Quyển VII
Các vua đạo mượn Jêsu đối
chứng
Bọn quan đạo bịa chuyện
láo lừa dân
Bấy giờ tân Giáo hoàng đã
lên ngôi. Qua năm sau ban
chiếu truyền rằng: “Chúa
Trời hiện xuống phán bảo:
quan dân, đàn ông đàn bà,
thảy đều phải bỏ cách ăn mặc
theo kiểu cũ. Hạn trong một
năm ai nấy đều phải may
thường phục theo mẫu áo đã
có phép qui định tức là kiểu
Italiêng
[1] để chứng tỏ sự nhất trí. Kẻ nào
trái lệnh sẽ bị trị tội”.
Trước đó có y phục của người
Tây Dương đại khái cũng cùng
một kiểu như người Jiuđê:
vạt áo trước có đường xẻ,
khi mặc thì xỏ tay cài khuy.
Đến nay mọi người đều phải
mặc kiểu áo thung chui đầu.
Tả thừa tướng Xumêi chết.
Giáo hoàng Lôrenxô cho đem
tượng truyền thần ra đặt
trong điện thờ
[2] . Về sau các quan sau khi chết đều
được phong làm thánh, cho
nên ngày nay mỗi thánh đều
có một kinh riêng.
Qua năm sau, Giáo hoàng ban
tên thánh cho các nhà thờ
trong nước. Bấy giờ, đã lâu
không thấy Jêsu hiện về,
Giáo hoàng bèn phỏng theo sự
tích hòn đá có vết đầu gối
Jêsu ở vườn Ghêtsêmani, sai
thợ lấy tấm đá vuông mỗi
chiều rộng 1 thước rưỡi tạc
nổi hình chúa Jêsu theo thân
triên giá câu rút rồi bảo
vít vồ đọc lời khấn rằng:
“Nguyện linh hồn Chúa nhập
vào tảng đá này để phù hộ
cho vua tôi chúng con”. Lấy
nến trát lên mặt ngoài bức
tượng rồi dùng tấm khăn lụa
che trùm lên. Mỗi nhà thờ
đều phải có một tấm đá như
thế, gọi là “Đá tàng hồn”
(Tàng thần thạch). Đá thánh
của tả đạo bắt đầu có từ đó.
Bấy giờ đã định xong các
ngày lễ trong một năm, Giáo
hoàng truyền chiếu: Một là
[3] , cho mở
cuộc thi lựa chọn các môn đồ
[4] cho thăng
làm giám mục hoặc thầy cả,
người trúng tuyển đều được
truyền phép, cấp bằng sắc.
Hai là, dân chúng ai có ảnh
thánh, tượng thánh, đến kỳ
lễ Lá đều phải đem đến nộp
để đạo quan rảy nước phép và
niệm chú, như thế mới là ảnh
tượng thiêng, đáng thờ
phụng. Những ảnh tượng chưa
được niệm chú thì chẳng khác
gì gỗ đá, không đáng để thờ.
Lời chú niệm rằng: “Cúi
nguyền Đức chúa Jêsu giáng
linh vào ảnh này tượng này
để cho con chiên thờ phụng
đặng giúp giữ ngôi báu cho
Giáo hoàng”
[5] . Niệm như thế ba lần, xong rảy
nước phép, rồi mới giao cho
giáo dân lãnh về thờ. Những
ảnh tượng nào đã được niệm
chú, nhưng quá lâu rồi cũng
cần phải niệm lại. Lại răn
dặn rằng: “Các ảnh, tượng đã
qua lễ niệm chú đều thiêng
liêng như bậc chân thánh,
nếu lỡ chân mà bước qua tức
là phạm tội như giày đạp lên
cha mình, sau khi chết sẽ bị
đày xuống địa ngục, không
được tái sinh làm người”.
Muốn cho mọi người một lòng
tôn đạo, cho nên phải răn
dặn để chớ khinh mạn coi
thường”
[6] .
Qua năm sau, Giáo hoàng lại
truyền rằng: “Chúa Trời phán
rằng mỗi làng phải dựng sẵn
một ngôi nhà bỏ không để làm
nơi thờ các đạo quan sau khi
chết, phong gọi là thánh.
Con chiên nam nữ trong làng
người nào một lòng chuyên
cần việc đạo, được đạo quan
trình lên thì sau khi chết
cũng được thờ chung trong
nhà ấy
[7] .
Bấy giờ đình thần vừa mới
bàn định về việc cắt yểm
mạch đất thì có 5 ngôi sao
dữ mọc lên. Giáo hoàng
Lôrenxô hội triều bàn bạc,
sợ rằng dân chúng bói toán
rồi lại thì thào bàn tán,
bèn truyền cho các đạo quan
phải đe doạ dân chúng rằng
đó là điềm báo trước ngày
tận thế đã đến gần, ai nấy
phải dốc lòng thờ đạo như
chúa Jêsu hằng dạy. Rồi đó
lệnh truyền cho dân gian nhà
nào còn cất giữ sách vở về
các thuật bói toán, tướng
số, v.v. trong hạn một tháng
phải nộp hết cho đạo quan sở
tại. Ngoài hạn ấy sẽ đi khám
xét từng nhà, kẻ nào trái
lệnh xử trảm chớ hối. Chiếu
thư đại khái nói: “Các hình
tượng hiện ra trên trời như
thế nào đều do ý kín của
chúa Trời, người trần không
được nghị bàn vụng lén. Đến
như việc chọn mạch đất tốt
xấu là để cầu phúc há chẳng
phải đều do Chúa định trước
cả hay sao? Ai không tuân
lệnh, tức là phạm tội bất
kính, phải xử tội chết”
[8] .
Các sách thuật số đã bị cấm,
qua năm sau, Giáo hoàng lại
xuống chiếu: “Chúa Trời phán
rằng: Các vùng dân cư, nơi
nào đường sá đi lại chưa
thuận tiện thì giám mục sở
tại phải xem xét cho mở
thông hoặc lấp bỏ để cho dân
chúng đi lại được dễ dàng”.
Mặt khác, Giáo hoàng lại
truyền dụ mật, bảo rằng:
“Các đạo quan ai có mồ mả tổ
tiên đang lúc phát thịnh thì
phải trình ngay cho giám mục
bề trên biết để được phép
giữ nguyên. Ngoài ra, tất cả
đồi gò các làng đều phải đào
yểm long mạch. Những nơi núi
cao đất rộng hãy đợi sẽ bàn
định sau. Công việc làm
xong, các đạo quan phải vẽ
địa đồ dâng nộp”.
Thế là mạch đất tốt ở các
làng đều bị cắt yểm, chỉ
những nơi có mồ mả tổ tiên
vua quan được giữ nguyên như
cũ mà thôi
[9] .
