Giám mục ADRAN -

Đức Cha Pigneaux de Behaine

Hội Truyền giáo Ba Lê

Tài Liệu: http://belleindochine.free.fr/PigneauxDeBehaine.htm

(Sr. Nguyễn thị Hảo dịch)

Gửi bài này cho bạn bè 12 July, 2008

 

LTS: Có một câu hỏi đặt ra cho lịch sử Việt Nam vào thế kỷ 18, 19 là: "Đạo Thiên Chúa đem Pháp vào Việt Nam, hay Pháp đem đạo Thiên Chúa vào Việt Nam?". Ai có nghiên cứu lịch sử Giáo hội La Mã đều biết rằng những nhà truyền giáo đã đi các nơi trên thế giới từ mấy trăm năm trước để truyền đạo và chinh phục thế giới theo Thánh lệnh Romanus Pontifax của Giáo Hoàng Nicolas V (1447-1455). Họ đã đến Việt Nam từ thế kỷ 16. Do sự phát triển về kỷ nghệ ở Âu châu, những nhà truyền giáo vay mượn văn minh đó để lòe mắt những người ít học và đã thu phục một số tín đồ. Cả mấy thế kỷ trôi qua, không hề có sự "kỳ thị nào của các vua quan Việt Nam đối với đạo này. Quân đội Pháp cũng chưa hề tràn vào Việt Nam trước thế kỷ 19. Phải có một nguyên nhân cho hai chủ thể ngoại lai này trở thành "vấn đề sinh tử" đối với dân tộc Việt Nam, xâu xé dân ta cho đến ngày nay. Dòng lịch sử cũng bị phân đôi. Một bên, chép sử theo phía dân tộc, quyết "đặt vấn đề" đối với các nhân tố gây thương tích cho quốc gia mình, còn một bên chép sử theo phía ngoại nhân, quyết biện hộ để thoát ra khỏi mặc cảm theo giặc, và đồng thời lên án ngược đối phương để khỏa lấp vấn đề. Cuộc tranh luận của hai bên vẫn kéo dài qua đến thế kỷ 21 ngày nay. Dần dà, phía dân tộc có thêm nhiều chứng cớ lịch sử, và những "kẻ theo giặc", nếu còn một chút tự trọng phải biết gục đầu dừng lại băng thái độ ăn năn. Bài viết sau đây dịch từ trang http://belleindochine.free.fr/, trang nhà của một nhóm truyền giáo người Pháp ghi lại, đã khẳng định trả lời cho câu hỏi trên: Chính Giám mục Pigneaux là người đầu tiên đem quân đội Pháp đến Việt Nam theo sự cầu viện của Nguyễn Ánh, để giành lại ngôi vua từ trong tay nhà Tây Sơn.(SH)


 

Giám mục ADRAN - Đức Cha Pigneaux de Behaine

Bản dịch từ trang nhà của Hội Truyền Giáo Ba Lê: http://belleindochine.free.fr/PigneauxDeBehaine.htm

Pierre PIGNEAUX (với chữ X) sanh ngày 2 /11/1741 tại thành Origny-en-Thiérache, tỉnh Aisne. Ông là trưởng nam trong một gia đình có 12 người con. Gia đình ông khá giả, thân phụ làm chủ một tiệm thuộc da khá phát đạt. Ông vào chủng viện Hội Truyền giáo Ba Lê năm 1765 và đi xứ Nam kỳ ngày 9 /9 năm đó, chống lại ý muốn của cha ông. Ông viết rằng: «Tôi phải đi đến một số nước mà thánh Phanxicô Xavie đã từng đến.» Tình cờ lịch sử đã khiến ông đồng hành với ông Pierre Poivre. Sau khi xuyên qua đảo Bourbon (la Réunion), Pondichy, Malacca, và Macao, ông dừng lại ở đảo Hòn Đất, gần Hà Tiên (1767).

