Bấm vào số dưới đây để chọn bài đọc
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu
Quyển III
Về Jiuđê, Jêsu bị án tử
hình
Bừng sáng núi, xác Jêsu
sống lại
Từ năm ba mươi tuổi trở về
trước, Jêsu cùng sống với
mẹ, nhưng vì việc giảng đạo
nên đi về nhiều lúc thất
thường
[1] . Phép đạo của Jêsu phần nhiều chỉ
thi hành được ở Êgiptô và
Jiuđê. Nhưng Jiuđê là nơi
Jêsu sinh ra thì dân chúng
lại hung tợn cứng đầu, khó
mê hoặc họ bằng những điều
trái lẽ, cho nên Jêsu nhiều
phen phải nhục nhã, lấy làm
căm giận lắm.
Năm ấy Jêsu 31 tuổi, một
mình về truyền đạo ở Jiuđê,
dặn kỹ các môn đồ phải cố
làm cho được việc. Sau 3 năm
đã thuyết phục được 5 huyện
[2] , nhưng
cũng chưa phải là toàn tòng.
Jêsu càng ra oai hách dịch.
Mỗi khi làm lễ, Jêsu đều đội
mũ triều thiên, mặc áo đỏ
đính cườm ngọc, tay trái cầm
gậy bạc, tay phải cầm cờ
phép, từ sắc mặt đến giọng
nói đều có vẻ gay gắt, cốt
để đàn áp tâm trí những kẻ
ngu khờ. Mỗi khi nhắc đến
chúa Trời, Jêsu đều nói là
“Cha ta”, khiến cho người ta
phải biết mình là con chúa
Trời. Jêsu lại bắt mọi người
phải lạy mình mà gọi là cha.
Nếu có ai dám hỏi lại điều
gì thì Jêsu cả tiếng quát
mắng. Môn đồ của Jêsu thấy
vậy lấy làm lo, nhưng mỗi
khi bọn họ khuyên bảo thì
Jêsu đều nói: “Ai dám hỏi
lại là kẻ đầu óc có chút trí
tuệ, tất phải mắng át đi
khiến tâm trí kẻ ấy rối lên
không kịp suy nghĩ phải trái
gì nữa. Đó không phải là
chuyện bọn người biết được!”
[3]
Tiếng tăm Jêsu đồn đại khắp
gần xa, ai ai nghe nói đến
cũng lấy làm ghét. Các quan
chức thân hào ở kinh thành
Jêrusalem
[4] bảo nhau rằng: “Hắn gọi gái trinh
vào quỳ trong phòng kín, rồi
lại bắt người ta gọi bằng
cha, chẳng phải chuyện ấy
thì là gì?” Nói đoạn nhìn
nhau mà cười. Một thân hào ở
thành ấy hắng giọng nói
rằng: “Hắn xưng là con chúa
Trời ắt là muốn làm chúa
Trời. Từ xưa đến nay những
tên phản nghịch quá lắm cũng
chỉ dám tự xưng “pape” (vua)
mà thôi
[5] , chưa có tên nào dám xưng là vua
trời như hắn. Xem bộ dạng
thì biết hắn mưu đồ tiếm
ngụy, chẳng còn nghi ngờ gì
nữa. Nay ta phải đến tận nơi
bắt tên giặc ấy xem sao!”
Rồi mọi người cùng nhau bàn
bạc tìm mưu kế.
Thầy trò Jêsu sau khi xảy ra
sự việc ở làng Prut, tự biết
có nhiều người căm ghét
mình. Vì vậy phải lẩn tránh,
ngày nghỉ đêm đi. Các môn đồ
cũng phải chịu khổ lây,
trong lòng sinh ra nghi sợ.
Jêsu tự biết mình là kẻ lắm
mưu mô giảo quyệt, thâm
hiểm, sợ môn đồ sinh lòng ly
tán, cho nên từ đó không cho
ai về thăm nhà, đến nay đã 3
năm
[6] . Jiuđa từ trước đã nảy sinh nhị
tâm, đến bấy giờ lại càng
oán giận Jêsu. Các môn đồ
khác bàn riêng với Jêsu nên
đuổi Jiuđa đi, nhưng Jêsu
nói: “Làm thế không được,
đuổi nó ra bây giờ thì mọi
chuyện của ta sẽ lộ hết, tai
họa chẳng phải nhỏ! Chi bằng
cứ nén lòng giữ hắn ở lại,
nhưng hắn đi đến đâu cũng
phải có người kèm sát là
được”. Từ đó Jêsu thường
đánh mắng làm nhục Jiuđa để
thử bụng hắn xem thế nào.
Jiuđa vẫn một mực kính vâng
như trước, vì thế Jêsu không
còn để ý nghi ngờ. Nguyên là
vì Jêsu phần nhiều dạy các
môn đồ những âm mưu gian
giảo, cho nên Jiuđa cũng lấy
âm mưu gian giảo mà đối đãi
lại, nhưng Jêsu chẳng hề hay
biết.
Năm ấy Jêsu vừa đúng 30 tuổi
[7] lấy làm
lo vì gặp nhiều gian nan thì
môn đồ sẽ thay lòng đổi dạ.
Để củng cố lòng tin cho các
môn đồ, Jêsu đưa bọn họ lên
núi Ôlivêtê
[8] thi thố nhiều thuật lạ. Một vùng
núi non khe suối bỗng bừng
ánh hồng rực rỡ, hoa cỏ lung
linh như giữa vườn thượng
uyển chốn thần tiên. Núi
rừng cao ráo, khí lành ấm áp
như mùa xuân. Quang cảnh ấy
tiếp diễn đến hơn 30 ngày.
Chừng muốn cho dân chúng
xung quanh vùng núi ấy phải
kinh lạ, còn đám môn đồ thêm
vững lòng, Phêrô vui mừng
nói rằng: “Cảnh cây đẹp quá,
con xin dựng nhà cho thầy
[9] ở trên
núi này, cần gì phải khó
nhọc theo đuổi hạng dân
chúng ngu khờ ngang ngạnh
kia”. Jêsu cười đáp rằng:
“Nếu theo đạo ta thì cảnh
tượng còn nhiều kỳ lạ nữa,
đâu phải chỉ có thế”.
Thầy trò Jêsu ở trên núi đã
lâu mà dân các làng quanh
núi từ lâu vẫn không mộ đạo
Jêsu, bảo nhau rằng: “Jêsu
muốn dùng phép lạ làm mồi
nhử chúng ta đây. Thoắt có
thoắt không, chẳng qua chỉ
vô ích mà thôi”
[10] . Jêsu nghe nói lại như vậy, biết
khó mà lừa dối nổi hạng trí
hào nước Jiuđê. Rồi đó Jêsu
đưa môn đồ xuống núi trở về.
Về nhà, Jêsu an ủi mẹ rằng:
“Số mệnh giảng đạo của tôi
ra chuyến này là cuối cùng,
về sau khó gặp lại nữa, bà
già đành lòng vậy”
[11] .
Năm nấy bà Maria đã 49 tuổi,
Jêsu nói như vậy chột dạ
sinh nghi, nhưng không hiểu
sao cả, gặng hỏi thì Jêsu
không nói rõ.
Ngày hôm sau, Jêsu dẫn 12
môn đồ đến một làng gần
Jêrusalem. Tại đây Jêsu
giảng đạo càng hăng, tay
phất cờ, miệng quát nạt dân
chúng
[12] . Có ba viên quản giáp ở thành
Jêrusalem biết tin Jêsu đến
giảng đạo lấy làm ghét lắm,
cùng nhau chích máu ăn thề
quyết không tham lam tiền
của hối lộ, rồi bàn việc bí
mật vây bắt, chỉ khó một
điều là chưa biết chắc chắn
Jêsu hiện ở chỗ nào. Bọn họ
bảo nhau: “Trong vùng ta có
tên Jiuđa là kẻ du đãng hám
tiền, lâu nay đã lén theo
làm môn đồ cho Jêsu thì ắt
là hắn phải biết rõ
[13] . Nay chúng ta đem điều lợi mà dụ
dỗ hắn, lại dọa nạt cho hắn
sợ uy thì công việc thế nào
cũng xong
[14] . Đêm ấy Jêsu sai môn đồ làm thịt
chiên để mở hội tế lớn
[15]
Chiên thui xong, thịt xả ra
từng mảnh bày trên chiếc
nong. Jêsu chỉ tay vào nong
thịt, bảo các môn đồ: “Thân
ta nay rồi cũng sẽ như vậy
đấy”. Các môn đồ thấy Jêsu
nói gở, ai nấy cả kinh. Các
sách đạo của người Tây tuy
nhiều, duy có hai sách Thực lục và
Bí lục
phần nhiều nói đúng sự thật.
Đoạn văn trên đây nói Jêsu
có phép lạ biết trước sự
việc sắp xảy ra, nhưng lại
không thể tránh được tai
họa, dường như có chỗ đáng
ngờ, như thế thì không thể
nói là không có. Cứ xem
trong sử Trung Quốc có
chuyện Quách Phác
[16] đoán trước được số mệnh của mình
mà cuối cùng cũng không
tránh khỏi bị Thạch Lặc làm
hại. Ngay như sự việc của
Jêsu thì lời nói ngày trước
của thầy cả Ximêôn
[17] cũng chính là lời nói tiên tri
rồi vậy. Jêsu kiếp trước là
sơn thần thì có lẽ cũng biết
phép tiên tri, điều đó không
có gì lấy làm lạ lắm. Nhưng
mà phép ấy hết sức nghiêm
mật, không thể cho biết quá
rõ một ngày trước khi sự
việc xảy ra. Điều ấy thì lạ
thật!
