 |
27 tháng 10, 2010,
updated 08Nov2010
|
Soldiers Never Lose
Người dân Mỹ biết taị sao họ tham chiến ở Pearl Harbor năm 1941, ở
Triều Tiên năm 1950. Nhưng hình như họ không hiểu tại sao xứ họ lún
vào “vũng lầy” chiến tranh Việt Nam từ 1954 đến 1975. Từ chiến
trường Việt Nam xa xôi, quan tài liên tiếp trở về. Khi nốt nhạc
chiêu hồn còn đang lơ lửng, bên nấm mồ phủ hoa và lá cờ đầy kịch
tính, gia đình tử sĩ giật mình “Sự thật ở đâu? Người anh hùng không
toàn thây kia nằm xuống cho ai?” Tướng McArthur nói “Old soldiers
never die; they just fade away/Người lính già không chết; họ chỉ
nhạt dần đi”. Có lẽ phải thêm “Soldiers never lose, but are
betrayed/ Người lính không bao giờ thua trận/họ chỉ bị phản bội”.
Cựu quân nhân Việt Mỹ giống nhau một điểm: ồn ào nhận thua trận mà
quên rằng:
Chỉ cấp lãnh đạo mới thua trận!
Chỉ cấp lãnh đạo mới phản bội!
Nhưng cấp lãnh đạo chiến tranh Việt Nam là ai?
Lúc người dân Mỹ khám phá ra rằng khi chấp nhận chiến tranh thì phải
chấp nhận hy sinh nhưng Hồng Y Spellman chỉ muốn ngườì “hy sinh’ cho
ngài, họ bắt đầu biểu tình trưóc nhà thờ St. Patrick và tư dinh của
ngài ở New York. Lần đầu tiên tên một hồng y được đặt tên cho cuộc
chiến, “Spellman’s War.” Những bài viết cay đắng về ngài khá
nhiều. Có một điều người dân Mỹ “cay đắng” về cuộc chiến Việt Nam:
đang từ một dân tộc anh hùng kiểu “vì dân diệt bạo”, họ trỏ thành
hiếu chiến hiếu sát, trong khi đó, Vatican được tiếng là rao giảng
hoà bình. Ý kiến của một cựu chiến binh “Hơn 58,000 lính Mỹ không
biết rằng họ chết ở Việt Nam cho Giáo Hội Ki-tô. Không đi
lính, thì đi tù 5 năm. Biết vậy, tôi không đăng lính năm 1968. Tôi
sẽ đi biểu tình chống chiến tranh và ngồi tù trong danh dự để thách
đố nhũng láo khoét của chính phủ về tình hình VN.” (1)

Bức tường lưu niệm ở Washington DC dài 493.5 feet
ghi tên các quân nhân Hoa kỳ tử trận ở Việt Nam
Điều đau của quân nhân Mỹ-Việt, từ tướng cho đến quân trong cuộc
chiến Việt Nam: đào ngũ thì bị tù, muốn đánh cũng không đuợc, muốn
thua cũng không xong, muốn thắng lại càng khó! Chết uổng đời, sống
bị phỉ nhổ! Khi siêu quyền lực muốn kéo dài chiến tranh để tiêu thụ
võ khí, thì xác người chỉ là con số, Việt Nam là nấm mồ, chôn ai
không cần biết.
Trong 28 năm làm hồng y, hồng y Spellman trực tiếp can dự vào cuộc
chiến Việt Nam suốt 13 năm - từ 1954 đến 1967. Tuy có tới hơn ba
triệu Người Việt-Mỹ chết “Cho Ngài, Do Ngài và Vì Ngài”, mặc
dù tên tuổi của ngài hình như còn rất xa lạ với người mình, ngoại
trừ một số du học sinh ở Úc, Mỹ… những năm 1960, bật TV lên là thấy
ngài.
Nhưng hồng y Spellman là ai?
Truyền
thông Hoa Kỳ ghi chép đầy đủ cuộc đời và sự nghiệp hồng y Spellman
(1889-1967). Quan điểm của những tác giả độc lập này khá khách
quan, khi chỉ muốn tìm ra “sự thật”, tìm ra “mục tiêu tối thưọng”
cuả sự việc. Họ không tìm cách bào chữa/tâng bốc/đạp đổ nhân vật,
mà chỉ phân tích mục tiêu cho cho ra lẽ. Tác giả Avro Manhatttan còn
cẩn thận viết “Đề cập đến “giáo hội Ki-Tô” cuốn sách của tôi
không nhắm đến những tín đồ thuần thành, không biết chút xíu gì về
những âm mưu toan tính nói trên, chỉ nói đến giới lãnh đạo cao cấp ở
Vatican và những tu sĩ Dòng Tên”.