Nhưng ông bị bắt ngày 8/01/1768, vì tội chứa chấp một vị hoàng tử Xiêm, vốn là kẻ thù của Mạc Thiên Tứ, thống đốc vùng Hà tiên. Ông bị giam gần 2 tháng, trong năm 1768. Ông phải mang một cái gông nặng 45 kg, dài 1,77m… Để trốn cuộc bách hại ông đã ra đi cùng với 43 chủng sinh, đến Malacca, và sau đó đến Pondichéry (Ấn Độ). Ông dừng chân tại Virampatnam và xây cất một chủng viện. Năm 1771, ông được bổ nhiệm làm Giám mục lúc 30 tuổi, và được tấn phong ngày 24/02/1774. Ông lợi dụng thời gian này để soạn quyển tự điển "Ngữ Vựng Việt-La".

Tự điển Việt La soạn năm 1775 ở Pondichéry.

Ông quay trở lại Nam Kỳ, đáp tàu ngày 12/03/1775 và trở về cư trú tại Hà Tiên. Theo sự ước lượng lúc đó, xứ truyền giáo có khoảng 60.000 hoặc 100.000 người công giáo. Vào năm 1779 có 9 linh mục Hội thừa Sai, 1 linh mục người Ý, một tu sĩ dòng Phanxicô Manilla, và những linh mục người bản xứ.

 

Nội chiến tại An nam

Vào lúc đó, xứ An Nam đang có nội chiến, xâu xé nhau giữa nhà Nguyễn đương vị và quân khởi nghĩa Tây Sơn («những người miền núi phía Tây»). Cuộc nổi dậy xuất phát từ Qui-Nhơn, phía nam xứ Huế. Vào cuối năm 1775, quân Tây Sơn bắt giữ toàn thể hoàng gia ở vùng Long-Xuyên, và xử tử nhà Vua và đứa con của nhà vua. Là người đại diện duy nhứt của nhà Nguyễn, chàng trẻ tuổi Nguyễn Ánh, Hoàng đế Gia Long tương lai, lúc đó 16 tuổi, trốn thoát được nhờ sự giúp đỡ của Giám Mục. Người công giáo nhìn thấy trong đứa bé nầy một vi tân «Mai-Sen được cứu khỏi nước».

Tạm thời, nhà Tây Sơn cho rằng cuộc chinh phục Nam kỳ đã thành công, nên xuất quân ra Qui Nhơn để chuẩn bị đánh Bắc Hà. Nguyễn Ánh qui tụ phe của ông và nhóm Trung Hoa của quan đầu tỉnh Hà Tiên, và cố tái chiếm vùng đất đồng bằng sông Cửu Long. Sài gòn được chiếm lại vào năm 1776. Ở phía Bắc, cùng năm đó, Thăng Long rơi vào tay nhà Tây Sơn, và toàn vùng bị rơi vào nạn đói kinh khủng.

Vào giữa năm 1778, hải tặc Kampuchia xâm chiếm khu đạo ở Hà Tiên, càn giết những người công giáo, gây ra nhiều tử vong cho những nhà truyền giáo. Pigneaux và những chủng sinh trốn ở Tân- triệu, gần Sài gòn.

Nguyễn Ánh ở gần đó nên thường thăm viếng Pigneaux. Từ lúc đó, nảy sinh ra một tình bạn khắng khít giữa hoàng thân và giám mục.

Yên ổn được 3 năm, quân Tây Sơn trở lại miền Nam vào năm 1782, đóng quân trước cửa thành Sài Gòn và chiếm được thành. Hơn 10,000 (mười ngàn) người Trung Hoa ở Chợ Lớn bị sát hại bởi phe chiến thắng.

