Quyển VIII
Quận Tây Dương thôn tính các lân quốc
Các nước gần cùng nhau trừ Dương tặc
Giáo hoàng Piô lên
ngôi xuống chiếu truyền
rằng: “Các đạo quan mặc dù
đã được tạc tượng phong
thần, há lại không cần ngự
tụ tinh thần hay sao? Từ nay
về sau, đạo quan từ 60 tuổi
trở lên thì được nghỉ việc,
hưu dưỡng tại xứ đạo sở
quán, triều đình sẽ bổ nhiệm
người khác đến thay. Chính
quan làm việc nhiều, cấp
quan to từ 55 tuổi được nghỉ
việc, về hưu dưỡng tại quê
quán sum vầy với thân thích
vợ con. Cấp quan nhỏ 40 tuổi
được hưu trí. Những người
ngoài 40 tuổi mới ra làm
quan thì đến 50 tuổi cũng
cho nghỉ hưu. Như vậy trước
là để cho các quan ngưng tụ
tinh thần đặng thành linh
sau khi chết, sau nữa là để
thoả lòng mong muốn sống
lâu. Từ nay về sau theo đó
làm định lệ”.
Qua năm sau, có dụ
truyền: “Từ nay, dân chúng
phải gọi cha đẻ của mình là
“ông già”, gọi mẹ đẻ là “bà
già”, không được gọi bằng
cha mẹ. Ai không tuân lệnh
xử trảm”.
Bấy giờ đình thần hội
bàn, thấy rằng dân chúng đã
gọi Giáo hoàng và các đạo
quan là Cha, lại còn gọi cha
đẻ là cha thì hoá ra kẻ dưới
cũng bằng người trên? Người
ta lại sẽ theo tiếng xưng hô
mà suy ra ý nghĩa, chỉ nhớ
đến cha mẹ mà dễ sinh lòng
kia khác với Giáo hoàng. Rồi
đó theo trong Bí lục, thấy
chép Jêsu gọi cha mẹ bằng
“ông già” “bà già” cho nên
mới có lệnh cấm ấy.
Trước đó, dân chúng tuy
không tôn kính cha mẹ, nhưng
vẫn còn giữ được cái nghĩa
ấy. Từ khi có lệnh cấm nói
trên, dân chúng đối với cha
mẹ đẻ của mình, khi còn sống
thì không được gọi là cha mẹ
[1] , đến khi
chết thì không được phụng
thờ, chỉ được tôn kính vua
quan nhà đạo làm cha mà
thôi!
Qua năm sau lại có dụ
truyền: “Các quan giúp việc
của chúa Trời tuyệt không
được có tình thân riêng. Từ
nay về sau, đạo quan khi đã
được phong chức thì từ cha
mẹ đẻ cho đến chú bác đều
phải quỳ lạy mà gọi bằng
“cha”, không được coi như
con cháu nữa. Kẻ nào trái
lệnh bị ném xuống địa ngục”.
Bấy giờ đình thần hội
bàn, thấy rằng các đạo quan
tuy đã phải gọi cha mẹ là
ông già, bà già, nhưng vẫn
còn có ý thân riêng, sợ bọn
họ không giữ một lòng với
Giáo hoàng, muốn dứt hẳn
tình thân ấy đi nhưng không
thấy Jêsu dạy rõ nên không
biết làm thế nào. Lại mở
sách Bí lục ra xem thật kỹ,
vừa may thấy đoạn ghi việc
cha mẹ Jêsu quỳ lạy Jêsu,
đình thần ai nấy hớn hở vui
mừng, đều nói rằng: “Tìm
được ý kín đây rồi!”, bèn có
chiếu dụ nói trên. Từ đó,
các đạo quan sau khi được
thụ phong, về nhà nhận lạy
của cha mẹ, sau đó tùy theo
sự chuyển đổi của bề trên,
chỉ biết có Giáo hoàng chứ
không được biết đến nỗi buồn
vui của gia đình mình.
Qua năm sau, lại cấm các
đạo quan khi còn tại chức từ
một đồng tiền thước vải cũng
không được lén cho người
nhà. Cha mẹ nhớ con thì phải
nhờ người khác đi thăm chứ
không được tự mình đến thăm.
Ai trái lệnh, bị phát giác,
đều phải chịu tội không tha
[2] .
Qua năm sau, Giáo hoàng
xuống chiếu ban định phép
thi chọn giám mục, thầy cả
và các môn đồ. Phàm những
môn đồ đã xếp hạng bảy thì
được thăng làm thầy cả. Theo
phép này người đàn ông các
hạng 1, 2, 3, 4 gọi là phụ
lưu (hạng phụ). Người nào
đọc hiểu hết sách Giảng lục,
được xếp hạng 5, gọi là
giảng sư (thầy giảng). Thầy
giảng nói năng khéo léo,
khuynh loát được người nghe
thì xếp lên hạng 6, gọi là
lão sư (thầy già)
[3] . Thầy
già có khả năng biện quyết
xảo trá mê hoặc dân chúng,
làm một bài thi chừng vài
chục câu
[4] , ai
trúng cách thì xếp lên hạng
7, được thụ lễ niệm chú bắt
quyết
[5] ban đạo
phục, đồ làm lễ và được cấp
bằng sắc phong làm thầy cả.
