|
LTS: Sách Hiếm nhận được bài viết dưới đây trong hồ sơ mang tên: "Làm Thầy Kẻ Ngu", nhưng tựa bài là "Phụ Đạo Các Thầy". Ngoại trừ một vài đoạn dài được phân chia cho ngắn lại để người đọc dễ theo dõi, sách hiếm xin được đăng nguyên văn để giữ trọn cá tính, phong thái, và cảm giác của người viết. Các bài viết của các tác giả liên hệ được liệt kê như sau:
bài của Trần Chung Ngọc, nhan đề
"Vấn Đề Đạo Đức Trong Khoa Học [Nhân Đọc Những Bài Viết Về Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh]",
bài của Nguyễn Tường Tâm, nhan đề
"Một bài viết thiếu tiêu
chuẩn khoa học của ông Trần Chung Ngọc".
bài phản hồi của tác giả Trần Chung Ngọc, nhan đề:
"Vài Nhận Xét Về Bài: Một bài viết thiếu tiêu chuẩn khoa học của ông Trần Chung Ngọc- Của Nguyễn Tường Tâm"
bài của Lý Thái Xuân, nhan đề:
"Cảm nghĩ sau bài "Một bài viết thiếu tiêu chuẩn ..." của ông Nguyễn Tường Tâm."
bài ông Trần Vinh, nhan đề:"Bài góp ý về Chính trị và tôn giáo"
bài ông Chu Tấn, nhan đề:
"NHẬN ĐỊNH VỀ 2 BÀI: NHỮNG ĐỀ NGHỊ ĐÓNG GÓP SẢN PHẨM TRÍ TUỆ CỦA ÔNG NGUYỄN ANH TUẤN VÀ BÀI GÓP Ý CỦA ÔNG TRẦN VINH"
Sachhiem.net không có bản điện tử của bài "Những Đề Nghị Đóng Góp Sản Phẩm Trí Tuệ Cho Tuyển Tập Số 2" của ông Nguyễn Anh Tuấn, nhưng tất cả tinh thần của bài viết cũng như các chi tiết quan trọng đều được lập lại trong bài của ông Chu Tấn.
(Sách hiếm)
Kính gởi nhà sách
SÁCH HIẾM,
Kinh nhờ nhà sách
chuyển bài viết này đến các độc giả, đặc biệt tới các vị được Mục Đồng tôi
mạn phép nêu tên : Các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Tường Tâm, Nguyễn Anh
Tuấn, Trần Vinh, Chu Tấn, Lý Thái Xuân. Chân thành cảm ơn nhà sách SÁCH
HIẾM.
Bài viết gồm các
phần như sau:
I. Duyên khởi của bài
viết.
II. Tổng bình của Mục
Đồng và các cháu học sinh cấp hai (Trung học Đệ nhất cấp)
III. Phân tích não trạng của
người Việt Nam tin theo văn hóa Thánh kinh.
IV. Cải tạo não trạng từ logic
nhị nguyên qua logic tứ nguyên.
V. Phụ đạo cải tạo não trạng
của người Việt Nam tin theo Văn hóa Thánh kinh bằng phương pháp Xây Dựng
Kiến Thức (Constructivism).
A. Người được phụ đạo : Ông
Nguyễn Tường Tâm.
B. Người được phụ đạo : Ông
Nguyễn Anh Tuấn.
C. Bài phụ đạo cuối cùng : Tìm
về dân tộc.
(Mục Đồng)
I. DUYÊN KHỞI CỦA BÀI
VIẾT :
Mục Đồng tôi đang cùng
các cháu học sinh-chăn trâu ngồi hóng mát tại một vùng quê thanh bình của
nước Việt Nam, thì cháu A hớt hơ hớt hải chạy ào tới, nói chú Mục Đông và
các bạn không nghe gì sao? Chúng tôi đều ngơ ngác thì cháu A nói “chưởng
phong” ầm ầm như thế mà không biết không xem thì phí cuộc đời quá. Làm sao
xem? Có mắt thần của Tề Thiên đây. Thế là chúng tôi xúm nhau dán mắt vào
xem.
Quả thật là ngoạn mục! Nguyên là hảo hán Trần Chung Ngọc ở bên Mỹ dùng
chưởng phong đánh ra với ý định tẩy sạch “mùi tâng bốc” mà hảo hán cho là làm
ô nhiểm bầu không khí trong lành của văn hóa Việt Nam, do một số người “thả
ra” nhân cái việc bà Dương Ánh Nguyệt được các giới chứ Mỹ vinh danh vì đã
chế ra bom áp nhiệt giúp cho nước Mỹ thêm hùng cường.
Võ sĩ Nguyễn Tường Tâm
ở đâu bên Đức liền nhảy lên võ đài phóng chưởng chống lại hảo hán Trần Chung
Ngọc, cốt muốn giữ cái “mùi ấy” lại cho dân Việt Nam hít, chê ông Ngọc dốt,
chưa biết múa bài quyền cơ bản là” làm bài luận như thế nào”, chỉ là “cáo
mượn oai hùm”. Nhưng võ sĩ Nguyễn Tường Tâm có lòng bác ái mênh mông, cho
nên giận thì giân mà thương thì vẫn thương, bèn dạy miễn phí cho hảo hán
Ngoc cách múa bài quyền cơ bản ấy, rồi lại tặng cho đệ tử Ngọc hai món quà
nữa! Tất nhiên hảo hán Trần Chung Ngọc buộc phải tiếp các chiêu của sư phụ
Nguyễn Tường Tâm.
Trong khi đó một đại cao thủ trong phái Thánh chiến là võ
sĩ Nguyễn Anh Tuấn trình làng cho giới giang hồ một bài quyền “Sản Phẩm Trí
Tuệ” dưới hình thức một “hiệu triệu gởi toàn thể từ sĩ phu cho tới người dân
cày Việt Nam ở trong và ngoài nước “ kêu gọi mở cuộc Thánh chiến đánh Cộng
sản Việt Nam. Một hảo hán là ông Trần Vinh đang rong chơi, bỗng nhận được
“hiêu triêu” liền tung một chưởng , cốt “chỉnh” cái “thần khí” trong bài
quyền của cao thủ Nguyễn Anh Tuấn, cho là chớ nên xài cái tên Thanh chiến vì
nó xấu xa, và như vậy là “thất nhân tâm”.
Thế là một cao thủ khác, chắc là
chiến hữu của đại cao thủ Nguyễn Anh Tuấn là ông Chu Tấn nhảy lên võ đài
bênh vực ông Nguyễn AnhTuấn mà đánh ra mấy chường chống lại hảo hán Trần
Vinh, và rồi không quên tặng quà cho đối thủ Trần Vinh trước khi nhảy khỏi
võ đài.
Rồi một hảo hán khác là ông Lý Thái Xuân đang đi hóng mát, thình
lình gặp phải chưởng phong của võ sĩ Nguyễn Tường Tâm đánh hảo hán Trần
Chung Ngọc, cho nên nhảy ra nghênh chiến.
Chưởng phong của 6 vị ấy là cơ
duyên, chất liệu giúp cho bài viết này được hình thành.
II. TỔNG BÌNH CỦA MỤC
ĐỒNG và CÁC CHÁU HỌC SINH CẤP HAI.
Mục Đồng : Chưởng
phong của các ông Nguyễn Tường Tâm, Nguyễn Anh Tuấn, Chu Tấn thoạt trông thì
thấy rất là bạo liệt, nhưng xem ra thì nôi công chưa thâm hậu, lại có vẻ
khinh địch, nóng nảy, háo thắng, chưa biết thực lực của đối thủ mà dám liều
mạng đánh phủ đầu, cho nên rất dễ bị hở sườn, hở lưng, hở ngực và đặc biệt
là hở cả đầu; trong khi chưởng của các ông Trần Vinh, Lý Thái Xuân thiên về
nhu hơn cương, kín đáo, không dám khinh địch, chỉ xuất chiêu khi chắc ăn.
Ông Lý Thái Xuân thủ quá kỹ, sau khi đã triển khai hết hệ thống chưởng, đã
nhảy khỏi võ đài rồi. lại nhảy lên ân cần dặn dò nhắn nhũ ông Nguyễn Tường
Tâm rồi mới tạm biệt. Riêng ông Trần Chung Ngọc thì coi bộ công lưc quá thâm
hậu, nên không cần né tránh, địch ra chiêu nào thì cũng không ngán, vừa hóa
giải vừa cứ nhè đầu đối thủ mà “chưởng” ! vừa cười ha hả :”no star, no star!
Chắc ý ông là làm cho đối phương long óc mà xin quy hàng! Trận thư hùng quá
ngoạn mục khiến Mục Đồng tôi và các cháu hoc sinh-chăn trâu được một phen mở
rộng tầm mắt, học hỏi được nhiều điều vô cùng bổ ích.
Có nhiều chưởng rất
thú vị, chúng tôi vừa xem vừa bàn luận để cả đám được hiểu rõ hơn. Nhưng
trình độ của chúng ta rất có hạn nên chăc chắn có nhiều “chưởng” chúng ta
chưa hiểu , nên Mục Đồng tôi sẽ viết lại cuộc nói chuyện của chúng ta để nhờ
nhà sách SÁCH HIẾM hỏi lại các hảo hán và võ sĩ.
Cháu A: Chú phải
hết sức cẩn thận, viết lại cuộc nói chuyện cả chúng ta cần phải đầy đủ cả ba
phần :đầu, bụng ,và đ. …đuôi, chứ không thì ông Nguyễn Tường Tâm chê chúng
ta là dốt như đã chê ông Trần Chung Ngọc, rồi kêu chúng ta lại mà dạy thì
nguy vì chỉ riêng chú rảnh để học, chứ bọn cháu cũng đã học với cô giáo ở
trường rồi, mà học thêm với ông Nguyễn Tường Tâm nữa thì hết thì giờ, hơn
nữa chúng cháu lại còn cần thì giờ để chăn trâu nữa!
Chăn B : mày chớ nói
dại, được “sư phụ” Nguyễn Tường Tâm ở đâu bên nước Đức mà dạy thì tuyệt cú
mèo, không tin mày hỏi chú Mục Đồng thì biết ngay!
Mục Đồng : cháu B nói
có lý lắm, “qua “ thấy ông Nguyễn Tường Tâm ở bên Đức gọi ông Trần Chung
Ngọc ở bên Mỹ ra mà chê ông Ngọc dốt, chưa biết làm luân văn mà dám làm liều
đem trình làng. Nhưng vì ông Nguyễn Tường Tâm vốn có sẵn lòng bác ái mênh
mông nên chê xong thì bèn thương ông Ngọc, sơ ông Ngọc lạc bầy mà Chúa phạt,
nên “lung khởi” dạy từ xa, miễn phí! cho ông Trần Chung Ngọc. Không những
dạy miễn phí mà còn tặng quà cho học trò-Trần Chung Ngọc nữa!
