 |
25 tháng 1, 2010 |
LTS: Là một trong những tác giả người
Việt Nam viết táo bạo về những điều cấm kỵ của các tín đồ đạo Chúa (như
đem Chúa và các vị thánh mà giáo hội Công Giáo đã tôn thờ ra làm đối
tượng nghiên cứu, như phân tích thánh kinh theo như thánh kinh nói, vân
vân…), Giáo sư Trần Chung Ngọc thường phải chịu đựng rất nhiều phản ứng
theo nhiều cách thể hiện khác nhau, phẩm chất khác nhau và biên độ khác
nhau từ các giai tầng trong xã hội, nhất là từ
cộng đồng Thiên Chúa Giáo người Việt.
Ông xem như không biết đến những việc đó ngoại trừ một
vài trường hợp.
Bằng vốn liếng của một
nhà giảng và dạy khoa học, khi ông
nghiền ngẫm quyển «thánh kinh» của đạo Chúa, phản ảnh nó trên những
cách ứng xử của những tín đồ tin Chúa, nhiều lúc ông quá thất vọng và
chỉ còn cách diễn tả đối tượng một cách nôm na cái tình trạng «trống
vắng» chứng cớ, vắng mặt lý luận, và thiếu thốn thông tin. «Ngu si» (ignorance)
là một trong những từ mà ông buộc miệng trong những trường hợp như thế.
Mới đây, có câu
hỏi của Francis Dương đã được gửi đến
nhiều diễn đàn trong đó có địa chỉ tòa
soạn Sách Hiếm. Tòa soạn chuyển thư của Francis
Dương cho ông Trần Chung Ngọc để thông tin mà thôi, không nghĩ ông để ý, không
ngờ cụ Trần Chung Ngọc lại mất công bỏ chút thì giờ để trả lời.
Người Á
châu chúng tôi có thể rất thoải mái nói bừa: «Ông
trời là cái quái gì?» Người ta cứ «kêu trời như bọng» mỗi lần tức
giận, cầu trời chứng giám cho tình bằng hữu, hay cám ơn trời khi làm ăn
khấm khá, hoặc mắng «trời không có mắt», «con tạo trớ trêu» mà chẳng
hề quan tâm ông trời da trắng hay da nâu như thế nào cả. Vui thì «bái
thiên địa», buồn thì «ông trời ăn ở bất công». Cũng chưa từng có người
nào phải «bảo vệ» ông Trời, hay phải đánh nhau, chửi nhau chỉ vì thấy
người khác không «nể» ông Trời cả. Và chúng ta có thể kêu trời bất cứ khi nào thích, không như bên đạo Chúa "Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ" vì sẽ phạm "tội chết" (Leviticus 24:16)
Lạ thật,
nếu ông Chúa Ba ngôi của các ngài cũng giống như ông trời chịu chơi của
người Á châu chúng tôi, thì tại sao người Việt đạo Chúa lại cứ khẩn
trương và kèn cựa về sự hiện hữu hay không hiện hữu của ông trời chết
tiệt đó chứ? Vậy chắc chắn các tín đồ Thiên Chúa Giáo người Việt còn mặc cảm lo sợ ông Thượng Đế còn thua kém ông Trời của chúng tôi, ít nhất là về đức độ!
Trước đây đã có vài bài viết về ông
trời của người Á đông khác với ông Thượng Đế của đạo Chúa như:
- Quan niệm “Ông Trời” của người Việt của cụ Charlie Nguyễn,
- Nhân Chuyện Khám Phá Có Jehovah Trong Ca Dao Việt của Thiên Lôi
- Nhân đọc “Ông Trời trong thi ca Việt-Nam" (Sơn Dã Bần Phu)
Riêng cụ Trần Chung Ngọc sẽ có câu chuyện để gửi tặng các bạn đọc một vài phút giải trí, chắc chắn sẽ đem lại một ngày vui.
Tôi vừa nhận được từ Tòa Soạn Sách Hiếm một lá thư
của Francis Dương gửi ngày 20 January, 2010 với hàng tựa “CÓ ÔNG TRỜI HAY KHÔNG CÓ ÔNG TRỜI ?” trong đó có đưa ra một thách đố cho tôi và
Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang như sau:
ÔN CỐ TRI TÂN
NHỮNG NGƯỜI NHƯ CỤ TRẦN CHUNG NGỌC,
NGUYỄN MẠNH QUANG, NHÓM GIAO ĐIỂM ONLINE….CÒN DÁM TẶNG CÁC NHÀ BÁC HỌC KHOA
HỌC GIA CÁC THỜI ĐẠI CÓ TÊN SAU ĐÂY LÀ NGU NGỐC HỦ LẬU KHÔNG ? VÌ HỌ ĐỀU
TIN CÓ ÔNG TRỜI HAY ĐẤNG CHÍ TÔN VÔ HÌNH QUẢN CAI VŨ TRỤ,...
ÔNG TRỜI, ĐẤNG TẠO HÓA, ĐẤNG CHÍ TÔN, ALLAH, JEHOVAH, THIÊN CHÚA & VĨ NHÂN
CÁC NHÀ BÁC HỌC, KHOA HỌC TRỨ DANH TỪ THẾ KỶ 15, 16 TỚI NAY
CÓ TÊN SAU ĐÂY ĐỀU LÀ HỮU THẦN = (THIÊN CHÚA GIÁO NÓI CHUNG)
...(xin xem nguyên văn lá thư >>)...
Nay tôi có vài lời để khai sáng cho cháu
Francis Dương vì chính câu hỏi trên có thể xếp vào loại ngu si rồi.. Đọc
bài “Ôn Cố Tri Tân” tôi cảm thấy tội nghiệp cho cháu Francis Dương vì
cháu viết mà không hiểu mình viết cái gì. Rõ ràng cháu là một tín đồ Công
giáo, dùng tài liệu của Giáo hội, trong đó có nhiều phần bịa đặt sai sự
thực, không nêu rõ xuất xứ, nên phần lớn là vô giá trị. Cháu chỉ nhắc lại
như con vẹt những gì Giáo hội tuyên truyền mà không nhận ra những sai trái
trong đó.
