30/4 - Ngày “Công Giáo Hận”
Trần Chung Ngọc
http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts040_2026.php
29-Apr-2026
Đối với một thiểu số, phần lớn thuộc thế lực đen, những người như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thì ngày 30/4/75 là ngày “Quốc hận” trong khi từ chính xác nhất phải là ngày “Công giáo hận.” Tại sao? Vì Công Giáo đã mất đi quyền tự tung tự tác như dưới thời Diệm, Thiệu, và quyền làm Việt gian như trong quá khứ.

Bài “Đầu Hàng” của Vân Xưa trong cuốn của Hồ Sĩ Khuê
là bài tôi thích nhất. Xin đừng hiểu lầm tôi thích là vì VNCH “đầu hàng”, mà vì
bài viết phân tích tình hình khá hay và đầy tình người. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng có
những kinh nghiệm bản thân về Cộng sản cũng như Quốc Gia trong thời chiến, vì
tôi là Sĩ Quan “Tác Động Tinh Thần”, sau đổi thành “Chiến Tranh Tâm Lý”, của
Tiểu Đoàn 12. Tôi cũng đã chứng kiến cuộc đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi,
Vương Văn Đông v..v… cũng như cuộc oanh tạc Dinh Độc Lập của hai phi công Phạm
Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử. Và sau cùng là cuộc đảo chánh năm 1963 của Dương Văn
Minh v… v… Tôi cũng đã nhìn thấy những khuôn mặt sáng sủa, trẻ trung, đầy tương
lai trong các lớp học tôi dạy, từ Trung Học đến Đại Học, nhưng khó mà có thể có
tương lai vì trước sau gì các em cũng bị lôi cuốn vào cuộc chiến tương tàn.
Ngày nay, lịch sử đã rõ ràng. Với những kiến thức mới về cuộc chiến thì
chúng ta đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng, xâm lăng
của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, với sự
hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của đế quốc Mỹ. Ngày 14 tháng 8, 1945,
Tổng Thống Pháp De Gaulle bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở
Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để cắm lại lá cờ tam
tài của chúng ta ở đó (pour y replanter notre drapeau). Và Mỹ đã giúp
hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này. Còn cuộc chiến hậu
Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ. Đây là kết luận của các học giả
Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái.
Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản
Tuyên Ngôn tại Washington D.C. về Hiệp Định Geneva như sau:
“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn,
chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám
sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và “Hoa
Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”
Xác định như vậy nhưng Mỹ đã nuốt lời hứa và dùng võ lực để can thiệp
ngay vào nội bộ Việt Nam.., dùng tay sai Ngô Đình Diệm để phá sự thống nhất
của đất nước qua bầu cử tự do, rồi chỉ đạo cuộc chiến và phạm rất nhiều tội ác ở
Việt Nam. Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of
The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học
Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết ở trang 59:
“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để
phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa
Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ
dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”
Sự kiện là, Mỹ đã toa rập với Vatican đưa tam đại Việt gian Công giáo
Ngô Đình Diệm về để chống Cộng cho Mỹ ở Nam Việt Nam, và đơn phương từ chối
không thi hành khoản tổng tuyển cử tự do trên toàn đất nước vào năm 1956 trong
Hiệp Định. Tại sao? Vì Tổng Thống Eisenhower của Mỹ đã nhận định, nếu có
một cuộc tổng tuyển cử tự do vào năm 1956 thì ông Hồ Chí Minh sẽ được ít nhất là
80% số phiếu. Vào thời đó, với uy tín của ông Hồ và Việt Minh sau trận Điện
Biên Phủ, Việt Minh không cần phải tổ chức một cuộc bầu cử gian lận như Ngô Đình
Diệm đã làm ở miền Nam với số phiếu ở Saigon nhiều hơn số cử tri.