Bài viết này chỉ nhặt những chi tiết có liên quan xa
gần tới chiến tranh Việt Nam, còn những sự việc khác như ngài là
người đồng tính (homosexual), chiếm giải quán quân trong việc phát
triển giáo hội qua việc xây dựng trường học Công giáo trên toàn thế
giới, thành công vượt bực trong kinh doanh “Knights of Malta”, thiết
lập Ratlines giúp đám Nazis Đức Quốc Xã chạy trốn, thành tích quậy
phá các xứ Trung Mỹ…không liên quan gì đến vận mệnh ngườì Việt cả.
Có thể nói đường hoạn lộ cuả ngài thẳng băng như một cây thước kẻ.
1.
Về tôn giáo:
Năm 1911, chủng sinh Spellman/dòng Jesuits (tức dòng Tên), 22 tưổi
tu học ở Rome được hân hạnh kết bạn rất thân với Hồng Y Eugenio
Pacelli. Hồng y gọi yêu cậu là “Frank hay Franny”. Trong 7 năm,
hồng y Pacelli đi khắp thế giới đều mang Frank theo, từ leo núi Alps
đến bãi biển Hy Lạp. Tháng 7-1932, Frank đưọc phong làm giám mục
giáo phận Boston, thủ đô tiểu bang Massachusetts. Chính hồng
y Pacelli, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao, tấn phong cho Frank trong
một buổi lễ trọng thể cử hành ở đền thờ Thánh Phêrô/St. Peter’s
Basilica ở Vatican, Frank mặc aó lễ màu vàng chói mà hồng y Pacelli
mặc năm xưa. Lần đầu tiên một giám mục Hoa Kỳ được hân hạnh này,
giáo dân Boston nở nang mặt mũi.
Tháng 3-1939, hồng y Pacelli được bầu làm gíao hòang Pius XII. Đúng
tám tuần lễ sau, giáo hoàng Pius XII phong cho Spellman làm tổng
giám mục New York, giáo phận giầu có nhất Hoa Kỳ. 20 năm sau, hồng
y Spellman biến New York thành giáo phận giầu nhất thế gìới. Cùng
năm 1939, Spellman đuợc phong chức tổng tuyên úy quân đội:
cái vé tối danh dự đặt giám mục Spellman trên đỉnh mạng lưói siêu
quyền lực gồm siêu quí tộc/tài phiệt/chính trị/tình báo/quân sự
liên quốc gia có tên Sovereign Military Order of Malta, viết tắt
SMOM, hội viên phải được giáo hoàng sắc phong. Nội cái tên không
thôi đã nói lên mục đích của SMOM.
Năm 1946, giáo hoàng Pius XII phong Spellman chức hồng y. Không
cần mọc cánh, ngài trở thành “thiên thần” giữa Vatican và bộ ngọai
giao Mỹ. Ở Mỹ, người ta linh đình chúc tụng ngài là American
Pope/Giáo Hoàng Hoa Kỳ. Ở Vatican, Người ta gọi ngài là Cardinal
Moneybags/Hồng Y Túi Tiền. Ngôi thánh đường Patrick ngài ngự đuợc
gọị chệch đi là “Come-on-wealth Avenue/Đaị lộ Của Cải Nhào
Vô” (thay vì “Commonwealth”), trở thành thời thượng. Ngài làm
lễ cưới cho Edward Kennedy ở đó.
2. Quyền lực:
Đóng góp tài chánh của hồng y Spellman cho Vatican, tình bạn với
Giáo hoàng Pius XII, vị
trí chót vót trên đỉnh SMOM, quyền lực
Spellman hầu như vô tận không ai dám đụng. Bạn của ngài nằm
trong danh sách 100 người quan trọng nhất thế kỷ 20. Ngài giới thiệu
với giáo hoàng Pius XII hàng loạt các nhà cự phú, biến họ thành
quí tộc Hiệp sĩ Malta, không ai dám đụng tới. Hốt tiền chỗ này
bỏ chỗ kia khéo léo như một bà chủ hụi, dưới bàn tay Spellman mọi
việc trôi êm. Thay vì nộp tiền niên liễm cuả Knights of Malta-
Hiệp sĩ Malta vào tổng hành dinh SMOM ở Rome, Spellman chuyển
tiền đó vào tài khoản riêng cuả hồng y Nicola Canali (1939-1961) bộ
trưỏng bộ ngoại giao Vatican. Vài câu hỏi yếu ớt vang lên, ngài
không bận tâm trả lời.