Pigneaux bắt buộc phải bỏ trốn cùng với các chủng sinh và một số người công giáo, trước tiên là đến Kampuchia, rồi đến những hòn đảo thuộc vịnh Xiêm La. Trên đảo Poulo Vai, Giám mục viết ra quyển giáo lý bằng tiếng Nam Kỳ, trong khi chờ đợi hết mùa mưa. Vào tháng giêng năm 1784, Giám mục gặp Nguyễn Ánh, cũng trốn tránh như ông và đang ở trong bước đường cùng. Giám mục chia sẻ với Nguyễn Ánh và quân lính đang đói khát những lương thực cuối cùng, nhờ vậy cứu được họ. Giám mục cùng với họ đi đến đảo Poulo Condore. Quân Tây Sơn rượt đuổi cả Giám Mục. Nguyễn Ánh chỉ còn 1000 quân. Họ đành trốn trở lại Phú Quốc.

Tượng Giám Mục Pigneaux và hoàng tử Cảnh, trưóc nhà thờ chánh toà trong thời pháp thuộc.

 

Làm sao quật lại thế cờ? Cầu viện với người Xiêm? Làm như vậy sẽ có nguy cơ mất các tỉnh. Dù vậy họ cũng đành phải cầu viện. Kết quả là một thất bại nặng nề. Nguyễn Ánh xác tín rằng vì quân Tây Sơn quá hùng mạnh, nên không một quốc gia Châu Á nào có thể đơn phương đẩy lùi họ được. Người Bồ đào nha, người Hoà Lan, và người Anh, đồng tình sẵn sàng tiếp viện.

Vì không muốn sự nhập cuộc của người Tin lành với nước Anh, hoặc người đạo Calvin với người Hoà Lan, cũng như không muốn những khó khăn trước kia với người Bồ Đào Nha tái xuất hiện, Pigneaux đề nghị với Nguyễn Ánh cầu viện nước Pháp. Nguyễn Ánh cuối cùng chấp nhận đề nghị nầy. Giám mục được cử đi Versailles. Giám mục rời đảo Poulo-Panjang, cùng với con của Nguyễn Ánh là Hoàng Tử Cảnh, 5 tuổi, và người bạn thâm giao Nam Kỳ, linh mục Paul Nghi, và 2 quan lại, cùng với 40 người lính. Họ đến Pondichéry vào năm 1785. Nhưng tại đây, trong khi những thương gia tán thành ý kiến của giám mục, thì chính quyền địa phương và vị chỉ huy căn cứ Hải quân lại cho rằng kế hoạch nầy sẽ không mang lại lợi ích nào. Giám mục bắt đầu đặt nghi vấn về kế hoạch của ông, ông gửi thư cho Hội Truyền giáo Ba Lê để báo tin ông sẽ quay trở lại Nam kỳ. Cuối cùng mọi chuyện được sắp xếp ổn thoả, và tàu có thể rời bến đi Pháp. Đến Lorient ngày 5 tháng 2 năm 1787.

Có lẽ do sự đề bạt của hầu tước De Castries, bộ trưởng Hải Quân, tên của Giám mục được thêm danh hiệu “de Béhaine”, để ông được dễ dàng vào cung . Dẫu sao ông cũng đã được yết kiến vua Louis XVI ngày 6 /05.

Pigneaux đã chuẩn bị một bản trường tình long trọng và được hưởng ứng tốt đẹp. Ông trình bày về thương mại, về sự hấp dẫn của thành phố Tourane (Đà Nẵng). Ông cũng đề cập đến chiến lược hành quân, đến những đối thủ và sự cần thiết phải đối trọng thế đứng của người Anh ở Ân Độ. Ông đưa ra những con số chính xác về chiến thuật sinh tồn. Một nghìn năm trẳm (1500) người đủ để chiếm Qui Nhơn.

Triều đình đánh giá cao phẩm chất và sự chính xác của bài tường trình. Montmorin và Castries, Tổng thư ký các Bộ Ngoại giao và Bộ Hải Quân, đều tán thành đề án của Giám Mục và hứa sẽ giải quyết thuận lợi cho Giám mục. Trong khi chờ đợi, nét uy nghi của Giám mục và tính cách ngoại lai của hoàng tử được triều đình yêu thích. Hoàng tử Cảnh chơi đùa với con của vua Louis XVI.

