Even thoses who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of
respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence
and unification of his country, as well as a prominent spokesperson for the
exploited peoples of the world.”
[ix] Nguồn:.
https://www.nhandan.org.vn/tinbai/?top=43&sub=80&article=139782. Đước biết
câu đói này là của chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông.
[x] J.E. Boshier,
The French Revolution (New York, W.W. Norton Company, 1988), , Ibid., p,
156. “Meanwhile, on 11 March and 13 April 1791, Pope Pius denounced the
revolution in general and the Civil Constitution of the Clergy in particular,
and he naturally stood behind the hostile Declaration of Pillmitz issued by
Habsburg Emperor on August 27.”
[xi] Nghiêm Xuân
Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Sàigòn: Quan Điểm, 1964), tr. 46.
[xii] Malachi
Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: Putnam ’s,
1981) pp. 232-233.
"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799)
thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" đã xóa bỏ toàn bộ tôn
giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí lên
ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục, tất
cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị giải thể, tất
cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi, chính quyền Paris còn ban
hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang Đế Napoléon i)
"đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và
chế độ Giáo Hòang". Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome,
Tướng Bonaparte tuyên bố, "Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một
anh hùng của dân tộc La Mã) và dân Scipios. Ý muốn của chúng tôi là phục hồi
điện Capitol và giải phóng nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi."
Quân Pháp tiến vào chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa
Ước Tolentino được ký kết giữa Tướng Bonaparte và Giáo Triều Vatican. Đây là một
sự sỉ nhục cho Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền
là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI phải
đem các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món
đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng
nằm trong lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican phải mở cửa cho hạm đội Pháp làm căn cứ
tru quân, phải từ bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý,
Pháp, Naples, và Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Hòang Pius VI than thở, "Hòa
Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal, truất phế Giáo
Hoàng Pius VI và thiết lập nước Cộng Hòa La Mã...."
Nguyên Văn: "First, France, "eldest daughter of the
church "he used to call it, abolished all religion, beheaded its king, enthroned
Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and over
30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all
seminaries, schools, religious orders, burned all churches and libraries,
then sent the Corsian Bonaparte to liberate italy and Rome." "Just as you
please," wrote the Paris government to the Corsian. "Destroy Rome and the
papacy utterly " "We are the friends of the descandants of Brutus and the
Scipios... Our intention is to restore the Capitol to free the Roman people from
their long slavery," The Corsian declared in May 1796, just before taking Rome.
Then the capture, and the humiliation of the Peace of
Tolentino between the papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three
installement (Pius melted down all available silver and gold ornaments); 100
objects d'art and 500 rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal
harbors to the French fleet; renunciation of all property in italy and France
and Naples and Sicily - everywhere. "They made us their prisoner Spina," mutters
Pius. "Peace treaty! Bah!" The Vatican and Quirinal were occupied by French
troops. They deposed Pius, and created the republic of Rome”
Trang Lịch Sử