Cá Gỗ, Cá Sắt, Và Lòng Tự Tôn Dân Tộc Của GS Trần Văn Khê

Cá Gỗ, Cá Sắt, Và Lòng Tự Tôn Dân Tộc Của GS Trần Văn Khê

Huy Thái

http://sachhiem.net/DOITHOAI/HuyThai_Cago.php

13-Jul-2018

LTS: Bài viết của tác giả Huy Thái sau đây để nhắc nhỡ một số người về sự thông cảm giữa con người, nhất là đồng bào cùng dòng máu Lạc Hồng. Ngoài ra bài viết còn đánh thức lòng tự tôn dân tộc đã bị đánh mất trong lòng một số người. Lương tâm con người có thể bị bôi đen khi lòng thù hận che kín, như trường hợp của một bài viết đính kèm bên dưới. Tại sao không nghĩ rằng dân ta may mắn không đến nỗi phải ăn cá sắt, mà lại miệt thì chuyện cá gỗ ngày xưa, thời đại còn là thuộc địa mà ngày nay ta đã được thoát ra? Mong bạn đọc thưởng thức bài đối luận ý nhị này. (SH)

 

Kính thưa quý bạn,

Qua bài viết của tác giả Phương Vũ Võ Tam Anh (đính kèm bên dưới), tôi thấy có 3 ý cần được xem xét lại như sau:

1/ Về con cá gỗ và con cá sắt.

Image result for cá gỠnghỠan là gì

Cá gỗ

Cá gỗ là câu chuyện về người nghèo xứ Nghệ (Nghệ Tĩnh xưa, nay là Nghệ An, Hà Tĩnh), bữa cơm không có gì ăn, nên đã làm một con cá bằng gỗ, đến các bữa cơm thì lấy ra treo lên, hoặc đặt vào đĩa, và coi như là bữa đó có cá để ăn.

Có 2 câu chuyện sau đây cho thấy hình ảnh con cá gỗ có mục đích giáo dục các thế hệ trẻ biết cố gắng học hành vượt lên từ hoàn cảnh nghèo khó một cách trong sạch:

Câu chuyện 1: Gia đình nghèo

Có một gia đình nọ, như phần đông các gia đình nghèo, có nhiều con, nhà nghèo lắm, bữa ăn hàng ngày chẳng có gì ngoài một nồi cơm độn khoai, một ít rau luộc, và một bát nước mắm. Người cha nghĩ ra một cách là đẽo một con cá bằng gỗ, sơn phết vào trông y như con cá rán. Hàng ngày đến bữa cơm, ông treo con cá lên xà nhà, quy định với mấy đứa con, mỗi bát cơm chỉ được nhìn vào con cá, chép miệng 3 cái, coi như đã được ăn cá rán, và chỉ được chép miệng đúng 3 cái, không được hơn. Một hơm đứa con út của ông lỡ miệng chép 4 cái, thằng anh nó ngồi bên cạnh trông thấy vội mách bố:

- Bố ơi, thằng Út chép miệng 4 lần.

- Thằng này hư. Mày ăn mặn thế, cho mày chết khát, con nhá...

Cá gỗ

Cá gỗ

Câu chuyện 2: Cậu học trò nghèo và con cá gỗ

Ngày xưa, đã lâu lắm rồi, có một cậu học trò xứ Nghệ học học giỏi lắm, nhưng nghèo lắm. Tuy nghèo, nhưng cậu vẫn quyết tâm đi thi đại học để mong kiếm lấy kiến thức về giúp quê hương. Nhà nghèo, mỗi lần từ quê lên thành phố học tập, cậu chẳng có tiền mua vé tàu, chỉ xin đi nhờ. Đến bữa, cũng chỉ có mo cơm trắng mẹ gói cho. Cậu bèn nghĩ ra một kế. Cậu lôi con cá gỗ do cậu đẽo lấy, đã được sơn phết trông như cá thật, bỏ vào cái đĩa, rồi cậu đi đến chỗ mấy người đang ăn cơm nói rất lễ phép:

- Thưa bác, bác có thể cho cháu xin chút nước mắm để cháu ăn con cá rán này với cơm được không ạ!