Jiuđa từ khi biết Jêsu đã
làm nhiều việc can phạm quốc
cấm thì ắt sẽ có ngày chuốc
lấy tai họa, sợ làm môn đồ
của y lâu ngày rồi cũng vị
vạ lây. Vì vậy, Jiuđa đã
nghĩ trước mưu kế để giữ cho
mình được yên thân
[18] . Đêm hôm ấy đang giữa đám hội,
Jiuđa lẻn trốn về về nhà,
lấy làm mừng vì được nghe
bàn tán về âm mưu của ba
viên quản giáp. Vừa lúc ấy
có người nhà của quản giáp
sai đến gọi, Jiuđa lập tức
đi ngay. Ba viên quản giáp
bảo Jiuđa rằng: “Thầy ngươi
là một tên tà ngụy, ắt không
được lâu, ngươi nên tính kế
trước đi. Nay vì ngươi là
dân trong bản hạt, nên chúng
ta báo trước cho ngươi biết.
Công việc chúng ta đã sắp
xếp sai phái đâu ra đó cả
rồi. Nay cho ngươi ba chục
đồng bạc hoa, chỉ cần ngươi
báo cho bọn ta biết Jêsu
hiện ở chỗ nào? Xong việc
ngươi đứng ra làm chứng về
mưu mô tiếm loạn của hắn.
Tiền này ba ta cấp cho ngươi
làm kế sinh nhai, còn như
việc tố giác kẻ làm giặc thì
ngươi còn được ban quan tước
nữa. Có điều lợi nào hơn thế
nữa?”.
Jiuđa nghe nói càng lấy làm
mừng. Ba viên quản giáp lại
nói: “Đêm nay cử sự, ắt phải
bắt cho bằng được Jêsu. Nếu
ngươi không nghe lời bọn ta
thì ngươi sẽ bị liên lụy
đấy, chớ trách bọn ta không
cho biết sớm”. Jiuđa nói:
“Cứ xem hắn ta áo mũ nghênh
ngang, công nhiên tụ tập dân
chúng thì chẳng bao lâu hắn
sẽ làm giặc. Các quan hội
họp ở đây thật có lòng tốt
với tôi”
[19] . Viên quản ti nói: “Đồ đảng của
hắn rất đông, làm thế nào để
nhận diện cho đúng hắn?”.
Jiuđa hẹn rằng: “Khi các
quan đến vây hắn, thấy tôi
hôn má ai thì kẻ ấy chính là
Jêsu
[20] . Thầy tôi là tay lắm phép thuật,
thường giỏi chạy trốn ban
đêm, lúc biến lúc hiện như
thần, các quan phải nên thận
trọng chớ để sơ xuất rồi sau
lại bắt tội tôi”. Ba viên
quản giáp hứa sẽ làm đúng
theo lời Jiuđa
[21] .
Jiuđa nhận bạc rồi ngay đêm
ấy trở về đám hội. Jêsu chột
dạ bèn gọi các môn đồ họp
lại mà bảo rằng: “Trong số
các con đây, có người bán ta
đấy!”. Môn đồ đưa mắt nhìn
nhau rồi theo lệ thường lần
lượt quỳ xuống hôn chân Jêsu
để bày tỏ lòng trung thành
[22] .
Jêsu muốn dùng mưu thuật để
chế ngự, bèn bảo môn đồ ngồi
thành hai hàng, mỗi bên 6
người. Rồi đó Jêsu bưng
chiếc chậu gỗ đựng nước lần
lượt rửa chân cho từng
người. Các môn đồ đều lấy
làm lạ, không dám giơ chân
cho Jêsu rửa, Jêsu một mực
bảo rằng: “Các con cứ để
thầy rửa cho, như thế mới là
có nghĩa với thầy”. Phêrô
nói: “Nếu để cho thầy rửa là
có nghĩa xin thầy cứ tắm
luôn cả người cho con!”.
Jêsu nói: “Không phải thế
đâu, ta chỉ rửa làm dấu một
chút là để các con nhớ mãi
ơn thầy”. Đến lúc ấy, các
môn đồ mới thuận theo. Đến
lượt rửa cho Jiuđa, Jêsu
nhận thấy ở bàn chân y có
triệu chứng bất an, lấy làm
ngờ lắm
[23] .
Rồi đó Jêsu ngồi ghế chính,
gọi môn đồ lại để truyền thụ
đại pháp Santi
[24] , cầm bút lông ngỗng viết mấy chữ
lớn “Sacramentô”
[25] , rồi nói: “Lấy tấm lòng thành
thật để mà hộ thân, giữ linh
hồn thì nuôi được chí khí
cứng mạnh”
[26] . Các môn đồ ai nấy đều lĩnh thụ
huấn pháp. Vì thế cho nên
ngày nay có cuộc lễ gọi là
lễ Truyền phép.
Xét các sách Giảng lục,
Ngoại lục và Ngâm Lục đều
nói rằng: “Nguyên có tên
Jiuđa mà môn đồ của chúa
Jêsu, chúa đã nuôi dưỡng hắn
nhiều năm và dạy dỗ cho hắn
những điều nhân từ lương
thiện, chẳng dè ma quỷ vẫn
cám dỗ lòng hắn, cho nên hắn
mới bán Đức chúa Jêsu cho
quân Jiuđê để lấy 30 đồng
bạc. Chúa Jêsu từ trước đã
muốn rời bỏ xứ ấy mà đi,
nhưng lại thương xót thiên
hạ phạm nhiều tội lỗi, cho
nên chúa mới xả thân chịu
chết để chuộc tội cho thiên
hạ. Chúa bèn từ biệt đức mẹ
đến giảng đạo ở kinh thành
Jêrusalem”.
“Đêm trước hôm bị nạn, Jêsu
bưng nước rửa chân cho hết
thảy các môn đồ. Đến lượt
Jiuđa, chúa Jêsu không rửa
bằng nước thường mà hòa thêm
nước mắt mình, có lẽ chúa lo
cho linh hồn của hắn bị phạt
tội phải đày xuống địa ngục,
cho nên mới làm như vậy.”
Nếu Jêsu đã là con chúa Trời
thì ma quỷ nào còn dám đến
gần dụ dỗ môn đồ của y? Vả
lại nếu Jêsu đã không biết
thương thân mình thì làm sao
còn thương được người khác?
Lại còn xảy ra đoạn nói về
việc rửa chân, thật rất vô
nghĩa lý. Nay tra cứu trong
sách Thực lục mới hay rằng
đó là cách Jêsu dùng để dò
xét các môn đồ.
Đại để người Tây Dương tôn
Jêsu là con chúa Trời, sợ
người ta ngờ rằng tại sao đã
là con chúa Trời mà lại còn
bị người bán? Cho nên mỗi
khi ghi chép việc ấy lại
phải đặt ra một cách giải
thích để che lấp đi, thật là
nực cười. Chẳng hạn như nói
rằng: “Jêsu chịu nạn là để
chuộc tội cho thiên hạ”.
Theo lý mà suy, Jêsu là con
kẻ thợ mộc mà dám tiếm lễ
chế ra áo mũ đế vương, nhận
xằng là con chúa Trời, thế
là phạm tội. Tội mình mình
chịu, sao lại bảo là tội của
thiên hạ? Vả lại quân lính
nước Jiuđê há chẳng phải là
người thiên hạ đó sao? Thế
là Jêsu bị người thiên hạ
hành hình, lại còn chuộc tội
cho thiên hạ nào?
Lại nói về phép SanTi
(Sacramentô) là điều răn lớn
của Jêsu mà chữ nghĩa rất lờ
mờ hiểm hóc. Ngày nay sách
đạo của người Tây Dương đều
giải thích rằng đó là phép
nuôi giữ linh hồn cho thiên
hạ, khiến cho thiên hạ được
miễn tội. Đó là lời nói che
đậy, những điều khác suy ra
cũng có thể biết được.
Jêsu truyền phép rửa chân
xong, chợt nghe xa xa có
tiếng trống thúc và tiếng
kèn loa rất gấp. Dân làng
bảo rằng: “Không biết có
việc gì mà rất nhiều quân
lính kéo về bủa vây làng
ta?”. Jêsu liền chọn ba môn
đồ là Phêrô, Jacôbê và Juan
đi theo mình, còn lại thì
cho phân tán. Rồi đó Jêsu
cùng bọn Phêrô ba người vội
thoát ra ẩn nấp trong một
lùm cây rậm, thường gọi là
vườn Gêtsêmani
[27] ở phía xa ngoài làng. Jiuđa chạy
theo sau, dò biết chỗ Jêsu
trốn rồi lẻn ra ngoài báo
cho viên quản giáp biết.
Bấy giờ Jêsu quỳ trên tảng
đá trong lùm cây cầu khấn
chúa Trời phù hộ cho thoát
nạn
[28] . Bọn Phêrô sợ run như cầy sấy.
Thấy vậy Jêsu bèn trổ phép
lạ, cho mây mù đen kịt tỏa
che khắp lùm cây, đứng cách
gang tấc không trông thấy,
khiến cho quân Jiuđê rối
loạn. Bỗng đâu thấy toán
quân bí mật của ba viên quản
giáp ập tới, tiếng trống,
tiếng kèn inh ỏi, bốn cây
đuốc bốc sáng rực trời. Jêsu
biết phép của mình không
thiêng, sợ hãi vã mồ hôi như
tắm
[29] . Ngoảnh lại nhìn mới hay bọn
Phêrô đều đã tìm đường tẩu
thoát. Một lát sau, Jêsu
thấy Jiuđa xách gậy chạy đến
cứu
[30] . Jêsu cả mừng tỏ lời an ủi
[31] . Vừa lúc đó hơn 10 tên lính chĩa
gươm soi đuốc xông vào, Jêsu
toan chạy trốn. Quân lính
còn do dự chưa biết ai là
Jêsu, Jiuđa bèn sấn đến ôm
hôn lên má Jêsu
[32] . Lúc ấy các viên quản giáp cũng
vừa tới nơi hô quân ập bắt.