Cháu C: hoan hô lòng
bác ái của thầy Nguyễn Tường Tâm!
Cháu A : Vậy nhờ chú
Mục Đồng mời dùm Ông Nguyễn Tường Tâm về Việt Nam dạy cho cháu với vì vừa
được học miễn phí mà vừa được thầy tặng quà nữa.
Cháu B : Thôi mày ơi!
Chớ có mời thầy Nguyễn Tường Tâm về đây dạy, vì ông luôn luôn thủ sẵn quả
bom áp nhiệt của khoa học gia Dương Ánh Nguyệt, lỡ mày không tinh thông lời
thầy dạy theo Kinh thánh thì thầy thả quả bom ấy ra, thì mày chết đã đành,
còn tao và bao nhiêu người khác nữa cũng chết theo thì oan quá!
Cháu C : Mầy không mời
thầy Nguyễn Tường Tâm cũng về!
Cháu A : Sao mầy biết ?
Cháu C : Chuyện quá rõ
ràng mà mày tối dạ không hiểu ! Xem chưởng của ông Nguyễn Anh Tuấn, và ông
Chu Tấn mà không học được gì cả! Ông Tuấn đang chuẩn bị mở một cuộc Thánh
Chiến để đánh tiêu diệt Cộng Sản Việt Nam, thì chắc chắn là ông Chu Tấn và
thầy Nguyễn Tường Tâm sẽ là trong số những vị nguyên soái cầm quân cùng ông
Nguyễn Anh Tuấn đổ bộ vào Việt Nam!
Cháu A : Thì ra là thế!
tao u mê quá nên không nhận ra được!
Mục Đồng : Thôi thôi,
các cháu chớ có “lung khởi”, cần phải tập trung, hạn chế phạm vi đề tài như
lời dạy của thầy Nguyễn Tường Tâm. Hãy từ từ các cháu ạ, để chú kể tiếp cái
đã, rồi hãy hoan hô, hãy mời sau cũng chưa muộn. Cái lạ trong việc dạy này
là ở chỗ, sư phụ-Nguyễn Tường Tâm chỉ mới dạy từ xa độ vài phút vào tháng 10
năm 2007, mà học tro- Trần Chung Ngọc áp dụng lại hoàn thành được luận án
Tiến sĩ về Vật lý vào năm 1972 tại một Đại học ở Mỹ! nghĩa là hoàn thành
trước được 35 năm!
Cháu A : Trời đất ới
! Có thiệt không? Làm gì có cái chuyện nhờ học sư phụ _ Nguyễn Tường Tâm mà
học trò- Trần Chung Ngoc không những hoàn thành xuất sắc luận án mà còn hoàn
thành trước khi học 35 năm lận!
Mục Đồng : “qua” có
nói sai đâu ! Ông Ngọc đậu Tiến sĩ năm 1972 tại Đại học Wisconsin thì nhà
trường có ghi lại đầy đủ thông tin, và qua nói cũng không sai cái chuyện ông
Nguyễn Tường Tâm mới dạy ông Trần Chung Ngọc cách làm luân văn trong tháng
10 năm 2007 này mà!
Cháu B: như vậy là
ông Nguyễn Tường Tâm quá giỏi! Xin chú Mục Đồng gởi thư hỏi ông Tâm xem thử
ông học ở đau ra, đậu bằng cấp gì mà giỏi đến vậy, nói rõ cho mọi người biết
để học theo. Với lòng bác ái sẵn có, chắc chắn ông Tâm không dấu đâu!
Mục Đồng : ừ, để qua
nhờ SÁCH HIẾM hỏi !
Cháu C: Chắc là ông
Nguyễn Tường Tâm có phép lạ!
Cháu A: À, đúng rồi
ông Tâm có phép lạ!
Mục Đồng : sao cháu
biết chắc như vậy ?
Cháu B: chắc nó nghi
ông Tâm học phép lạ trong Thánh kinh của ông! Mới thần tình như thế!
Cháu C: Như vậy chắc
là ông Trần Chung Ngọc cám ơn ông Nguyễn Tường Tâm nhiều lắm!
Cháu A : Tất nhiên
rồi, Còn phải nói! Được lợi đủ thứ , chưa kể tới quà nữa!
Cháu B : Quà gì vậy
chú Mục Đồng ?
Mục Đồng : Nghe nói
khi ông Trần Chung Ngọc mở gói quà ra thì thấy hai cái mũ để ông Ngọc đội
cho ấm đầu trong mùa đông ở Mỹ !
Cháu C: Chắc hai cái
mũ do sư phu- Nguyễn Tường Tâm mà tặng cho học trò- Trần Chung Ngọc yêu quý
thì tuyệt đẹp và giá phải cao lắm!
Mục Đồng : Còn phải
nói ! việc tặng quà này là nghề của sư phụ- Nguyễn Tường Tâm và các võ sị
như ông Chu Tấn! Hai cái mũ nầy ông Nguyễn Tường Tâm lấy mô hình từ thời
Trung cổ, chính xác là từ sau năm 1232 là năm mà ngài Giáo hoàng Gregory ra
lệnh lập Tòa án dị giáo xử tội tất cả những ai không tin vào những điều đạo
Thiên chúa răn dạy. Loại tòa án này kéo dài trong 6 thế kỷ, đã giết hại
không biết bao nhiêu người vô tội trong đó có cả những nhà bác học lỗi lạc
của nhân loại, điển hình là nhà Thiên văn người Ý tên là Galileo, chỉ vì ông
Galileo nhất định bênh vực cái thuyết của ông Copernicus cho là trái đất của
chúng ta quay quanh mặt trời, trong khi Giáo hội Thiên Chúa bắt mọi người
phải tin theo Giáo gội là quả đất đứng yên, là trung tâm của vũ trụ, mặt
trời và tất cả các vì sao đều quay quanh quả đất! Nguyên ông Copernicus làm
ra thuyết này vào khoảng năm 1514, nhưng ông không dám công bố vì ông biết
chắc chắn nếu ông công bố ra thì Tòa án Dị giáo của Giáo Hội Thiên chúa sẽ
xử tử ông bằng cách treo cổ hay thiêu sống. Mãi cho đến năm 1542, với sự
khuyến khích và giúp đở của nhà toán học Rhetikus, thì ngày 24 tháng 5 năm
1543 tác phẩm De Revolutionibus trong đó Copernicus trình bày toàn bộ công
trình của ông được in xong, ông Rhetikus đem đến và ông Copernicus sung
sướng mà chết sau đó vài giờ trong khi tay ông đang cầm tâp sách này. Đó là
cái hạnh phúc rất lớn và là cái may cho ông Copernicus do ông chết vì bệnh,
nếu không thì sẽ chết thê thảm bởi Giáo hội Thiên chúa giáo. Nhưng ông
Galileo thì nhất quyết bênh vưc thuyết trái đất quay quanh mặt trời của ông
Copernicus, cho nên ông bị Tòa án dị giáo lôi ra xử. Để khỏi bị tử hình, ông
phải miễn cưỡng thừa nhận trước Tòa án dị giáo là trái đất nằm im, nhưng
miêng ông vẫn lẩm bâm : “nhưng nó ..nó.. vẫn cứ ..cứ chuyển… động” ! Do đó
ông bị Giáo hoàng Urban VIII ra lệnh giam cầm nhưng được miễn tra tấn, và
ông bị giam cho đến khi chết vào năm 1642! ,
Cháu A : vô lý, chắc
chú Mục Đồng nói xấu Thiên chúa giáo, chứ như bọn cháu mới đang học cấp hai
mà cũng đã biết về thái dương hệ, về sự vận hành của mọi hành tinh, nhờ vậy
mà các nhà khoa học đã tính toán chính xác quỹ đạo của các phi thuyền không
gian, cụ thể là Spunik của Nga đã đáp xuống mặt trăng năm 1959, và và phi
thuyền Apolo đã đưa hai phi hành gia của Mỹ đã đổ bộ xuống mặt trăng, lấy
mẫu đất đá đem về quả địa cầu chúng ta từ mấy chục năm trước, và hiện nay
các phi hành gia vũ trụ của cả Mỹ , Nga và một số nước đang làm việc tên
trạm không gian mà! Huống hồ là bên Thiên chúa giáo có rất nhiều trí thức
lừng danh, cở “tầm tầm” như ông Nguyễn Tường Tâm mà còn dạy được ông Tiến sĩ
Trần Chung Ngọc, nói chi đến cở “siêu “ như ông Nguyễn Anh Tuấn nào đó thì
tất nhiên coi ông Marx là chỉ là tên học trò hạng bét ! Vậy họ không biết
hơn bọn học trò-chăn trâu cháu hay sao? Rõ ràng là chú nói xấu, vu cáo Thiên
chúa giáo!
Mục Đồng : Á, cháu
chớ có nóng nảy! Cháu mới xem qua mấy chưởng của ông Nguyễn Tường Tâm và của
ông Chu Tấn mà đã thấm nhuần rồi đó! Thiệt là hậu sinh khả úy!
Cháu B : Nó thấm
nhuần cái gì hở chú?
Mục Đồng : Để từ từ
“qua” nói. Cháu A đã học được cách tặng quà của ông Nguyễn Tường Tâm cho ông
Trần Chung Ngọc, và của ông Chu Tấn cho ông Trần Vinh rồi đó! Chẳng là “qua”
đã nói món quà thứ nhất mà ông Nguyễn Tường Tâm tặng ông Trần Chung Ngọc là
một cái mũ lấy mô hình và chất liệu của Tòa án di giáo thời trung cổ và trên
đó ông Nguyễn Tường Tâm có thuê thợ thêu chuyên nghiệp thêu một hàng chữ
tuyệt đẹp là : NÓI XẤU THIÊN CHÚA GIÁO.
Cháu C: Té ra
là thế! Còn món quà thứ hai thì sao?
Mục Đồng : Cũng là một cái
mũ lấy mô hình và chất liệu như cái mũ thứ nhất, nhưng ông Nguyễn Tường Tâm
có cải biên đi một chút bằng cách nhờ thợ thêu chuyên nghiệp thêu một hàng
chữ bằng vàng : MỘT TÊN CỘNG SẢN. Còn quà của ông Chu Tấn tặng cho ông Trần
Vinh thì là thuộc loại hang nhái lại mẫu mã món quà thứ hai của ông Nguyễn
Tường Tâm !.
Cháu B: Ôi chu choa! Rứa ông
Trần Chung Ngọc có đội hai cái mũ đó để cho ấm đầu trong khung cảnh đầy
sương tuyết của xứ Mỹ không ?