 

Hoàng tử Cảnh

Một cuộc viễn chinh được quyết định. Nước Pháp hứa sẽ cấp 4 chiến hạm và 1650 quân.

Một hiệp ước được soạn thảo rồi ký kết giữa Vua nước Pháp và Vua nước Nam Kỳ tại Versailles ngày 28 /11/ 1787. Người ký là Bá Tước Montmorin, Bô trưởng của Vua Louis XVI, và ông Pigneaux, người đại diện cho hoàng tử Cảnh.

Với hiệp ước nầy, nước Pháp hứa sẽ giúp Nguyễn Ánh đoạt lại ngai vàng, bù lại nước Pháp được quyền xử dụng hải cảng Tourane, đảo Poulo-Condor, và độc quyền kinh doanh với vương quốc, như đã thoả thuận trước đó với Nguyễn Ánh.

Tuy nhiên, chỉ 4 ngày sau khi hiệp ước được ký kết, những chỉ thị mật được gửi đến Pondichéry qua trung gian của Montmorin. Những chỉ thị nầy nhằm tham khảo ý kiến địa phương về cách thực thi hiệp ước.

Giám mục trở lại Pondichéry một tháng sau khi ký hiệp ước, cùng với người học trò hoàng gia và 8 nhà truyền giáo. Tất cả đều tin tưởng vào sự thi hành hiệp ước.

Tới Pondichéry, Bá tước de Conway, người nhận chỉ thị mật, đã thi hành chỉ thị bằng cách tra vấn Pigneaux về lợi ích của kế hoạch của ông. Cuối cùng cả hai bên trao đổi lý lẽ qua thư từ, và quyết định báo cáo trực tiếp về Versailles. Cuối cùng, một cuộc họp mật được tổ chức ngày 4/10/1788 và Louis XVI quyết định ngưng hẳn cuộc viễn chinh. Ngoài ra, cũng có quyết định rút quân ra khỏi Ấn độ.

Giám mục không từ bỏ những cam kết với Nguyễn Ánh. Nhờ sự ủng hộ của gia đình ông và của những chủ đóng tàu của Ile de France (Maurice), đảo Bourbon (La Réunion) và Pondichéry, Giám mục mua nhiều quân cụ, súng đạn, đại bác thần công, đạn dược và thuê nhiều tàu chiến, và trang bị sẵn để gửi đến cho Nguyễn Ánh. Giám mục cũng tin vào sự giúp đỡ của 12 sĩ quan Hải Quân Pháp, từng ngưỡng mộ công trình ái quốc của Giám Mục, và bất chấp những cam kết của mình. Như vậy, 359 thủy thủ sẵn sàng phục vụ cho xứ Nam Kỳ.

Ngày 24 / 07/ 1789, Giám mục lên bờ tại vịnh Cây Dừa (mũi Saint Jacques) từ chiến hạm “La Méduse” (sẽ nổi danh khi nó bị đắm ngoài khơi bờ biển của đảo Mauritanie vào năm 1816).

Nguyễn Ánh rất vui mừng trước sự thành công của cuộc viễn chinh, cám ơn Vua nước Pháp, nhưng tiếc rẻ thái độ của ông Conway mà ông gán cho trách nhiệm trong việc Pháp từ chối giúp đỡ.

Tức khắc Giám mục và các sĩ quan bắt tay vào việc. Pigneaux muốn vỗ về dân chúng để giành được sự ủng hộ của họ, đồng thời ông tổ chức lại Hải Quân và quân đội của Nguyễn Ánh. Để thực hiện ý định nầy ông xây dựng một quân đội nhỏ hữu hiệu, theo kiểu Âu châu.

Ông Victor OLIVIER de PUYMANEL và ông Théodore LEBRUN xây dựng 2 thành lũy, một ở Sài Gòn và một ở Diên Khánh, gần Nha Trang.

Ông PUYMANEL cất một trường chiến tranh. Ông Laurent BARISY và ông Godefroy de FORSANZ làm tư lênh các tàu chiến và chuyên lo huấn luyện sĩ quan. Ông DAYOT, CHAIGNEAU và ông Philippe VANNIER lo về hải quân.