Báo nào xa gần hơi “tiêu cực” về ngài, ngài
cho lệnh các cửa hàng sang trọng khu Sak Fifth Avenue rút hết quảng
cáo liền một khi. Thương xá Sak Fifth/New York chỉ là một tài
sản khiêm nhường của ngài, cũng như tổng giám mục Ngô Đình Thục là
chủ thương xá Tax/Saigon.
Hồng y Spellman giúp Vatican 1 triệu đô la tài trợ Công đồng Vatican
II nhưng ngài không hơi sức nào bầu bạn với nhũng kẻ nghèo khó.
Tháng 3/1949, hai trăm phu đào huyệt nghĩa trang Calgary - rộng 500
mẫu mà ngài là chủ nhân - đòi tăng lương 20% từ 59.40 lên 71.40 $USD
(một tuần). Ngài không chấp nhận, ngày mím môi bắt các chủng sinh
nhà thờ St. Patrick thay thế, đào huyệt chôn 1020 quan tài xếp lớp
(2).
Ngài đổ cho cái đám cùng khổ ấy là bọn… cộng sản. Mấy người vợ
nghèo khổ của đám phu đào huyệt mếu máo phân trần “Chồng tôi chỉ
muốn tăng lương, không biết cộng sản là gì”.
3. Về chính trị:
Hồng y Spellman đìều khiển thế giớí bằng điện thoại. Ngài cho hay
trước sẽ không ai viết được tiểu sử ngài, vì sẽ không bao giờ có
dấu vết chứng từ. Ngài là cố vấn của năm đời tổng thống Mỹ từ 1933
đến 1967, từ Roosevelt, Truman, Eisenhower, Kennedy đến Johnson.
Ngài là bạn thân với tưóng William Donovan - xếp sòng OSS, tiền thân
CIA. Donovan chỉ định Allen Dulles nối ngôi CIA, nên hai anh em nhà
Dulles, bộ trưởng ngoại giao và giám đốc CIA, cũng dưới tay ngài.
Một
trong những người bạn danh giá là đại gia Joseph Kennedy, thân phụ
của thượng nghị sĩ trẻ tuổi John Kennedy/tiểu bang nhà, Mass. Năm
1935, taì sản ông Kennedy đã lên tới $180 triệu đô la, khoảng 3 tỷ
bây giờ.
Sau thế chiến II, một trong những chiến lược của Vatican
trong việc ngăn chặn cộng sản bằng cách ủng hộ các ứng viên phe Dân
Chủ Ki-Tô giáo. Đang khi Vatican muốn có một tổng thống Ki-tô ở tòa
Bạch Ốc, đúng lúc Joseph Kennedy muốn John Kennedy làm tổng thống.
Giáo hoàng Pius XII gưỉ bác sĩ riêng Riccardo Galeazzi đến gặp
Spellman và Joseph Kennedy để thương lượng. Có tiền mua chức tổng
thống dễ như mua bắp rang.
Những yếu tố trên chín mùi cùng lúc, Spellman dựa vào Vatican dựng
lên hai tổng thống Ki-tô dân chủ đầu tiên: John F. Kennedy ở
Washington D.C cũng như Ngô Đình Diệm trước đó ở Saigon.
Tài liệu ngoại quốc không có những chi tiết như trong bài viết
“Có phải Hoa Thịnh Đốn Đã Đưa Ông Diệm Về Làm Tổng Thống Đệ Nhất
Cộng Hoà VN” cuả Linh mục An-Tôn Trần Văn Kiệm (3). LM là người duy
nhất ở gần ông Ngô Đình Diệm trong hơn hai năm ông Diệm ở Mỹ, Theo
Linh mục, có ba người đưọc hồng y Spellman bảo trợ, nhận làm con
nuôi: hai linh mục Trần Văn Kiệm-Nguyễn Đức Quý và ông Ngô Đình
Diệm.
