Bấm vào số dưới đây để chọn bài đọc
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu
Quyển
IV
Lên núi
cao,
thể
phách
[1] Jêsu truyền bí pháp
Hoá chim
câu
[2] , thể phách Jêsu bịp loè người
Rồi
đó,
Jêsu
khoác
mây
lên
ngồi
trên
ngọn
núi
cao,
môn
đồ
sụp
xuống
vái
lạy,
trong
đó
có
Jiuse
là
cha
đẻ
của
Jêsu
[3] . Jêsu nghiễm nhiên ngồi nhận
lễ
rồi
chỉ
Jiuse
mà
bảo
rằng:
“Thưa
bố
già,
ta
vốn
chẳng
phải
là
con
đẻ
của
bố,
có
đúng
vậy
không?”
Jiuse
đáp:
“Thưa
vâng!”
rồi
đứng
dậy.
Jêsu
bảo
cứ
ngồi,
Jiuse
lại
ngồi
xuống.
Rồi
Jêsu
hỏi
chung
các
môn
đồ:
“Ta
thường
ngày
nói
về
việc
linh
hồn
người
được
lên
thiên
đường
[4] . Nay ta về đây, các ngươi đã
tin
điều
đó
là
đúng
chưa?”
Các
môn
đồ
dạ
rân
vang
núi:
“Thư
thầy
tin
ạ!”
Jêsu
bảo
bọn
họ
ngồi
thành
hai
hàng
rồi
nói:
“Nay
ta
bảo
các
ngươi,
đời
người
ta
có
sống
thì
có
chết.
Thọ
trăm
tuổi
rồi
chết
cũng
như
mới
ba
mươi
ba
tuổi
mà
chết,
cũng
đều
là
không
tránh
khỏi
một
lần
chết.
Vả
lại
cuộc
sống
thì
có
hạn
mà
cái
chết
thì
vô
cùng.
Dẫu
lúc
sống
giàu
sang
thế
nào,
chết
là
trở
thành
hư
không
cả.
Chính
vì
thế
ta
mới
bảo
rằng:
thế
gian
nay
chỉ
là
nơi
vui
giả
[5] . Chi bằng đừng tiếc một chút
xác
thịt
một
đời
để
mà
ngưng
tụ
cho
được
anh
linh
muôn
nghìn
đời.
Cho
nên,
phải
bỏ
ngoài
tai
mọi
dư
luận,
chẳng
kể
thiên
hạ
khen
chê
thế
nào,
tự
mình
phải
vững
chí
như
sắt
đá.
Làm
được
như
vậy
hồn
thiêng
sau
khi
chết
chẳng
có
vị
thần
nào
sánh
bằng”.
Các
môn
đồ
đều
nói:
“Từ
rày
xin
lĩnh
thụ
những
lời
giáo
huấn
tôn
nghiêm
của
thầy,
trước
sau
không
dám
thay
lòng
đổi
dạ”.
Jêsu
nói
tiếp:
“Tất
cả
những
phép
thuật
của
ta
khi
còn
sống
đều
có
những
ý
kín
rất
sâu
xa,
ngày
trước
ta
chưa
nói
với
các
ngươi
là
cốt
để
đợi
đến
hôm
nay
nói
ra
thì
các
ngươi
mới
tin
là
đúng.
Dân
chúng
ngu
khờ
cũng
sẽ
tin
vào
phép
thuật
của
các
ngươi.
Nhưng
vì
ta
là
thiên
thần
nên
khi
còn
sống
ta
có
thể
bay
lên
mây
rảy
nước
làm
mưa,
làm
một
ít
phép
kỳ
thuốc
lạ
khiến
cho
người
ta
phải
kinh
sợ,
trong
khi
đó
âm
thầm
thực
hiện
các
lễ
phép
của
ta.
Nay
bọn
các
ngươi
không
có
phép
thuật
thần
thông
như
ta
mà
chỉ
dựa
vào
thế
lực
thì
cũng
có
thể
thuyết
phục
người
ta
được,
nhưng
phải
tuân
theo
các
phép
của
ta.
Tất
cả
những
phép
thuật
khi
ta
còn
sống
đều
do
ta
làm
ra
cả,
sau
khi
ta
chết
thì
chẳng
có
vị
thánh
thần
nào
hơn
ta
nữa.
Không
những
thế,
những
kẻ
làm
vua
thiên
hạ
muốn
kéo
dài
cơ
nghiệp
muôn
vạn
năm,
muốn
mở
rộng
biên
thùy
bờ
cõi
cũng
đều
phải
tôn
thờ
ta
làm
thầy.
Chẳng
có
sự
gì
ta
không
làm
được,
huống
chi
làm
sống
lại
một
tấm
thân
nhỏ
bé
hay
sao?”.
Rồi
đó
Jêsu
điểm
lại
các
phép
thuật
đã
làm
khi
còn
sống,
lần
lượt
nêu
lên
mà
dạy
cho
các
môn
đồ
các
điều
bí
quyết.
Các
môn
đồ
đều
chắp
tay
lắng
nghe.
Bỗng
lúc
ấy
trên
đỉnh
núi
sáng
bừng
một
đám
mây
năm
sắc
rực
rỡ.
Trong
nháy
mắt,
ở
chỗ
thầy
trò
Jêsu
đang
ngồi
cũng
hiện
lên
vô
số
lâu
đài
màn
trướng.
Bà
Maria
vừa
kinh
sợ
vừa
vui
mừng,
vội
sụp
mình
lạy
rằng:
“Kính
lạy
đức
chúa
Con!”
Jêsu
chậm
rãi
nói:
“Về
phần
xác,
ta
lấy
làm
thương
tiếc
cửa
nhà
bà.
Nhưng
về
phần
hồn
thì
ta
là
con
chúa
Trời,
một
sang
một
hèn,
chẳng
cần
phải
nhắc
lại
làm
gì
nữa”
[6] . Nói đoạn nhìn sang ngôi lầu
phía
tây,
chỉ
tay
bảo
bà
Maria
lên
ngồi
ở
đấy.
Ngày
nay
các
thầy
tu
khi
được
thăng
lên
chức
thầy
cả
đều
phỏng
theo
nghi
lễ
này.
Jêsu
ngồi
sập
cao
trên
lầu
phía
bắc
[7] bất chợt bước xuống đi tới
gần
hàng
ghế
các
môn
đồ
đang
ngồi.
Mọi
người
đều
đứng
dậy.
Jêsu
nói:
“Ngồi
xuống!
Ngồi
xuống!
Các
con
cứ
ngồi
yên”.
Các
môn
đồ
lại
ngồi
xuống
ghế.
Jêsu
ôn
tồn
nói:
“Nay
ta
bảo
các
ngươi,
các
ngươi
hãy
ghi
tạc
vào
lòng:
phép
thuật
tâm
đắc
nhất
của
ta
trước
hết
là ở
phép
rảy
nước
thánh.
Thực
ra
phép
nước
thánh
cũng
không
có
gì
huyền
diệu
sâu
sắc
lắm
đâu.
Sở
dĩ
phải
làm
phép
ấy
trước
hết
là
để
mượn
dịp
mà
dụ
dỗ
cho
người
ta
tin
rằng
nước
ấy
có
thể
giải
trừ
được
mọi
tai
ương
chướng
họa.
Có
tin
như
thế,
lòng
người
ta
mới
ổn
định.
Lòng
yên
định
thì
chí
khí
mạnh.
Chí
khí
đã
vững
mạnh
thì
dầu
có
vào
chỗ
nước
sôi
lửa
bỏng
cũng
không
việc
gì
không
xong.
Đã
được
việc
thì
người
ta
lại
càng
thêm
tin
tưởng.
Cho
nên
ta
mới
nói
rằng:
dẫu
là
ma
quỷ,
hỏa
hoạn,
chỉ
cần
rảy
nước
phép
là
không
có
sự
gì
không
qua
khỏi.
Bí
quyết
chỉ
ở
một
điều
ấy
mà
thôi”.
Môn
đồ
hỏi:
“Nếu
như
thế
thì
cần
gì
phải
rảy
cả
lên
mâm
thờ?”
Jêsu
đáp:
“Phải
rảy
cả
mâm
thờ
thì
người
ta
càng
tin
hơn”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Thầy
dạy
tế
trời
không
dùng
thịt,
là
có ý
kín
gì?”
Jêsu
nói:
“Tế
trời,
tế
thần,
tế
người
chết,
cái
lý
cũng
như
nhau
cả.
Nếu
đã
không
thì
cùng
không
cả.
Chính
là
muốn
bỏ
việc
thờ
cúng
người
chết,
cho
nên
trước
hết
phải
bỏ
việc
thờ
cúng
quỷ
thần.
Muốn
bỏ
việc
thờ
cúng
quỷ
thần
thì
trước
hết
phải
bỏ
việc
tế
trời.
Bởi
vì,
không
tế
trời
thì
trời
không
phù
hộ
nữa,
không
thờ
cúng
quỷ
thần
thì
quỷ
thần
không
thiêng
nữa.
Không
thờ
cúng
người
chết,
thì
người
chết
không
thể
tác
quái
được
nữa.
Đó
là ý
kín
của
ta
vậy”.
Môn
đồ
hỏi:
“Chúng
con
trộm
nghĩ:
quỷ
thần
cũng
như
người
chết,
nếu
không
thờ
cúng
thì
càng
thêm
nhiễu
hại.
Người
ta
vẫn
bị
nhiễu
hại,
thì
họ
biết
là
thầy
trò
ta
lòe
bịp
lừa
người.
Như
thế
biết
làm
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Phải
vin
vào
chúa
Trời
mà
giải
thích,
rồi
rảy
nước
phép
để
làm
cho
có
vẻ
thần
bí,
khiến
cho
dân
chúng
kiên
lòng
hướng
theo
đạo
ta,
dẫu
mười
năm
cũng
như
một
ngày,
như
thế
thì
quỷ
thần
và
người
chết
còn
có
lý
nào
mà
sinh
yêu
tác
quái
được
nữa?
Vin
vào
chúa
Trời
mà
giải
thích
tức
là
cái
thuyết
Lusaphê
đấy”.
Môn
đồ
lại
hỏi
về ý
nghĩa
của
phép
chôn
sâu
không
cải
táng.
Jêsu
nói:
“Chôn
sâu,
không
cải
táng
và
không
khóc
người
chết,
cũng
đều
cùng
một
ý
nghĩa
như
nhau.
Nguyên
là
người
chết
rồi
thì
cái
xác
chôn
dưới
mồ
thường
hay
hiện
lên
làm
yêu
quái.
Nay
bảo
người
ta
chôn
sâu
cho
chìm
lấp
hẳn
đi
[8] , không cải táng cho xác nát
hẳn,
thì
hồn
người
chết
dẫu
muốn
hiện
lên
làm
yêu
quái
cũng
không
được.
Lại
nữa:
sau
khi
người
ta
chết,
hồn
vẫn
còn
phảng
phất
quanh
đấy,
nghe
tiếng
khóc
thì
thường
trở
về.
Nay
không
khóc,
khiến
cho
hồn
lìa
hẳn
cái
xác
thì
làm
sao
mà
quay
về
được
nữa?
Vả
lại
ý ta
bảo
bỏ
tục
để
tang
là
cốt
để
cho
người
sống
quên
hẳn
người
chết
đi,
thì
cái
tinh
thần
của
đôi
bên
không
thể
cảm
thông
được
với
nhau
nữa.
Người
chết
không
còn
linh
thiêng
sinh
yêu
tác
quái
được
nữa
thì
dân
chúng
càng
tin
vào
đạo
ta
là
linh
thiêng.
Đó
là
cái
ý
kín
của
ta
vậy.
Còn
về
những
trẻ
con
chết
từ
khi
là
bào
thai
trong
bụng
mẹ
hoặc
là
chết
yểu
sau
khi
sinh
cũng
thường
hay
hiện
lên
làm
yêu
quái,
thì
nên
phỉnh
họ
rằng
những
trẻ
ấy
lên
thiên
đường
sẽ
cầu
nguyện
cho
cha
mẹ,
như
thế
là
họ
vui
ngay.
Ta
lại
lừa
họ
rằng
xác
chết
của
những
trẻ
ấy
là
“thánh
thi”
(thi
thể
của
vị
thánh)
thì
dân
làng
sẽ
đi
đưa
đám
đông
[9] , lại thêm mai táng chôn sâu
nữa,
như
vậy
lũ
yêu
ranh
dẫu
còn
oan
khi
cũng
phải
tan
rời.
“Việc
bỏ
tục
xem
đất
đặt
mồ
thì
thế
này:
mạch
đất
là
nơi
chung
tụ
anh
linh,
chọn
được
huyệt
mộ ở
những
mạch
đất
tốt
thì
con
cháu
phần
nhiều
là
thông
minh
tài
giỏi.
Nay
ta
phỉnh
dụ
họ
bỏ
tục
xem
đất
đặt
mồ
khiến
cho
con
cháu
họ
ngu
đần
dốt
nát
thì
chúng
mới
nghe
theo
những
lời
thuyết
giáo
của
ta.
Việc
chọn
hướng
làm
nhà
cũng
như
thế:
chọn
được
hướng
tốt
thì
con
cháu
về
sau
học
hành
thông
minh
có
kiến
thức
cao.
Ta
khuyên
họ
bỏ
tục
ấy
cũng
chính
là
do
cái
ý đã
nói.
Cho
nên
ta
đã
làm
những
việc
ấy
cho
đến
năm
ta
ba
mươi
tuổi,
thấy
nét
mặt
dân
chúng
đã
trở
nên
ngu
khờ,
khi
ấy
ta
mới
dám
tự
xưng
là
con
chúa
Trời
[10] , chẳng ai là kẻ không tin
lời
ta.
Các
người
hễ
dụ
dỗ
được
làng
nào
là
cả
làng
đều
theo
đạo
ta
thì
bao
nhiêu
những
nơi
sơn
xuyên
vượng
khí
khi
các
ngươi
phải
thác
cớ
gì
đó
mà
sai
người
ra
đào
hoặc
lấp
đi
cho
dứt.
Như
vậy,
về
thần
thì
bách
thần
đều
bị
diệt
hết;
về
người
thì
cả
làng,
đều
trở
nên
ngu
khờ,
chỉ
còn
biết
theo
đạo
ta
mà
thôi.
Những
phép
ấy
cứ
từ
từ
đem
thi
hành
trong
một
làng
một
huyện,
rồi
lan
dần
ra
khắp
nước
thì
cả
nước
đều
theo
đạo
ta.
Đối
với
những
nước
khác
mà
cả
nước
đã
theo
đạo
ta
thì
cũng
dùng
phép
ấy
mà
cắt
yểm
mạch
tốt
ở
các
nơi
sơn
xuyên
đại
địa,
như
vậy
thì
những
nước
ấy
cũng
trở
thành
ngu
dốt,
phải
chịu
tôn
ta
làm
thầy,
đó
chính
là
lúc
có
thể
thu
gồm
một
mối
những
nước
ấy
vào
với
nước
ta
vậy.
Đó
chính
là ý
kín
của
ta.
“Về
ý
kín
của
phép
rửa
tội,
trước
hết
phải
nói
với
dân
chúng
về
tội
tổ
tông
truyền
kiếp.
Dân
họ
tin
chuyện
ấy
rồi
thì
mới
làm
phép
rửa
tội
được.
Nguyên
cái
đỉnh
thóp
là
chỗ
thông
khí
của
trẻ
sơ
sinh,
rảy
nước
thánh
xoa
vào
chỗ
đó
là
để
cho
nhụt
khí
ấy
đi,
tiếp
đó
đọc
to
câu:
“Tả
rửa
tội
cho
ngươi
…”
là
cốt
để
trấn
áp
cõi
lòng
của
nó.
Còn
lời
nhẩm
trong
miệng
thì
niệm
rằng:
“Hồn
ngươi
không
khôn,
tính
ngươi
không
thiêng”
[11] , nhẩm như thế ba lần, thế
là
bao
nhiêu
trí
tuệ
thông
minh
của
đứa
trẻ
đều
tiêu
tan
cả”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Đã
thế
thì
như
những
đứa
trẻ
tầm
thường
hèn
mọn
cần
gì
phải
rửa?”
Jêsu
đáp:
“Đã
rửa
thì
phải
rửa
cả!
Người
ta
rối
mắt
loạn
tâm
thì
càng
không
nghi
ngờ.
Còn
việc
đứa
trẻ
ấy
sống
lâu
hay
chết
yểu
thì
lời
niệm
nhẩm
trấn
áp
thông
minh
cũng
chẳng
nguy
hại
gì.
Ấy
là
điều
bí
quyết
huyền
diệu
của
ta
vậy”
[12] .
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Đối
với
những
người
bản
tính
cứng
cỏi,
trước
sau
vẫn
sáng
suốt
thì
làm
thế
nào?”
Jêsu
nói:
“Đã
có
phép
Cônfirmaxông:
lấy
chiếc
đinh
sắt
mài
ra
lấy
bột,
hòa
với
dầu
và
chất
bạc
hà.
Đinh
sắt
có
tính
đâm
xuyên,
bạc
hà
có
tính
làm
tan
khí,
dầu
nước
thì
khó
rửa.
Ba
thứ
ấy
sắc
thành
cao
để
bôi
lên
đỉnh
đầu
cho
người
chịu
lễ.
Rồi
đó,
tay
cầm
kiến
chỉ
trỏ,
miệng
khấn
nhẩm
rằng:
“Ta
đóng
đinh
lên
đầu
ngươi,
bản
tính
của
ngươi
sẽ
phải
tiêu
diệt.
Đầu
người
ta
đóng
đinh
lên,
trí
óc
ngươi
sẽ
hết
sáng
suốt”.
Như
thế,
dầu
bạc
hà
đã
dẫn
chất
dính
đâm
xuyên
vào
đầu
dân
đạo.
