Bấm vào số dưới đây để chọn bài đọc
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu
Quyển V
Nhờ viện quân Lâmbô, Jêsu hoá phép sinh yêu
Trúng mưu kế nữ thần, quân Jêsu đành thua trận
Chim bồ câu đã bay đi rồi, các môn đồ của Jêsu bèn
chia nhau đi truyền đạo các nơi trong nước Jiuđê,
tới cả những nơi Jêsu đã từng đến để thuyết dụ lại,
chỉ có Jiuse cùng vợ là Maria ở lại nhà. Jêsu thường
dẫn đoàn quỷ quân Lâmbô hiện lên giữa không trung,
đi lại qua các làng lúc trước đã đến giảng đạo để
khiến cho dân các làng ấy thêm tin
[1] . Jêsu cũng dẫn quỷ quân hiện đến cả
những làng chưa có người tin theo đạo mình. Vì vậy
đâu đâu dân chúng cũng xôn xao kinh sợ. Những kẻ ngu
nhát hễ trông thấy đã vội vàng vái lạy từ xa.
Trong tháng ấy, trên bầu trời nước Jiuđê, sao Chổi
đi vào vị trí sao Phòng, ba tháng mới mất. Quan
chiêm tinh [2]
tâu với vua Hêrôtê Antipa rằng: “Hiện nay đồ đảng
yêu tặc lại dấy lên, chỉ năm tháng nữa thì yêu binh
sẽ kéo đến vây bức kinh đô”. Vua Antipa bèn hạ chiếu
hễ bắt được các môn đồ tả đạo chuyên đi mê hoặc dân
chúng làm rối loạn phong tục thì cho chém ngay không
tha [3] .
Bấy giờ nước Jiuđê gặp nạn mất mùa đói kém, các môn
đồ của Jêsu đi đến đâu cũng dọa chắc chắn rằng:
“Chúa Trời giáng sinh làm người bị giặc giết hại
[4] , cho
nên mới xảy ra tai biến sao Chổi và nạn đói. Đó là
do chúa Trời trừng phạt, ngày tận thế chỉ trong vòng
ba mươi năm nữa mà thôi. Các người cần phải cùng
nhau chung dốc một lòng”. Những kẻ ngu khờ nghe nói
đều lấy làm sợ, càng bền lòng tin đạo hơn
[5] . Các
viên quản giáp và thầy cả thông giáo
[6] thuộc 5 huyện
[7] nghe tín đồ đảng tả đạo lại dấy
lên, bèn trình lên quan tổng trấn Philatô
[8] . Tổng
trấn chuyển tâu lên triều đình. Bấy giờ vua Hêrôtê
Antipa đã già, truyền ngôi lại cho con là Hêrôtê
Agrippa [9]
. Vua Agrippa hạ chiếu truyền cho dân chúng các nơi
ai có công bắt diệt yêu đạo sau khi chết sẽ được
phong làm thần. Kẻ nào chứa chấp che giấu thì phải
tội tử hình [10]
. Vì vậy dân chúng không dám che giấu, bắt được 6
người [11]
giải về kinh. Vua Hêrôtê Agrippa phán rằng: “Gã con
thợ mộc tiếm xưng là con chúa Trời, triều đình đã
bắt xử tử, còn thì tha thứ hết cho bọn các ngươi.
Thế mà nay các ngươi dám lôi kéo dân chúng của ta
hùa theo đạo của nó, thật là coi thường phép nước!”
Bọn 6 môn đồ bị bắt đều vái lạy xin được tâu bày,
đoạn dâng thư mật [12] để nhà vua ngự lãm. Bọn họ nói nếu
nhà vua thi hành các phép kín đã tâu thư thì cơ đồ
bền vững muôn vạn năm, bờ cõi được mở ra rộng lớn.
Vua Agrippa cho hội họp triều thần để cùng nghe đọc
và nghị bàn về bức mật thư ấy. Đình thần là bọn Xani
tâu rằng: “Hưng phế là số lớn của trời đất, xưa nay
đều thế cả, bệ hạ hà tất phải bận tâm lo nghĩ chuyện
năm trăm năm sau làm gì. Nếu theo giáo thuyết của
bọn kia rồi ra không chừng chẳng còn đất mà táng mộ
tổ!” Bọn 6 môn đồ thưa rằng: “Ý kín của thầy Jêsu
chúng tôi là tuy nói cấm thờ cúng tổ tiên, nhưng chỉ
ngăn cấm dân chúng mà thôi. Còn đối với vua quan thì
các đời đều có đền miếu thờ phụng”. Vua Agrippa nghe
xong mắng rằng: “Vua mà bắt dân bỏ việc thờ cúng là
kẻ bất nhân còn nói gì đến việc gây dựng đất nước!
Đã nghe lời thuyết giáo của hắn thì phải tôn hắn làm
thầy, thế là bọn các ngươi dạy ta lập kế ngu dân
nhưng kỳ thực muốn làm ngu ta trước hết
[13] .
Tên yêu tà rậm râu
[14] thật quỷ quyệt thay! Chết rồi mà
còn lắm mưu mô xảo quyệt!”
Lúc bấy giờ có viên thống binh ở trấn Jiuđia
[15] tên
là ĐôSaNùng nghe tin bắt được 6 tên yêu tặc cả mừng,
vội vã về kinh dâng lời phản kháng xin nhà vua cho
xử tử ngay, nếu tha cho chúng thì thiên hạ sẽ nói ra
sao? [16]
. ĐôSaNùng lại tâu mình biết phép kín yêu đạo kiêng
kị nhất, xin cho được bí mật tâu riêng với vua,
ĐôSaNùng tâu xong được vua cho phép theo kế mà thi
hành [17]
.
ĐôSaNùng sắp đặt mưu kế cấm ngục tốt không cho người
ngoài và những kẻ làm nghề thầy lang qua lại dò la,
ai trái lệnh bị tội chết. Sau đó đem quân bao vây
các làng tả đạo, ra lệnh rằng: “Nay giết 6 tên giám
mục tả đạo [18]
, phanh thịt cho chó ăn, lệnh cho dân làng già trẻ,
trai gái mỗi người phải nộp hai đồng tiền để mua
chó”. Truyền lệnh xong, sai lính mở một cửa cổng thả
xuống [19]
cho dân làng đi ném tiền vào sọt. Khi ném tiền ai
nấy đều phải nói to rằng: “Nộp tiền mua chó ăn thịt
vít vồ”. Kẻ nào không tuân lệnh thì bắt về kinh trị
tội. Khi mọi người đã ra hết rồi, hễ khám thấy kẻ
nào còn trốn tránh thì chém đầu. Dân chúng cả sợ răm
rắp tuân lệnh. Cứ thế ĐôSaNùng đem quân đi vây các
làng tả đạo, thu được hơn ba trăm quan tiền
[20] .
Nguyên là phép cấm của Jêsu rất nghiêm, những kẻ đã
nộp tiền giết giám mục thì hồn ắt bị đày xuống địa
ngục không được chúa Trời nhìn nhận, vì thế họ không
dám trở lại theo tả đạo nữa. ĐôSaNùng biết dân tả
đạo sợ điều đó cho nên mới dùng kế ấy để phá phép.
ĐôSaNùng trở về kinh sai người đi mua 60 con chó bảo
rằng đó cũng là một kế đánh vào điều kiêng kỵ của tả
đạo [21]
. Hồi đó ĐôSaNùng xin cho đắp một lũy nhỏ, lùa bọn 6
tên vào trong đó mà giết đi. Bọn 6 người nét mặt vẫn
thản nhiên như không
[22] , kẻ bị đâm bằng giáo, kẻ bị lột
da hoặc bị hành hình trên bàn trác
[23] hoặc bị cưa người ra từng khúc
[24] .
ĐôSaNùng cho quân bí mật bao vây quanh 6 lớp, sai
phanh thây, xáo lộn hết rồi thả đàn chó vào ăn thịt.
Bao nhiêu xương xẩu còn lại, ĐôSaNùng sai lính băm
vụn ra vứt xuống sông, không mảy may để lại vết
tích. Thầy trò Jêsu thường căn dặn dân đạo vét máu
người tử vì đạo đưa về thờ
[25] . Nay bị hào lũy ngăn cách có muốn lượm
xác cũng không vào được, dẫu lặn xuống sông cũng
không mò được. Quả nhiên dân tả đạo tìm đến, nhưng
chỉ đành đứng nhìn mà khóc rồi về không
[26] .
Còn 6 môn đồ của Jêsu chưa bắt được, vua Hêrôtê
Agrippa xuống chiếu truy lùng khắp nơi, kẻ nào che
giấu thì trị tội cả vợ lẫn chồng
[27] . Vì vậy bọn 6 người sống sót đi đến
đâu cũng không ai dám chứa.
Lần ấy Phêrô cải dạng lén đến gò núi có mộ tổ của
vua Hêrôtê lừa phỉnh dân chúng đào một cái giếng ở
chỗ có mạch đất rốn rồng. Việc chưa xong, Phêrô tình
cờ nghe người chủ nhà bảo rằng: “Có chiếu truy lùng
yêu tặc rất gấp, chẳng biết định bắt ai?” Phêrô thấp
thỏm lo sợ, nhưng cuối đầu cười đáp: “Ai bắt được
yêu tặc ắt được làm quan to”
[28] . Hôm sau Phêrô hỏi thăm dân tả đạo ở
kinh về, họ nói không thu nhặt được di tích gì, chỉ
ghi được ngày tháng bị hành hình mà thôi. Phêrô bèn
cải dạng làm ăn mày, bí mật đi tìm các môn hữu còn
lại mà bảo rằng: “Phen này hết chỗ dung thân! Chúng
ta phải mau thu gói sách vở cùng với mấy chiếc đinh
và chiếc mũ gai là di vật của thầy, theo lời dặn mỗi
người một ngả mà trốn sang nước Tây Dương
[29] ”.
Mọi người đang ngồi bàn tính, bỗng thấy Jêsu hiện ra
bảo rằng: “Nước này dân chúng hung tợn cứng đầu, đạo
ta không thi hành được. Các ngươi hãy tạm lánh sang
nước Italia chừng một năm để tìm cách báo thù cho
ta, phải làm cho vua tôi nước ấy lập đền thờ ta cho
kỳ được mới thôi, còn các việc khác về sau sẽ định”.
Xong đó môn đồ Jêsu giả dạng ăn mặc như kẻ nông nô
chia đường mà đi [30] .
Cha Jêsu là Jiuse tiếp được thư mật của Phêrô, xiết
đỗi kinh sợ, vội đem vợ là Maria trốn sang nước Tây
Dương. Vượt qua ba tầng núi non trùng điệp, gian nan
khốn khổ vô cùng. Maria cùng với chồng nhìn nhau
khóc mà nói rằng: “Từ khi Thiên Chúa Jêsu giáng sinh
chỉ thấy chuốc cho nhà ta bao nỗi đau buồn”. Bỗng
thấy Jêsu hiện lên an ủi rằng: “Ngày nay cực khổ một
đời, nhưng sau sung sướng được thờ cúng muôn đời,
mong đành lòng nén chịu”. Jiuse nói: “Triều đình
đang truy lùng ráo riết, xin đức chúa Con đừng hiện
lên nữa làm liên lụy đến hai người chúng tôi”
[31] .