Mục đích của bài “Ôn Cố Tri Tân” của cháu là để “chứng
minh” rằng có nhiều khoa học gia nổi tiếng và danh nhân, vĩ nhân, tin có
một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” cho nên, tất nhiên, “Đấng Chí
Tôn” này phải hiện hữu. Đây vốn là mánh mưu của Công giáo, luôn luôn vơ vào
mình những gì có thể dùng để đánh bóng giáo lý của Giáo hội, bất kể phải
ngụy tạo, hoặc che dấu sự thật trong những điều Giáo hội đưa ra. Điều này
tôi sẽ chứng minh trong một đoạn sau.
Một điều cần phải làm sáng tỏ, đó là trong danh sách
Francis Dương nêu trong bài, không có một người nào tin ở “ông Trời”
vì một lẽ rất đơn giản là quan niệm về Ông Trời rất xa lạ đối với các xã hội
Tây phương và tất nhiên rất xa lạ đối với họ. Ngoài ra, điều mà Francis
Dương không biết, là cái tin về một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ
Trụ” của các khoa học gia hay danh nhân hay vĩ nhân mà Francis Dương nêu
trong bài, ngày nay còn lại bao nhiêu giá trị?
Để mở đầu, câu trả lời hay nhất cho Francis Dương là
của Richard Lederer, nhà ngữ học Mỹ:
Có một thời mà mọi người [ở Âu Châu] đều tin vào Thiên
Chúa, và giáo hội [Công giáo] thống trị. Thời đại đó được gọi
là Thời Đại Tăm Tối. [There once was a time when all people believe in
God and the Church ruled. This time was called the Dark Ages.]
Thời đại này cũng còn được biết là “Thời đại của sự man rợ và đen
tối trí thức” [The ages of barbarous and intellectual darkness]
E rằng cháu Francis Dương không nắm được ý trong câu trên, tôi xin
khai sáng thêm một chút.
Trước hết, tôi cũng như Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, và trong nhóm Giao
Điểm chưa có ai lên tiếng “tặng” các khoa học gia có tên tuổi là ngu
ngốc, hủ lậu, chỉ vì họ tin có “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ”
alias “Gót” [God] của Ki Tô Giáo cả. Họ có những bộ óc sáng suốt, có nhiều
sáng kiến, và có nhiều công trình khoa học để đời cho nhân loại, nhưng về
lãnh vực tín ngưỡng tôn giáo thì họ vẫn rất có thể bị liệt vào loại ngu si
vô trí, nghĩa là không thể nhìn tôn giáo của họ như thực nó là như vậy (to
see it as it really is: như thực tri kiến). Lý do, tôn giáo không phải là
lãnh vực nghiên cứu của họ cho nên họ không đủ thông tin để phán đoán về bản
chất và thực chất của tôn giáo. Như vậy mọi người chúng ta đều có thể nói
là “ngu si vô trí” ở một phương diện hay lãnh vực nào đó.
Nhưng thực ra
chẳng có ai biết là họ tin như thế nào. Trái lại, có nhiều bằng chứng chứng
tỏ họ chẳng mấy tin vì những công trình khoa học của họ đã dứt khoát bác bỏ
Thượng đế của Ki Tô Giáo như được viết trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô
Giáo. Tôi không tin rằng những bộ óc sáng suốt của họ lại có thể tin vào
một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ”, mà khuôn mặt của Đấng
Chí Tôn này thường thấy rõ trong các cuộc Thánh Chiến, các Tòa Hình Án xử dị
giáo, hay những vụ thiêu sống phù thủy. Ngày nay chúng ta cũng thấy rõ
khuôn mặt của Đấng Chí Tôn trong Tsunami ở Thái Lan, bão Katrina ở New
Orleans, và gần đây, trận động đất ở Haiti, khoan kể đến những em bé sơ
sinh khuyết tật nằm đầy trong các nhà thương, bệnh AIDS tàn phá ở Phi Châu
v…v…, một khuôn mặt mà không có mấy người có đầu óc còn có thể tin vào đó.
Nếu có một CEO nào quản lý một công ty mà để xảy ra những tệ hại trong
công ty, thì CEO đó sẽ bị cho về vườn làm 7 nghề. Nếu có một “Đấng Chí Tôn
Vô Hình quản cai vũ trụ” nào mà để xảy ra những chiến tranh, thiên tai bệnh
tật cho nhân loại thì Đấng đó phải cho nghỉ vĩnh viễn không lương, nghĩa là
tín đồ tin thờ Đấng đó không cần phải tiếp tục đóng tiền cho nhà thờ để cho
mấy tên buôn thần bán thánh tiếp tục nuôi dưỡng sự mê tín, hay làm bậy, thí
dụ như trên 5000 linh mục, hay “Chúa thứ hai”, can tội loạn dâm và ấu dâm,
và Giáo hội đã dùng tiền của tín đồ, lên tới hơn 2 tỷ đô-la, để bồi thường
cho các nạn nhân tình dục của các “Chúa thứ hai”.
Francis Dương có hiểu được điều này không?
Bây giờ, tôi xin đi vào phần trả lời sự thách đố của Francis Dương.
Vấn đề là, sinh ra ở Âu Châu, cái nôi của Công giáo và từ thế kỷ 17, một
phần Tin Lành, tất nhiên hầu hết mọi người đều có đạo, cha truyền con nối
theo truyền thống gia đình và xã hội. Nhưng có đạo là một chuyện mà tin là
có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” , alias Thượng đế của Ki Tô
Giáo, lại là chuyện khác. Có một thời, không tin cũng phải làm bộ tin, vì
không tin có thể mất mạng như chơi. Lịch sử Âu Châu dưới quyền thống trị
của Công giáo đã chứng tỏ như vậy. Nhưng niềm tin này đã được khảo sát,
phán xét, và đánh giá cẩn thận qua các thời đại, và ngày nay chúng ta thấy
xuất hiện những tác phẩm như “The God Delusion” của Richard Dawkins,
“God Is Not Great” của Christopher Hitchens, “The Dark Side of
God” của Douglas Lockhart, “The Impossibility of God” Edited by
Michael Martin and Ricki Monnier, “Critiques of God” Edited by Peter
A. Angeles, “God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong”
của S.T. Joshi, chỉ kể vài cuốn điển hình. Cũng như khi xưa, con người cho
rằng sấm sét là những cơn thịnh nộ của Gót, rất sợ Gót và quỳ xuống van vái
Gót, nhưng ngày nay sấm sét chỉ có thể làm cho chó mèo cúp tai chạy, chứ còn
con người như cụ Trần thì thản nhiên ngồi trước bàn máy điện toán viết bài
chống Gót và Ki Tô Giáo. Đây là sự tiến bộ trí thức của nhân loại.