Ta
lại
nhẹ
tay
xoa
mặt
người
ấy,
tưởng
như
chuyện
đùa
thôi,
nhưng
kỳ
thực
là
cốt
để
cho
chất
đinh
sắt
tan
ra.
Khấn
niệm
làm
phép
xong
xuôi,
rồi
lấy
khăn
chùi
sạch
cho
hết
mùi
vị,
không
cho
ai
biết.
Sau
khi
đã
làm
như
thế,
hỏi
còn
khí
chất
thông
minh
nào
không
bị
tiêu
diệt?”
Môn
đồ
hỏi:
“Phép
ấy
phải
từ
10
tuổi
trở
lên
mới
làm
được
chăng?”
Jêsu
nói:
“Không
câu
nệ
gì,
sáu,
bảy
hay
mười
tuổi
cũng
có
thể
làm
được.
Đại
khái
một
đời
người
sinh
ra
ắt
phải
chịu
một
lần
chịu
phép
đóng
đinh
niệm
chú,
không
được
để
sót
người
nào.
Thường
nên
nhắc
nhở
dân
chúng
rằng:
Bất
cứ
người
già
hay
trẻ
con
mà
chưa
kịp
phép
Cônfirmaxông
thì
nay
nên
đến
xin
chịu
lễ.
Họ
đã
tin
ta,
tất
sẽ
dắt
díu
nhau
kéo
đến
ùn
ùn,
đều
được
ta
làm
phép
đóng
đinh
cho
hết
thảy.
Đấy
là ý
kín
của
phép
Cônfirmaxông”.
Môn
đồ
hỏi:
“Tại
sao
lại
nói
phép
này
trong
đời
chỉ
làm
một
lần,
nếu
ai
nhầm
lẫn
làm
lại
một
lần
thứ
hai
thì
kẻ
ấy
sẽ
phải
đày
xuống
địa
ngục?”
Jêsu
nói:
“Phép
này
rất
thiêng.
Nếu
làm
lần
thứ
hai
thì
kẻ
yếu
bóng
vía
ắt
phải
chết,
cho
nên
ta
phải
dọa
như
thế”.
Môn
đồ
nói:
“Nếu
thế
thì
phép
rửa
tội
và
phép
Cônfirmaxông
ý
nghĩa
cũng
như
nhau,
tuy
có
phép
trước,
phép
sau,
không
sợ
trùng
lặp,
nhưng
cùng
làm
không
có
gì
trái
ngược”.
Jêsu
giơ
ngón
tay
chỉ
lên
môi
mà
đáp:
“Chính
thế
đấy!”
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Nếu
làm
phép
Cônfirmaxông
rồi
mà
đầu
óc
người
ta
vẫn
sáng
suốt
thì
làm
thế
nào?”
Jêsu
nói:
“Biết
làm
thế
nào
nữa!
Không
đè
bẹp
được
thì
họ
còn
sống
thì
phải
đè
bẹp
khi
họ
đã
chết!”
Mặc
dù
ngạc
nhiên
hỏi
lại:
“Thầy
dạy
thế
nghĩa
là
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Ấy
tức
là
nói
phải
dùng
các
phép
xức
dầu
cho
người
ốm,
và
làm
lễ
Quy
lăng,
Điện
táng
cho
người
chết.
Người
ốm
sắp
chết
ắt
phải
bảo
họ
xưng
tội,
đến
lúc
hấp
hối
thì
phải
làm
phép
để
thu
linh
hồn.
Linh
hồn
đã
bị
thu
thì
không
hiện
lên
được
nữa.
Cho
nên
phải
dụ
dỗ,
bảo
họ
hối
lỗi
thì
được
lên
thiên
đường.
Nếu
họ
chịu
hối
lỗi
tức
là
họ
có
lòng
lành,
lòng
họ
lành
thì
không
có
dũng
cảm
nhuệ
khí
[13] , không có dũng cảm nhuệ
khí
thì
làm
sao
còn
biến
hóa
được
nữa?
Ấy
là ý
kín
thứ
nhất
vậy”.
“Rồi
đó
các
ngươi
lại
đem
bánh
thánh
dâng
lên
trước
bàn
thờ
ta,
hai
tay
cầm
kiếm
vung
múa
làm
phép,
mím
miệng
niệm
nhẩm
khẽ
đọc
mấy
chục
lời
niệm
nhẩm:
“Cầu
chúa
Jêsu
hiện
thân
vào
những
miếng
bánh
này,
bánh
vào
lòng
dạ,
tâm
hồn
kẻ
kia
phải
u
tối,
đến
chết
là
hết
linh
thiêng”.
Các
ngươi
cứ
ghé
sát
mặt
kẻ
hấp
hối
mà
niệm,
phả
nhiều
hơi
thở
cho
da
mặt
kẻ
ấy
ẩm
ướt.
Lễ
xong,
các
ngươi
lại
cầm
kiếm
liên
tiếp
chỉ
trỏ
làm
dấu
chữ
thập
để
áp
đảo.
Trong
một
chiếc
bánh
có
linh
hồn
của
ta,
hơi
thở
của
các
ngươi
cùng
là
lời
niệm
chú
bắt
quyết
để
ràng
buộc.
Cả
ba
thứ
ấy
nuốt
vào
lòng
dạ
thì
hồn
khí
của
kẻ
kia
phải
suy
nhược,
làm
sao
cho
khỏi
không
tan?
Ấy
là ý
kín
thứ
hai
vậy”.
“Các
ngươi
lại
còn
đọc
sách
an
ủi
[14] khiến cho người hấp hối cảm
thấy
thanh
thản
trong
lòng.
Trong
lòng
thanh
thản
thì
khí
chất
mềm
yếu.
Khí
chất
mềm
yếu
thì
linh
hồn
không
thiêng.
Ấy
là ý
kín
thứ
ba
vậy”.
“Đến
khi
làm
phép
xức
dầu,
các
ngươi
tay
trái
bưng
bát
dầu
[15] , tay phải quệt dầu bôi lên
thóp
và
đỉnh
đầu,
vừa
bôi
vừa
nhẩm
niệm:
“Chiếc
đinh
thứ
nhất
đóng
vào
thóp
ngươi,
sau
khi
chết
hồn
ngươi
phải
lang
thang
phiêu
giạt”.
Đọc
như
thế
ba
lần,
sau
mỗi
lần
lại
vung
tay
chỉ
trỏ
làm
phép.
Tiếp
đến
bôi
dầu
ở
tay
trái,
làm
phép
như
trước
mà
nhẩm
niệm
rằng:
“Chiếc
đinh
thứ
hai
là
đóng
vào
tay
trái
ngươi.
Tay
trái
ngươi
gãy
khuỵu,
không
làm
hại
được
ai”.
Lại
xức
dầu
cho
tay
phải,
nhẩm
niệm
rằng:
“Chiếc
đinh
thứ
ba
đóng
vào
tay
phải
ngươi.
Tay
phải
ngươi
gãy
khuỵu,
không
làm
hại
được
ai”.
Tiếp
tục
xức
dầu
cho
chân
phải,
nhẩm
niệm:
“Chiếc
đinh
thứ
tư
đóng
vào
chân
phải
ngươi.
Chân
phải
ngươi
gãy
què,
không
thể
gượng
dậy
sinh
yêu
được
nữa”,
cách
vung
kiếm
làm
phép
như
cũ.
Lại
xức
dầu
cho
chân
trái,
nhẩm
niệm:
“Chiếc
đinh
thứ
năm
đóng
vào
chân
trái
ngươi,
chân
trái
ngươi
bị
liệt,
xuống
đất
không
thiêng”.
Cách
thức
vung
kiêm
làm
phép
như
trên.
Ấy
là
điều
kín
thứ
tư”.
“Phàm
những
người
không
có
dũng
khí
thì
phải
khiếp
sợ,
bị
xua
đuổi
hắt
hủi
thì
hồn
phải
tiêu
tan,
khí
chất
yếu
đuối
thì
phải
suy
tàn,
bị
đóng
đanh
làm
phép
thì
phải
què
liệt
hẳn.
Làm
đủ
cả
bốn
phép
ấy
lại
thêm
phép
chôn
sâu
nữa,
thử
hỏi
âm
hồn
của
kẻ
kia
có
còn
linh
thiêng
được
chăng?”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Lúc
khâm
liệm
người
chết,
thầy
phải
đến
làm
lễ
tận
nhà,
vây
màn
che
trướng
bốn
bề,
ý
kín
của
việc
ấy
là
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Khi
người
ta
mới
chết,
khí
thiêng
bay
đi,
ta
sợ
rằng
bấy
nhiêu
phép
thuật
cũng
chưa
đủ
áp
đảo
nên
phải
đích
thân
đến
tận
nơi.
Sau
khi
bảo
mọi
người
lui
hết
ra
ngoài,
ta
phỉnh
cho
con
cháu
người
chết
quỳ
lạy
mà
cầu
khấn,
một
mình
ta
vào
trong
màn
kín
đi
vòng
xung
quanh
tử
thi
ba
vòng,
vung
tay
làm
dấu
chữ
thập
và
niệm
nhẩm
để
cho
hồn
diệt
hẳn.
Lời
niệm
nhẩm
rằng:
“Hồn
ngươi
thoát
xác
cho
nhanh,
chần
chừ
ắt
bị
đóng
đanh
chém
đầu”.
Rồi
lấy
đinh
nhọn
đâm
dứ
vào
tròng
mắt
người
chết.
Như
thế
tiếng
gọi
là
đi
vòng
quanh
người
chết
để
cầu
niệm,
nhưng
thực
ra
lúc
đó
đã
làm
phép
đâm
cho
kẻ
chết
mù
mắt,
dẫu
muốn
làm
gì
cũng
không
được
nữa
[16] . Khi đưa tang đến huyệt,
lại
nhẩm
niệm:
“Nay
xác
ngươi
đây,
vùi
xuống
đất
dày,
cũng
hồn
nát
thảy,
tuyên
không
vãng
lai”
[17] . Niệm xong bảo người đi
đưa
đám
rằng:
“Càng
lấp
nhiều
đất,
được
phúc
càng
nhiều”.
Mọi
người
nghe
nói
thế
tranh
nhau
ném
đất
xuống
huyệt.
Như
vậy,
nếu
kẻ
kia
có
chút
hồn
thiêng
rơi
rớt
nào
cũng
phải
kinh
sợ
tẩu
tán.
Đó
cũng
là
một
ý
kín
nữa”.
Môn
đồ
nghe
Jêsu
nói
như
vậy
đều
ngạc
nhiên
kinh
sợ,
đưa
mắt
nhìn
nhau.
Jêsu
bặm
môi
trừng
mắt
hỏi:
“Chớ
lộ
cho
ai
biết!
Chớ
lộ
cho
ai
biết!
Nói
lộ
ra
thì
nguy
hại
đến
thân!”
Môn
đồ
lại
hỏi
về ý
kín
của
lễ
Quy
lăng,
Jêsu
đáp:
“Lễ
Quy
lăng
có
hai
ý.
Một
là
nếu
không
phải
nhà
phú
hào
giàu
có
thì
không
có
tiền
làm
nổi
lễ
ấy.
Hai
là
nếu
không
phải
hồn
của
hạng
phú
hào
thì
cũng
không
cần
phải
lễ
ấy.
Nguyên
là
linh
hồn
của
kẻ
phú
hào
rất
khó
đè
ép.
Nay
các
ngươi
cứ
mượn
tên
ta
mà
làm
cho
có
vẻ
thần
bí,
trương
lễ
mộ
lên
mà
lòe
bịp
bọn
họ.
Ý
kín
chỉ
ở
khi
đi
vòng
quanh
tử
thi.
Trước
hết
làm
dấu
chữ
thập,
đứng
trước
đầu
quan
tài
niệm
nhẩm:
“Ta
chém
đỉnh
đầu
ngươi,
đầu
ngươi
rơi
địa
ngục,
đừng
có
kêu
van!
Chớ
mong
thờ
cúng”.
Rồi
đi
sang
phía
bên
trái
quan
tài,
niệm
rằng:
“Ta
trói
bên
trái
bên
trái
xiết
buộc
không
thể
múa
may
mong
người
thờ
cúng!”
Đi
xuống
phía
chân
người
chết,
niệm
rằng:
“Ta
trói
chân
ngươi,
chân
ngươi
đau
xiết,
không
thể
về
nhà
báo
mộng
xin
ăn”.
Các
câu
niệm
phía
bên
phải
cũng
niệm
như
phía
bên
trái.
Rồi
đó
cho
thắp
nến
sáng
bốn
bên
để
đốt
đuổi
âm
hồn.
Làm
như
vậy,
dẫu
kẻ
kia
khí
phách
hùng
dũng
đến
đâu,
linh
hồn
cũng
không
thể
không
tan
lìa”.
Môn
đồ
lại
hỏi
phép
Điện
táng
có
những
ý
kín
gì.
Jêsu
đáp:
“Người
ta
lúc
sống
thì
có
sinh
khí,
chết
thì
có
anh
linh.
Các
phép
tuy
nhiều,
nhưng
vẫn
chưa
đè
nén
được
hết,
cho
nên
ta
mới
đặt
ra
phép
này.
Nhà
thờ
là
chỗ
đông
người
tụ
họp,
đưa
thi
hài
người
chết
vào
chôn
trong
điện
thờ
thì
người
chết
dẫu
có
linh
cũng
không
biết
nương
tựa
vào
đâu,
ắt
phải
sợ
hãi
bỏ
trốn.
Ý
kín
là ở
chỗ
đó”.
Môn
đồ
lại
hỏi
rằng:
“Con
trẻ
chết
non
cũng
có
linh
khí,
có
cho
đưa
vào
chôn
ở
nhà
thờ
không?”
Jêsu
đáp:
“Sao
lại
không
được?”
Môn
đồ
nói:
“Chỉ
sợ
năm
tháng
lâu
dần,
âm
khí
chứa
chất
nhiều,
ắt
sẽ
hiện
lên
làm
ma
quái”.
Jêsu
nói:
“Chẳng
phải
ta
còn
có
phép
bỏ
thờ
cúng
người
chết
hay
sao?
Bỏ
thờ
cúng
thì
ma
quỷ
không
biết
nương
tựa
vào
đâu,
không
có
nơi
nương
tựa
thì
dẫu
có
anh
linh,
lâu
ngày
rồi
cũng
bị
tiêu
diệt”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Người
ta
ai
mà
chẳng
có
lòng
thương
xót
người
thân.
Chỉ
sợ
rằng
có
khi
người
ta
mộng
mị
chiêm
bao
thấy
người
thân
kêu
đói
gọi
khát
thì
thương
mà
cúng
tế,
như
vậy
không
biết
thuyết
phục
ngăn
cản
thế
nào?”
Jêsu
nói:
“Mắt
đã
bị
đâm
mù
rồi,
làm
sao
còn
trở
về
báo
mộng
được”.
Môn
đồ
nói:
“Cứ
coi
là
có
như
vậy
thì
làm
thế
nào?”
Jêsu
im
lặng
suy
nghĩ
hồi
lâu
[18] rồi cười đáp: “Ta vừa nghĩ
ra
một
cách”.
Môn
đồ
cũng
cười
mà
hỏi
lại:
“Thưa
thầy
cách
ấy
là
thế
nào?”
[19] Jêsu nói: “Hằng ngày khi
làm
lễ,
các
ngươi
phải
nói
trước
rằng:
“Ma
quỷ
bịa
ra
nhiều
cớ
để
mê
hoặc
dụ
dỗ,
chúng
thường
bắt
chước
y
hệt
như
dáng
mạo
người
thân
của
gia
chủ,
hiện
vào
mộng
mị
để
kêu
ăn
xin
uống,
ở
làng
nọ
có
người
tưởng
là
thần
thật,
bèn
bày
soạn
mâm
cỗ
cúng
tế.
Về
sau,
khi
người
kia
chết,
bọn
ma
quỷ
kia
bèn
tố
cáo
với
chúa
Trời
rằng
người
kia
phạm
vào
tội
thờ
cúng
tổ
tiên,
Đức
chúa
Jêsu
bèn
phạt
đày
người
kia
xuống
địa
ngục.
Từ
nay
về
sau,
dân
chúng
không
nên
tin
vào
mộng
mị
huyền
ảo
để
khỏi
phải
chịu
khổ
cực
như
người
làng
kia.
Các
ngươi
cứ
nói
như
thế,
tất
ai
nấy
đều
lấy
làm
sợ,
dẫu
cho
hồn
người
thân
của
họ
hiện
về
báo
mộng,
họ
cũng
cho
đó
là
ma
quỷ
dưới
địa
ngục
chứ
không
soạn
cỗ
bàn
cúng
tế”.
Môn
đồ
cười
mà
nói
rằng:
“Thầy
quả
là
bậc
tài
trí
sáng
suốt”.
Phêrô
vốn
là
kẻ
hay
nói
ngang,
nghe
xong
liền
nói:
“Đúng
là
thầy
đã
giết
người
ta
lúc
sống
lại
giết
cả
người
ta
khi
chết.
Chẳng
hay
vì
sao
thầy
lại
chịu
khổ
mà
làm
những
chuyện
ấy”
[20] . Jêsu đáp: “Không làm cho
bọn
họ
ngu
si,
thì
làm
sao
mà
tôn
các
ngươi
lên
được?
Không
đè
nén
linh
hồn
của
bọn
họ
thì
làm
sao
cho
kẻ
khác
biết
đến
ngươi?”
[21] Môn đồ hỏi: “Như thế các
thầy
cả
khi
sống
hay
khi
chết
cũng
đều
phải
chịu
những
phép
ấy
chẳng
khác
với
người
thường
thì
còn
gì
là
linh
thiêng?