Jêsu dẫn đường cho vợ chồng Jiuse qua núi rồi bất
ngờ biến mất.
Nói về Jêsu không đạt được chí lớn, cho cái chết của
mình không phải do số mệnh định trước, nên vẫn ôm ấp
hy vọng các môn đồ rồi ra sẽ thi hành được phép
thuật của mình [32] . Nay thấy 12 môn đồ bị “giặc nước”
giết mất một nửa, Jêsu hết sức căm giận quyết khiến
yêu binh một phen dấy lên rửa hận báo thù. Jêsu bèn
tụ họp quỷ quân LâmBô sai cầm giáo gậy cho cưỡi mây
ngũ sắc kéo tới bao tỏa kinh thành Jêrusalem. Jêsu
tay cầm cờ đỏ, miệng quát thét chỉ huy chúng quỷ
khiêu khích quan quân xuất chiến. Ngày hôm sau, Jêsu
phóng hỏa đốt cháy nhà cửa của dân chúng kinh thành.
Chữa được đám cháy phía đông thì ngọn lửa lại bùng
lên phía tây, dân chúng thật vô cùng cực khổ. Vua
Hêrôtê Agrippa truyền cho quan chiêm tinh là CaGiTa
bốc thẻ bói. Lời thẻ nói: “Tên giặc này khi còn sống
bị 660 quân lính khảo đả. Vậy nay cũng xin dùng số 6
để mà chế ngự nó [33] . Lại phải dùng quỷ đánh quỷ thì mới
thắng, phải dùng lửa mà dập lửa thì mới phá được
phép thuật của nó. Nạn giặc này xem ra cũng phải hơn
một năm mới dẹp được”.
Bấy giờ là có quan chiêm tinh tên Ipenso
[34] tâu
rằng: “Gió thổi về hướng sao Giốc rất độc, xin hoàng
thượng lui về cung tạm lánh”. Bấy giờ thái thượng
hoàng Hêrôtê Antipa băng hà, dân chúng kinh thành có
phần xao xuyến. Quần thần tâu rằng: “Hiện nay yêu
tặc mới dấy lên hoành hành, xin hãy quàn tạm”. Vua
chuẩn tấu. Rồi đó triều đình tuyển chọn các thầy phù
thủy phép thuật cao cường
[35] . Thống binh ĐôSaNùng sau khi được vua
Hêrôtê Agrippa ban chiếu cho phép tùy nghi hành động
bèn sai mổ bò làm lễ lớn khao thưởng âm binh, hứa
trọng thưởng cho kẻ nào bắt được Jêsu. Các pháp sư
bèn bện cỏ làm quân
[36] chất cao như núi, tiếng kêu la
ăn uống ầm ầm. Một hồi trống lệnh vang lên, âm binh
cầm cung kiếm chia đường tỏa đi chống giặc. Đi trước
mỗi đạo âm binh đều có một lá cờ trứng đề chữ: “Vâng
mệnh chúa Trời, chém đầu yêu tặc Jêsu”. Lại truyền
cho dân chúng trong ngoài kinh thành vót tre làm
cung tên giả, hễ thấy quỷ quân của Jêsu kéo đến lập
tức reo hò bắn tên tới tấp. Lại có lệnh cấm không
được bắn lầm vào dân, ai trái lệnh thì bị chém.
Bài bố đâu đó xong xuôi, ĐôSaNùng cũng phỏng theo
phép của Jêsu, đầu đội mũ triều thiên, mặc áo
Italiêng đính cườm, ngoài khoác áo liên châu dài
vạt, một tay cầm cây gậy bạc, một tay vẫy cờ lệnh.
Quân tiền đạo trương lá cờ đỏ lớn, giữa đề:
“ĐôSaNùng, con Thiên Chúa vâng mệnh diệt trừ Jêsu
giả danh con Thiên Chúa”, mười sáu chiếc lọng vàng
vẽ hình mây che rợp đoàn quân, 660 tay cung nỏ hộ vệ
ĐôSaNùng đi ra cửa nam kinh thành. ĐôSaNùng lên chòi
cao trên cổng thành, cầm ống loa sắt gọi to: “Thây
ma tên giặc Jêsu có giỏi hãy đến đây giao chiến!”.
Vừa dứt lời bỗng thấy Jêsu đưa quân đến. Từ xe thấy
cờ hiệp của ĐôSaNùng, Jêsu cả giận, từ trên mây quắc
mắt nhìn xuống quát to rằng: “Chính ta mới thật là
con chúa Trời. Ngươi sao dám tự xưng là con Thiên
Chúa?” ĐôSaNùng cũng trừng mắt mắng rằng: “Chính ta
mới thật là con chúa Trời, cớ sao ngươi dám mạo
nhận?” [37]
Jêsu quát đáp: “Nếu ngươi quả là con chúa Trời thì
hãy lên trên mây này cùng ta giao chiến!” ĐôSaNùng
cũng quát lại: “Ngươi quả là con chúa Trời thì hãy
xuống đất đây giao chiến với ta!”
[38] Thế là Jêsu phất cờ đỏ, lớn tiếng ra
lệnh cho lính LâmBô
[39] xuống đánh. ĐôSaNùng cũng vẫy cờ
phép [40]
hô âm binh: “Đánh!” Mười pháp sư gióng trống khua
chiêng rầm trời nhắm lên các đám mây ngũ sắc mà chỉ
trỏ làm dấu bắt quyết. Bấy giờ quân LâmBô của Jêsu
cưỡi diều giấy bay lượn khắp nơi. Sáu phía kinh
thành [41]
trống nổi vang dậy. Dân chúng hò reo ầm ầm. Vua
Agripa nghe huyên náo bèn ra trước cửa lầu đứng xem.
Các quan tùy tùng vội tâu: “Quỷ quân bay lượn loạn
xạ, xin thánh thượng lui vào trong cung”. Vua
Agrippa đành phải nghe lời.
Hai Thiên Chúa con giao chiến mấy chục hiệp không
phân thắng bại đều phải lui quân về
[42] . ĐôSaNùng cho mổ trâu, giết bò khao
thưởng âm binh.
Ngày hôm sau [43]
, có đám mây đen từ hướng đông bay về phía phía kinh
đô. ĐôSaNùng lại trương cờ dàn quân như hôm trước.
Ba hồi trống lệnh vừa dứt, mười pháp sư cấp tốc cho
âm binh ra nghênh địch. Dân chúng kinh đô lại nổi
trống reo hò vang trời, nhà nhà đều gương cung nhằm
đám mây mà bắn loạn xạ. Lần này không thấy Jêsu hiện
ra, chỉ thấy một vạt mây đen rắc xuống một lớp mưa
bụi chỉ trong chốc lát rồi tan. Quân dân những ai bị
mưa ướt phần lớn đều ốm nặng sưng nhọn lên mà chết.
Trong kinh ngoài quận bị một nạn dịch lớn, dân chúng
ai nấy đều kinh sợ, thì thào bàn tán Jêsu có phép
thuật linh thiêng [44] . Lại có kẻ vụng lén làm lễ cầu đảo.
Nhà vua biết chuyện sai treo một móc sắt và một
thanh gươm ở mỗi ngả đường, rồi tung quân do thám đi
khắp nơi, hễ bắt được kẻ nào phao tin đồn nhảm thì
cắt lưỡi, cầu đảo vụng trộm thì chém đầu. Từ đó, dân
chúng không dám ho he bàn tán gì nữa. Lại sai pháp
sư vẽ mặt nạ hình trẻ con giao cho âm binh rước đi
các nơi trừ tà đuổi quỷ, có qui định ban thưởng
nhiều ít khác nhau.
Jêsu từ khi gây ra nạn dịch, thấy dân chúng kinh dị
thì cho là nhà vua ắt cũng phải lo sợ. Tháng sau
[45] ,
Jêsu lại cưỡi xe mây trương cờ sai sáu tướng đốc
xuất 6 đạo quân LâmBô từ phía bắc kéo đến. Quân của
ĐôSaNùng [46]
trèo lên mặt thành nhận ra 6 viên tướng ấy đều là
môn đồ của Jêsu. Thế là quân lính gương cung tới tấp
bắn lên. Quân của Jêsu bối rối chuyển tránh không
dám xuống đất. Jêsu lớn tiếng gọi rằng: “Hỡi Hêrôtê
Agrippa, hãy mau mau dựng đền thờ phụng thầy trò
ta!” [47]
ĐôSaNùng đáp: “Mi là kẻ phạm tội, ta sẽ làm cái nhà
xí quẳng mi vào” [48] . Jêsu cả giận nói rằng: “Ngươi không
thương tiếc nước của ngươi hay sao?
[49] Phen này ta phải giết hết dân chúng
nước ngươi!” ĐôSaNùng đáp: “Sống chết có mệnh. Mi có
giỏi cứ giết cả đi xem nào!” Jêsu càng tức giận nói
rằng: “Sớm muộn cả nhà ngươi cũng phải đày xuống địa
ngục!” ĐôSaNùng đáp: “Nếu có địa ngục mi cứ chỉ cho
ta xem. Còn ta thì đã sẵn nhà ngục chờ mi từ lâu.
Nay mi cứ đọ sức với ta, nếu ta chết có người khác
kế tiếp, để xem mi có tác yêu tác quái mãi được hay
không?” Jêsu chỉ quát hừm một tiếng rồi bỏ đi.
ĐôSaNùng khua trống thúc giục dân chúng bắn theo
Jêsu. Lần ấy hai con chúa Trời không xáp trận giao
chiến. Các tướng tùy tùng hỏi nguyên do tại sao,
ĐôSaNùng đáp rằng: “Câu nói cuối cùng ta tỏ cho hắn
hiểu ta đã biết chuyện kín của hắn
[50] cho nên hắn phải bỏ mà đi”.
Năm ấy, nước Jiuđê bị nạn dịch rất nặng, nhà vua
xuống chiếu khuyên dụ dân chúng trong kinh ngoài
quận những nhà có người chết hãy tạm nén không than
khóc, không mặc đồ tang, hò la đánh trống để xua
đuổi ma quỷ [51]
. Thống binh ĐôSaNùng tâu vua rằng: “Lần này Jêsu có
thêm 6 tên môn đồ bị giết dạo trước, thế tất lại kéo
tới đông hơn nữa, xin hoàng thượng hãy xuống chiếu
triệu vời các vị đại linh sơn thần đem thần binh đến
trợ chiến. Sơn thần vui mừng được đội ơn triều đình
ắt sẽ chém đầu yêu tặc đem dâng. Còn 6 đạo quỷ binh
của Jêsu, chúng ta sẽ chặn riêng từng ngả mà đánh
đuổi thì bọn chúng phải tan chạy. Lại như lời quẻ
nói rằng: “Dĩ hỏa xạ hỏa” (lấy lửa bắn lửa) xem ra
cũng có lý: dạo trước tên Jêsu kia đã phóng hỏa đốt
nhà dân, nay ta cũng đốt mồi lửa đầu mũi tên mà bắn
xem yêu tặc đối phó ra sao”. Vua Hêrôtê Agrippa bèn
hạn chiếu triệu 23 vị sơn thần xưa nay linh hiển đem
thần binh đến trợ chiến, thần nào đánh thắng quân
giặc thì được gia cấp phong thưởng
[52] . Các thần vâng mệnh cưỡi mây về hội
đều được lệnh đóng quân ở ngoài thành.