Ngôi nhà đơn sơ của Giám mục Pigneaux de Béhaine, ngày nay được dựng lại trong khuôn viên toà tổng Giám mục Sài gòn. Thánh lễ mỗi ngày vào 5giờ 30 sáng.

Không phải tất cả mọi người đều vui mừng tiếp nhận những người Ấu châu “dã man”. Trước sự thù hằn của những quan lại, hàng chục người Pháp nãn lòng đã rút lui. Quần chúng, tức giận vì bị bắt phải lao tác cực nhọc để xây thành lũy đã nổi dậy; nhà vua vì thiếu kinh nghiệm và không biết dằn cơn nóng giận đã làm cho nhiều người phẫn nộ. Nhờ Giám mục Pigneaux, mọi chuyện đã được giải quyết nhanh chóng; những người Pháp đã rút lui chấp nhận quay trở lại; các sĩ quan được che chở và tìm lại được danh dự phải có; từ đó nhà vua để tâm nghe theo những ý kiến khôn ngoan của vị cố vấn của ông.

Nhà vua cấp cho Giám mục một đội binh bảo vệ gồm 200 quân, vừa để bảo vệ bản thân Giám muc, vừa để phù hợp với chức vị của Giám mục. Nhà vua muốn Giám mục cư ngụ gần cung điện của ông, và thường tiếp kiến Giám mục, sẵn sàng nghe theo ý kiến của Giám mục, kể cả những lời quở trách của Giám mục. Pigneaux de Béhaine đã được nhà vua hứa rằng sẽ không bao giờ hành quyết người nào mà không báo trước cho Giám mục biết; và nếu Giám mục, sau khi đã cứu xét kỹ hồ sơ, xin nhà vua miễn xá cho tội phạm, thì nhà vua bắt buộc phải chấp thuận.. Nhà vua luôn luôn trung thành với lời hứa nầy. Nhờ đó ông tránh được những lỗi lầm do tánh nóng nãy của ông gây ra.

Vai trò chính trị của Giám mục dù quan trọng đến đâu cũng không làm cho ông xao lãng nhiệm vụ của ông là Giám quản Tông Toà. Ông cải tổ công tác truyền giáo, gọi các chủng sinh từ Chantaboun về. Dưới sự điều khiển của ông có 14 linh mục của Hội Truyền giáo, kể cả 8 linh mục mà ông đã mang theo, 3 tu sĩ dòng Phan xi cô, và 9 linh mục bản xứ. ông cắt đặt công tác mục vụ cho mỗi người. Mặt khác, Pigneaux cũng hoạt động cho những nhà truyền giáo và những người công giáo, bằng cách viết ra một quyển tự điển Nam kỳ- Latin rất có giá trị mà Giám mục Taberd, một trong những người kế vị ông, đã cho ấn hành vào năm 1838. Cũng nhờ ông mà trái măng cụt được nhập cảng vào xứ Nam kỳ.

Về mặt quân sự, nhà vua đã lấy lại được lãnh thổ miền nam, trước khi Giám mục trở về nước. Trong số 3 anh em Tây Sơn, chỉ còn 2 người nhưng họ xung khắc nhau. Một người đã qua đời vào tháng 9 năm 1792, và không bao lâu sau, người kia cũng mất. Cuối năm 1792, chiến thắng ở biển Qui Nhơn làm cho dân chúng phấn khởi. Dẫu vậy, nhà vua cũng từ chối tiến quân khiến cho người Pháp thất vọng định rút quân một lần nữa.

Tuy nhiên vào năm 1799, nhà vua qưyết định tấn công cả 2 mặt: đánh bộ và đánh thủy vào Qui Nhơn là thành trì chính của Tây Sơn vốn đã từng chống lại tất cả những cuộc tấn công. Giám mục chứng kiến cuộc tấn công nhưng ông lâm phải bệnh (bệnh lỵ amíp) đau đớn kéo dài 2 tháng, mặc dù ông được nhà vua và bác sĩ hết sức tận tâm chạy chữa.