Bấy giờ Jêsu mới biết Jiuđa
phản mình, đành phải chịu
đứng yên. Ba viên quản giáp
xốc tới, xỉa giáo giơ gươm
tận mặt Jêsu, quắc mắt quát
lớn: “Chạy đằng trời!” Jêsu
thong dong chịu nạn. Từ bấy
giờ trở đi sắc mặt bình thản
như thường. Quân lính và
tuần đinh xông vào bắt trói
[33] .
Chịu trói xong, Jêsu ngoảnh
lại bảo Jiuđa: “Này Jiuđa,
sao mi nhẫn tâm phản thầy?”
Jiuđa đáp: “Theo thầy để học
đạo chứ không theo thầy để
làm việc xấu”. Jêsu đành
phải làm thinh.
Hai sách Giảng lục và Ngâm
lục nói rằng: “Đức chúa Con
thấy thiên hạ mắc phải quá
nhiều tội lỗi mà hồn dữ của
tên Jiuđa thì sẽ bị đày
xuống địa ngục trước nhất.
Chúa Jêsu bèn vào
[34] trong vườn Gêtsêmani đưa theo môn
đồ cùng đi
[35] . Rồi chúa Jêsu sụp quỳ cầu xin
Thiên Chúa ba điều
[36] . Đang lúc cầu nguyện, bỗng thấy
một vị thiên thần, do chúa
Trời sai xuống an ủi rằng:
“Chúa Trời đặc cách truyền
mệnh cho một mình con phải
chịu cực khổ để giải tội cho
thiên hạ. Việc ấy đã định
trước rồi, chúa Con phải dốc
một lòng, không nên quá lo
sợ”. Jêsu bèn quỳ dậy mà
lĩnh mệnh. Xong đó vị thiên
thần biến mất”.
Chao ôi! Ngay đến con mình
mà chúa Trời cũng không
thương yêu gì nữa, thì làm
sao còn thương yêu đến người
khác?
Lại ở sách Ngoại lục chép
rằng: “Lúc bấy giờ
[37] chúa Trời cho hiện ra các thứ
hình cụ như dây trói bằng
da, gông cùm, khóa sắt để tỏ
ý trừng phạt cho chúa Con
trông thấy, vì thế Đức chúa
Con càng thêm run sợ”. Chao
ôi! Chúa Trời đối với người
trong thiên hạ có tội đều
tha cho, vậy mà sao lại làm
khổ con mình như thế?
Hai sách Ngoại lục và Ngâm
lục còn chép: “Chúa Jêsu
nghe biết quân dữ
[38] đang kéo tới gần, bèn ra đón
trước, nghiêm hỏi rằng: “Các
ngươi tìm ai?” Quân lính
cũng đáp to rằng: “Tìm Jêsu
ở Nazarét”
[39] . Jêsu quát đáp: “Chính ta đây”,
tiếng vang như sấm
[40] . Hơn hai chục quân lính và đinh
phu đều khiếp sợ ngã lăn
[41] . Nhưng Jêsu vẫn đứng yên, lại
ban cho bọn tuần phu và binh
lính kia được đứng dậy, rồi
lại quát hỏi to như đã nói
trên, binh lính cũng đáp lại
như thế… Đến lúc đó Jêsu mới
nộp mình cho quân Jiuđê bắt
đi”.
Chao ôi, Jêsu tụ tập bè đảng
bị quan quân đến bắt, xét
theo lý là có điều khuất tất
rồi. Vậy mà lại nói “ban cho
bọn tuần phu và binh lính
kia được đứng dậy”, chẳng
khác gì kẻ đang có quyền
thế, thiệt là vô lý quá
chừng! Lại nói Jêsu tự nộp
mình cho quân Jiuđê, lúc ấy
dầu Jêsu không muốn nộp cũng
chẳng được nào!
Ba viên quản giáp bắt được
tên phiến loạn Jêsu bèn dẫn
về giam ở nhà riêng. Sợ Jêsu
trổ phép lạ tẩu thoát, bọn
họ liền lấy dây thừng trói
chặt cả 10 ngón tay, đóng
gông vào cổ và đặt người
canh gác rất nghiêm ngặt
[42] .
Jêsu thấy môn đồ chẳng có kẻ
nào đến cứu mình
[43] nghĩ bụng càng thêm tức giận.
Chợt thấy Jiuđa đem hết
những thứ thực tích tang vật
như áo mũ, cờ gậy đến nộp
cho quản giáp. Viên quản
giáp liền thu nhận để làm
biên án.
Jêsu thường ngày bị người ta
căm ghét quá nhiều, nay bắt
được y, hết thảy tuần đinh
và binh lính đều hả hê đắc
chí. Bọn họ sợ chỉ trói tay
chưa đủ, bèn lấy xiềng sắt
khóa vào cổ, dùng dây da
trói cuộn từ mồm trở xuống
hơn 30 vòng mà kéo đi. Jêsu
bị kéo đi như thế suốt đêm,
ngã dúi ngã dụi đến 7 lần.
Mỗi phen bị ngã lại bị quân
lính đạp bồi thêm, lóp ngóp
bò dậy lại bị bọn chúng thúc
bao kiếm vào đít mà giục đi
cho nhanh. Kẻ thì khua đuốc
vung trước mặt, kẻ cầm cả bó
đuốc mà đánh sau lưng, lại
có tên túm tóc lôi đi, có
tên vặt râu cho đau đớn. Bấy
giờ đang giữa mùa đông rét
căm căm, khi qua sông, quân
lính đi trên cầu, thòng dây
bắt Jêsu lội qua dòng nước
buốt mà đi. Viên quản ti
cười bảo rằng: “Con chúa
Trời thì sợ rét gì?” Đến khi
trời sáng, quan ti ra lệnh
đem bêu ngoài điếm trạm để
cho dân chúng xem. Trăm
người đều chỉ mặt Jêsu mà
mắng chửi, lột hết quần áo,
bắt y phải ngồi xo trần
truồng. Có người bêu riếu
rằng: “Lạy tôn sư, xin tôn
sư truyền cho con phép
diệu!” Có người chỉ tay mắng
rằng: “Nghe nói mi cắt đầu
ngọc hành rồi mà sao còn
kham nổi hơn trăm gái tơ?”
Có người nói: “Tôi cũng nghe
người ta nói hắn cắt đầu…,
nay mới tin là thật”. Có
người cười mà bảo: “Đó mới
đúng là phép lễ riêng kỳ
diệu!” Có kẻ lại nói: “Mi
nói đất vắt ra người, sao mi
không bảo vắt cái ấy của mi
cho to thêm chút nữa”
[44] .
Bấy giờ môn đồ của Jêsu bỏ
trốn cả, duy có Phêrô còn ẩn
lại nghe ngóng. Đêm hôm sau
[45] , người nhà trọ túm lấy y mà kêu
lên rằng: “Tên này chính là
đồ đệ của Jêsu. Bắt ngay!
Bắt ngay!” Phêrô sợ cuống,
líu lưỡi chối rằng: “Thật
tôi từ thuở bé chẳng biết
người ấy là ai!” Người nhà
trọ vặn hỏi ba lần thì cả ba
lần Phêrô đều chối phăng đi
cả. Mọi người cũng phải nghi
là nhầm. Lúc ấy Jêsu nghe
tiếng xôn xao bên ngoài quay
ra nhìn thì thấy Phêrô.
Phêrô xấu hổ lủi đi.
Đến khi trời sáng, ba viên
quản giáp cùng tốp quân lính
và tuần đinh áp giải Jêsu
đến giao cho thầy cả Anne
[46] phán xử. Anne là bố vợ của quản
giáp Caipha
[47] . Thầy cả Anne nói: “Mi là hạng
người nào mà dám tự xưng là
thầy cả? Lại còn tìm cách mê
hoặc dân chúng, thật là can
phạm phép nước, huống chi
còn tụ tập dân chúng làm
nhiều việc quái ác khác
nữa”.
Jêsu im lặng không đáp câu
nào. Các viên quản giáp cùng
quân lính, tuần đinh đều
đồng thanh nói: “Chẳng những
thế, hắn còn tự xưng là con
chúa Trời giáng thế nữa!”
Anne nghe nói bất giác nổi
xung, cả tiếng mắng rằng:
“Tự xưng là con chúa Trời
tức là muốn làm chúa Trời!
Thật rất ngạo mạn, phải mau
kết án để giết phăng đi”.
Rồi đó quản giáp dẫn Jiuđa
đến làm nhân chứng tố cáo
tội trạng tiếm ngụy của
Jêsu. Jiuđa khai hết mọi
việc: Jêsu họp dân chúng ở
những nơi nào, đứng phất cờ
ở chỗ nào, v.v. Viên quản
giáp cứ theo thứ tự ghi lại
cả. Thầy cả Anne liền thưởng
cho Jiuđa ba tấm áo rồi tha
cho về.
Sách Ngoại lục chép
rằng: “Lúc bấy giờ quân
Jiuđê xỏ tay vào cái bao
bằng sắt mà tát vào má Jêsu
mỗi bên 10 tát, mỗi lần tát
lại nói: “Chớ tự xưng bậy
bạ!” Thế nhưng có cái bao
nào mà lại làm bằng sắt? Đại
để đều là khoa trương để nói
Jêsu chịu nạn thảm thiết,
những chuyện tiếp sau cũng
như vậy cả, không có gì đáng
tin.
Sách ấy lại nói: “Jiuđa thực
tâm không định bán Jêsu,
nhưng vì thấy đức chúa Con
lắm phép thuật biến hiện kỳ
lạ, chắc chẳng ai bắt nổi
nên giả vờ báo cho quân
Jiuđê biết để lấy tiền xài.