ĐôSaNùng ra lệnh cho dân chúng lấy tro trộn mỡ đắp
vào mũi tên, hễ thấy quân LâmBô kéo đến liền châm
lửa mà bắn để trợ chiến với thần binh
[53] .
Một tháng sau, quả nhiên Jêsu lại dẫn quân LâmBô từ
tám hướng rầm rộ kéo đến bủa vây kinh thành.
ĐôSaNùng cắt cử nhiều võ quan đốc suất thần binh của
các sơn thần và âm binh của các pháp sư ra trận. Một
hồi trống lệnh vừa dứt, lửa cháy lóa trời như đèn
đuốc. Các sơn thần múa rìu vung búa từ bốn phía xông
ra. Thần binh ném tên tay
[54] đầy trời như bướm. Dưới đất, dân chúng
bắn hương đen lên tới tấp. Các pháp sư cầm gậy phép
chỉ trò điều khiển âm binh.
Jêsu cầm cờ quát thét quân LâmBô đánh tới, nhưng bọn
chúng thấy nguy không dám xuống, Jêsu cả giận quát
giục 6 tướng môn đồ đốc quân vào đánh, lại tự mình
dẫn một đội quân nhỏ sà xuống toan đoạt lấy cờ lệnh
của ĐôSaNùng, bị một bộ tướng của ĐôSaNùng bắn rơi
mũ triều thiên. Quân LâmBô vội nhặt dâng trả cho
Jêsu. Jêsu vội làm dấu chữ thập để trấn áp. ĐôSaNùng
cũng làm dấu thánh giá để trấn áp Jêsu. Các sơn thần
giao chiến quyết liệt từ các phía, cờ lọng rợp trời
như mây che, ngựa thần vun vút tung vó giữa không
trung. Bỗng một đám mây mù bao tỏa dày đặc, trời đất
tối đen như mực, chỉ còn nghe tiếng hò reo quát
thét. Rồi chiêng trống nổi lên vang động kinh thành,
đứng sát bên tai mà nói cũng không ai nghe tiếng.
Trong khoảnh khắc, mây mù tan hẳn, ngước lên thấy
sắt giăng khắp trời, Jêsu mắc lọt vào giữa lưới.
Quân của ĐôSaNùng tưởng phen này sẽ được tóm cổ
Jêsu, bèn ùa reo hò bắt. Bỗng 6 tướng môn đồ của
Jêsu bay tới cầm ống lửa mà thổi. Lửa cháy rừng rực
khắp trời nung chảy lưới sắt. Jêsu trốn thoát. Quân
ĐôSaNùng khắp mọi phía hò reo giục trống chạy đến
trợ chiến. Tiếng người tiếng trống rồn rập theo sau.
Quân LâmBô của Jêsu bị một phen đại bại.
Bấy giờ vua Hêrôtê Agrippa mới lên ngôi chưa được
bao lâu, gặp lúc trong nước bị trận đói lớn, lại
thêm yêu tặc dấy lên. Vua cha vừa mới mất, yêu khí
càng thêm tác quái. Hơn nữa, sau tám tháng hạn hán,
quân dân ốm đau dịch bệnh thật là khốn khó trăm
chiều, vua càng thêm buồn giận. Quốc sư Mensa
[55] mới
18 tuổi là người thông minh mẫn tuệ giỏi thuật âm
dương, tâu vua rằng: “Xin hoàng thượng cho đào mả
Jêsu, nhặt lấy xương cốt cùng với giá câu rút, đinh
sắt mũ gai của hắn đem đốt để hủy cho hết linh
thiêng. Một mặt xuống lệnh bắt giam cha mẹ hắn để
trị tội” [56]
.
Chiếu vua truyền đến, dân chúng đưa đường cho quan
quân, tới nơi thì thấy hang mộ không
[57] . Lại cho tìm giá câu rút
[58] thì
dân địa phương nói rằng trên núi Gôgôtha có nhiều
hình cụ xử tử vẫn vứt bỏ đấy không ai dùng đến. Chỉ
cách đây bốn tháng có hai người ăn mày nói: vì bọn
họ nghèo khổ cùng cực quá, xin cho nhặt mấy thanh gỗ
ấy để bán cho người ta làm củi
[59] . Quan quân tầm nã đến nhà Jêsu ở
Nazaret thì chỉ thấy bốn vách mốc nên không thấy
tang tích gì. Sự việc tâu lên, vua Agrippa cả giận
nói rằng: “Tên yêu tặc này thật xảo quyệt nham
hiểm”. Rồi vua hạ chiếu cấp bách truy nã các môn đồ
của Jêsu còn đang trốn tránh, dân chúng kẻ nào giấu
giếm bao che bị tru di ba họ
[60] . Lại truyền cho các quan trấn thủ bất
chợt phải đem quân đi bao vây các làng tả đạo, hễ
bắt được thầy tu thì đem chém ngay khiến cho dân các
làng tả đạo phải kinh sợ
[61] . Lệnh truyền đã hơn một tháng nhưng
vẫn chưa bắt được tên nào. Vua lại hạ chiếu truyền
rằng: “Nay còn 6 tên yêu tặc lén lút trốn tránh, hễ
ai bắt được một tên thì được thưởng vàng 50 lạng,
được ban quan tước vào hạng chim phượng
[62] ,
sau khi chết được phong làm thượng đẳng phúc thần,
được lập đền thờ ở làng”. Từ đó quyền hào các nơi
đua nhau thám thính lùng sục, nhưng vẫn không bắt
được tên nào [63]
.
Mấy tháng sau Jêsu lại đem quân LâmBô đến khiêu
chiến. Vua hạ chiếu truyền cho 23 đại linh sơn thần
[64] đem
quân dàn trận chận giặc ở ngoài cửa bắc kinh thành.
Một mặt truyền cho dân các làng thờ thần đều lập bàn
thờ, đặt bồn hương, rước lọng thần cùng với áo mũ
kiếm kích của thần đi hộ tống ở đằng sau. Vua
Agrippa lên lầu cao duyệt trận địa thấy hương khói
ngùn ngụt lan tỏa, cuối cùng bốc vọt lên mây như
chiếc cầu vồng, hồi lâu không lay động, ngọn lửa tỏa
sáng khắp bốn phía
[65] . Đình thần tâu rằng: “Trận này
xem chừng quân lính có phần lo sợ, ngờ Jêsu quả đúng
là con chúa Trời. Xin hoàng thượng dự liệu cách trấn
an”. Vua Agrippa bèn phỏng theo phép của thống binh
ĐôSaNùng sai treo trước lầu ngự một lá cờ lớn có đề
chữ: “Thiên Chúa Agrippa”
[66] .
Các sơn thần vâng mệnh hiện ra trên không giữa ba
ngày, tàn vàn cao vút, nghi vệ đường đường, mỗi thần
đều cưỡi một con ngựa quý, lúc ẩn lúc hiện giữa các
tầng mây. Thần binh đều mặc áo đỏ, ửng rực cả cánh
đồng. Mười vị pháp sư cầm gậy phép niệm chú bắt
quyết đốc thúc các đạo kỳ binh
[67] tiến lên trước để thừa cơ xông trận.
ĐôSaNùng làm phép yểm tà bằng cách lấy máu chó bôi
lên chóp nón trận, trương cờ đại tướng đốc thúc quân
lính tiến về phía các tướng môn đồ của Jêsu đang cầm
ống sắt thổi lửa xuống đằng xa.
Bên phía quân LâmBô của Jêsu, đạo quân phía đông mặc
áo trận màu đỏ, cầm giáo đỏ, cưỡi đám mây xanh. Đạo
quân phía tây đội mũ trận màu bạc, trương cờ trắng,
cưỡi mây vàng. Đi đầu là hai đội quân cung tên ngồi
trên, dải mũ xanh. Tiếp theo sau là hai đội quân cầm
giáo dài cưỡi mây trắng. Jêsu che lọng ngồi trên đám
mây đỏ ở chính giữa, đầu đội mũ triều thiên, mặc áo
thụng đính hạt cườm, tay trái khua cờ lệnh, tay phải
cầm gậy bạc. Từ xa trông thấy lá cờ hiệu đề chữ:
“Thiên Chúa Agrippa” trên lầu thành, Jêsu cả giận
quát rằng: “Ngươi có phép thiêng gì mà dám tự xưng
là Thiên Chúa thần linh?” ĐôSaNùng cũng quát đáp:
“Thứ mi có uy linh gì mà khi còn sống dám tiếm xưng
danh hiệu?” Jêsu không đối đáp được, bèn phất cờ
lệnh thúc quân xông thẳng xuống lầu ngự của vua
Agrippa. Lầu ngự bỗng nổi trống lệnh, tên bắn lên
trời tới tấp như mưa. Jêsu không thể xáp xuống được,
đành phải lượn vòng từ trong ra ngoài. Các sơn thần
thấy quân LâmBô đánh áp vào lầu ngự vội từ phía sau
lướt tới, cả ba mặt đánh xuống cùng một lục. Quân
LâmBô của Jêsu kinh hoảng tan chạy. Môn đồ của Jêsu
cưỡi xe mây chia đường đón đánh. Các sơn thần cũng
chia quân bổ vây. Quân hai bên giao chiến, tiếng hò
reo vang trời. Sáu tướng của Jêsu lượng sức không
chống nổi, chỉ một lúc sau phải tìm đường tháo chạy
rồi đột nhiên biến mất. Bỗng thấy các bồn hương thờ
sơn thần bày giữa đồng xoay tròn chạy chụm vào nhau,
gươm giáo dựng ngược chĩa lên trời, chỉ trong chốc
lát đổ vỡ mất 10 bình hương. Dân chúng các làng vung
gậy thúc trống đuổi theo, gặp lúc các sơn thần cũng
vừa kịp đến tiếp ứng. ĐôSaNùng dẫn quân đuổi theo mà
bắn. Jêsu ngồi trên mây quát: “Ngươi là ai mà dám
đương đầu với ta?”. ĐôSaNùng lớn tiếng quát: “Ta
chính là kẻ dạo nọ đã đâm thủng ngực mi!”
Jêsu cả giận, lại đốc thúc đội quân tùy tòng đánh
xuống để giết ĐôSaNùng. Bọn quỷ binh đến gần ngửi
thấy mùi máu chó tanh lợm, không dám xuống, đành
chịu đứng khựng giữa lưng chừng trời. ĐôSaNùng thấy
đội quân ấy đều có đuôi chim
[68] bèn hô lớn: “Bắn chết bọn quân thiên
thần đi! Bắn chết bọn quân thiên thần đi!”
[69]
Đoạn truyền lệnh châm lửa bắn, tên lửa tới tấp bay
lên như đóm. Bọn quân “thiên thần” hoảng sợ bỏ chạy
[70] .
Kỳ binh của các pháp sư và thần binh của các sơn
thần cũng vừa từ phía sau đánh áp tới. Chỉ trong
khoảnh khắc, các đạo thần binh của các sơn thần và
quân LâmBô của Jêsu đều biến mất, trên trời dưới đất
yên ắng như không có chuyện gì.