Qua năm sau, Giáo hoàng
xuống chiếu truyền rằng:
“Những ai có thiện tâm thờ
đạo Chúa thì được lên tình
hình, nhà vua vâng ý Chúa sẽ
lầm đền thờ phụng. Những kẻ
phản nghịch bỏ Chúa phải đày
xuống địa ngục, nhà vua cũng
vâng ý Chúa mà khép tội đóng
đinh câu rút”.
Đạo quan các nơi dâng sớ tâu
rằng: “Đàn bà con gái bàn
tán với nhau rằng: chỉ thấy
phong thánh đàn ông, chứ
không thấy nói phong thánh
đàn bà. Xin hoàng thượng xét
định để yên lòng bọn họ”.
Giáo hoàng Lôrenxô cùng đình
thần bàn bạc rồi theo điều
ghi trong sách Thực lục mà
tôn phong cho Vêdonica và
Alina là “Bà Thánh”, được
thờ chung với đức mẹ Maria.
Chỉ dụ của Giáo hoàng truyền
rằng: “Đương khi chúa Jêsu
chịu nạn, bà Vêdônica là một
phụ nữ tôn quý đã có lòng
thành trao chiếc khăn tay
cho Chúa. Còn bà Alina
nguyên là người gái điếm mà
có lòng tặng Chúa chiếc váy
đỏ. Chúa Trời chí nhân, phán
cho trẫm biểu dương linh hồn
hai vị ấy. Nay đã có tiếng
chuông của Chúa giáng hiện,
trẫm tôn phong hai vị là
Thượng thánh. Vậy bảo cho
phu nhân ai nấy đều biết mà
yên lòng thờ Chúa để cùng
được đội ơn phong thưởng”.
Các đạo quan tuyên đọc chiếu
thư, đàn bà con gái khắp nơi
đều hân hoan vui mừng.
Đạo quan các nơi lại tâu
rằng: “Đạo ta nói về chuyện
thiên đường, người ta đều
cho là khó mong lên được”.
Rồi đó, một đình thần soạn
ra bổn kinh Hoa viên (Vườn
hoa), 1 quyển, in ra để ban
hành trong nước. Kinh này
khuyên dụ người ta hãy nên
dốc lòng làm điều thiện để
giũ sạch tội quí tiền khiến
cho được lên thiên đường. Vì
thế, dân chúng ai nấy đều
vui lòng theo đạo.
Năm ấy các mạch núi đã bị
cắt yểm hết, nạn dịch lớn
lan tràn, người chết nằm gối
lên nhau. Giáo hoàng mật
truyền cho các đạo quan doạ
phỉnh dân chúng rằng: “Sắp
đến ngày tận thế, cho nên
chúa Trời bắt dân chúng chịu
khổ nạn để thử thách tin
đạo. Ai nấy đều phải dốc
lòng”. Đồng thời Giáo hoàng
lại chiếu truyền rằng: “Chúa
Trời phán: Sự lành sự dữ đều
do Chúa định sẵn, từ thời
thượng cổ đến nay đều thế
cả. Kẻ nào phao truyền ngoa
ngôn, sẽ giao cho quốc vương
ném xuống địa ngục”.
Bấy giờ các đạo quan cũng
nhiều người bị chết vì bệnh
dịch, bề trên lập tức bổ
nhiệm người khác đến thay.
Lại cho vẽ một người có cánh
như chim cầm giáo đâm xuống
một con quỷ đầu sừng thân
đuôi đang bị đè giẫm dưới
chân. Đó là ảnh thánh Antô,
được vẽ ra hàng loạt để ban
cho thiên hạ, bảo dân chúng
rằng: “Thánh Antô đêm qua từ
trên trời xuống nói Thiên
Chúa sai xuống đi bắt quỷ,
vì thế các nhà đều phải treo
ảnh thánh Antô”. Rồi đó lại
soạn ra kinh Antô bảo mọi
người tụng đọc. Ảnh thánh
Antô
[10] có từ hồi đó
[11] .
Dịch bệnh hoành hành liền
năm năm mới dứt, Giáo hoàng
lại xuống chiếu lừa dối dân
chúng rằng: “Chúa Trời phán:
Vì dân nước ta tôn thờ đạo
Chúa, cho nên ma quỷ căm
ghét, tác quái sinh yêu làm
hại dân ta. Vì vậy, trong
dân gian các đều miến thờ
cúng thần linh tạp nhạp lệnh
cho chính quan và đạo quan
sở tại phải thu dẹp phá huỷ
hết, xong việc phải dâng
biểu tâu lên”.
Thế là lại một phen dịch
bệnh lớn, dân chúng chẳng ai
dám hé răng.
Giáo hoàng Lôrenxô chết.
Trải hai mươi năm thi hành
bấy nhiêu sự việc đều không
chút vội vàng. Lúc lâm
chung, Giáo hoàng gọi thế tử
và các quan đại thần đến mật
truyền di chúc: “Các hạng
thần linh tạp nhạp trẫm đã
dẹp xong. Còn những thần
linh có tiếng thì trong mười
năm tới đây, các ngươi phải
lo yểm diệt cho hết. Lại
phải hai mươi năm sau nữa
mới xuống lệnh cấm thờ cúng
tổ tiên. Đến khi đó cả nước
mới thực cùng chung một
đạo”. Rồi đó thế tử Đôrixi
[12] lên nối ngôi, xuất tiền bạc trong
kho phát chẩn cho thiên hạ.
Chiếu truyền: “Trước đây
sông ngòi nhiều nơi sụt lở.
Nay sai sứ đi các nơi xem
xét các làng bị ngập lụt,
cho làm kè đá ngăn giữ,
chiêu tập dân chúng trở về
làm ăn để con chiên Chúa
càng thêm đông đúc. Kẻ nào
không tuân lệnh hoặc chiếm
lợi riêng đều bị phép tội
chém”. Từ đó ruộng đất bị
sụt lở của các làng ven sông
được khôi phục đủ số, lập
thành định lệ lâu dài.
Năm thứ năm, Giáo hoàng
Đôrixi xuống chiếu truyền
rằng: “Các vị thần có danh
tiếng cũng không trừ diệt
được ma quỷ, vì thế các đồ
khí mãnh thờ cúng đều phải
thiêu huỷ hết”.
Năm thứ mười, truyền chiếu:
“Chúa Trời phán bảo: Thần
tức là quỷ, người há đi thờ
quỷ hay sao? Từ xưa tới nay
dân chúng thờ cúng quỷ thần
nhưng chẳng được ích lợi gì
cho sự thọ yểu giàu nghèo.