Trong các thầy cả, người nào
rất mực thông minh, kiến
thức cao rộng sẽ được về
kinh đô, cho ở trong nhà kín
để học các phép huyền bí
thiên văn, địa lý, bói toán,
âm dương. Học đạt thì được
dự thi, ai trúng cách sẽ
được sắc phong làm giám mục
[6] . Những
người thi hỏng cũng phải ở
luôn trong tu viện không
được ra ngoài
[7] .
Việc chọn người có tài ăn
nói khuynh loát người nghe,
để cho đậu hay hỏng
[8] là phép
thi phỏng theo cách Jêsu
nhân cái tài của mình lấy
lời chúa Trời để lòe bịp mà
suy diễn ra. Chẳng hạn đối
với người giàu sang không
theo đạo, thì nói: “Lành
thay ơn phúc chúa Trời”. Đối
với người giàu sang đã chịu
theo đạo thì lấy sự thất bại
của nhà khác ra mà doạ rằng:
“Kẻ kia không biết ơn phúc
của chúa Trời nên bị trừng
phạt”. Đối với người ốm đau
suy nhược thì bảo rằng:
“Chúa Trời chỉ mới thử sức
ngươi đó thôi. Nếu ngươi
vững lòng tin đạo, sau khi
chết sẽ được hưởng phúc”.
Lại lấy gương những người
trước thịnh sau suy mà lừa
phỉnh rằng: “Chúa Trời chỉ
mới thử sức ngươi đó thôi.
Nếu ngươi vững lòng tin đạo,
sau khi chết sẽ được hưởng
phúc”. Lại lấy gương những
người trước suy sau thịnh mà
lừa phỉnh rằng: “Người kia
biết theo đạo nên được chúa
Trời ban thưởng”. Đối với
hạng tôi tớ nghèo hèn thì
bảo rằng: “Chúa Trời là đấng
chí công, không câu nệ sang
hèn, ai biết theo đạo dẫu
ngày nay sống nghèo hèn,
nhưng sau khi chết sẽ được
mặc áo gấm, ngồi xe lọng mà
lên thiên đường. Ai không
theo đạo, ngày nay tuy sống
giàu sang, nhưng sau khi
chết bị đày xuống địa ngục
chịu trừng phạt”. Cho nên
dẫu là kẻ tôi tớ nghèo hèn,
chẳng ai không kiên lòng
theo đạo. Việc gì cũng trước
mượn lời chúa Trời sau mới
chuyển sang nói về chúa Jêsu
để thi hành các thuyết của
đạo ấy.
Phép thi chọn người có
khả năng biện bạch lắt léo
mê hoặc dân chúng
[9] thì phỏng
theo những lời thí dụ của
Jêsu mà tu sức thêu dệt
thêm. Từ xưa đến nay, có
hàng vạn câu trả lời bằng
các thí dụ. Chẳng hạn, hỏi:
“Nói chúa Trời có ba ngôi
nhưng chỉ một thể thì lấy gì
chứng nghiệm?” Trả lời:
“Cũng ví như một nước có
thái thượng hoàng, vua và
thái tử, chứng tỏ rằng: tuy
ba ngôi nhưng chỉ một thể
vậy”
[10] . Hỏi:
“Đức Mẹ Maria là người có
chồng, sao lại bảo Jêsu là
con chúa Trời?” Đáp: “Điều
đó cũng ví như trời đã sinh
ra vua lại có bậc danh thần
phò tá cho nhà vua. Ông
Jiuse chính là bậc danh thần
do chúa Trời sai xuống để
bảo hộ cho chúa Jêsu, chứ
không phải là chồng thật của
Đức Mẹ Maria, mà cũng không
phải là cha của chúa Jêsu”
[11] . Hỏi:
“Đã là trinh nữ thì không
sinh đẻ, Đức Mẹ Maria đã
sinh ra chúa Jêsu thì sao
còn bảo là trinh?”
[12] Đáp:
“Mặt trời mượn ánh sáng mà
giáng lửa xuống, nhưng ánh
sáng thì vẫn trong suốt như
cũ vậy thôi”
[13] . Lại
hỏi: “Người ta biết trước
ngày tháng sinh đẻ, tại sao
lại không biết trước ngày
tháng chết?”. Đáp: “Chúa
Trời giữ kín không cho người
ta biết số mệnh của mình thì
còn phải lo sợ mà làm điều
thiện. Ấy là lòng nhân từ
của chúa Trời vậy”.
Phàm việc không chân
chính thì việc gì cũng phải
mượn lời thí dụ để che lấp
sự sai trái đi. Cái gọi là
“lý đoán” đều là vô lý, khéo
lời biện bạch quỷ quyệt đại
khái như thế.
Qua năm sau, đình thần
Tây Dương hội bàn về các
luật đạo sắp xếp sửa sang
chia làm hai bộ Hiến luật và
Hình luật để làm quy chế mãi
mãi cho vạn đời sau.
Hiến luật có những điều:
- Giáo hoàng do
chúa Trời lập ra để trị
dân. Các giám mục, thầy
cả đều là những chức
quan do chúa Trời đặt ra
để uốn nắn phong tục.
