Sam Harris: Thư cho một quốc gia Ki-tô giáo

Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

¿ Mục lục toàn bài bản in ngày 09 tháng 1, 2010

(tiếp theo bài trước)

Kết luận

Một trong những thử thách lớn nhất đối với nền văn minh của thế kỷ hai mươi mốt là để cho nhân loại học hỏi được cách bày tỏ những quan tâm cá nhân sâu kín nhất của mình - về luân lý, kinh nghiệm tâm linh và những đau khổ không tránh khỏi được của con người – trong những phương cách không tỏa ra mùi vị phi lý. Chúng ta rất cần đến một cuộc bàn luận công khai để khuyến khích những suy tưởng phê phán và lương thiện trí thức. Không có gì ngăn cản dự án này hơn là lòng kính trọng mà chúng ta đang dành cho đức tin tôn giáo.

Chắc tôi là người đầu tiên thú nhận rằng các triển vọng nhằm tiệt trừ tôn giáo trong thời đại của chúng ta không được tốt đẹp lắm. Thế nhưng, một thú nhận tương tự như thế có thể đã từng xảy đến trong nỗ lực tiêu diệt tệ nạn nô lệ vào cuối thế kỷ mười tám. Ai hằng phát biểu tự tin về cuộc diệt trừ nô lệ ở Mỹ vào năm 1775 chắc chắn tưởng là mình phí thì giờ và phí thì giờ một cách nguy hiểm.

So sánh tương đồng ấy không được hoàn hảo lắm nhưng có tính gợi ý. Nếu như chúng ta có từng vưọt qua được niềm hoang mang về tôn giáo của chúng ta, chúng ta có thể sẽ nhìn lại giai đoạn này trong lịch sử nhân loại với nỗi kinh hoàng và hết sức sửng sốt. Làm sao mà con người ta có thể từng tin những điều như thế ở thế kỷ hai mươi mốt này. Làm sao người ta có thể để cho xã hội của họ trở nên vỡ nát một cách hiểm nghèo bởi những khái niệm trống rỗng về Thiên chúa và Thiên đàng? Sự thật là, một số niềm tin mà chúng ta hằng ấp ủ nhất đã đáng xấu hổ như con tàu chở nô lệ cuối cùng đến Mỹ trễ đến tận cuối năm 1859 (cùng vào niên đại mà Darwin xuất bản Nguồn gốc của Sinh vật).

Rõ ràng, đến lúc chúng ta phải học cách thoả mãn những nhu cầu xúc cảm của mình mà không phải ôm lấy sự lố bịch. Chúng ta phải tìm cách nào để mỗi khi cầu xin đến sức mạnh của các nghi thức tế lễ và ghi dấu các chuyển hoá của đời sống thường nhật vốn đòi hỏi đến chiều sâu – như các việc sinh sản, hôn nhân, tử biệt – mà không phải tự dối mình về chức năng tự nhiên của đời sống. Chỉ khi nào việc nuôi dạy con trẻ để khiến chúng tin mình là người Ki-tô giáo, người Hồi giáo hay người Do Thái giáo sẽ bị xem như một sự xuẩn ngốc lố bịch như chính bản thân sự việc ấy. Chỉ khi ấy chúng ta mới có được cơ hội hàn gắn những rạn vỡ quá sâu và nguy hiểm trên thế giới của chúng ta.

Tôi không hề nghi ngờ rằng sự chấp nhận chúa Ki-tô của bạn trùng hợp với những thay đổi tốt đẹp trong đòi sống của bạn. Có thể là bạn hiện đang yêu kẻ khác trong một phương cách mà bạn chưa hề từng nghĩ rằng bạn có thể yêu thương như vậy. Có thể bạn còn chứng nghiệm được cảm giác hạnh phúc khi bạn cầu nguyện. Tôi không hề có ý dèm pha bất cứ chứng nghiệm nào như thế của bạn. Tuy nhiên, tôi chỉ muốn vạch ra rằng, hàng tỉ con người khác của cả nhân loại đang có cùng những chứng nghiệm tương tự - nhưng họ có chứng nghiệm ấy khi suy tưởng về Khrisna, hoặc Allah, hoặc Phật thích ca, khi sáng tạo nghệ thuật, âm nhạc, hay khi suy tưởng về vẻ đẹp của thiên nhiên. Không có nghi ngờ gì về năng lực chứng nghiệm những chuyển biến sâu sắc của con người. Và không có nghi hoặc gì về khả năng diễn đạt sai những chứng nghiệm ấy, và đi xa hơn nữa trong sự tự lừa dối mình vể bản chất của thực tại. Dĩ nhiên, bạn có lý khi tin rằng cuộc đời còn có những điều quan trọng hơn là việc chỉ am hiểu cơ cấu và nội dung của vũ trụ. Nhưng điều này không hề khiến những khẳng định phi lý và không thể biện giải đưọc về cấu trúc và nội dung của vũ trụ trở nên đứng đắn hơn.