Vì thế các đền thần phải
thiêu huỷ hết không để sót
mảy may”.
Bấy giờ các đền phần nhiều
đã bị lính tráng phá huỷ,
Giáo hoàng Đôrixi hội các
đình thần lại bảo rằng: “Hơn
ba mươi năm, các phép đạo đã
được định lập đầy đủ. Nay
cần phải có một phép gì đó
khiến cho giáo dân thân
thiết với đạo mà vẫn giữ
được tôn nghiêm”.
Đình thần xét trong kinh Bởi
trời chép ở Thực lục có câu:
“Cha chúng tôi ở trên
trời…”, bèn xin Giáo hoàng
xuống chiếu truyền rằng:
“Người ta có ba cha
[13] . Cha bậc trên là chúa Trời, cha
bậc giữa là vua, cha bậc
dưới là cha đẻ ra mình. Cha
bậc trên sinh ra cả cha bậc
giữa và cha bậc dưới, cho
nên mọi sự đều phải tuân
theo cha bậc trên làm chính.
Cha bậc giữa theo phép của
cha bậc trên mà thi hành, kẻ
nào không tuân theo tức là
bất hiếu, phạm vào điều thứ
4 trong kinh Mười điều răn,
bị phạt tội đày xuống địa
ngục”. Cái thuyết Ba cha của
ta đạo là gốc ở đó
[14] .
Giáo hoàng lại bàn bạc với
đình thần: “Phải làm sao cho
dân chúng kính yêu ta như
một khối không thể tách rời
được?”.
Đình thần bàn định rồi xuống
du phỉnh doạ dân chúng:
“Chúa Trời phán rằng: linh
hồn người ta do Chúa trao
cho, chỉ có phần xác là do
cha mẹ sinh ra. Vua và các
đạo quan là cha cai quản
phần hồn. Cha mẹ đẻ bế ẵm
phần xác thì chỉ là cha mẹ
phần xác. Cha cai quản phần
hồn là tôn quý, còn cha cai
quản phần xác thì thấp kém
hơn. Từ nay về sau, dân
chúng cần phải gọi các thầy
cả là cha. Thầy cả thì gọi
vít vồ (giám mục) bằng cha,
giám mục thì gọi Giáo hoàng
là cha. Ai không tuân theo
sẽ trị tội”.
Giáo hoàng lại nói: “Tỏ tình
thân bằng lời nói dù sao
cũng không bằng tỏ tình thân
bằng việc làm”. Rồi đó phỏng
theo cung cách các đồ đệ của
Jêsu có lệ hôn tay thầy,
Giáo hoàng bèn định lệ: khi
bãi chầu, các đại thần phải
quỳ thành hai hàng nâng vạt
áo của Giáo hoàng mà hôn.
Đối với các đồ khí mãnh cũng
thế. Giáo dân đàn ông đàn bà
làm lễ xong, khi đạo quan ra
về cũng phải nâng vạt áo mà
hôn như thế
[15] .
Phép gọi cha đã được thi
hành. Qua năm sau, triều
đình lại bàn cách huỷ bỏ
tình cảm ruột thịt, không
cho người ta quyến luyến
người thân, chỉ một lòng tôn
kinh Giáo hoàng và các đạo
quan. Bàn định xong, xuống
chiếu truyền rằng: “Người ta
sau khi chết được chúa Trời
cho lên thiên đường, vả lại
trước sau ai cũng một lần
chết, cho nên từ nay về sau
không được kêu khóc người
chết, không được để tang và
khi mai táng thì phải đào
huyệt chôn sâu. Chôn cất
xong thì đọc kinh cầu
nguyện, yên lặng làm ăn như
cũ. Ai trái lệnh xử trảm”.
Từ đó người trong nước không
được gọi cha đẻ mình bằng
cha, mà phải tôn gọi Giáo
hoàng và các đạo quan là cha
thật của mình.
Giáo hoàng lại xuống chiếu
truyền rằng: “Việc hôn nhân
của mỗi người, chúa Trời đã
định sẵn: cha mẹ không được
loạn luân với con cái, anh
em ruột cũng không được lấy
nhau, anh em cùng cha khác
mẹ cũng không được lấy nhau.
Ngoài ra, nam nữ vừa ý nhau
thì đều được kết hôn. Đạo
quan cho ai được làm vợ
chồng đều là vâng theo ý
Chúa, cha mẹ đẻ không được
ngăn trở. Ai không tuân lệnh
sẽ trị tội”. Thế là từ đó
trong dân gian những người
cùng chung huyết thống cũng
vẫn được phép lấy nhau làm
vợ chồng.
Bấy giờ đình thần có người
tên là RiSa
[16] lại soạn dâng bổn kinh Sáu điều
răn tâu rằng: “Bắt dân giữ
đúng mấy điều dạy đó thì
lòng sùng đạo càng thêm sốt
sắng, ít biếng trễ”. Giáo
hoàng xem xong hỏi rằng:
“Lời kinh nói: chớ tham công
việc phần xác thì được phúc
đức phần hồn, là nghĩa thế
nào?” RiSa thưa rằng: “Làm
như thế thì hằng ngày trăm
công nghìn việc phúc đức
vậy”. Giáo hoàng lại hỏi:
“Tại sao ngày thứ sáu và
ngày thứ bảy hằng tuần lại
kiêng ăn thịt?” RiSa thưa:
“Chúa Jêsu đầu tiên gặp nạn
vào ngày thứ sáu, sang ngày
thứ bảy thì chết. Cho nên
trong hai ngày ấy cần phải
kiêng thịt, khiến cho giáo
dân ai nấy đều phải xúc động
trong lòng không quên”. Giáo
hoàng khen ngợi và cho ban
hành để thiên hạ tuân hành.
Kinh Sáu điều răn và phép
kiêng thịt ngày thứ sáu, thứ
bảy bắt đầu có từ đó.
Qua năm sau, Giáo hoàng lại
truyền xuống: “Chúa Trời
phán rằng: dân chúng không
được xem các sách vở của
người Jiuđê, và cũng không
được học các sách sử ký của
bản quốc, chỉ được học sách
thuốc để chữa bệnh mà thôi.
Những ai làm nghề thầy lang
đều phải tôn CôSiMô GiaMi
[17] làm thầy, không được tôn sùng các
tổ sư nghề y từ đời thượng
cổ nữa”.
Bấy giờ triều đình bàn bạc,
lấy làm lo lắng các sách vở
của người Jiuđê thế nào cũng
có nói tới việc Jêsu, cho
nên trước hết xuống lệnh
cấm. Đồng thời cũng cấm luôn
cả việc học sử ký nước nhà,
tức là phỏng theo lời dạy
của Jêsu về việc hạn chế sự
thông minh. Kẻ nào có hai
loại sách ấy đều phải nộp
cho thầy cả làng mình để
chuyển lên đạo quan thiêu
huỷ, ai trái lệnh sẽ bị đày
xuống địa ngục.