Năm 2006, Bác Sĩ Allen Hassan, một
Bác sĩ đã phục vụ tại Việt Nam, đã viết cuốn “Failure To Atone” mà bản
dịch tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ dịch là “Không Thể Chuộc Lỗi” (Đúng
ra, dịch đúng nghĩa phải là “tội”, tội ác, chứ không phải “lỗi”, lỗi lầm) nói về
những tội ác của quân đội Mỹ ở Việt Nam.
Trong cuốn Không Thể Chuộc Lỗi, bác sĩ Hassan đã đề
cập đến chất độc da cam, nhưng đặc biệt, trong ấn bản Việt ngữ, ông đã viết thêm
một chương về những hậu quả và di chứng nặng nề của chất độc da cam mà quân đội
Mỹ đã sử dụng tại Việt Nam. Mỹ đã sử dụng bao nhiêu chất độc da cam ở Việt
Nam? Thượng Nghị Sĩ Mỹ Gaylor Nelson đã phát biều:
Nước Mỹ đã trút xuống Nam Việt Nam một lương hóa chất độc hại tương
đương với mức trung bình cho mỗi đầu người, kể cả phụ nữ và trẻ em, là 6 pound
(gần 3 kg).
Di hại to lớn của chất độc da cam ở Việt Nam là điều hiển nhiên, không ai
có thể chối cãi. Nhưng nước Mỹ đã muối mặt phủ nhận trách nhiệm. Đáng lẽ sau
cuộc chiến, Việt Nam phải đưa Mỹ ra Tòa Án Quốc tế Xử Các Tội Phạm Chiến Tranh
nhưng có lẽ tự biết thân phận của một nước nhỏ, có kiện cũng chỉ là “con kiến đi
kiện củ khoai”.
Gần đến ngày 30 tháng Tư, ở hải ngoại chúng ta lại sắp sửa nghe những bài
ca quen thuộc về những cái gọi là “CS cưỡng chiếm miền Nam” (sic), hay
“ngày mất nước” (sic), hay “tháng Tư đen”, hay “ngày quốc hận”
[sic] v.. v… phản ánh một sự hiểu biết rất sai lạc về cuộc chiến ở Việt Nam.
Sự
thật lịch sử là như thế nào?
Không ai có thể phủ nhận ngày 30/4/1975 là một
biến cố lịch sử có ảnh hưởng không ít không những chỉ trên khối người Việt lưu
vong mà còn trên cả dân tộc Việt Nam. Và cũng không ai có thể phủ nhận ngày
30/4/75 là ngày Việt Nam lấy lại hoàn toàn nền độc lập và thống nhất của nước
nhà sau gần một thế kỷ bị người Pháp đô hộ, và sau một cuộc chiến tranh bất đắc
dĩ đầy bi thảm mà nguyên nhân chính là sự can thiệp dựa trên “cường quyền
thắng công lý” của ngoại bang: sự liên kết giữa Vatican và Mỹ đưa Ngô Đình Diệm
về để chống Cộng, xóa bỏ hiệp định Genève trong đó có điều khoản qui định một
cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Đây cũng là những sự kiện lịch sử
bất khả phủ bác. Nhưng hiển nhiên vì cảm tính cá nhân, không phải tất cả mọi
người dân Việt đều có cùng một quan điểm về ngày 30/4/75.
....
Tôi cũng không thể nào chấp nhận luận điệu cho rằng Cộng sản đã
gây chiến ở Việt Nam, tiền Geneva hay hậu Geneva, những luận điệu phản ánh
những cái đầu mà không có óc, hay của những con bò mộng Tây Ban Nha, chỉ thấy
màu đỏ là húc càn. Làm sao có thể cho là Cộng sản gây chiến khi mà hai cuộc
chiến ở Việt Nam đều có nguyên nhân là sự ngoại xâm của của thực dân Pháp và của
đế quốc Mỹ mà những tài liệu của chính người Mỹ, người Pháp đã viết lên rất rõ
ràng như tôi đã trích dẫn ở phần trên. Mặt khác, nghiên cứu kỹ về cuộc
chiến ở Việt Nam tôi cảm thấy kéo dài chống Cộng với tâm cảnh Quốc-Cộng khi xưa
là điều hết sức vô lý, và sự thù hận Cộng sản có
nhiều phần phi lý. Nói như vậy không có nghĩa là tôi ủng hộ tình trạng tham
nhũng, nền giáo dục xuống cấp, cơn sốt kinh tế, đặt tiền tài vật chất lên trên
hết, kéo theo nhiều tệ đoan trong xã hội hiện nay ở Việt Nam. Những vấn nạn xã
hội này cần phải giải quyết với sự đóng góp của toàn dân, với thiện chí và thức
tỉnh trong tinh thần phục vụ người dân của chính quyền.