Mục Đồng : Tất nhiên là ông
Trần Chung Ngọc phải cảm ơn ông Nguyễn Tường Tâm vì lòng bác ái rộng hơn
Thái Bình Dương của ông Tâm. Nhưng ông Ngọc có thưa lại với sư phụ- Tâm là
sư phụ hơi… hơi thiếu… thiếu tế…tế nhị …nhị của người Á đông! ở chỗ là trước
khi tặng quà, cần xem thử quà của mình có phải là cái mà người nhận chưa có
hay đã có. Nếu chưa có thì dù quà rất ít giá trị thì cũng rất có ý nghĩa và
giá trị, trái lại nếu quà mà nhà người ta đã có hàng đống, bỏ lăng bỏ lóc,
thì quà ấy trở nên vô giá trị dù mẫu mã, chất liệu quý hiếm như từ thời
trung cổ còn lại! Cho nên ông Trần Chung Ngọc mới cho là ông Nguyễn Tường
Tâm “ hơi chậm chân” bởi vì các “đối tác làm ăn” với ông Trần Chung Ngọc đã
nhanh chân hơn, họ đã tặng cho ông cả một chồng mũ như thế vì họ cũng thương
ông Ngọc, sợ ổng lạnh đầu! Ông Ngọc có muốn đội hai cái mũ của ông Tâm tặng
cũng không còn đầu ở đâu mà đội! Nhưng ông Ngọc cũng tỏ ra lịch sự là vui vẻ
nhận quà, cứ để đó “không sao”! Nhưng sợ ông Tâm vì ra nước ngoài lâu không
rành không hiểu tiếng Việt cho nên ông Ngọc mới dich ra tiếng Anh là “no
star” cho ông Tâm dễ hiểu!
Cháu C : Té ra là thế! Nhưng
cháu xin “chỉnh” bác Ngoc một chút xíu để các ngài như ông Tâm dễ hiểu hơn.
Các ngài ấy ấy dù có quên tiếng Việt, quên nguồn gốc, quên tổ tiên, quên đất
nước, quên chi thì quên, nhưng chắc chắn không quên cái câu mà “chị em ta”
đã dùng khi người Mỹ còn rất nhiều ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, đó
là “no star where”. Bác Ngọc cũng ra nước ngoài lâu quá nên quên mất làm
thiếu chữ “where”! khiến cho ông Tâm khó hiểu hơn!
Mục Đồng : quả là hậu sinh
khả úy! Nhưng để chú triển khai cho hết các ý của câu nói trên kia của cháu
B, chứ không thì ông Tâm nói chúng ta không đi đúng nội dung! Hãy nghe đây
các cháu : người có chút chữ nghĩa cở từ các cháu trở lên nên tách rõ giữa
sự thật lịch sử và niềm tin, nghĩa là cái gì đã xảy ra trong lịch sử thì
phải nhận là sự thật, không vì niềm tin mù quáng mà cho rằng sự kiện ấy là
sai, là nói xấu! Nói lên sự thật lịch sử để răn dạy con người đừng tái phạm
tôi ác trong quá khứ thì không phải là nói xấu mà đó là làm điều thiện. Có
rất nhiều sự thật, qua chỉ kể sơ 3 sự thật lịch sử sau đây :
Giáo hội Thiên
chúa giáo đã ra lệnh cho quân lính các nước Âu châu tiến hành 7 cuộc chiến
tranh mà họ gọi là Thánh chiến ( Crusade hay Holy War) trong 196 năm từ năm
1095 đến năm 1291 tại các nước Hồi giáo miền Trung đông, giết hại khoảng 3
triệu người vô tôi một cách rất dã man, phá hủy hết mọi di sản văn hóa của
các dân tộc mà không theo Thiên chúa giáo.
Riêng ở nước Việt Nam ta thì các
cha cố đạo và giáo dân đã từng giúp cho thực dân Pháp đánh chiếm nước ta,
bắt dân tộc ta làm nô lệ cho thực dân Pháp trong khoảng 100 năm từ hạ bán
thế kỷ 19 đến 1954. Cho tới ngày 2 tháng 3 năm 2000, ở Mỹ đã có 4.392 Linh
mục bị truy tố ra tòa vì tôi dâm dục với con chiên, mà tổng số tiền bồi
thường thiệt hại cho các nạn nhân lên tới mấy tỉ đô la và hiện nay một số cơ
sở của Giáo hội ở Mỹ như Tu viện hay trường học phải bị bán đi để lấy tiền
bồi thường thiệt hai xâm phạm tình dục. Đó là những sự thật lịch sử không
thể chối cải được. Nhưng Giáo hội Thiên chúa trong suốt chiều dài lịch sử
của mình đã buộc giáo dân phải tin lời phán dạy của chúa trong Thánh kinh,
của các cha cố, chứ không được tin vào sự thật, khoa học.
Nhưng cái thú vị
là khoa học càng tiến bộ, càng chứng minh được các điều do chúa phán, các
cha cố phán là sai thì Giáo hội càng bị lung túng và tất nhiên là họ phải
dùng quyền lực để đán áp, chẳng hạn Đại học Paris bị cấm dạy môn triết học
về khoa học tự nhiên của Aristotle từ năm 1215, nhà bác học Galileo bị bức
hại như các cháu đã biết. Thậm chí cho đến nay (năm 2007) mà thế lực của
Thiên chúa giáo và Tin lành ở Mỹ vẫn còn buộc hệ thống giáo dục trong nhiểu
bang của nước Mỹ không được giảng daỵ thuyết tiến hóa của Darwin, mà phải
dạy thuyết chúa sáng tao thế giới (creation). Nhưng khoa học cứ tiên bộ, và
ở Tây phương vẫn luôn có những nhà trí thức dù ở trong truyền thống Thiên
chúa giáo, họ vẫn can đảm chấp nhận sự thật, khoa học; cho nên hiện nay tầng
lớp trí thức phương Tây đã hầu như mất hết niềm tin vào Kinh thánh, vào lời
phán dạy của các bề trên, của cha cố. Hệ quả tất yếu của trào lưu tiến bộ
này đã khiến cho Tòa thánh Vatican, vào tháng 10 năm 1992 phải phục hồi danh
dự cho nhà bác học Galileo sau 350 năm đã hảm hại ông! Nhưng cái hệ quả mà
cả Thiên chúa giáo, và Tin lành sợ nhất là dân chúng Tây phương hiện đang bỏ
đạo càng ngày càng nhiều.
Thống kê cho biết, trong khoảng 10 năm từ 1990 đến
năm 2000, ở Mỹ, tốc độ bỏ đạo tăng lên 170%. Vì vậy mà chiến lược “đem ánh
sáng văn minh của Kinh thánh” để khai phá sự ngu dốt của loài người đã được
Thiên chúa giáo và Tin Lành chuyển hướng đến các vùng nghèo đói và thiếu học
ở Phi châu, Á châu, Nam Mỹ. Cụ thể ở nước Việt Nam ta là các vùng Cao
nguyên.
III. PHÂN TÍCH NÃO TRẠNG CỦA
NGUỜI VIỆT NAM TIN THEO VĂN HÓA THÁNH KINH.
Để hiểu rõ hơn tại sao
người tín đồ của Thiên chúa Giáo và Tin lành lại cuồng tín và mù quáng khiến
cho Thiên chúa Giáo đã không Công bình Bác ái mà trái lại đã tạo ra không
biết bao nhiêu điêu linh thống khổ và kìm hảm sư phát triển chân chính của
loài như lịch sử đã cho thấy, chúng ta nên phân tích sơ qua não trạng hay tư
duy logic của họ.
Họ bắt đầu với logic nhị
nguyên rất đơn giản như sau: Nếu A là đúng thì "Không A" là sai. Điều này các cháu
sẽ học trong chương trình Toán lớp10. Rồi họ được các cha cố đạo nhồi nhét
vào đầu là A ở đây chỉ là Kinh thánh, vậy Không A là những gì ngoài Kinh
thánh đều hoàn toàn sai, cần phải hủy diệt. Chẳng hạn họ tin như đinh đóng
cột rằng Thiên đường là nơi chỉ dành cho những tín đồ Thiên chúa và Tin lành
dù có làm ác bao nhiêu đi nữa, còn địa ngục thì dành cho tất cả nhưng ai
không tin vào Chúa của họ dù người đó có tốt bao nhiêu đi nữa.
Họ tin như
đinh đóng cột là chỉ có văn hóa Thiên chúa giáo, Tin lành mới là chân chính,
mới đáng lưu giữ và phát huy, còn mọi nền văn hóa khác đều cần phải hủy diệt
vì có thể khiến người ta không tin vào Chúa của họ. Họ tin như đinh đóng cột
là họ có “sứ mang cao cả” là đem “văn minh Kinh thánh” đến “khai phá sự ngu
dốt” của mọi người không hay chưa tin vào Chúa của họ. Cho nên đối với họ
thì Văn hóa truyền thống hơn 4000 năm của dân tôc Việt Nam ta là đồ bỏ, cần
phài hủy diệt để thay thế bằng Văn minh của Cựu ước và Tân ước, v.v….Cho nên
chúng ta không lạ gì trong “Hiệu triệu gởi toàn thể sĩ phu Việt Nam, gì gì
đó …” để chuẩn bị mở cuộc Thánh chiến đánh Cộng sản Việt Nam của ông Nguyễn
Anh Tuấn thì ông có nhấn mạnh đến việc Văn minh của Cựu ước và Tân ước là
đỉnh cao trí tuệ của nhân loại sẽ được “lòng bác ái của ông” ban cho dân
Viêt Nam sau khi thực hiện thành công cuôc Thánh chiến.
Nhưng như đã nói
trên, giới trí thức Tây phương luôn có những người rất sáng suốt, dù được
nuôi dưỡng trong cái não trạng nhị nguyên đơn giản nói trên của Văn hóa
Thánh kinh, ho vẫn có tư duy độc lập, can đảm bác bỏ những niềm tin u mê
phản khoa học. Chẳng hạn, ngay trong thời trung cổ, ông Wilhelm von Ockham
(1285-1349), là một nhà thông tháiThiên chúa giáo thuộc dòng tu Fanciscan,
đã cho rằng cần phải tách rời thần học khỏi triết học, tôn giáo khỏi khoa
học, cái tin khỏi cái biết; không ai có thể chứng minh Thượng đế là có thật.
Tất nhiên ông bị Giáo hoàng Johan XII thời bấy giờ đóng đô tại Avignon (miền
Nam nước Pháp) kêu về giải trình cái tư trưởng sai lầm của mình, ông bị truc
xuất khỏi Giáo hôi, bị xem là kẻ thù của Giáo hội và ông đã phải trốn chạy
để khỏi phải mất mạng. Còn thời đại ngày nay thì khỏi nói, có rất nhiều trí
thức phương Tây đã nhận ra sai lầm của văn hóa Thánh kinh và đã từ bỏ đạo.