Nếu
miễn
cho
các
thầy
cả
không
làm
những
phép
ấy
thì
người
ta
ắt
sẽ
sinh
nghi
ngờ”.
Jêsu
đáp:
“Các
người
phải
biết
rằng
những
phép
ta
vừa
nói
trên
là
để
đè
nén
dân
chúng,
còn
đối
riêng
với
các
thầy
cả
đạo
ta
thì
khác
chứ!
Các
phép
lễ
thì
vẫn
như
thế,
nhưng
ý
nghĩa
thì
khác.
Vẫn
có
việc
làm
phép
đâm
dứ
vào
tròng
mắt
như
đối
với
người
thường,
nhưng
ý
nghĩa
lại
là
để
giữ
cho
nó
được
toàn
vẹn.
Khi
thầy
cả
sắp
chết
cũng
làm
lễ
giải
tội,
nhưng
phép
giải
tội
đây
cốt
để
định
tâm,
đọc
sách
luyện
[22] là để định khí, khuyên răn
thầy
ấy
không
nên
lo
sợ.
Không
lo
sợ
thì
dũng
mãnh.
Chí
khí
kiên
định
và
dũng
mãnh
thì
sau
khi
chết
linh
hồn
sẽ
ngưng
tụ
[23] . Khi làm phép cho ăn bánh
thánh,
đọc
lời
nguyện
nhẩm
rằng:
“Cầu
Chúa
giáng
lâm
linh
hồn
cho
miếng
bánh
này,
bánh
vào
lòng
dạ,
hồn
người
thông
tỏ
trăm
lần”.
Rồi
đó
làm
phép
xức
dầu,
lấy
nước
lã
[24] rảy lên đỉnh thóp và chân
tay.
Đọc
lời
niệm
nhẩm,
trước
hết
niệm
về
đôi
mắt:
“Cầu
cho
đôi
mắt
ngươi
ngời
tỏ,
sau
khi
chết
sáng
láy
như
sao
đêm”.
Tiếp
đến
niệm
nhẩm
cho
đôi
tay:
“Cầu
cho
đôi
tay
thiêng,
tay
thiêng
cử
động
như
sống,
sau
khi
chết
vẫy
cờ
cầm
loa”
[25] . Niệm nhẩm cho đôi chân:
“Cầu
cho
đôi
chân
thiêng,
chân
thiêng
đều
nhanh,
sau
khi
chết
đạp
mây
đuổi
gió”.
Lời
niệm
nhẩm
cho
đầu:
“Cầu
cho
ngươi
đầu
thiêng,
đầu
thiêng
đeo
ba
vầng,
sau
khi
chết
chóng
được
lên
thiên
đường”.
Đến
khi
nhập
liệm,
thay
mặc
lễ
phục,
đội
mũ
có
dải
tua,
được
chôn
cất
trong
nhà
thờ.
Rồi
đó
làm
hiệu
cho
con
chiên
cùng
lúc
khóc
to
để
kêu
gọi
linh
hồn
của
thầy
cả
ấy.
Lễ
Phần
mộ
và
lễ
Quy
lăng,
cũng
theo
nghi
thức
như
đã
nói.
Khi
đi
quanh
tử
thi
cũng
nhẩm
đọc
những
lời
cầu
niệm
như
thế.
Tuy
vậy,
việc
mai
táng
thi
hài
thầy
cả
trong
điện
thờ
thì
phải
khác
với
người
thường,
khi
khấn
niệm
cầu
cho
linh
hồn
được
lên
thiên
đường,
lo
gì
hồn
họ
không
thiêng?
Há
các
ngươi
chẳng
biết
đối
với
những
kẻ
khác
thì
ta
cầu
cho
hồn
họ
bị
chìm
diệt
hẳn
đi
hay
sao?”
[26] .
Môn
đồ
hỏi:
“Lúc
trước
thầy
nói
ngưng
tụ
khí
phách
thì
thành
anh
linh.
Thầy
ngày
thường
có
nhiều
phép
lạ,
nhưng
chung
cục
cũng
phải
cam
chịu
tử
hình,
như
thế
đâu
phải
là
khí
phách
ngưng
tụ?”.
Jêsu
đáp:
“Các
ngươi
không
hiểu
được
điều
đó!
Ta
cắt
đầu
dương
vật,
sống
một
mình
không
lấy
vợ
chỉ
là
khí
phách
ngưng
tụ
nhỏ.
Dám
cam
chịu
chết,
ấy
mới
là
khí
phách
ta
ngưng
tụ
lớn.
Ý
kín
là ở
chỗ
đó.
Phàm
người
ta
chịu
chết
có
nhiều
cách:
hoặc
là
chết
vì
nước
sôi
lửa
bỏng,
hoặc
chết
vì
đói
khổ,
bệnh
tật,
tuổi
già,
tuy
cũng
có
hồn
thiêng
nhưng
chẳng
được
bao
lâu.
Chỉ
người
nào
chết
nhưng
không
phải
do
số
mệnh
bắt
phải
chết
[27] thì chí khí mới thật sống
động,
muôn
đời
linh
thiêng.
Ngày
thường
ta
chưa
dám
nói
rõ,
nhưng
trong
lòng
thì
vẫn
cầu
mong
như
thế,
chỉ
lo
không
được
toại
nguyện
mà
thôi!
Nay
đã
được
toại
nguyện,
ta
rất
vui
lòng.
Chính
nhờ
vậy
mà
ta
mới
được
vẻ
vang
như
ngày
nay”
[28] .
Môn
đồ
nói:
“Dù
vui
lòng
chịu
chết
chăng
nữa,
nhưng
chịu
đựng
trăm
chiều
đau
đớn
như
vậy
mà
vẫn
lặng
yên
không
động
thì
sự
ấy
ít
người
kham
nổi”.
Jêsu
nói:
“Các
ngươi
chưa
hiểu.
Nếu
một
chút
dao
động
thì
chí
khí
khiếp
nhược.
Chí
khí
khiếp
nhược
thì
không
cứng
mạnh.
Không
cứng
mạnh
thì
linh
hồn
tiêu
tan.
Tất
phải
lấy
sự
kiên
nhẫn
chịu
đựng
mà
ngưng
tụ,
lấy
sự
thong
dong
mà
nuôi
dưỡng
thì
chí
khí
càng
thêm
cường
tráng,
sống
động
linh
thiêng.
Ấy
là
chỗ
đạo
ta
khác
với
đạo
người
vậy.
Không
như
thế
thì
làm
sao
có
được
ngày
hôm
nay”
[29] .
Các
môn
đồ
nghe
dứt
đều
lạy
tạ
hồi
lâu.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Ý
kín
của
việc
giết
người
chết
thì
đã
nghe
thầy
nói
rõ,
nhưng
còn
điều
kín
về
việc
giết
người
sống
cũng
xin
thầy
cho
chúng
con
được
biết.
Nhưng
đối
với
hạng
trẻ
nhỏ
chưa
làm
phép
rửa
tội,
chẳng
may
bị
bệnh
cấp
mà
không
gặp
thầy
cả
thì
làm
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Không
gặp
thầy
cả
thì
sẵn
ai
là
người
có
đạo
cũng
có
thể
làm
thay
được.
Chỉ
có
việc
rảy
nước
lên
đầu
và
cầu
niệm
một
câu
nhân
danh
chúa
Trời
là
đủ.
Lời
mật
niệm
như
vậy
là
để
cho
giáo
đồ
đã
từng
chịu
phép
rửa
tội
khỏi
mượn
cớ
có
phần
bị
lôi
thôi”.
Môn
đồ
lại
hỏi
về ý
kín
của
phép
xưng
tội,
giải
tội
như
thế
nào.
Jêsu
đáp:
“Trước
khi
xưng
tội
một
hai
ngày,
con
chiên
phải
ngồi
một
nơi
yên
tĩnh
mà
suy
xét
các
tội
lỗi
của
mình
[30] . Khi làm lễ
[31] , các ngươi
[32] ngồi trong cửa sổ, con chiên
quỳ
bên
ngoài.
Các
ngươi
sẽ
bảo
rằng:
“Ta
thay
mặt
Đức
chúa
Jêsu
lắng
nghe
con
thú
tội
[33] . Bao nhiêu điều lỗi trước
đây,
con
phải
thành
thật
kể
hết,
không
được
che
giấu
điều
gì.
Nếu
con
giấu
giếm
một
tội
nào
thì
sau
khi
chết,
hồn
con
bị
đày
xuống
địa
ngục
làm
mồi
cho
quỷ
dữ.
Dưới
địa
ngục
có
quỷ
giữ
sổ
ghi
tội,
đến
khi
con
chết,
quỷ
sẽ
đưa
sổ
trình
lên
chúa
Jêsu
phán
xét
bắt
đày
xuống
địa
ngục.
Con
chiên
lo
sợ
ắt
không
dám
giấu
giếm
điều
gì.
Xét
trong
các
tội
lỗi
thì
có
mấy
điều
vào
loại
tội
nặng,
ấy
là
phạm
vào
các
điều
cấm
thờ
quỷ
thần,
cấm
xem
thiên
văn
địa
lý,
cấm
bói
toán
cúng
là
điều
cấm
không
được
thờ
cúng
tổ
tiên.
Phải
dọa
nạt
bọn
họ
rằng
bấy
nhiêu
điều
trọng
tội
đều
là
những
tội
bất
kính
đối
với
chúa,
chết
xuống
địa
ngục
sẽ
bị
quỷ
ăn
đầu.
Kẻ
nào
thờ
cúng
tổ
tiên
thì
bị
quỷ
moi
mắt
[34] , kẻ nào ăn cỗ thờ cúng thì
bị
quỷ
cưa
mồm.
Cứ
phải
dọa
cho
con
chiên
kinh
sợ,
tuyệt
hẳn
không
dám
phạm
vào
các
điều
cấm,
dứt
hẳn
không
dám
nhìn
ngó
đến
những
chuyện
ấy
nữa,
có
như
thế
bọn
họ
mới
dốc
lòng
theo
đạo
ta”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Cấm
họ
không
làm
những
việc
ấy
là
đủ,
sao
lại
còn
cấm
không
cho
họ
xem
người
khác
cúng
tế,
vậy
có
khắt
khe
quá
không?”
Jêsu
đáp:
“Người
ta
ai
cũng
có
lòng
thương
xót
người
thân,
nếu
để
cho
con
chiên
xem
người
ngoại
đạo
cúng
tế
thì
lòng
họ
thương
xót
không
nỡ
bỏ,
ắt
rồi
cũng
theo
nhau
bày
soạn
cỗ
bàn
cúng
tế,
không
theo
đạo
ta
nữa.
Cho
nên
thà
cứ
đề
phòng
khắt
khe
như
thế,
khiến
cho
bọn
họ
phải
chịu
làm
chó
lợn
tùy
theo
sự
chỉ
huy
của
ta!
[35] . Còn các điều cấm khác như
giết
người,
bất
hiếu,
gian
dâm,
trộm
cướp,
dối
trá,
ham
muốn
vợ
người,
tham
lam
của
người,
v.v.
thì
dẫu
họ
có
xưng
ra
cũng
không
nên
quở
trách
nặng
lời.
Tuy
vậy
cứ
phải
để
cho
nói
hết,
có
thế
người
ta
càng
tin
hơn.
Nếu
bảo
họ
không
phải
xưng
những
tội
ấy
thì
họ
biết
là
chúng
ta
lừa
dối.
Ta
nói
đến
thế,
các
ngươi
có
hiểu
không?”
Môn
đồ
vâng
dạ
đáp
hiểu
cả.
Lại
có
người
hỏi:
“Nhưng
xin
thầy
cho
biết
quả
thật
phép
của
thầy
có
giải
được
tội
cho
người
ta
không?”
Jêsu
đáp:
“Phàm
những
kẻ
phạm
lỗi
nhưng
sau
biết
hối
tức
là
người
có
lòng
lành.
Miệng
người
ta
tự
nói
ra
điều
lỗi
ấy
thì
về
sau
không
tái
phạm
nữa.
Huống
chi
ta
đã
phỉnh
rằng
chúa
Trời
tha
tội
cho
họ,
ai
mà
chẳng
vui
mừng
tin
điều
ta
nói
là
thật,
từ
đó
họ
sẽ
tự
sửa
mình,
đổi
lỗi.
Đó
là
một
thủ
thuật
của
đạo
ta.
Còn
như
thật
sự
có
giải
được
hay
không
thì
ai
mà
biết
được?”
Các
môn
đồ
nghe
nói
vậy
đều
cười
ồ
lên,
Jêsu
bèn
chỉ
tay
bảo
rằng:
“Chớ
nói
lộ
chuyện
ấy!”
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Những
kẻ
phạm
các
tội
như
trộm
cướp,
tà
dâm
mà
cũng
được
giải
tội
thì
về
sau
kẻ
ấy
lại
càng
rông
càn
hơn
nữa,
phải
làm
thế
nào?”
Jêsu
yên
lặng
hồi
lâu
[36] rồi đáp: “Phải dọa họ rằng
phép
chúa
Trời
ai
tái
phạm
thì
không
được
tha
thứ
nữa.
Con
hãy
ra
phòng
lễ
có
đông
đảo
mọi
người
một
mình
đứng
dậy
mà
nói:
“Con
trót
phạm
điều
cấm,
tự
biết
là
phạm
phép
lắm,
xin
Chúa
trừng
phạt
không
tha”
[37] . Chúa Trời thương người
biết
hối,
sẽ
tha
thứ
hết
mọi
tội
lỗi
cho
ngươi.
Nếu
không
làm
như
thế
ắt
bị
đày
xuống
địa
ngục
không
còn
nghi
ngờ
gì.
Kẻ
kia
sợ
hãi
mà
phải
vâng
theo,
đã
vâng
theo
thì
biết
xấu
hổ,
không
dám
tái
phạm
nữa”.
Môn
đồ
hỏi:
“Bảo
con
chiên
kể
rõ
tội
lỗi,
không
biết
họ
có
chịu
nghe
theo
không?”
Jêsu
đáp:
“Chỉ
cần
bảo
họ
nói
mập
mờ
là
phạm
phép
của
Chúa
thì
có
can
hệ
gì
mà
không
theo?”.
Môn
đồ
đưa
mắt
nhìn
nhau
mà
cười,
Jêsu
thấy
vậy
cũng
cười
theo.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Đàn
bà
có
tính
hay
thẹn,
nếu
phạm
tội
ấy
chắc
chẳng
ai
dám
nói
ra?”
Jêsu
thấp
giọng
bảo
rằng:
“Thì
cứ
tùy
theo
mức
độ
nặng
nhẹ,
bảo
họ
nộp
tiền
hoặc
vải
lụa
để
chuộc
tội,
như
thế
càng
có
lợi
cho
ta
chi
dùng,
chứ
có
sao
đâu!
Người
kia
mừng
được
tha
tội,
lòng
tin
đạo
lại
càng
bền
vững
hơn.
Ý
kín
là ở
chỗ
ấy
vậy”.
Môn
đồ
lại
nói:
“Thầy
dỗ
dụ
người
ta
đổi
lỗi
thật
là
giỏi
quá!”
Jêsu
nghe
vậy
cười
vang
[38] .
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Xin
thầy
cho
biết
ý
kín
của
phép
bánh
thánh
như
thế
nào?
Vì
sao
những
người
đến
xưng
tội
đều
phải
ăn?”
Jêsu
đáp:
“Người
ta
đã
xưng
tội
rồi
mà
không
có
phép
gì
để
tỏ
vẻ
thần
bí
thì
họ
không
tin,
vì
thế
ta
phải
đặt
ra
bánh
thánh
và
làm
phép
kín
khi
cho
người
xưng
tội.
Các
ngươi
hãy
dỗ
họ
rằng:
“Con
đã
được
giải
tội,
hồn
con
từ
nay
được
trong
sạch.
Đức
chúa
Jêsu
ngự
trị
trong
hồn
con
sẽ
ban
ánh
sáng
cho
con”.
Người
xưng
tội
sẽ
vui
mừng
nghe
theo
các
người.
Đến
khi
làm
lễ,
các
cách
mím
miệng
thổi
hơi,
giơ
tay
chỉ
trỏ
bắt
quyết
cũng
như
trước,
nhưng
lời
niệm
kín
thì
đọc
khác
đi.
Niệm
rằng:
“Cầu
chúa
Jêsu
giáng
linh
cho
miếng
bánh
này,
bánh
nhập
vào
thể
xác
sẽ
gò
hãm
cõi
hồn
ở
nơi
u
tối,
kẻ
kia
thành
người
vô
tri
vô
giác,
chỉ
biết
tuân
theo
đạo
Chúa”.
Đã
có
linh
hồn
của
ta,
và
do
ta
làm
dấu
bắt
quyết,
hợp
ba
thứ
ấy
[39] lại thì kẻ kia ắt phải tối
tăm
ngu
muội.
Lại
phải
dạy
con
chiên
khi
ăn
bánh
thánh
phải
nuốt
trửng,
dọa
rằng:
“Bánh
này
là
một
phần
thân
thể
của
chúa
Jêsu,
chớ
nhai
mà
bị
tội
chết”.
Nếu
cứ
để
cho
nhai
thì
bánh
sẽ
ngấm
nước
bọt
có
mùi
hôi
thối,
người
ta
không
tin
nữa.
Ấy
là ý
kín
của
phép
bánh
thánh”
[40] . Môn đồ nhân đó lại hỏi về
ý
kín
của
rượu
thánh,
Jêsu
đáp:
“Bánh
thánh
và
rượu
thánh,
không
có
hai
thứ
ấy
thì
không
thành
lễ.
Dùng
rượu
là
để
tượng
trưng
cho
máu
của
ta,
bánh
là
để
tượng
trưng
cho
thịt
của
ta.
Phải
có
khí
vị
của
ta ở
đó
thì
ta
mới
có
chỗ
dựa
mà
giáng
linh”.