(Ghi chú: ông Ngô Đình Diệm có tới ba vị “cha nuôi” oai quyền một
cõi: thượng thư Nguyễn Hữu Bài, Hồng y Spellman và trùm CIA Allen
Dulles)
Năm 1951, đang ở New York, Linh mục Trần Văn Kiệm, được điện tín từ
Âu châu ra đón tổng giám mục Ngô Đình Thục và em là Ngô Đình Diệm
taị phi trường Idlewild (phi trường Kennedy bây giờ). Sau đó Hồng
y Spellman gửi ông Diệm trú taị nhà dòng các linh mục Maryknoll, New
Jersey. Tuy đuợc Hồng y Spellman giầu có bảo trợ, ông Diệm không
đưọc Hồng y cho đồng xu nào. Suốt hai năm, chỉ một mình Linh mục
Kiệm thăm viếng, bao biện việc di chuyển, kể cả thuê khách sạn cho
ông tiếp khách vì biết ông rất thanh bạch. Cho đến tháng 6/1953,
ngày ông từ giã Hoa Kỳ qua Pháp gặp hoàng đế Bảo Đại trước khi về VN
nhận chức thủ tướng, Linh mục M Trần Văn Kiệm và năm người bạn còn
chạy mua vội cho ông chiếc cà vạt màu xanh.
Tuy vậy, theo linh mục Trần Văn Kiệm, mãi đến giữa năm 1953, chính
giới Mỹ chẳng biết gì về ông Ngô. LM T.V.Kiệm viết:
-”Có lần chính khách Mỹ phàn nàn với tôi: linh mục đề cao tư cách
lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm, và cả Đức Cha Ngô Đình Thục cũng làm
như thế, nhưng chúng tôi cần thêm chứng nhân, vì Đức Cha Thục là anh
đề cao em thì có chi là lạ”.
-”Mãi tới gần một tháng sau khi trận Điện Biên phủ nổ lớn ngày 13
tháng 3 năm 1954 (thất thủ ngày 26 tháng 6)
(*) và có lẽ cũng vì nghe
lời Đức Hồng y Francis Spellman kêu gọi, ngày mùng 7 tháng tư năm
1954 tổng thống Eisenhower mới lên tiếng cảnh giác, khi ông xướng
lên chủ thuyết Domino: “Nếu Việt Nam sụp đổ trước sức tấn công
Cộng sản quốc tế với Liên Xô và Trung hoa yểm trợ Hà nội, thì mấy
nước ở Đông Nam Á sẽ khó mà đứng vững được”.

Hồng
Y Spellman Dựng nên Đệ Nhất Cộng Hòa VN
Một chân ở điện Capitol, một chân ở Vatican, hồng y Spellman ảnh
hưởng cả tổng thống Mỹ, sai khiến được trùm CIA, hoạch định chính
sách cho bộ ngoại giao, nên ngài yên chí sẽ được bầu làm giáo hoàng
ở Vatican khi bạn thân ngài là giáo hoàng Pius XII qua đời. Không
ngờ, ngày 28-10-1958, người đựợc bầu là Hồng Y Angelo Roncalli, tức
Giáo hoàng John XXIII. Hồng y Spellman giận lắm, nhiếc sau lưng
ông: “Ông ta đâu xứng làm Giáo Hòang, Ổng đáng đi bán chuối/He’s
no Pope. He should be selling bananas”.
Hồng y Spellman có vẻ như lập laị câu nói cuả Cesar “Veni, Vidi,
Vici”. Những năm 1950, chính khách Mỹ nói về châu Á còn lọng
cọng dở bản đồ, Spellman đã đi qua cả rồi. Năm 1948, ngài đỡ đầu cho
linh mục Fulton Green qua Australia đọc diễn văn tại nhà thờ St.
Mary’s ở Sydney.
Spellman ghé Singapore và Bangkok, bay ngang Angkor
Wat. Trên đường trở về Mỹ, trứơc khi bay qua Canton và Hongkong,
ngài "tiện chân" ghé Saigon. Tổng giám mục Saigon người Pháp Jean
Cassaigne có mời tổng giám mục Vĩnh-Long Ngô Đình Thục trong buổi
tiếp đón ngày 25-5-1948: từ buổi “tiện chân” định mệnh này, số phận
cuả dòng họ Ngô-Đình đã an bài.
Giới học thuật Mỹ - tôn giáo, chính trị, truyền thông, giáo dục -
đồng ý dứt khóat 100% về vai trò của Hồng Y Spellman trong việc dựng
lên tổng thống Ngô Đình Diệm. Xin chỉ giới hạn vào bốn tác giả mà
sách của họ đã được thử thách với thờì gian. Trong số bốn người này,
hai là linh mục Ki-tô giáo:
- Theo Wilson D. Miscamble, giáo sư môn sử/đaị học Notre
Dame/Indiana, trong bài viết “Francis Cardinal Spellman and
Spellman’s War” (4), lý do người Mỹ nhúng tay vào chiến tranh VN bắt
nguồn từ ChiếnTranh Lạnh kéo dài từ châu Âu. Dưới ảnh hưởng vô
cùng to lớn của Spellman, chính giới Mỹ đều tin tưởng rằng sự
bành trướng của khối Cộng Sản Liên Sô và đồng minh của họ, Bắc VN,
là mối đe dọa trực tiếp nước Mỹ.