Không những thế, mà có những người đã trở thành những nhà Phật học hàng đầu
thế giới như Giáo sư Tiến sĩ Edward Conze (1904-1979).
Nhưng giới trí thức Công
giáo trong những nước chưa hay đang phát triển như Việt Nam, …thì lại không
có những người sáng suốt và can đảm như thế, được như ông Lý Chánh Trung bày
tỏ tâm tình trong Tìm Về Dân Tộc là đã quá hiếm rồi. Tại vì sao ? Bởi vì não
trạng của người trí thức Công giáo hay Tin Lành Việt Nam không những đã bị
đều kiện hóa bởi sự cuồng tín của văn hóa Thánh kinh như đã nói trên, mà còn
vì đa số vốn xuất thân từ các đặc quyền, đặc lợi so với tuyệt đại đa số dân
Việt Nam do truyền thống có công giúp ngọai bang đánh chiếm và đô hộ nước
ta. Với não trạng A là đúng thì Không A là sai. A với họ là “đặc quyền, đặc
lợi nhờ thế lưc của ngoại bang”, cho nên với họ tinh thần chống thực dân
Pháp, đế quốc Mỹ, v.v… là hoàn toàn sai, cần phải tiêu diệt!
Như thế não
trạng của giới trí thức Công giao và Tin Lành Viêt Nam đã bị hai cái niềng
kim cô kẹp cứng : Cái niềng “văn minh Kinh thánh, thi hành mọi chỉ thị của
Giáo hôi” và cái niềng “ đăc quyền, đặc lợi vì có công giúp ngoại bang đô hộ
Viêt Nam”, cho nên họ không thể có tư duy độc lập. Không có tư duy độc lập thì làm sao họ nhận ra chân
lý, và tất nhiên họ không thể có can đảm, không thể có dũng khí làm được
như các trí thức Tây phương.
Về cơ thể học, thần kinh học và tâm lý học thì
hai cái niềng kim cô này tạo thành hai bộ lọc chắn ngay trước cửa của 6 cơ
quan tiếp thu thông tin của họ, đó là mắt , tai , mũi , lưỡi, thân, và ý.
Thông tin nào thỏa điều kiện của hai niềng kim cô ấy thì mới được cho vào,
thông tin nào không thỏa thì bị bật ra. Chẳng hạn, mũi của họ chỉ ngữi được
những mùi “ đậm hương vị Thánh kinh” hoặc “đậm mùi đặc quyền, đặc lợi do
ngoại bang bố thí”. Óc của họ không bao giờ chứa những tư tưởng khác ngoài
tư tưởng được qua hai bộ lọc ấy, họ không thể có tư duy độc lập, nói cách
khác họ là những người nô lệ từ ngay trong tư tưởng.
Vì vậy, ông Trần Chung Ngọc ơi (và cả ông Lý Thái Xuân
nữa), ông không nên buồn, giận, bực mình, khi ông Nguyễn Tường Tâm
- cho rằng việc chế tạo bom áp nhiệt của bà Dương
Nguyệt Ánh giúp nước Mỹ thêm phương tiện làm bá chủ hoàn cầu,
(nếu cần thì đô hộ
Việt Nam) thì cũng "anh hùng" mà dân Việt Nam phải ghi công như ghi công anh
hùng của ông Trần Đại Nghĩa đã chế tạo SKZ, nhờ đó dân tôc Việt Nam mới tống
cổ được thực dân Pháp ra khỏi đất nước,
- chê ông chưa học qua cách làm bài
luận,
- chê ông kém hiểu biết, ông không thấy được tính
đúng đắn của buổi lễ vinh danh khoa học gia Dương Nguyệt Ánh vì có mấy người Mỹ quyền cao, chức trong, tai to mặt lớn, tóc bạc.... Với não trạng đã bị niềng bởi hai vòng
kim cô của ông Nguyễn Tường Tâm thì chỉ cần sự có mặt của mấy người Mỹ đó là
đã tuyệt đối đúng rồi!
- tặng ông hai cái mũ :NÓI XẤU THIÊN CHÚA
GIAO, CỘNG SẢN!.
Cũng như ông Trần Vinh không nên giận khi ông đã ôn tồn
khuyên răn ông Nguyễn Anh Tuấn là đừng nên dùng cái tên Thánh chiến vì từ
này gợi nhớ tới cái tôi ác của 7 cuộc Thánh chiến thời trung cổ và các vụ nổ
bom tự sát ngày nay, mà họ không những không biết ơn ông, mà ông Chu Tấn
lại còn mạ lỵ ông, và chụp mũ Cộng sãn lên đầu ông. Cũng chính vì não trạng
đã bị niềng nên mặc dầu ông Nguyễn Anh Tuấn đã bỏ công dùi mài kinh sử trên
20 năm mà vẫn phán một câu xanh dờn: Ông Marx chỉ là một tên học trò khờ
khạo.
Ông Ngọc chân chất thật thà quá, bèn cải lại với những chứng cớ không
chối cải được như viện dẫn các cuộc trưng cầu ý kiến của đài BBC về việc
đánh giá, xếp hạng tầm tư tưởng của ông Marx như là đỉnh cao trí tuệ của mọi
thời đại so với nhiều triết gia khác. Ông Trần Chung Ngọc ơi! Cách làm của
ông là cách làm nghiêm túc của giới khoa học, hàn lâm quá cũng như cách
khuyên nhủ nhẹ nhàng lịch sư của ông Trần Vinh, ông Lý Thái Xuân thì không
cách gì hai bộ lọc đã nói trên cho phép lý lẽ của các ông vào trí não của
các ông như Nguyễn Tường Tâm, Nguyễn Anh Tuấn, Chu Tấn được.
Các ông Ngọc, Vinh, Xuân
không nên chê trách các ông như Nguyễn Tường Tâm , Nguyễn Anh Tuấn, Chu Tấn
mà nên thương họ bởi lẽ họ chỉ là nạn nhân của hai cái niềng kim cô. Các ông
đã tìm cách giáo dục, giúp họ, và rất nên tiếp tục giáo dục họ như đức Khổng
Tử đã dạy :” Hối nhi bất quyện” để họ có cơ hội thoát khỏi hai cái vòng kim
cô ấy, để họ trở thành con người có tư duy độc lập, như thuở xưa , vượn
người bắt đầu từ biệt kiếp sống mông muội của loài đi bốn chân mà vươn lên
đi hai chân thành người homo-sapiens. Đó là nhiệm vụ vinh quang , cao cả của
người trí thức chân chính. Nhưng chúng tôi trách các ông đã chọn chưa
đúng “phương pháp giáo dục” khiến không những kém hiệu quả mà còn phản tác
dụng di hại thêm! Như tôi sẽ chứng minh dưới đây!
IV. CẢI TẠO NÃO TRẠNG TỪ
LOGIC NHỊ NGUYÊN QUA LOGIC TỨ NGUYÊN.
Các người mà ba ông Trần
Chung Ngọc, Trần Vinh và Lý Thái Xuân có nhã ý giáo dục, thì như đã trình
bày trên, não trạng của họ đã bị niềng bởi hai vòng kim cô, đã chứa đầy mệnh
lệnh của bề trên, không còn chỗ để chứa những điều các ông dạy theo phương
pháp truyền thống là “truyền thụ kiến thức”, ví như cái ly đã chứa đầy nước
cũ rồi, các vị có rốt thêm bao nhiêu nước mới cũng không có nước mới trong
ly được. Vậy cần phải dùng phương pháp giáo dục mới, mà hình tượng là trước
hết phải đục một cái lỗ dưới đáy ly, để cho nước cũ chảy ra hết cái đã, rồi
mới rót nước mới vào. Đục cái lỗ để cho nước cũ chảy ra hết ở đây là giải
phóng cho não trạng của họ thoát khỏi cái logic nhi nguyên : A là đúng thì
Không A là sai ; hay chỉ có một trong hai trường hợp sau đây xảy ra :
1. A là đúng
2. A là không đúng.
Rót nước mới vào ở đây là dạy cho họ logic tứ nguyên
(có thể một trong 4 trường hợp) sau đây:
1. A là đúng
2. A là không đúng
3. A vừa là đúng vừa
là không đúng
4. A vừa là không
đúng vừa là không không đúng.
Phương
pháp giáo dục mới ở đây có thể tạm gọi là Phương Pháp Xây Dựng Kiến Thức
(constructivism). Thật ra phương pháp này không mới vì nó đã từng được quan
niệm và ứng dụng dưới nhiều hình thức khác nhau từ xa xưa bởi các vị hiền
triết : Ông Lão tử đã quan niệm nó khi viết câu mở đầu của Đạo Đức Kinh “
Đạo khả đao phi thường Đao, Danh khả danh phi thường Danh”; ông Phật Thích
Ca Mâu Ni đã dùng nó để dạy cho dân bộ tộc Kalama biết cách tiếp thu chân lý
: “Các người đừng có tin vào lời nói của người khác nói, dù người đó là
người vô cùng nổi tiếng, đừng có tin vào những lời ghi lại trong sách vở dù
đó là kinh điển, một khi mà các người chưa tự mình cho là đúng qua qua các
kinh nghiệm thực chứng của bản thân…..”; ông Socrates đã dùng nó để dạy môn
đồ bằng cách nêu ra các câu hỏi để môn đồ trả lời, dần dần đưa tới chỗ bí
trong lập luận của môn đồ, từ đó môn đồ nhận ra chân lý; ông Heraclitus đã
nhận thức được nó khi nhìn dòng sông chảy mà nói rằng : “Không ai có thể tắm
hai lần trên cùng một dòng sông”. Đến thế kỷ 18 thì nhà triết học
Giambattista Visco dùng nó trong quan niệm về cái biết của con người về thực
tại và thế giới chung quanh, v.v…. Trong thế kỷ 20 thì hai nhà giáo dục John
Dewey và Jean Piaget được xem như những nhà tiền phong cổ xúy việc dùng
phương pháp này trong học đường. Hiện nay trên thê giới hầu như chỉ có nước
Thụy Điển là đang áp dụng nó trong nền giáo dục từ năm 1994.