Trận này dân chúng đứng xem chật ních như nêm. Vua
Agrippa đứng trên lầu cao chỉ thấy âm binh xoay
vòng, thấp thoáng ẩn hiện trong mây, giơ tay cả cười
rằng: “Thật là việc lạ xưa nay chưa có!” Sau trận
giao chiến, triều đình cho khao thưởng quân sĩ. Vua
Agrippa hỏi ĐôSaNùng: “Nạn giặc này liệu đến bao giờ
thì hết?” ĐôSaNùng tâu rằng: “Quân lính của yêu tặc
Jêsu đều là những kẻ chết không phải do số mệnh định
trước cho nên thường hay hung hăng táo tợn. Nhưng
xem mấy trận giao chiến vừa rồi thì chỉ có đội quân
ấy, ngoài ra không đáng kể. Những kẻ chết đúng mệnh
thì uể oải không có nhuệ khí, Jêsu không thể điều
khiển được chúng [71] . Đó chẳng phải ai khác ngoài những
kẻ bị hành hình từ trước đến nay ở núi Gôgôtha, xác
chết phi mệnh chồng chất lâu ngày cho nên mới hiện
ra như vậy. Thần lại đã lo trước rằng bọn này dễ gây
biến, vì vậy khi hành hình 6 tên môn đồ của Jêsu,
thần đã phanh thây cho chó ăn thịt, đập nát xương
vứt xuống sông là cốt để cho bọn chúng mất bớt đi
linh thiêng, cho nên bọn chúng mỗi khi lâm trận
thường bỏ chạy. Vì vậy thần mới liệu đoán rằng bọn 6
tên ấy cũng chẳng tác yêu tác quái được bao lâu nữa.
Chỉ có tên Jêsu sẽ làm phiền hoàng thượng phải lo
nghĩ”.
Từ đó cứ 10 ngày, Jêsu lại dẫn yêu binh đến quấy
phá. Tướng sĩ canh giữ cẩn mật nhưng cũng chỉ vu vơ
bắt gió mà thôi. Dịch bệnh vẫn lan truyền, dân chúng
không ngớt bàn tán những lời phao đồn xằng bậy.
Vua Hêrôtê Agrippa rất lo lắng, bèn hội họp các đại
thần để bàn bạc. Quan tả thừa tướng MiNê tâu rằng:
“Quân Jêsu thế lực hùng mạnh, tuy chỉ có bấy nhiêu
nhưng một địch được vạn. Hung ác như bọn giặc này
xưa nay chưa từng nghe nói. Nay thần xin hoàng
thượng hạ chiếu truyền cho các sơn thần trong cả
nước không kể lớn nhỏ đều phải đem quân đến hội để
bắt cho được yêu tặc Jêsu. Sau khi tan giặc, ai nấy
đều sẽ được vẻ vang gia thăng phẩm trật. Như thế để
xem yêu tặc giỏi thoát lối nào
[72] . Lại xin hoàng thượng truyền chiếu cho
thiên hạ biết: Ai hiến được kế lạ, người thì được
phong quan cao chức trọng, quỷ thì được phong phúc
phần”. Vua Agrippa khen phải, bèn sai thảo chiếu như
lời tâu. Do đó các thần bốn phương đất nước cả mừng
lũ lượt đưa quân về kinh triều cận. Đã có chiếu
truyền: các thần binh đến nơi thì cho lên đường đi
đánh ngay. Rồi đó vua ban tiệc lớn cho các thần. Từ
đó dân gian khắp nơi nhìn lên trời bất chợt thấy
những trận giao chiến không rõ thắng bại, bên nào
thật bên nào giả cũng không phân biệt được.
Một đêm vua Agrippa đang ngủ, thấy một nữ thần nhẹ
nhàng bước vào sụp lạy. Đi theo nữ thần là 10 thị
nữ, tất cả đều mặc áo đỏ tay hồng. Nữ thần tâu rằng:
“Thiếp là nữ thần ở núi nọ, nghe chiếu truyền xin
đến dâng kế đánh yêu tặc”. Nói đoạn bưng chiếc hộp
xà cừ dâng lên, trong hộp có 6, 7 thỏi nhỏ, một thỏi
là diêm tiêu, một thỏi hoàng tiêu, một thỏi than
đen, một đoạn ống sắt và một hòn đạn sắt. Nữ thần
nói tiếp: “Ở núi thần ở có rất nhiều những thứ này.
Trộn lẫn mấy chất đó nhồi vào ống sắt mà đốt thì
phát ra tiếng nổ như sấm, khói bốc khét lẹt khiến
cho khí ác không thể ngưng tụ được”. Rồi đó nữ thần
nói rõ cách thức điều chế thuốc đạn cùng là cách chế
tạo pháo thăng thiên và súng phun lửa. Nữ thần lại
xin nhà vua cho đốt trụi ngọn núi nơi Jêsu chết và
thiêu hủy hang mộ Jêsu khiến cho linh hồn Jêsu phải
tan tác [73]
. Vua Agrippa hứa làm theo lời tâu của nữ thần.
Sáng hôm sau vua ngự triều, sai người đi đốt núi
Gôgôtha và phá hủy hang mộ Jêsu. Vua lại sai người
tìm đến ngọn núi nữ thần đã nói, quả nhiên thấy một
ngôi đền nhỏ. Trong đền có mấy cái hang rất nhiều
diêm tiêu và hoàng tiêu, đào lên lại thấy một chiếc
ống sắt lòng rộng bằng cái đấu, dài 4 thước, bên
trong có nhiều lỗ nhỏ, quân lính bèn nhặt lấy đem
về. Vua Agrippa sai người theo đúng lời dặn của nữ
thần chế ra năm mươi cỗ súng lớn nhỏ, điểm hỏa bắn
thử, quả nhiên phát ra tiếng nổ ầm vang như sấm
động, các đồ dùng sành gốm rung chuyển vỡ choang.
Lại thử pháp thăng thiên: vừa châm mồi cả ống lửa
liền bay vọt lên trời phun lửa ra như mưa. Thử tiếp
súng phun lửa: mồi châm xong, đạn lửa bay ra như
sao. Người đời sau có loại súng sắt bay lên trời
khạc lửa là bắt đầu từ đó. Đến đời vua Lý Tông
[74]
phép chế súng truyền ra ngoại quốc, từ đó ở Trung
Hoa mới có.
Các phép thuật đã đầy đủ, người ngoài không hay
biết, vua Agrippa bèn triệu bốn vị thần có danh
tiếng vào triều căn dặn những điều cơ mật. Chỉ trong
chốc lát đã thấy bốn vị thần mặc áo vàng, đi hia
rồng hiện ra trước ngự tọa. Vua truyền: “Nay quân ta
có súng thần công trợ chiến, các thần cần báo cho
nhau biết, cẩn thận chớ kinh sợ. Trận chiến sắp tới
các thần hãy dàn quân ba mặt, giả vờ đánh thua, từ
từ lui chạy, dụ cho yêu tặc đuổi theo chạy đến ngọn
núi ĐôngLâmLiệt [75] . Các đạo quân gặp nhau mai phục dưới
chân núi, cải dạng che giấu các hỏa pháo và xa pháo
để cùng lúc nổi lên chặn đánh; bắt bọn yêu tặc Jêsu
chính ở trận này”. Bốn vị danh thần vái lạy vâng
mệnh rồi biến khuất.
Jêsu lại dẫn quân đến khiêu chiến, đứng giữa không
trung quát to rằng: “Mau lập đền thờ cúng thầy trò
ta! Bằng không phen này cả nước ngươi phải chết!”
ĐôSaNùng vẫy cờ lệnh cho âm dương binh
[76]
tiến lên. Một tiếng thanh la vang dậy, vô số lọng
thần [77]
vụt ra khỏi mây lấp lóa đầy trời không đếm xuể. Chỉ
nghe tiếng gươm giáo chạm nhau lanh lảnh, bóng cờ
phần phật tung bay, khi chụm khi tan, lúc ẩn lúc
hiện. Các thần xông sát quyết chiến, trăm quân bên
dưới một lòng. Trên mặt thành, quân lính nổi trống
khua phèng đinh tai nhức óc. Jêsu chống trái đỡ
phải, cờ đỏ rập rờn, uy phong lẫm liệt. Bên quân của
ĐôSaNùng, âm binh bị vây hãm, sấp ngửa chạy về
thành. Mười pháp sư làm phù phép đốc thúc nhưng
không thể xua chúng tiến lên. Bỗng thấy Jêsu vẫy cờ
xám, lập tức lửa ngọn lả tả rơi xuống như sao, thiêu
cháy lọng vàng của các thần. Quân LâmBô giáo mác tua
tủa xúm đánh các thần nhỏ. Các thần nhỏ không chống
cự nổi đều lăn nhào xuống đất. Quân LâmBô cả tiếng
gào thét quát hỏi: “Các thần kia đã biết tài của con
chúa Trời hay chưa?”. Các vị thần lớn vội quạt gió
thổi mưa dập tắt các ngọn lửa cháy lọng. Thấy các
thần nhỏ thua bại, các thần lớn nhất tề xông đến
tiếp cứu. Jêsu hô lớn: “Kẻ nào không chịu tiến thì
chém!” Rồi đó quân Jêsu từ hai phái áp đánh kinh
thành. Khắp nơi sương mù vàng ợt, chỉ nghe tiếng
trống “phầng phầng” không rõ phát từ đâu. Trời đất
tối sầm, đôi bên vẫn chưa phân thắng bại. Bỗng thấy
một đội quân “thiên thần” ào tới quần lượn trên
trời, gặp lúc một đội thiết diện quân cũng vừa kéo
đến xung kích xông vào giao chiến, quân “thiên thần”
thua chạy. Rồi đó một vị sơn thần từ trên trời cưỡi
ngựa hạ xuống báo với ĐôSaNùng: “Thần tôi vừa đi do
thám về, thấy yêu tặc Jêsu có 6 đội quân ở đằng xa,
mỗi đội đều trương một lá cờ lớn đề chữ “Vít vồ”,
thanh thế rất hùng mạnh. Lại thấy dưới dân gian giáo
đồ tả đạo phần nhiều đều theo bọn chúng, ngửa mặt
nhìn lên trời mà vái lạy. Xin tướng quân tìm cách
trấn an lòng người”.
Lúc ấy ĐôSaNùng đang ở trên lầu thành cửa đông, vội
sai làm ngay 6 lá cờ đỏ, mỗi cờ cũng đều đề chữ “Vít
vồ”. Rồi đó ĐôSaNùng sai người truyền loa gọi các
thần trở về đón cờ đem đi. Thế là 6 ngọn cờ đỏ bay
vút tận mây, dân chúng nhìn lên ai nấy đều trầm trồ
cho là kỳ lạ. Giữa lúc giao chiến đang hăng, hai bên
đều muốn cho quân lui nghỉ, chợt có một vị thần mặc
áo vàng xông lên quát lớn: “Một trận thấy anh hùng!”