Và cứ như vậy cậu đã học xong những năm tháng đại học vẫn với con cá bằng gỗ ấy...

cá sắt

Cá sắt

Đối với việc con cá sắt gần đây được nhà khoa học Canada là Christopher Charles có sáng kiến đưa vào đời sống vì sức khỏe của con người, đúng với nghiên cứu khoa học, là điều rất đáng hoan nghênh.

Như vậy, nếu hiểu đúng thì con cá cây hay con cá sắt đều có những vai trò nhất định của nó trong đời sống tinh thần hay đời sống vật chất của con người trong từng thời kỳ. Những suy nghĩ thiếu hiểu biết mới có cái nhìn thiển cận lệch lạc khi so sánh hơn thua.

2/. Về “học giả” người Pháp tên Jean Lacouture.

Theo tôi nghĩ, ông “học giả” người Pháp tên Jean Lacouture nào đó, trông giống như ông thủy sư đề đốc trong câu chuyện gặp gỡ với GS Trần Văn Khê như dưới đây.

GS Trần văn khê

GS Trần Văn Khê

Nếu có người nói với các bạn rằng “nền thi ca – văn chương Việt Nam không có gì đáng kể” thì các bạn có thể bình tâm mà ngồi nghe lời phê phán ấy không?

Tuy để cả đời nghiên cứu về Âm nhạc Truyền thống dân tộc Việt Nam nhưng tôi rất chú trọng về thi ca trong những bài dân ca hay lời ca của những bản nhạc truyền thống. Tôi lại có cái may được gặp những người Thầy người Pháp như Thầy Emile Gaspardone rất rành về sự nghiệp văn chương Việt Nam, chính ông đã dẫn dắt tôi tìm thấy những cái hay cái đẹp trong rừng văn chương Việt, trong đó có cụ Nguyễn Trãi. Và đối với tôi, những bài thơ và những bài viết của cụ Nguyễn Trãi xứng đáng là những áng văn kiệt tác. Vì vậy, khi nghe lời phê bình trên, bản thân tôi không thể đồng tình mà ngồi nghe được, cần phải có tiếng nói binh vực để “giải oan” cho văn chương – thi ca Việt Nam. Xin kể lại cho các bạn nghe một câu chuyện mà tôi không thể nào quên khi tham dự một buổi họp của Hội Truyền bá Tanka Nhựt Bổn năm 1964 ở Paris.

Tại Pháp, có Hội Truyền bá Tanka Nhựt Bổn, mỗi tháng họp một lần tại Palais d’Orsay. Chữ Tanka viết theo Hán tự là “Đoản ca”, là một bài ca nhỏ, một thể thơ rất độc đáo của thi ca Nhựt Bổn, nội dung diễn tả những cảm xúc của chúng ta hằng ngày như vui, buồn, giận dỗi, hay những cảnh đẹp thiên nhiên, hay hoa thơm cỏ lạ, hoặc ghi lại những chủ đề của cuộc sống như tình yêu, du ngoạn… Về hình thức, một bài thơ Tanka chỉ có 31 âm với cấu trúc 5-7-5-7-7. Người Pháp và người của nhiều nước Âu Mỹ rất thích loại thơ nầy nên lập hội hay tổ chức những câu lạc bộ để giới thiệu những bài Tanka hay của Nhựt dịch ra tiếng Âu Mỹ, khuyến khích hội viên đặt những bài thơ bằng tiếng Âu Mỹ mà cấu trúc như thơ Tanka.