Nếu đọc
tới đây mà các ông như Nguyễn Tường Tâm, Nguyễn Anh Tuấn, Chu Tấn cho rằng
cái thằng cha Mục Đồng quê mùa chỉ là thứ “cáo mượn oai hùm” như ông Nguyễn
Tường Tâm đã mắng ông Trần Chung Ngọc, thì cái niềng nhị nguyên vẫn còn
niềng cứng não trạng của mấy ông bởi vì các ông cho rằng với tầm cở của các
ông đã từng dùi mài kinh sử hơn 20 mươi năm thì phải là cở Full professor
họa may mới có thể dạy được các ông, mà tên Mục Đồng này ở miền quê Việt
Nam, hàng ngày chỉ chơi với các cháu học trung hoc đệ nhất cấp, thì sức mấy
mà làm Full professor, hay Associate professor hay Assistant professor, thâm
chí xin làm Teaching Assistant thì chờ hơn một thế kỷ nữa cũng chẳng ai
cho! Nhưng thưa các ông, văn hóa Việt Nam ngó vậy mà đã dạy cho con người
tư duy theo tứ nguyên chứ không phải nhị nguyên cứng như đá đâu! Này nhé,
một ông đồ nho, chẳng đổ đạt gì cả mà dạy học trò ở miền quê thi đỗ Tiến sĩ
là chuyện thường xảy ra ở nước ta từ khi nhà Lý mở khoa thi trong thế kỷ 11
cho đến năm 1919 là năm bỏ hoàn toàn thi cử theo Hán văn. Như thế mặc dầu
không có bằng cấp gì cả mà ông đồ nho đó vừa là Full professor vừa là Hiệu
trường của trường Đại học! Thấy được như thế thì bắt đầu có tư duy tứ nguyên
rồi đó!
V. PHỤ ĐẠO
CẢI TẠO NÃO TRẠNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TIN THEO VĂN HÓA THANH! KINH BẰNG
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KIẾN THỨC
Vậy thì
các ông Trần Chung Ngọc, Trần Vinh và Lý Thái Xuân có cho phép Mục Đồng tôi
mươn các “học trò” của các ông để Mục Đồng tôi giả làm “Teaching Assistant”
mà phụ đạo họ trong 10 phút tiếp theo đây không?
Trước khi
được phép phụ đạo, Mục Đồng tôi như đã nói trên sẽ chứng tỏ cho các ông thấy
cách dạy truyền thụ kiến thức của ông Trần Vinh không những không hiệu quả
mà còn bị phản tác dụng. Này nhé, một thầy dạy võ, trước khi nhận học trò,
cần phải xem thử người này học võ để làm gì, để có khả năng cứu nhân độ thế
thì nhận dạy, còn đề có khả năng để cướp của giết người thì không nhận dạy.
Đằng này, theo phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống, ông Trần Vinh
chưa tìm hiểu căn cơ, trình độ, ý đồ của ông Nguyễn Anh Tuấn mà ào ào truyền
kiến thức vào đầu ông Nguyễn Anh Tuấn, cho nên không những không có kết quả
mà con di hại cho chính bản thân ông Vinh và cho thiên hạ nữa. Mục Đồng tôi
xin thưa rõ đây. Ông Vinh dạy ông Tuấn là cái tên Thánh Chiến là không tốt,
nên đổi thành cái tên khác cho nghe tốt đẹp hơn.
Hậu quả thứ nhất là ông
Vinh bị ông Chu Tấn mạ lỵ và chụp mũ Công sản.
Hâu quả thứ hai ở chỗ này: dù
sao ông Tuấn cũng đang là người thành thật, bụng nghĩ sao nói vậy, tốt! Ông
định bụng mở cuộc Thánh Chiến thì ông dùng đúng từ Thánh Chiến, tốt! Thành
thật! Bây giờ ông Vinh dạy ông đổi từ ác ôn Thánh Chiến thành một từ nào đó
đẹp đẽ hơn, không có tính ác ôn, như vậy là ông Vinh đã dạy cho ông Tuấn từ
một người thành thật trở thành một người gian trá : bụng thì mở Thánh Chiến
mà miệng thì hô háo không phải Thánh Chiến .
Hậu quả thứ ba là : Nếu ông
Tuấn cứ để cái tên Thánh Chiến thì có kẻ nghe theo, nhưng chắc chắn có nhiều
người không theo, như thế số người tham dư trận đánh sẽ ít, thiệt hại đôi
bên cũng sẽ ít. Đằng này vì lời dạy của ông Vinh, ông Tuân đổi tên Thánh
Chiến thành một tên tốt đẹp nào đó, khiến cho nhiều người bị lừa bịp mà nghe
theo ông Tuấn mà tham gia vào trận đánh, quy mô chiến tranh sẽ lớn thì tất
nhiên tiệt hại của đôi bên cũng rất nhiều, cho nên ông Vinh có tội là đã
gián tiếp tạo ra cái chết cho rất hiều người bất kể phe nào thắng ( Việc phe
nào thắng sẽ được bàn tiếp dưới đây).
Bây giờ
chắc là Mục Đồng tôi được phép phụ đạo !
Phương
pháp Xây Dựng Kiến Thức không phải cứ tuôn ào ào kiến thúc ra và bắt học trò
học, chấp nhận như phương pháp truyền thư kiến thức truyền thống đâu. Mà bắt
đầu thăm dò căn cơ của người học như thế nào, trình độ tới đâu rồi, tốc độ
tiếp thu như thế nào, từ đó dùng các tình huống mà hướng dẫn người học xây
dựng ra kiến thức, chứ không áp đặt kiến thức từ bên ngoài vào não họ. Ở đây
, chúng ta căn cứ vào bài viết của các ông Nguyễn Tường Tâm và Nguyễn Anh
Tuần mà biết được căn cơ, trình độ, cả tính tình của các ông ấy mà khỏi phải
cần làm trắc nghiệm.
A.
NGƯỜI ĐƯỢC PHỤ ĐẠO : ÔNG NGUYỄN TƯỜNG TÂM.
Quả vậy, ông
Nguyễn Tường Tâm đã cho ông Trần Chung Ngọc là “cáo mượn oai hùm” và buộc
ông Ngọc tóm tắt quyển sách The Quantum and The Lotus của Matthieu và Trịnh
Xuân Thuận thành một câu hay môt nhóm từ. Đó quả là một “chưởng” rất độc,
với một đối thủ tầm thường cở như thầy của Mục Đồng tôi mà hứng cái “chưởng”
ấy thì cũng tiêu mạng! Nhưng với công lưc thâm hậu thì ông Trần Chung Ngọc
cười khà khà vì ông Ngọc trong qua trình luyện chưởng của mình, ông đã xài
tới nước cốt của sản phẩm của hai nhà học giả trên từ mấy năm trước rồi mà
ông Tâm không hề hay biết! Đấy chính là cái tầm của ông Tâm và cũng biểu lộ
cái tính của ông Tâm. Ông Ngọc đã ung dung hóa giải cái chưởng của ông Tâm
một cách vừa dễ dàng vừa lich sự.
Bây giờ ông Ngọc nên căn cứ vào cái tầm và
cái tâm đó của ông Tâm mà áp dụng phương pháp Xây Dựng Kiến Thức giúp ông
Tâm thoát khỏi cái vòng kim cô thứ nhất bằng cách bắt chước ông Socrates như
sau: Ông Ngoc chọn trích ra một số đoạn trong Kinh thánh Cựu ước hay Tân ước
mà ông cho là “độc đáo nhất” , và một số đoạn “độc đáo nhất” hay toàn văn
của Lời Thề Của Dòng Tên (The Jesuite Extreme Oath of Induction) và Những
Huấn Thị Mật Của Dòng Tên (The secret Instructions of The Jesuites) càng tốt
. Ông là người học rộng biết nhiều thừa sức trích ra những đoạn ấy và tất
nhiên cũng quá thông minh để hiểu ba chư “độc đáo nhất” trong ngoặc kép của
Mục Đồng tôi.
Tiếp theo là ông học tập ông Socrates cách dạy môn đồ là yêu
cầu ông Nguyễn Tường Tâm giải thích rõ nghĩa, đặc biệt là cách thực hành của
các đoạn ấy, và căn cứ vào đó mà chứng minh cái tính chất Công Bình, Bác Ái,
Nhân Bản, Văn Minh của Kinh thánh, cái đỉnh cao văn hiến của loài người chứa
trong Kinh thánh. Như thế là ông đã nhân nhượng và chấp ông Tâm rồi đó, bởi
vì tổng số trang ông trích ra chắc chắn ít hơn nhiều so với số trang của
cuốn sach The Quantum and The Lotus, đồng thời quyển sách thì chứa rất nhiêu
ý tưởng đan xen chằng chịt mà ông phải tóm tắt lai thì rất khó so với viêc
tán rộng ra của các đoạn trích có ý tưởng tương đối rời rạc.
Ông Tâm không
thể từ chối tiếp đón chưởng này của ông Ngoc vì chính ông Tâm là người ra
chiêu trước mà ông Ngọc đã đáp lễ thì theo lẽ công bằng đến phiên ông Ngoc
ra chiêu, ông Tâm phải tiếp chiêu! Mục Đồng tôi chắc chắn rằng sau khi ông
Tâm tiếp chiêu này thì ông tư xây dựng được “kiến thức mới “ về Thánh kinh
và vì ông tự khám phá, tự tìm ra kiến thức ấy, chứ không phải ông Ngoc áp
đặt từ ngoài vào bắt ông chấp nhận, cho nên kiến thức ấy trở thành vốn kiến
thưc cơ bản của ông Tâm. Từ đó chính ông Tâm dễ dàng tháo cái vòng kim cô
thứ nhất ra khỏi não trạng của ông, chứ không cần ông Ngọc hay bất cứ ai
tiếp tay nữa.
B.
NGƯỜI ĐƯỢC PHỤ ĐẠO : ÔNG NGUYỄN ANH TUẤN.
Cũng có
thể mời ông Nguyễn Anh Tuấn cùng làm bài tập phụ đạo ấy với ông Tâm. Nhưng
phương pháp Xây Dựng Kiến Thức có đặc điểm là “cá nhân hóa” việc giảng dạy .
Dạy riêng cho từng hoc sinh tùy theo căn cơ của họ thì kết quả tốt hơn. Căn
cứ trên “ Hiêu triệu gởi sĩ phu…” của ông Tuấn thì chúng ta thấy căn cơ của
ông lộ rõ ở 5 nơi, và do đó nên phụ đạo cho ông ấy 5 bài.
Bài thứ
nhất là việc đánh giá xếp hạng ông Marx. Ông Tuấn cho rằng: “ ông Marx chỉ
là tên học trò khờ khạo”. Tốt! Ông Ngọc đã dùng phương pháp truyền thụ kiến
thức truyền thống là viện dẫn ý kiến của các chuyên gia qua cuộc trưng cầu ý
kiến cùa Đài BBC : ông Marx được coi là một triết gia vĩ đại bâc nhất của
mọi thời đại; để chứng minh ông Tuấn là sai, là ếch ngồi đáy giếng. Như thế
là ông Ngọc áp đặt kiến thức từ bên ngoài vào đầu ông Tuấn. Nhưng như Mục
Đồng tôi đã thưa ở trên, não trạng của ông Tuấn đã bị niềng kim cô kèm kẹp,
việc đánh giá của các chuyên gia theo BBC không được các bộ lọc cho vào óc
ông Tuấn đâu. Phải dùng phương pháp Xây Dưng Kiến Thức. Dựa trên tình huống
này, ông Ngọc có lẽ nên làm như sau. Hãy mời ông Bao Công tới làm chánh án
vì chắc chắn ông Bao Công không ăn hối lộ, không theo lệnh của bất cứ ai
trong việc xử án, nên bảo đảm được tính công minh. Sau đây là tiến trình
buổi xử án của Bao Công mà Mục Đồng tôi làm khán giả có “trộm ghi lại”.