- “The American Pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spellman”
(5), tác giả John Cooney (cây bút cuả Wall Street
Journal) viết: “Nếu không có Spellman ủng hộ Ngô ĐìnhDiệm hồi
1950, chắc chắn không có chính phủ miền Nam Việt Nam.”
Cooney dành 18 trang riêng về Spellman và Việt Nam. Tờ Church &
State phê bình “dẫn chứng kỹ càng, tất cả người Mỹ nên đọc và học
hỏi”
- “An American Requiem/Kinh Cầu Hồn Nước Mỹ”(6), tự truyện, tác
giả James Carroll có bố là trung tá tình báo Pentagon: chuyên
viên tìm toạ độ để ném bom ở Việt Nam, mẹ lại là bạn thân cuả hồng y
Spellman. Ông viết “Chiến tranh VN bắt đầu từ Spellman”,
sách-bán-chạy nhất 1960-70, đoạt National Book Award for Non-Fiction
(1996), giải thưởng cao quí nhất cuả văn học Mỹ. Carroll dành nguyên
chương 8, “Holy War/Cuộc Chiến Thần Thánh” cho chiến tranh
Việt Nam.
- Theo linh mục Martin Malachi: Spellman dấn thân vào Việt
Nam là theo ý muốn của Giáo Hoàng Pius XII: muốn người Mỹ đưa ông
Ngô Đình Diệm lên vì ảnh hưởng của tổng giám mục Ngô Đình Thục
(7).
(Ghi chú: Linh mục Malachi, giáo sư Giáo hoàng Học Viện Vatican
(Pontifical Biblical Institute) từ 1958 đến 1964, cùng thờì điểm
chìến tranh Việt Nam. Ông là phụ tá, thư ký riêng, thông dịch viên
cho hồng y Augustin Bea/dòng Jesuit và cho Giáo hoàng John XXIII.
Ông ở cùng dinh vơí giáo hoàng John XXIII, được giao phó nhiều việc
“nhậy cảm. Là linh mục dòng Jesuits (dòng Tên) trong 25 năm, năm 1965
ông xin chấm dứt ơn kêu goị, nghiã là ra khỏi dòng Jesuits. Ông qua
New York, sống lang thang làm bồi bàn, tài xế taxi, rửa chén. Hai
năm sau ông bắt đầu kiếm ăn bằng viết sách. Cuốn nổi tiếng nhất:
“The Jesuits: The Society of Jesus and the Betrayal of the Roman
Catholic Church/ Dòng Jesuit và Sự Phản Bội Của Giáo Hội La Mã”).
(Cả ba cuốn The American Pope, An American Requiem, The Jesuits đều
có trên amazon.com.)

Có thể tóm tắt: đưọc các nhân vật tối cao cuả lập pháp, tư pháp,
tình báo, taì phiệt và tôn giáo Hoa Kỳ đã nâng đỡ con đường hoạn lộ
cuả ông quan Á Châu Ngô Đình Diệm giống như truyện cổ tích Cô Bé
Lọ Lem, ngọai trừ đoạn cuối.
1. 1951: taị New York, Hồng Y Spellman giới thiệu ông quan-tự
lưu vong-Ngô Đình Diệm với chính giới Mỹ, gồm thượng nghị sĩ Michael
Mansfield, thẩm phán tối cao pháp viện William O. Douglas, trùm CIA
Allen Dulles, cha con Joseph Kennedy, tất cả là tín đồ công giáo.
2. 1954: CIA gửi Edward Landsdale qua Saigon hóa phép “trưng
cầu dân ý” truất phế Baỏ Đaị-ủng hộ thủ tứơng NĐDiệm. Landsdale đề
nghị tỷ lệ đắc cử là 70%, ông Diệm không đồng ý, đòi phải đạt được
92.2%, con số cao hơn cả số cử tri ghi danh (8).