Một buổi chiều chủ nhựt, năm 1964, Hội truyền bá Tanka Nhựt Bổn có mời một Thủy sư Đề đốc Pháp, một thành viên của Hội đã từng làm nhiều bài thơ tiếng Pháp theo phong cách Tanka, đến thuyết trình cho hội viên những nét đặc thù của thi ca Nhựt Bổn nói chung và Tanka nói riêng.

Tất cả hội viên đều là người Nhựt và Pháp. Hôm đó tôi đến với tư cách khách mời đặc biệt của Ban chủ nhiệm, nên diễn giả không biết rằng trong hội trường hôm ấy có một người Việt Nam. Ông Thủy sư Đề đốc đã mở đầu câu chuyện như thế nầy:

Tôi đã từng làm Thủy sư Đề đốc tại Việt Nam trong gần 25 năm, mà tôi không tìm ra được một áng văn chương nào đáng kể. Nhưng khi tôi sang Nhựt, chỉ trong vòng 2,3 năm tôi đã khám phá ra một rừng thi ca văn học đa dạng và phong phú. Và trong khu rừng đó, có một đóa hoa tuyệt đẹp : Những bài thơ Tanka”.

Ông cho rằng không có một bài thơ nào trên thế giới có thể diễn tả tất cả những cảm xúc sâu đậm, một cảnh nên thơ chỉ bằng 31 âm như trong thơ Tanka của Nhựt. Ông đơn cử ra rất nhiều bài thơ Tanka bằng tiếng Nhựt đã được dịch sang tiếng Pháp và đọc rất nhiều bài thơ do một số thi sĩ Pháp (trong đó có ông) đã đặt ra theo cấu trúc của Tanka. Cử toạ nhiệt liệt hoan nghênh bằng những tràng pháo tay rất dài.

Sau những câu hỏi của thính giả, lời đáp của diễn giả, ban chủ tọa buổi họp hôm đó nói thêm : “Trong quý vị thính giả có còn câu hỏi nào khác hay những thắc mắc chi có thể nói lên trước khi chúng ta bế mạc buổi họp hôm nay?”.

Tôi đứng dậy đặt mấy câu hỏi sau đây và nêu lên những thắc mắc của mình :

Kính thưa quý vị, tôi không phải là một nhà thơ, chỉ là một nhà nghiên cứu Âm nhạc dân tộc Việt Nam, hiện đang là Giáo Sư Âm nhạc học tại Đại học Sorbonne (Paris), Giáo Sư chỉ đạo nghiên cứu trong Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp với chức vị Giám Đốc Nghiên cứu (Directeur de Recherches), thành viên Ban chấp hành Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc Unesco. Tôi là người Việt Nam duy nhứt trong buổi họp hôm nay, tôi không đủ khả năng để nhận xét chi hơn các thính giả đã phát biểu trước đây. Nhưng tôi chỉ thắc mắc một điều : một người sành về thi ca văn hóa Nhựt Bổn như ngài Thuỷ sư Đề đốc đây mà trong 25 năm sống tại Việt Nam vì sao lại không tìm ra một áng văn nào đáng kể?

Trong lúc ngài lưu tại Việt Nam, chẳng biết bạn bè thân thuộc của ngài là ai? Thuộc về hạng người nào mà ngài không tìm ra được một áng văn Việt Nam nào đáng kể. Chớ phải chi ngài có những người bạn như Giáo Sư Emile Gaspardone (thành viên Trường Viễn Đông Bác Cổ) thì ngài sẽ biết rằng Giáo Sư đã in ra trong Tạp chí Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp (Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient), số 1, năm 1931, một thư mục gồm có trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam. Hay những nhà nghiên cứu Pháp nổi danh như Maurice Durand đã sưu tập cả ngàn câu ca dao Việt Nam; đã thông hiểu về nghệ thuật Chầu Văn, trong đó có những bài ca ngợi các Đức Thánh, các vị Mẫu mà văn chương rất sâu sắc; đã từng cộng sự với một Giáo Sư Bác sĩ Y khoa Pierre Huard một thiên nghiên cứu về Dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực Dân tộc học, Văn học và Âm nhạc học. Ngài sẽ thấy không phải chỉ có một áng văn mà hàng ngàn áng văn đáng kể. Trong lúc ngài làm việc tại Việt Nam, chẳng biết ngài là người thế nào mà không có một người dân Việt – thường hay có câu “chọn mặt gửi vàng” – nói cho ngài biết về Thi ca, Dân ca, Âm nhạc Việt Nam?