Từ trước, vua quan nước Tây
Dương ai cũng muốn lấy nhiều
vợ để có nhiều con nối dõi.
Nhưng từ khi việc hôn nhân
một vợ một chống đã định
thành phép tắc, bọn họ đâm
ra lúng túng không biết xử
trí thế nào. Xét trong sách
Bí lục thấy ghi lời Jêsu dạy
môn đồ về việc cấm thờ cúng
chỉ là cấm dân chúng, còn
vua quan thì vẫn có đền miếu
phụng thờ, bèn định ra lệ
mật: quốc vương được lấy 300
thị nữ, các quan cũng được
lấy thiếu hậu vợ lẽ nhiều ít
tuỳ theo cấp bậc. Chỉ ngại
dân chúng vin cớ ấy mà không
tuân theo phép một vợ một
chồng, cho nên trước hết
phải ban chiếu ấy để tiện
thi hành lệ riêng. Từ đó vua
quan muốn làm gì tuỳ ý,
không ai dám hé răng oán
than.
Giáo hoàng lại xuống chiếu
cấm dân chúng không được qua
lại buôn bán với nước Jiuđê.
Bấy giờ đình thần bàn rằng
người Jiuđê ắt biết việc
Jêsu, cho nên phải cấm tuyệt
không cho dân hai nước thông
thương. Nhưng các thứ thuốc
men đồ dùng của người Tây
Dương đều phải mua ở nước
Jiuđê, cấm hẳn cũng không
ổn. Gia đình bèn cho lập ba
cái chợ ở núi Cửa ải, truyền
cho người ngoại quốc ai có
hàng hoá thì đem đến bán,
hết hàng thì trở về. Người
trong nước cũng không được
vượt núi sang buôn bán. Ai
trái lệnh sẽ bị ném xuống
địa ngục.
Từ khi cắt yểm các mạch đất
thiêng, dân số trở nên thưa
thớt, đến hồi này mới dần
dần tạm yên. Giáo hoàng muốn
biết số dân nhiều ít, bằng
phỏng theo cách của ĐôSaNùng
cho lính vây làng bắt dân
nộp tiền, truyền bảo dân
chúng rằng: “Nay dịch bệnh
đã yên, thật nhờ ơn Chúa
thương xót. Vậy nên làm lễ
tạ ơn để xin Chúa phù hộ cho
được bình yên. Đàn ông đàn
bà các làng đều phải đến nhà
thờ làm lễ, mỗi người nộp
một đồng tiền chi dùng việc
đèn nến”. Lại truyền mật
chiếu cho các thầy cả để
riêng bốn ống đựng tiền, ông
già, trai tráng, trẻ nhỏ,
đàn bà, mỗi hạng bỏ tiền vào
một ống. Xong việc, dốc tiền
đếm riêng từng ống thì biết
rõ dân số mỗi hạng bao nhiêu
người, kê nộp để Giáo hoàng
ngự lãm. Ý nghĩa của việc ấy
là để biết trước nước có bao
nhiêu trai tráng có thể sung
lính. Tả đạo có lệ nộp “tiền
nhân danh” bắt đầu từ đó
[18] .
Tiền nhân danh nộp đủ, dồn
tính cả nước hạng tráng đinh
được hơn 30 vạn người.
Đình thần trù tính đến lúc
nên cất quân đi chinh chiến,
bèn định phép dụng binh như
sau: Khi sai tướng cầm quân
ra trận, triều đình cấp luôn
đồ khâm liệm. Hành vi của
từng người có quan hệ đến
tộc thuộc. Bại trận thì phải
chịu chết, quay về tất bị bỏ
rọ trôi sông. Quân sĩ thì
xếp cha con, anh em và người
làng vào cùng một đội để hết
sức cứu giúp nhau. Lại
truyền cho các làng đều phải
dựng đền trung liệt
[19] , khi trong làng có người tử trận
thì làm bài vị ghi rõ họ tên
đặt thờ trong đền, người
trong nước chẳng ai không
căm giận. Bấy giờ các đạo
quan đều tâu rằng: “Mọi
người hằng ngày đều đến nhà
thờ xem lễ, chỉ còn những
người ở lại giữ nhà là được
chơi nghỉ tuỳ thích”. Giáo
hoàng bèn truyền chiếu phỉnh
rằng: “Chúa Trời đã phán:
Chỗ nào cũng có ta, không
nơi nào ta không thấy, những
kẻ ở một mình mà vẫn chăm
chỉ đọc kinh mới thật là
thành tâm thờ Chúa”. Những
kẻ ngu khờ đều cho là phải,
dẫu bị giam hãm một mình
dưới hầm sâu cũng chuyên cần
đọc kinh, không dám trễ nải.
Giáo đồ tả đạo đọc kinh tại
nhà bắt đầu từ đó.
Rồi xảy ra việc Curiát
[20] dấy binh. Hồi bấy giờ đạo Gia Tô
[21] lừa dối dân nước Tây Dương đã
trải ba đời vua rồi. Lòng
dân uất ức, hoài tưởng chính
đạo. Aten
[22] nói rằng: “Đàn bà con gái trong
gia đình chúng ta vì cớ gì
mà phải rập đầu quỳ lạy để
cho bọn chúng
[23] sai khiến còn hơn con cái thờ cha
mẹ? Hẳn là bên trong có
chuyện mờ ám gì đây? Lại còn
phải xưng tội, mọi việc đều
phải cung xưng không chút
giấu giếm. Đạo gì lại có thứ
đạo như thế? Thì thào thậm
thụt, không gian thì ắt là
dâm!”.
Lời nói của Curiát lan
truyền khắp các thành bang
trong nước, dân chúng ai ai
cũng đều nắm tay
[24] căm giận. Chỉ trong một tháng đã
tụ tập được hơn vạn người,
cùng nổi lên giết bọn cha
cố, giương cờ mở hội lên án
tội trọng của Giáo hoàng và
các đạo quan: “Cha con bọn
thầy tu các ngươi trên dưới
mượn tiếng chúa Trời lừa dối
dân chúng, tôn sùng yêu tà
Jêsu để mê hoặc lòng người”.
Giáo hoàng Đôrixi nghe tin
lấy làm lo sợ, liền sai
tướng đưa quân đi đánh dẹp,
quân dân chết trận rất
nhiều. Dân chúng các nơi
cùng nổi lên mạnh mẽ hơn
trước. Giáo hoàng xuống
chiếu khuyến dụ: “Chúa Trời
phán rằng: Kẻ phạm tội chỉ
một tên Curiát mà thôi,
ngoài ra những người theo
hùa đều không bị kết tội”.