(Landsdale và Ngô Đình Diệm)
https://www.historynet.com/
3. 1955: Bộ Ngoaị Giao gửi đoàn cố vấn dân sự qua Saigon
(giáo sư Wesley Fishel/đại học Michigan cầm đầu) soạn cấu trúc cho
an ninh, kinh tế, giáo dục, hành chánh, soạn cả hiến pháp cho
Việt Nam Cộng Hòa. Cơ quan USAID/Sở Thông tin Hoa Kỳ phát không
tờ Thế Giới Tự Do, lò sản xuất những khẩu hiệu như “tiền đồn
chống cộng, lý tưởng tự do, Người quốc gia…”. USAID cũng bao dàn
trọn gói luôn tờ The Times bằng tiếng Anh của ông Ngô Đình
Nhu.
4. 1955: chính phủ Eisenhower tài trợ 20 triệu đô la cho
quĩ [Roman] Catholic Relief Services , “Cơ Quan Viện Trợ Công
Giáo”. Hồng y Spellman cũng đích thân viếng Saigon và tặng
$100,000 cho quỹ này, giúp tái định cư người di cư (có tài liệu ghi
$10,000). Từ đó mỗi năm, Hoa Kỳ viện trợ khoảng 500 triệu đô la một
năm cho Việt Nam Cọng Hòa.
5. Ngoài cố vấn Mỹ chính thức tạị dinh Độc Lập, Spellman còn
gàì điệp viên kiểm soát hai anh em ông Diệm-Nhu.
6. Từ đầu năm 1963, Spellman bắt đầu tách rời khỏi Ngô Đình
Diệm khi chính phủ Diệm từ chối không cho thêm quân nhân Hoa
Kỳ vào Việt Nam.
7. Ngày 7-9-1963 tổng giám mục Ngô Đình Thục rời Việt Nam
qua Roma, bước lưu vong đầu tiên, không được giáo hoàng Paul VI
tiếp. Ngày 11-9-1963 Ngô Đình Thục bay qua New York cầu cứu, hồng y
Spellman lánh mặt đi Miami Beach/Florida dự lễ gắn huy chưong.
8. Ngày 1-11-1963: Spellman bật đèn xanh cho âm mưu dứt điểm
con nuôi Ngô Đình Diệm. Từ đó, Spellman không hề nhắc đến tên
Thục-Diệm thêm một lần nào nữa.
9. Spellman tiếp tục đìều khiển guồng máy chiến tranh Việt
Nam không-Diệm cho đến khi về hưởng nhan thánh Chuá năm 1967.
Hồng Y hay đaị tướng?
Đáng lẽ Hồng y Spellman phải theo nghiệp binh đao. Năm 1943, chỉ
trong bốn tháng, ngài vượt 15,000 miles, đến 16 quốc gia vừa là đại
diện của Vatican, vừa là tổng tuyên uý quân đội, vừa là đặc sứ cuả
tổng thống Roosevelt. Ngài khéo léo luôn để Vatican đứng ngoài, và
đứng trên chìến tranh. Ngài đuợc West Point trao tặng huy chương.
Ngàì có bằng lái máy bay cả ở Italy lẫn Massachussets.
Fidel Castro mô tả hồng y Spellman là “Giám mục của Ngũ Giác Đài,
của CIA và FBI”. Tổng thống Mỹ còn sợ bị ám sát, Spellman thì không.
Trong cuốn “Vietnam… Why Did We Go? " (9) Vì Sao Chúng Ta Đã Đi
Việt Nam” tác giả Avro Manhattan chứng minh “siêu quyền lực” giết
tổng thống John Kennedy chính là Hồng y Spellman. Bản dịch tiếng
Việt, có trên internet, dịch giả Trần Thanh Lưu
(https://sachhiem.net/LICHSU/AVRO/AVRO_01.php).

Hậu thuẫn lớn của hồng y Spellman cho chính quyền Lyndon Johnson
không phải ở châu Mỹ La Tinh, mà ở Việt Nam. Dù ở tuổi nào ngài cũng
thich làm “anh là lính đa tình”. Ngaì thường xuyên gặp gỡ các ông
tướng ở tòa Bạch Ốc, có mặt tại những phiên họp mật của tình báo.
Ngài họp với Ngũ Giác Đài, bàn cãi chiến thuật/chiến lược với hàng
tướng lãnh. Phiên họp cuối ngài tham dự, tháng 3/1965, tại Carlisle
một trường huấn luyện quân sự ở Pensylvania. Ngài cho tiền các giáo
hội địa phương, nguồn cung cấp tin tức vô tận. Khi cần ngài hỗ trợ
cho CIA và FBI khiến hai cơ quan này khép nép dưới chân ngài. Họ
không sao có được mạng lướí rộng lớn, miễn phí và trung thành như
giáo dân. Trong khi hồng y Spellman chỉ phán một câu, các giáo hội
địa phương xa xôi nghèo nàn mừng mừng tủi tủi, vứt cả tổ tiên ứng
hầu thánh ý.