Bao Công
: Ta từ phủ Khai Phong đáp hỏa tiến liên lục địa tới thăng đường tại Tòa
thượng thẩm của Hoa Kỳ để xử vụ tranh chấp viêc đánh giá xếp hạng ông Marx
giữa hai ông Nguyễn Anh Tuấn và Trần Chung Ngọc. Các ngươi hãy nghe lệnh ta
đây. Ta chọn tác phẩm chính của ông Marx gồm hai phần là Bộ Tư Bản Luận và
Tuyên Ngôn Đảng Công Sản giao cho ông Trần Chung Ngọc đọc. Tương ứng phần
một bên kia là toàn bộ Thánh kinh Cựu và Tân Ước, tương ứng phần hai bên kia
là toàn bộ Lời Thề Của Dòng Tên và Những Huấn Thị Mật của Dòng Tên, giao cho
ông Nguyễn Anh Tuấn đọc. Các ngươi phải đọc đầy đủ, đúng nguyên văn từ đấu
tới cuối, nếu gian dối, chỉ đọc các chỗ ngươi cho là khoe được với thiên hạ
mà lơ đi không đọc những chỗ mà ngươi sợ thiên hạ chê cười thì ta “ Cẩu đầu
trảm”. Dạ! Ban thư ký nghe cho kỹ mỗi bên đọc và ghi lai tất cả những sự
việc theo từng đề mục có chứa trong các tài liệu ấy như dâm dục, loạn luân,
chia chiến lợi phảm, giết người, âm mưu ám sát, phỉnh gạt đàn bà góa giàu có
để lấy của.v.v…; mỗi đề mục ghi đầy đủ số lần xảy ra. Lấy tổng số lần nhân
cho 20 điểm (ta cho điểm theo hệ thống điểm Việt Nam của các ngươi). Rồi
cộng tất cả lại thành điểm của mỗi bên. Nếu các người gian dối, cố tinh
thiên vị, thêm, bớt thì ta sẽ “ Cẩu đầu trảm” ! Da! Bây giờ ông Nguyễn Anh
Tuấn đọc trước! Da!!
Kết quả :
Bao Công : Ông Marx được bao nhiêu điểm?
Ban thư ký : Bẩm đại nhơn, ông Marx bị zero điểm!
Bao Công : Ầm! (Ông Bao Công đập cái búa xuống bàn).Các
ngươi có thù ghét gì ông ta không mà dấu bớt điểm của ông ta?
Ban thư ký : Bẩm Đại nhơn, chúng con đâu dám, đây là sự
thật, chẳng qua là vì ông Marx kém quá mới bị zero!
Bao Công: thật là tội nghiệp! Còn bên ông Nguyễn Anh
Tuấn thì điểm là bao nhiêu nhiêu?
Ban thư ky : Bẩm đại nhơn, nhiều quá, chúng con tính
không xuể!
Bao Công :Ầm (Ông Bao Công lại đập búa xuống bàn). Gian
dối! các ngươi cố tình bênh vực cho nên thêm điểm vô nguyên tắc!
Ban thư ký : Bẩm đại nhơn, chúng con đâu dám! Bẩm đại
nhơn, chỉ riêng số người bi giết đã hơn 2 triệu, còn số chiến lợi phẩm từ
dê, cừu , bò, tù binh…, các vụ lọan dâm, loạn luân, âm mưu giết người, phỉnh
dụ bà góa có của…thì đếm không xuể… cho nên nếu lấy tổng số mà nhân với 20
như lời dạy của Đại nhân thì chí ít cũng trên 100 triệu, cho nên chúng con
xin ghi số tròn là 100 triệu, bởi vì ông Marx đã bị zero điểm thì 100 triệu
điểm cũng đã hơn quá nhiều rồi!
Bao Công : Ta chấp nhận cao kiến của các ngươi. Vậy ta
tuyên án đây: Ông Marx bị zero điểm so với 100 triệu điểm của bên ông Nguyễn
Anh Tuấn, cho nên ông Marx chỉ là tên học trò hạng bét, nhưng ông Nguyễn Anh
Tuấn là con người “có văn hóa, vì đã dùi mài kinh sử trên 20 năm” nên đã
không miệt thị, đã không dùng từ “hạng bét” , đã nương tay mà phê :”Ông Marx
chỉ là tên học trò khờ khạo” là rất chính xác và đầy tính bác ái. Như vậy
ông Trần Chung Ngọc thua kiện, phải chịu : nộp mọi án phí là 25.000 đô la,
bồi thường danh dự cho ông Nguyễn Anh Tuấn là 100 đô la, nộp cho quỹ đạo đức
500.000 đô là do tôi vu không phi đạo đức, và chịu đánh vào mông 10 hèo !
Ngày mai ta trở về phủ Khai Phong, ta vốn ăn ở thanh tịnh, đạm bạc, nhưng
thuộc hạ của ta từ Triển Chiêu trở xuống, mấy ngày nay lo làm việc cho vụ
án, đặc biệt là theo dõi ghi chép các thông tin “nóng sốt” từ các tài liệu
nên đã bị “căng thẳng thần kinh và cơ bắp”, cho nên nhân bên thắng kiện thế
nào cũng mở tiệc ăn mừng, ông Nguyễn Anh Tuấn nhớ mời đám thuộc hạ của ta
một bửa tối “tươi mát” để họ được ‘giảm căng thăng” , thì sáng mai họ mới có
thể theo ta đáp hỏa tiển liên lục địa trực chỉ phủ Khai Phong!
Bên thắng kiện : Bẩm Đại nhân, xin tuân lệnh!
Bao Công : Bải đường!
Bài phụ
đạo thứ hai : Trong “ Đỉnh Cao Trí Tuệ”, ông Nguyễn Anh Tuấn có ý so sánh
cuộc Thánh Chiến của ông với ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng Nguyên
Mông của các vua nhà Trần nước ta. Tốt! Theo ông Socrates, thì nên hỏi-đáp
với ông Tuấn hỏi như sau :
- Trong các trận
kháng chiến của vua nhà Trần, ai xâm lăng ai? Vì sao?
- Quân Nguyên Mông là kẻ xâm
lược vì là người nước ngoài đem quân tới đánh quân Việt Nan trên đất Việt
Nam!
- Đúng, tốt! Thế thì trong
cuộc Thánh chiến của ông, quân của Cộng sản Việt Nam chắc chắn gồm những
người có quốc tịch Việt Nam, còn quân của phe mở Thánh chiến gồm các người
như ông, tức là toàn những ngưới có quốc tịch hoặc Mỹ, Canada, Pháp, Đức,
Úc.v.v…, tức là người nước ngoài đem quân tới đánh người Việt Nam trên đất
Việt Nam. Vậy phe nào là kẻ xâm lược? So sánh với nhà Trần và Nguyên Mông
thì phe Cộng sản là nhà Trần, còn phe Thanh chiến của ông là quân Nguyên
Mông là hoàn toàn chính xác, có phải không?
- Phải, Chính xác!
- Trong hai phe : phe xâm
lược và phe chống xâm lược, phe nào có chính nghĩa?
- Tất nhiên phe chống xâm
lược có chính nghĩa!
- Đúng,Tốt! Vậy theo lý luận
trên thì cuộc Thánh chiến là phi chính nghĩa , có đúng không?
- Đúng, Tốt!
- Đã phi chính nghĩa, thì
trước sau gì cũng thất bại, đúng không?
- Đúng, Tốt! Vậy trước sau gì
cuộc Thánh chiến cũng thất bại, phải không?
- Phải, Tốt!
Bài phụ đạo thứ ba:
- Trong cuộc Thánh Chiến, ông
có ý so sánh tinh thần kháng chiến của vua, quan ,quân ,dân Việt Nam thời
nhà Trần với tinh thần của quân Thánh chiến phải không?
- Phải!
- Tốt! Nhưng thời nhà Trần
thì ở nước ta chưa có Thánh Kinh, mà chỉ có Nho. Lão , Phật, đặc biệt tinh
thần Phật giáo vì Phật giáo là quốc giáo dưới thới nhà Trần, có phải không?
- Phải!
- Tốt! Vậy quân dân nhà Trần
dựa trên tinh thần Văn hóa dân tộc, tinh thần Phật giáo mà chóng quân xâm
lược Nguyên Mông để bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, trong
khi cuộc Thanh Chiến của ông dựa trên tinh thần Thánh kinh mà xâm lăng Việt
Nam với ý định xóa văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam để thay bằng
Văn hóa Thánh kinh. Như thế việc so sánh của ông là hoàn toàn trật lất! và
tỏ ra … ngốc. Có đúng không?
- Đúng!
Bài phụ đạo thứ
tư : Ai thắng ai?
- Khi mở cuộc Thánh chiến,
ông chắc chắn là ông thắng, có đúng không ?
- Tất nhiến là đúng!
- Trong một cuộc chiến tranh,
phe thắng thường là phe có chính nghĩa, vượt trội về quân số, sự tối tân của
vũ khí, và chiến lược. Nhưng phe Thánh chiến đã không có chính nghĩa như ở
bài học trên. Về quân số phe Thánh chiến cũng thua xa vì nếu ông huy động
tối đa được tất cả những người Việt ở nước ngoài theo ông về đánh Việt Nam,
thì nhiều lắm được bao nhiêu? Làm sao so nổi với khoảng 80 triệu người Viêt
Nam trong nước không theo văn hóa Thánh kinh mà chắc chắn Cộng sản Việt Nam
huy động được? Có đúng không? Còn về chiến lược, thì pheThánh chiến có hơn
được chiến lược của quân Nguyên Mông, của Thực dân Pháp, của các chiến lược
gia và tướng lảnh Mỹ như Westmoreland, Taylor, Mc Namara, Kissinger,… không?
Mà tất cả họ đã thua Việt Nam, có đúng không? Còn về vũ khí, ngày xưa, thực
dân Pháp nhờ có súng, mà quân dân Việt Nam chưa có súng, nên chỉ cần một ít
quân Pháp với sự giúp sức của các cố đạo và giáo dân, như cha cố Trần Lục đã
kéo 5000 giáo dân tới triệt hạ chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công
Tráng.v.v… mà đánh thắng Việt Nam. Chứ từ năm 1945 tới năm 1975, thì hể phe
xâm lăng có vũ khí gì, phe Việt Nam cũng sẽ có vũ khí để đối trị, có đúng
không? Chắc ông nghĩ rằng các nước theo văn hóa Thánh kinh sẽ viện trợ vũ
khí đặc biệt hiện đại như bom áp nhiệt của khoa hoc gia Dương Nguyệt Ánh cho
phe Thánh chiến của ông. Nếu tin như đinh đóng cột như thế thì ông có lẽ
“học chưa tới” các bài học thực tế đã xảy ra, vốn luôn là chân lý.