Jiuđa tưởng rằng khi quân
Jiuđê kéo đến thì Jêsu tất
sẽ làm phép biến hóa mà trốn
đi. Khi ấy mình đã nhận tiền
rồi, chẳng lẽ bọn chúng đòi
lại hay sao? Đến khi thấy
Jêsu thong dong chịu nạn,
chẳng làm phép biến hóa trốn
tránh, Jiuđa lấy làm hối
hận, biết mình mắc tội phản
đạo bán thầy, bèn tự thắt cổ
mà chết”. Chao ôi! Nếu Jiuđa
là người xem nhẹ mạng sống
của mình biết hối hận mà tự
ải như thế thì chắc là y đã
không tham tiền để đến nỗi
phải bán thầy! Sách ấy lại
nói rằng: Phêrô về sau mỗi
khi trời sáng nghe gà gáy
lại nghĩ đến tội lỗi của
mình, đấm tay vào ngực đau
đớn mà khóc lóc thảm thiết.
Chúa Trời khen Phêrô là
người biết hối lỗi, đến khi
chết vẫn cho phép lên thiên
đường
[48] . Về sau người ta cũng theo cách
đó mà xét đoán rằng: “Kẻ tự
sát cũng có tội như kẻ giết
người, cho nên về sau thánh
Phêrô được lên thiên đường,
còn Jiuđa thì không được lên
thiên đường”. Thật là vô lý,
nực cười!
Lại nữa, cả ba sách Ngoại
lục, Giảng lục và Ngâm lục đều nói rằng
đêm hôm Jêsu bị dẫn về nhà
Anne, Phêrô xông vào cứu nạn
cho thầy, vung đao chém một
tên đạo trưởng bị thương ở
bên tai
[49] . Jêsu bèn mắng Phêrô, không cho
Phêrô cứu mình mà phải lo
chạy chữa cho người bị
thương. Phêrô tìm thuốc băng
bó cho người kia xong xuôi
đâu đấy rồi mới ra đi. Theo
lẽ mà suy thì dân chúng đều
cho thầy trò Jêsu là những
tên giặc phạm tội, đang lúc
quan quân dân bình canh
phòng cẩn mật, Phêrô làm sao
mà lọt vào được? Giả sử có
vào được cũng phải có nhiều
người, huống chi lại chỉ một
mình chống chọi với cả trăm
người thì làm sao mà vào cho
nổi? Phêrô đã chém người bị
thương, lẽ nào quân lính lại
điềm nhiên để yên không bắt
gông cả thầy trò mà lại còn
để cho Phêrô thong dong cứu
chữa, mà kẻ bị thương há lại
chịu nằm yên cho Phêrô băng
bó hay sao? Những chuyện bịa
tạc ấy chính là do vua tôi
người Tây Dương nặn ra để
nói về cái nghĩa khí của
Phêrô. Nhưng mà kẻ đã bỏ
thầy chạy thoát thân khi xảy
ra sự việc ở vườn Gêtsêmani,
kẻ đã ba lần chối không nhận
thầy khi người ta cật vấn ở
quán trọ há lại có thể coi
là kẻ có nghĩa khí được
chăng?
Bọn quản giáp Caipha cùng
với quân lính, dân binh được
lời phán xử của Anne liền
khoác còng sắt kéo con chúa
Trời ra ngoài đường cho dân
chúng làm nhục đủ điều, lột
truồng hết quần áo làm trò
cười cho thiên hạ
[50] .
Rồi đó bọn họ sửa dọn lại
bản cáo trạng nạp lên cho
tổng trấn Philatô
[51] . Cáo trạng đại lược như sau:
“Bọn chúng tôi cùng với kẻ
tố giác tên là Jiuđa đã bí
mật bắt được đầu sỏ đảng
giặc quê quán ở Nazarét tên
là Jêsu. Tên này tự chế ra
mũ triều thiên, mặc áo đính
cườm ngọc, chống gậy bạc,
cầm cờ đỏ, tự xưng là con
chúa Trời, đến đâu tụ họp
làm giặc ở đấy, kích động
dân chúng đến hơn vạn người.
Có kẻ gọi y là Thần trời,
người thì gọi y là Thiên
Chúa con, có kẻ gọi y bằng
“Cha”, có những người vác cờ
lá liễu, già trẻ trai gái
đón đường mà nghênh rước y.
Hiện nay đã thu được tang
vật là các thứ áo mũ cờ gậy
của y. Tên các làng mà y đã
thuyết phục được, các phép
tắc mà y đã cho thi hành xin
kể ra sau đây, v.v.”
Tổng trấn Philatô phán hỏi
Jêsu rằng: “Tội trạng của
ngươi bấy nhiêu điều, phải
ngươi muốn làm giặc không?”.
Jêsu ngồi xếp chân vòng tròn
ưỡn lưng đáp: “Nếu quả tôi
làm giặc thì tại sao không
thấy tang chứng khí giới
cung kiếm?”.
Philatô nói: “Những thứ áo
mũ ấy há chẳng phải chứng
tích của ngươi thì còn ai
vào đấy nữa?”. Rồi đó vặn
hỏi Jêsu đủ mọi điều. Những
người có mặt ở đó cũng góp
lời tố cáo thêm nữa. Nhưng
tổng trấn Philatô là người
nhân đức khoan thứ, cho rằng
Jêsu chẳng qua phạm tội lừa
dối mê hoặc dân chúng, bèn
hạ lệnh nọc ra phạt đòn rồi
tha cho về. Nhưng ba viên
quản giáp và phủ ti thì một
mực xin phải khép án, cùng
thưa rằng: “Chúng tôi bắt
được tên này có âm mưu tiếm
loạn đến đây, chẳng lẽ ngài
lại vì ý riêng mà tha bổng
cho hắn ư?” Tổng trấn
Philatô sợ làm trái lòng dân
đành phải làm tờ tâu kèm
theo bản biên án, giao cho
dân chúng áp giải Jêsu lên
kinh đô chờ xét xử
[52] .
Tục lệ nước Jiuđê vua quan
chẳng có thể thống gì cả
[53] . Bấy giờ là thời vua Hêrôtê
Antipa
[54] đang trị vì. Vua tự xem tờ tâu
rồi phán rằng: “Điển chế của
nước nhà trải qua các đời đã
thành quy pháp; kẻ thất phu
dụ dỗ dân chúng thay đổi
phong tục, tiếm chế áo mũ,
tự đặt danh hiệu xưng hô lếu
láo thì đáng tội gì?” Jêsu
ngồi im không đáp. Vua
Hêrôtê thấy Jêsu xấc ngạo
càng thêm tức giận, bèn giả
cách quát mắng trung sứ
rằng: “Tổng trấn Philatô
phạm thượng hết chỗ nói: Bắt
một đứa ngu si điếc lác như
thế kia giải lên cho ta thì
làm thế nào mà tra xét
được?” Tiếp đó vua truyền
rằng: “Hắn là kẻ điếc thì cứ
cho mặc áo trắng
[55] rồi giao trả về cho quan bản
trấn”. Rồi vua gọi sứ giả
vào căn dặn mật chỉ. Sứ giả
nghe xong lạy chào lui ra áp
điệu Jêsu trả về cho tổng
trấn Philatô xét hỏi lại.
Theo quốc sử của nước Jiuđê
thì Jêsu tự làm ra xe lọng
tiếm lạm nghi lễ thiên tử,
thi hành các lề phép hòng
thay đổi phong tục trong
nước. Triều đình biết chuyện
đã xuống mật lệnh cho các
quan trấn, quan phủ trùy
lùng gắt gao. Đến khi bắt
được y, vua Hêrôtê và các
triều thần muốn xem mặt mũi
Jêsu thế nào, và truyền áp
giải về kinh đô. Tuy việc
này không thấy ghi trong
Thực lục, nhưng sử ký nước
Jiuđê chép như thế có thể
tin được. Có lẽ môn đồ của
Jêsu không biết việc triều
đình hạ lệnh lùng bắt khắp
nơi, cho nên không ghi vào
Thực lục chăng?
Theo hai sách Ngoại lục và
Giảng lục thì nói: Jêsu biết
chuyện vua Hêrôtê Antipa bắt
cả chị em con cô con cậu đưa
vào hậu cung làm tì thiếp,
cho nên khinh ghét mà không
trả lời.
Theo lý mà suy thì Hêrôtê là
vua, Jêsu là tên giặc, sao
lại có thể nói là Jêsu
“ghét” vua Hêrôtê? Những sự
việc hỏi đến, Jêsu đều có
phạm vào cả, giả sử có trả
lời thì Jêsu cũng khó nói
cho xuôi được. Vì vậy người
Tây Dương viết ra đoạn nào
lại tìm cách che đậy đoạn ấy
để người đời sau khỏi ngờ.
Bấy giờ trong điện của vua
Hêrôtê bỗng có tiếng nói
vang lên: “Kẻ mà ngươi đang
buộc tội kia ngày sau sẽ
phán xét ngươi”. Theo lý mà
suy, thì nếu có tiếng nói
như thế thật thì vua Hêrôtê
hẳn đã sai người tìm kiếm
cho ra kẻ vừa nói câu ấy.
Nếu đã tìm kiếm mà không
thấy thì hẳn phải kính lạ
xuống dưới thềm mà vái lạy
Jêsu rồi, há lại còn phải
giao về quan bản trấn xét
hỏi nữa? Những lời lẽ ngu
dân lắt léo như thế thật là
quá quắt! Vậy mà những kẻ
ngu khờ chẳng biết phân
biệt!
Quan quân áp giải Jêsu về
trấn. Dọc đường quân lính
đua nhau vung roi rút giày
mà đánh chan chát vào mặt
Jêsu. Tổng trấn Philatô thấy
Jêsu mặc áo trắng thì biết ý
vua ngầm bảo phải giết Jêsu.
Đến khi mở xem mật chỉ thấy
viết rằng: “Tên này vào giữa
sân triều vẫn còn kiêu ngạo
thì khi ở ngoài thế nào cũng
đủ biết. Muốn giết hay tha
chỉ cần hỏi ý nguyện của dân
chúng, cho khanh được tùy
nghi xử trí, không cần phải
tâu lại nữa”.