Chúng ta hãy đọc chơi một đoạn trong cuốn “God’s Defenders: What
They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, trang 9:
Hoặc là chỉ có một “gót”, hay nhiều “gót”, hay chẳng có “gót” nào. Hoặc
là có cái gọi là linh hồn của con người hoặc là không có, và, nếu có, linh
hồn đó có thể hoặc không có thể sống sót sau khi thân thể đã chết. Hoặc là
Giê-su Ki Tô, nếu ông ta có thực, là con hoặc không phải con của Gót (của Ki
Tô Giáo) . Hoặc Mohammed, nếu ông ta có thực, là tiên tri hoặc không phải
là tiên tri của Gót.
Rằng những giáo lý cốt yếu của nhiều tôn giáo chính trên thế giới –
đặc biệt là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo – là vấn đề hoặc đúng hoặc
sai tự nó là một sự kiện mà về nó không có một số lượng ngụy biện nào
hay sự bào chữa đặc biệt nào có thể đi tới. Bất hạnh thay cho những tôn
giáo này, những bằng chứng tích lũy trong ít nhất là nửa thiên niên kỷ qua
(500 năm) đã thừa nhận là những giáo lý này sai.
[1]
Judith Hayes cũng đặt câu hỏi: “Chúng ta tin ở Gót, nhưng mà là Gót
nào?” [In God we trust, but which one?] Francis Dương có thể trả lời
câu hỏi này không?
Có một điều mà Francis Dương cần phải hiểu: đó là
tín ngưỡng tôn giáo và khoa học là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, với hai
cách nhìn thế giới khác nhau. Tôn giáo, điển hình là Ki Tô Giáo, Do Thái
Giáo, hay Hồi Giáo, không dựa trên bất cứ một bằng chứng nào ngoài những
cuốn sách hiện hữu trên thế giới mà họ gọi là thánh thư, nhưng mỗi cuốn
thánh thư đều có nhiều điểm khác nhau, tuy chúng có một điểm chung, đó là
mọi hiện tượng trên thế giới đều là tác phẩm của Gót, và cho rằng Gót là chủ
tể của nhân loại, quản cai vũ trụ, nghĩa là trách nhiệm về mọi sự xảy ra
trong vũ trụ. Còn khoa học thì thu thập tích lũy hàng núi bằng chứng chứng
tỏ rằng vai trò của Gót không cần thiết trong việc giải thích những hiện
tượng thiên nhiên. Thí dụ, khi anh phát biểu là có một “Đấng Chí Tôn Vô
Hình Quản Cai Vũ Trụ” thì đó là bày tỏ một niềm tin chứ không phải là khẳng
định bản chất của một thực thể. Trong khoa học, chúng ta không cần đến Gót
để giải thích là tại sao khi ta ném một viên đá lên trời thì quỹ đạo của hòn
đá là một hình parabol và cuối cùng hòn đá lại rơi xuống mặt đất.
Có một điều mà Francis Dương không nghĩ tới là khi
nêu lên những công trình khoa học của một số khoa học gia mà Francis Dương
cho rằng họ tin là có Thượng đế, tất nhiên là Thượng đế của Ki Tô Giáo, thí
dụ như Nicolas Copernicus, Isaac Newton, Johannes Kepler, Galileo Galilei
Jean Baptiste Lamarck, George LeMaitre v…v… [nhưng quên mất Giordano Bruno,
Charles Darwin, hay Alexander VI, Hitler v…v…], Francis Dương lại không
biết rằng chính những công trình khoa học của những người này đã phá sập nền
thần học của Ki Tô Giáo, nghĩa là bộ môn dùng trò chơi ngôn ngữ để chứng
minh là có Thượng đế. Một Giordano Bruno, bị Giáo hội thiêu sống chỉ vì
tin chắc rằng ngoài thế giới của chúng ta còn có nhiều thế giới khác. Chẳng
có lẽ ông ta lại tin ở một Thượng đế ngu đần đến độ cho rằng thế giới của
chúng ta là duy nhất do chính ông Thượng đế đó sáng tạo ra như được viết
trong Thánh Kinh. Một Galilei có đầy đủ bằng chứng là trái đất quay xung
quanh mặt trời chẳng lẽ lại tin ở một Thượng đế ngu xuẩn đến độ cho rằng
trái đất phẳng, dẹt, có bốn góc, đứng yên, và mặt trời quay xung quanh trái
đất như được viết trong Thánh Kinh. Charles Darwin cũng là người Công Giáo,
nhưng thuyết Tiến Hóa của ông ta, và những bằng chứng khoa học về vũ trụ
học, đã làm cho thuyết Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài của Ki Tô
Giáo trở thành ngớ ngẩn, khôi hài và hoàn toàn vô giá trị. Vậy thì những
khoa học gia này có những công trình vinh danh khoa học hay vinh danh Thượng
đế. Francis Dương hãy trả lời câu hỏi này.