Linh mục William F. Powers viết “Hình như Hồng Y Spellman đến
Việt Nam để ban phép lành cho những khẩu đại bác, trong khi giáo
hoàng John 23 đang năn nỉ phải cất chúng đi. Ngài sang thăm lính Mỹ
ở Việt Nam trong binh phục kaki vàng. Có lần, vừa trở về từ mặt trận
VN, “áo anh mùi thuốc súng” ngài lập tức bay đến Washington dùng cơm
trưa với tổng thống Johnson, có cả mục sư Billy Graham (đuợc coi như
Giáo hoàng Tin Lành ở Mỹ). Tổng thống hỏi ý cả hai ngài bước kế tiếp
phải làm gì. Trong khi mục sư Graham còn đang lúng túng giữ yên
lặng, HY Spellman không ngần ngaị, nói liền một câu lạnh cẳng “Thả
bom chúng! Chỉ việc thả bom chúng!”
(**) Và Johnson đã làm theo lời
cố vấn cuả ngài. [Thus, when Johnson asked both Spellman and Billy
Graham at a luncheon what he should do next in Vietnam, Graham was
uncomfortably silent. “Bomb them!” Spellman unhesitatingly ordered.
“Just bomb them!”’ And Johnson did] (4). Chúng là ai? Là
người Việt. Chưa được đọc bài nào của tác giả Việt về câu nói
kinh hãi này. Chỉ mới thấy tác giả Nguyễn Tiến Hưng giận dữ về câu
“Sao chúng nó không chết phứt đi cho rồi” cuả ông Henry Kissinger.
Billy Graham (1918-) đâu phải tay mơ. Ông được coi như “giáo hoàng
Tin Lành,” cố vấn các tổng thống Mỹ từ đời Eisenhower đến G. Bush.
Ông rất oai, quở trách tổng thống Richard Nixon như con cái trong
nhà. Có lẽ thấy Spellman ngon lành quá, Graham bắt chưóc y chang
khiến ông cũng rất nổi tiếng trong quân sử Hoa kỳ với lá thơ 13
trang: Năm 1969 Graham đến Bangkok gặp gỡ vài “nhà truyền giáo” từ
VN qua. Các đaị diện Chúa sau khi làm dấu thánh giá, đề nghị nếu
hội nghị hoà bình Paris thất bại, Nixon nên dội bom các đê điều ở
Bắc Việt. Không rõ các nhà truyền giáo này kiêm điệp viên hay điệp
viên kiêm nhà truyền giáo, họ là người Việt hay người ngoaị quốc,
thuộc dòng nào, từ đâu qua Bangkok gặp Graham… rất tiếc bản tin
không nói rõ. Trở về Mỹ, Billy hăng hái gửi 13 trang viết tay đề
ngày 15-4-1969 cho tổng thống Nixon “dội bom các đê Bắc Việt Nam,
chỉ trong một đêm thì kinh tế ở đó tiêu đìều liền hà” (10). Bức thư
này đuơc bạch hóa tháng 4/1989.
Tạ ơn Chúa, Alleluia!! “Dội bom đê điều” giết cả triệu dân là tội ác
chiến tranh! Người Mỹ phải hành quân đáng mặt nưóc lớn. Họ không
quên án lệ Arthur Seyss-Inquart, luật sư ngườì Đức, sĩ quan Phát xít
cuả Hitler. Ngày 16-10-1946, toà án quốc tế xử treo cổ ông này và
10 người khác vì phá hủy đê ở Hoà Lan trong thế chiến II. Trưóc khi
chết, Seyss-Inquart còn nói kiểu sân khấu: “Hy vọng cuộc hành hình
này là thảm kịch cuối cùng cuả thế chiến II mà bài học sẽ là hoà
bình và hiểu biết giữa con người.” Tử tội xin “trở laị đạo”, đuợc
xưng tội và chiụ đủ các phép bí tích. Kể cũng hay, giết người xong
xưng tội là linh mục tha tội ngay, Chúa có tha không tính sau. Có
hơi thắc mắc không biết ông có tái sinh làm Ki-tô hữu chưa.
Wilson D. Miscamble kết luận về “sự nghiệp” cuả hồng y Spellman như
sau:
Lòng ái quốc mù quáng đã ngăn cản ông tự hỏi một điều rất quan
trọng “mục đích của chiến tranh là gì?”Ông cũng không thèm biết
đến “phương tiện và hậu quả”.