Những lời dạy bảo của ba
bậc đó đều là pháp luật
của chúa Trời.
- Giáo hoàng và
các quan việc đời, các
quan việc đạo đều được
tạc tượng phong thần.
- Con trai con
gái các quan việc đời
lấy vợ lấy chồng với
nhau không được lấy con
cái nhà thứ dân
[14] .
- Các quan việc
đời nhà nào có từ ba con
trai trở lên thì phải
sung một người làm môn
đồ của quan việc đạo
[15] .
- Con em các
quan việc đời và môn đồ
của quan việc đạo từ 10
tuổi trở lên đều được
ghi tên vào Quốc bạ (sổ
của triều đình).
- Con em các
quan việc đời và môn đồ
không được lấy vợ
[16] .
- Tu nữ đồng
trinh phải ở riêng một
nơi biệt lập
[17] .
- Môn đồ đã
thăng đến cấp giảng sư
(thầy giảng) thì tuyệt
đối không được về quê
nhà
[18] .
- Môn đồ mắc
những bệnh nguy hiểm
hoặc thân thể bị tật
nguyền, cùng là những
người cha mẹ làm những
nghề nghiệp hèn mọn dẫu
tinh thông giáo lý cũng
không được làm quan việc
đạo.
- Môn đồ xếp lên hạng bảy đến nhà kín
cắt đầu dương vật, chịu
phép phong thần, sau đó
mới được truyền mật chú,
cấp sắc phong làm thầy
cả, v.v.
[19]
Pháp luật đã đầy đủ, khắc
thành sách vàng, cất vào
trong hộp đá, gọi là phép
kín của chúa Trời.
Giáo hoàng Piô qua đời, ở
ngôi hai mươi ba năm. Cháu
thứ là SôNghi
[20] lên nối
ngôi.
Vua tôi Tây Dương có
tiếng là xảo quyệt nham
hiểm. Từ khi lợi dụng mưu kế
của Jêsu lại càng lấy hình
phạt nghiêm khắc mà xua đuổi
dân chúng, người bị hình
phạt rất nhiều. Đến hồi này
nhân dân đã hỗn, không nghe
như xưa. Giáo hoàng SôNghi
muốn thử lòng dân, cho
truyền thư mật hỏi các đạo
quan. Đạo quan các nơi đều
tâu rằng: Mỗi khi giảng sự
tích chúa Jêsu chịu nạn, dân
chúng đều thương xót khóc
than, thấy tượng chúa Jêsu
chịu nạn, mọi người đều sụp
lạy khóc thương thảm thiết.
Dân chúng thân yêu nhau, đối
xử với người ngoài đường như
anh em trong nhà vậy. Lại đã
một lòng ngưỡng vọng tôn
kính Giáo hoàng như cha đẻ
của mình
[21] .
Giáo hoàng cả mừng. Lại
muốn lấy việc làm mà thử,
bèn xuống dụ lừa dối rằng:
“Đêm hôm qua chúa Jêsu hiện
về phán cho trẫm biết Chúa
muốn san bằng ngọn QuangTang
[22] để làm
nhà thờ Đức Mẹ Maria. Ai đến
góp sức vào việc ấy, không
kể già trẻ trai gái, mỗi
tuổi được thiên thần ghi cho
một công, dời được một hòn
đất hòn đá thiên thần đều
tâu chúa Jêsu ban cho một
điều phúc”.
Thế là đàn ông đàn bà đều
tin lời kéo đến đông đủ, chỉ
hai ngày sau san bằng núi
QuangTang, không tốn một đấu
gạo. Giáo hoàng SôNghi mừng
lắm bảo rằng: “Dân chúng đã
một lòng như vậy, vua tôi
chúng ta chẳng còn phải lo
ngại gì. Phép thuật của chúa
Jêsu thật là thần thánh vậy
thay!” Rồi cho mở yến hội
lớn tạ ơn các Giáo hoàng đời
trước
[23] . Các
quan trong kinh ngoài trấn
đều được ban thưởng có thứ
bậc.
Rồi đó Giáo hoàng SôNghi
truyền mệnh sai các giám mục
đi truyền đạo ở các nước
ngoài, lừa bịp dân các nước
ấy để mong nhất thống
[24] . Giao
cho đình thần bàn xét tâu
lên để định các điều luật và
hình luật áp dụng ở nước
ngoài. Giáo hoàng phê chuẩn
20 điều hiến luật và 6 điều
hình luật. Lại đặt 7 điều
qui định đối với giám mục và
môn đồ người nước ngoài, 11
điều qui định về việc khen
thưởng. Lại qui định mẫu
thức tờ sắc phong cho giám
mục đốc chính
[25] ở các
nước và sắc phong cho các
giám mục ngoại quốc. Những
việc ấy đều lược bỏ không
ghi ở đây.
Hội họp bàn xét đã đủ,
Giáo hoàng vui vẻ cười vang,
phán rằng: “Năm trăm năm tuy
lâu thật, nhưng người sau
tiếp người trước. Mỗi đời
giám mục đốc chính ước chừng
40 năm, vậy không quá 50 đời
giám mục đốc chính thì Giáo
hoàng thứ 50 sẽ được thấy
đại cuộc thống nhất thiên
hạ, nào phải là lâu lắm
đâu!”