Mặt khác, Jean Baptiste Lamarck chỉ có một số tư
tưởng về Tiến Hóa, còn Charles Darwin mới chính là người lập thuyết Tiến Hóa
một cách khoa học. Thật ra thì, nhiều tư tưởng về tiến hóa đã có trước
Darwin. Ngay từ trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common
Era), ở Đông phương chúng ta có thể thấy tư tưởng tiến hóa trong Áo Nghĩa
Thư (800 B.C.E) của Ấn Độ, trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và sau được phát
triển bởi Trang Tử, và trong Kinh Dịch. Ở Tây phương, chúng ta có thể kể
Thales, Anaximander (học trò của Thales), Xenophanes, Anaxagoras,
Empedocles, Aristotle, Lucretius. Trong thời đại thông thường ngày nay (C.E
= Common Era) có Plotinus (205-270 C.E.), Avicenna (980-1037), Leonardo da
Vinci (1452-1519), Carolus Linnaeus (1707-1778), Georges Louis Leclearc,
Comte de Buffon (1707-1788), Erasmus Darwin (1731-1802), Jean Baptiste de
Lamark (1774-1829), đó là chỉ kể những tên chính.
George LeMaitre cũng không phải là tác giả của
thuyết Big Bang như Francis Dương viết. Lemaitre dùng những phương trình
tương đối của Einstein để tính ngược tới một thời điểm mà vũ trụ được thu
gọn trong một trái cầu lớn hơn mặt trời khoảng 30 lần mà ông ta gọi là
"nguyên tử đầu tiên" (primeval atom), còn được biết dưới danh từ "trứng vũ
trụ" (cosmic egg). Theo Lemaitre thì, vì những lý do không rõ, trái trứng
vũ trụ này nổ bùng tạo thành vũ trụ của chúng ta ngày nay. Nhưng các phương
trình của Einstein lại cho phép các khoa học gia đi ngược thời gian xa hơn
nữa, tới một thời điểm mà tất cả vũ trụ được thu gọn trong một điểm mà danh
từ khoa học gọi là "dị điểm" (singularity), một thời điểm vào khoảng 0.0001
(một phần mười ngàn) của một giây đồng hồ (10-4 sec.) sau khi dị
điểm bùng nổ, khi đó nhiệt độ của dị điểm là khoảng 1,000,000,000,000 (một
ngàn tỷ) độ tuyệt đối (1012 oK), nhiệt độ tuyệt đối K
cao hơn nhiệt độ bách phân C là 273.16 độ, do đó 0 độ K tương đương
với -273.16 độ bách phân C, và tỷ trọng của dị điểm là 100,000,000,000,000
(một trăm ngàn tỷ) gram (1014 g) cho một phân khối. Để có môt ý
niệm về các con số trên, nhiệt độ ngoài biên của mặt trời chỉ vào khoảng
6000 độ, và tỷ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối. Đây mới là
thuyết Big Bang.
Để chứng minh thêm là Francis Dương viết mà không
hiểu mình viết cái gì, tôi xin đưa ra hai trường hợp điển hình:
1. Francis Dương đưa tên nhà toán học Pháp
Pierre Simon de Laplace vào danh sách những khoa học gia nổi tiếng mà
Francis Dương cho rằng ông ta tin vào Thượng đế của Ki Tô Giáo. Nhưng
Francis Dương không biết, hoặc biết mà cố tình không nhắc, đến một giai
thoại về Laplace như sau:
Hoàng đế Napoléon Bonaparte, sau khi đọc cuốn “Cơ
Học về Các Thiên Thể” (Celestial Mechanics), cuốn sách giải thích vũ trụ
thuần túy theo những nguyên nhân tự nhiên, nhận xét rằng trong cuốn sách đó
Laplace không đả động gì đến Gót cả. Laplace đã trả lời như sau: “Thưa
Ngài, tôi không cần đến cái giả thuyết đó” [ Sire, I have no need to
that hypothesis]. Trong khoa học, giả thuyết có ý nghĩa như thế nào, mọi
người đều biết.
Laplace cũng còn phát biểu: Kính thiên văn đã
quét hết vòm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. [The telescope sweeps
the skies without finding god.]
2. Francis Dương cũng đưa tên Blaise Pascal
vào danh sách những người tin có Thượng đế và nêu lên lý luận “đánh cuộc của
Pascal” (Pascal’s Wager) như sau mà Francis Dương cho là một danh ngôn mà
tới nay, ai cũng thấy hữu lý: "Giả như Thượng Đế không có, ta
chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài; nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả"
[thiếu câu sau: nếu không tin là có Ngài. [If God does not exist,
one will lose nothing by believing in him (wrong), while if he does exist,
one will lose everything by not believing (wrong again)]. Francis
Dương không nhận ra một đống sai lầm trong câu trên và không biết rằng câu
trên phát xuất từ một sự mê tín chứ không phải là khẳng định về một thực
thể. Chúng ta phải hiểu câu trên như sau: nếu tin vào Thượng đế và Thượng
đế có thật thì sẽ được lên thiên đường sau khi chết, còn nếu không tin mà
Thượng đế có thật thì sẽ bị đày đọa xuống hỏa ngục sau khi chết. Đó là một
câu đánh cuộc vào một điều mình không biết hoặc chưa tin (là “Thương
đế”), vì nếu đã biết hoặc đã tin thì còn đánh cuộc làm gì !
Thứ nhất, hàng tỷ người trên thế gian không tin có
Thượng đế của Ki Tô Giáo nhưng vẫn có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, lành
mạnh, đầu óc tỉnh táo không mê mẩn vì một cái bánh vẽ trên trời (điều này
chứng tỏ là chẳng làm gì có Thượng đế và cũng chẳng ai cần đến Thượng đế.)
Ngay cả theo lý thuyết thần học của Ki Tô Giáo, trong trường hợp hoang tưởng
là những người không tin sẽ phải bị đầy đọa xuống hỏa ngục sau khi chết thì
cũng không thể nói là họ đã “mất tất cả”. Giáo hoàng John Paul II đã chính
thức phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường hay hỏa ngục của Ki Tô Giáo,
điều này đã ném các Pascal’s Wager vào “đống những đồ phế thải”. Cho nên
những người hi vọng ở một đời sau hạnh phúc trên thiên đường mới là những
người “mất tất cả” vì hi vọng đó không bao giờ có thể thành đạt.
