Việt Nam: chính trị có “khập khiểng” với kinh tế?

Cà Phê Tối

18 tháng 6, 2009

"Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" là cụm từ quen thuộc ở VN từ năm 1986. Từ đây, nhiều người quan tâm đến tình hình kinh tế chính trị thường cho rằng nhà nước VN có một bước đi khập khiểng và chẳng bao giờ thành công được. Những người này suy nghĩ, kinh tế thị trường là sản phẩm của các nước theo thể chế chính trị kiểu Tư Bản Chủ Nghĩa (TBCN). Vì thế một nước theo thể chế chính trị kiểu XHCN khi áp dụng mô hình kinh tế thị trường thì giống như 2 chân đứng trên 2 con thuyền chạy ngược chiều nhau. Họ lập luận, hoặc là VN phải trở thành một nước TBCN hoàn toàn hoặc là giữ nguyên XHCN kiểu LX và Đông Âu để sụp đổ như họ.

Vậy, kinh tế thị trường là gì mà các nước XHCN “không được” áp dụng?

Thật ra, kinh tế thị trường là một hình thái kinh tế hàng hóa, mọi hàng hóa được trao đổi ngang giá thông qua hàng hóa trung gian nào đó (có thể là súc vật, lúa, vàng, bạc hay tiền giấy). Khi con người ở các vùng miền thoát khỏi tình trạng sản xuất kiểu tự cung tự cấp, họ biết chuyên môn hóa trong sản xuất, họ biết phân công lao động, họ biết khai thác những lợi thế so sánh thì đã xuất hiện mô hình kinh tế hàng hóa – kinh tế thị trường. Lúc này, người dân ở các vùng miền khác nhau, có những sản phẩm lao động khác nhau sẽ đem ra thị trường (chợ) để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của cuộc sống. Một ví dụ đơn giản, người thợ rèn thì cần lúa, người nông dân thì cần cày, thế là họ cần phải trao đôi hàng hóa một cách sơ khai.

Vậy, kinh tế hàng hóa – kinh tế thị trường là một sản phẩm tự nhiên của xã hội loài người, nó xuất hiện đã rất lâu trước khi các nước TBCN Âu châu ra đời. Ở VN, thời Hồ Quý Ly đã cho phát hành tiền giấy, vậy nền kinh tế thị trường bậc cao đã xuất hiện ở VN vào thời đó.

Vì sao các nước XHCN lại có truyền thống áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung? Thực tế, chủ nghĩa Marxist cũng chưa cụ thể hóa, chi tiết hóa mô hình kinh tế trong xã hội tương lại. Các nước theo phe XHCN một thời gian dài chịu ảnh hưởng của mô hình kinh tế xã hội kiểu Liên xô nên họ ngộ nhận rằng đã theo con đường XHCN thì nhất nhất phải áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa (KHH) tập trung.

Khách quan nhìn nhận, nền kinh tế KHH tập trung của Liên xô đã có một giai đoạn rất phát triển, đủ sức gồng gánh cho cho các nước Đông Âu đối phó với chính sách bao vây của Mỹ khi nước này tuyên bố chiến tranh lạnh - cold war (Truman & Marshall), tuy nhiên họ không có những thay đổi cần thiết để ứng phó lâu dài với hoàn cảnh thực tế trong từng giai đoạn lịch sử.

Mặt khác, ở các nước TBCN phát triển, nền kinh tế của họ không phải tự do vận hành theo quy luật cung cầu một cách tuyệt đối. Tại các nước này, nền kinh tế quốc gia cũng được chính phủ điều tiết, định hướng ở tầm vĩ mô, như chính sách trợ giá nhằm khuyến khích phát triển; chính sách quota nhằm hạn chế . . . (Cộng hòa Pháp có cả Bộ quốc gia kế hoạch).

Ngày nay, VN cũng đã bước chân lên con tàu toàn cầu hóa, đã là thành viên của WTO nên việc chuyển đổi mô hình kinh tế cho phù hợp xu hướng chung của thế giới là điều cần thiết. Tuy nhiên, việc duy trì cụm từ XHCN hay không là quyền của Nhà nước VN, tên gọi không nói lên hết được bản chất. Nhìn sang các nước TBCN, ta có thể thấy mỗi nước đó cũng vận hành hệ thống chính trị xã hội theo đặc thù riêng, không ai giống ai cả. Vậy thì cớ gì mà chúng ta phải cứ xoáy vào vào cụm từ XHCN mà Việt nam đang sử dụng?

Riêng về vấn đề chính trị đối ngoại, Việt nam ngày nay đã khác xa Việt nam trước 1986. Trước đây, VN chỉ quan hệ hữu nghị với các nước nội khối XHCN, quan hệ đối ngoại theo ý thức hệ chính trị. Ngày nay, chính sách đối ngoại của VN là đa phương hóa, đa dạng hóa, mong muốn là bạn là đối tác với tất cả các nước trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền, không xen vào chuyện nội bộ của nhau. Từ những chuyển biến tích cực, Việt nam đã là thành viên của các tổ chức quốc tế, tham gia các diễn đàn quốc tế như WTO, ASEAN, APEC, ASEM, . . ., là thành viên không thường trực của HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009.

Vậy, đất nước VN có phát triển hay không là lệ thuộc vào những cá nhân có thực tài điều hành đất nước hay không, có giải quyết triệt để thảm trạng tham nhũng (cụ Giáp gọi là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm) hay không chứ không phụ thuộc và mô hình "khập khiểng" mà một số người tưởng tượng ra.

 

CPT.

 

 

Trang Chính Trị Xã Hội