Trong khi ngài ca ngợi Thi ca và Tanka của Nhựt Bổn, ông không ngớt lời khen tặng và nói rằng chỉ cần nêu lên hình ảnh một con sông, một ngọn núi, một đoá hoa… là đủ diễn tả một cách thi vị tình cảm giữa đôi lứa; chỉ cần 31 âm mà tạo nên những bài thơ hàm súc ngắn gọn. Tuy không phải là một người chuyên môn về Thi ca, nhưng với những hiểu biết căn bản của tôi trong khi còn ở cấp Trung học, tôi cũng đủ tìm những thí dụ cho ngài thấy trong Văn học Việt Nam cũng không thiếu những điểm mà ông cho là tuyệt vời trong Văn học Nhựt Bổn.

Chỉ nhắc đến một ngọn núi cũng đủ tả tình thương nhớ người yêu :

Núi cao chi lắm núi ơi !

Che khuất mặt trời chẳng thấy người yêu

Khi ướm hỏi người phụ nữ đã có nơi nào chưa thì chàng trai có thể dùng hai loại hoa :

Hôm nay Mận mới hỏi Đào

Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa ?

Nếu nói những bài thơ ngắn gọn, chỉ 31 âm mà diễn tả được một sự kiện đầy đủ, tôi có thể đơn cử ra một bài thơ do Đại sứ Việt Nam là Mạc Đỉnh Chi ứng tác khi đến dự buổi tế lễ người Hậu phi của vua Nguyên qua đời. Người Nguyên đưa cho Đại sứ nước Việt bài điếu văn viết sẵn, nhờ Đại sứ đọc lên. Khi Mạc Đỉnh Chi mở tờ giấy ra, chỉ thấy bốn chữ “Nhứt”, ông không hề lúng túng, vừa nghĩ vừa đọc bài điếu văn như sau :

Thanh thiên nhứt đoá vân

Hồng lô nhứt điểm tuyết

Thượng uyển nhứt chi hoa

Dao trì nhứt phiến nguyệt

Y ! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết !

Tạm dịch :

Trên trời xanh có một áng mây

Ở lò hồng có một nụ tuyết

Trong vườn ngự có một bông hoa

Trên mặt hồ có một mảnh trăng

Than ôi ! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng lặn !!!

Dịch thơ :

Áng mây bay giữa trời xanh

Chấm tuyết trắng xóa điểm mình hồng lô

Cành hoa đẹp chốn vườn Vua

Mảnh trăng thơ mộng trên hồ nghiêng soi

Than ôi ! Mây rã, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng lặn !!!

Để khóc than, thương tiếc một người đẹp như Hậu phi của vua Nguyên, Đại sứ Việt Nam Mạc Đỉnh Chi nhân có 4 chữ NHỨT đã ứng tác 4 câu thơ ví Hậu phi như một áng mây trên vòm trời xanh, một chấm tuyết giữa lò hồng, một nhành hoa trong vườn thượng uyển, một phiến trăng phản chiếu trên mặt nước ao; vậy mà tất cả những nét đẹp đó đều mất đi, dụng ý muốn nói rằng Hậu phi đã từ trần. Không cần phải có đủ 31 âm như trong thơ Tanka, mà chỉ cần 29 âm, Chánh sứ Mạc Đỉnh Chi đã sáng tác một bài thơ ngắn mà bao hàm đủ ý nghĩa.