Môn
đồ
hỏi:
“Linh
hồn
của
thầy
dựa
vào
đâu
mà
giáng
xuống?”
Jêsu
đáp:
“Dựa
vào
phần
xác
của
ta
mà
con
chiên
đã
được
ban
hưởng,
cho
nên
gọi
là
giáng
linh”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Nếu
thế
thì
bánh
và
rượu
có ý
nghĩa
cũng
như
nhau
thôi,
tại
sao
chỉ
có
con
chiên
ăn
bánh
chứ
không
được
uống
rượu,
còn
các
thầy
cả
thì
được
ban
hưởng
cả
hai
thứ
đó?”
Jêsu
đáp:
“Bánh
thì
có
thể
làm
được
nhiều,
chứ
rượu
thì
lấy
đâu
ra
cho
nhiều?”
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Vậy
sao
không
dùng
rượu
gạo
[41] mà lại dùng nước ép quả nho
[42] để đến nỗi khó kiếm thế?”
Jêsu
đáp:
“Nếu
dùng
rượu
gạo
thì
không
khác
với
lễ
tế
thần
[43] , người ta sẽ nghi ngờ đạo
ta”.
Môn
đồ
hỏi:
“Cứ
như
ý
thầy
thì
bánh
thánh
của
các
thầy
cả
đạo
ta
phải
có
phép
riêng
chăng?”
Jêsu
đáp:
“Bánh
thánh
và
rượu
thánh
ban
cho
các
thầy
cả
thì
có
lời
niệm
khác.
Lúc
uống
rượu
thánh
thì
niệm
rằng:
“Cúi
nguyện
Đức
chúa
Jêsu
giáng
thân
xuống
chén
rượu
này,
rượu
vào
lòng
dạ
mở
trí
tuệ
diệu
kỳ
cho
con”.
Niệm
xong
đánh
chuông,
nâng
chén
rượu
lên
để
con
chiên
vái
lạy,
rồi
dốc
chén
uống
cạn.
Về
bánh
thánh,
bánh
vào
lòng
dạ
thêm
trí
tuệ
diệu
kỳ
cho
con”.
Niệm
xong
đánh
chuông,
giơ
miếng
bánh
lên
cho
con
chiên
vái
lạy,
rồi
bẻ
miếng
bánh
ra
làm
đôi
cúi
đầu
mà
nuốt.
Như
vậy,
bánh
ấy
rượu
ấy
sau
khi
được
con
chiên
vái
lạy
[44] lại càng linh thiêng hơn.
Linh
hồn
ta
nhập
vào
các
ngươi,
các
ngươi
hóa
thành
thân
ta.
Rồi
đó
phân
phát
bánh
nhỏ
cho
con
chiên
như
cách
thức
đã
nói
trước”.
Môn
đồ
hỏi:
“Thưa
thầy
như
thế
phải
chăng
ý
kín
của
phép
rượu
thánh
chỉ
có
một,
còn
phép
bánh
thánh
thì
có
hai
ý
kín
khác
nhau?”
Jêsu
đáp:
“Quả
đúng
như
lời
người
đấy.
Có
loại
bánh
của
người
khỏe,
có
loại
bánh
của
người
ốm,
có
loại
bánh
thánh
của
thầy
cả.
Ba
loại
bánh
ấy
đều
kèm
theo
những
lời
niệm
dùng
riêng
cho
khác
nhau”
[45] .
Môn
đồ
hỏi
về ý
kiến
của
phép
chuộc
tội,
Jêsu
đáp:
“Đó
là
thủ
thuật
ta
dùng
để
thử
cho
biết
con
chiên
có
thật
lòng
tin
đạo
hay
không.
Bảo
họ
đọc
kinh,
nộp
tiền,
liếm
đất,
họ
đều
nhất
nhất
làm
theo,
như
thế
thì
biết
họ
thật
lòng
hối
lỗi,
nào
có
gì
mà
bảo
là
chuộc
đâu!”.
Nói
đến
đó
thầy
trò
Jêsu
nhìn
nhau
mà
cười
rộ
[46] . Môn đồ hỏi: “Nộp tiền là
sự
việc
rõ
ràng,
có
thể
biết
được,
còn
như
tụng
kinh,
liếm
đất
là
những
việc
lờ
mờ
thì
chúng
ta
làm
sao
mà
biết
được?”
Jêsu
đáp:
“Có
khó
gì
đâu!
Nguyên
là
con
chiên
sợ
nói
dối
phải
tội
cho
nên
không
dám
nói
dối
ta.
Đợi
khi
họ
đến
xưng
tội
lần
sau,
ta
sẽ
hỏi
họ:
điều
lỗi
lần
trước
con
đã
chuộc
chưa?
Nếu
họ
trả
lời
“đã”
thì
tin
là
đúng.
Điều
đó
đã
thật
thì
biết
lòng
tin
đạo
của
họ
cũng
là
chân
thật
vậy”.
Môn
đồ
hỏi
ý
kín
của
lễ
Phần
mộ
như
thế
nào,
Jêsu
đáp:
“Lễ
mồ
và
lễ
Misa
nguyên
do
cũng
chỉ
là
một
mà
thôi:
đó
là
vì
người
ta
ai
cũng
có
lòng
thương
xót
người
thân,
nếu
dứt
hẳn
cái
tình
cảm
ấy
đi,
không
theo
tục
lệ
cũ
một
chút
ít
nào,
gò
bó
lâu
ngày
không
chịu
nổi
thì
người
ta
sẽ
không
theo
đạo
ta
nữa.
Cho
nên
ta
phải
đặt
ra
hai
lễ
ấy
để
lừa
gạt
con
chiên
làm
cho
họ
yên
lòng”
[47] . Môn đồ lại hỏi về ý kín
của
phép
Matrimonitô,
Jêsu
đáp:
“Vợ
chồng
ở
đời
có
nhiều
người
muốn
bỏ
nhau,
hoặc
là
vẫn
cùng
nhau
chung
sống
nhưng
trộm
nhớ
thầm
yêu
kẻ
khác,
cho
nên
bắt
họ
phải
làm
lễ
yết
chúa
Trời,
xin
Chúa
chứng
giám
là
cốt
để
cho
họ
sợ
mà
không
dám
làm
bậy.
Ý
kín
chỉ
có
thế
mà
thôi.
Còn
như
bảo
họ
xưng
tội
là
cốt
để
trấn
áp,
làm
các
phép
lễ
là
để
tỏ
vẻ
thần
bí,
bảo
họ
úp
tay
lên
nhau
là
thể
hiện
tình
thân
yêu,
ban
nhẫn
cưới
là
để
cho
họ
ghi
nhớ,
ca
hát
là
để
thêm
phần
văn
hoa.
Đó
đều
là
những
nghi
thức
phụ
trợ
thêm
vào
mà
thôi.
Còn
như
cùng
một
phép
cưới
mà
phân
biệt
ra
đại
hôn
lễ
và
tiểu
hôn
lễ
chỉ
khác
nhau
ở
chỗ:
tiểu
hôn
lễ
là
lễ
cưới
của
người
nghèo,
còn
đại
hôn
lễ
là
lễ
cưới
của
nhà
giàu.
Bọn
họ
đều
là
con
chiên
của
đạo
ta
cả,
nhưng
còn
phân
biệt
khi
làm
lễ
thì
điều
đó
các
ngươi
còn
chưa
hiểu,
lát
nữa
ta
sẽ
nói
rõ
[48] . Còn về những lời khuyên
răn
khi
họ
xưng
tội
để
làm
lễ
cưới
thì
có
khác
so
với
những
lời
khuyên
răn
con
chiên
trong
các
buổi
xưng
tội
bình
thường,
ta
đã
nói
với
các
ngươi
rồi.
Riêng
lần
xưng
tội
để
làm
lễ
cưới
thì
chờ
cho
họ
nói
xong,
các
ngươi
sẽ
bảo
họ
rằng:
“Đối
với
các
cặp
vợ
chồng
trẻ,
lũ
quỷ
ở
địa
ngục
thường
len
lỏi
vào
tận
nhà
xúi
cho
vợ
chồng
đam
mê
dâm
dục
rồi
chúng
nhất
nhất
ghi
hết
vào
sổ
để
sau
đem
trình
với
chúa
Jêsu
[49] bắt đày xuống địa ngục. Các
con
chỉ
nên
giao
hợp
một
tháng
hai
lần
thì
mới
đúng
phép
[50] . Nếu chịu được mỗi tháng
một
lần
thì
đó
là
điều
rất
được
phúc
để
lên
thiên
đường
[51] . Ta từng thấy một đôi vợ
chồng
vì
dâm
dục
quá
mà
phát
thai
trong
bụng
người
chồng
[52] , chỉ hơn 5 tháng thì hai
vợ
chồng
nhà
ấy
đều
chết
cả.
Các
con
phải
nên
cẩn
thận
sự
ấy”.
Những
lời
khuyên
trên
đây
nói
cho
cả
vợ
chồng
cùng
nghe.
Nhưng
lại
sợ
rằng
khó
bịp
được
người
chồng,
cho
nên
phải
lừa
dọa
người
vợ
thì
dễ
hơn.
Lừa
dọa
được
người
vợ
thì
vợ
ngăn
trở
chồng,
thế
mới
là
diệu
kế
[53] . Cho nên phải dọa người vợ
rằng:
“Đàn
bà
mà
khêu
gợi
chồng
làm
sự
ấy
thì
nặng
tội
hơn.
Chồng
ép
giao
hợp
nhiều
lần
mà
vẫn
ưng
chịu,
thì
trước
hết
cũng
cứ
là
tội
của
vợ
[54] . Nay vợ chồng các con còn
son
trẻ,
nếu
sớm
hôm
đọc
kinh
cầu
nguyện
thì
được
chúa
Jêsu
yêu
mến
mà
cho
sinh
con
đẻ
cái,
không
cứ
là
phải
giao
hợp
nhiều
[55] . Họ đã tin lời chăm lo
tụng
kinh
không
rỗi
thì
cũng
bớt
tơ
tưởng
chuyên
nam
nữ
trong
buồng
riêng.
Từ
khoảng
bốn
mươi
tuổi
trở
lên,
tính
tình
người
ta
bình
tĩnh,
ít
ham
muốn
nhục
dục,
thì
không
phải
khuyên
bảo
gì
nhiều.
Còn
đối
với
hạng
dưới
bốn
mươi
khi
vào
xưng
tội,
trước
tiên
đều
phải
hăm
dọa
như
thế”.
Môn
đồ
hỏi:
“Nếu
họ
vâng
dạ
bề
ngoài,
nhưng
khi
về
nhà
chứng
nào
tật
ấy
thì
biết
làm
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Những
cặp
vợ
chồng
trẻ
vào
xưng
tội
đều
phải
dọa
rằng:
“Nếu
con
mà
làm
chuyện
kín
trong
buồng
nhiều
quá
thì
tội
ác
chồng
chất,
không
che
nổi
mắt
Chúa.
Nay
ta
thấy
khí
sắc
vợ
chồng
con
không
được
như
trước,
xem
chừng
mệt
mỏi
ủ rũ
lắm.
Quỷ
đã
ghi
hết
tội
của
các
con
để
trình
với
chúa
Jêsu
bắt
đày
xuống
địa
ngục”.
Tính
đàn
bà
thường
hay
thẹn,
ắt
sẽ
lạy
khóc,
nhất
nhất
kể
hết.
Kiểm
tính
xem
họ
ăn
nằm
với
nhau
bao
nhiêu
lần
[56] rồi sau mới khuyên rằng:
“Từ
đây
về
trước
thì
tha
thứ
cả,
nhưng
từ
nay
về
sau
thì
phải
răn
lòng!”
Người
vợ
về
nhà
sẽ
bảo
chồng:
“Cha
xứ
có
mắt
thần,
không
nói,
cha
cũng
biết.
May
mà
nói
ra
khỏi
đày
xuống
địa
ngục”.
Vậy
là
từ
sau
họ
không
dám
giao
hợp
nhiều
nữa”.
Môn
đồ
hỏi:
“Chỉ
sợ
họ
đem
chuyện
ấy
nói
lộ
ra
thôi”.
Jêsu
nói:
“Cái
ấy
thì
có
gì
phải
sợ!
Việc
kín
trong
chỗ
buồng
the,
vợ
chồng
nhà
ai
nhà
ấy
biết,
họ
dại
gì
mà
nói
với
người
ngoài?”
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Làm
cái
việc
bí
mật
ấy
liên
quan
đến
ý
kín
như
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Nếu
không
có ý
kín
thì
cần
gì
phải
nói
cho
thêm
phiền.
Nguyên
do
là
vì
giao
hợp
nhiều
thì
sinh
đẻ
lắm,
đạo
ta
khó
kiềm
chế
được.
Vả
lại
sinh
đẻ
nhiều
không
ngừng
thì
đàn
ông
thế
nào
cũng
lấy
vợ
bé.
Cho
nên
phải
dọa
như
thế
để
giảm
bớt
việc
sinh
đẻ
của
bọn
họ”.
Môn
đồ
hỏi:
“Nếu
họ
chẳng
chịu
nghe
thì
biết
trị
thế
nào?”
Jêsu
cười
đáp
rằng:
“Các
ngươi
phải
khuyên
bảo
như
thế
cho
hết
chức
trách
của
mình,
chứ
lòng
người
ta
thì
biết
thế
nào
mà
phòng
trước
được?
Nhưng
người
ta
phần
nhiều
ngu
khờ,
còn
những
kẻ
cứng
đầu
cứng
cổ
thì
cũng
không
mấy,
chẳng
cần
phải
quá
lo
xa
đề
phòng”.
Môn
đồ
đều
cười
rộ
[57] . Jêsu nói: “Thi hành phép
cưới
như
thế,
những
kẻ
sợ
chúa
Trời
chẳng
bao
giờ
dám
ăn ở
hai
lòng,
chuyện
ấy
không
phải
nói
đến
nữa.
Còn
như
vợ
chồng
lấy
nhau
hợp
sở
nguyện
thì
phép
của
ta
lại
càng
tỏ
ra
là
đúng.
Đại
để
thân
thuộc
trong
5
hạng
để
tang
[58] thì từ hàng anh em con chú
con
bác
trở
lên
tình
còn
thân
thiết
không
nỡ
lấy
nhau,
từ
hàng
ấy
trở
xuống
quan
hệ
đã
xa,
có
thể
muốn
lấy
nhau
rồi.
Khi
làm
lễ
giải
tội
phải
hỏi
kỹ
đôi
bên
trai
gái
để
biết
rõ ý
muốn
của
họ.
Sau
đó
dọa
cha
mẹ
đôi
bên
rằng:
Chúng
nó
muốn
lấy
nhau
là
do ý
chúa
Trời
đã
định
trước.
Nếu
không
cho
chúng
được
thành
vợ
chồng
tức
là
làm
sai
ý
Chúa,
ngày
sau
sẽ
bị
đày
xuống
địa
ngục
[59] . Cha mẹ đôi bên sợ mà phải
cho
lấy
nhau.
Trai
gái
được
toại
nguyện
thì
có
lý
gì
mà
bỏ
nhau
nữa.
Đó
cũng
là ý
kín
vậy”.
Môn
đồ
nói:
“Dựa
theo
tình
cảm
của
người
ta
để
mà
thực
hiện
ý
kín
của
mình,
thầy
thật
là
giỏi
quá!
Nhưng
mà
cho
người
cùng
chung
huyết
thống
lấy
lẫn
nhau
như
thế
thì
có
đúng
đạo
lý
không?”
Jêsu
đáp:
“Ý
kín
chính
là
chỗ
vợ
chồng
chung
lộn
huyết
thống
như
vậy
đấy
[60] . Đại để đạo ta lấy sự ngu
dân
làm
đầu.
Dung
túng
cho
người
cùng
huyết
thống
lấy
nhau
thì
con
cái
đẻ
ra
sẽ
đần
độn,
chỉ
biết
tuân
theo
sự
sai
khiến
của
ta.
Sinh
đẻ
càng
ít
thì
càng
đỡ
lo,
ta
chỉ
cốt
sao
thi
hành
được
mưu
kế
chứ
họ
hàng
gia
tộc
thì
kể
gì?
[61] . Sang hèn không tương xứng
cũng
cứ
mặc
cho
họ
lấy
nhau,
ý
nghĩa
cũng
thế
thôi.
Dọa
cha
mẹ
họ
rằng
đó
là
diệu
ý
của
chúa
Trời
thì
ai
là
những
chẳng
tuân
theo?
Nguyên
là
những
người
đầu
óc
sáng
suốt
thì
khó
lừa
gạt,
kẻ
ngu
khờ
dốt
nát
thì
dễ
thuần
phục
hơn.
Kẻ
sang
mà
lại
lấy
người
sang
thì
khí
tốt
chung
đúc,
con
cái
sinh
ra
sẽ
tinh
anh
hoạt
bát,
ngày
sau
lớn
lên
ắt
sẽ
hơn
người.
Bọn
ấy
sẽ
quát
nạt
dân
chúng
thì
còn
ai
tôn
thờ
đạo
ta
nữa?
Đạo
của
ta
ắt
sẽ
bị
thiệt
hại.
Dọa
họ
rằng
ý
chúa
Trời
muốn
tác
thành
cho
họ
ăn
đời
ở
kiếp
với
nhau
thì
tinh
anh
tú
khí
sẽ
bị
hỗn
dục,
con
cái
đẻ
ra
ắt
phải
u
mê,
dễ
dàng
hãm
vào
trong
vòng
pháp
thuật
của
đạo
ta”.
Các
môn
đồ
đều
vui
mừng
nói:
“Thầy
quả
thật
là
thần”
[62] .
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Phép
một
vợ
một
chồng,
đè
nén
tình
người
quá
lắm,
chưa
rõ ý
riêng
của
thầy
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Một
vợ
một
chồng
thì
dân
chúng
thông
thường
ai
cũng
thế,
ta
không
phải
lo.
