|
February 26, 2012 |
Nguồn:
WHERE THE DOMINO
FELL - American and Vietnam, 1945-1995
Tác giả: James S. Olson & Randy
Roberts
Nhà Xuất bản: Brandywine Press, New York, 1999 – Third
Edition
Chương 4. The New Frontier in Vietnam, 1961-1963, Trang
98.

Chính phủ Diệm tiếp tục bị suy sụp, không phải chỉ vì
những giá trị quan lại phong kiến của nó và [sự thất bại] của Chương trình
Ấp Chiến lược, mà còn vì những điều kỳ cục lạ lùng và những hoang tưởng.
Ông anh trưởng Ngô Đình Thục, Tổng Giám mục địa phận
Huế, đã dùng ảnh hưởng chính trị của ông ta để gia tăng bất động sản cho
Giáo hội Công giáo. Một người chỉ trích ông ta đã lên án rằng những yêu
cầu đóng góp của vị Tổng Giám mục thì “đọc ra chẳng khác gì giấy báo
đóng thuế” vậy. Ông ta mua các trang trại, những cơ sở kinh doanh,
địa ốc tại thành phố, cao ốc cho thuê và đồn điền cao su, và ông sử dụng
các đơn vị của Quân đội Việt Nam Cọng Hòa để đốn cây và để xây cất.
Ngô Đình Cẩn, kẻ độc tài tại Huế, tích lũy được một đống
tiền bạc nhờ làm đầu nậu một tổ chức chuyển những kiện hàng to lớn đầy
gạo cho Hà Nội và một số lượng lớn thuốc phiện đi khắp Á châu.
Ngô Đình Luyện, vị đại sứ của Nam Việt Nam tại Luân Đôn,
trở thành triệu phú nhờ đầu cơ tiền đồng (Việt Nam) và Anh kim bằng cách
sử dụng những thông tin nội bộ do các người anh em ở Sài Gòn cho biết.
Lạ hơn nữa là những trò hề của Ngô Đình Nhu. Vào năm
1963, ngày nào Nhu cũng hút thuốc phiện. Tham vọng của ông ta từ lâu đã
trở thành một bệnh cuồng vĩ hoang tưởng mà biểu tượng là Đảng Cần lao Nhân
vị Cách mạng - một loại công an được biết đến qua những hoạt động tra tấn
và ám sát. Những đoàn Cần Lao với cách diễn hành bước như đàn ngỗng theo
kiểu Nazi Đức Quốc xã và chào thẳng tay, lại càng làm cho Nhu thêm cứng
rắn.
Bà Nhu thì có đám xung kích riêng, được biết dưới tên
Phong trào Phụ nữ Liên đới và Thanh nữ Bán quân sự, được dùng để chống
lại ma quỉ, hay ít nhất là những gì mà Bà Nhu xem là ma quỉ - như vũ trường,
đánh bài, đĩ điếm, li dị và cờ bạc. Hai vợ chồng ông bà Nhu làm giàu nhờ
thủ đoạn làm tiền qua việc tổ chức xổ số, thao túng ngoại tệ, tống tiền
giới doanh nhân Sài Gòn, hứa sẽ “bảo vệ” nếu họ chịu đóng hụi chết.
Sau khi đọc xong các phúc trình của Cục Tình báo Trung ương CIA về những
điều tệ hại nầy, Tổng thống Kennedy đập mạnh tài liệu xuống bàn và hét
to “Đồ cái bọn chó đẻ đáng nguyền rủa” (“Those damned
sons of bitches”)
[Dịch nhóm từ “son of bitch” thông tục của ngôn
ngữ Mỹ ra tiếng Việt “đồ chó đẻ” theo https://www.trueknowledge.com/q/what_is_%22son_of_a_bitch%22_in_vietnamese.
Do đó, khi mắng nhiều người, “đồ chó đẻ”
trở thành “bọn chó đẻ” ]
■ Tác
giả James Stuart Olson là
một học giả và là ứng viên của giải Pulitzer. Năm 1994, ông được phong
chức Giáo sư Sử học Danh dự của Đại học Sam Houston tại tỉnh Huntsville
ở tiểu bang Texas. (https://en.wikipedia.org/wiki/James_S._Olson).
Ông là tác giả của hơn ba mươi đầu sách, trong đó có 4 cuốn về chiến
tranh Việt Nam:
- Where the Domino Fell: The United States and Vietnam, 1945-2000 (New
York: St. Martin’s Press, 1991; rev. ed. and paperback, Brandywine Press,
1999). - My Lai: A History and Documents (Boston: Bedford
Books, 1998). - The Vietnam War: A Handbook of Research (Westport,
CT: Greenwood Press, 1995). - A Historical Dictionary of the Vietnam
War (Westport, CT: Greenwood Press, 1988).
■ Tác giả Randy Roberts là Giáo sư Sử học tại đại học Purdue
University, West Lafayette, tiểu bang Indiana. Ông chuyên về Sử cận đại. Ông
cũng đã viết chung với Giáo sư Olson tác phẩm My Lai: A Brief
History with Documents (1998). (https://www.amazon.com/Where-Domino-Fell-America-Vietnam/dp/product-description/0312055358)
“The
so-called Strategic Hamlet Program herded Vietnamese peasants away
from their ancestral villages and confined them to fenced, fortified
compounds that were more like minimum security prisons than real communities”
(Cái gọi là Chương trình Ấp Chiến lược lùa nông dân Việt Nam ra khỏi
quê làng tổ tiên của họ và nhốt họ trong những khu đất rào quanh chắc
chắn giống như một nhà tù hơn là các cộng đồng thật sự)
The Diem government was steadily deteriorating, not
only because of its mandarin values and the Strategic Hamlet Program
but also because of bizarre eccentricities and paranoia.
Elder brother Ngo Dinh Thuc, archbishop of Hue, used
his political clout to augment church property. One critic charged that
his requests for contributions “read like tax notices.” He bought farms,
businesses, urban real estate, rental property, and rubber plantations,
and he employed ARVN troops on timber and construction concessions.
Ngo Dinh Can, the dictator of Hue, accumulated
a fortune as head of a smuggling syndicate that shipped huge loads of
rice to Hanoi and large volumes of opium throughout Asia.
Ngo Đinh Luyen, the South Vietnamese ambassador
in London, became a multimillionaire speculating in piasters and pounds
using inside information gleaned from his brothers in Saigon.
More bizarre still were the antics of Ngo Dinh Nhu.
By 1963 Nhu was smoking opium every day. His ambition had long
since turned into a megalomania symbolized by the Personalist Labor Revolutionary
party, or Can Lao – secret police known for torture and assassination.
Can Lao troops complete with Nazi-like goose-step marches and stiff-armed
salutes, enforced Nhu’s will.
Madame Nhu had her own stormtroopers, a
group known as the Women’s Solidarity Movement and Paramilitary Girls,
which worked at stamping out evil, or at least what Madame Nhu considered
evil – dancing, card playing, prostitution, divorce, and gambling. The
Nhus amassed a fortune running numbers and lottery rackets, manipulating
currency, and extorting money from Saigon businesses, promising “protection”
in exchange for contributions.
After reading a CIA report on the shenanigans, President Kennedy slammed
the document down on his desk and shouted, “Those damned sons
of bitches.”