Thứ nhì câu của Pascal cũng có thể áp dụng cho Do
Thái Giáo hay Hồi Giáo hay Ấn Độ giáo. Hồi giáo có thể nói, tin vào Allah
và nếu Allah không có thật thì cũng chẳng mất mát gì. Nếu không tin và
Allah có thật thì sẽ mất tất cả. Đối với Hồi Giáo thì tất cả các tín đồ Ki
Tô Giáo đều phải xuống hỏa ngục của Hồi Giáo nếu Allah có thật. Đối với
nhiều tông phái Ấn Độ giáo cũng vậy, tất cả tín đồ Ki Tô giáo đều thành ma
quỷ hết nếu các vị thần linh của họ có thật.
Thứ ba, sự kiện là, dù muốn dù không, đời sống của
chúng ta trên trái đất là đời sống duy nhất mà chúng ta sẽ trải qua. Nếu
chúng ta hi sinh đời sống này cho một Thượng đế giả tưởng thì có thể nói là
chúng ta sẽ mất tất cả. Đây chính là vong thân.
Sau cùng, tôi muốn khai sáng cho Francis Dương về
đoạn kết của ông ta. Francis Dương viết về “Vô Thần”:
Người vô thần là người không ý thức, bác bỏ, phủ
nhận niềm tin vào Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Thượng Đế, Thiên Chúa, Jehovah,
Allah... vì hoặc là họ cho rằng không có bằng chứng hiễn nhiên, rõ ràng,
hay họ dựa vào các triết thuyết, xã hội học, lịch sử, và thiên nhiên…
Vậy con người nên theo Cộng Sản, tôn thờ Karl
Marx, Lenin, Mao, Hồ, hay Ông Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Chí Tôn, Thiên Chúa,
Jehovah, Allah để khi lìa dương thế còn có hy vọng một đời sau hạnh phúc, và
khi còn sống còn có chút lương tâm yêu thương tổ tiên cha mẹ anh chị em bà
con xóm giềng cùng đồng loại. Ngược lại nếu trong xã hội loài người không
ai còn tin vào sự hiện hữu của ÔNG TRỜI, ĐẤNG CHÍ TÔN vô hình chủ tể muôn
loài muôn vật thì con người sẽ ăn thịt con người, cướp bóc khắp mọi nơi,
mạnh được yếu thua như súc vật.
Đọc câu nầy, về mặt phương pháp luận, ta đã thấy
Francis Dương bị kẹt vào thế nhị nguyên đối đãi: Không Thiên Chúa thì chỉ là
Cọng sản, không Cọng sản thì chỉ phải là Thiên Chúa, chứ không còn chọn lựa
nào khác ! Vậy trước khi có Cọng sản thì sao ? Đây là cái loại đầu óc bị cầm
tù và bị nhồi sọ bởi ông Giáo hoàng Pio XI từ hơn 70 năm trước để chống Cọng
mà mở mang nước Chúa ở Bùi Chu Phát Diệm, nay còn đọng lại mà Linh mục Trần
Tam Tĩnh đã nói đến trong tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm: “Ở một số địa
bàn Công giáo tiêm nhiễm nội dung chống Cộng của thông điệp Divini
Redemptoris của Piô XI, nên người ta phải sống trong một thứ hoang mang,
thời gian để lại những hậu quả rất nghiệm trọng. Một vài lãnh tụ Công giáo
đã vạch ra một đường lối xử thế, mà nhiều người rồi đây đã thấy là xảo quyệt
gian manh”.
Sau đây là một bài học nhỏ cho Francis Dương về “Vô
Thấn” và “Hữu Thần”.

Đoạn trên của Francis Dương là luận điệu cố
hữu của Công giáo, kẻ thù không đội trời chung với Cộng sản. Tại sao Công
giáo lại chống Cộng một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy? Thật là dễ
hiểu, vì lý thuyết của Marx đã vạch trần bộ mặt thật của Ki Tô Giáo, kết quả
là đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu vãn. Hiện
tượng này thật là rõ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo,
mà còn ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Học giả Công giáo Joseph L.
Daleiden đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final
Superstition, Prometheus Books, New York, 1994): “Căn nguyên sự thù ghét
của giáo hội Công giáo đối với Cộng Sản là giáo hội ý thức được rằng Cộng
Sản, về ảnh hưởng, là một địch thủ tôn giáo.”
[2]
Francis Dương có biết là:
Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám
mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết
định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (nghĩa là sống như là
“vô thần”)
[3]
Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin
chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27,
28 tháng 7, 2005, thì Benedict XVI đã lên tiếng phàn nàn như sau:
“Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang
chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến
Thiên Chúa nữa.
[4]
Cũng theo tin hãng Reuters ở Rome thì Giáo hoàng Benedict XVI đã phải
đau lòng mà chấp nhận một sự thực: “Thật là khác lạ trong thế giới Tây
Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà
con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần
gì đến Chúa Giêsu nữa. Những Giáo Hội gọi là 'truyền thống' xem ra như đang
chết dần.”
[5]
Những sự kiện trên chứng tỏ rằng niềm tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô
Hình quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia mà Francis Dương nêu lên để
quảng cáo cho “Đấng Chí Tôn..” ngày nay chẳng còn mấy giá trị. Nó chỉ còn
giá trị đối với “đám quần chúng tín đồ ngu si, và những linh mục xảo
quyệt” [Robert G. Ingersoll, in 1870: The people are stupid, and the
priests are cunning].
Hơn một thế kỷ sau, S.T. Joshi cũng đưa ra một nhận định tương tự:
“Câu hỏi chính không phải là tại sao tôn giáo (tác giả muốn nói đến Do
Thái Giáo, Hồi Giáo và Ki Tô Giáo) không chết đi mà là tại sao nó còn
tiếp tục tồn tại trước hàng núi những bằng chứng trái ngược [với những
gì các tôn giáo trên rao truyền]. Đối với tôi, câu trả lời có thể thâu
tóm trong một câu thẳng thắn: quần chúng tín đồ thì ngu si”
[6]
Thật ra, theo định nghĩa thì, Vô thần chỉ có nghĩa
là không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa
[Atheism = Disbelief in or denial of the existence of God]. Thiên Chúa ở
đây phải hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần không có nghĩa là
chống Thiên Chúa, vì chống một cái không hiện hữu là một chuyện vô ích. Nói
cho đúng ra, Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một
Thiên Chúa do chính con người bày đặt ra.