Nhưng
mà
đặt
ra
phép
ấy
chỉ
là
để
đề
phòng
các
nhà
giàu
sang
quyền
quý
mà
thôi.
Bọn
họ
đều
nhờ
mạch
đất
tốt
mà
phát
đạt
[63] khó lừa dối nổi. Nếu để họ
lấy
nhiều
vợ,
sinh
nhiều
con
cái,
vượng
khí
tốt
đẹp
chung
tụ
vào
những
người
tài
giỏi
xuất
chúng
thì
làm
sao
mà
mê
hoặc
được
nữa?
Nếu
không
ngăn
chặn
trước,
con
cái
họ
lớn
lên
sẽ ở
trên
mọi
người,
uy
thế
bao
trùm
khiến
cho
bọn
dân
ngu
không
tin
theo
đạo
ta
nữa,
bọn
ta
ắt
sẽ
bị
chém
đầu.
Cho
nên
phải
đặt
ra
phép
ấy
để
ngăn
chặn.
Trước
hết
phải
lừa
dọa
đó
là
phép
chúa
Trời
định
ra,
khiến
cho
họ
không
dám
làm
trái
ý
Chúa.
Như
thế
thì
sinh
đẻ
ít,
dễ
bề
chế
ngự.
Khi
truyền
giảng
phép
này
nên
chọn
kẻ
nào
chỉ
có
một
vợ
nhưng
nhiều
con
làm
ví
dụ,
nói
rằng:
“Đó
là
số
mệnh
do
chúa
Trời
định
trước,
đâu
phải
cứ
lấy
nhiều
vợ
mới
có
nhiều
con!
Lại
chọn
kẻ
nào
nhiều
vợ
nhưng
không
có
con
làm
ví
dụ,
nói
rằng:
“Chúa
Trời
đã
không
cho
có
con,
lấy
nhiều
vợ
có
ích
gì
đâu?”
Nói
như
thế
người
ta
sẽ
phải
tin.
Hơn
nữa,
tính
đàn
bà
hay
ghen,
dễ
bị
lừa
dối.
Nắm
lấy
cái
tính
hay
ghen
ấy,
trước
hết
dọa
vợ
thì
vợ
về
sẽ
ngăn
trở
chồng”.
Môn
đồ
hỏi:
“Nếu
người
ta
không
có
con
thừa
tự
cũng
đành
phải
chịu
thôi
hay
sao?”
Jêsu
đáp:
“Chết
rồi
không
phải
thờ
cúng,
thì
cần
gì
phải
có
con
thừa
tự?
Phải
dụ
dỗ
để
họ
chịu
vậy
mà
thôi”
[64] . Lại bảo rằng: “Từ nay, ai
không
có
con,
chúa
Trời
lại
càng
thương,
sau
khi
chết
được
lên
thiên
đường
mau
hơn.
Nếu
nhiều
người
không
có
con
thì
chúng
ta
càng
đỡ
phải
lo
thuyết
dụ.
Đó
là ý
kín
của
phép
một
vợ
một
chồng.
Còn
như
trong
số
những
người
theo
đạo
có
không
ít
kẻ
phú
hào
tùy
theo
đạo
ta
vẫn
giữ
ý
lấy
nhiều
vợ.
Phải
đợi
đến
khi
họ
gần
chết
sẽ
bảo
họ
từ
bỏ
hết
vợ
thì
mới
được
làm
phép
giải
tội
ăn
bánh
thánh,
và
mau
lên
thiên
đường.
Kẻ
nào
vẫn
không
chịu
làm
như
thế
thì
các
ngươi
cứ
bảo
là
không
dám
tự ý
làm
phép
giải
tội
trái
ý
Chúa,
cứ
để
cho
hồn
họ
bị
đày
xuống
địa
ngục.
Ta
lại
dụ
dỗ
người
vợ
để
người
ấy
thúc
bách
chồng.
Người
bệnh
đang
hấp
hối
ắt
phải
miễn
cưỡng
nghe
theo.
Làm
như
thế
những
người
ngoài
đạo
có
mặt
tại
chỗ
lúc
ấy
hẳn
không
dám
mượn
cớ
chê
bai,
từ
đó
sẽ
càng
vững
tin
ở
phép
một
vợ
một
chồng”.
Môn
đồ
hỏi:
“Về
việc
cho
những
kẻ
góa
vợ
góa
chồng
đi
lại
với
nhau
cũng
là
có ý
kín
gì
chăng?”
Jêsu
đáp:
“Đối
với
những
người
trẻ
tuổi
mà
ép
ức
họ
quá
thì
họ
không
theo
đạo
ta
nữa.
Một
người
đã
không
theo
thì
người
khác
cũng
bắt
chước,
đạo
ta
ắt
sẽ
tan
rã.
Cho
nên
phải
đặt
ra
phép
ấy
để
khơi
thông
tình
cảm
cho
họ.
Ý
kín
là ở
chỗ
đó”
[65] .
Môn
đồ
chuyển
sang
hỏi
về
cái
thuyết
chúa
Trời
ba
ngôi:
“Thuyết
ấy
thực
hư
thế
nào,
xin
thầy
bảo
thật
cho
chúng
con
được
rõ”.
Nghe
nói
chuyện
ấy,
Jêsu
khẽ
nhếch
mép
rồi
bất
giác
ha
hả
cười
to
mà
rằng:
“Chỉ
có
một
chúa
Trời,
chẳng
làm
gì
có
cái
chuyện
“ba
ngôi”!
Nhưng
nếu
không
mượn
oai
chúa
Trời
thì
không
mê
hoặc
được
dân
chúng.
Mình
không
có
chút
phép
lạ
thì
người
ta
không
chịu
tin.
Kiếp
trước
ta
vốn
là
sơn
thần
có
nhiều
phép
lạ,
cho
nên
ta
mới
viện
chúa
Trời
ra.
Nào
có
ai
trèo
lên
trời
mà
biết
là
ba
ngôi?
Việc
ấy
để
sau
ta
sẽ
nói
thêm
cho
các
ngươi
hiểu
rõ”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Cái
thuyết
thiên
đường
địa
ngục
có
thật
hay
không?”.
Jêsu
đáp:
“Trời
cũng
là
chất
khí.
Nếu
có
nhà
cửa
ở
trên
đó
thì
hẳn
là
phải
có
cột,
có
nền.
Đã
có
cột
gỗ
nền
đất
thì
tức
là
trên
mặt
đất
này
rồi,
chứ
đâu
phải
là
trời!
Cũng
ví
như
là
đã
có
đất
mà
lại
có
mặt
trời,
mặt
trăng,
mây,
gió
thì
đó
là
“trời”
chứ
đâu
phải
là
“đất”
nữa?
Vòm
trời
di
chuyển,
xoay
trái
chuyển
phải,
cứ
nhìn
các
ngôi
sao
thì
sẽ
rõ.
Nếu
có
nhà
cửa
ở
trên
trời
thì
khi
vòm
trời
chuyển
động
làm
sao
cho
khỏi
sụp
đổ?
Mặt
trời
như
khối
lửa,
rực
cháy
rọi
xuống,
nhân
gian
đã
đủ
nóng
bức
khổ
sở.
Nếu
trên
trời
lại
có
nhà
cửa
há
không
cháy
trụi
cả
hay
sao?”
[66] Chỉ vì nói đến anh linh
thăng
giáng
cho
nên
gọi
là
“trời”
(thiên),
lập
đền
thờ
phụng
cho
nên
gọi
là
“đền
trời”
(thiên
đường).
Nếu
chẳng
phải
xây
cất
trên
mặt
đất
này
thì
ngôi
đền
trời
ấy
há
lại
lơ
lửng
trên
chín
tầng
mây
hay
sao?
Nhưng
đền
trời
vắng
vẻ
lắm,
đâu
được
vinh
hiển
như
nơi
tôn
miếu
của
triều
đình.
Phải
nói
ra
cho
có
cách
thần
bí
như
thế
thì
dân
chúng
mới
ham
thích
mà
theo
đạo
ta.
Cho
nên
trước
hết
phải
đem
thiên
đường
ra
để
dụ
dỗ
cái
tai
người
ta”.
Môn
đồ
nghe
nói
như
thế
bèn
cười
ồ
lên
cả.
Jêsu
lại
nói:
“Nói
địa
ngục,
các
ngươi
há
lại
không
hiểu?
Đất
liền
một
khối,
có
hang
lỗ
nào
thông
xuống
bên
dưới
đâu?
Dưới
đất
làm
gì
có
tù
ngục
để
tập
hợp
ma
quỷ
cho
chúng
ăn
thịt
người?
Giá
như
có
một
cái
ngục
như
thế
chăng
nữa
thì
lũ
ma
quỷ
kia
vào
ra
đường
nào
mà
hại
người
được?
Các
ngươi
chẳng
lẽ
không
thấy
quỷ
thần
đều
ở
trên
mặt
đất
cả,
có
cái
gì
gọi
là
địa
ngục
đâu?
Chẳng
qua
chôn
người
chết
xuống
đất
thì
gọi
là
âm
phủ
[67] mà thôi. Địa ngục tối om,
ai
dễ
thấy
quỷ
sứ
cai
quản
cái
ngục
ấy?
Nguyên
do
ta
nói
cái
chuyện
mập
mờ
bí
hiểm
ấy
là
muốn
cho
người
ta
kiên
tâm
theo
đạo
ta
mà
thôi.
Cho
nên
trước
hết
phải
đem
địa
ngục
ra
dọa
cho
người
ta
sợ
đã”.
Môn
đồ
nói:
“Như
vậy
những
điều
thầy
dạy
về
phúc,
thiện,
họa,
dâm
đều
chẳng
có
gì
hết
hay
sao?”
Jêsu
nói:
“Không
phải
thế!
Đó
là
nhằm
vào
những
việc
đại
gian
đại
ác
chứ
đâu
phải
để ý
đến
những
chuyện
vặt
vãnh
linh
tinh!
Những
kẻ
ngu
ngốc
thật
dễ
lừa
dối
lắm
thay!”
Nói
đến
đó,
thầy
trò
Jêsu
đều
huơ
tay
cười
vang
[68] .
Môn
đồ
lại
hỏi
về
thuyết
tận
thế
có
thật
hay
không?
Jêsu
đáp:
“Có
chứ.
Nhưng
trời
đất
từ
lúc
bắt
đầu
đến
lúc
chung
tận
cứ
một
nguyên
là
12
hội
[69] , cứ thế chẳng biết đến mấy
nghìn
vạn
năm
[70] , vận trời mở đóng rất khó,
đâu
phải
đột
nhiên
tận
diệt?
Ta
phải
bịa
ra
cái
chuyện
mưa
dầu
hạn
lửa
khiến
cho
người
ta
phải
sợ
hãi,
có
thế
họ
mới
kiên
lòng
tông
sùng
đạo
ta.
Khi
gặp
sự
biến
giặc
dã
tai
dị
thì
phải
dọa
rằng:
“Nay
xem
thiên
tượng
thấy
nhật
thực,
động
đất,
đó
là
điềm
báo
trước
ngày
tận
thế
chỉ
trong
khoảng
chưa
đầy
ba
mươi
năm
nữa
mà
thôi,
con
chiên
cần
phải
lo
tu
tỉnh
để
được
lên
thiên
đường”.
Lời
nói
có
chứng
nghiệm
như
thế
thì
dân
chúng
lại
càng
sợ,
không
kịp
rỗi
để
mà
hưởng
cuộc
sống
yên
vui”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Thầy
nói
về
thuyết
tận
thế
chung
và
tận
thế
riêng
là
nghĩa
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Cái
chết
của
một
người
nào
thì
ta
gọi
là
“tận
thế
riêng”
của
người
đó.
Nói
như
thế
thì
ai
nghe
cũng
phải
lấy
làm
mừng
là
sẽ
tránh
được
cái
khổ
sở
khủng
khiếp
của
ngày
tận
thế
chung.
Có
thế
họ
mới
vui
mà
theo
đạo
ta,
coi
chết
như
về”
[71] .
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Thầy
nói
người
ta
quý
nhất
là
phần
hồn,
còn
phần
xác
do
đất
vắt
nên
chỉ
là
vật
hèn
mọn,
như
vậy
là
thế
nào?”
Jêsu
ha
hả
cười
vang
mà
đáp:
“Trong
khoảng
trời
đất
này,
vật
gì
lâu
ngày
cũng
hư
hoại,
hư
hoại
thì
biến
thành
đất,
nào
phải
riêng
gì
thể
xác
người
ta!
Như
vậy
thể
xác
quả
thật
là
vật
hèn
mọn
chăng?
Nếu
là
hèn
mọn
cần
gì
phải
trang
sức
mũ
áo?
Người
giàu
sang
sao
lại
không
dám
lấy
kẻ
ăn
mày?
Thể
xác
với
thể
xác
đều
cùng
một
công
dụng,
có
gì
phân
biệt
sang
hèn?
Nhưng
ta
lo
rằng
người
ta
không
quý
gì
hơn
mạng
sống,
nếu
có
kẻ
dùng
vũ
lực
mà
uy
hiếp
thì
người
ta
không
tôn
thờ
đạo
ta
nữa.
Cho
nên
trước
hết
ta
phải
đem
cái
thuyết
ấy
ra
lừa
phỉnh,
kiến
cho
những
kẻ
ngu
khờ
tin
rằng
thể
xác
của
họ
đúng
là
vật
hèn
mọn
do
đất
vắt
ra,
tự
cho
là
không
đáng
quý
trọng
mà
chỉ
có
linh
hồn
mới
thật
đáng
quý
trọng.
Đó
chính
là
cái
mồi
để
nhử
họ
luôn
luôn
kiên
lòng
theo
đạo
ta.
Như
thế
dù
nhà
vua
đột
nhiên
cấm
đạo,
dẫu
có
phải
đứng
trước
gươm
giáo
sáng
lòe,
người
ta
vẫn
coi
như
sự
sống
mà
trước
sau
không
hai
lòng,
đạo
ta
do
vậy
mà
được
tôn
lên.
Vua
không
cấm
được
dân
nữa
thì
đạo
ta
được
tôn
thờ
vậy”
[72] .
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Thầy
nói
ông
Nôê
có
nghìn
con
vạn
cháu,
sau
thành
ra
người
muôn
nước;
ý
nghĩa
chuyện
ấy
như
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Ý
ta
muốn
liên
kết
lòng
dân
các
nước
khiến
họ
cùng
tôn
nước
ta,
cho
nên
mới
phải
đặt
ra
chuyện
ấy
khiến
cho
người
các
nước
khác
nhận
rằng
họ
đồng
tộc
đồng
tôn
với
người
Tây
Dương
[73] , như thế thì chẳng ai là
người
không
theo
về
với
nước
ta
vậy.
Chuyện
này
cũng
như
chuyện
Ađam
đều
cùng
một
ý
tôn
thờ
chúa
Trời”.
Môn
đồ
hỏi
về
việc
các
thầy
cả
chịu
phép
cắt
đầu
dương
vật.
Jêsu
đáp:
“Chẳng
có
việc
gì
không
có ý
kín.
Sở
dĩ
làm
phép
ấy
một
là
để
ngăn
chặn
lòng
ham
muốn
nhục
dục,
hai
là
để
cho
các
thầy
tu
khỏi
bỏ
đạo
giữa
chừng.
Chỉ
một
thầy
tù
nổi
lòng
dâm
hoặc
nửa
chừng
bỏ
đạo
thì
dân
chúng
sẽ
khinh
thường,
không
theo
đạo
nữa”.
Môn
đồ
lại
hỏi:
“Mỗi
làng
đều
có
hai
hòm
quỹ:
một
hòm
gọi
là
quỹ
chung,
chi
dùng
cho
công
việc
của
nhà
thờ;
một
hòm
đựng
tiền
thu
được
khi
làm
lễ,
gọi
là
quỹ
tế
bần
(quỹ
cứu
giúp
người
nghèo).
Vậy
mà
chúng
tôi
thấy
mỗi
khi
có
việc
chi
tiêu
chung
của
nhà
thờ
đều
do
giáo
đồ
đóng
góp
cả,
còn
những
kẻ
nghèo
khó
trong
các
làng
chưa
từng
nghe
nói
một
ai
được
cứu
giúp,
như
vậy
là
thế
nào?
Việc
này
hết
sức
bí
mật,
về
sau
sẽ
nói
rõ.
Jêsu
nói:
“Những
ý
trên
đây
ta
đã
nói
cho
các
ngươi
biết
rõ.
Song
ngoài
những
phép
kín
ấy
cũng
còn
có
nhiều
ý
khác
nữa!”.
Môn
đồ
hỏi:
“Thưa
thầy
bảo
sao?”.
Jêsu
đáp:
“Trong
nước
xảy
ra
nhiều
sự
loạn
nghịch
là
bởi
triều
đình
để
cho
dân
chúng
học
chữ,
đọc
sách,
biết
các
phép
thiên
văn,
địa
lý,
bói
toán,
v.v.
Dân
chúng
thông
hiểu
sách
vở
thì
sẽ
là
kẻ
địch
của
đạo
ta.
Ngày
nay
nếu
cấm
hẳn
việc
học
hành,
thì
dân
chúng
ngu
muội
[74] , không phân biệt được những
lời
thuyết
giáo
của
ta
là
phải
hay
trái,
không
biết
rõ
đạo
ta
là
chân
chính
hay
gian
tà,
để
cho
ai
muốn
theo
đạo
ta
thì
theo,
ai
muốn
theo
đạo
cũ
thì
theo
[75] , như thế có phải là thích
hơn
không
nào?
Các
ngươi
thử
nghĩ
mà
xem”
[76] .