[26] .
Rồi đó chọn ngày cho các
giám mục lên đường ra nước
ngoài. Các viên đốc chính
đều sợ phép của triều đình,
tuy biết ra đi là cầm chắc
cái chết, nhưng vì muốn được
thờ phụng vẻ vang, cho nên
không dám tiếc thân mình. Kẻ
trước chết, người sau nối,
trước sau một dạ trung
thành, răm rắp theo phép.
Kể từ đó, đạo Gia Tô như
tằm ăn lá dâu, mỗi ngày một
thêm lan rộng.
Láng giềng của nước Tây
Dương có hai nước là Bạch
Hoa Lan và Xích Hoa Lan, tất
cả gồm 72 tiểu quốc, chưa
đầy 400 năm đều đã bị lừa
dối. Ngày trước hai nước ấy
vẫn sai sứ đến triều cống
nước Tây Dương, xưng tụng là
đại đế thiên triều, được
Giáo hoàng ban thưởng rất
trọng hậu. Hai nước ấy đều
lấy thế làm mừng, mời giám
mục đốc chính là quốc sư.
Cuối cùng vua hai nước ấy
đều bị giám mục đốc chính ám
hại, đất đai bị phân chia
đem nhập vào nước Tây Dương,
đúng như lời Jêsu đã nói
“năm trăm năm thì nhất
thống”
[27] .
Duy có một nước Jiuđê
cùng với hai nước nhỏ chư
hầu nước ấy đã sớm biết đề
phòng từ trước, đời này qua
đời khác giữ phép nước trước
sau không thay đổi, cho nên
người Tây Dương không lừa
dối dụ dỗ được. Giáo hoàng
Tây Dương tham nước ấy đất
đai rộng lớn, nhiều lần viện
quân những nước cùng phe
cánh đem quân sang đánh nước
Jiuđê, nhưng bao phen không
thắng nổi phải bỏ hẳn ý định
xâm chiếm nước Jiuđê.
Người nước Tây Vực
[28] giết
giám mục đốc chính Tây Dương
mang tên thánh là Phanxicô,
đặt lệnh cấm hẳn không cho
hành đạo Gia Tô ở trong
nước.
Hồi bấy giờ, Phanxicô
vâng mệnh Giáo hoàng Tây
Dương lẻn vào ẩn náu ở một
làng miền núi nước Tây Vực.
Phép nước Tây Vực vốn chỉ
thờ thần Phật. Phanxicô cùng
với một môn đồ đến ở đó làm
thầy lang bốc thuốc chữa
bệnh. Được 1 năm, đã quen
thân với dân làng. Nhân nhà
chùa mở hội đàm Vô già
[29] , hương
hào làng ấy mời Phanxicô
cùng đi lễ Phật. Thầy trò
Phanxicô đều cáo ốm không
đi. Đến lần hội sau, dân
làng lại mời, Phanxicô ra
đáp: “Tôi từ phương xa đến
đây không biết Phật là hạng
nào cho nên không dám lạy”.
Các hương hào nổi giận mắng
rằng: “Nhập quốc tùy tục!
Ngươi có biết nước chúng ta
đây là hạng nào không mà
cũng dám đến?” Rồi bọn họ
đem sự việc trình lên quan
trấn. Quan trấn xứ ấy tâu
lên. Vua Bất Thất
[30] phán
rằng: “Đó là tên giặc giấu
mặt đấy!” Rồi truyền lệnh
treo ngược hai thầy trò
Phanxicô lên ngọn cây, xẻo
thịt cho đến chết. Về sau
giám mục Tây Dương bén mảng
đến đều bị người Tây Vực bắt
giết. Trước đó triều đình
Tây Vực đã có lệnh cấm dân
theo dị giáo, mặc dị phục.
Nhân sự việc nói trên, lệnh
cấm lại càng nghiêm ngặt
hơn, cho nên người Tây Dương
cũng phải bỏ không dám đến
Tây Vực nữa.
Vua nước PhaLangSa
[31] cấm đạo
Gia Tô, giết hết quan tướng
to nhỏ bọn giặc Tây Dương.
Nguyên nước PhaLangSa ở về
phía tây nước Tây Vực, có
hai nước phụ thuộc là nước
ĐạiNa và nước NaSa, từ xưa
vẫn sang PhaLangSa triều
cống. Đến hồi bấy giờ do bọn
thầy tu đạo Gia Tô mua
chuộc, vua hai nước ấy đoạn
tuyệt với nước PhaLangSa,
gửi thư cho giám mục đốc
chính muốn xin phụ thuộc vào
nước Tây Dương. Bấy giờ vua
PhaLangSa tên là ĐaGia đã
nhiều lần triệu mời, nhưng
hai nước ấy vẫn không chịu
đi. Vua PhaLangSa bèn sai
quân sang đánh, bị thua trận
phải trở về. Dò xét biết
nguyên nhân sự việc, vua
ĐaGia giận lắm. Rồi đó vua
sai lập sổ ghi những người
theo đạo thì thấy đến nửa
nước đã trở thành người Tây
Dương rồi! Vua ĐaGia cả kinh
bảo rằng: “Không trừ bọn
giặc này thì không phải chỉ
hai nước kia, mà chẳng bao
lâu nữa nước ta cũng hóa
thành Tây Dương. Nói đoạn
vua gọi các quan tứ trụ là
bọn BộtTốc vào bàn riêng
trong phòng kín. Bọn BộtTốc
tâu rằng: “Đạo của bọn chúng
bắt rễ sâu lắm rồi. Triều
đình đã nhiều lần ra lệnh
cấm mà vẫn không dứt được,
không biết nguyên do vì đâu?