Ông không hề biết rằng những báo cáo của chính phủ về Việt Nam là
lừa gạt.
Ông không bao giờ biết đến nhân mạng và tiền bạc trả cho cuộc
chiến tính đến 1967.
Ông cũng không bao giờ phản đối cách nước Mỹ tiến hành cuộc
chiến. Ngược lại ông là người cổ võ việc ném bom Bắc Việt Nam.
Cuối cùng, ông không bao giờ tỏ ý hối tiếc về vai trò cuả ông. Sự
thiệt hại nhân mạng do việc dội bom cũng không hề dấy lên trong ông
bất cứ một tình cảm nào. Đó là điều đáng trách nhất, vì ông là một
đấng chủ chăn.
Theo nhà tranh đấu Lê Thị Công Nhân:
“Sự kiện 30-4-75 thì tôi không phải là chứng nhân của sự kiện đó
vì tôi sinh ra vào năm 1979 nhưng với những gì mà tôi trực tiếp trải
qua, và tôi chịu đựng trên đất nước Việt Nam, tôi thấy đây là 1 sự
kiện hết sức đặc biệt và cá nhân tôi nghĩ rằng đây là sự
an bài nghiệt ngã của Đức Chúa Trời dành cho dân tộc Việt Nam”
(11).
Cứ dâng vạn nỗi đau thương lên cho Chúa, người cũng sẽ im lặng như
ngàn năm nay, như khi dân Do Thái cuả Chúa bị tận diệt. Đổ cho Chúa,
Việt Cộng mừng vì “Chúa an bài như thế, khỏi tranh đấu nữa”.
Hồng y Spellman mừng, Cộng sản quốc tế mừng, tư bản mừng! Cứ làm đi
rồi đổ hô cho Chúa. Nhưng một khi bom đạn và tổn thất sinh mạng cân
đong đo đếm được thì nguyên nhân/thủ phạm cần phải được xem xét kỹ
lưỡng. Dù không làm kẻ chết sống lại, người mù sáng mắt, nhưng ít ra
học được vô số bài học. Nếu không, chắc chắn quá khứ sẽ lập lại thêm
lần nữa.
Có khi đang lặng lẽ xảy ra cũng nên!
Trần Thị Vĩnh Tường
(Mùa Vu Lan 2010)
[Có đăng ở: tạp chí
SàiGòn Nhỏ, số 1265, ngày 22 tháng 10 năm 2010, Ấn bản Orange
County, trang A1]
Chú thích:
(1)
https://www.free2think.org/forum/viewtopic.php?f=5&t=785&p=5612
(2)
https://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,794687,00.html
(3)
https://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=91&ia=409
(4) Miscamble, Wilson - ”Francis Cardinal
Spellman and Spellman’s War”, The Human Tradition in the Vietnam
Era,
https://books.google.com/books?id=...
(5) Cooney,
John - “The American Pope: The Life and Times of
Francis Cardinal Spellman”(New York Times Books, 1984)
(6) Carroll, James
- “An American Requiem, God, My Father, and the War that Came
Between Us”, (Houghton Mifflin Co, Boston-New York. 1996),
(7) Malachi,
Martin- “The Jesuits: The Society of Jesus and the Betrayal of
the Roman Catholic Church” (New York: The Linden Press/ Simon &
Schuster.
(8)
https://www.spartacus.schoolnet.co.uk/COLDlansdale.htm
(9)
https://www.reformation.org/vietnam.html
(10) Cockburn,
Alexander -19-3-2002- “Billy Graham: War
Criminal”
https://www.nypress.com/article-5598-billy-graham-war-criminal.html
(11)
https://www.haingoaiphiemdam.com/BEN-KIA-BUC-MAN-SAT
Chú thích của SH:
(*) Đúng ra là ngày 7 tháng 5, 1954 theo nhiều tài liệu sử. Xem "1945-1964 Việc Từng Ngày- Hai Mươi Năm Qua" của Đòan Thêm, Los Alamitos, CA: Xuân Thu, trang 146.
(**) Trước kia, vào khỏang tháng 4, 1954, Giáo Hòang Pius XII (1939-1958) cũng đã đề nghị Hoa kỳ dụng từ 1 đến 6 trái bom nguyên tử thuộc lọai 31 kiloton để giải vây cho liên quân Pháp Vatican tại Điện Biên Phủ. (Avro Manhattan, "Vietnam Why Did We Go?". Tài liệu: Chino, CA: Chick Publications, 1984), trang 72.