Jêsu
lại
nói:
“Ngoài
các
phép
kín
còn
các
phép
kín
nữa”.
Môn
đồ
hỏi:
“Dám
phiền
thầy
chỉ
dạy
cho
chúng
con
được
rõ”.
Jêsu
thấp
giọng
nói
nhỏ
[77] rằng: “Ngăn trở đạo ta thì
chỉ
ở
những
kẻ
quyền
hào
và
những
người
thông
minh
trí
tuệ
mà
thôi.
Bọn
họ
thường
nạt
nộ
không
cho
dân
chúng
tôn
thờ
đạo
ta.
Tất
phải
giết
hết
bọn
ấy
đi
thì
sự
đạo
về
sau
mới
được
dễ
dàng”.
Môn
đồ
hỏi:
“Làm
thế
nào
mà
giết
được?”
Jêsu
đáp:
“Cứ
phải
thân
thiện
với
họ,
hết
sức
mềm
mỏng,
đi
lại
biếu
xén
quà
cáp
trước
sau
như
một,
cứ
dăm
tháng
một
lần
đem
thuốc
quý
rượu
ngon
đến
biếu.
Đợi
ba
bốn
năm
sau
họ
hết
nghi
ngờ,
rồi
đó
sẽ
bí
mật
lấy
thạch
tín
[78] trộn vào thục địa để làm
thang
dược
hoặc
bỏ
vào
thang
thuốc
hoặc
đem
ngâm
rượu,
chế
thành
viên
tễ,
v.v.
Nhân
một
dịp
kẻ
kia
bị
đau
ốm
loàng
xoàng
gì
đó
thì
từ
từ
đem
thuốc
ấy
mà
cho.
Chỉ
vài
tháng
sau,
kẻ
ấy
phải
chết,
có
thế
đạo
ta
mới
thành.
Trước
đây
ta
thường
dùng
sách
này
rất
nhiều,
nhưng
các
ngươi
không
hề
hay
biết.
Thằng
bé
Nacô
chỉ
là
một
kẻ
trong
số
đó
mà
thôi.
Cả
Xari
và
Annô
nữa,
há
chẳng
phải
cũng
bị
chết
bởi
cách
ấy
đó
sao?”.
Môn
đồ
sửng
sốt
đưa
mắt
nhìn
nhau,
Jêsu
nói
tiếp:
“Không
làm
như
thế,
nghĩa
là
các
ngươi
không
muốn
giết
bọn
họ,
ngày
sau
bọn
họ
được
vẻ
vang
đắc
chí
thì
họ
sẽ
giết
hết
các
ngươi.
Kẻ
nào
muốn
giết
ngươi
thì
ngươi
phải
giết
kẻ
ấy
đi,
đó
là
lẽ
đương
nhiên
vậy.
Có
gì
là
tội
lỗi?
Nhưng
phép
ấy
có
thể
cũng
chỉ
nên
đem
dùng
đối
với
người
nước
ngoài,
chứ
không
nên
dùng
đối
với
người
trong
nước”
[79] .
Tiếp
đó
Jêsu
bảo
các
môn
đồ
rằng:
“Bây
giờ
ta
dạy
cho
các
ngươi
nghi
thức
phép
Thánh
thể
(Mình
thánh)
[80] . Phép này thể hiện đủ các
phép
kín,
các
ngươi
hãy
họp
nhau
lại
ghi
chép
cho
hết,
từ
việc
rảy
nước
thánh
trở
đi,
ghi
xong
bao
phong
cất
kín.
Một
mặt
các
ngươi
phải
học
thuộc
lòng
những
lời
cầu
niệm
khi
làm
lễ,
tập
cho
thành
thạo
các
cách
thức
là
dấu
phép.
Sau
đó
sắm
sửa
các
đạo
phục,
chia
làm
hai
hạng”
[81] . Môn đồ thấy hình trang
đạo
phục
quả
là
kỳ
quái,
Jêsu
giải
thích
rằng:
“Mũ
triều
thiên
cùng
các
áo
lễ
để
các
ngươi
lúc
sống
mặc
vào
người
cho
vẻ
vang
tấm
thân,
khi
chết
thì
dùng
luôn
làm
đồ
liệm
[82] , đạo phục hạng thứ hai
cũng
có
công
dụng
như
thế.
Còn
về ý
nghĩa
thì
đai
thụng
đen
để
tượng
trưng
cho
việc
quân
Jiuđê
trói
ta
bằng
dây
da,
áo
trắng
có
các
dải
tua
là
để
tượng
trưng
cho
việc
ta
bị
bọn
chúng
trùm
khăn
trắng
lên
đầu.
Diềm
vải
trắng
xung
quanh
cổ
là
để
tượng
trưng
cho
việc
ta
bị
đeo
gông.
Các
chỗ
dải
tua
thắt
nút
là
để
tượng
trưng
cho
việc
ta
bị
xiềng
khóa.
Chiếc
đại
vải
buộc
đầu
tượng
trưng
việc
ta
bị
trói
vào
giá
câu
rút.
Áo
choàng
thụng
không
tay
là
để
tượng
trưng
cho
việc
ngày
hôm
ấy
ta
bị
bọn
quân
lính
choàng
chiếc
váy
đỏ
lên
người”.
Môn
đồ
hỏi:
“Thầy
bảo
sắm
sửa
các
thứ
đạo
phục
rắc
rối
như
vậy
nhằm
mục
đích
gì?”
Jêsu
đáp:
“Một
là
để
ghi
nhớ
những
nỗi
cực
khổ
khi
ta
chịu
nạn,
hai
là
để
các
ngươi
khắc
sâu
trong
lòng,
dẫu
bị
cực
hình
như
thế
cũng
không
phản
đạo”.
Rồi
đó
đặt
thêm
kiểu
mũ
đen
bốn
góc”
[83] .
Jêsu
lại
dặn
rằng:
“Về
sau
các
ngươi
nên
cho
làm
nhiều
ảnh
và
tượng
mô
tả
việc
ta
bị
đóng
đanh
trên
giá
câu
rút,
treo
dựng
khắp
các
nơi
công
tư
trong
và
ngoài
nhà
thờ
để
các
ngươi
hằng
ngày
trông
thấy
mà
tự
thề
dầu
phải
chịu
chết
như
thế
cũng
không
bỏ
đạo”.
Môn
đồ
đồng
thanh
dạ
ran.
Định
xong
nghi
thức
áo
mũ,
Jêsu
bèn
phân
định
chức
đạo
cho
các
môn
đồ,
chia
thành
hai
bậc:
trên
là
vít
vồ
(tổng
giám
mục),
thứ
đến
là
giám
mục.
Tổng
giám
mục
bên
ngoài
mặc
đạo
phục
hạng
nhất,
bên
trong
mặc
thêm
đạo
phục
hạng
nhì.
Các
giám
mục
thì
cùng
dùng
đạo
phục
hạng
nhì
mà
thôi.
Phêrô
được
chỉ
định
giữa
chức
tổng
giám
mục,
các
môn
đồ
khác
đều
là
giám
mục.
Bấy
giờ
Jiuđa
[84] đã phản thầy, có người tên
là
Mathêu
[85] đến xin chịu đạo. Jêsu thấy
các
môn
đồ
đều
tỏ ý
ưng
thuận
bèn
đưa
vào
phòng
kín
cắt
đầu
dương
vật,
bôi
thuốc
cho
lành
rồi
cho
nhận
chức
giám
mục
cho
đủ
số
12
môn
đồ.
Tất
cả
11
giám
mục
đều
chịu
quyền
điều
khiển
của
giám
mục
đốc
chính.
Định
ra
các
cấp
bậc
làm
lễ:
phép
Cônfirmaxông,
phép
Cômônhong
[86] , phép quyết Antrixông
[87] , ngoài các giám mục không
ai
được
làm.
Chất
dầu
thánh
cũng
phải
do
giám
mục
điều
chế,
các
thầy
cả
chỉ
được
lĩnh
về
làm
lễ
mà
thôi
[88] . Ngoài ra những lễ khác
thì
thầy
cả
đều
được
phép
làm.
Lai
lịch
ra
cách
thức
đọc
lời
niệm:
đối
với
người
trong
nước,
vì
là
cùng
tiếng
nói
nên
phải
đọc
nhẩm
cho
khác
đi,
còn
đối
với
người
nước
ngoài,
vì
khác
tiếng
nghe
không
hiểu
thì
cứ
đọc
to
rõ.
Lại
định
ra
kiểu
làm
nhà
thờ
và
cách
thức
làm
lễ.
Đại
khái
kiểu
nhà
thờ
cũng
như
kiểu
nhà
ở.
Gian
giữa
lập
bàn
thờ
hình
con
ba
tầng,
trên
hẹp
dưới
rộng
như
nghi
thức
cung
điện
ở
trong
triều.
Bên
trên
treo
ảnh
chúa
Jêsu
hoặc
ảnh
đức
mẹ
Maria
bế
chúa
hài
đồng,
đằng
trước
có
màn
che,
đặt
đài
cắm
nến.
Môn
đồ
sắp
đặt
đầy
đủ
lễ
phục
cho
cha
xứ,
để ở
phía
bên
phải
bàn
thờ.
Bánh
thánh,
rượu
thánh
đặt
bên
trái
bàn
thờ.
Gian
thứ
hai
là
nơi
ngồi
của
các
môn
đồ.
Từ
gian
thứ
ba
trở
ra,
tùy
theo
chiều
dọc
nhà
thờ
lớn
dài
hay
ngắn
có
thể
chia
ra
hai
lãnh
vực
cho
giáo
dân
đàn
ông
ngồi
phía
trên,
đàn
bà
ngồi
phía
dưới.
Bắt
đầu
vào
lễ,
mọi
người
cùng
đọc
kinh
Mười
điều
răn
và
kinh
Bởi
trời
[89] . Đọc xong, cha xứ mặc thường
phục
để
đầu
trần
[90] từ trong tư thất đi lên nhà
thờ
ở
phía
bắc
gian
giữa,
có
một
người
phụ
lễ
đi
theo.
Cha
xứ
đứng
trước
bàn
thờ
đọc
lời
niệm
nhẩm
[91] . Niệm xong, bước lên thềm
để
xỏ
chân
vào
giày
rồi
theo
trình
tự
mà
mặc
lễ
phục
theo
đúng
nghi
thức
như
đã
nói,
đọc
lời
niệm
“an
phục”
[92] . Mặc lễ phục xong, quay
lại
phía
con
chiên
xòe
hai
bàn
tay
ra
rồi
nắm
lại
[93] . Niệm nhẩm
[94] , niệm xong lại hướng ra
phía
ngoài
giơ
tay
phải
làm
dấu
chữ
thập.
Làm
dấu
xong
quay
lại
hướng
lên
bàn
thờ
đọc
6
chương
kinh
[95] . Đọc xong, lắc chuông, gõ
mõ
ra
hiệu
thắp
nến
[96] , rồi làm lễ dâng rượu thánh,
bánh
thánh,
nghi
thức
như
đã
nói
ở
đoạn
trên.
Các
thiếu
nữ
đồng
trinh
cất
giọng
hát
chúc
[97] theo lối hát đuổi
[98] . Sau đó, những người đã
xưng
tội
chịu
lễ
cách
thức
như
đã
nói
trước
[99] . Cha xứ ngồi trên ghế lễ
hướng
xuống
phía
con
chiên
mà
tuyên
thị
lời
răn
[100] . Răn xong lại nhẩm đọc
mật
kinh
một
lần
nữa
rồi
trở
vào
tư
thất
[101] . Giáo dân ngồi lại đọc
kinh
Mười
điều
răn
để
kết
thúc
cuộc
lễ.
Phép
Cômônhong
bắt
đầu
có
từ
đó.
Định
xong
nghi
thức
phép
răn,
Jêsu
nói
tiếp:
“Bây
giờ
ta
dạy
các
ngươi
về
lễ
cập
môn.
Lễ
này
chủ
yếu
dùng
bánh
thánh
và
rượu
thánh,
đem
hai
thứ
đó
mà
cúng
ta.
Ngoài
hai
thứ
ấy
ra
cố
nhiên
vẫn
phải
có
đèn
nến,
để
linh
hồn
ta
dựa
vào
đó
mà
giáng
xuống,
nếu
không
thì
biết
dựa
vào
đâu?
Các
ngươi
chỉ
nói
đó
là
lễ
dâng
mình
thánh
chứ
không
được
nói
đó
là
lễ
thờ
cúng
linh
hồn
ta.
Nếu
nói
như
thế
giáo
dân
suy
ra
mà
biết
đạo
ta
cũng
không
bỏ
thờ
cúng,
do
đó
mà
trở
lại
theo
tục
thờ
cúng
tổ
tiên”.
Môn
đồ
vâng
dạ
nghe
lời.
Jêsu
lại
dặn
cách
làm
lễ:
“Lễ
này
ngày
nào
cũng
phải
làm.
Ngày
nào
các
ngươi
cũng
ăn
bánh
thánh,
uống
rượu
thánh,
ngày
nào
các
ngươi
cũng
được
ăn
linh
hồn
ta,
mặc
quần
áo
của
ta.
Như
vậy
các
ngươi
làm
lễ
cũng
như
chính
ta
làm
lễ
vậy.
Vả
lại
hằng
ngày
các
ngươi
gặp
gỡ
con
chiên,
dạy
họ
thêm
chút
tinh
thần,
họ
càng
dốc
lòng
tin
đạo,
dẫu
có
ai
dụ
dỗ
bỏ
đạo,
họ
cũng
không
lay
chuyển”.
Môn
đồ
vâng
dạ
tuân
lời.
Jêsu
lại
căn
dặn:
“Đạo
ta
thường
hay
làm
dấu
thánh
chữ
thập
là
có
hai
ý:
khi
ăn
uống,
làm
dấu
ấy
là
để
tưởng
nhớ
công
ơn
thiêng
liêng
của
ta.
Khi
trừ
tà
yểm
quỷ,
làm
dấu
ấy
là
có ý
dùng
giá
câu
rút
[102] mà trấn áp ma quỷ. Ma quỷ
thấy
giá
câu
rút
thì
kinh
sợ
như
thấy
gươm
đao
vậy.
Cho
nên
những
khi
cần
yểm
trừ
ma
quỷ
thì
phần
nhiều
phải
làm
dấu
chữ
thập”.
Rồi
đó,
Jêsu
lấy
ba
bộ
sách
khi
còn
sống
vẫn
thường
dùng
để
xem
thiên
văn,
địa
lý
và
tướng
người
trao
cho
các
môn
đồ
mà
căn
dặn
rằng:
“Phải
học
cho
tinh
thông
ba
bộ
sách
này
thì
mới
thực
hành
được
lời
dạy
của
ta”.
Jêsu
lại
trao
cho
môn
đồ
một
cuốn
sách
nói
về
âm
dương
thuật
số,
bói
toán
do
mình
soạn
ra,
bảo
rằng:
“Các
ngươi
phải
tinh
thông
các
thuật
ấy
để
làm
kế
phòng
thân,
không
được
tiết
lộ
cho
bọn
ngu
dốt
biết,
trong
đó
đã
có
[đủ
cơm
ăn]
áo
mặc
rồi
đấy”.
Các
phép
đã
sắp
đặt
xong,
Jêsu
lại
lấy
một
quyển
sách
thuốc
trong
đó
ghi
chép
các
phương
thuốc
hay
trao
cho
môn
đồ,
dặn
rằng:
“Đó
là
chỗ
dựa
để
gây
thế
lực
ban
đầu.
Trong
đời
ta
từng
đi
nhiều
nơi
trong
thiên
hạ,
những
điều
gì
sở
đắc
đều
có
ghi
chép
gom
thành
một
bản.
Nay
ta
trao
quyền
lại
cho
các
ngươi,
các
vít
vồ
và
giám
mục
các
ngươi
chia
nhau
đi
giảng
đạo.
Trước
sau
đi
qua
những
miền
nào,
nói
những
gì,
ta
đều
ghi
chép
lại
có
thứ
tự
cả.
Cứ
năm
mươi
năm
là
một
kỳ,
một
trăm
năm
là
một
lệ.
Phải
ba
trăm
năm,
bốn
trăm
hoặc
năm
trăm
năm
mới
biến
đổi
một
lần,
muốn
nhanh
cũng
không
được.
Đến
khi
việc
thành
[103] , các môn đồ của ta lớn
sẽ
làm
quốc
quân
(vua),
nhỏ
thì
cũng
là
quốc
sư”.
Môn
đồ
đáp:
“Kinh
vâng
lời
thầy
dạy”.
Jêsu
nói:
“Đi
đến
đâu
các
ngươi
cũng
phải
mang
theo
những
sách
ấy,
và
cũng
phải
có
nhiều
vàng
bạc
để
làm
vốn.
Thoạt
đầu,
thuê
nhà
ở
trọ,
đem
vàng
bạc
hàng
hóa
biếu
xén
cho
những
kẻ
quyền
hào
ở
địa
phương,
ai
mà
chẳng
nhận?
Đã
một
lần
ham
của
mà
nhận
thì
họ
sẽ
quý
mến,
sau
đó
phải
chịu
ơn
các
ngươi.
Lại
xem
có
ai
đau
ốm
bệnh
gì
có
thể
chữa
được
thì
cho
thuốc,
cứu
sống
họ
qua
lúc
hiểm
nguy
thì
tự
nhiên
họ
sẽ
tôn
các
ngươi
làm
thầy.
Rồi
đó
sẽ
xét
kỹ
tướng
mạo
xem
kẻ
ấy
thuộc
hạng
ngu
đần
hay
thông
minh
mà
tìm
cách
mê
hoặc
dụ
dỗ.