Chẳng
hạn, ông nghĩ người Mỹ đã viện trợ đầy đủ vũ khí hiện đại cho Việt Nam Cộng
Hòa để chống Cộng sản Việt Nam vì họ luôn luôn bảo vệ lý tưởng tự do, thì
ông đã “ngây thơ” quá. Cho đến khi trận Mậu thân xảy ra năm 1968, người Mỹ
chỉ viện trợ cho quân lính Việt Nam Công Hòa các súng như garant M1,
carbine,…, trong khi Việt Cộng đã dùng AK 47,…Có đúng không? Nói đúng ra là
giới tư bản chế tạo vũ khí tại Mỹ còn hàng tồn kho từ chiến tranh thế giới
thứ nhất và thứ hai mới đem bán cho chính phủ Mỹ, để lấy tiền chế tạo vũ khí
mới và lấy kho chứa vũ khí mới. Chính phủ Mỹ mới viện trợ vũ khí tồn kho
gồm những khẩu garant M1, carbine,… ,cho Việt Nam Công Hòa, chứ không phải
viện trợ vũ khí hiện đại đâu! Có đúng không? Như thế chiến trường Việt Nam
là nơi tiêu thụ vũ khí thặng dư từ các cuộc thế chiến của tư bản chế tạo vũ
khí, chứ không phải là tiền đồn bảo vệ tự do của người Mỹ như ông đã tin
đâu. Một bằng chứng hiển nhiên là sau khi đã thỏa thuận về quyền lợi với các
nước lớn khác từ năm 1972 thì Mỹ đã “thí” Việt Nam Công Hòa. Ông Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu xin 300 triệu đô la để thay thế vũ khí cũ, mua vũ khí mới,
mà Mỹ không những đã không cho mà còn rêu rao cho đối phương biết như “tao
đã trói tay nó rồi, bay cứ vào mà làm thịt đi !” .
Có phải không? Mỹ bão vệ
tư do cho Miền nam Việt Nam, mà sao năm 1974, Trung Cộng đánh chiếm các đảo
thuộcTrường Sa, Hoàng sa của Việt Nam, mà hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ
nằm bên canh đó, vẫn không có phản ứng gì, có phải không? Và cuối cùng, Mỹ
đã tháo chạy khỏi miền Nam Việt Nam năm 1975, có phải không ? Như thế cái ảo
tưởng về Mỹ sẽ giúp vũ khí, quân lính,…, cho cuộc Thánh chiến của ông là sai
lầm trong nhiều cái sai lầm mà người trí thức theo văn hóa Kinh thánh mắc
phải, chẳng hạn cái sai lầm của Tòa án dị giáo xử tội nhà bác học Galileo vì
ông cho rằng quả đất quay quanh mặt trời, là điều trái với niềm tin của Giáo
hội La Mã. Nước Mỹ cũng như tất cả các nước khác phải lo quyền lợi cho nước
họ chứ không phải lo giúp cuộc Thánh chiến của ông đâu. Ngoài ra phe Công
sản cũng dễ dàng có được vũ khí hiện đại ngay cả của Mỹ vì các tư bản chế
tạo vũ khí ra cốt để bán cho càng nhiều càng tốt cho bất cứ ai có tiền mua.
Cho nên phe Thánh chiến của ông chưa chắc có vũ khí hiện đại hơn phe Công
sản Việt Nam đâu.Có phải không?
- Phải!
- Như thế, cuộc Thánh chiến
của ông, chắc chắn bị Cộng sản Việt Nam đánh bại, như lần Thánh chiến thứ 7,
lần Thánh chiến cuối cùng của Giáo hội La Mã đã thảm bại ở Trung đông thời
Trung cổ. Có phải không?
- Phải!
- Tốt!
Bài ohụ đạo thứ năm : Hậu
quả của cuộc Thánh chiến
- Cuộc chiến tranh
nào cũng gây đau thương, chết chọc cho ca hai phe thắng và bại, và gây nên
lòng căm thù, đặc biệt là căm thù phe đã từng gây chiến, từng gây đau khổ sẽ
tăng lên đối với phe kháng chiến. Có phải không?
- Phải!
- Cho nên sau khi
đánh bại cuộc Thánh chiến của ông, người Cộng sản nói riêng và dân Việt Nam
nói chung sẽ càng ghét ông hơn trước. Có đúng không? Họ nghĩ rằng ông mở
cuộc Thánh chiến vì ngoài cái chuyện ông làm theo lệnh của bề trên ở nước
ngoài, ông còn tin vào các tàn tích của văn hóa Kinh thánh, cũng như các
người theo văn hóa Thánh kinh còn lai trong nước Việt Nam sẽ ủng hộ ông,
giúp ông thực hiện Thánh chiến như các thế hệ trước của họ đã giúp thực dân
Pháp. Điều này là một trong những nguyên nhân gây ra đau thương tang tóc cho
dân tộc Việt Nam. Có đúng không?
Dân Việt Nam đã quá khoan hồng, rộng lượng,
chứ thật ra, sau khi đánh thắng thực dân Pháp tại Điện Biên phủ, năm 1954
khi đoàn quân chiến thắng trở về Hà Nội, họ có quyền triệt hạ mọi tàn tích
của thực dân và tay sai đã gây biết bao đau thương, tang tóc, tổn hại cho
dân tộc Việt Nam trong 100 năm đô hộ của thực dân Pháp. Chẳng hạn, họ có
quyền phá hủy Nhà Thờ Lớn tại Ha nội để giao cái nền lại cho Phật giáo xây
chùa, vì nguyên nơi đây là cái chùa Báo Thiên của Phật giáo mà các vua nhà
Lý đã cho xây nên cách đây gần một nghìn năm.
Trái lại, với thủ đoạn xóa bỏ văn
hóa truyền thống Việt Nam của Thiên chúa giáo, các cha cố và giáo dân đã dựa
thế lực của thực dân Pháp khi thực dân đã cướp được Hà Nôi của tổ quốc ta
vào cuối thế kỷ 19, mà cố đạo Puginier đã âm mưu cùng giáo dân triệt phá
ngôi chùa Bảo Thiên năm 1884, để xây ngay trên đó Nhà Thờ Lờn Hà Nội, hoàn
thành năm 1888. Đó là sự thật lịch sử, có phải không? Đó là một tội ác đối
với dân tộc Việt Nam trong âm mưu nô lệ hóa dân tộc ta trong văn minh Kinh
thánh để muôn đời làm nô lệ cho ngoại bang.
Thế mà dân ta chưa đòi nợ, chưa
đòi lại công bằng, nay ông lại mở Thánh chiến để tiếp tục thực hiện âm mưu
ấy. Vậy sau khi đánh bại cuộc Thánh chiến của ông, người Việt Nam hoàn toàn
có quyền, một lần lấy kinh nghiệm mà dứt nọc luôn! Bằng cách tống khứ mọi
tàn tích, tàn dư của văn hóa Thánh kinh ra khỏi bờ cõi Việt Nam, để mãi mãi
chúng không còn gây đau thương tang tóc cho dân tộc Việt Nam nữa! Khi đó
cuộc Thanh chiến do ông mở ra, rốt cuộc mật trắng cả chì lẫn chài. Và khi
đó, chính bề trên của ông, chứ không phải Cộng sản Việt Nam sẽ “Cẩu đâu trảm
ông”. Có đúng thế không?
C. BÀI PHỤ ĐẠO
CUỐI CÙNG: CON ĐƯỜNG TÌM VỀ DÂN TỘC.
Đối với mỗi
người Việt Nam theo văn hóa thánh kinh, thì sau khi đã giúp ho từ bỏ logic
nhị nguyên đơn giản là chỉ cài gì theo Thánh kinh mới là đúng mới là tốt, đễ
họ có thễ tiếp thu logic tứ nguyên, nhờ đó giúp họ khai phóng não bộ tra
khỏi sự kèm kẹp của hai cái vòng kim cô nói trên, qua một loạt các bài phụ
đạo tương tự như đối với các ông Nguyễn Tường Tâm và Nguyễn Anh Tuấn, Chu
Tấn trên đây, thì đã là tốt. Tuy nhiên cần phải phụ đạo cho họ một bài nữa
để giúp họ dễ tìm ra con đường trở về với dân tộc. Bài phụ đạo này có tác
dụng giống như thuốc trừ căn sau khi đã uông các thang thuốc trị bệnh. Bài
này gồm một số câu hỏi như sau:
1. Câu hỏi thứ
nhất : Anh có hiểu chính xác nghĩa của động từ “ trở lại đạo “ không?
Chúng ta đã
biết, Thiên chúa giáo hay Tin Lành đã dùng một động từ rất sai và rất ngạo
mạn đối với người Việt Nam, đó là “trở lại đạo”. Họ cho rằng những người
không theo Thiên chúa hay Tin Lành là những người đã bỏ cái đạo vốn có của
loài người, là những kẻ phản đạo, những kẻ đã phản lai tổ tiên xa xưa, trở
thành những kẻ lạc loài! Cho nên, mỗi khi họ cù rủ được ai theo đạo thì họ
dùng động từ “trở lại đạo”, nghĩa là “quay về với cái đạo mà ông bà, tổ tiên
ngươi đã theo”, ngươi chấm dứt kiếp lac loài, ngươi đã trở lại làm con chiên
ngoan trong bầy cừu để phục vụ các cha cố và chúa.
Như thế từ khi vào đạo,
họ coi như đã từ bỏ truyền thống văn hóa của tổ tiên mà bao nhiêu đời nay
cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã tôn thờ, để phục vụ văn hóa thánh kinh xa lạ. Giả
sử rằng, luận điệu của các cha cố, mục sư là đúng, nghĩa là tất cả loài
người từ thuở xa xưa đều là theo đạo Thiên chúa, rồi có một số bỏ đạo, trở
thành những kẻ lạc loài, ngoại đạo cho nên cần phải trở lai đạo như quan
niệm của Thiên chúa giáo và Tin lành.