Đối với một thiểu số, phần lớn thuộc thế lực đen, những người như Linh Mục
Nguyễn Hữu Lễ thì ngày 30/4/75 là ngày “Quốc hận” trong khi từ chính xác nhất
phải là ngày “Công giáo hận.” Tại sao? Vì Công Giáo đã mất đi quyền tự
tung tự tác như dưới thời Diệm, Thiệu, và quyền làm Việt gian như trong quá khứ.
Lẽ dĩ nhiên “Quốc” và “Công giáo” là hai từ hoàn toàn khác nhau,
nếu không muốn nói là bất khả tương hợp nếu xét trên những sự kiện lịch sử từ
ngày các thừa sai Công giáo đầu tiên đặt chân trên đất Việt và qua cuộc xâm lăng
và đô hộ của thực dân Pháp cho đến các chính quyền Diệm, Thiệu, nhất là Diệm.. “Quốc”
của Công giáo là ở trên trời, nơi Giê-su “ngồi lên trên” tay phải của Cha ông ta
(sit on the right hand of God), nhưng thực ra là Vatican.
Những người
không có mấy đầu óc thường lấy cái hận của mình hay của tôn giáo mình làm cái
hận của cả một quốc gia, không buồn để ý là nói như vậy chỉ tỏ rõ trình độ
thấp kém của mình. Bày tỏ ý kiến cá nhân là quyền căn bản của con người, miễn là
những ý kiến bày tỏ không thuộc loại khích động sự thù hận mà nước Mỹ quy vào
một loại tội ác “hate crime”, nhưng không ai có quyền lấy ý kiến của mình làm
ý kiến của cả cộng đồng, của cả dân tộc. Cho nên từ “Quốc hận”
là một từ của những kẻ vô trí cưỡng đặt trên cả một quốc gia mối hận của những
cá nhân hay tôn giáo họ.
Đối với một thiểu số khác thì ngày 30/4/1975 là ngày mà họ không ngớt lời
lên án “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” làm như “miền Nam” là một nước
của riêng những người sống ở miền Nam, mà không cần để ý đến miền Nam cũng
là một phần đất của nước Việt Nam. Họ cũng quên đi tất cả những nguyên nhân,
yếu tố nào đã đưa đến sự hình thành một miền Nam mà thực chất không nằm trong
tay người miền Nam, nói khác đi, một miền Nam không có căn cước của một quốc gia
độc lập, có đầy đủ chủ quyền..., vì hoàn toàn lệ thuộc Mỹ và bất lực, không
hề có phản ứng trước những chính sách và hành động tàn bạo của người Mỹ đối với
người dân miền Nam của mình nói riêng, người dân Việt Nam trên toàn quốc nói
chung, như những tài liệu nêu trên của chính người Mỹ đã viết rõ. Nhưng tại sao
Việt Cộng có thể “cưỡng chiếm” được miền Nam, nếu đồng minh không quá chán chê
với cái miền Nam nên đành “tháo chạy”, nếu quân dân miền Nam không chán chường
vì chiến tranh với tâm cảnh “cũng thế thôi” [Xin đọc bài “Đầu Hàng” của
Vân Xưa, alias Hồ Sĩ Khuê].