Đối với giới “Chống Cộng Cho Chúa” [CCCC] thì hai
chữ “vô thần” hầu như bao giờ cũng đi liền với hai chữ “Cộng sản” trong
những bản văn chống Cộng ở hải ngoại, và ngay cả ở trong nước. Điều này
chứng tỏ là những người Chống Cộng Cho Chúa chẳng hiểu gì về vô thần hay
Cộng sản. Họ chỉ lập lại như những con vẹt những luận điệu chống Cộng của
Công Giáo sau chiêu bài “vô thần” làm như “vô thần” là có tội với Thiên
Chúa, là vô đạo đức của Thiên Chúa v…v…
Bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải
hiểu rằng: CS là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế [Communism is a
socio-economic political system] trong khi Vô Thần là một lập trường đối với
các tôn giáo (thần giáo), đặc biệt là Ki Tô Giáo [Atheism is a position
taken in respect to religion, especially Western religion], và Vô Thần đã
có từ trên 2000 năm nay, trong khi Cộng sản mới chỉ ra đời cách đây trên
100 năm.
Vì không hiểu rõ chủ trương vô thần của Marx cũng
như bản chất của vô thần cho nên ngày nay vẫn còn có những người cuồng tín
đần độn, kể cả những người gọi là trí thức Công Giáo, và cả một số trí thức
Phật Giáo thiếu trí tuệ, vẫn tiếp tục kết hợp Cộng sản với Vô Thần, làm như
Vô Thần là một trọng tội xấu xa cần phải diệt trừ. Họ không đủ kiến thức để
hiểu rằng, khi họ kết hợp Cộng Sản với Vô Thần là họ đang thực sự tôn vinh
Cộng Sản.
Thật vậy, như Voltaire đã nhận định: “Vô Thần
là thói xấu của một số ít những người thông minh” [Atheism is the vice
of a few intelligent people] và trên thực tế, Vô Thần là kết quả tiến bộ trí
thức của con người, như Frank E. Tate đã tuyên bố như sau:
“Suốt cuộc đời tôi, tôi đã tiến bộ từ một
người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri” và bây giờ là một
người vô thần. Tôi dùng từ “tiến bộ” vì tôi tin rằng đó thực sự là một sự
tiến bộ, tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lý đã lỗi
thời đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không còn tin nữa.
Chính cái huyền thoại đó – cuốn Thánh kinh Do
Thái-Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc đổ máu, dâm dật,
và cuồng tín không đếm xỉa gì đến đời sống và sự an sinh của những người nào
không bày tỏ niềm tin mù quáng của mình vào những giới luật được trình bày
qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được”
[7]
Những người Công Giáo thường bị tẩy não, nhồi sọ
từ nhỏ là những người không tin vào Thiên Chúa của họ là “vô thần” (trong đó
có cả Phật giáo và Không giáo “ma quỷ” của Alexandre de Rhodes nữa), và vô
thần có nghĩa là vô đạo đức của Ki Tô Giáo, và do đó có thể làm tất cả những
điều ác vì không còn sợ Thiên Chúa của họ như Francis Dương viết ở trên.
Nhưng nếu chúng ta đọc lịch sử giới hữu thần và so với giới vô thần, chúng
ta sẽ thấy rằng đạo đức của giới hữu thần thực sự thua xa đạo đức của giới
vô thần. Lịch sử Ki Tô Giáo đã chứng tỏ như vậy. Tại sao? Bởi vì Ki Tô
Giáo tin vào cuốn Thánh Kinh của họ, và trong Thánh Kinh, những điều luân lý
đạo đức chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với những phần vô đạo đức, phi luân.
Sự thực là, hững người vô thần nổi tiếng từ xưa tới
nay đều là những bậc thông thái, có đạo đức, chứ không tàn bạo, ngu đần, vô
đạo đức như một số giáo hoàng thờ thần trong cái tôn giáo thờ thần là Công
giáo như lịch sử đã chứng minh. Và trong những xã hội Ki Tô Giáo “hữu thần”,
tỷ lệ những tội ác như giết người, cướp của, loạn luân, con giết cha mẹ, cha
mẹ giết con, ma túy v..v.. đã vượt trội những xã hội “vô thần”. Thí dụ:
Mỹ là một nước “hữu thần” hạng nhì (sau
Phi Luật Tân) trong thế giới ngày nay, vì theo Francis Dương thì có 51.3
% theo Tin Lành và 23.9 % theo Công giáo, số người tin vào sự “thiết kế
thông minh” của một ông Thiên Chúa để tạo nên nước Mỹ làm dân của Thiên Chúa
(God’s people). Nhưng những tội ác như linh mục loạn dâm, đĩ điếm, cần sa,
ma túy, gian manh lừa đảo, giết người, băng đảng xã hội đen v..v.. đều chiếm
giải quán quân trên thế giới. Nói có sách, mách có chứng: sau đây là vài
con số thống kê của Mỹ:
- Thống kê năm 2000: 14 triệu người tuổi
từ 12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).
- Năm 2001: 15.980 vụ giết người,
90.491 vụ hiếp dâm. Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu
của bộ Tư Pháp)
- Trên 1 triệu gái mãi dâm hành nghề
trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), phòng tẩm quất (massage
parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị thành niên. Thành phố
New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các vấn đề liên quan đến mãi
dâm.
- 14.000.000 người nghiện rượu.
- Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù.
Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ
dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.
- Ở Trung Quốc [xứ vô thần] thì cứ
trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ [xứ hữu thần] là 686
người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.
- 50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi
đến ly dị.
- Từ 4% đến 10% dân chúng đồng tính
luyến ái.
- Tới nay đã có hơn 5000 linh mục Công
Giáo bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ, chưa kể số
Mục sư Tin Lành..