Thế là quân hai bên lại xông vào hỗn chiến, chỉ thấy
màu đỏ màu đen nhào lượn lên xuống, chiến bào phất
bay, cờ đỏ rập rờn ngang dọc. Bỗng nghe một hồi
trống đại, không rõ hiệu trống của bên nào, sau
khoảnh khắc thấy 6 đội quân ào ạt lướt tới, mỗi đội
đều trương cờ hiệu “Vít vồ”. ĐôSaNùng nghe dứt tiếng
trồng bèn cầm loa truyền lệnh: “Các vít vồ bên ta
nghênh chiến!” Lệnh vừa dứt bỗng thấy 6 lá cờ đỏ
cùng lúc trương lên
[78] . Quân hai bên xông vào hỗn
chiến, giẫm đạp lên nhau, không phân biệt được quân
vít vồ bên nào nữa. Bỗng thấy Jêsu hiện ra phất cờ
hiệu đuôi nheo, đầy trời chớp lóa mắt. Thần binh sợ
hãi bỏ hàng ngũ mà xô nhau tháo chạy. Các thần giả
cách đánh thua lui chạy về dãy núi phía đông kinh
thành rồi dàn quân ba mặt đóng giữ.
Quân LâmBô hò reo: “Bọn thần binh tan chạy rồi! Thần
binh tan chạy rồi!” Jêsu được lướt thúc quân đánh
vào kinh đô để vây tỏa hoàng cung, chẳng ngờ gặp sức
kháng cự không phá được, phải quay ra khiêu chiến
với cả ba phía thần binh. Đang lúc do dự cầm chừng,
bỗng từ lầu ngự trên mặt thành nổi vang ba tiếng
trống, các cỗ súng mai phục dưới chân núi nhất loạt
phát hỏa, sấm vang chớp giật
[79] , súng lớn súng nhỏ nổ vang, khói trắng
bốc lên mờ mịt. Sáu tướng vít vồ tái mặt, dúi dụi
ngã nhào trong mây. Jêsu kinh hoảng bỏ chạy. Quân
LâmBô thấy vậy đều xô nhau tẩu thoát. Bỗng lúc ấy,
lửa pháo thăng thiên từ dưới đất vọt lên, quân LâmBô
hoảng hốt lăn nhào xuống đất. ĐôSaNùng hô quân ùa
tới chém giết, chỉ thấy áo rách tơi tả vương đầy mặt
đất. Cả đoàn quân LâmBô của Jêsu mất hút, không biết
biến đi đằng nào.
Trong trận này, vua Agrippa cùng với các đại thần
văn võ và các quan binh chỉ đứng trên mặt thành cầm
quân đóng giữ, khua chiêng gióng trống trợ chiến từ
xa. Dân chúng kinh thành hò reo vang dậy, thật là
một phiên hội mừng náo nhiệt. Chẳng bao lâu trở lại
yên tĩnh, mây tạnh trời quang.
Jêsu thua bại, dẫn tàn quân chạy về núi Gôgôtha, chỉ
thấy tro bụi một bãi tro tàn không sót một lùm cây
ngọn cỏ [80]
. Jêsu cùng đám bại binh dắt díu nhau gào la mà
chạy, ra đến vùng núi Cát
[81] mới dám dừng lại nghỉ ngơi. Bỗng thấy
các thần dẫn quân đuổi theo gần kịp đang tung lưới
sắt bủa vây. Jêsu vội vứt cờ đỏ, rơi mũ triều thiên
chạy bay về núi Cửa ải
[82] nấp trốn trong một hang sâu. Các
thần tới nơi lùng sục nhưng không bắt được
[83] .
Chợt có một con phượng hoàng xanh
[84] vút lên không bay về kinh đô cất tiếng
tâu rằng: “Yêu tặc Jêsu chạy trốn vào núi Cửa ải,
bọn thần đã đem đội quân tới lùng soát nhưng chưa
biết rõ chỗ ẩn nấp. Xin hoàng thượng nhân thời cơ ra
uy trời đánh đuổi yêu tặc ra ngoài biên giới. Nếu
không y sẽ quay lại gây phiền nhiễu cho triều đình
phải lo nghĩ”. Vua Agrippa lập tức truyền lệnh cho
ĐôSaNùng dẫn ba nghìn pháo thủ và đốc thúc các đạo
thần binh đi lùng bắt, đến hơn 20 ngày mới quay về.
Từ đó Jêsu không dám lẻn về quấy phá nước Jiuđê nữa,
khí thế “thiêng liêng” vì vậy cũng hao tổn mất tám,
chín phần.
Trong trận ấy, việc súng thần thật là một sự là từ
xưa chưa từng nghe nói. Cùng lúc bắn lên […]
[85] ,
thần binh của triều đình đã bị “ngã” mất đến nửa số.
Nạn giặc Jêsu quấy phá quả nhiên trước sau phải mất
đến hơn một năm mới dẹp yên. Lời tiên đoán “Dùng quỷ
đánh quỷ, lấy hỏa trị hỏa” cũng được chứng nghiệm.
Các thần đánh bại quỷ binh của Jêsu, cắt được thủ
cấp hơn 3 nghìn sọt, chở về đổ đống ở cánh đồng
ngoài kinh đô. Binh lính và dân chúng tranh nhau
chạy ra xem. Thoạt đầu thấy đúng là đầu người, hồi
lâu nhìn kỹ thì hóa ra đều là xương đầu lâu. Vua sai
xét nghiệm mới hay đó là xương sọ của kẻ tử tù.
Trong triều ngoài quê bấy giờ mới biết âm hồn của
những kẻ chết không phải do số mệnh ở núi Gôgôtha bị
Jêsu lôi kéo, cho nên mới liều lĩnh hung hăng như
vậy. Nay bị các thần chém đầu, phải hiện nguyên hình
như cũ. ĐôSaNùng ra lệnh hỏa thiêu để diệt trừ oan
khí [86]
.
Vua Agrippa vì chuyện Jêsu dấy yên binh hại nước
càng căm ghét tả đạo, truyền chiếu lùng bắt bọn vít
vồ lánh trốn càng gấp hơn. Tả thừa tướng MiNê tâu
rằng: “Từ nay nên cấm hẳn không cho dân ngu
[87] năm
huyện thờ tả đạo nữa”. Vua lại hỏi thống binh
ĐôSaNùng phải làm cách gì để ngăn cấm? ĐôSaNùng tâu:
“Dân bị mê hoặc đã sâu, phải có phép thật nghiêm mới
sửa được. Nay ta phải dùng phép của hắn mà trị hắn
thì công việc đỡ phiền phức mà có hiệu quả. Thần
được biết Jêsu cấm người ta không được gọi đạo ta
[88] là
đạo chính và không được gọi thầy cả đạo ta là thầy,
chỉ dành những tiếng ấy để xưng hô với hắn mà thôi.
Bọn vít vồ đi đến đâu, dân ngu đều rải chiếu kín đất
mà đón rước, những kẻ phú hào dẫn dân binh vác gậy
đỏ xếp hàng hai bên đường nghênh đón. Bọn vít vồ
ngồi xe son che lọng vàng, đàn ông đàn bà cầm nến
sáp đi theo hoặc quỳ lạy nghẽn đường, già trẻ thảy
đều tung hô hoan hỷ. Xem ra bọn họ chỉ biết tôn kính
vít vồ mà khinh miệt quan lại của triều đình, bảo
triều đình là quân vô đạo, bảo các thầy cả đạo ta là
những kẻ làm phép ngụy. Đại khái bọn chúng mê hoặc
lòng người, coi khinh phép nước như thế
[89] .
Hơn nữa chúng rao giảng toàn những điều có hại đến
luân thường [90]
. Nay xin hoàng thượng cho đổi cách xưng hô: gọi các
cố đạo là thầy cả đạo chính, nắm quyền ngăn cấm tả
đạo, như thế công việc thưa giản mà phép tắc được
nghiêm hơn. Nếu cứ để như trước thì e rằng bọn nha
lại tham tiền của đút lót thả lỏng cho bọn thầy tu
tả đạo coi thường phong tục. Cần phải đặt lệ thưởng
to phạt nặng, kiên trì vài bốn chục năm trở lên thì
mới có thể uốn nắn bọn chúng trở về chính đạo”.
Vua Hêrôtê Agripa nghe xong lo ngại phán rằng: “Cha
chả ghê thay kẻ hiểm tâm ngang ngạnh! Nay trẫm sẽ
nghiêm cấm, truyền cho con cháu, vạn năm không được
nới tay!” Rồi đó vua truyền lệnh lập sổ ghi tên dân
tả đạo các làng trong nước trình lên để xem xét. Đổi
gọi cố đạo các làng là thầy cả đạo chính. Tờ chiếu
đại lược viết: “Bọn các ngươi tiêm nhiễm yêu ngôn đã
lâu, quay lại khinh miệt cha ông khi còn sống thì
không nuôi dưỡng, không cung kính; đến khi chết thì
đào huyệt chôn sâu, không thờ cúng, không xót
thương. Tuy gọi là loài người mà lòng dạ thật đúng
là loài chó lợn. Nay trẫm truyền đổi tên cố đạo gọi
là thầy cả đạo chính coi giữ phong tục các làng; một
mặt đặt ra những điều lệ mới, ghi rõ cho mọi người
đều biết như sau:
- Điều 1: Các cố đạo trước đây từ nay đổi gọi
là thầy cả đạo chính.
- Điều 2: Chức thầy cả đạo chính ở mỗi làng
lớn đặt 3 người, làng không lớn lắm đặt 2 người,
làng nhỏ đặt 1 người, được cấp lương ấn có phân
biệt các mức nhiều ít khác nhau.
- Điều 3: Dân tả đạo mỗi khi có việc tang ma
chôn cất đều phải đến trình để thầy cả đạo chính
đích thân đến kiểm soát và chỉ bảo cho cách thức
làm đám tang đúng theo phép nước.
- Điều 4: Dân tả đạo mỗi nhà đều phải lập một
bàn thờ, viết thụy hiệu tổ tiên từ 5 đời trở
xuống mà thờ phụng.
- Điều 5: Dân tả đạo đến ngày giỗ cha ông, tùy
theo hoàn cảnh mỗi nhà giàu nghèo mà soạn lễ
cúng, nhất thiết phải trình để thầy cả đạo chính
và trưởng ấp đến tận nơi xem xét.
- Điều 6: Các hương trưởng phải phân bổ cho
dân tả đạo các nhà theo lệ đóng góp vào việc thờ
thần của làng.
- Điều 7: Viên hương trưởng nào mà phụ họa làm
theo dân tả đạo thì bị xử trảm.
- Điều 8: Dân tả đạo khi làm lễ cưới thì cả
hai vợ chồng đều phải lạy bàn thờ tổ tiên nhà vợ
cùng là lạy sống cha mẹ vợ, sau đó mới đón dâu
về nhà chồng. Về đến nhà chồng thì phải lạy bàn
thờ tổ tiên nhà chồng cùng là lạy sống cha mẹ
chồng.
- Điều 9: Ai cáo giác bắt được bọn đồ đảng yêu
đạo thì được ban phẩm hàm quan tước, sau khi
chết được phong phúc thần như đã nói trong chiếu
chỉ năm ngoái.
- Điều 10: Dân tả đạo kẻ nào không tuân theo
những điều khoản trên đây thì thầy cả đạo chính
và hương trưởng phải bắt dẫn lên quan trên xử
trảm cả vợ lẫn chồng.
- Điều 11: Thầy cả đạo chính kẻ nào tham tiền
của đút lót mà ngấm ngầm làm theo tả đạo thì bị
khép tội bất trung với mệnh vua, xử trảm.