Điều hiển nhiên là những quan điểm như “mất nước”, “Quốc hận”, “Việt Cộng
cưỡng chiếm miền Nam” chỉ là những quan điểm cá nhân của một thiểu số được đưa
lên những diễn đàn truyền thông hải ngoại làm như đó là những quan điểm của cả
cộng đồng người Việt di cư gồm hơn 2 triệu người. Chỉ có điều những quan điểm
như vậy phản ánh một trình độ rất thấp kém, vì không hiểu ngay cả những từ đơn
giản như thế nào là “nước”, là “Quốc”, và “cưỡng chiếm”. Những quan điểm cá nhân
thiển cận này thường chỉ là những “thùng rỗng kêu to”, hoàn toàn vô nghĩa và vô
giá trị trước những quyền lợi lớn lao của cả toàn dân tộc.
◎
Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ,
cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một
người Việt Nam, một người Việt Nam không Quốc Gia không Cộng Sản, không Nam
không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử
khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống
xâm lăng của dân tộc.
Đối với tôi, sự mất mát trong một giai
đoạn đã được đền bù bằng những món ăn tinh thần mà trước đây tôi không bao giờ
nghĩ tới. Từ 1975, định cư ở Mỹ, tôi mới có cơ hội và phương tiện để tìm hiểu về
Phật Giáo. Tôi cho đó là một hồng phúc của tổ tiên để lại. Ngoài ra, tôi cũng
còn có cơ hội để tìm hiểu thực chất về các tôn giáo khác, đặc biệt là về Ki Tô
Giáo nói chung, Công giáo Rô Ma (Roman Catholicism) nói riêng, cũng như về lịch
sử thế giới và lịch sử Việt Nam mà tôi tin rằng nếu ở lại Việt Nam tôi không thể
nào có phương tiện và cơ hội để có được những sự hiểu biết này. Qua những kiến
thức mới thu thập được này, tôi đã từ một người “Quốc gia” trở thành một người
“của Quốc Gia”, Quốc gia Việt Nam.
Nhưng trong chúng ta, có ai đặt câu hỏi:
“Thế nạn nhân của Mỹ và của phía Quốc Gia thì sao?” Ai có can đảm trả
lời trung thực câu hỏi này. Nên nhớ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giết khoảng
300,000 người vô tội trong chính sách “tố Cộng”, cộng với những thảm bom trải từ
B52, vùng oanh kích tự do, Bến Tre, chiến dịch Phụng Hoàng, Agent Orange, Mỹ Lai
v..v.. Và sự thật là, trong cuộc chiến, số người chết, bị thương của miền Bắc
gấp mấy lần của miền Nam. Khoan nói đến những sự tàn khốc của chiến tranh,
những người chết và thân nhân gia đình họ ở phía bên kia có phải là người không,
và những người còn sống có đau khổ trước những sự mất mát to lớn đã đến với họ
không? Họ có quyền thù hận chúng ta không?
Vậy nếu họ cũng kéo dài thù hận như chúng ta, thì sự thù hận này bao giờ
mới chấm dứt, oan oan tương báo. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những
thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia
ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người
bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng
con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng
kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận.
Ngày nay, thế giới Tây phương và tay sai tập trung vào chiến dịch hướng
dẫn dư luận, thật ra là lạc dẫn [mislead] dư luận qua những luận điệu tuyên
truyền xuyên tạc lịch sử, thổi phồng tội ác của Cộng Sản, nhằm mục đích xóa tên
Cộng sản trên chính trường thế giới để chạy tội cho chính mình. Sách lược
chung của họ là chỉ đưa ra, và thường là thổi phồng, xuyên tạc mặt xấu của Cộng
Sản mà không bao giờ nói đến cái lịch sử ô nhục của Tây phương về tôn giáo, về
thực dân, cũng như không bao giờ nói đến những thành quả của Cộng Sản trên thế
giới, kể cả ở Âu Châu.