Có thể những người thờ thần, hay thờ Chúa cũng
vậy, muốn biết là một người vô thần có những cảm nghĩ gì? Tôi xin mượn vài
tư tưởng của Robert G. Ingersoll. Ingersoll là một nhà tư tưởng tự do nổi
tiếng nhất của Mỹ. Tên ông ta có trong lịch sử, trong tự điển. Những tư
tưởng của ông đều có trong các thư viện lớn và trên Internet. Tượng đài
tưởng niệm ghi công ông khai phóng đầu óc giới trẻ được xây ở Peoria, bang
Illinois. Ingersoll phát biểu như sau về cảm nghĩ của một người vô thần.
Tôi chỉ xin nêu ra vài tư tưởng trong đó:
“Khi tôi tin chắc rằng Vũ trụ là thiên nhiên –
và rằng những thánh ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại, thì
những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải thoát đã xâm
nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt máu trong người
tôi. Những bức tường của cái nhà tù của tôi [Ki Tô Giáo] đã sụp đổ,
ngục tù tăm tối đã được tràn ngập ánh sáng, và tất cả những then cửa, chấn
song, gông cùm đã trở thành cát bụi. Tôi không còn là một tôi tớ hèn
mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Xin đọc trang nhà Mucsu.net:
Người Ki Tô Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ hèn hạ, là người hầu việc Chúa
v..v.. ) Tôi đã tự do:
- tự do suy tư, phát biểu tư tưởng
- tự do sống theo ý tưởng của tôi
- tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác
quan của tôi
- tự do tìm hiểu
- tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và
độc ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dã man đã tạo ra chúng và mọi
truyền thuyết man rợ của quá khứ
- tự do thoát khỏi những giáo hoàng và
linh mục
- tự do thoát khỏi những sai lầm được
thánh hóa và những lời nói láo mang tính thánh
- tự do thoát khỏi sự sợ hãi về một sự
đau đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)
- tự do thoát khỏi những ma, quỉ và
thiên chúa.”
[8]
Để khai sáng cho Francis Dương biết ai là những người “vô thần”, không tin
vào cái gọi là “Ô ng Trời” hay “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của
Francia Dương, tôi xin liệt kê tên của một số nhỏ những nhân vật có tên tuổi
trên thế giới mà tôi cho là quen thuộc nhất đối với chúng ta, trong số 600
nhân vật (lẽ dĩ nhiên vẫn chưa đầy đủ) trong cuốn 2000 Years of
Disbelief: Famous People With The Courage To Doubt của James A. Haught,
(Prometheus Books, 1996), những nhân vật có thể xếp vào trong đoàn thể của
những người “vô thần”, theo thứ tự A, B, C. Chúng ta nên để ý là trong danh
sách này có những tên mà Francis Dương cho vào danh sách những người “hữu
thần” nhưng không hề ghi xuất xứ, những tên có gạch dưới:
Lord Acton - John Adams - Ethan Allen - Steve Allen –
Aristotle - Isaac Asimov - Sir Francis Bacon - Honoré de Balzac - Charles
Baudelaire - Simone de Beauvoir - Ludwig van Beethoven - Hector
Berlioz - Georges Bizet - Charles Bradlaugh - Johannes Brahms - Benjamin
Britten - Giordano Bruno - Pearl Buck - Albert Camus - Andrew Carnegie -
Marcus Tullius Cicero - Auguste Comte – Confucius - Nicolaus Copernicus
- Clarence Darrow - Charles Darwin - Claude Debussy - Daniel Defoe –
Demosthenes - Charles Dickens - Denis Diderot – Diogenes - Alexandre Dumas -
Will Durant - Thomas Edison - Albert Einstein - George Eliot -
Albert Ellis – Empedocles – Euripides - William Faulkner - Richard P.
Feynman - Gustave Flaubert - Antony Flew - George William Foote - Anatole
France - Benjamin Franklin - Sigmund Freud - Galileli Galileo -
Indira Gandhi - Mohandas Gandhi - Giuseppe Garibaldi - Edward Gibbon - André
Gide - Johann Wolfang von Geothe - Thomas Hardy - Stephen Hawking -
Joseph Haydn - George W. F. Hegel - Martin Heidegger - Fred Hoyle - Victor
Hugo - David Hume - Aldous Huxley - Robert G. Ingersoll - Thomas Jefferson -
James Joyce - Franz Kafka - Immanuel Kant - Johannes Kepler - Jean de
la Bruyère - Pierre Simon de Laplace - William E. H. Lecky - Abraham
Lincoln - John Locke - James Madison - Karl Marx - Jules Massenet - Somerset
Maugham - Guy de Maupassant - Henry Louis Mencken - Michel de Montaigne -
Baron de Montesquieu - Wolfang Amadeus Mozart - Jawaharlal Nehru - Friedrich
Nietzsche - Madalyn Murray O’Hair - Thomas Paine - Pablo Picasso - Max
Planck - Marcel Proust - Jules Renard - Eleanor Roosevelt - Theodore
Roosevelt - Jean-Jacques Rousseau - Carl Sagan - George Sand - George
Santayana - Jean Paul Sartre - Arthur Schlesinger - William Shakespeare
- Adam Smith – Socrates - Baruch Spinoza - Richard Strauss - Leo Tolstoy
- Mark Twain – Voltaire - George Washington - Daniel Webster - H. G. Wells –
Zeno - Émile Zola.
Danh sách nầy được tác giả James A. Haught chọn lựa
theo tiêu chuẫn là “những người thông minh, có học, có khuynh hướng phê
phán [những hiện tượng] siêu nhiên và những điều gọi là sự thật được hiễn lộ
của tôn giáo. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi tìm thấy [trong danh
sách nầy] tên tuổi một số lớn những người hoài nghi và vô tín ngưỡng trong
số những nhà phát minh, khoa học gia, nhà văn, nhà cải cách xã hội và những
nhân vật làm đổi thay thế giới trọng đại của chúng ta - những người thường
được gọi là vĩ nhân. Sự tiến bộ của văn minh Tây phương đã phần nào là một
câu chuyện về chiến thắng từ từ những áp bức của tôn giáo, và những người
nghi ngờ kiệt xuất nầy là những vị đàn ông cũng như phụ nữ đã không cầu
nguyện, đã không quỳ trước các bàn thờ, đã không hành hương, và đã không đọc
kinh nguyện. Cuốn sách nầy là một cuốn sách trích dẫn tổng hợp những lời
phát biểu của các “vĩ nhân” cả Đông lẫn Tây, từ cổ đại cho đến hiện đại…”
[9]
Chú thích:
[1] Either there is a god, multiple gods, or none.