- Điều 12: Thầy cả đạo chính và hương trưởng
nếu dốc lòng nghiêm cấm tả đạo và sửa đổi cho
dân tả đạo trở lại quốc tục thì sau khi chết
được phong làm thần làng.
- Điều 13: Khi thầy cả đạo chính được sắc ban
về làng, hết thảy dân tả đạo đều phải sửa soạn
xe son lọng vàng, cầm gậy đỏ và đèn sáp xếp hàng
hai bên vệ đường nghênh đón.
- Điều 14: Thầy cả đạo chính và hương trưởng
nếu không may bị thiệt mạng trong khi thừa hành
chức vụ thì lập tức được gia phong, triều đình
sẽ bổ ngay người khác đến thay thế
[91]
.
- Điều 16: Kẻ nào cất giữ quần áo, chuỗi hạt,
tranh ảnh, sách vở của yêu tặc, hạn trong một
tháng phải đem đến nộp cho thầy cả đạo chính và
hương trưởng để chuyển lên quan trên thiêu hủy.
Sau hạn đó, khám xét thấy kẻ nào còn cất giấu
thì xử trảm [92] .
Dân tả đạo từ trước chỉ tôn kính Jêsu cùng các vít
vồ, đến nay nghe lệnh truyền xuống ai nấy sững sờ
buồn thiu lo sợ bị đày xuống địa ngục. Bọn họ bàn
tán với nhau không biết làm thế nào. Nhưng vì sợ
phép nước, ai nấy đều phải tuân hành theo đúng chiếu
thư. Các thầy cả đạo chính thì đều mong được phong
thần, cho nên càng dốc lòng nghiêm cấm tả đạo. Cứ
như thế trong khoảng hai chục năm mới tạm dẹp được
tập tục tà giáo.
Xét việc bài trừ tả đạo ở nước Jiuđê, bất cứ điều gì
cũng đều phải tuân theo phép của Jêsu mà phá thuật
của Jêsu, chẳng hạn việc đề chữ trên cờ hiệu, đổi
gọi cố đạo là thầy cả đạo chính, cùng là lệ phong
thần, bổ nhiệm người thay thế để duy trì phép tắc
cho nghiêm, v.v. Cách thức trấn áp những kẻ mù quáng
như thế thật là rất diệu, đúng là “vỏ quýt dày, móng
tay nhọn” vậy. Ngày nay bọn Tây Dương cũng vẫn phải
sợ những phép ấy.
Sau khi dẹp xong yêu tặc, vua Agrippa xuống chiếu
đại xá thiên hạ, chỉ trừ 6 tên giám mục môn đồ của
Jêsu. Bấy giờ trong triều ngoài nội người ta đều cho
rằng bọn chúng đã cải tà quy chính, tuyệt hẳn không
dấy lên nữa. Nhưng chỉ một năm sau, trong dân gian
có viên quản giáp tên là MaLa cùng với người làng
TônNi tên là ANga bắt được một thầy tu tả đạo tên là
MiNghi. Lại viên quản giáp tên là NôTư bắt được thầy
tu tả đạo tên là TuânTê. Cả hai gã ấy chỉ mới ngoài
20 tuổi [93]
. Bấy giờ hai gã đều giả dạng làm thầy lang đến chữa
bệnh ở hai làng kia, hương trưởng lấy làm ngờ
[94] dẫn
tuần đinh bắt giữ xét hỏi: “Có phải ngươi là thuộc
hạ của bọn vít vồ hay không?” Người ta đồn rằng nếu
hai gã ấy là bè đảng ngụy đạo thì thế nào chúng cũng
chối cãi. Chẳng ngờ hai gã kia tự nhận là đúng
[95] .
Thế là cả hai liền bị dẫn nộp lên tổng trấn. Quan
tổng trấn tâu báo về triều, vua Agrippa cho lệnh
giải về kinh. Tra khảo đầu đuôi, hai gã ấy mới phải
khai rằng: “Cả 6 môn đồ của Jêsu đã trốn sang Tây
Dương, lập thêm bọn chúng tôi làm thầy cả, tất thảy
là 54 người, bảo ở lại lén lút trà trộn trong dân
gian. Lại căn dặn rằng: Các ngươi phải vững lòng
tin, rằng chờ ngoài mười năm, năm mươi năm nữa, kẻ
kia dễ sống đại được nghìn tuổi không chết hay sao?
[96] .
Nó chết thì con nó nối ngôi hoặc giả đó là kẻ ngu
tối, hoặc là gặp nhiều sự cố rắc rối, hoặc sẽ bị
người của đạo ta trừ khử đi v.v. Do đó mà bọn chúng
không lưu ý đến việc cấm đạo nữa. Các ngươi còn trẻ,
đến lúc ấy khoảng sáu, bảy mươi tuổi, chắc là chưa
chết hết, ít nhất cũng còn một phần ba sống sót. Lúc
bấy giờ các ngươi sẽ bí mật lập đạo, cùng nhau đi
thuyết dụ dân chúng, há lại không dụ được vài ba
trăm nhà hay sao? Cứ đà ấy nhen nhóm gây dựng dần
dần mà trỗi dậy. Lúc ấy bọn ta đã già yếu rồi, cho
nên phải dặn trước để các ngươi nghe ngóng thăm dò,
bốn phương tìm nhau tụ hội lại dần dần thì giáo dân
hai nước [97]
cũng như con một nhà vậy. Như thế bọn chúng nó làm
gì được chúa Jêsu của chúng ta?”
[98] .
Nghe lời khai của hai gã thầy tu, vua Agrippa cả
kinh đập tay [99]
xuống án phán rằng: “Bọn giặc này thật ngang ngạnh,
cứng đầu! Đúng như tổ sư
[100] của chúng vẫn nói là trên dưới một
lòng, vững như sắt đá, kẻ trước chết người sau
tiếp!” [101]
Liền đó vua sai ghi họ tên quê quán của bọn thầy tu
tả đạo 52 tên còn lại đem niêm yết khắp nơi để lùng
bắt. Một mặt sai quân tầm nã đến tận quê quán của
từng tên bắt giam gia quyến và tịch thu mọi thứ lễ
phục, giấy tờ, bằng sắc
[102] . Lệnh truy lùng tả đạo càng gắt gao
hơn trước, đến nỗi đàn bà con gái nhà giàu thường có
những chuỗi ngọc trang sức nhưng đều phải tháo rời
ra chẳng ai dám đeo, vì sợ người ta ngờ là chuỗi con
niệm. Đồ đạc dụng cụ trong nhà, những thứ gì có hình
dáng chữ thập cũng đều phá hủy hết. Những ai trùng
tên với bọn thầy tu đang bị truy nã đều xin đổi tên.
Rồi đó tả thừa tướng MiNê theo lời của ĐôSaNùng, sai
trói ngược hai tên thầy tu tả đạo vào bó tre khô,
tưới dầu châm lửa đốt cho cháy rụi thành than, xúc
đổ xuống sông, còn lòng ruột không cháy thì vứt cho
chó ăn [103]
. Một mặt ban ngay sắc phong sinh thần
[104]
và lập đền thờ sống cho những người đã có công bắt
giữ yêu tặc.
Năm mươi hai tên môn đồ ngụy đạo nghe tin gia quyến
bị bắt tống ngục, trong vòng ba năm đều lục tục ra
đầu thú, 20 tên quá sợ hãi xin hoàn tục về nhà lấy
vợ, bèn triệu quản giáp, thầy cả và hương trưởng đến
bảo lĩnh cho về, đều làm đúng lời hứa lấy vợ, ở yên
tại quê nhà. Còn lại 22 tên
[105] vẫn bền lòng không chịu bỏ đạo, vua
truyền theo phép cũ đem thiêu sống đổ tro, vứt ruột
cho chó ăn.
Hồi bấy giờ ở nước Jiuđê, số người bị dụ dỗ theo tả
đạo, chỉ mới trong phạm vi 5 huyện, nhưng cũng chỉ
rải rác, không phải toàn tòng. Đến khi quan quân bắt
giết 6 môn đồ của Jêsu, rồi ra lùng bắt bọn 54 tên
vừa nói thì pháp lệnh của triều đình cấm tả đạo được
nghiêm khắc tuân phòng, người ta đều tưởng rằng dân
tả đạo trong năm huyện đã kinh hồn bạt vía. Nhưng 24
năm sau, bỗng có tin người làng Xana bắt được 3 thầy
tu tả đạo tên là Nicôla, Jêpêsô và Timông
[106]
. Ba người này lẩn trốn trong hang núi đã hơn một
hai năm. Dân làng thấy bọn họ ở độc thân không lấy
vợ, lấy làm ngờ, bèn bắt nộp quan trấn, quả nhiên
đúng sự thực. Áp dẫn về kinh, vua Hêrôtê Agrippa
càng thêm kinh lạ. Đến khi tra khảo duyên cớ tại sao
sống độc thân thì Nicôla và Jepensô đều khai là vì
nhà nghèo không dám lấy vợ, còn Timông thì nói vì bị
bệnh lao nên cha y bảo đừng lấy vợ thì sống được lâu
hơn [107]
. Vua Agrippa quát rằng: “Nói láo cả! Chẳng giống
tính người, cứ giao xuống cho tra khảo, chết bỏ!”
Bấy giờ bọn Jepensô mới chịu khai: “Bọn chúng tôi
không phải là thầy cả, mới chỉ là môn đồ do các giám
mục lập sẵn để tiện trao chức về sau
[108] . Giám mục dặn kín chúng tôi rằng:
Nếu 54 thầy cả đều chết hết thì bọn các người tất cả
50 người hãy cầm lấy bằng sức tự lập làm thầy cả để
thay thế”.
Vua Agrippa cả sợ nói rằng: “Cha chả! Bọn bay gốc
sâu rễ bền!”. Nói đoạn hạ lệnh tịch thu hết bằng sắc
và các thứ đạo phục. Tờ sắc đại khái viết như sau:
“Thiên Chúa Jêsu ban sắc truyền rằng: thầy cả trước
đã chết, nay trao chức cho khanh thay thế. Khanh hãy
dốc lòng vỗ về khuyên bảo dân chúng, ngày sau khi
qua đời cho khanh cùng được thiêng liêng”
[109]
. Lại có đoạn nói: “Thầy cả nào được vít vồ (tổng
giám mục) nào truyền chức thì mang tên vít vồ ấy.
Như vậy là để khi sống gọi tên mình là nhớ đến đạo,
khi chết rồi thì theo linh hồn của vít vồ mình để
cùng được thiêng liêng”
[110] .
Vua Agrippa lại càng kinh lạ nói rằng: “Bọn giặc năm
xưa chỉ nói 54 tên, không thấy khai rõ bọn này. Dự
liệu dặn dò nhau từ trước, mưu mô bọn này thật xảo
quyệt, hiểm độc biết bao! Tuy vậy, bắt thêm được một
đồ đảng của yêu tặc ta lại có thêm một phép mới để
trừng trị bọn chúng!”.