Riêng về Việt Nam, những người chống Cộng cực đoan
hay chống Cộng cho Chúa thường quên đi hay xuyên tạc, hạ thấp những chiến công
lừng lẫy của Cộng Sản trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp, cất bỏ được ách
đô hộ của thực dân trên toàn thể dân tộc, và là tiền phong trong những cuộc cách
mạng chống thực dân trên thế giới, và sau cùng thống nhất đất nước. Họ chỉ quan
tâm đến vài con số ngụy tạo trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam. Trong cuộc
chiến với Mỹ ở miền Nam, họ chỉ nhắc đến Tết Mậu Thân theo luận điệu tuyên
truyền của Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ, mà quên đi bom đạn Mỹ và VNCH đã tàn phá Huế
và Bến Tre như thế nào, đã làm bao nhiêu thường dân vô tội chết.
Một tài liệu
cho biết, cho tới cuối năm 1966, theo ước tính của CIA thì bom của Mỹ thả ở
ngoài Bắc đã làm chết trên 35,000 người mà 80% là thường dân [Ronald H. Specter,
After Tet, The Free Press, New York, 1993, p. 12]. Họ cũng không bao giờ nhắc
đến Mỹ Lai, chiến dịch Phụng Hoàng, vùng oanh kích tự do, thuốc khai quang, và
những chính sách tàn bạo gấp bội, giết nhiều người gấp bội của Mỹ và tay sai,
nhất là của chính quyền tôn giáo trị, gia đình trị của Ngô Đình Diệm với chính
sách “tố Cộng” bừa bãi, với đoàn mật vụ miền Trung, với khu 9 hầm của Ngô Đình
Cẩn v.v... Nhưng tài liệu về cuộc chiến ở Việt Nam ngày nay không thiếu, cho
nên những luận điệu “tố Cộng” một chiều theo thiên kiến không còn giá trị thuyết
phục, ít ra là đối với lớp người có đôi chút hiểu biết về lịch sử.
Việt Nam nên hãnh diện vì đã
đi tiên phong trong sứ mạng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp,
một ách nô lệ mà lịch sử đã ghi rõ, thực dân Pháp không thể áp đặt lên dân
tộc Việt Nam nếu không có những sự hỗ trợ, hành động tay sai của tổ chức Công
Giáo Rô-ma ở Việt Nam, như chính giám mục Puginier đã thú nhận.
Cộng Sản
Việt Nam đã mở đường chôn vùi chế độ thực dân trên thế giới, đồng thời đưa thế
lực đen đã nổi tiếng là “hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc” về nguyên
vị là một thiểu số lệ thuộc ngoại bang trên đất nước, và mất đi những
quyền lợi chỉ có thể có được nhờ thực dân và 2 chính quyền Công giáo ở miền
Nam. Đây là những sự kiện lịch sử không ai có thể phủ bác bất cứ dưới lý luận
méo mó thiển cận nào, thí dụ như, cứ để yên rồi Pháp sẽ trả lại độc lập cho cũng
như Mỹ đã trả lại độc lập cho Phi Luật Tân mà không biết rằng bao nhiêu ngàn
người Phi Luật Tân đã chết vì chống Mỹ.
Nhưng sau khi đánh đuổi được thực dân
và thống nhất đất nước, chủ nghĩa Cộng Sản đã không còn thích hợp. Vì vậy mà sớm
hơn cuộc “cách mạng nhung 1989” tại Đông Âu, từ 1986, Việt Nam đã
kịp thời chuyển hướng, từng bước tự mình đổi mới để vượt qua những khó khăn lúc
đầu của tình trạng kiệt quệ sau cuộc chiến, vượt qua sự cấm vận trong 19 năm của
Mỹ, và đưa quốc gia đến tình trạng phát triển về mọi mặt ngày nay. Chỉ có
những con bò mộng Tây Ban Nha, đeo thêm cặp kính màu hồng, nhìn đâu cũng thấy
màu đỏ và cắm đầu húc càn, mới không biết đến những điều này.