Tôi không đặt những câu hỏi, mà chỉ góp ý như trên. Thứ nhứt để đính chánh quan điểm diễn giả cho rằng trong nước Việt Nam không có một áng văn nào đáng kể và đồng thời nhắc nhở ngài Thủy sư Đề đốc khi nhập đề, muốn đưa ra một hình ảnh đối chọi, mà vô tình xúc phạm đến một dân tộc, một nền văn hóa do sự kém hiểu biết của mình. Xin lỗi quý vị trong phòng này vì tôi đã đi lạc đề buổi họp hôm nay”.

Cử tọa vỗ tay hoan nghênh. Bà chủ toạ phiên họp trao lời lại cho vị Thủy sư Đề đốc, ông đứng dậy và nói rằng : “Đến ngày nay tôi chưa bao giờ gặp người đối thoại của tôi, nhưng khi được phê bình cách nhập đề của tôi đã làm tổn thương danh dự một dân tộc, tôi cảm thấy ân hận vô cùng. Tôi thành thật xin lỗi dân tộc Việt Nam, vì nhận xét không đúng về giá trị của Thi ca Việt Nam và xin người đối thoại của tôi hôm nay cũng tha thứ cho tôi”.

Nói xong, ông cúi đầu trước mặt tôi, có vẻ ăn năn hối hận thực sự. Tôi trả lời : “Ngài là một người Pháp, chắc biết rõ câuUne faute avouée, est à moitié pardonnée” (khi người làm lỗi đã nhận lỗi, thì lỗi đó đã được tha thứ hơn phân nửa rồi). Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giàu lòng tha thứ, nên khi ngài thật tình xin lỗi, thì chắc chắn sẽ tha lỗi cho ngài, tôi cũng là người Việt Nam, nên sẵn sàng bỏ lỗi cho ngài”.

Sau khi buổi họp bế mạc, ông Thuỷ sư Đề đốc và phu nhân đến gặp tôi, bắt tay xin lỗi lần nữa và ngỏ ý muốn mời tôi đến nhà dự bữa cơm để ngài có dịp tiếp cận Thi ca, Âm nhạc Dân tộc Việt Nam. Tôi tươi cười và đáp : “Người Việt chúng tôi không phải khi nào được mời dự tiệc cũng nhận lời cả. Chúng tôi chỉ ngồi ăn chung với một đối tượng mà chúng tôi có cảm tình, thân thiện hay quý mến. Chúng ta chỉ mới gặp nhau chiều nay, trong một hoàn cảnh không có chi vui lắm, ngài và tôi mỗi người đều có nhiều công việc, tôi chưa dám nhận lời đến dự tiệc tại nhà ngài, vì sợ e làm mất thời gian quý báu của ngài và của tôi”.

Ông tươi cười nói tiếp : “Như vậy tức là Giáo Sư chưa tha lỗi cho tôi”.

Tôi trả lời : “Thưa ngài, có một câu của người Anh có thể dùng diễn tả tâm trạng của tôi một cách ví von hơn tiếng Pháp và tiếng Việt, đó làI forgive but I cannot yet forget” (Tôi đã tha thứ nhưng tôi chưa thể quên được)”.

Chúng tôi chia tay nhau và từ ngày đó đến nay tôi không có dịp gặp lại vị Thuỷ sư Đề đốc đó.

Bà chủ nhiệm hội Tanka mời tôi trong hai lần họp sau thuyết trình về “Các loại Thi ca trong văn chương Việt Nam” và “Đại cương Âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

Mà như các bạn đã biết, được dịp nói chuyện với bạn bè thế giới về Văn hóa và Âm nhạc Việt Nam , làm sao tôi có thể từ chối cho được!

Bình Thạnh, ngày 10-12-2009

Trần Văn Khê (Thi ca Việt)

3/. Về con đinh vít mà trăm ngàn tiến sĩ Việt Nam làm chưa ra hồn.