Rồi đó vua sai biên họ tên quê quán của bọn thầy tu
dự bị, 45 tên còn lại truyền đi cho các địa phương
truy nã. Bấy giờ 47 tên thầy tu dự bị vẫn sống ở quê
quán, nhưng dân làng chẳng ai hay biết, chỉ lấy làm
lạ là bọn ấy đã lớn tuổi vẫn không chịu lấy vợ mà
thôi. Đến khi bọn chúng bị bắt thì mới vỡ lẽ. Chiếu
vua truyền xuống: những kẻ thú tội chịu lấy vợ đều
được tha, giao cho thầy cả đạo chính và hương trưởng
bảo lĩnh giám sát như đã nói trước. Trong số đó chỉ
có 5 tên trước sau vẫn không chịu bỏ đạo đều bị tử
hình như đã nói. Một mặt cũng phong tặng cho người
làng Xana như đã hứa trước
[111] .
Vua lại xuống chiếu truyền rằng: dân chúng ai có
việc đi đâu cần phải có giấy thông hành
[112]
cùng với tờ cam đoan
[113] rằng mình không phải là dân tả
đạo. Ai không có giấy tờ thì giao cho trưởng ấp nơi
đến trú ngụ giữ lại xét hỏi
[114] . Sau đó lại có chiếu truyền: hạn
trong một năm, đàn ông đàn bà trong nước từ 20 tuổi
trở lên nếu không lấy vợ lấy chồng đều coi như đồ
đảng của yêu tặc, giao cho trưởng ấp đem trát đến
bắt, không tha. Dân chúng đều lấy làm lo sợ, chẳng
người nào dám ở độc thân không lấy vợ lấy chồng. Từ
đó cái rễ Gia Tô mới dừng lại không bén được tấc nào
[115]
. Trước đó dân tả đạo trong 5 huyện tuy bề ngoài vẫn
tôn phụng thầy cả đạo chính, nhưng trong lòng vẫn
mong ngóng trông đợi, thường kiếm cớ đi xa để lén
lút xin chịu phép ngụy đạo
[116] . Nay thấy các vít vồ đã chết hết,
thầy cả ngụy đạo đều bị dẹp láng, vĩnh viễn không có
ái dám đứng ra làm phép giải tội, phép cưới, phép
xức dầu, phép thụ bánh thánh v.v. đến bấy giờ dân tả
đạo mới chịu răm rắp tuân theo phép nước.
[1]Thật là mưu trí!
[2]Nguyên
văn: thái sử. Thời cổ, sử quan thường kiêm việc
chiêm tinh (xem thiên văn để đoán nhân sự).
[3]Jêsu
cấm không cho xem thiên văn chính là vì cớ ấy.
[4]Gọi vua
nước mình là “giặc”, dân tả đạo nước nào cũng ăn nói
như thế cả. [5]Ngày
nay các cố đạo dọa nạt người ta, đại khái cũng nói
như thế. [6]Thông
giáo: đạo thờ chúa Trời của người Jiuđê (Do Thái
giáo). [7]Thuộc
kinh thành Jêrusalem.
[8]Nguyên
thư chép: PhiNùngTô, có lẽ chép nhầm. Đây vẫn là
quan tổng trấn Philatô đã nói ở cuối Q. III.
[9]Nguyên
thư phiên LiTê. Theo Sử ký Hội Thánh thì sự việc nói
ở đầu quyển này thuộc về đời vua Hêrôtê Agrippa.
[10]Ngày
nay người Tây Dương sợ phép này nhất.
[11]Không
rõ tên là gì. [12]Nguyên
văn: Bí ý thư = thư trình bày các ý kín.
[13]Đúng
thế! [14]Chỉ
Jêsu. [15]Trấn
ấy gần kinh đô. (Nguyên thư phiên: KhuDiA trấn. ND)
[16]Nguyên
thư: kháng ngôn sát tha tử, tha thiên hạ vị hà? Chữ
“tha” sau có lẽ phải hiểu theo nghĩa chữ nôm: tha =
tha thứ, dung tha, thì câu văn mới thông nghĩa.
[17]Từ
đây trở xuống là những việc làm theo lời ĐôSaNùng
mật tâu với vua. Sử ký của nước Jiuđê nói việc này
xảy ra khi vua EsoDi (Hêrôtê) còn tại vị, như thế so
sánh này với sử ký nước Jiuđê có chỗ không giống
nhau. [18]Nguyên
thư: Kim sát viết vô lục nhân (Nay giết 6 tên vít
vồ). Bạn đọc theo dõi đến đây thì biết rằng 12 môn
đồ lớp đầu của Jêsu chỉ có Phêrô được chọn làm vít
vồ (tổng giám mục). Đây nói “6 vít vồ” thì không
chính xác, xin tạm sửa là 6 giám mục.
[19]Nguyên
văn: Khai nhất môn phóng hạ. Đây nói đến kiểu làng
thời Trung cổ có hào sâu, cánh cổng mở ra thả qua
hào kiêm làm cầu đi lại, khi đóng thì rút lên. Vì
vậy nói “thả xuống”.
[20]Về
sau người Tây Dương có lệ nộp tiền nhân danh là bắt
đầu từ đó. [21]Xem
đoạn dưới sẽ rõ.
[22]Đó
là làm theo phép của Jêsu.
[23]Bàn
trác, chữ Nôm trong nguyên văn (ghép 1 từ Hán và 1
từ Nôm đồng nghĩa cái bàn). Tiếng địa phương một số
nơi miền Trung ngày nay cũng có người vẫn quen gọi
chiếc bàn dài khổ hẹp là bàn trác. Nguyên thư chú
thích: “Bàn trác có một thanh dọc một thanh ngang,
cũng như hình chữ thập, đóng đinh 4 chân tay để
ngang trên đất”. Chú như vậy chúng tôi cho là có chỗ
lầm ở đoạn trước.
[24]Nay
trong ảnh các thánh tông đồ bên cạnh đều có vẽ các
thứ hình cụ. [25]Đã
nói thể xác do đất vắt nên là vật hèn mọn thì vét
máu về làm gì? [26]Bọn
Tây Dương rất sợ phép này.
[27]Thủ
đoạn của bọn Tây Dương trước hết bảo với người vợ để
vợ ngăn cản chồng. ĐôSaNùng làm theo phép đó, thật
rất diệu! [28]Quyệt
lắm, làm thêm một dịp để nạt gia chủ.
[29]Tức
Italia. [30]Chia
nhau mỗi người một ngả, kể cũng là mưu xảo đấy.
[31]Không
dám tự xưng là cha mẹ, chỉ nói là “hai người chúng
tôi”. Cha mẹ các cố đạo ngày nay cũng xưng hô như
thế. [32]Chính
là cái ý: lúc sống không được làm vua thì sau khi
chết cũng phải được làm thần.
[33]Tả
đạo kiêng số 6 là vì vậy. ĐôSaNùng mua 60 con chó
cũng do cớ ấy. [34]Nguyên
thư phiên là YBiênTa.
[35]Ai
có phép làm cho những thuyền giấy bay lên trời là
cao thủ được tuyển.
[36]Nguyên
văn: thảo binh, nghĩa là binh lính bằng cỏ (rơm) tết
lại. Đây nói về phép phù thủy bện cỏ làm âm binh.
[37]Hai
vị “Thiên Chúa con” tranh nhau phân biệt thật, giả.
Cách ĐôSaNùng trấn an lòng dân rất diệu!
[38]Bẻ
lại tả đạo chỉ bằng một câu. Lời của ĐôSaNùng thật
khoái trá tột diệu!
[39]Nguyên
văn: LâmBô binh, nghĩa là lính âm phủ, cũng có thể
dịch là “âm binh”. Nhưng như thế dễ lẫn với việc
ĐôSaNùng cũng có đội “âm binh” (kết bằng cỏ) do các
thầy phù thủy chỉ huy.
[40]Nguyên
thư chép: Thập đạo sư huy pháp kỳ, lôi pháp cổ …
Theo ý chúng tôi đúng ra phải là: Thập đạo pháp sư
huy pháp ký (cách sau mấy câu sẽ có nói đến 10 pháp
sư). [41]Sáu
phía (lục diện) = đông, tây, nam, bắc, trên trời,
dưới đất. [42]Jêsu
nói chúa Trời có ba ngôi, đến trận đánh này mới hay
chúa Trời lại có bốn ngôi (Ngôi thứ tư do ĐôSaNùng
đóng giả. ND) [43]Nguyên
thư chép: thứ nguyệt (= tháng sau). Theo lối kể
chuyện thông thường các mốc, Thánh thể không xác
định, có lẽ “thứ nhật” (= ngày hôm sau) thì hợp lý
hơn: tiếp tục cuộc giao chiến ngày hôm trước tạm lui
quân. [44]Bọn
họ nói: Thượng hoàng băng hà dân chúng bị nạn dịch
là do nhà vua cấm đạo Jêsu cho nên bị Jêsu trừng
phạt. [45]Nguyên
thư chép: thứ nhật (= ngày hôm sau). Sau khi đã gây
ra nạn dịch, có lẽ phải là “thứ nguyệt” (= tháng
sau) thì hợp lý hơn. Chúng tôi tạm điều chỉnh mấy
chữ (thứ nguyệt, thứ nhật) trong hai câu trên cho dễ
theo dõi. [46]Nguyên
văn: Dương binh = quân dương gian do ĐôSaNùng chỉ
huy, phân biệt với quân âm phủ của Jêsu. Cố nhiên
trong huyền thoại đang kể đây, cái gọi là “quân
dương gian” ấy, như bạn đọc đã biết, lại cũng là một
thứ âm binh do các thầy phù thủy điều khiển.
[47]Hễ
linh thiêng thì người ta sẽ lập đền thờ, cần gì phải
cầu xin? [48]Có ý
nhắc đến việc Jêsu bị quẳng vứt vào đống phân tro.
[49]Tựa
như lời lẽ đàn bà!
[50]Nguyên
chú ở trên đã nhắc đến chuyện kín ấy.
[51]Cốt
để thống nhất ý chí của dân chúng.
[52]Nước
ấy nhiều núi nên có nhiều sơn thần linh thiêng. Lại
thấy Jêsu thường dạy cho các môn đồ cắt yểm các mạch
núi chẳng phải chỉ cốt làm ngu dân mà còn muốn làm
ngu cả thần nữa. Đang tâm của Jêsu thật hiểm độc!
[53]Đời
sau dùng hương đen là do sự tích ấy. Khi trước Jêsu
bảo người ta bỏ việc thắp hương thờ cúng. Nay
ĐôSaNùng lấy tro dùng hương mà bắn, thật là đối chọi
chan chát. Người ta thường đồn nhảm rằng đạo Tây
Dương kiêng dùng hương đen là bởi tích này.
[54]Nguyên
văn: phóng thủ tiễn.
[55]Nguyên
thư phiên là MiênSa.
[56]Jêsu
cấm người ta đi học, ghét những người thông minh tái
trí là cốt đề phòng trước những người như Mensa.
[57]Nguyên
thư chép: Chiếu vua truyền đến làng Nazaret. Chúng
tôi lược đi mấy chữ vì Nazaret là quê quán chứ không
phải nơi Jêsu tử nạn. Địa danh này sẽ thêm vào ở
cách mấy câu sau khi nói quan quân tìm đến nhà ở của
Jêsu. [58]Giá
câu rút và hang mả Jêsu ở trên núi DiÔ (chữ tắt
phiên âm tên núi Calavariô, tức Gôgôtha. ND).
[59]Chỉ
còn lại 2 giá xử tội 2 tên tù cướp không ai nhận.