Nhưng dân ta một nửa là
người Jiuđê, cái thế muốn
làm cũng còn dễ. Vậy xin
hoàng thượng tìm người giỏi
phép diệt trừ tả đạo biểu
dương khen thưởng trọng hậu.
Trong dân gian cũng có bậc
trí giả ra hiến kế hay thì
mới có thể dẹp tắt được”.
Vua ĐaGia khen phải rồi
hạ chiếu kể tội rằng: “Đạo
Tây Dương bắt người ta bỏ
thờ cúng tổ tiên, chỉ được
thờ cúng một mình Jêsu;
không cho dân chúng tuân
kính triều đình bản quốc,
chỉ được tuân theo Giáo
hoàng Tây Dương”. Chiếu văn
lại nói: “Nếu không vì mối
lợi lớn thì việc gì phải xa
xôi tìm đến? Nếu không tìm
mưu lớn thì vì sao phải coi
khinh sống chết? Ai có tài
diệt trừ đạo ấy cho phép tâu
lên cửa khuyết, trẫm sẽ
phong thưởng vẻ vang cho bản
thân con cháu”.
Bọn thầy tu Tây Dương ở
khắp nơi trong dân gian,
nghe tuyên chiếu thảy đều lo
sợ, bèn đem tiền của đến đút
lót các quan lại địa phương.
Bọn hào lý kẻ có đạo cũng
như không có đạo đều nói:
“Người ta ăn ngay ở lành,
chẳng giết hại ai, việc gì
phải lùng bắt gắt gao như
thế?” Bọn cha cố Tây Dương
lại gọi giáo đồ tụ tập ở nhà
thờ không cho ra ngoài
[32] . Giám
mục đốc chính cho truyền mật
thư cho giáo dân, bảo rằng:
“Chúa dạy: phàm những ai
trước đã ở nhà lo việc đạo
mà nay gánh việc đời, thì
cha anh phải nhắn gọi về”
[33] . Rồi đó
đốc chính chuyển thư về nước
tâu Giáo hoàng.
Bấy giờ giám mục nước
ĐạiNa là ChânBình, thầy
giảng nước LangSa là CảmHợi
đến cửa khuyết xin hiến kế
diệt trừ tả đạo.
Nguyên ChânBình ở nước
ĐạiNa, đã được thăng đến
chức giám mục, trót ăn nằm
với tu nữ đồng trinh có
mang. Giám mục đốc chính tâu
xin vua ĐạiNa cho bắt xử
trảm, nhưng không bắt được,
bèn bắt cha anh ChânBình đem
đi đày. Bình cùng với người
tu nữ đồng trinh kia trốn
sang nước LangSa đến hồi bấy
giờ đã được 15 năm.
CảmHợi là thầy giảng ở
nước LangSa. Trước đó bố Hợi
chết, giám mục đốc chính
không cho để tang. Về sau
Hợi xin về nhà lấy vợ. Đốc
chính cho người đến tận nhà
réo chửi, làm nhục. Hợi bèn
quyết chí bỏ đạo Gia Tô trở
về với chính giáo.
ChânBình và CảmHợi đều
biết rõ sự giả dối trong
những sách kín của đạo Tây
Dương, lại vì nỗi oan ức
chưa được giãi tỏ, đến khi
nghe chiếu truyền, hai người
cả mừng, liền về kinh đô xin
hiến kế.
Vua Đagia được hai người
này cả mừng, hỏi vì lý do gì
mà bỏ đạo Tây Dương? Hai
người đều thực tình tâu lên,
vua ĐaGia lại càng thêm tin
cậy. Rồi đó vua ĐaGia hỏi về
việc xem sổ dân thấy ghi
người theo tả đạo cả, hai
người tâu rằng: “Sổ sách
cũng không thể ghi chép hết,
chỉ vì bọn quan lại tham
nhũng thừa gió bẻ măng càng
làm cho dân thêm khổ. Nếu
dân theo tả đạo cả thì bệ hạ
còn làm vua với ai? Một khi
xảy ra sự biến, tai họa hẳn
là không nhỏ. Bên trong thì
mất dân, bên ngoài thì xua
dân cho giặc Tây Dương. Vả
lại, Giáo hoàng Tây Dương đã
từng chê cười các nước rằng:
“Họ giết dân nước họ, thật
là điều lợi lớn cho ta!”.
Vậy xin bệ hạ chớ làm những
điều mà bọn chúng chê cười.
Các đời trước nay từng ra
lệnh cấm mà không dứt được
là vì bọn chúng lẩn trốn như
dê chó, phần nhiều mượn nghề
thầy lang đi bốc thuốc chữa
bệnh, giả dạng làm ăn mày,
dẫu ngồi giữa đường cũng
không ai biết. Chẳng có
duyên cớ gì khác, chỉ vì dân
chúng tin tài bốc thuốc chữa
bệnh của tả đạo cho nên mới
không truy bắt hết được. Bởi
vậy phải có lệnh cấm thật
nghiêm thì bọn chúng không
còn chỗ dung thân. Đại phàm
muốn làm cho cái cây to tàn
héo, trước hết phải đào đứt
rễ thì cành lá cũng tự úa
khô”.