Hôm sau vừa gặp ngày lễ chúa
Trời đầu tuần. Tục lệ nước
này cứ vào ngày chủ nhật
chọn tha cho một người tù
tội nhẹ. Bấy giờ có một kẻ
can án ăn cướp, tên là
Baraba
[56] . Tổng trấn Philatô cho đem cả
Baraba và Jêsu ra hỏi dân
chúng rằng: “Hoặc là Jêsu,
hoặc là Baraba, các người
muốn tha tội cho kẻ nào?”
Dân chúng đồng thanh đáp:
“Baraba chẳng qua chỉ giết
hại một, hai người. Jêsu thì
làm hại cả một nước. Nếu
muốn cứu một người thì xin
quan tha cho Baraba, còn tên
Jêsu thì nên giết!”
Philatô thấy lòng dân căm
ghét Jêsu còn sâu sắc hơn
đối với tên ăn cướp, nếu tha
bổng cho y sợ dân chúng lại
tâu lên vua lần nữa thì mình
mắc tội. Nghĩ vậy, Philatô
bèn sai một cơ lính gồm 666
tên
[57] lôi Jêsu ra thay nhau mà đánh cho
thỏa ý dân.
Thế là binh lính cùng dân
chúng ai nấy đều xắn áo xoa
tay, kéo Jêsu ra giữa chợ,
tháo gông, trói quặt chân
tay vào một cột đá. Trói
xong, đám đông hò reo: “Nay
thì mi được chết! Nay thì mi
được chết!” Rồi xúm nhau vào
hô đánh. Đầu tiên một người
đánh, lần thứ hai, hai người
cùng đánh, lần thứ ba, ba
người cùng đánh, v.v.
Jêsu vốn là kẻ to béo, da
thịt dày dặn rắn chắc, chịu
đòn một ngày vẫn chưa hề gì.
Binh lính mỗi lần đánh lại
một lần giễu cợt: “Đích thị
là con chúa Trời này! Đích
thị là con chúa Trời này!”
Thế là Jêsu bị đánh đấm tới
tấp chẳng còn phân biệt chân
đầu gì nữa
[58] , cánh tay sưng húp
[59] như chiếc nồi.
Bấy giờ dân chúng đi xem
đứng chật xung quanh, dân
đạo cũng có nhiều người lén
đến trà trộn đứng xem trong
số đó. Trong đám binh lính,
dân đinh có người nói: “Nước
thánh nhiều lắm, có ai giúp
đi lấy cho không?” Có người
đùa rằng: “Có mấy đôi trai
gái đến xin làm lễ cưới!” Có
người khom lưng thưa rằng:
“Kính xin tôn sư làm lễ
Cônfirmaxông cho con ạ”. Đám
đông lại tung lên reo cười.
Bỗng trong quân có tiếng
quát đánh, quân lính xáp vào
đứng kín như bức tường.
Tiếng hò la ầm ầm như sấm,
đứng ngoài chỉ thấy đầu roi
rít gió quất xuống đen đét.
Chỉ trong chốc lát, toàn
thân Jêsu máu me đầm đìa,
vết roi lằn kín khắp lưng.
Cả đội lính thay nhau đánh
mỏi tay ngồi nghỉ sức giữa
chợ
[60] . Bọn họ cởi trói tha cho Jêsu
được ngồi, giờ chỉ thấy máu
me bê bết đầy thân, nom
chẳng nhận ra hình thù Jêsu
khi trước nữa.
Vừa mới ngồi nghỉ được một
lúc, chợt thấy một ả gái
điếm mặc váy đỏ
[61] lạch bạch chạy tới, vén thốc váy
lên quỳ trước mặt Jêsu mà
nói rằng: “Con có nhiều tội
quá, may có thầy giải rửa
cho, đáng con phải tạ ơn
thầy nhiều lắm”. Quân lính
cười ồ lên. Có người đùa
rằng: “Có tội thì rửa đi, có
tội thì giải tội đi! Mỗi tội
mỗi rửa, mỗi giải thì còn lo
gì nữa?” Một người khác nói:
“Đang lúc mỏi mệt được một
cuộc cười cũng hay”. Lúc ấy
có viên quan úy đội khăn đỏ
ngồi trên ghế nói đùa rằng:
“Nghe nói mi có tài giải
tội, bây giờ hãy “giải” cho
con này một “giải” để chúng
ông xem thế nào?”
Phong tục nước Jiuđê nói
năng chẳng kiêng dè gì cả.
Qua ngày hôm sau, binh lính
bảo nhau rằng: “Hắn từng chế
ra mũ triều thiên, áo cườm
ngọc, tự xưng là hoàng đế.
Nay ta hãy đội mũ mặc áo cho
hắn xem sao?”. Nói đoạn bọn
họ lấy gai nhọn cắm vào sợi
dây thừng, tất cả 72 que
gai, quấn vòng lại chụp lên
bờm tóc rồi lấy búa đóng cho
gai nhọn cắm chặt vào đầu
Jêsu, bảo rằng: “Mũ triều
thiên của mi phải làm như
thế mới đẹp!”.
Rồi đó bọn chúng lại khoác
còng sắt vào cổ Jêsu, trói
khoanh hai tay vào giữa
ngực, bắt ngồi bệt xuống
đất. Rồi đó bọn họ lấy mảnh
vải trắng trùm lên đầu Jêsu,
lột chiếc váy đỏ của ả gái
đĩ Alina trùm lên vai Jêsu
mà nói: “Chiếc hồng bào này
cũng đẹp đấy!” Có người nói
tiếp: “Áo liên châu của mi
như thế đẹp chưa?”
[62] Tiếp đó lại có người lấy một que
tre nhọn nhét vào tay cho
Jêsu mà bảo rằng: “Rìu búa
[63] của vua phải như thế mới đúng!”
Ăn mặc làm dáng cho Jêsu
xong, binh lính giả bộ quỳ
trước mặt y mà nhạo rằng:
“Kính tâu quốc vương nước
Jiuđê!” Dứt lời bèn tháo
giày cầm tay mà vụt tới tấp
vào Jêsu tiếp không biết bao
nhiêu mà kể, máu miệng chảy
ròng ròng. Có những người
nhổ nước bọt vào mặt, hoặc
bứt râu vặt ria khiến cho
Jêsu càng thêm đau đớn. Tiếp
đó viên giám binh dùng ống
loa gọi to: “Hãy để hắn ngồi
đó cho thiên hạ đến xem mặt
con chúa Trời”.
Dân chúng xa gần lâu nay
nghiến răng căm ghét Jêsu
tận xương, bấy giờ cùng nhau
kéo đến nhà giám ti đồng
thanh thưa rằng: “Các quan
binh đã được thỏa chí, vậy
cũng xin cho dân chúng tôi
được hả lòng!” Viên giám ti
căn dặn rằng: “Làm cho hắn
biết nhục thì được, chứ
không được đánh nữa”. Đám
đông đồng thanh dạ ran hứa
hẹn rồi lui ra; kéo đến chỗ
Jêsu đang ngồi. Bọn họ lần
lượt thuật các phép đạo của
Jêsu bêu riếu, xách đến
trước mặt Jêsu một vò nước
tiểu mà bảo rằng: “Nước phép
của mi đây! Nước phép của mi
đây! Hãy uống cho hết nước
phép của mi đi!”. Nói đoạn
bọn họ đổ nước tiểu vào mồm
vào mặt Jêsu. Toàn thân Jêsu
ướt dầm, buốt xót đau đớn.
Có người bưng cứt đến, nói
rằng: “Nay phải cho mi được
ăn bánh phép!” Nói đoạn nhét
phân vào mồm Jêsu. Lại có
người xúc cứt đổ hết trên
đầu Jêsu mà nói: “Để ta làm
phép Côngfirmaxông cho mi”.
Dân chúng đứng xem reo cười
khoái trá. Hết người này đến
người khác đọc các câu niệm
phép của Jêsu, có điều là
vừa đọc vừa chêm vào những
câu khôi hài. Có người nói:
“Phép Matrimôninô đây lạ
lắm! Lạ lắm! Xưa nay chưa có
ai biết cách dạy nam nữ động
phòng như mi!”
[64] Có người cười nói: “Dạy chuyện
trong chốn buồng the, biết
đâu hắn ta lại chẳng làm
trước chuyện ấy?” Thế là đám
đông xúm lại vả vào mặt
Jêsu, nghiến răng mà đánh
đập.
Lại nữa, thường ngày Jêsu
vẫn khuyên răn người ta
không nên dâm dục, bảo bộ
phận sinh dục của người ta
là cái cục tội. Đến bây giờ
có người hỏi Jêsu: “Sao mi
không cắt hẳn cái “cục tội”
của mi đi?” Lại mắng rằng:
“Không có cái “cục tội” ấy
thì làm gì mà có mi? Biết
đâu cái ấy lại chẳng phải là
“cục phúc” của mi?” Lại một
người khác nói: “Nay ta hỏi
mi: nếu bảo cái ấy là “cục
tội” thì trời sinh nó làm
chi?” Có người phú hào ở thị
trấn giả cách an ủi Jêsu mà
nói rằng: “Thật tội nghiệp,
tội của người thì mi giải
cho, đến tội của mi thì
chẳng có ai chịu giải. Nay
nếu mi bảo được hai đứa gái
trinh bên dân đạo chịu về
với ta thì ta sẽ giải tội
cho mi”. Lúc ấy Jêsu bị ngứa
ở tay, vừa cựa nhích một
chút liền bị tên lính đứng
canh quát hỏi: “Làm gì thế?”
Đám tuần đinh ùa reo: “Hắn
làm phép Confirmaxông để cầu
thọ cho ông chánh đấy!” Viên
giám binh cười mà rằng: “Cầu
tiếp lần nữa xem sao!”