Bù lon đinh vít

Tôi nghĩ rằng tác giả bài viết Phương Vũ Võ Tam Anh không hiểu được chuyên môn kỹ thuật cơ khí nên có những phán đoán quá cực đoan lệch lạc sai lầm.

Theo chỗ tôi biết, việc làm con đinh vít là việc làm mà bất cứ một người thợ dập-phay-tiện thủ công nào cũng có thể biết cách làm cả. Cao cấp hơn là sản xuất hàng loạt đinh vít trên máy tự động chuyên dùng, thì trước năm 1975 miền Nam và miền Bắc đều có trang thiết bị. Điển hình riêng miền Nam có 2 nhà máy chuyên sản xuất đinh vít là Tân Hưng và Nam Việt.

Việc sản xuất đinh vít chính xác bằng máy tự động đòi hỏi đầu tư khuôn mẫu dập và đồ gá gia công khá tốn kém. Cho nên sản xuất khối lượng nhỏ sẽ có giá thành cao; chính vì thế mà có lẽ trước đây các cơ sở sản xuất Việt Nam từ chối không gia công cho nhu cầu của một khách hàng nước ngoài. Thế là được dịp, những người chống chính quyền rêu rao bêu xấu Việt Nam.

Tương tự, tác giả Phương Vũ Võ Tam Anh cũng như nhiều người quá cường điệu về nguồn tin Cam-pu-chia sản xuất xe hơi hơn cả Việt Nam; bởi chế tạo sản phẩm xe hơi đâu quá đơn giản và dễ dàng về mặt kỹ thuật và kinh tế để sánh vai cùng các nước đã có cả một quá trình lâu dài để phát triển!

Nói tóm lại, tôi nghĩ rằng tác giả Phương Vũ Võ Tam Anh thiếu một tâm ý trung thực và trong sáng, tác giả cần nhiều học hỏi khi nhận định một vấn đề nào đó, hơn là vội hàm hồ, đã vô tình hay cố ý đầu độc số đông người thiếu điều kiện để hiểu biết?

HT

_________________

From: M Nguyen

Date: July 5, 2018 at 4:37:28 PM PDT

Subject: Fwd:AL sl 8 Cá sắt, cá gỗ, ai ngu hơn ai?

Cá Gỗ, Cá sắt , ai ngu hơn ai?

Phương Vũ Võ Tam-Anh

[Có đăng ở http://daihocsuphamsaigon.org/..., https://groups.google.com/..., https://www.facebook.com/...]

Jean Lacouture, một học giả Pháp chuyên viết tiểu sử các nhân vật nổi tiếng trên thế giới, đã bắt đầu cuốn sách Président Hô Chí Minh bằng câu chuyện cá gỗ. Ông kể rằng HCM sinh ra ở Nghệ An, nơi có đời sống rất kham khổ, nơi mà những nhà nho thường dọn bửa ăn với một con cá bằng gỗ để che mắt người ngoài khỏi thấy được sự nghèo túng của họ, vì họ cho rằng nghèo là một chuyện xấu hổ đáng che dấu….

Cái tinh thần chuộng bề ngoài sợ sự thật đó còn lưu lại ngày nay ở ViệtNam để sinh ra một thứ văn hoá chạy theo khoa bảng, chạy theo “hoành tráng” mà bên trong thì trống rỗng. Hằng trăm ngàn tiến sĩ mà không làm nổi một cái đinh vít cho ra hồn mà vẫn huyênh hoang là đỉnh cao trí tuệ.

Trong khi đó thì tại Cam-pu-chia, một nước láng giềng nhỏ bé mà Jean Lacouture đã gán cho mấy chữ không lấy gì vui là “Cộng Sản Nhà Quê”, thì họ đang có một đầu óc thực tế hơn là các “đỉnh cao trí tuệ” Việt Nam.