Pigeaux de Béhaine qua đời ngày 9 tháng 10 năm 1799. Cái chết của ông được giữ kín cho đến khi Qui Nhơn bị thất thủ ngày 2 tháng 11. Đám tang được cử hành tại Sài Gòn theo nghi thức hoàng gia.

Bắt đầu vào lúc 2 giờ sáng, đoàn kiệu kéo dài hơn 7 giờ, gồm trên 12.000 người, 120 con voi và trên 100 lồng đèn. Bốn mươi ngàn (40.000) người đi theo sau đoàn kiệu. Vua Nguyễn Ánh chủ toạ đám tang và đọc bài điếu văn ca ngợi Giám Muc. Nhà vua dựng cho ông Pigneaux một ngôi mộ sang trọng và cắt đặt 50 quân canh mộ, với chỉ thị canh gác vĩnh viễn.

Giám mục Pigneaux de Béhaine, sưu tầm của Hội Thừa Sai Ba Lê.

Thế là Giám mục thành Adran qua đời 2 năm trước khi Huế (1801) và Thăng Long (1802) bị thất thủ. Anh em Tây Sơn hoàn toàn bị đánh tan. Nguyễn Ánh có thể tự xưng hoàng đế ngày 31 tháng 5 trong cùng năm đó. Ông lấy hiệu là Gia Long (thịnh vượng lâu dài), và cũng là sự kết hợp của Gia định – tên của Sài Gòn – và Thăng Long (tên cũ của Hà Nội). Huế trở thành kinh đô mới của Việt Nam thống nhất. Nguyễn Ánh không những đã khôi phục những vùng đất của tổ tiên nhà Nguyễn mà còn thêm vào phần đất ngoài Bắc, do đó thống nhất đất nước từ vịnh Bắc Việt đến vịnh Thái Lan.

Nguyễn Ánh băng hà năm 1820, Minh Mạng thế ngôi. Những viên sĩ quan Pháp, bị Minh Mạng thải hồi đã chọn lưạ rút quân.

Công giáo lại bị bách hại vào năm 1831.

Cuộc sống bị dày vò của Giám mục

Những năm cuối đời, Giám mục sống trong nghi ngờ và buồn bã.

Trước hết, Giám mục chứng kiến cái chết của những người bạn hữu, thân thuôc, tại Nam Kỳ vì bệnh, hoặc tại Pháp vì cuộc Cách Mạng Pháp. Hầu tước Montmorin, người ký hiệp ước, bị đâm chết trong cuộc tàn sát năm 1792.

Sống bên cạnh vua Nguyễn Ánh đã dày vò Giám mục vô cùng. Những chỉ thị của Bộ Truyền Giáo cấm các vị truyền giáo không được xen vào chính trị của những nhà vua. Thực vậy, Giám mục bị các nhà truyền giáo chỉ trích, kể cả trong hàng ngũ của Hội Thừa Sai Ba Lê (thí dụ Giám mục Pothier ở Se Tchouen). Những tu sĩ dòng Phan xi cô tại Cần Thơ không còn nhìn nhận quyền hành của Giám mục. Giám mục bị anh em của ông ở Viễn Đông chống đối, nhưng ông biết ông được Roma ủng hộ.

Về phía nhà vua, độc tài, nóng nảy, hay thay đổi ý kiến và hay làm sai trái. Pigneaux ngỡ ngàng trước sự chậm chạp và do dự của nhà vua. Năm 1792, Giám mục sẵn sàng chấp nhận ra đi, thất vọng. Ô biết mình là một biểu tượng, chỉ cần có sự hiện diện của ông là đủ để quân đội phấn khởi. Nhưng Giám mục đã chọn lựa ẩn mình phía sau.