Khi
bốc
thuốc
chữa
bệnh
thì
phải
niệm
nhẩm
và
rảy
nước
thánh,
cốt
làm
cho
họ
trông
thấy
rồi
lòe
phỉnh
rằng:
“Đó
là
phép
diệu
của
đạo
ta,
chỉ
cần
một
lòng
tin
thực
thì
ắt
khỏi
bệnh,
không
có
lòng
tin
thì
không
chữa
được”.
Khi
một
kẻ
nào
đó
đang
đau
ốm
họ
không
thể
không
tin
ở
ta.
Chịu
uống
thuốc
của
ta
mà
khỏi
bệnh
ắt
họ
sẽ
ca
tụng
đạo
ta
là
thần
diệu.
Sau
đó
phỉnh
dụ
cho
họ
biết
đạo
ta
muốn
sự
phải
lấy
đức
tin
làm
đầu,
cho
nên
chẳng
việc
gì
không
hiệu
quả.
Lại
thường
phải
lui
tới
viếng
thăm
luôn
để
biết
rõ
kẻ
ấy
có
thật
lòng
tin
ở
phép
nước
thánh
và
niệm
chú
chữa
bệnh
hay
không.
Nếu
thấy
kẻ
ấy
thật
lòng
tin
thì
hãy
đem
tặng
hàng
hóa.
Cứ
như
thế
lâu
ngày
kẻ
ấy
cũng
phải
xiêu
lòng.
“Nếu
có
người
ốm
do
bị
tà
ma
ám
ảnh
thì
rảy
nước
thánh
cho
họ
dọa
rằng:
“Nước
phép
này
rất
linh
thiêng,
đã
rảy
vào
đâu
thì
bệnh
tật
tà
ma
đều
phải
tan
biến”.
Nhìn
kỹ
nét
mặt,
nếu
thấy
thái
độ
người
ấy
nửa
tin
nửa
ngờ
thì
chớ
vội
nói
đến
tên
Đức
chúa
Jêsu,
mà
phải
tùy
theo
nghề
nghiệp
của
từng
người,
trước
hết
đem
ông
trời
ra
mà
dọa,
thì
họ
không
cảm
thấy
điều
gì
là
trái.
Khi
họ
đã
tin
rồi,
các
ngươi
mới
thong
thả
bảo
rằng:
“Trời
đất
rộng
lớn
vô
hạn
cần
phải
biết
là
có
một
kẻ
làm
chúa
tể
hết
thảy,
như
vậy
mới
gọi
là
có
hiểu
biết”
[104] . Đại khái cứ nói như
thế,
ai
dám
bảo
là
sai?
Sau
đó
dần
dần
dụ
dỗ
hỏi
rằng:
“Đã
thật
tin
trên
trời
có
Thiên
Chúa
chưa?”.
Nếu
họ
đáp:
“Tin
rồi”,
thì
các
ngươi
bèn
khéo
léo
mà
bảo
rằng
[105] : “Thiên Chúa chỉ một
thôi,
nhưng
mà
có
ba
ngôi”.
Kẻ
kia
lấy
làm
ngạc
nhiên
hỏi
lại:
“Đã
nói
chỉ
có
một
ngôi,
sao
lại
còn
nói
ba
ngôi?”,
các
ngươi
bèn
át
giọng
mà
trả
lời:
“Ba
nhưng
cũng
là
một
thôi”.
Người
kia
hỏi
tại
sao
như
thế,
các
ngươi
đáp
rằng:
“Thứ
nhất
là
ngôi
Đức
chúa
Cha,
thứ
hai
là
ngôi
Đức
chúa
Con,
thứ
ba
là
ngôi
chúa
Phiritô
Santô”.
Có
ba
tên
gọi,
nhưng
kỳ
thực
chỉ
có
một
mà
thôi.
Nguyên
chúa
Trời
vốn
không
hình
không
dạng,
nhưng
vì
thương
người
đời
nhiều
kẻ
sa
vào
vòng
tội
lỗi,
nên
mới
cho
một
phần
linh
hồn
của
Đức
chúa
Cha,
tên
là
Jêsu
giáng
sinh
xuống
trần
để
dắt
đường
chỉ
lối
cho
dân
chúng,
còn
lại
ngôi
thứ
ba
vẫn
ở
trên
trời
[106] . Cho nên mới nói tuy là
ba
ngôi
nhưng
chỉ
một
chúa
Trời
mà
thôi”.
Môn
đồ
hỏi
lại
rằng:
“Cha
sinh
con,
con
sinh
cháu,
sao
lại
gọi
là
Phiritô
Santô?”
Jêsu
đáp:
“Nếu
chỉ
một
mình
ta ở
ngôi
hai
gọi
tên
là
Jêsu
thì
người
ta
biết
là
có ý
thiên
tư
một
mình
ta.
Cho
nên
phải
đặt
ra
một
tên
gọi
cho
ngôi
thứ
ba
để
tỏ
ra
công
bằng,
không
phải
chỉ
tông
riêng
một
mình
ta.
Người
đã
tin
chúa
Trời
thì
tự
nhiên
ta
cũng
được
tôn
trọng
rồi”
[107] .
Môn
đồ
nói:
“Lời
giảng
của
thầy
thật
hay
quá!”
Jêsu
nói:
“Xem
chừng
người
ta
đã
tin
cái
thuyết
chúa
Trời
ba
ngôi
rồi
thì
bảo
họ
rằng:
“Trên
trời
có
thiên
đường,
dưới
đất
có
địa
ngục.
Trên
thiên
đường
có
các
vị
thánh
chuyên
việc
phạt
tội.
Nếu
kẻ
nào
giữ
lòng
nghi
ngờ
không
tin
đạo,
kẻ
áy
sẽ
bị
ma
quỷ
mê
hoặc,
sau
khi
chết
không
được
lên
thiên
đường”.
Người
ta
ai
mà
chẳng
sợ
ma
quỷ?
Nghe
nói
như
thế
họ
càng
vững
lòng
tin
đạo
ta
hơn.
Nhưng
hãy
cứ
nói
đến
đấy
đã,
để
xem
thái
độ
họ
thế
nào?
Nếu
thấy
họ
còn
nửa
tin
nửa
ngờ
thì
hãy
cho
họ
thêm
một
ít
vàng
lụa
nữa.
Nếu
kẻ
kia
vẫn
chưa
hoàn
toàn
tin
hẳn
thì
càng
cần
phải
năng
đi
lại
quan
hệ,
biếu
thuốc
chữa
bệnh,
cho
tiền
của
để
làm
mê
đắm,
kiên
trì
đến
mười
năm
thì
lòng
họ
cũng
phải
mềm.
Cho
nên
lâu
lâu
lại
phải
thử
xem
họ
đã
thật
lòng
tin
chưa.
Hễ
họ
đã
tin
chúa
Trời
thì
dần
dần
họ
cũng
sẽ
tin
ta
(Jêsu)
và
Phiritô
Santô.
Thế
là
họ
sẽ
chịu
theo
các
điều
ta
dạy
như
không
dùng
thịt
trong
lễ
tế
chúa
Trời,
v.v.
Cứ
thế
khuyên
dụ
họ
dần
dần
thì
chẳng
điều
gì
họ
không
tin
theo.
Những
việc
như
bốc
thuốc
chữa
bệnh
khiến
cho
người
ta
mê
đắm;
nói
về
chuyện
thiên
đường
để
cho
có
vẻ
thần
bí;
nói
về
chuyện
địa
ngục,
ngày
tận
thế
khiến
cho
người
ta
khiếp
sợ;
bỏ
việc
cúng
tế
khiến
cho
quỷ
thần
không
biết
nương
dựa
vào
đâu;
đặt
lệ
chôn
sâu
khiến
cho
linh
hồn
người
chết
bị
chôn
vùi;
cắt
yểm
mạch
đất
khiến
cho
dân
chúng
đần
độn;
đặt
phép
rửa
tội,
phép
Cônfirmaxông
(kiên
đạo)
để
tiêu
diệt
lý
trí
của
người
ta;
phép
xức
dầu
thánh,
lễ
Quy
lăng,
lễ
Điện
táng
để
tiêu
diệt
linh
hồn
người
ta;
các
phép
xưng
tội,
giải
tội,
chuộc
tội
để
kiểm
nghiệm
lòng
tin
của
người
ta;
phép
bánh
thánh
để
làm
tinh
thần
ngưng
tụ;
phép
hôn
thú
một
vợ
một
chồng
là
để
giảm
bớt
sinh
đẻ;
cho
lấy
nhau
chung
lộn
huyết
thống
là
để
cho
con
cái
sinh
ra
phải
ngu
đần;
phục
thuốc
độc
để
giết
hại
thân
hào
các
nơi,
v.v.
Tất
cả
đều
là
diệu
pháp
nhằm
làm
cho
người
sống
trở
nên
u
mê,
người
chết
tuyệt
linh
hồn,
mà
lõi
cốt
thì
lấy
việc
cắt
yểm
mạch
đất
làm
chính:
phá
một
hướng
đất
mồ
mả
có
thể
làm
ngu
một
họ,
cắt
một
long
mạch
có
thể
làm
ngu
một
làng,
đứt
một
mạch
núi
có
thể
làm
ngu
một
huyện.
Làm
được
như
thế
thì
trước
hết
dân
họ
sẽ
trở
thành
dân
theo
đạo
ta,
sau
ba
trăm
năm
thì
quân
lính
nào
cũng
là
quân
lính
của
ta,
sau
năm
trăm
năm
thì
quan
tướng
của
họ
cũng
là
quan
tướng
của
ta.
Đến
khi
ấy,
dẫu
vua
nước
họ
có
giết
dân
theo
đạo
ta ở
nước
họ,
thì
ta
cũng
đã
có
cách
đối
phó,
có
nước
nào
lại
không
phải
là
nước
của
ta
[108] .
“Còn
như
[lệ]
các
làng
đạo
nộp
tiền
là
để
đề
phòng
một
khi
nhà
vua
hạ
lệnh
cấm
đạo
của
ta
thì
đã
sẵn
có
tiền
đó
để
lo
lót
xin
chuộc
mạng
cho
người
bị
bắt.
Một
lúc
có
ngay
hàng
trăm
vạn
quan
tiền
thì
giống
chó
có
bao
giờ
chê
thịt?
Ta
cứ
ném
tiền
cho
chúng
thì
chúng
sẽ
sa
mưu
kế
của
ta
[109] , đạo ta nhờ thế mà tồn
tại
lâu
dài
bất
diệt”.
Môn
đồ
sụp
đầu
vái
lạy
tung
hô
rằng:
“Thầy
thật
là
bậc
cao
minh
viễn
kiến,
lo
toan
trước
mọi
việc
sau
năm
trăm
năm!”
Rồi
đó
Jêsu
đúc
kết
tất
cả
những
phép
kín
thành
một
lời
giới
răn
(đại
giới)
bảo
các
môn
đồ
khắc
sâu
vào
lòng
chỉ
một
lời
“Sacramentô”.
Môn
đồ
hỏi
lại:
“Lời
ấy
trước
đây
chúng
con
từng
nghe
thầy
nói,
xin
thầy
cho
biết
ý
nghĩa
thế
nào?”
Jêsu
đáp:
“Gộp
chung
đại
ý có
nghĩa
là:
trên
dưới
một
lòng,
vững
như
sắt
đá,
người
trước
chết,
người
sau
tiếp,
gặp
nạn
cũng
không
sờn
lòng
[110] . Được như thế thì một
mình
ta
có
nghìn
vạn
anh
linh,
mà
bờ
cõi
các
nước
ngoài
sau
năm
trăm
năm
cũng
sẽ
thu
về
một
mối”.
Môn
đồ
đồng
thanh
dạ
ran
[111] , Jêsu bèn chọn Phêrô làm
đốc
chính
cai
quản
tất
cả
12
giám
mục,
căn
dặn
rằng:
“Xét
ra
nước
Jiuđê
có
nhiều
mạch
đất
hùng
mạnh,
cho
nên
dân
chúng
phần
nhiều
hung
hãn
cứng
đầu,
cần
phải
theo
phép
ta
dạy
mà
làm
[112] thì đạo ta mới thoát hiểm
họa.
Các
ngươi
phải
cố
gắng
mà
sống
[113] , ít nhất cũng phải có
ba,
bốn
người
trốn
sang
nước
Italia
[114] tự xưng là tổng giám mục,
xin
vào
yết
kiến
nhà
vua.
Nước
ấy
nhiều
long
mạch
sâu
hiểm,
ngày
trước
ta
từng
xem
đất
đặt
mộ
tổ
cho
vua
họ,
may
ra
họ
nể
tình
mà
bao
dung
các
ngươi
cũng
nên.
Nếu
được
như
vậy
thì
hẳn
là
có
lợi
cho
đạo
ta
[115] . Khi trước ta từng thuyết
giáo
khuyên
dụ
nước
ấy,
là
cốt
để
khi
gặp
nguy
cấp
có
nơi
mà
trú
chân.
Đó
cũng
là
một
ý
kín
nữa
vậy”
[116] .
Môn
đồ
vâng
dạ
tuân
lời.
Rồi
đó
thể
phách
Jêsu
bỗng
bay
vút
lên
không
mà
biến
mất
cùng
với
đoàn
quỷ
sứ
LâmBô
tùy
tòng.
Các
tòa
lâu
đài
nguy
nga
cũng
phút
chốc
tiêu
tan.
Các
môn
đồ
ngửa
mặt
lên
trời
mà
vái
lạy.
Cha
mẹ
Jêsu
thảm
thiết
kêu
gào
van
nài
Jêsu
ở
lại
thu
xếp
việc
nhà,
nhưng
Jêsu
không
đoái
tới
[117] .
Mấy
ngày
sau
các
môn
đồ
lại
tụ
tập
ở
nhà
cha
mẹ
Jêsu.
Chợt
có
một
ngọn
lửa
giống
hình
chiếc
lưỡi
từ
trên
cao
rơi
xuống
rồi
hóa
thành
một
người
có
cánh
có
lông
như
chim,
tự
xưng:
“Ta
là
chúa
ngôi
ba
Phiritô
Santô
hiển
linh
thành
lưỡi
lửa
giúp
cho
các
ngươi
khi
đi
giảng
đạo
ở
nước
ngoài,
đến
nước
nào
thì
nghe
hiểu
được
tiếng
của
người
nước
ấy”.
Nói
xong
liền
biến
thành
một
con
chim
bồ
câu
[118] mà bay đi.
Sách
Thực
lục
thì
chỉ
ghi
như
vậy,
nhưng
sách
Bí
lục
thì
nói
rằng
kẻ
hình
người
cánh
chim
ấy
chính
là
linh
hồn
Jêsu
hiện
lên
để
chứng
tỏ
lời
mình
nói
chúa
Trời
ba
ngôi
là
có
thật.
Còn
sách
Ngoại
lục
thì
nói
rằng
đó
là
đức
chúa
ngôi
ba
Phiritô
Santô,
cho
nên
ngày
nay
có
cuộc
lễ
gọi
là
lễ
chúa
Phiritô
Santô
hiện
xuống
[119] . Theo lý mà suy thì lời
kín
của
Jêsu
đã
nói
rằng
chúa
Trời
chỉ
có
một,
chẳng
phải
có
ba.
Nhưng
y là
kẻ
rất
quỷ
quyệt
nghi
ngờ
gì
nữa.
Lại
còn
cái
thuyết
nói
nhờ
lưỡi
lửa
ấy
mà
các
môn
đồ
của
Jêsu
đi
đến
đâu
đều
hiểu
tiếng
nước
ấy
thì
lại
càng
quỷ
quyệt
lắm.
Đại
phàm
cư
trú
lâu
ngày
ở
nước
ngoài
thì
hiểu
tiếng
nước
ấy
chứ
cần
gì
phải
có
cái
lưỡi
lửa?
Sách
Ngoại
lục
lừa
bịp
người
ta
phần
nhiều
là
như
vậy.
[1]Nguyên
văn:
tô
phách
(phách
là
phần
xác,
đối
với
phần
hồn).
Người
chết
mà
sống
lại,
ăn
nói
đi
đứng
như
người
sống,
trong
các
truyền
thuyết
huyền
thoại
nói
chung
thường
có
thể
gọi
là
hồn.
Nhưng
huyền
thoại
Gia
Tô
giáo
đều
nói
chính
phần
xác
của
Jêsu
sống
lại
trong
ngày
Phục
sinh
(ba
ngày
sau
khi
bị
đóng
đanh
câu
rút),
chứ
không
phải
chỉ
hiện
hồn
về.
Xem
Phúc
âm:
“Nhưng
mà
ông
Phêrô
chạy
ra
xem
mồ:
ông
ấy
chạy
ra
thì
thấy
trong
mồ
chỉ
còn
những
đồ
liệm
xác
Đức
chúa
Jêsu
ở
đấy
mà
thôi”
(Luca,
XXIV,
1,
12)
cũng
xem
Juan,
XX,
1,
6).
[2]Nguyên thư chép là “linh điểu”
(chim
tích
linh),
sửa
là
cáp
diều
(bồ
câu).
[3]Dân tả đạo, cha mẹ vái lạy con
cái
từ
đó.
[4]Nguyên thư chép: “Ngô bình nhật,
kiến
chung
nhân
thăng
thiên
đường”
(Ta
thường
ngày
thấy
mọi
người
lên
thiên
đường).
Theo
lời
kể
của
tác
giả,
bạn
đọc
sẽ
thấy
ở
đoạn
này
chính
Jêsu
đang
phải
thuyết
phục
cho
các
môn
đồ
tin
là
mình
đã
lên
thiên
đường
(chứ
không
phải
thường
ngày
đã
trông
thấy
việc
ấy).
Chúng
tôi
ngờ
nguyên
thư
có
sai
thiếu
vài
chữ,
hợp
lý
có
lẽ
là:
Ngô
bình
nhật
thuyết
chúng
nhân
thăng
thiên
đường
[chi
sự.]
[5]Nay dân đạo thường hay nói câu
ấy.