Ngày nay bọn Tây Dương thuê người thu vét vết tích
kẻ bị hành hình đại loại cũng như thế.
[60]Nay
bọn trong đạo cũng sợ phép này.
[61]Nay
bọn trong đạo cũng sợ phép này.
[62]Nguyên
văn: phụng cấp. Quan hàm chim phượng thuộc hàng đại
thần được mặc áo chầu ở ngực có thêu hình chim
phượng, nguyên thư có chú thích là tương đương bậc
tam phẩm. [63]Nay
bọn trong đạo cũng sợ phép này.
[64]Nguyên
thư chép: sơn linh hỏa thần, đúng ra có lẽ là “đại
linh sơn thần” vì các đoạn sau không thấy nói gì về
hỏa thần. [65]Đúng
là bậc Thượng thượng đẳng tối linh thần.
[66]Phong
tục xứ ấy còn man rợ không biết kiêng kỵ điều gì.
Một đằng thì Jêsu giả danh chúa Trời, bọn vít vồ lại
mượn danh Jêsu. Một bên thì ĐôSaNùng phỏng theo cách
của Jêsu, vua LiTê (Agrippa) lại phỏng theo cách của
ĐôSaNùng. Thật là phép diệu để uy hiếp yêu quái,
trấn an lòng dân. Trong trận chiến lần trước thấy
Thiên Chúa có bốn ngôi, đến trận này lại hóa ra 5
ngôi. Ha ha! [67]Kỳ
binh = đội quân có phép biến hiện kỳ lạ; ở đây chỉ
âm binh (bện bằng cỏ) của các tay phù thủy.
[68]Nguyên
thư chép: Nùng khán kiến giá bưu quân độ phủ vĩ… Thủ
vĩ = đầu đuôi, trước sau: đặt trong câu này khiến
cho cả câu bị phá vỡ, không hiểu được. Chúng tôi xác
định ở vị trí chữ thủ đúng ra là chữ điểu. Huyền
thoại Thiên Chúa giáo thường hay nói đến các thiên
thần đầu người mình chim, như Thiên sứ Gabrien, Chúa
Thánh Thần hiện xuống với hình chim bồ câu v.v. Đoạn
văn trên mô tả đội quân hộ vệ của Jêsu là quân thiên
thần đầu người đuôi chim (điểu vĩ). Ý đó phù hợp với
các câu tiếp theo và cả với nguyên chú. Chữ điểu mà
chép nhầm ra chữ thủ là do thói quen (thủ vĩ là từ
thường dùng trong văn kể chuyện).
[69]ĐôSaNùng
vốn biết tả đạo gọi đội quân ấy là “quân thiên
thần”. [70]Chim
vốn sợ chó. [71]Đoán
đúng ý kín của Jêsu, ĐôSaNùng quả là viên tướng hiểu
thấu lý lẽ. [72]Ý
chừng cũng chạy đằng trời?
[73]Nay
thấy bọn chúng bắt bỏ việc thờ thần, cắt yểm sơn
mạch chính là để mưu toan thi hành kế ấy (Lời chú
này ở vị trí nói trên xem ra không hợp ý. ND).
[74]Tức
Tống Lý Tông (Triệu Vân) vua thứ 5 nhà Nam Tống
(1225-1265). [75]Núi
này phải phía đông kinh thành (Tên phiên âm trong
nguyên thư. ND).
[76]Âm
dương binh: Theo tác giả thì bên quân của ĐôSaNùng
bao gồm cả nhân binh (người), thần binh (quân của cá
sơn thần + nhân thần) và âm binh (ở đây cũng gọi là
kỳ binh, quân của các pháp sư, bện bằng rơm), vì vậy
ở câu trên nguyên thư gọi chung là “âm dương binh”.
[77]Nguyên
thư chép: “vô số thần hội vân xuất…” không có nghĩa.
Chúng tôi căn cứ vào chi tiết đã trần thuật ở các
đoạn trên mà xác định đây là chữ cái (= cái lọng;
thần cái = lọng thần). Hai chữ hội và cái viết chân
thì khác nhau nhưng viết thảo thì có dáng chữ gần
giống nhau. Có lẽ vì vậy người chép nguyên thư đã
đọc sai và chép nhầm (xem mẫu đối chiếu chữ cái ở tờ
57b, dòng 2 trong nguyên thư).
[78]Đức
chúa Con ở trên trời có 6 tướng vít vồ, Đức chúa Con
dưới đất cũng có 6 tướng vít vồ. Đây lại là một trận
giao chiến hết sức kỳ lạ nữa.
[79]Lấy
sấm chọi với chớp, thật là kỳ diệu.
[80]Nguyên
văn: toàn vô cố khí (hoàn toàn không còn khí sắc
cũ). [81]Nguyên
văn: Sa sơn, có lẽ không phải là tên riêng, ý tác
giả muốn nói đến những núi cát ở sa mạc Xinai?
[82]Nguyên
văn: Ải sơn, có lẽ cũng không phải là tên riêng mà
chỉ là dãy núi trong đó có cửa ải?
[83]Jêsu
thường bảo các môn đồ: Nếu không trấn áp linh hồn
bọn chúng thì chúng sẽ giết hết các ngươi. Nay xem
Jêsu bị thua bại bởi mưu trí của vị nữ thần, mới hay
rằng Jêsu biết lo xa tính toán.
[84]Nguyên
văn: Thanh sồ. Sồ là con phượng hoàng còn non.
Nguyên thư viết chữ Sồ với bộ mã (= người chăn ngựa
hoặc cưỡi ngựa) có lẽ là chép nhầm vì hai chữ này
đồng âm và có nửa chữ giống nhau.
[85]Nguyên
thư chép: “Tề phát chi gian, triều chi thần binh bảo
cư kỳ bản”, ngờ là bị sai thiếu vài chữ.
[86]Ngày
nay có bức tranh Jêsu bị đóng đanh trên giá câu rút,
bên dưới có đống sọ người, một là để mô tả sự tích
núi Sọ người, hai là để ghi công những quỷ binh chết
cũng như thế, nếu dốc lòng theo đạo thì sẽ được lên
thiên đường. Bọn Tây Dương dẫu một chút việc nhỏ
cũng có ngụ ý đe nạt người, một việc có ba, bốn ý
nghĩa, không thể xem lướt qua mà hiểu ngay được. Có
điều là vẽ hình xương sọ để ghi công bọn quỷ binh
thì ngày nay họn họ giấu kín không nói vì sợ lộ
chuyện quỷ binh của Jêsu thua to trong trận ấy.
[87]Nước
Jiuđê gọi những kẻ theo tả đạo là muội dân (dân
ngu). [88]Nguyên
thư chép: “Gia Tô cấm nhân hô tả đạo vi đại chính…”
câu này dường như trái nghĩa, có lẽ do chép sai tân
ngữ của động từ “hô”. Chúng tôi cho rằng chữ tả (tả
đạo) trong câu này là chép nhầm do thói quen liên
tưởng: hợp nghĩa có lẽ là ngộ đạo (= đạo ta) hoặc
cựu đạo (= đạo cũ), đều chỉ Do Thái giáo.
[89]Xem
ngày nay ở nước ta, những nơi xa cách quan quân, dân
tả đạo đón rước các vít vồ quả nhiên đúng như thế
chứ chẳng phải là nói ngoa.
[90]Vua
nước Jiuđê đã xem sách Bí lục rồi, cho nên chỉ nói
gọn một câu. [91]Tức
là theo đúng phép của Jêsu: người trước chết, người
sau tiếp. [92]Nguyên
văn trước mỗi điều chỉ ghi một chữ “nhất” (tác dụng
cũng như một gạch ngang đầu dòng), chúng tôi đánh số
cho tiện theo dõi.
[93]Chọn
những người trẻ tuổi làm thầy tu cũng là một ý kín.
[94]Hai
làng này vốn không theo tả đạo. Đến khi làng làm lễ
tế thần, hai gã kia không mang lễ vật đến lạy tế.
Lại khi trong làng có nhà hào mục làm lễ giỗ tổ, hai
gã kia không biết phận mình là khách trọ ở nhờ mà cứ
đến dự. [95]Làm
theo lời Jêsu dạy: “Trên dưới một lòng, gặp nguy
hiểm cũng không chối đạo”. Bọn cha cố ngày nay dù bị
tra tấn vẫn một mực như vậy.
[96]Gọi
vua là nó, thật là láo xược hết mức. Bọn thầy tu tả
đạo ngày nay cũng vẫn thế, thật đúng như lời nói của
ĐôSaNùng. [97]Chỉ
nước Tây Dương (Italia) và nước Jiuđê.
[98]Ngày
nay tả đạo thường hay nói người cùng đạo như con một
nhà, là bắt đầu từ đó. Môn đồ tả đạo kiên trì dai
dẳng như thế, đâu phải chỉ 20 năm mà có thể cấm hẳn
được! [99]Nguyên
thư chép: phụ thủ, với chữ phụ = thêm gần, thân cận,
v.v. chắc là chép nhầm chữ phù thủ (phù = vỗ, đập).
[100]Chỉ
Jêsu. [101]Nhắc
lại câu nói của Jêsu đã dẫn ở Q. IV.
[102]Phàm
tả đạo các chức vít vồ, giám mục đều được cấp bằng
sắc, chữ viết hàng ngang, rìa chữ uốn lượn như quả
bầu. [103]Đến
nay tả đạo Tây Dương vẫn còn sợ phép này.
[104]Nguyên
văn: sinh thần, nghĩa là được phong làm phúc thần
khi đương sự còn sống.
[105]Trong
đoạn văn trên đây có lẽ nguyên thư chép sót một nét
làm thiếu 10 người (20 + 22 = 42)?
[106]Nguyên
thư phiên NiCùLao (Nicola), ChiBiênTô (Jepensô),
TêVọng (Tinmon).
[107]Bọn
thầy tu tả đạo ngày nay khi bị bắt cũng nói như thế,
là gốc ở đây.
[108]Tả
đạo mỗi khi bị cấm thường lập người dự bị để thay
chức thầy cả cũng là gốc ở đây.
[109]Chỉ
nói “cùng được thiêng liêng” (đồng tính) chứ không
nói lên thiên đường, như thế tức là Jêsu cũng tự
biết không có chuyện ấy.
[110]Dân
tả đạo đàn ông đàn bà mỗi người đều được mang một
tên thánh là bắt đầu từ đó.
[111]Câu
này trong nguyên thư chép chữ nhỏ như lời bình chú.
Chúng tôi nhận thấy để liền với chính văn thì hợp lý
hơn. [112]Nguyên
văn: phái tích.
[113]Nguyên
văn: đoan tiên.
[114]Nguyên
văn: ấp ti đề đặng tấn vấn. Việc soát khách trọ
thường làm vào ban đêm, nhà chức trách địa phương
xách đèn đến từng nhà xét hỏi.
[115]Nay
tả đạo cũng rất sợ phép này. Sở dĩ phép ấy cấm đến
cả đàn bà con gái để phá phép tu đồng trinh của tả
đạo. [116]Tức
là các phép đạo sẽ kể ở đoạn văn sau.
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
Bản điện tử do talawas thực hiện, Sách Hiếm cho thêm hình ảnh đăng lại ngày 6/29/07.
|