Trong sáu năm trời, quan
quân đánh dẹp không nổi.
Cuối cùng, Juachim
[25] làm tướng cầm quân đi đánh. Khi
ấy quân Curiát đã bị thương
vong tổn thất nặng nề, phải
rút vào hang núi. Juachim
cho quân bao vây rồi tiến
đánh, chém đầu Curiát đem về
kinh dâng nộp.
Nhân vụ biến loạn Curiát,
Giáo hoàng hội họp đình thần
bàn cách giữ yên dân chúng.
Viên quan tên là AnTrung
[26] tâu rằng: Phàm các nơi có mạch
đất quý xin dành riêng để
táng mộ cho các quan triều
đình, cấm dân chúng không
được xâm phạm”. Giáo hoàng
đập tay xuống bàn khen ngợi:
“Hãy lắm! Hay lắm!” rồi
truyền chiếu lừa phỉnh dân
chúng rằng: “Thứ dân dẫu có
tội lớn cũng được chúa Trời
thương xót mà tha thứ. Còn
những người có địa vị hiển
vinh, dẫu phạm tội nhỏ cũng
bị chúa Trời trừng phạt. Vì
vậy các địa phương đều phải
đặt một khu đất cấm làm nơi
táng mộ các quan để đến ngày
phán xét nghe Chúa gọi tên
giữa trời thì lên trình diện
ngay cho khỏi lộn xộn. Các
giám mục phải đích thân đi
dọn đất, xong việc tâu lên”.
Dân Tây Dương thờ đạo Gia Tô
đến hồi này đã ba đời vua,
sự học chẳng qua chỉ biết
mấy quyển sách thuốc, sách
kinh mà thôi, ngoài ra mù
tịt chẳng hay biết gì khác.
Đến lúc này, các nơi núi
sông đất lớn có vượng khí
đều bị cấm đoán, dân chúng
chẳng biết tại sao. Khi chọn
xong các khu đất cấm, đạo
quan bèn cho vẽ địa đồ và
cắm bảng yết thị rằng: “Đất
cấm do Chúa chọn đặt, thường
dân kẻ nào xâm phạm đào bới
sẽ bị ném xuống địa ngục”.
Qua năm sau, Giáo hoàng
Đôrixi ra lệnh cất quân đi
đánh nước Jiuđê, bị thua lớn
phải rút quân về. Trước đó,
Giáo hoàng thấy quân dân
trên dưới một lòng, muốn đưa
lính đánh lấy nước Jiuđê,
bèn xuống chiếu truyền rằng:
“Chúa Trời phán dạy: Về sự
việc trước đây, người Jiuđê
thật vô đạo quá lắm. Nay đã
có điềm mây xanh hiện lên
trợ chiến, trẫm truyền cho
hai vị giám mục và ba viên
trấn tướng đem ba vạn quân
sang đánh lấy nước Jiuđê”.
Lại có mật dụ truyền cho
quan quân đi đến đâu phải
yểm phá cho hết các mạch đất
thiêng ở đấy. Mật dụ nói:
“Trẫm ở ngôi ba mươi năm,
xuất quân ba mươi lần, đều
cho làm như thế thì có thể
thu gồm thiên hạ về một
mối”.
Các tướng Tây Dương dẫn quân
vượt qua núi Cửa ải, chỉ tay
lên trời truyền bảo quân
lính rằng: “Trên trời có mây
xanh đến trợ chiến cho ta”.
Quân sĩ nghe nói cả mừng,
càng ra sức vây đánh cả 5
thành bang của nước Jiuđê.
Bấy giờ ở nước Jiuđê, vua
Pania
[27] vừa lên nối ngôi, truyền lệnh án
binh bất động. Lính do thám
báo về: bọn tướng Tây Dương
đi đến đâu đều bắt dân Jiuđê
gọi bằng cha. Vua Pania bèn
sai truyền mật lệnh cho quản
giáp các nơi. Ba ngày sau,
quân Tây Dương đánh đến
[28] , các cỗ súng thần nhất loạt nổ
vang do các viên quản giáp
chỉ huy nhất tề xông ra hô
lớn: “Quân cha ta đã tới!”
Các tướng Tây Dương khi ấy
mới biết người Jiuđê không
chịu hàng phục, xua quân hỗn
chiến một phen rồi tan vỡ.
Quân Jiuđê chém đầu một giám
mục, các tướng khác sợ
nghiêm lệnh của triều đình
đều tự sát cả. Quân Tây
Dương mất tướng chỉ huy, rối
loạn tan chạy. Quân Jiuđê
đuổi theo chém giết nhiều
không kể xiết. Tra hỏi tù
binh Tây Dương, bọn chúng
đều khai về việc ở Tây Dương
mọi người dân đều phải làm
lính, về pháp lệnh sai tướng
cầm quân ra trận
[29] , về mưu kế cắt yểm các mạch đất
thiêng.
Vua Pania nghe xong phải
thốt lên: “Hiểm ác thay tên
vua quỷ Tây Dương! Lại thêm
yêu tà Jêsu! Bọn chúng muốn
phen này nuốt trửng nước ta!
Nhưng phép dùng binh vừa
phải dùng uy vừa phải dùng
ân. Nếu không được yên ổn
làm ăn sinh sống, thì dân
chúng chứa chất oán hờn, coi
vua quan như kẻ cừu thù. Như
vậy, khi xảy việc nguy cấp,
dẫu lấy uy quyền mà hiếp
bức, người ta cũng vứt bỏ
giáo mác, thử hỏi vua quan
Tây Dương lấy ai mà đánh? Đó
là cái nguy cơ khiến cho
nước chúng bại vong vậy”.
Rồi đó truyền chiếu cho các
nơi san lấp khôi phục các
mạch đất thiêng đã bị quân
Tây Dương cắt yểm. Vua nói
với các đình thần: “Cứ xem ý
định của bọn Tây Dương năm
này qua năm khác, đánh đến
đâu cắt yểm các mạch đất
thiêng ở đó thì đủ biết bọn
chúng muốn thi hành cái
thuyết năm trăm năm thống
nhất thiên hạ của yêu tà
Jêsu tổ sư bọn chúng, có lẽ
vì chúng không dụ dỗ được
dân ta cho nên mới phải dùng
đến mưu kế ấy. Không một
phen dùng binh uy lớn thì
không thể dẹp yên được.