Thật là quan trọng để ý thức được rằng khác biệt giữa khoa học và tôn giáo không phải là vấn đề ở sự việc loại trừ trực giác luân lý và chứng nghiệm tâm linh của chúng ta ra khỏi cuộc bàn luận về thế giới; mà vấn đề là ở sự chân thật của chúng ta về những gì chúng ta có thể kết luận hợp lý được từ căn bản của chúng. Có những lý lẽ đúng để tin rằng những đấng như Jesus và Phật thích Ca không hề nói điều vô nghĩa khi phát biểu về năng lực con người của chúng ta để chuyển hóa đời sống chúng ta bằng những phương cách đẹp đẽ và hiếm có. Nhưng bất cứ khám phá chân thực nào của luân lý hay suy tưởng cuộc sống đòi hỏi các tiêu chuẩn giống nhau về tính hợp lý và tự phê phán để làm sinh động tất cả các bàn luận trí thức.

Như một hiện tượng sinh học, tôn giáo là sản phẩm của tiến trình nhận thức vốn có gốc rễ sâu trong quá khứ tiến hoá của chúng ta. Một số nhà khảo cứu đã nghiên cứu rằng có lẽ bản thân tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khiến cho các nhóm lớn các con người tiền sử gắn bó xã hội với nhau. Nếu điều này là đúng, chúng ta có thể nói rằng tôn giáo đã cống hiến một mục đích quan yếu. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là tôn giáo đang cống hiến một mục tiêu quan yếu cho ngày hôm nay. Cuối cùng, không có gì tự nhiên hơn sự hãm hiếp. Nhưng không ai có thể biện luận rằng hãm hiếp là tốt, hoặc hãm hiếp là thích ứng với một xã hội dân sự, bởi vì hãm hiếp có thể có thể đã từng là một lợi thế tiến hoá cho tổ tiên của chúng ta. Một tôn giáo từng phục vụ cho một số chức năng cần yếu cho chúng ta trong quá khứ không thể ngăn ngừa khả năng là tôn giáo ấy đang là bước cản lớn nhất cho việc xây dựng một nền văn minh toàn cầu của chúng ta.

LÁ THƯ này là một sản phẩm của một sự thất bại. Thất bại của những cuộc tấn công đầy tài năng vào tôn giáo từng đến trước đây, thất bại của nhà trường chúng ta trong việc làm thế nào để đả thông được cái chết của Thiên chúa đến từng thế hệ, thất bại của truyền thông trong sự phê phán các khẳng định tôn giáo thấp hèn của những con người thuộc công chúng của chúng ta - thất bại lớn, hoặc nhỏ đã giữ cho mọi xã hội trên địa cầu này cứ luẩn quẩn lúng túng về Thiên chúa và khinh miệt những ai luẩn quẩn lung túng bằng cách khác.

Những người không tin vào tôn giáo như cá nhân tôi đứng cạnh bạn, lặng người đi bên lũ Hồi giáo đang cầu tử thần đến trên cả đất nước của bao người còn đang sống. Nhưng chúng tôi cũng lặng người đi vì bạn nữa – vì sự từ chối cái thực tế hiển nhiên của bạn, vì sự khổ đau mà bạn đang tạo ra trong sự phục vụ cho những bí hiểm tôn giáo của bạn, và bởi vì những dính líu của bạn với một Thiên chúa tuởng tượng. Lá thư này là là diễn đạt của những sửng sốt ấy – và, có lẽ của cả một niềm hy vọng nhỏ nhoi.

1. Nếu bạn có thể tin được : Vatican đang chống lại việc xử dụng bao cao su để ngăn ngừa bệnh HIV ngay cả giữa những người có cưới hỏi với nhau. Có tin đồn cho rằng Giáo Hoàng đang xem xét lại chính sách này. Hồng Y Javier Lazano Barragan, lãnh đạo Uỷ ban Y tế của tòa thánh , đã thông báo trên đài phát thanh Vatican rằng văn phòng của người đang “ thực hiện một nghiên cứu sâu sắc rất kỹ thuật, khoa học, và đạo đức” về vấn đề này. Thật không cần phải nói, nếu học thuyết Nhà thờ thay đổi do kết quả của những cân nhắc đạo đức giả này, sẽ là một chỉ dấu cho thấy rằng không phải đức tin ấy thâm thúy mà là đức tin của giáo điều ấy đã phát triển không thể cứu chữa được nữa.