Nhưng hiên nay trên thế giới số người
theo Thiên chúa giáo và Tin lành không phải là đa số, thua xa tổng số người
không theo đạo nào và tín đồ các tôn giáo khác cộng lại. Như thế, số người
đã bỏ đạo gốc quá nhiều hơn số người còn giữ đạo gốc. Tại sao như thế ? Phải
chăng là tại đạo ấy xấu xa, sai lầm, người ta mới chán mà bỏ nhiều đến thế
chứ! Vậy các ngài bề trên của Thiên chúa giáo và Tin lành có thấy việc các
ngài dùng cái động từ “ngạo mạn ấy” là các ngài đã sai lầm chưa! Bởi đó là
“gây ông đập lưng ông”! Vậy theo đạo Thiên chúa hay Tin lành là “theo đạo”
chứ không có gì gọi là “trở lai đạo” cả!. Thật ra cái động từ “trở lại đạo”
là dùng cho những ai từ bỏ Thiên chúa giáo hay Tin lành để trở về với cái
đạo mà cha ông đã tôn thờ trong truyền thống văn hóa dân tộc, mới là chính
xác. Có phải không các vị trí thức Thiên chúa giáo, Tin lành?.
2. Câu hỏi thứ hai : Anh theo
đạo vì lý do gì ? Anh có thể nói tôi là đạo dòng, nghĩa là ông bà tôi theo,
rồi tôi theo. Tốt thôi! Nhưng chắc chắn, ông bà tổ tiên anh không thể theo
đao từ thời Hùng Vương, Bà Trưng, Bà triệu, thời Bắc thuộc lần thứ nhất,
thời nhà Đinh, Lê , Lý ,Trần, Lê.., sớm nhât là thời các cố đạo Âu châu qua
nước ta trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Anh nên biết ông bà anh từ bỏ
đạo thờ cúng ông bà, đạo Phật, Nho giáo,… , của văn hóa truyền thống dân tộc
Việt Nam để theo đạo vì lý do gì? Thời bấy giờ chỉ có thể là một trong hai
lý do sau đây thôi : một là nghèo khó quá, các cố đạo dụ là con hãy theo
đạo, cha cho gạo ăn, cho tiền bac mà sống. Trong cơn nghèo túng, ông bà anh
đã nghe lời cha cô mà theo đạo, đề có gạo mà ăn. Tốt thôi! Cho nên dân gian
Việt Nam mới có câu :”theo đạo có gạo mà ăn”. Như thế, anh thuộc loại “đạo
gạo”. Lý do thứ hai là ông bà anh đã làm gì bị quan quân, triều đình truy
nả, chạy trốn, gặp cha cố nói :” con hãy theo ta, ta sẽ bao che cho”. Trong
lúc nguy khốn, ông bà anh theo đao để được cha cố bao che tránh tù tội. Tốt
thôi! Như thế, theo đạo đệ tránh bị tù, cho nên dân gian gọi là “đạo tù”.
Tiếp theo, những người theo đạo đầu tiên ấy lấy vơ, lấy chồng, hay đẻ con
ra, lấy vợ, lấy chồng thì bị một chiêu rất độc tài của Thiên chúa giáo và
Tin lành áp đặt lên các dân tộc nhựợc tiểu (chứ sức mấy mà áp đặt lên dân
các nước phát triển phương Tây) là phải theo đạo khi vợ hay chồng đã theo
đạo. Đạo này gọi là “đạo vợ”. Rồi dưới thời Pháp thuộc, nhất là thời Ngô
tổng thống của đệ nhất Cộng hòa ở Miền nam Việt Nam, thì thực dân Pháp cũng
như Ngô tổng thống, vì “anh minh” nên chỉ tin dùng, thăng quan, tiến chức,
cho những ai theo Thiên chúa hay Tin Lành, cho nên nhiều người vì chức , vì
quyền mà theo đạo. Đây cũng thuộc loại như đao gạo, nhưng ở mức cao hơn,
được gọi là “đạo chức quyền”. Điển hình là sĩ quan Nguyễn văn Thiệu đã từ bỏ
đạo Phật của ông bà cha me để theo đạo Thiên chúa và sau trở thành Tổng
thống của Đệ nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Trong guồng máy của thực dân
Pháp và thời Tổng thống Ngô đình Diệm, có nhiều trí thức nhờ vào đạo mà được
đi du học trở thành Tiến sĩ, chưa kể là nhiều nữ sinh viên trước khi vào đạo
đi du học thì đã được ‘‘cha” “chiếu cố” mất… rồi. Đến giai đọạn sau 30 tháng
4 năm 1975, anh sợ Cộng sản, anh vượt biên, anh nằm ở tại tỵ nạn thì được
hoặc cha cố, mục sư, các seour,v.v…, tới thăm, cho thực phẩm, thuộc men,…,
và nói rằng nếu con theo đạo thì sẽ được cha,…, giúp sớm đi định cư tại Mỹ,
Úc, Canada, v.v…, và qua nơi xứ người sẽ được Giáo hội, nhà thờ,… giúp đở.
Trong cơn ngặt nghèo đó, anh đành theo đạo, thì đây cũng là “đạo gạo”.
Ngoài các lý do, “đạo gạo”,
“đạo tù “, “ đạo vợ”, “đạo chức quyền” thì người Việt Nam không còn lý do gì
nữa để theo đạo. Có đúng không?
Nhân đây, Mục Đồng
tôi xin kể lai câu chuyện thật về Tổng giám mục Ngô Đình Thục đã tuyên bố là
hơn 90% dân Việt Nam theo đạo Thiên chúa. Vào những ngày cuối tháng 8 năm
1963, sau khi chiến dịch tổng tấn công toàn bộ các chùa trên miền Nam được
thực hiện theo lệnh của các ngườ lãnh đạo Thiên chúa giáo ngày 20 thăng năm
1963, Tông giám mục Ngô Đình Thục đến giảng đường C của Viện Đại Học Huế
(nguyên là rạp xinê trong khuôn viên của Khách sạn Morin) gọi toàn bộ giáo
chức Viện Đại Học Huế đến nghe ông giải thích cái lệnh cấm treo cờ Phật
giáo trong lễ Phật đản năm ấy. Trong lời giải thích, Tổng giám mục đã nói
rằng dân Việt Nam hiện nay đã có hơn 90% theo đao Thiên chúa, vì sao? Vì hơn
90% dân Việt Nam thờ cúng ông bà, mà ông bà của của ông bà là ai? Truy lên
thì chính là Chúa! Vậy theo tam đoạn luận thì hơn 90% dân Việt Nam thờ Chúa,
cho nên hơn 90% dân Việt Nam theo đạo Thiên chúa!!! Lý luận theo tam đọan
luận của ngài Tổng giám mục Ngô Đình Thục quả là một “phát hiện vĩ đại”. Vì
nó chứng tỏ 100% dân Việt Nam theo đạo Thiên chúa từ thời Hùng Vương lận! Có
đúng không?
3. Câu hỏi thứ ba : Anh là đạo dòng, tốt thôi! Vậy anh
có phải là hậu duệ của một trong 5000 giáo dân đã theo cha cố Trần Lục đi
triệt hạ căn cứ chiến khu Ba Đình của anh hùng dân tộc Đinh công Tráng
không? Hay đã theo cha cố đạo Tortuyaux đi đánh phá căn cứ của cụ đề Lê
Trực, một lãnh tụ Cần vương năm 1886 không? Hay theo cha cố Puginier đến
triệt phá chùa Báo Thiên gần một nghìn năm tuổi của vua nhà Lý xây , đề lấy
nền xây lên Nhà Thờ Lớn tại Hànôi năm 1884 không? Hay cung cấp thông tin,
lương thực , và giúp giám mục Pellerin lén xuống tàu chiến của thực dân Pháp
khi chúng tấn công Đà Nãng năm 1856, để hướng dẫn cho chúng tiến quân ra
chiếm kinh đô Huế của Việt Nam không? Hay đã từng theo ông Ngô Đình Khả và
Nguyễn Thân đi đào mã của anh hùng Phan Đình Phùng, lấy xác cụ lên, đốt
,trộn với thuốc sung để bắn đi , không? v.v…., Chắc thế nào anh cũng tìm
được một tình huống tương tự như thế trong gia phả của anh. Có đúng không?
4. Câu hỏi thứ tư: Nếu anh mới theo đạo trong đời anh
thôi, cũng tốt thôi!.Từ khi theo đạo đến nay, anh có giúp cho ngoại bang xâm
chiếm nước ta, hoặc phá hoại văn hóa truyền thống của dân tộc ta, có chiêu
dụ được người khác theo đạo không ? Đặc biêt, anh qua xứ người, anh theo đạo
, anh được giúp đở, làm ăn khá lên, anh đem tiền về Việt Nam cho, giúp bà
con, tốt thôi! Nhưng anh có lợi dụng việc ấy để khuyên dụ họ theo đạo không
? Trong những người anh, em của anh, có người không chịu nghe anh theo đạo
thì anh không cho tiền hay cho ít hơn người nghe anh theo đạo, anh tạo ra
gây gỗ với những bà con trong các dịp cúng giổ ông bà, góp tiền của công sức
xây mộ ông bà, trùng tu nhà thờ họ, vì anh theo đạo nên anh chống đối các
việc ấy,v.v…Có phải không?
5. Câu hỏi thứ năm : Anh có bao giờ tự biết rằng các
cố đạo và giáo dân có tội với dân tộc Việt Nam vì đã tiếp tay cho thực dân
Pháp đô hộ dân tộc ta trong 100 năm không ?
Đó là 5 câu hỏi cơ bản mà một người Việt Nam theo
Thiên chúa hay Tin lành cần phải trả lời. Sau khi trả lời xong, người ấy sẽ
thấy rõ được mình đứng ở đâu trong bà con, dòng họ, và dân tộc Việt Nam.
Vị trí đó có thể là :
- Ông bà anh và chính bản
thân anh đã có tôi với dân tộc Việt Nam.
- Ông bà anh chưa có tội,
nhưng bản thân anh đã có tội với dân tộc Viêt Nam .
- Ông bà anh và cả anh chưa
làm gì nên tội với dân tộc Việt Nam, thì anh vẫn phải nhớ rằng các cố đạo và
giáo dân đã có tội tiếp tay cho thực dân, đế quốc đô hộ dân tộc Việt Nam,
tàn phá văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.
- Ngày nay nếu anh còn có ý
đồ đem văn hóa Thánh kinh thay thế văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam
thì tội của anh càng lớn với tổ tiên, dòng họ của chính anh và của dân tộc
Việt Nam.
Khi đã xác định được vị trí của mình ở đâu, anh mới
có thể bắt đầu tìm ra con đường đưa anh trở về với dân tộc Việt Nam, và tự
anh biết cần phải làm như thế nào để đi trên con đường ấy, hoặc anh muốn
tiếp tục phạm tội như mở cuộc Thánh chiến thì số phận anh sẽ được định đoạt
như trong các bài phụ đạo trên đây.
Mục Đồng
Các bài viết của Mục Đồng
Những Con Ếch Ngồi Đáy Giếng (Mục Đồng) Phụ đạo các thầy (Mục Đồng) Tại Sao Cổ Xúy Cho Côn Đồ ? (Mục Đồng) Tội Tổ Tông Đích Thực của Người Ki Tô Giáo VN (Mục Đồng)
|