Nhưng phải đợi đến khi bọn
chúng lại sang lần nữa, thì
lúc ấy bên ta lý thẳng khí
mạnh, ắt sẽ giành phần
thắng”. Rồi đó xuống lệnh
tuyển quân, luyện tập cung
tên súng ống. Một mặt định
lệ ghi tên phong thần, phỏng
theo phép dùng binh của quân
Tây Dương. Lời dụ các tướng
có nói: “Tướng giặc Tây
Dương ra trận chỉ được tiến,
không được lùi, ấy là một
điều nguy khiến cho chúng
rất dễ bị bắt sống. Còn các
ngươi, nếu thua trận vẫn
được phép trở về. Trở về để
tiếp tục đi đánh nữa. Ba lần
xuất chiến đều bại trận cả
mới chịu hình phạt theo quân
pháp, mà chỉ một mình kẻ làm
tướng cầm quân phải chịu
hình phạt, không liên luỵ gì
đến thân thích tộc thuộc”.
Tướng sĩ tung hô vui mừng
nguyện một lòng tận trung
báo quốc. Trong trận ấy,
quân Jiuđê thu được súng ống
đạn dược của quân Tây Dương
vứt bỏ lại
[30] . Tra hỏi tù binh, biết rõ cách
thức chế tạo, vua Jiuđê bèn
sai theo phép ấy mà đúc thêm
súng đạn, xem ra càng tinh
xảo hơn.
Qua năm sau, Giáo hoàng
Đôrixi lại sai năm tướng đem
năm vạn quân sang xâm lược
nước Jiuđê. Bên quân Jiuđê,
vua sai 10 tướng đưa 10 vạn
quân ra trận. Tướng sĩ ai
nấy đều mặc áo đội mũ của
quân Tây Dương, súng ống khí
giới cũng tựa như quân Tây
Dương, ai nấy lặng lẽ ngậm
tăm đi chặn địch. Lại một
phen thắng lớn. Tướng Tây
Dương đều phải tự sát. Vua
Pania truyền lệnh cho các
tướng đem quân chặn giữ núi
Cửa ải. Tàn quân Tây Dương
chạy về đó không còn một tên
nào qua thoát. Các tướng
Jiuđê thừa thắng cho quân
đánh tràn sang nước Tây
Dương.
Quân Jiuđê được lệnh kết bè
sậy để vượt sông, luôn trong
năm hôm đi suốt ngày đêm
tiến đến kinh đô. Người Tây
Dương trông thấy tướng là
quân mình thắng trận trở về.
Bất ngờ giữa ban ngày quân
Jiuđê xuất hiện ở kinh đô
Tây Dương, kéo thẳng qua
cổng thành, chém đầu lính
canh, nổ súng làm hiệu. Vua
tôi Tây Dương trở tay không
kịp, kinh hoàng tìm đường
tẩu thoát. Quân Jiuđê đốt
phá cung điện, nhà thờ, trại
lính và các phố phường trong
kinh thành. Hai con trai của
vua Tây Dương bị bắt sống
cùng với hơn 20 tên cha cố
cai quản ở kinh đô và gái
đồng trinh một vạn người.
Ngoài số ấy, dân Tây Dương
bị chém giết không đếm xuể.
Quan quân Tây Dương nghe tin
vua chạy trốn, ai nấy đều
ngơ ngác kinh hoàng, cho nên
mỗi lần giao chiến đều thất
bại. Đến khi dâng nộp tù
binh, thấy trong số gái đồng
trinh có hơn hai trăm người
mặc váy xoè
[31] , quân Jiuđê tra hỏi mới hay bọn
chúng đều là gái hầu trong
dinh cấm của các quan đại
thần Tây Dương. Vua Jiuđê
truyền hỏi: “Ta nghe nói bên
nước chúng bay theo phép một
vợ một chồng kia mà?”. Bọn
thị nữ Tây Dương tâu rằng:
“Phép ấy chỉ để cấm đoán dân
chúng mà thôi”. Vua Jiuđê và
các đình thần cười vang. Rồi
đó vua truyền phân chia các
gái đồng trinh bán cho người
không vợ ở các nơi trong
nước, giá 5 lạng bạc, lấy số
tiền đó dùng vào việc nuôi
dưỡng quân sĩ. Riêng về số
hai trăm thị nữ thì sung vào
hầu trong cung.
Sau khi thua trận, thành tan
quân vỡ, Giáo hoàng Tây
Dương sợ mất lòng tin với
dân chúng về chuyện mây xanh
trợ chiến, bèn truyền chiếu
dụ rằng: “Tên vua Jiuđê cố
chấp mê muội thay! Vừa rồi
chúa Jêsu cho mây xanh đi
trợ chiến là có ý muốn cho
vua tôi bọn chúng biết hối
lỗi mà hàng phục, còn nếu
bọn chúng vẫn u mê cố chấp
thì chẳng cần phải đọ sức
thắng bại. Trẫm cùng các bề
tôi không hiểu ý Chúa cứ cho
quân tiến thẳng sang đánh
nước Jiuđê để đến nỗi thầy
trò bươu đầu sứt trán! Chúa
hiện xuống hai ba lần trách
phạt, trẫm đã khấu đầu nhận
lỗi. Chúa lại truyền rằng:
Từ nay về sau không được cất
quân đi đánh nữa, phải chờ
ngày tận thế mới có thể cho
bọn chúng biết đạo thật!
Trẫm cho quân dân trong nước
được nghỉ ngơi, không dám
làm trái ý Chúa nữa”. Từ đó
mới bỏ lệ triều cống.
Qua năm sau, phỏng theo cách
Jêsu bịa chuyện ông Ađam và
bà Evà để lừa bịp dân chúng,
vua Đôrixi sai đình thần
soạn bộ sách Giảng lục (ghi
chép những lời rao giảng về
đạo Gia Tô) gồm 15 quyển
[32] , cũng đặt ra các danh hiệu, lời
niệm nhẩm, mục đích làm cho
dân chúng trên dưới một
lòng. Mỗi khi muốn đề phòng
nhắc nhở điều gì, sách đó
lại thêu dệt một câu chuyện,
đặt ra một tên người để cho
người ta tin. Chẳng hạn:
Giáo hoàng lo ngại các đôi
vợ chồng trẻ đam mê ân ái mà
biếng trễ sự đạo thì đặt một
chuyện nói rằng: “Có ông
thánh nọ cha mẹ dạm vợ cho,
nhưng thánh ấy xin được sống
độc thân. Cha mẹ không
thuận, cứ đón dâu về nhà.
Thánh ấy bèn trốn vào rừng
chuyên tâm tu đạo. Sau ba
mươi năm, người vợ hờ kia
vẫn thủ tiết đồng trinh. Một
hôm thánh ấy giả ăn mặc như
kẻ ăn mày trở về nhà. Cha mẹ
và người vợ hờ kia vì quá
lâu ngày đã quên dáng mạo
của thánh ấy cho nên không
nhận ra. Mấy ngày sau, thánh
ấy chết gục ngoài ngõ xóm.