Jêsu chỉ ngồi im chịu nhục,
không dám nhúc nhích động
cựa. Sau trận đòn, quân lính
cho Jêsu thay áo. Thấy chiếc
áo Jêsu đang mặc vết máu khô
cứng đã dính bết vào người,
bọn họ bèn cầm mà giật ra
khiến cho Jêsu lại một phen
đau đớn.
Bấy giờ dân tả đạo thấy
Philatô là người còn có lòng
nhân đức khoan thứ, bèn bí
mật đem 5 vạn quan tiền đến
đút lót xin chuộc mạng cho
Jêsu. Philatô thấy mật chỉ
của vua truyền bảo giết hay
không chỉ cần thuận dân tình
là được, cho nên cũng muốn
tha cho Jêsu để kiếm món
tiền hối lộ làm lợi riêng.
Xem chừng quân dân được đánh
mắng chán chê, ai nấy đều đã
hả lòng hả dạ thì ắt cũng
động lòng thương hại, bèn
sai đóng gông dẫn Jêsu vào
trại giam.
Sáng hôm sau, Philatô sai
dẫn Jêsu lên một gò cao, họp
dân chúng lại mà hỏi rằng:
“Đã đến thế này ắt cũng đủ
cho hắn phải sống dở chết dở
rồi. Ta muốn tha cho hắn,
chưa biết ý dân thế nào?”.
Dân chúng nhao nhao nói to
rằng: “Phải đem đi đóng đinh
câu rút!”
[65] Philatô thấy lòng dân nhất quyết
muốn giết Jêsu, bèn không
nhận tiền hối lộ nữa. Rồi đó
Philatô căn cứ theo mật chỉ
giao Jêsu cho dân chúng xử
tội. Bọn ba viên quản giáp
bèn xin cho quan quân cùng
với dân chúng áp giải Jêsu
đến nơi hành hình. Philatô
lại bảo kín với dân tả đạo
đem tiền đến lo lót với ba
viên quản giáp ấy. Một viên
quản giáp nói: “Tha cho hắn
thì hắn sẽ nói là ý chúa
Trời khiến bọn ta phải tha.
Giết hắn thì hắn cũng sẽ nói
ý chúa Trời xúi khiến bọn ta
giết hắn. Chi bằng cứ giết
quách xem cái ý chúa Trời
của hắn thế nào!” Một viên
khác nói: “Khi trước chúng
ta đã cùng nhau chích máu ăn
thề không được bội ước. Vả
lại nếu tha cho hắn thì dân
tả đạo sẽ coi khinh bọn ta”.
Rốt cuộc bọn họ không chịu
thả Jêsu, liền hô quân lính
và dân binh xách con chó râu
xồm mà kéo đi
[66] .
Quân lính và dân binh được
giao cho hành hình Jêsu, ai
nấy đều vui thích nhảy nhót
reo hò, đem Jêsu trói lại
một nơi rồi đóng ngay một
chiếc giá câu rút rất nặng,
thanh ngang dài 4 thước,
thanh dọc dài 9 thước
[67] , bắt Jêsu vác lên núi Gôgôtha
[68] . Rồi đó quan quân rầm rầm vây
bọc dẫn đi.
Jêsu từ khi bị bắt, cha mẹ
đều không hay biết. Đến khi
nghe bọn Phêrô ở ngoài trở
về báo tin, bà Maria cả kinh
rụng rời. Rồi đó Jiuse dẫn
Maria lần đường đi tìm hỏi.
Khi đi qua cột đá thấy có
vết máu, bà Maria ngã ngất
hồi lâu mới tỉnh lại. Gặp
người đi đường hỏi thăm thì
họ nói: “Có thấy người vác
giá câu rút”. Maria và Jiuse
vội tìm đến, kíp nghe tiếng
trống thúc quân reo, xiết
đỗi kinh sợ. Khi đến nơi,
cha mẹ thấy mặt con, Maria
vật vã gào khóc: “Sao con
lại nói trước là ra đi khó
gặp lại?” Jiuse gục xuống
đất mê man bất tỉnh.
Chợt lúc ấy nghe báo tin có
hai phạm nhân khác cũng đang
vác giá câu rút lên núi cùng
chịu hành hình. Bấy giờ Jêsu
đã kiệt sức, chiếc giá nặng
trên vai khiến cho y nhiều
phen ngã lên ngã xuống. Viên
quản binh sợ Jêsu chết trước
khi đến chỗ hành hình, bèn
thuê một người khác vác thay
cho. Danh tiếng Jêsu khá
nổi, cho nên dân chúng kéo
đi xem rất đông. Có người
phàn nàn rằng: “Nghe nói tên
trùm giặc này nhiều phép lạ,
sao lại đến nông nỗi này?”
Viên quản binh nghe vậy đáp
rằng: “Lắm thuật kỳ thì mắc
nhiều họa lạ. Đến đây rồi
cũng có phép lạ đấy!” Jêsu
ngoái đầu lại nói: “Ta chỉ
thương cho con cháu các
ngươi ngày sau rồi phải khốn
khổ!” Quân lính cười rộ mà
đáp rằng: “Chỉ biết cái khốn
ngày nay, ai hỏi mi cái khốn
mai sau! Mi bẻm mép lừa
người thì chung cục phải như
thế!”
Lúc ấy có người đàn bà
VêDôNiCa thấy mặt mũi Jêsu
máu chảy ròng ròng bèn trao
cho y một chiếc khăn. Jêsu
cầm chiếc khăn ấy mà lau mặt
[69] . Đến lúc ấy Jêsu mới biết có hai
tên cướp đang vác giá câu
rút cùng đi.
Đến chân núi, bốn viên chỉ
huy đội quân áp giải cầm ống
loa sắt trèo lên gò cao gọi
to: “Mũ triều thiên của tên
kia có còn bền chắc không?”
Quân lính lập tức lấy vòng
gai một lần nữa đóng chặt
vào đầu Jêsu rồi đáp to:
“Còn chắc lắm!” Jêsu đau đớn
gào lên như bò rống. Đám
đông người xem cười rộ cả.
Rồi đó bọn họ lấy rượu hòa
với mật đắng bắt Jêsu uống
cho trương giãn các mạch
máu, lột truồng hết quần áo
rồi đè ngửa lên giá câu rút.
Trước hết lấy đinh đóng vào
tay trái Jêsu, còn tay phải
thì trói bằng dây thừng kéo
căng đóng vào lỗ đinh, vì
thế thịt da ở ngực rách toác
ra. Tiếp đó lại trói hai
chân cũng kéo căng dây mà
đóng, da thịt ở lưng bụng
lại toác ra. Lúc trước Jêsu
bắt người ta đọc kinh đến
cuối mỗi đoạn lại niệm
“Amen”. Nay quân lính cũng
theo cách ấy, mỗi khi đóng
xong một đinh cũng nói
“Amen” mà cười. Rồi đó bọn
chúng lấy một miếng ván đề
mấy chữ: “Jêsu ở Nazarét
tiếm xưng làm vua nước Jiuđê
bị đóng đanh treo giá câu
rút”
[70] . Đoạn quân sĩ lật úp giá câu
rút, lấy rìu phạt đứt các
đầu đinh thòi ra, rồi cứ thế
mà kéo xệch lên núi. Jêsu bị
đè dưới chiếc giá gỗ nặng,
lại bị đất đá mài xát, da
thịt tróc nát tận xương. Tới
nơi, quân lính liền đào hố
chôn cột trên mỏm núi.
Cả ba giá câu rút đã dựng
lên, chỉ riêng Jêsu đầu cắm
mũ gai, thân thể trần
truồng, ròng ròng máu ứa,
dân chúng còn nhìn lên mà
chửi rủa: “Nay thì thật
sướng cái thân mi! Sướng
thân mi!” Có người cất tiếng
hỏi: “Dân đạo đâu, sao không
thấy ai đeo cho thầy cả một
mảnh khố”
[71] . Mọi người cười ran vang núi.
Hai sách Ngoại lục
(quyển 7) và Ngâm lục
(quyển 5), đều chép rằng:
Bấy giờ giá treo hai tên
cướp một ở bên phải, một ở
bên trái, giá của Jêsu trồng
chính giữa. Tên cướp phía
bên trái nói: “Nếu ông là
con chúa Trời thì sao không
tự cứu lấy mình và cứu cho
chúng tôi một thể?” Tên cướp
phía bên phải nói: “Chúng
tôi tội nặng mới phải chịu
khổ cực thế này, còn ông làm
sao mà đến nỗi bị dân chúng
chê cười khinh bỉ như thế?”
Nhân đó tên cướp ấy lại nói
với Jêsu: “Bao giờ lên thiên
đường ông hãy nhớ đến tôi
với nhé!” Jêsu ngoảnh lại
bảo rằng: “Ngay hôm nay ta
sẽ cho ngươi được cùng ta
hiển vinh vui sướng”.
Hai sách nói trên chép lại
rằng: “Bấy giờ là lúc nhục
nhã nhất cho thiên hạ. Chúa
Jêsu bỗng hô to lên rằng:
Đức chúa Cha sao nỡ để một
mình con chịu khổ, không
kham đặng! Cầu nguyện Chúa
Cha tha thứ cho mọi lỗi lầm
của bọn chúng!”. Nhưng hai
sách Bí lục và Thực lục
không thấy ghi chép việc ấy.
Đó chỉ là những lời lẽ màu
mè của bọn rợ Tây, mỗi đoạn
một trang sức vậy thôi.