Either there is such a thing called the human soul or there isn’t,
and, if there is, it either can or cannot survive the death of the
body. Either Jesus Christ, if he existed, was the son of God or he
wasn’t. Either Mohammed, if he existed, was God’sprophet or he
wasn’t.
That the essential doctrines of
many of the world’s major religions – especially Christianity,
Judaism, and Islam – are matters of truth or falsity is
itself a fact around which no amount of sophistry or special
pleading can get. Unfortunately for them, evidence has been steady
accumulated for at least the last half-millenium to suggest that
these doctrine are false
[2] The root of the (Catholic) Church’s antipathy
toward Communism is its realization that Communism is, in effect, a
rival religion.
[3]
At a special synod in 1999, the bishops of
Europe declared that the peoples of the entire continent had decided
to live “as though God did not exist”.
[4] ROME (Reuters, July 27, 2005) - Mainstream
churches in the West appear to be dying as societies that are
increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in
comments published on Wednesday.
[5] It is different in the Western world, a world
which is tired of its own culture, a world which is at the point
where there’s no longer evidence for a need of God, even less of
Christ," he told a meeting of clergy in the Italian Alps.
"The
so-called traditional churches look like they are dying," he said,
according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.
[6] S.T. Joshi, God’s Defenders: What They
Believe and Why They Are Wrong, Prometheus Books, New York,
2003, p. 12: The dominant question thus becomes not why religion
has not died away but why it continues to persist in the face of
monumental evidence to the contrary. To my mind, the answer can be
summed up in one straightforward sentence: People are stupid.
[7]
During my lifetime I have progressed from
being a “believer,” to being an agnostic and now an atheist. I use
the word “progress” because I believe it to be true progress to go
from blind acceptance of an outdated illogical mythology to doubt
and finally to denial and disbelief...
The myth itself – the Judeo-Christian
Bible – is a shocking account of bloodshed, lust, and bigoted
disregard for the lives and well-being of all peoples who do not
profess a blind belief in the precepts presented in such impossible
and contradictory terms.
[8] When I became convinced that the Universe is natural
– that all the ghosts and gods are myths, there entered into my
brain, into my soul, into every drop of my blood, the sense, the
feeling, the joy of freedom. The walls of my prison crumbled and
fell, the dungeon was flooded with light and all the bolts, and
bars, and manacles became dust. I was no longer a servant, a serf,
or a slave...I was free
- free to think, to express my
thoughts
- free to live to my own ideal
- free to use all my faculties, all
my senses
- free to investigate
- free to reject all ignorant and
cruel creeds, all the “inspired” books that savages have produced,
and all the barbarous legends of the past
- free from popes and priests
- free from sanctified mistakes and
holy lies
- free from the fear of eternal
pain
- free from devils, ghosts and gods
[9]
Intelligent, educated people tend to be
critical of the supernatural and the so-called revealed truths of
religion. So it is hardly surprising to find a great number of
skeptics and unbelievers among our major inventors, scientists,
writers, social reformers, and other world changers - people usually
termed great. The advance of Western civilization has been partly a
story of the gradual victory over religious oppression, and these
brilliant doubters were men and women who didn't pray, didn't kneel
at altars, didn't make pilgrimages, and didn't recite creeds.
2,000 years of Disbelief is a book of
quotes that brings together the words of the "greats" of both East
and West, from antiquity to the present. Included in this stirring
collection are such renowned skeptics as Epicurus, Voltaire, Arthur
Schopenhauer, Mark Twain, and Bertrand Russell. But also represented
are many whose skepticism is not so well known, and who are for this
reason regarded by churchmen and others as conventional believers.
Notable among these are many U.S. presidents. Thus we learn, for
example, that George Washington had no belief in Christianity and
that Abraham Lincoln never joined a church. 2,000 Years of
Disbelief is an anthology not only of outstanding philosophers,
scientists, and poets, but also of figures in the arts and
entertainment as well as prominent scholars and politicians.
Arranged chronologically for ease of
reference, with each chapter devoted to a particular figure or
period, this witty, insightful collection reveals the extent to
which the most renowned people in all areas expressed, both publicly
and privately, their courage to doubt, often in the face of great
personal risk. A delight to read as well a a valuable sourcebook, 2,000 Years of Disbelief provides a powerful weapon against
religious conformists, dogmatists, and others who would roll back
the clock on the teaching of evolution and who are working to tear
down the wall of separation between church and state. Others
included in this outstanding collection are: Omar Khayyam, William
Shakespeare, Thomas Hobbes, Benjamin Franklin, Mary Wollstonecraft,
Charles Darwin, Elizabeth Cady Stanton, Thomas Edison, Albert
Einstein, W. E. B. Du Bois, Ayn Rand, Langston Hughes, Steve Allen,
Elie Wiesel, Gloria Steinem, Albert Gore, and many others.
[Source:
http://www.ebscobooks.com/books/ProductDetails.asp?CatalogID=59093]
Các đề tài về Ông Trời trong sachhiem.net:
-"Ông Trời" Không Quen Biết "Thượng Đế"! (Trần Chung Ngọc)
- Quan niệm “Ông Trời” của người Việt của cụ Charlie Nguyễn,
- Nhân Chuyện Khám Phá Có Jehovah Trong Ca Dao Việt của Thiên Lôi
- Nhân đọc “Ông Trời trong thi ca Việt-Nam" (Sơn Dã Bần Phu)
- “Lập lờ đánh lận”… ông trời! (Minh Thạnh)
Các bài tôn giáo cùng tác giả