Đêm ấy có vầng hào quang toả
sáng, cha mẹ thánh ấy ra
xem, thấy nơi đai ngực có
cài bức thư, xem xong mới
biết người ấy là con mình.
Sự việc tâu lên, nhà vua
thân hành đến tận nơi xem
xét. Thiên hạ kéo nhau đi
xem chật đường, xe vua không
sao vào được. Vua bèn sai
lính ném vung tiền ra để dân
tranh nhau nhặt tiền thì sẽ
giãn lối cho vua vào ngõ.
Nhưng dân chúng chẳng hề để
ý đến tiền, vẫn chen nhau
đứng chật ních như bức
tường. Quan ngự đài phải
đánh chiêng dẹp đường vua
mới vào được. Vua bèn phong
cho cả cha mẹ và vợ chồng
người ấy là thánh”
[33] .
Lại như Giáo hoàng lo dân
kêu khổ mà bỏ đạo
[34] thì viết vào sách Giảng lục một
chuyện rằng: “Có vị thánh
tên là Cơ
[35] nhà rất giàu, có 10 con trai đều
ngoan đạo, được chúa Trời
yêu mến. Quỷ sứ vu rằng nhà
ấy không thực bụng, chúa
Trời bèn thử thách, sai quỷ
phóng hoả đốt nhà, gia sản
cháy tiêu, nhưng lòng mộ đạo
của cha con nhà ấy trước sau
như một. Chúa lại thử lần
nữa: cùng một ngày cả mười
người con đều chết. Lại thử
gieo bệnh hủi cho người ấy,
nhưng người ấy trước sau vẫn
ngoan đạo. Rồi đó Chúa bèn
trả lại gia tài cho người
ấy, 10 người con đều sống
lại và bệnh hủi người cha
cũng khỏi hẳn. Về sau cha
con nhà ấy đều được lên
thiên đường, được quốc vương
phong tặng hiệu thánh”.
Lại như việc Giáo hoàng lo
ngại dân chúng nghi ngờ
Phêrô bỏ Chúa trong lúc hoạn
nạn, không xứng đáng được
tôn thờ, sách Bí lục kể
rằng: Phêrô về sau ăn năn
hối lỗi, lo việc giảng đạo,
rồi bị vua Jiuđê bắt giam
cùm trong ngục. Chúa Jêsu ở
trên trời ban cho Phêrô phép
lạ khiến cho Phêrô tự tháo
cởi trói được gông cùm. Đến
khi Phêrô lên thiên đường
quân Jiuđê không chém được.
Lại lo ngại dân chúng dị
nghị về việc thánh Philipphê
[36] vốn là một tên ăn cướp phạm nhiều
tội ác thì làm sao lại được
phong thánh? Sách Bị lục đặt
chuyện rằng: Thánh Philipphê
nguyên là một vị quan to ở
nước Jiuđê, từng giết rất
nhiều người theo đạo Chúa.
Một hôm đang cưỡi ngựa thấy
một lão ăn mày đứng nép bên
vệ đường, Philipphê rủ lòng
thương, bèn cắt một vạt áo
vứt cho ông lão. Bỗng ông
lão ăn mày biến mất, con
ngựa sợ hãi chồm lên.
Philipphê ngã ngựa vứt kiếm,
hai mắt bỗng bị mù.
Philipphê đấm ngực hối lỗi
bày ngày liền, rồi đôi mắt
được sáng lại như cũ. Từ đó
Philipphê một lòng theo đạo,
sau khi chết được Jêsu cho
lên thiên đường”
[37] .
Sách Giảng lục lại kể rằng:
Có một ông thánh tên là
Đôminicô
[38] , khi người mẹ nằm đẻ thánh ấy có
hai con chó ngao ngậm đuốc
đứng hầu, cho nên ngày nay
trong bức ảnh người mẹ bế
thánh Đôminicô có vẽ hai con
chó ngao ngậm đuốc
[39] .
Sách Giảng lục đại khái lừa
bịp người ta như thế.
Giáo hoàng Đôrixi lâm bệnh,
sai đưa vào trong điện ngồi
lên ngai thờ hồi lâu mới
xuống. Rồi sai đem tượng
truyền thần của mình ra đặt
lên ngai. Đôi mắt tượng
thỉnh thoảng lại nhấp nháy
[…]
[40] . Giáo hoàng Đôrixi ngoái lại bảo
hai đại thần đọc lời niệm
rằng: “Cúi nguyện Giáo hoàng
đến ngày thoát hồn thì dời
nhập anh linh vào pho tượng
ngự trên ngai quý này để
muôn đời rỗi rang”. Hai viên
cận thần cầu niệm như vậy ba
lần, Giáo hoàng ba lần gật
đầu hứa hẹn rồi trở về nội
cung, căn dặn hoàng tử Piô
[41] rằng: “Lệ cấm để tang chỉ cốt để
cấm dân chúng, còn vua tôi
sau khi chết đã có tượng
thờ, chết cũng như sống,
không cần phải để tang làm
gì. Nhưng gia pháp nhà ta
thay đổi đã ba đời hơn tám
mươi năm, trách nhiệm hoàn
thành công việc cho đến cùng
chỉ trông cậy ở ngươi và bọn
tôi liệu. Phải một phen sửa
đổi lớn, đến khi con của
ngươi lên nối ngôi mới có
thể sai các đạo quan đi ra
nước ngoài để mưu toan công
việc nhất thống”.
Giáo hoàng Đôrixi nói xong
thì tắt nghỉ. Thế tử Piô lên
nối ngôi Giáo hoàng.
[1]Nguyên thư
phiên: YđườngDiên. Xem chú
thích 2 tr. 161.
[2]Các đại
thần đều có tượng tạc sẵn để
trong mật phòng. Việc đã nói
ở Q. VI.
[3]Đoạn văn
này trích thuật chiếu thư,
nói về hai việc khác nhau,
chúng tôi dịch thêm: “một
là… hai là…” cho dễ theo
dõi.
[4]Nguyên thư
chép: Toại chiếu chư môn đồ
kham vi viết vô, đạo câu…”.
Xét ra chữ “chư” là do chép
nhầm từ chữ “tuyển” (lựa
chọn các môn đồ). Ở đây đang
nói việc cho các tu sĩ thuộc
cấp môn đồ thi lên cấp. Ở Q.