Bấy giờ bà Maria và Juan
đứng gần bên Jêsu. Jêsu buồn
rầu nói rằng: “Thưa bà, từ
nay về sau Juan là con của
bà”. Lại nói với Juan: “Từ
nay bà đây sẽ là mẹ của
ngươi”
[72] . Nghe Jêsu nói, bà Maria càng
bội phần đau xót. Lúc ấy bọn
môn đồ của Jêsu đã theo đến
dưới giá câu rút. Jêsu kiệt
máu kêu khát. Jiuse định đưa
nước cho uống nhưng bị quân
lính quát lại: “Chớ cho uống
nước lâu chết. Phải cho uống
giấm cho huyết xuất mạnh,
mau chết hơn”. Rồi bọn họ
lấy giấm đổ vào tổ ong rừng
buộc sào giơ lên cho uống
[73] . Jêsu uống xong mới biết là
giấm, kêu to lên rằng: “Thế
là hết việc ở thế gian”
[74] . Jêsu nhìn xuống thấy bà Maria
đứng ở bên phải, bèn gục đầu
xuống phía ấy, rằng mình đã
chết. Đám đông quân lính và
dân binh giơ tay lên trời
liên tiếp kêu to: “Giải tội!
Giải tội!”, rồi cười vang.
Bấy giờ vừa đúng giữa trưa,
vùng núi trời mây u ám, đến
lúc ấy mới rạng lên. Jêsu đã
chết, thây treo trên giá câu
rút.
Chợt có tiếng thống binh
trong trấn tên là ĐôSaNùng
đang bực tức vì có việc quan
phải đi ngay không kịp uống
rượu, lúc ấy đang vác giáo
thúc ngựa phóng tới. Từ cổng
thành đến đây chỉ hơn một
dặm đường. Vừa tới, ĐôSaNùng
vội lên tiếng quát hỏi Jêsu
đã chết hay chưa? Quân sĩ
đáp là chết rồi, ĐôSaNùng
càu nhàu rằng: “Thật tiếc
cho ta đến chậm quá! Đến
chậm quá!” Lên đến gò núi,
ĐôSaNùng ngồi trên ngựa
nghiến răng đưa mũi giáo đâm
vào giữa ngực Jêsu suốt qua
tim quát một tiếng: “Yêu
quái!”, rồi phóng đi luôn.
Thấy bà Maria nằm ngất xỉu
giữa đất, ĐôSaNùng giơ giáo
trừng mắt toan đâm, nhưng
lúc ấy bọn môn đồ của Jêsu
sợ hãi tán loạn chạy qua,
cho nên bà Maria may mà
thoát chết.
Đến xế chiều [75] , viên quản binh thấy Jêsu đã
chết hẳn mới cho hạ thây
xuống, rồi đưa quân về
thành. Hai môn đồ của Jêsu
là Jiuse và Nicôđêmô vác hai
chiếc thang trèo lên giá câu
rút chặt đinh để lấy xác.
Phép hạ thây phải lấy tấm
vải buộc ngang ngực tử thi,
trước hết chặt đinh ở chân,
tiếp đó quấn hai múi vải vào
hai đầu thang ngang, mỗi
người ngậm lấy một đầu rồi
chặt đến đinh ở tay, tử thi
từ từ tuột xuống. Các môn đồ
tắm rửa thi thể Jêsu sạch
sẽ, khiêng vùi trong hang
đá, rồi tản đi mỗi người một
nơi. Quan quân đã trở về
thành, tổng trấn Philatô
thảo sớ tâu lên vua Hêrôtê
Ântip về việc hành hình
Jêsu.
Sau khi chết, Jêsu đi thẳng
xuống âm phủ
[76] gọi hồn những người từ trước đã
chết trên núi để cùng hiện
lên. Đến ngày thứ ba sau khi
Jêsu chết, cả vùng núi
Gôgôtha sáng bừng, người
quanh vùng ai ai cũng phải
kinh lạ. Giữa không trung,
Jêsu đi trước, đoàn quân
LâmBô khoảng hơn năm trăm
xác chết sống lại rần rật đi
theo, rồi đột nhiên biến
mất. Cho nên ngày nay có lễ
Phục sinh.
Sau khi hiện hồn sống lại,
Jêsu về thăm nhà. Cha mẹ
Jêsu sợ hãi không dám tiếp.
Một lúc sau, Jêsu đến gần
cha mẹ mới nhận ra, hoảng sợ
hết hồn. Jêsu hỏi các môn đồ
hiện nay ở đâu, Jiuse đáp:
“Phêrô trở lại làm dân chài
ẩn lánh ở miền sông Baun
[77] , còn những người khác trốn tránh
nơi nào không rõ”. Vừa nói
xong, Jêsu đã biến mất.
Bấy giờ Phêrô đang chèo
thuyền bên bờ sông phía đông
bỗng nghe có tiếng người
gọi: “Phêrô! Cho thầy xuống
thuyền với!” Nhận ra giọng
nói của Jêsu, ngước lên thấy
đúng là thầy mình. Phêrô sợ
tái mặt, kêu to với người
trong thuyền: “Ông ta chết
rồi kia mà!” Rồi vội vàng
chèo thuyền sang bờ phía
tây. Lại vẫn nghe thấy như
trước. Phêrô bèn quay thuyền
trở lại giữa sông mà chèo
cho thật nhanh. Jêsu từ trên
không hạ xuống giữa thuyền,
giữ lấy sào chèo, ôn tồn an
ủi Phêrô. Sau một hồi lâu,
Phêrô mới hết sợ, Jêsu nói
cho Phêrô nghe chuyện ở âm
phủ, Phêrô nhân đó tạ lỗi
với Jêsu về việc chối thầy.
Jêsu nói: “Nay ta đến đây
không phải để nói những điều
lỗi trước của ngươi, ngươi
hãy báo tin cho các môn đồ
biết ta hẹn 40 ngày nữa sẽ
đến núi Ôlivêtê
[78] để ta truyền thụ bí pháp
[79] .
Các môn đồ nghe Phêrô báo
tin đều lấy làm ngờ, cùng
nhau lên núi xem lại ngôi
huyệt trong hang đá thì quả
nhiên không thấy xác Jêsu ở
đó nữa, chỉ còn ba cái đinh
và vòng mũ gai, bọn họ bèn
thu nhặt đem về làm kỷ niệm
[80] .
Đến ngày đã hẹn, cha mẹ Jêsu
và các môn đồ lại phải một
phen hoảng sợ. Jêsu cười nói
an ủi mọi người. Các môn đồ
xiết bao kinh lạ, cùng bàn
định xếp ngôi thứ, chọn
Phêrô làm môn đồ cả.
[1]Nay Kinh
Thánh nói rằng “chúa Jêsu 30
năm ở cùng với mẹ”. Câu này
trong nguyên thư chép lẫn
vào chính văn.
[2]Vì vậy
Kinh Thánh nói “chúa Jêsu 3
năm giảng đạo ở nước Jiuđê”.
[3]Jêsu bất
chấp ngông cuồng nóng vội
chỉ cốt cho được việc mà
thôi. Nay bọn Tây Dương cũng
đều như thế cả.
[4]Nguyên thư
phiên: SaLâm, tức là ghi tắt
tên ChiDoSaLâm (Jêrusalem).
[5]Người Tây
Dương gọi vua là “BàBà”
(pape), có nghĩa là vua,
hoàng đế. Tiếng nói của
người Tây Dương và tiếng
Jiuđê cũng ná ná như nhau.
[6]Nay thầy
tu Tây Dương muốn thăng đến
cấp “đại môn đồ” thì từ 3, 4
năm trước không được phép về
nhà, lệ ấy bắt nguồn từ đó.
[7]Chữ
“chính” (vừa đúng) thật là
diệu!
[8]Nay sách
kinh có câu: chúa Jêsu lên
rừng Tịnh Trai (Ôlivêtê).
Nguyên thư phiên Tịnh Trai
lâm.
[9]Tiên sinh
(thầy), nguyên thư chép nhầm
là tiên vương.
[10]Chỉ một câu nói ấy đủ khám phá mọi
phép lạ xưa nay.
[11]Đến ngày tận số mà vẫn không chịu
lạy mẹ, chỉ ngỏ lời từ tạ mà
thôi, quả đúng như lời người
ta nói rằng Jêsu là kẻ bất
hiếu nhất trong thiên hạ,
xem đó thì đủ biết trước
ngày xuất thế tu hành Jêsu
phụng dưỡng cha mẹ ra sao.
[12]Thế mà mẹ y ở nhà chẳng hề hay
biết.
[13]Nguyên thư chép: tất đắc chí (ắt
được người ấy), đúng là
phải: tất trí chi (ắt biết
rõ người ấy).
[14]Theo sử ký nước Jiuđê thì triều
đình gửi lệnh tầm nã khắp
nơi, hứa ai bắt được Jêsu
thì ban thưởng quan tước.
[15]Chiên là một giống vật ở phương
Tây, tựa như con dê nhưng
hiền lành hơn. Người Tây
Dương ví những người theo
đạo của họ là con chiên. Các
giáo sĩ truyền giáo ở nước
ngoài đều nói như thế. Chẳng
hạn các cố đạo sang ta thì
nói rằng: “Đức Giáo hoàng
(pape) thương con chiên Nam
Việt nên đặc mệnh sai ta
sang mở đường dạy đạo để
đuổi trừ ma quỷ”.
Lễ lớn nói đây là lễ Pasha
(lễ Vượt qua hoặc lễ Ăn bánh
không men), lễ cổ truyền của
người Do Thái.
[16]Nhà thơ nổi tiếng nhất đời Tấn,
tinh thông môn học thuật số,
âm dương ngũ hành, biết mình
sẽ bị chết vì kẻ ám hại mà
vẫn không tránh được.
[17]Nguyên thư phiên: MiAn, tức là ghi
tắt từ KhuMiAn (Ximêôn).
[18]Ai bảo Jiuđa là kẻ phóng đãng.
[19]Kinh Thánh ngày nay chỉ nói Jiuđa
bán chúa Jêsu mà không nói
rõ nguyên nhân sự việc.
[20]Theo phép Gia Tô thì hôn lên má là
rất tôn trọng, thân thiết.