[6]Câu nói này khiến cho đến ngày
nay
chẳng
ai
là
không
muốn
đập
cho
nát
cái
đầu
Jêsu
ra!
Than
ôi!
Bọn
chó
má
đem
thói
tục
man
di
làm
rối
loạn
đất
hoa
hạ
(văn
minh),
thật
quá
lắm
vậy.
Nguyên
thư
chép
lời
bình
này
ở
câu
sau,
xin
chuyển
lên
cuối
câu
trước,
thích
hợp
hơn.
[7]Vua thiên tử ngồi quay mặt về
phía
nam.
Đây
nói
Jêsu
ngồi
ở
ngôi
lầu
phía
bắc
nhìn
về
phía
nam
tức
là
ngôi
ghế
vua
thiên
tử.
Nguyên
văn:
lâu
âm
(ngôi
lầu
phía
âm).
Âm,
dương,
ngoài
nghĩa
thường
gặp
còn
dùng
để
chỉ
vị
trí:
dương
=
nam,
âm =
bắc
(đối
với
núi,
đối
với
sông
thì
ngược
lại).
Các
ngôi
lầu
trong
huyền
thoại
kể
đây
có
quy
mô
to
lớn,
tính
vị
trí
như
đối
với
núi,
do
đó:
âm =
lầu
bắc
(ngôi
lầu
phía
bắc).
[8]Nguyên văn viết là: “thâm táng
dĩ
trầm
chi”.
Trầm
nghĩa
là
chìm
trong
nước,
dùng
vào
đây
có
phần
không
chính
xác
lắm,
tuy
vậy
cũng
tạm
rõ
ý,
xin
dịch
là:
chìm
lấp.
[9]Trẻ chết non, tương truyền thường
hay
hiện
hồn
làm
yêu
quái,
vì
vậy
dân
chúng
kiêng
kị
ít
người
muốn
đi
dự
đám
tang.
[10]Lộ hết tất cả do gốc gác của
điều
kín.
[11]Người Tây với người Tây thì
họ
niệm
nhẩm
lí
nhí
(mật
chú),
bởi
vì
tiếng
các
nước
bên
Tây
đại
khái
tương
đồng
(sợ
người
ta
nghe
rõ),
cho
nên
phải
niệm
nhẩm.
Còn
các
cố
đạo
cầu
niệm
cho
người
nước
khác
thì
cứ
đọc
to,
bởi
vì
khác
tiếng,
người
ta
nghe
không
hiểu.
[12]Các cố đạo thường bảo môn đồ
hễ
thấy
trẻ
con
ăn
mày
thì
giả
cách
cho
tiền
cho
thuốc
để
dỗ
nó
làm
phép
rửa.
Những
năm
mất
mùa
đói
kém,
các
cha
cố
và
cả
những
người
giúp
lễ
chia
nhau
đi
các
nơi
làm
lễ
rửa
tội,
cũng
đều
một
lý
do
như
vậy
mà
thôi.
Rửa
tội
được
cho
một
người
cũng
tức
là
phép
lễ
đầu
tiên
để
đưa
thêm
một
người
theo
đạo.
[13]Nguyên thư chép: “…từ tâm tắc
dũng
nhuệ”,
xét
theo
ý
thì
thiếu
một
chữ
“vô”;
từ
tâm
tắc
vô
dũng
nhuệ.
Đã
đính
chính.
[14]Ngày nay tả đạo làm sách an
ủi:
khi
có
người
ốm
nặng
sắp
chết,
một
thầy
tu ở
lại
trong
nhà
ngồi
cạnh
mà
đọc.
Lời
an
ủi
trong
sách
đại
khái
lừa
phỉnh
người
hấp
hối
về
niềm
vui
ở
trên
thiên
đường,
mặt
khác
lại
kể
những
hình
phạt
ở
dưới
địa
ngục
để
đe
dọa.
Lại
bảo
rằng
người
ấy
được
Chúa
rủ
lòng
yêu
mến
hơn
kẻ
khác.
Nếu
có
người
lúc
chết
vật
vã
không
được
thanh
thản
thì
phải
đặt
ngực
bụng
cho
bằng
phẳng
để
thở.
Đến
lúc
kẻ
ấy
sắp
chết
thì
khuyên
dỗ
con
cháu
rằng
người
ấy
được
chúa
Trời
yêu
mến
rất
mực,
há
lại
chẳng
hơn
kẻ
ốm
liệt
mê
man
hàng
năm
rồi
mới
được
rời
hồn
khỏi
xác!
[15]Tả đạo nói “quyết” (bắt quyết)
là
“pháp”
(làm
phép)
để
phân
biệt
với
chữ
Hán.
Nguyên
văn:
“Tả
thủ
chấp
đinh
pháp”
(tay
trái
cầm
đinh
phép).
Ở
trên
đã
nói
lấy
đinh
mà
thành
bột,
trộn
với
dầu
và
bạc
hà.
Cho
nên
đinh
phép
nói
đây
chính
là
bát
dầu
phép.
[16]Nếu không phải vì chuyện đó
thì
cần
gì
phải
vây
màn
tướng
ngăn
cách
mọi
người?
Dân
tả
đạo
sao
không
hiểu
ra?
[17]Nguyên thư chép: “Kim nhữ thử
phách,
hạ
thổ
hạ
thổ,
dữ
phách
cụ
hủ”,
chữ
phách
thứ
hai
có
lẽ
là
chữ
“hồn”
mới
đúng.
[18]Xem câu này thật rất buồn
cười.
[19]Xem cung cách của thầy trò
Jêsu,
bất
giác
cũng
phải
phì
cười.
[20]Câu nói này đúng là một lời
buộc
tội
Jêsu.
[21]Nguyên thư chép: “…bất áp tha
phách
tắc
tha
trí
nhữ”
(không
đè
nén
xác
họ
thì
họ
sẽ
biết
các
ngươi).
Chúng
tôi
ngờ
trong
câu
này
có
chỗ
chép
nhầm.
Như
đã
chú
trong
quyển
này
hai
chữ
phách
và
hồn
có
vài
nơi
chép
nhầm.
Chữ
tha
có
lẽ
là
chữ
hà
chép
nhầm.
Xét
ý
nghĩa
liên
quan
với
câu
trước
thì
câu
này
đúng
ra
có
lẽ
là:
“bất
áp
tha
hồn,
tắc
hà
nhữ
thi”
(dịch
như
trên).
[22]Tả đạo có sách Luyện thư, gồm
3
quyển,
dùng
đọc
khi
thầy
cả
ốm
sắp
chết
để
luyện
khí
cho
thành
linh.
[23]Ngưng tụ và tiêu tan, theo
lập
luận
của
tác
giả
sách
này
là
hai
dạng
trái
ngược
khiến
cho
hồn
(của
người
sau
khi
chết)
thiêng
(linh
hồn)
hoặc
không
thiêng
(u
hồn).
[24]Nguyên văn: chân thủy = nước
thật.
[25]Nguyên thư chép: “huy kỳ thiên
đồng”.
Đồng
là
cái
ống
(ống
loa).
Ở vị
trí
chữ
“thiên”
phải
là
một
động
từ,
sánh
với
chữ
“huy”
(vẫy).
Có
lẽ
đó
là
chữ
chấp
(cầm)
chép
lầm?
[26]Đoạn này lời lẽ rườm ra, đại
để
đều
là
những
lời
tuyên
hồn
cho
thánh
linh.
Nay
chỉ
lược
biên
ra
những
câu
có
hệ
trọng
mà
thôi.
[27]Nguyên văn: phi mệnh nhi tử.
[28]Thật là những lời lẽ gượng
ép.
Nếu
như
thế
thì
vua
quan
bọn
chúng
chết
đúng
chính
mệnh
cũng
không
nên
lập
đền
thờ.
[29]Đó là ý kín của cha cố tả đạo
thong
dong
chịu
chết
lúc
lâm
hình.
[30]Nay tả đạo gọi là “xét mình”.
[31]Nguyên văn: chi nhật (đến
ngày
làm
lễ),
cách
nói
thời
gian
xét
về
phía
người
chịu
lễ,
còn
đối
với
các
cha
cố
thì
làm
phép
xưng
tội,
giải
tội
là
công
việc
thường
xuyên.
[32]Nguyên văn: “ngô tọa dữ nội”
(ta
ngồi
trong
cửa).
Xét
ý
đoạn
này
mượn
lời
Jêsu
dạy
các
môn
đồ
cách
làm
lễ
xưng
tội
(có
nói:
Ta
“thay
mặt
Đức
chúa
Jêsu”),
chúng
tôi
dịch
đổi
chủ
ngữ
là
“các
ngươi”
(môn
đồ
chúa
Jêsu)
cho
rõ
ý.
[33]Jêsu tự nhận là kẻ thay mặt
chúa
Trời,
các
thầy
tu
lại
tự
nhận
là
kẻ
thay
mặt
Jêsu,
thật
nực
cười.
[34]Chẳng biết ai là quỷ? Mà cũng
chẳng
biết
là
quỷ
moi
mắt
hay
người
moi
mắt?
[35]Khiến người ta làm chó lợn
hay
chính
là
làm
chó
râu?
[36]Mấy chữ “yên lặng hồi lâu”
cho
thấy
Jêsu
đã
lâm
vào
nước
bí.
Ngày
nay,
các
thầy
tu
khi
gặp
người
bài
bác
tả
đạo
thường
cũng
“yên
lặng
hồi
lâu”
rồi
mới
trả
lời.
[37]Nguyên thư chép: nguyên tội
vô
hiệu.
Chữ
hiệu
chắc
là
do
chữ
xá
(vô
xá =
không
tha)
chép
nhầm.
Hai
chữ
xá
và
hiệu
viết
thảo
không
khác
nhau
mấy.
[38]Xem đến đây cũng phải bật
cười
cho
Jêsu.
[39]Ba thứ: cầu Chúa giáng linh
cho
bánh
thánh,
tức
là
trong
miếng
bánh
đã
có
linh
hồn
của
Chúa
(“có
linh
hồn
của
ta”).
Cha
xứ
đọc
lời
niệm
làm
phép
mím
miệng
thổi
hơi,
tức
là
hà
hơi
thở
của
Chúa
vào
miệng
bánh
(“có
hơi
thở
của
ta”),
giơ
tay
chỉ
trỏ
làm
dấu
tức
là
lập
lại
cách
làm
dấu
phép
của
Jêsu.
Xem
Phúc
âm:
“Vì
chưng
thị
tao
thật
là
của
ăn
và
máu
tạo
thật
là
của
uống.
Ai
ăn
thịt
tao
và
uống
máu
tao
thì
ở
trong
mình
tao,
và
tao
ở
trong
mình
kẻ
ấy”.
(Juan,
VI,
8,
56-57).
[40]Một hôm xem cố đạo làm lễ,
tôi
thấy
người
ấy
cầm
miếng
bánh
lớn
giơ
lên
rồi
bẻ
ra
làm
tư
mà
nuốt.
Lại
cứ
cách
3
ngày
làm
lễ
một
lần,
chia
bánh
thánh
cho
mọi
người
ăn.
Có
khi
còn
lại
2
người
nhưng
chỉ
còn
1
miếng
bánh,
cố
đạo
bèn
bẻ
đôi
phát
cho
2
người
kia
mỗi
người
một
nửa.
Nếu
quả
thật
đó
là
chân
thân
linh
thiêng
của
chúa
Jêsu,
phải
nuốt
trửng
chứ
không
được
nhai,
thì
tại
sao
cố
đạo
kia
lại
được
bẻ
nhỏ
ra?
[41]Nguyên văn: chân tửu = rượu
thật,
tức
là
rượu
gạo
(mễ
tửu)
như
nguyên
chú
đã
ghi.
[42]Xem câu này thì thấy tả đạo
bắt
người
ta
không
dùng
rượu
gạo
để
tế
tổ
tiên,
chỉ
dùng
rượu
gạo
để
tế
Jêsu
(…triệt
tụ
mễ
tửu
tế
tổ,
chỉ
dĩ
mể
tửu
tế
tha)
(Lời
chú
này
trong
nguyên
thư
chép
ở
đoạn
trên
sau
câu:
“…
gọi
là
giáng
linh”),
không
ăn
khớp
với
chính
văn
xin
chuyển
xuống
vị
trí
này.
Mặt
khác
chúng
tôi
nhận
thấy
có
lẽ
có
sự
nhầm
lẫn
trong
lời
chú
ấy
vì
các
câu
văn
trên
dưới
không
thấy
nói
đến
việc
dùng
rượu
gạo
trong
nghi
lễ
đạo
Gia
Tô?
[43]Không theo tục thường (tế
bằng
rượu
gạo),
hiểm
thay!
[44]Dân tả đạo mỗi khi tụ hội làm
lễ
chỉ
xỏa
tóc
ngồi
nép
(có
xếp
hai
chân
về
một
phía,
ND),
khi
vái
lạy
chỉ
cúi
đầu
chắp
tay
mà
thôi.
[45]Ngày nay các cha cố dạy giáo
dân
rằng:
ai
chịu
đọc
sách
Ngữ
lục
của
chúa
Jêsu
thì
liền
đó
sẽ
hóa
thân
thành
thánh
thể
của
Jêsu,
còn
như
lời
niệm
của
cha
cố
ra
sao
thì
giáo
đồ
không
hiểu.
Về
sau
các
cố
đạo
nước
ngoài
khi
làm
lễ
lấy
nước
lã
làm
rượu
nói
dối
giáo
dân
rằng:
nguyên
là
người
phương
Tây
xưa
kia
không
biết
uống
rượu
nho.
[46]Xem đến đây chẳng ai nhịn
cười
được!
[47]Về sau người Tây Dương có lễ
các
thánh
lên
trời
giải
tội
cho
linh
hồn,
cũng
đều
một
ý
nghĩa
như
thế.
Nguyên
thư
chép
câu
này
chung
với
dòng
chính
văn,
chúng
tôi
nhận
thấy
đó
là
lời
ghi
thêm,
xin
điều
chỉnh
xuống
phần
nguyên
chú.
[48]Xem đoạn dưới thì biết ý mật
là
để
kiếm
tiền.
[49]Chúa Jêsu thật là tốt quá.
[50]Chữ “phép” (đúng phép) nghe
thực
nực
cười!
[51]Đáng thương gã thợ mộc Jiuse
và
vợ
là
Maria
lúc
trước
chưa
được
ai
bảo
ban
cho
nên
một
tháng
“làm”
sự
ấy
đến
mấy
lần!
[52]Cái thai trong bụng người ấy
chính
là
cái
gã ở
ngoài
thành
Bêtlêhem!
[53]Binh lính và tuần đinh (ở
Jêrusalem)
từng
bảo
rằng
Jêsu
dạy
vợ
chồng
người
ta
cách
ăn
nằm
với
nhau
trong
chốn
buồng
the,
đoán
chừng
thế
mà
đúng
đấy!
[54]Jêsu sao không lẻn vào trong
buồng
mà
kiểm
điểm
xem
sao?
[55]Nếu thần diệu như thế thì cần
gì
phải
lấy
vợ
lấy
chồng
rồi
mới
sinh
con
đẻ
cái?
[56]Phải tính đếm cho thật đúng
đấy!
[57]Gần đây có anh đồ nho họ Phạm
ở
Nam
Minh
(nguyên
văn
Nam
Minh.
Nói
Nam
Minh
tức
là
muốn
nói
một
địa
điểm
là
không
chỉ
rõ,
tự
như
nói
làng
mỗ,
làng
Bông
lông,
xã
Ba
la,
v.v.
Nam
Minh
nghĩa
là
biển
Nam,
do
câu
của
Trang
Tử:
Nam
Minh
giả,
thiên
trì
dã
(biển
Nam
là
ao
trời
vậy))
đùa
tếu
nói
với
một
ba
bốn
người
bên
đạo
rằng:
“Tôi
có
người
cùng
học
nho
nhưng
đi
đạo
mới
lấy
vợ.
Anh
ta
nói
với
tôi
rằng:
trước
hôm
cưới
đến
nhà
thờ
làm
lễ
xưng
tội,
cố
đạo
răn
bảo
nhiều
chuyện
tức
cười
lắm”.
Thế
là
mấy
người
bên
đạo
phật
ý
làm
thinh.
Rồi
cũng
anh
đồ
họ
Phạm
ấy
một
hôm
lại
nói
với
một
tốp
hai
ba ả
con
gái
bên
đạo
mới
về
nhà
chồng
rằng:
“Trong
họ
tôi
có
cô
con
gái
theo
đạo,
trước
khi
cưới
đi
nhà
thờ
làm
lễ
xưng
tội,
khi
về
nhà
kể
lại
cho
chồng
những
lời
răn
mật
của
cha
xứ.
Anh
chồng
này
là
một
tay
bạt
mạng,
đem
chuyện
kể
lại
với
tôi
rành
rọt
không
giấu
giếm,
nghe
ra
thật
lắm
chuyện
buồn
cười”.
Mấy
ả
kia
nghe
nói
như
thế
đều
phật
ý đỏ
mặt
bỏ
đi
nơi
khác.
Nay
muốn
thử
người
bên
đạo
cứ
nói
như
thế
là
biết
ngay.
[58]Nguyên văn: Ngũ phục = 5 loại
áo
tang
theo
tang
chế
ngày
trước,
tùy
theo
quan
hệ
thân
sơ
(trảm
thôi,
tề
thôi,
đại
công,
tiểu
công,
tư
ma).
Đây
nói
từ
hàng
“tái,
tùng”
tức
là
từ
hạng
2, 3
(tề
thôi,
đại
công)
trở
lên.
Đại
công:
kiểu
áo
dự
đám
tang
thuộc
hàng
anh
em
họ
(để
tang
6
tháng).
[59]Nay xem ra lời các cố đạo
khuyên
dỗ
quả
đ |