Vua ĐaGia nghe nói chợt
tỉnh ngộ, nhân đó lại hỏi
đầu đuôi sự tích Gia Tô. Hai
người tâu rằng việc ấy kể 10
ngày cũng chưa hết, xin cho
một căn phòng yên tĩnh ngồi
viết thành sách dâng lên
hoàng thượng ngự lãm. Vua
ĐaGia ưng chuẩn cho viết.
Sau năm tháng, sách soạn
xong, thuật lại mọi chuyện
từ khi Jêsu ra đời cho đến
khi thuật của Jêsu đắc dụng
ở Tây Dương, tất cả gồm 10
quyển. Vua ĐaGia và các đình
thần đọc xong ai nấy đều
phải kinh ngạc thốt lên:
“Đúng là bọn giặc!”
Chân Bình và CảmHợi tâu
rằng: “Xin lấy luật của giặc
mà trị giặc mới có thể cấm
đứt được”. Vua ĐaGia bèn
giao cho hai người cùng với
đình thần lựa chọn luật lệ
của nước Jiuđê làm ra luật
cấm như sau:
1. Trong dân gian
ở đâu có nhà thờ đạo Gia Tô,
bất kể lớn nhỏ, quan sở tại
đều phải làm biên án và
triệt phá, thu nộp cho quan
trấn sung vào quân khố. Kẻ
nào ẩn lậu xử trảm.
2. Bọn đốc chính
giám mục người Tây Dương đều
là giặc nước, kẻ nào dám che
giấu cho trốn tránh sẽ bị
trị tội cả ba họ. Các chức
sắc làng trấn đều phải liên
đới chịu tội.
3. Người bản quốc
theo giặc làm giám mục, môn
đồ, đều là kẻ a tòng bán
nước, trị tội cả ba họ,
không tha.
4. Làng nào có kẻ
nhận chức của giặc Tây Dương
làm giám mục, môn đồ thì
phải cử ra 40 người cùng với
hương trưởng ghi tên bọn
chúng vào sổ khai. Kẻ nào
che giấu về sau phát giác
thì bọn hương hào 40 người
nói trên đều bị xử trảm.
5. Họ nào có kẻ
nhận chức của giặc Tây Dương
làm giám mục, môn đồ, thì ba
họ của kẻ ấy hạn trong ba
tháng phải đi khai báo. Ai
khai trước thì được khỏi
tội. Nếu không khai báo về
sau phát giác ra thì cả ba
họ bị tru di, lớn bé đều
không tha.
6. Ai cất giấu các
thứ kiệu, lọng, ảnh tượng,
áo mũ, đồ lễ, sách vở của
đạo Tây Dương, hạn trong ba
tháng phải đem nộp cho quan
sở tại thì được miễn tội. Kẻ
nào không tuân về sau phát
giác thì chủ oa trữ bị giết
cả nhà, lớn bé đều không
tha.
7. Người nào có
công bắt được bọn thầy trò
bọn đốc chính giám mục Tây
Dương thì được phong quan tứ
phẩm, sau khi chế dân làng
tả đạo phải lập miếu đặt
tượng thờ, kể cả kẻ thủ hạ
cũng được thờ chung.
Luật lệnh đã đầy đủ,
ChânBình và CảmHợi lại tâu
lên vua rằng: “Trong các nhà
thờ đều có các thầy trò bọn
đốc chính giám mục Tây Dương
trú ngụ. Xin xuống dụ cho
mỗi làng chọn 50 hào mục
cùng chịu trách nhiệm khai
báo họ tên, nhân số bọn
chúng, rồi cứ theo danh sách
ấy mà tróc nã.
Lệnh vua truyền xuống,
giáo đồ các họ tả đạo đều
kinh hãi tái mặt, chỉ những
kẻ cường hào khấp khởi mừng
thầm, bí mật tung người đi
dò la khắp nơi để mong được
phong thưởng. Về sau hào mục
các họ tả đạo thấy có lợi
cũng lừa bắt bọn cha cố đem
nộp. Chỉ trong 1 năm, cả
nước bắt được 10 tên đốc
chính, thầy trò giám mục hơn
70 tên. Những tên còn trốn
tránh thì chiếu sổ mà trách
hỏi huyện quan
[34] , giao
cho chức sắc các làng lùng
bắt cho kỳ hết. Thu được các
đồ khí mãnh, lễ phục, vua
bèn bảo mọi người theo thứ
tự mặc thử xem sao, thấy đều
cùng một kiểu áo thụng chui
đầu, vua ĐaGia bật cười mà
bảo: “Quả là kiểu áo chó!”
Rồi đó vua ĐaGia xuống
chiếu kể tội bọn cha cố Tây
Dương rằng: “Bọn các ngươi
từ nước ngoài lẻn vào dụ dỗ
dân nước ta để cuối cùng
biến nước ta thành nước của
các ngươi. Gan ruột của bọn
ngươi, ta biết rõ cả. Người
bản quốc vụng lén nhận chức
của các ngươi, chiếu theo
pháp luật sắc lệnh của triều
đình đều khép vào tội theo
giặc, xử chém hết không
tha!”.