VI có đoạn nói: “Mỗi làng cử
ra 5 người làm môn đồ giúp
việc cho các đạo quan; về
sau sẽ có cuộc thi, ai làm
bài trúng cách sẽ được xét
phong chức đạo quan” . Xem
thêm ở Q. VIII đoạn nói về
Hiến luật có qui định chia
môn đồ làm bảy hạng, môn đồ
hạng thứ 7 được dự thi để
thăng cấp thầy cả.
[5]Giáo hoàng
= nguyên thư phiên là
“BaBa”.
[6]Về sau các
nước cấm đạo thường bắt cho
giáo dân phải bước qua tượng
ảnh Chúa, bởi vì các loại
ảnh, tượng tuy khác nhau,
nhưng cũng đều dùng một câu
niệm chú ấy.
[7]Làm như
vậy để dụ dỗ giáo dân vui
đạo.
[8]Từ đó quan
quân đi khám xét, bắn giết
rất nhiều người.
[9]Từ khi tả
đạo xâm nhập nước ngoài, đến
đâu thường bảo đào giếng,
đắp đài lũy, dân chúng nhiều
người bị chết vì dịch bệnh
đều gán cho đó là ý chúa
Trời.
[10]Nên hiểu thêm: “… và kinh Antô…”
cũng có thể hiểu ở vị trí
chữ ảnh đúng ra là chữ kinh.
[11]Jêsu linh thiêng sao không xuống mà
diệt trừ cho hết ma quỷ? Ấy
chẳng qua cũng như các thầy
phù thủy vẽ bùa Kỳ thiên độc
cước (thần một chân) để trấn
áp ma quỷ vậy thôi.
[12]Nguyên thư phiên là ĐốcDiTê.
[13]Chúa Trời có ba ngôi. Cha cũng có
ba ngôi!
[14]Xem cách truyền bảo thì Giáo hoàng
tuy mượn tiếng bảo dân tuân
theo chúa Trời như kỳ thực
là bắt tuân theo mình. Từ đó
phép tắc truyền xuống, đời
đời ràng buộc dân chúng các
điều nghiêm cấm gắt gao.
[15]Ngày nay tả đạo cũng có phép hôn
vạt áo.
[16]Nguyên thư phiên YkêDiXa, chưa rõ
tên nguyên ngữ, tạm phiên là
RiSa.
[17]Tên phiên âm trong nguyên thư.
[18]Ngày nay tả đạo phỉnh người ta rằng
tiền ấy dùng để làm lễ cầu
nguyện cho người nộp tiền
được trường thọ.
[19]Nguyên văn: hiệu trung từ (đền thờ
những người dốc lòng giúp
việc nước).
[20]Nguyên thư phiên là CưDiÁt, chưa rõ
tiểu sử.
[21]Nguyên văn: “Muội đạo”.
[22]Nguyên văn: Nhã thành (Nhã điển
thành), tức Athène, kinh đô
Hy Lạp, đường thời là thuộc
địa của đế quốc La Mã.
[23]Chỉ bọn thầy tu.
[24]Nguyên văn: kháng thủ (giơ tay).
[25]Nguyên thư phiên: KhuAKinh.
[26]Tên phiên âm trong nguyên văn, chưa
rõ nguyên ngữ.
[27]Tên phiên âm trong nguyên văn:
BànGia.
[28]Nguyên thư chép: “Diêu binh tập
chí…”. Chuyện đang nói việc
quân Jiuđê phục kích chặn
đánh quân Tây Dương, do đó
hợp lý có lẽ là “Tây binh
(hoặc Dương binh) tập chí…”
chứ không phải là quân Jiuđê
đánh đến, tạm sửa lại như
trên.
[29]Chỉ phép dùng binh khi sai tướng ra
trận thì cấp luôn đồ khâm
liệm v.v. đã nói ở đoạn
trên.
[30]Nguyên thư chép: Tây Dương đắc Diêu
quân… (quân Tây Dương thu
được của quân Jiuđê), chúng
tôi cho là chép nhầm, ngược
vị trí, hợp lý có lẽ là:
“Diêu quân đắc Tây Dương…”,
vì ở đây đang nói đến thắng
lợi của quân Jiuđê, vả lại
có việc thu được súng ống
đạn dược của quân Tây Dương
thì cách mấy câu sau mới có
thể nói quân Jiuđê “mặc áo
đội mũ của quân Tây Dương,
súng ống khí giới cũng tựa
như quân Tây Dương”.
[31]Nguyên văn: vân y.
[32]Sách này truyền vào nước nào đều có
dịch ra chữ nước ấy.
[33]Bỏ cha mẹ mà trốn đi là bất hiếu
với cha mẹ, làm sao còn giữ
được đức tin với chúa Trời!
[34]Nguyên văn: “Khủng dân chi la khổ
tất bất tùng đạo”. Chữ la ở
đây nếu hiểu theo chữ Hán là
cái lưới thì câu văn không
có nghĩa gì. Đây là cách
dùng xen chữ Nôm trong câu
văn chữ Hán như từng thấy ở
những văn bản Hán Nôm cuối
thế kỷ XVIII – đầu XIX. La
khổ = kêu khổ, kêu than cực
khổ.
[35]Nguyên văn ghi tên là Cơ, chưa rõ
tên nguyên ngữ. Có lẽ đó là
cách ghi tên một người viết
tắt bằng chữ C hoặc K.
[36]Nguyên thư phiên: BảoLộc.
[37]Vì vậy ngày nay trong bức ánh thánh
Philipphê có vẽ một thanh
gươm bên cạnh. Sách Giảng
lục kể chuyện ấy cốt để đe
dọa quan chức nước ngoài
không được giết hại tả đạo.
Lại cũng để lừa phỉnh giáo
dân kiên lòng theo đạo.
[38]Tiếng Bồ: Domingo; tiếng Latinh:
Dominic. Nguyên thư phiên
ĐaMinhCô.
[39]Ngày nay người ta phần nhiều nói
rằng Maria nằm với chó mà
sinh ra Jêsu, có lẽ vì trông
ở ảnh thánh Đôminicô mà nghi
ngờ Maria cho nên đặt ra
chuyện ấy để châm biếm cho
thậm tệ. Nhưng có sách cho
là chuyện nói về con gái của
Tống Ca Tông. Đã là công
chúa há lại không kiếm được
một người chồng tử tế mà
phải đi làm cái chuyện ô uế
kia? Thật là chuyện vu vơ
chẳng có căn cứ gì cả.
[40]Nguyên thư chép: “Mục tương dị thời
cố vị nhị đại thần chú
viết…”. Chúng tôi cho rằng ở
đây có sai sót làm cho câu
văn tối nghĩa. Tạm đoán ý
dịch như trên.
[41]Nguyên thư phiên: PhấtNhi.