Trước hết người Cam-pu-chia, không bị mặc cảm mà nhìn đúng sự thật để học hỏi và thâu nhận chất xám đến từ mọi nơi. Một nông dân Việt Nam có sáng kiến cải tạo những vũ khí phế thải thành những xe tăng đại bác tối tân thực dụng, đang bị Việt Nam nghi ngờ và coi thường, nếu không muốn nói là khinh bỉ vì không có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó tiến sĩ v…v…Thế nhưng anh nông dân này được đón tiếp rạng rỡ ở Cam-pu-chia như là một nhà sáng chế vũ khí có tầm cỡ và được phong ngay hàm Đại tướng. Tiết kiệm được cho Cam-pu-chia khỏi tốn hằng tỷ bạc mua vũ khí​ ​Nga Tàu để….vứt đi.

Cam-pu-chia đã thiết kế và sản xuất được xe hơi với giá rẻ và ít hao xăng, một cần thiết cho các nước mới mở mang phải biết liệu cơm gắp mắm.

Còn Việt Nam thì chỉ mới biết lắp ráp xe của các hãng ngoại quốc, do người ngoại quốc điều khiển và chỉ mới ở giai đoạn gia công, trong khi bao nhiêu đầu óc Việt Nam đang phí phạm ở khắp thế giới vì điều kiện chính trị không cho phép phục vụ đất nước.

Thủ tướng Hun Sen có người con trai là Hun Manith, được đào tạo tại trường West Point Hoa Kỳ, một bảo đảm về tư cách và khả năng cá nhân mà cả thế giới hâm mộ, thì chỉ giữ một chức vụ khiêm nhường tại bộ Quốc phòng (Giám đốc sở Tình báo). Khi được hỏi có tham vọng thay thế cha hay không, thì chàng trai 34 tuổi này trả lời rằng đó là chuyện định đoạt do bầu cử. Còn ở Việt Nam thì các thái tử đỏ đã bắt đầu được cài vào những chức vụ then chốt để sẵn sàng nối ngôi.

Trong khi Việt Nam đang say sưa với cái hào nhoáng bên ngoài đang cho dân ăn bánh vẽ nghĩa là ăn những con cá gỗ thời đại Hồ Chí Minh (theo nghĩa bóng) mà bụng vẫn đói mèm, thì ở Cam-pu-chia chính phủ đang cho dân ăn những con cá….sắt (theo nghĩa đen) để chửa bệnh thiếu máu.

Trên thế giới hiện nay có ba tỷ rưởi người bị bệnh thiếu máu vì thiếu chất sắt (anémie ferriprive), đó là bệnh của nhà nghèo, nhất là ở những nước kém mở mang vì thiếu dinh dưỡng. Sắt là chất cần thiết để tạo nên hạt máu đỏ trong đó có chứa một chất protéine gọi là hémoglobine (huyết cầu tố) có nhiệm vụ chuyên chở dưỡng khí (O2) hút được trong không khí từ phổi đến các tế bào, các mô. Cơ thể thiếu sắt sinh ra thiếu máu, thiếu dưỡng khí, thiếu sự sống….

Một sự tình cờ đã đưa con cá sắt nhảy lên bờ để cứu sống được hằng triệu người trên thế giới.

Cách đây ba năm, một sinh viên Canada 26 tuổi, Christopher Charles, vừa đậu xong bằng cử nhân ở đại học Guelph, Toronto, chọn đi nghỉ hè ở Cam-pu-chia, đồng thời chàng cũng giúp những nhà khoa học địa phương để cho thêm chất sắt vào thức ăn hầu làm giãm chứng bệnh thiếu máu rất phổ biến tại Cam-pu-chia. Ở đây 60 phần trăm phụ nữ phải làm việc vất vả ở tuổi rất sớm, ăn uống thiếu thốn, thiểu thịt đỏ, trái cây, đồ biển v.v…

Họ thường bị mất máu trong các kỳ kinh nguyệt và mỗi khi sanh đẻ, ảnh hưởng đến sự chậm phát triển não bộ nơi thai nhi v.v… nghĩa là ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả dân tộc. Các thứ thuốc chứa chất sắt thì đắt đỏ so với túi tiền của họ. Chris Charles lấy đó làm đề tài nghiên cứu để lấy bằng tiến sĩ. Trong ba năm trời chàng làm việc trong những túp lều tranh, không nước, không điện để xử dụng máy vi tính, phải học tiếng Cam-pu-chia, nhất là học nghệ thuật lấy máu bệnh nhân từ những chiếc thuyền nan chòng chành trên sông Mékong….