Xét đến những người thân
thuộc ba họ có con em làm
thầy tu mà không khai báo,
số người bị bắt rất nhiều,
vua ĐaGia thương xót muốn
tha tội cho. Nhưng đình thần
tâu rằng: “Nhà nước thương
xót bọn chúng, nhưng bọn
chúng lại làm hại nhà nước.
Vả lại trước đây đã có lệnh
cho đi khai báo trước được
miễn tội, nhưng bọn chúng cố
ý không tuân lệnh, nếu không
phải mê muội cuồng tín thì
ắt là nghe theo mưu chước
của bọn giặc Tây Dương. Bởi
vậy chỉ nên tha cho trẻ con,
còn người lớn thì xin cứ
chiếu phép gia hình”.
ChânBình và CảmHợi nói
rằng: “Giết bọn chúng cũng
phải đúng phép, làm mất
tuyệt hình tích thì bọn giặc
Tây Dương mới hết bề lợi
dụng, xin hoàng thượng cho
phép mật tâu”. Vua ĐaGia cho
phép, nghe tâu xong bèn mật
truyền lệnh: nhân lúc đêm
tối, chia bọn giặc Tây Dương
làm ba tốp, bỏ xuống thuyền
chở đến bãi cát bên bờ vực
Tam Long (ba rồng) sắp cho
quân canh phòng cẩn mật, giữ
kín không cho dân tả đạo hay
biết. Sáng ra, khi bọn họ
biết tin kéo đến, trước hết
lôi bọn thầy tu Tây Dương ra
bắt quỳ xuống mà trói lại,
cởi hết quần áo, giày mũ của
chúng châm lửa đốt ra tro
xúc đổ xuống sông, bảo dân
tả đạo: “Kẻ nào cả gan dám
chuộc tro về thờ thì khép
tội chết, kẻ nào dám xông
vào cứu thì xử chém”. Bọn
thầy tu Tây Dương mất hết
quần áo giày mũ biết không
còn di tích gì, có trốn
thoát cũng không còn manh
vải che thân mà về nước nữa,
đứa nào đứa nấy đều kinh sợ
ngơ ngác nhìn nhau. Rồi đó
ra lệnh, cho dân tả đạo ai
nấy phải đái vào mồm vào mặt
bọn cha cố Tây Dương, khiến
cho bọn chúng tự biết mình
chết không trong sạch thì
không được quy hồn về Tây
Dương. Bấy giờ cả bọn mới
trông nhau mà gào khóc thảm
thiết. Lại vì Giáo hoàng Tây
Dương đã có mật chỉ căn dặn:
khi bị hành hình phải thung
dung không chút sợ hãi thì
hồn mới ngưng tụ thành
thiêng. Kẻ nào không tuân
mệnh, dẫu chết vì đạo cũng
truất không phong. Đến đây,
cũng theo mật lệnh, mỗi lần
nghe một tiếng chuông thì
quân sĩ vung đao chém một
nhát, cứ như thế cho đến khi
tên giặc chết hẳn mới thôi.
Cả bọn không thể kiên lòng
chịu đau, thảy đều khiếp sợ,
kêu thét thất thanh. Rồi đó
sau khi cả bọn cha cố Tây
Dương đã chết hết, quân sĩ
lại đẵn gỗ xếp làm thớt, đặt
xác bọn chúng lên chặt đầu
từng mảnh, chân tay mình mẩy
đều băm vụn từng khúc rồi
trộn lẫn vun thành đống,
không phân biệt được xác nào
xác nào nữa, rồi nhất loạt
xúc hắt xuống vực sâu làm
mồi cho thuồng luồng, rùa,
giải nuốt ăn. Lại đào bới cả
một lớp đất nơi ấy hất nốt
xuống sông, làm cho trên bờ
không còn một vết tích nào.
Tất cả những cách thức ấy
đều là mưu kín của ChânBình,
CảmHợi tâu trình.
Thế là bọn thầy tu Tây
Dương không mống nào sống
sót mà về nước. Giáo hoàng
Tây Dương gần nửa năm
[35] bặt tin
không nhận được thư vấn an
gửi về, biết chắc xảy ra
biến cố lớn. Sau đó dò hỏi
dân buôn biết rõ sự việc,
Giáo hoàng cả giận đập tay
kêu lớn: “Cha chả! Ắt phải
có kẻ nào cáo giác!”.
[1]Thật đau
xót lắm.
[2]Phép này
ngày nay thi hành ở nước ta
chưa dám cấm ngặt lắm; cha
mẹ vẫn được đến thăm con.
Nhưng người con thì mỗi
tháng chỉ được về thăm nhà
một lần, ngoài ra không được
biếu tặng gì cả.
[3]Ý nói già
dặn về đạo lý.
[4]Nay gọi là
thi Thánh đoán.
[5]Tức lễ thụ
phong thầy cả, đã nói ở Q.
VI.
[6]Thiên văn
thì thi xem mây, địa lý thi
làm thử trên đống cát, lại
giấu đồ vật đi để thi tài
bói, đem người ra để thi xem
tướng.