Mối hy vọng vào việc cải đạo cho hoàng tử Cảnh càng lúc càng tiêu dần. Nếu Giám mục đã nuôi hy vọng như các vị tông đồ vĩ đại đưa cả xứ Nam kỳ trở lại đạo, tin vào một Thiên Chúa độc nhất, thì cũng chỉ là một mơ tưởng. Ông sẽ không bao giờ trở thành một Constantin của Âu châu chúng ta. Gần gũi với Giám mục, hoàng tử Cảnh đã thấm nhuần luân lý công giáo. Khi hoàng tử Cảnh trở lại Nam kỳ, ông đã từ chối không chịu lạy bàn thờ tổ tiên, làm chấn động gia đình của ông. Nhưng một cuộc tranh chấp ảnh hưởng trên hoàng tử do các quan lại, và hy vọng trở lại đạo bị tan vỡ. Năm 1797, hoàng tử Cảnh lấy 3 vợ lẽ! Lâm bệnh, hoàng tử qua đời vào năm 1801, lúc ông được 22 tuổi.

Nghĩa địa Huế, ngôi mộ của Godefroy de Forsanz (1770 -1811)

Pigneaux cũng đau khổ vì thái độ của sĩ quan Pháp. Dù với uy tín của Giám mục, đa số các quân lính chỉ mơ ước tài sản và danh vọng. Không được trả lương hậu, bằng hiện vật hoặc bằng tiền địa phương, các sĩ quan phải chạy chọt thêm để kiếm sống. Họ quên bổn phận thiêng liêng của họ, chỉ trừ ông de Chaigneau. Puymanel có một cuộc sống “khả ố” và sống chung với một phụ nữ lăng loàn.

Về mặt tôn giáo kết quả cũng không tốt. Công cuộc truyền giáo cho người “rừng rú” bị thất bại. Năm 1797, con số người công giáo đã rút xuống còn 25000. Nhà vua tuyên bố trong năm đó rằng chỉ có “khinh dễ và căm hận đối với đạo công giáo”.

Giám mục xin Roma được thích nghi một số nghi thức để dễ phổ biến đức tin :

- phụng vụ bằng tiếng Trung Hoa thay vì tiếng La Tinh,

- tu phục (áo dòng) khác, vì nó gây chế diễu, và kỳ cục.

Nhưng nhứt là sự cấm đoán thờ cúng tổ tiên, một tục lệ trong cả nước, mà Giám mục muốn vãn hồi. Ông đề nghị thích nghi tục lệ nầy với đạo công giáo bằng cách biến nó thành “kính nhớ tổ tiên”. Dù đã trao đổi nhiều thư từ về vấn đề nầy, Roma vẫn từ chối. Giám mục tuyên bố rằng “Chúng ta câu nệ quá tỉ mỉ, chỉ làm hại cho đạo công giáo” thôi. Sự thờ kính ông bà chỉ được Roma chấp nhận vào năm 1932, và chính thức cho phép vào năm 1964.

Chính trong bối cảnh khó khăn nầy mà Giám mục Tổng quản Tông Toà đã qua đời sau hơn 29 năm làm mục vụ.

Vào năm 1859 khi cấm cờ ở Nam Kỳ, Pháp tìm lại được ngôi mộ của Giám Mục và đã trùng tu ngôi mộ nầy. Ngày 10 tháng 3 năm 1902, theo nguyện vọng của Paul Doumer, tượng đài của Giám mục Adran được khánh thành trên công viên Nhà Thờ Chánh Toà Sài Gòn.

Ngôi nhà gia đình của Giám mục ở Origny-en-Thiérache trở thành viện bảo tàng ngày 1 tháng 6 năm 1914.

 

Tài liệu tham khảo :

- Giấy tờ của Hội Truyền giáo Ba Lê,

-“Cuộc đời sóng gió của Giám mục Adran”, de Taboulet, 1940

- Pigneaux de Béhaine, Alexis Faure, 1891,

và đăc biệt với sự giúp đỡ quý báu của Francois Xavier Landrin !

Trang Sách Nước Ngoài