Nay người Tây Dương, bề tôi
hôn vua, học trò hôn thầy
cũng có khi cầm hôn cả quần
áo nữa. Tục ấy đến nay vẫn
còn.
[21]Theo sử ký nước Jiuđê thì Jiuđa
thường bị Jêsu đánh đập đau
đớn cho nên mới tố giác
Jêsu.
[22]Vì thế ngày nay có lễ Hôn chân.
[23]Vì vậy, ngày nay, đồ lễ của nhà đạo
có chiếc bát gọi là bát rửa
chân.
[24]Tức là phép Sacramentô (nói tắt).
[25]Tiếng Latinh Sacramento = phép bí
tích. Nguyên thư phiên:
SanTiSaMôCaLaMiênTô.
[26]Các sách đạo ngày nay đều nói tránh
đi, chỉ nói rằng lấy phép đó
để nuôi dưỡng linh hồn cho
thiên hạ, khiến cho thiên hạ
được miễn tội.
[27]Gethsemani: nguyên thư phiên là
XhiệtSiMaNê, lùm cây rậm ở
phía đông Jêrusalem, nơi
Jêsu bị bắt.
[28]Nay tảng đó vẫn còn vết tích hai
đầu gối Jêsu. Thì ra Jêsu
cũng có chút thần linh?
[29]Đã là con chúa Trời sao còn phải
sợ?
[30]Trước đó Jiuđa chỉ đi tay không,
lúc này xách gậy chạy đến là
có ý khác rồi.
[31]Sách đạo đều nói: Jêsu đã biết
Jiuđa có tâm địa hiểm độc
nhưng vẫn nén nhịn mà hỏi
han hắn. Nếu đã biết hắn có
bụng xấu thì cần gì phải hỏi
nữa?
[32]Đâu phải lúc nhàn rỗi mà ôm hôn
nhau!
[33]Ngày nay các vít vồ, giám mục khi
bị bắt cũng làm ra vẻ thong
dong chịu nạn, ai cũng là
bắt chước Jêsu.
[34]Giấu sự thật, nói là “vào” (nhập)!
[35]Tên ba người ấy đã nói ở trên.
[36]Chẳng biết cầu xin ba điều gì?
[37]Tức lúc Jêsu quỳ cầu nguyện trong
lùm cây vườn Gêtsêmani.
[38]Dân tả đạo thường gọi quan quân
triều đình là quân dữ (hung
quân).
[39]Jêsu người ở làng Naziarét, nên
quân Jiuđê gọi như vậy.
[40]Không tin được.
[41]Thì ra Jêsu cũng có uy linh!
[42]Nay các sách Ngoại thư đều tránh
không nói đến việc gông cùm.
Ấy là vì ở các nước ấy cũng
có dùng gông cùm nên người
ta tránh đi cho khỏi xấu hổ.
[43]Cứu giúp là giúp để chống lại quan
quân chăng? Hay là đến để
cùng chịu tội chết?
[44]Lời nói của người này thật là một
câu rất tuyệt diệu để bài
bác cái thuyết đất vắt ra
người, đúng là khẩu khí của
binh lính.
[45]Đúng ra ở đây phải nói: “Tảng sáng
hôm sau…”.
[46]Annas, nguyên thư phiên là AnNiết.
[47]Trước khi Jêsu chưa đặt ra phép cấm
thì thầy cả đạo Do Thái vẫn
được lấy vợ, sinh đẻ con
cái. Về sau người Tây Dương
theo phép ấy cấm người đi tu
không được lấy vợ. Caiphae,
nguyên thư phiên là CaiBa.
[48]Ngày nay trong ảnh thánh Phêrô có
vẽ con gà sống ở bên cạnh.
[49]Phúc âm nói người bị chém đứt tai
là đầy tớ của Anne, tên là
Manchu (Juan, XVIII, 1-10).
[50]Phong tục man rợ đáng chê cười,
nhưng là do người ta quá căm
ghét Jêsu.
[51]Nguyên thư phiên là PhiLaTô. Tiếng
Latinh là Pontius, tiếng Anh
là Pilate. Các sách truyền
giáo ngày trước ở ta thường
gọi là Philatô.
[52]Trấn thành của Philatô tiếp gần đến
kinh đô (Jêrusalem).
[53]Ý tác giả chê thế chế của nước
Jiuđê: câu sau thuật việc
vua Hêrôtê tự mình xem tờ
tâu rồi phán xử kẻ phạm tội
v.v. chứ không giao qua cho
cơ quan như thẩm hình viên,
tòa trung thư v.v.
[54]Nguyên thư phiên ÊdoDi, tức là
phiên chữ Hérodes. Sự việc
nói đây thuộc về đời vua
Hérodes II, tức Hérodes
Antipas (Xem: Bốn Phúc âm,
Luca, chú, tr. 2).
[55]Sách Ngoại lục, Giảng lục đều chép
rằng: phong tục nước ấy,
những ai ngu ngốc phải mặc
áo trắng. Nhưng như Thực lục
đã ghi ở đoạn tiếp sau mới
thật đúng ý.
[56]Barabbas, nguyên bản phiên là
BaLaBa.
[57]Tục nước này thường dùng số 6.
[58]Theo Ngoại lục thì Jêsu bị đánh ước
đến 5.000 cái. Nhưng ai ngồi
đó đếm mà ghi được như thế?
[59]Nguyên thư: “Tí gian nhục ao như
nồi” nghĩa là nơi cánh tay
thịt lõm xuống như cái nồi
(chữ nối viết bằng Nôm).
Chúng tôi nghĩ rằng khi bị
đánh thì da thịt sưng húp,
nói cho có hình ảnh thì gọi
là sưng húp như chiếc nồi.
Nguyên thứ viết chữ ao là
vết lõm, có lẽ là nhầm, vì
da thịt ở tay dẫu bị nát lõm
cũng không thể quá to như
chiếc nồi được. Có lẽ đây là
chữ đột (vết lồi), một từ
trái nghĩa với ao, do tự
dạng hai chữ ấy có nét giống
nhau rồi liên tưởng mà chép
nhầm.
[60]Sách Ngoại lục nói: bấy giờ quân
lính đã mệt nhoài nhưng Jêsu
vẫn còn muốn cho chúng đánh
nữa để chuộc tội cho thiên
hạ. Nếu quả có như thế thì
ai vào đó mà biết được.
[61]Tên là Alina.
[62]Nay các sách đạo đều chỉ nói quân
Jiuđê lấy áo đỏ mặc cho Jêsu
mà tránh không nói nguyên do
tại sao.
[63]Nguyên văn: phủ việt. Phủ là loại
búa quay lưỡi về bên trái,
việt là búa quay lưỡi về bên
phải. Hai chiếc búa đó đặt
quay lưỡi về hai phía,
thường là dấu hiệu tượng
trưng cho quyền lực của nhà
vua.
[64]Người này biết đích xác cái phép
kín ấy!
[65]Tức là hình phạt đóng đinh lên giá
thập tự bằng gỗ.
[66]Vì Jêsu vốn lắm râu.
[67]Nguyên văn: xích (thước ta). 4 xích
= 1,33m; 9 xích = 3 mét.
[68]Núi này là nơi hành hình phạm nhân
ở bản trấn, xương người
chồng chất như đống đá.
Gôgôtha (Golgotha): tiếng Do
Thái. Nguyên bản phiên là
CaViĐaSaÔ tức là là phiên
theo tên chữ Latinh:
Calavario (tức cũng gọi là
núi Gôgôtha).
[69]Sách Ngoại lục nói: “Tấm khăn ấy
hiện vẫn còn ở thành phố
Rôma”. Theo lý mà suy thì từ
bấy đến nay đã hơn nghìn
năm, làm sao mà có thể không
hư nát?
[70]Sách Ngoại lục nói chữ ghi ở miếng
gỗ ấy là: “Jêsu ở Nazarét,
quốc vương nước Jiuđê”, thật
là vô lý!
[71]Dân tả đạo gọi người thầy cả là
“đại sư” (thầy cả).
[72]Mẹ của Juan là dì của bà Maria.
[73]Nguyên thư chép: “Thủ đắc lâm chi
phong sào thinh toan chú
can, tứ chi”. Câu này ý có
thể hiểu được, nhưng có thể
là chép thiếu hoặc sai một
hai chữ, dịch thật sát có
phần khó hiểu: “lấy tổ ong
tìm được trong rừng đựng
giấm đổ vào chiếc sào cho
uống”. Tạm dịch ý như trên.
[74]Nguyên thư chép: “Thử tận thế gian
sự hĩ”. Chúng tôi có ngờ
rằng chữ “gian” trong câu
này là chép thừa (theo thói
quen), và thiếu chữ “chi”
“Thử tận thế chi sự hỉ” (Đây
là việc của ngày tận thế),
nhắc lại cái thuyết ngày tận
thế. Tuy vậy, câu chép của
nguyên thư là hoàn chỉnh và
rõ nghĩa, xin dịch đúng
nguyên văn.
[75]Nguyên văn: cuối giờ thân (khoảng
từ 2 – 4 giờ chiều).
[76]Sao không lên thiên đường mà lại
xuống âm phủ? (LâmBô có
nghĩa là âm phủ).
Nguyên văn dùng chữ phiên
âm: LâmBô, tức là phiên từ
chữ limbo = địa ngục, âm
phủ.
[77]Nguyên thư phiên: Phổ Áo giang.
[78]Nguyên thư phiên là LiPhiTê.
[79]Bốn mươi bảy ngày sau khi Jêsu chịu
nạn. Nay tả đạo gọi là “vào
mùa”, số ngày tháng cũng
tính như thế, và kiêng ăn
thịt trong những ngày đó.
[80]Người Tây Dương khi bị hành hình
thì thân nhân đến thu nhặt
di vật là bắt đầu từ đó.
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
Bản điện tử do talawas thực hiện, Sách Hiếm cho thêm hình ảnh đăng lại ngày 6/29/07.
|