2. Hitler đã nói trong bài diễn văn đọc ngày 12 tháng 4 năm 1922. (Norman H. Bayes, ed. The Speeches of Adolf Hitler, April 1922- August 1939. Vol. 1 of 2, pp. 19-20. Oxford University Press, 1942”:

Nhận thức Ki-tô giáo của tôi đã dẫn tôi đến với Thiên Chúa và bậc cứu rỗi mình như một chiến sĩ (…) Trong tình yêu không bờ bến của một người Ki-tô hữu và của một con người, tôi đã đọc được những dòng ẩn ngữ dạy chúng ta biết cuối cùng đức Chúa đã dương cao sự vĩ đại của người, nắm giữ lấy tai ương để quét sạch lũ rắn độc khỏi Ðiện thờ. Cuộc chiến đấu cho thế giới chống lại nọc độc Do Thái của người lớn lao biết dường nào …là người Ki-tô giáo tôi còn có trách nhiệm với riêng dân tộc của mình.

3. “phỉ báng huyết thống” (với chủ ý nhằm đến người DoThái) gồm các cáo buộc sai lầm rằng người Do Thái đã giết hại những người không phải Do Thái để lấy máu của họ dùng vào những nghi thức tế lễ . Sự kết án này vẫn còn được tin là thật ở nhiều nơi trong các nước Hồi giáo.

4. Sự thật cần được nói, hiện nay tôi nhận được các điện thư phản kháng từ những người khẳng định với tất cả chân thành rõ rệt, rằng họ tin Thuỷ thần (Poisedon) và các thần linh khác của thần thoại Hy lạp là có thật.

5. Thí dụ như nhà vật lý học Stephen Hawking hình dung không-thời gian như một hiện hữu đa dạng kín, bốn chiều, không có đầu, không có cuối (giống như bề mặt của một quả cầu)

6. Ðể chữa trị chứng sanh nghẹt thai, chỉ cần đến một giải phẫu đơn giản-chứ không cần phải cầu nguyện. Dù nhiều người có đức tin vẫn cứ tin rằng cầu nguyện có thể chữa lành nhiều căn bệnh (bất kể là các chúng bệnh đã được các khảo cứu khoa học tốt nhất tìm ra) Chuyện cầu nguyện này cũng kỳ cục ở chỗ là người ta chỉ cầu nguyện trong những trường hợp bệnh tật hoặc thương tích có giới hạn thôi. Chẳng hạn như không ai tin rằng lời cầu nguyện có thể khiến cụt tay chân có thể mọc ra lại. Sao không nhỉ? Giống kỳ nhông có thể làm được việc này, đoán chừng là không phải cầu xin gì. Nếu Thiên chúa từng đáp lại lời cầu xin, sao Người không đôi lúc chữa lành một trường hợp cụt tay chân Và sao người có đức tin không trông mong vào cầu nguyện trong những trường hợp ấy?

7. Phụ nữ, khi dám chối từ các hôn nhân cưỡng ép, đòi ly dị, phạm tôi ngoại tình hoặc ngay cả khi bị cưỡng hiếp, là nạn nhân của các sách nhiễu tình dục thường bị xem là đã “làm mất danh dự” của gia đình mình. Các phụ nữ trong tình huống này thường bị sát hại bởi chính người cha đẻ, anh em trai của họ hoặc có khi từ sự hợp tác của những phụ nữ khác. Giết người vì danh dự, có lẽ, quan niệm đúng nhất là một hiện tượng văn hóa (hơn là thuần túy tôn giáo), và nó không chỉ xảy ra riêng trong thế giới Hồi giáo. Tuy nhiên, hành vi này, đã có hậu thuẫn đáng kể từ Hồi giáo, khi tôn giáo này rõ ràng coi người phụ nữ như tài sản của người đàn ông và xem ngoại tình như một trọng tội. Trong khắp thế giới Hồi giáo, người đàn bà nào dám thưa mình bị cưỡng hiếp sẽ phải nhận lãnh sự nguy hiểm của việc bị giết hại như “kẻ ngoại tình” bởi lẽ, cuối cùng người đàn bà ấy cũng phải nhận tội đã có quan hệ thân xác với kẻ không phải chồng mình.

Có một trang WEB rất phi thường đang dốc lòng khám phá bí hiểm này: www.whydoes godhatesamputees.com

Trang Tôn Giáo