Thoạt tiên Charles đề nghị các bà nội trợ nấu ăn bằng những cái nồi bằng sắt nhưng không ai nghe vì vừa nặng vừa đắt tiền. Đề nghị bỏ một khoanh sắt vào nồi canh cũng không ai theo. Ý kiến chạm một cái hoa sen bằng sắt thì cũng bị chê vì hoa sen là để cúng Phật chứ không phải để bỏ vào nồi canh. Sau cùng có lẽ vì được gợi ý bởi cuốn sách Président Hồ Chí Minh của Jean Lacouture về con cá gỗ nên Charles đề nghị chạm hình con cá vừa hấp dẩn vừa rẻ tiền thì được chấp nhận ngay. Một bác thợ rèn ở đầu xóm có thể làm việc đó với giá 1,5 đô la Mỹ

Con cá của BS Charles đem lại 75% nhu cầu về sắt hằng ngày cho một người lớn. Đàn ông cần 9mg, đàn bà 16mg mỗi ngày. Chỉ cần nấu ít nhất 10 phút để cho cá….chín. Vắt thêm chút chanh vì acide citrique và acide ascorbique (vitamine C) trong chanh làm dễ hấp thụ chất sắt và để mùi vị thêm hấp dẩn, không thua gì tô canh chua cá bông lau mà người dân Campuchia thích ăn hằng ngày. Ở đây hiện có trên 2500 đang “ăn” cá sắt. Cuộc khảo sát cho biết phân nửa người dùng sau 12 tháng thì không còn thiếu sắt trong cơ thể nữa, hết những triệu chứng của bệnh thiếu máu như mỏi mệt, tim đập nhanh, người xanh xao, chóng mặt nhức đầu, kém trí nhớ…. Họ thấy yêu đời hơn và năng động hơn. Chính phủ Cam-pu-chia đang khuyến khích xử dụng rộng rãi trong dân gian.

Tôi còn nhớ vào năm 1982, khi bà bs Dương Quỳnh Hoa còn làm Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Dinh Dưỡng Nhi Khoa tại bệnh viện Nhi Đồng 2, Sai-Gòn, một hôm có phái đoàn đài BBC đến thăm, thấy có nhiều trẻ em bị mù vì bệnh khô mắt (xérophtalmie) vì thiếu vitamine A, thì được bs Quỳnh Hoa giải thích:

"Ở đây chính phủ thích choàng khăn quàng đỏ lên cổ các em hơn là phát cho các em mỗi ngày một viên vitamine A để khỏi bị mù"

Một câu nói còn ý nghĩa đến ngày nay, gần nữa thế kỷ sau, để thấy rõ chính sách lo cho dân của cộng sản Việt Nam. Khi bà bộ trưởng y tế Kim Tiến thờ ơ trước các em bé chết vì chích thuốc ngừa mà bận lo đi nếm nước piscine để kiểm soát lượng thuốc khử trùng chlore, thật là một cử chỉ phường tuồng vô liêm sĩ.

Trong khi anh cộng sản “nhà quê” (chữ của J.Lacouture) đã biết lo sức khoẻ cho dân bằng cách khuyên ăn cá sắt thì ViệtNam còn cho dân ăn cá gỗ dài dài….

Cá sắt, cá gỗ, ai ngu hơn ai?

 

Nguồn: Diễn Đàn Thư Tín

Trang Thời Sự