[7]Sợ những
người này đã hiểu các phép
kín, ra ngoài ắt lộ chuyện.
[8]Tức là
phép thi chuyển từ cấp thầy
giảng lên cấp thầy già.
[9]Tức là
phép thi chuyển cấp từ thầy
già lên thầy cả (linh mục).
[10]Nếu hỏi
thái thượng hoàng có vợ cho
nên mới có con. Chúa Trời có
vợ đâu mà cũng có con? Không
biết hỏi như vậy bọn họ trả
lời thế nào?
[11]Khi Jêsu
mới sinh ra sao chúa Trời
lại không sai một bà vú nuôi
bảo hộ, đến khi Jêsu khôn
lớn hãy sai Jêsu từ bên
ngoài đến làm tôi, như thế
thì người ta làm sao mà chỉ
trích được?
[12]Nhà Nho
ta cho đức trinh phải giữ
suốt đời người. Tả đạo hiểu
đức trinh khác hẳn nhà Nho
ta. Cái thuyết ấy đã thấy ở
trên đây.
[13]Ánh sáng
là vật vô sinh cho nên vẫn
trong suốt như cũ. Còn Maria
là người, đã sinh đẻ thì làm
sao còn trong sạch được nữa?
[14]Nay xem
người Tày, Nùng ở nước ta có
phép “chú thi” (đọc chú bên
thi hài người chết) và cũng
có phép cấm con em các quan
lang không được lấy con nhà
dân.
[15]Lúc đầu
môn đồ đều lấy trong dân.
Nay phần nhiều chọn trong số
con cái nhà quan.
[16]Phép này
ở trên đã nói tới.
[17]Sợ tiết
lộ ý mật hoặc nảy sinh ý
định bỏ đạo.
[18]Sợ tiết
lộ ý mật hoặc nảy sinh ý
định bỏ đạo.
[19]Tiếp theo
còn 50 điều nữa được lược
bớt. Hình luật gồm 9 điều,
cũng lược bỏ không ghi.
[20]Tên phiên
âm trong nguyên văn.
[21]Nay tả
đạo ở nước ta chính đúng như
thế!
[22]Ở phía
nam cửa thành. (Tên phiên âm
chữ Hán, chưa rõ nguyên ngữ.
ND)
[23]Xem đó
thì biết vua tôi Tây Dương
vẫn thờ cúng tổ tiên chứ
không bỏ.
[24]Nhất
thống = thâu tóm; thu về một
mối. Thông thường từ này
dùng để chỉ ý quyền hành,
lãnh thổ trong một nước thu
về một mối sau một thời kỳ
chia cắt. Nếu nói rộng ra
với các nước có chủ quyền
thì từ đó bao hàm ý: xâm
lược, thôn tính. Tác giả
sách này đã dùng từ “nhất
thống” theo ý thứ hai đó.
[25]Giám mục
đốc chính: người đứng đầu
giáo đoàn ở một nước, do
Giáo hoàng chỉ định; cũng
gọi là giám mục khâm mạng.
[26]Ở đây có
thể nhầm lẫn về con số,
nhưng chúng tôi cứ dịch đúng
như nguyên thư đã chép, vì
nghĩ rằng ý câu văn đã rõ,
còn các con số đó chỉ có ý
nghĩa đại khái mà thôi.
[27]Hoa Lan,
Huề Lan, Hoa Lang cũng là
một. Ngày nay ta gọi đạo Tây
Dương là đạo Hoa Lang là
nhân theo tên được Bạch Hoa
Lang mà gọi vậy.
[28]Tây Vực:
từ dùng để chỉ các tiểu quốc
phía Tây châu Á, thuộc vùng
Trung Đông hiện nay. Tuy
vậy, ở đây tác giả nói đến
một nước riêng biệt, chưa
biết chính xác là nước nào.
[29]Tên phiên
âm trong nguyên thư.
[30]Tên phiên
âm theo nguyên thư.
[31]Tiên
phiên âm trong nguyên văn.
Trong thư tịch Hán Nôm,
PhaLangSa, PhápLangSa,
PhúLăngSa đều là phiên âm
tên nước Pháp (France).
[32]Sợ người
ta bỏ đạo.
[33]Sợ những
người ấy mật tâu với triều
đình đem quân đến đánh. Tả
đạo gọi những người theo đạo
là “ở trong nhà” (cư gia
trung), bỏ đạo lấy vợ gọi là
“ra gánh việc đời” (xuất dài
thế sự), đều dùng cách nói
lờ mờ, sợ người ngoài biết
chuyện. Nhưng người ta ai là
người chẳng ở trong nhà? Mà
việc làm của người thiên hạ
việc gì chẳng là “việc đời”?
[34]Nguyên
văn: Hán tịch trách a thần
(…), kèm đó có chú thích:
như tiếng Hán gọi là huyện
quan. Chưa rõ a thần phiên
âm từ chữ gì.
[35]Nguyên
thư chép: bán quý (= nửa
quý), tạm dịch là gần nửa
năm cho xuôi ý.
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
Bản điện tử do talawas thực hiện, Sách Hiếm cho thêm hình ảnh đăng lại ngày 6/29/07.