***
Có người chất vấn tôi: tại sao ông không chống Cộng mà lại đi chống Công
giáo? Đây là một câu hỏi hàm ý muốn áp đặt khuynh hướng chính trị của mình lên
người khác.
Việt Nam, qua dòng lịch sử, rất trân quý nền độc
lập và chủ quyền của nước nhà, và không ngại hi sinh để gìn giữ đất nước như
lịch sử đã chứng minh. Nhưng lịch sử cho thấy, Công giáo “có công“ đưa nước nhà
vào vòng nô lệ của thực dân Pháp và đào tạo được nhiều Việt gian như Trần Bá
Lộc, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký, Nguyễn Thân, Nguyễn Bá Tòng, Trần Lục, Lê Hữu
Từ, Hoàng Quỳnh, dòng họ Ngô Đình v..v...., còn Cộng sản thì có công đánh đuổi
được thực dân Pháp và thống nhất đất nước. Hai cái “công“ này rất khác nhau,
một là công đối với tổ tiên, đất nước; còn một là công đối với ngoại bang để xâm
chiếm đất nước của tổ tiên, phản bôi dân tộc. Vậy thì, chúng ta nên
chống Cộng hay chống Công giáo?“
Những người Công giáo lên án tôi là “chống Công giáo“! Hãy dùng đầu óc để
suy nghĩ xem những điều tôi viết về Công giáo có phải là những sự thật hay
không, hay đó chỉ là những sự bịa đặt của ... Cộng sản (!) mà tôi dùng để “chống
Công giáo“? Tôi chỉ đưa ra những sự thật về Công giáo, qua những tài liệu bất
khả phủ bác của giới học giả Âu Mỹ, trong đó đa số lại là học giả Thiên Chúa
giáo, với hi vọng giúp được phần nào tăng sự hiểu biết đúng đắn của người
dân Việt Nam về bộ mặt thật của Công giáo.
Có lý do gì để người dân Việt Nam
không được quyền biết những sự thật này? Những tín đồ Công giáo có quyền tin
những lời dạy của các bề trên, rằng Công giáo của họ là một “hội thánh, thiên
khải, duy nhất, tông truyền“, quán quân về tinh thần bác ái v...v... Nhưng họ
phải biết rằng, bất kể Giáo hội Công giáo dạy tín đồ của họ như thế nào, đối với
những người hiểu biết ở ngoài đạo như tôi thì, trước hàng núi tài liệu khả
tín về Công giáo của hàng trăm học giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội viết về
Công giáo. Công giáo chẳng qua chỉ là một tổ chức thế tục ngụy trang đàng sau bộ
mặt tôn giáo, có nhiều sắc thái của Mafia, Mafia tâm linh cũng như Mafia vật
chất.
Tôi đã trở thành một công dân Mỹ gốc Việt 29 năm nay rồi. Nhân danh là
một công dân Mỹ, những gì tôi viết về Mỹ, chẳng phải là để chống Mỹ, mà chỉ là
những sự thật về Mỹ, từ những tài liệu của chính người Mỹ. Cũng vậy, những gì
tôi viết về Công giáo chẳng phải là tôi chống Công giáo, mà chỉ là những sự thật
về Công giáo, từ những tài liệu nghiên cứu về Công giáo của các học giả Âu Mỹ, ở
trong cũng như ở ngoài Công giáo. Không ở trong lãnh vực học thuật trí thức thì
khó mà có thể hiểu được những điều này.
Kiến thức thu thập được từ những tài liệu có giá trị về cuộc chiến, về tôn
giáo, tôi cho đây chính là sự đền bù lớn lao đối với tôi, về phương diện tri
thức, để bù đắp lại sự mất mát do quyết định của tôi, tự bắt buộc phải rời quê
hương mấy ngày trước ngày 30 tháng Tư, 1975.

(SH - Trích đoạn chọn lọc từ bài BA MƯƠI THÁNG TƯ VÀ TÔI năm 2009 của chính tác giả)
Trần Chung Ngọc
4/2009