Bấm vào số dưới đây để chọn bài đọc
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu
Quyển II
Lên khỏi nước, Jêsu đặt bày lắm phép
Bị hỏi vặn, Jêsu nguy khốn nhiều phen
Jêsu muốn thay đổi hết phong tục trong nước khiến
cho chỉ một mình được độc tôn, bèn nghĩ ra lắm phép
bịp để lừa người. Khi có ai vặn hỏi, Jêsu đều khéo
miệng trả lời biến báo để xoa lấp sự dối trá.
Trước hết Jêsu thử làm phép nước thánh: múc một bình
nước trong, đổ muối vào, đem cất kín chừng 10 ngày
rồi lấy ra bày lên bàn thờ chúa Trời. Khi làm lễ,
Jêsu áp miệng vào bình lẩm nhẩm đọc lời cầu khấn,
xin chúa Trời ban phép cho để bình nước này diệt trừ
ma quỷ. Xong đó, Jêsu bảo mọi người rằng: “Phàm
những ai bị tà ma ám ảnh hoặc gặp tai nạn hoả hoạn,
lấy nước bình thánh này rảy vào thì đều qua khỏi
cả”. Có người hỏi: “Nước gì mà hay như thế?”. Jêsu
đáp: “Đó là nhờ phép thần thông biến hoá, ví như
trời mưa thì không đâu không khắp”. Phép nước thánh
bắt đầu như vậy [1]
.
Chừng một năm sau, thấy người ta tin phép nước
thánh, Jêsu bèn dụ dỗ dân chúng bỏ lệ tế trời bằng
các đồ tế thịt, chỉ dùng hương nến
[2] mà thôi. Người ta hỏi: “Làm sao biết chúa
Trời không hưởng đồ tế thịt?”. Jêsu đáp: “Những thức
chúa Trời đã cho phép chúng ta ăn đều là những vật
nhỏ mọn, đem những thức ăn nhỏ mọn ấy mà tế chúa
Trời là bất kính”. Từ đó dân nước ấy bỏ không dùng
thịt làm đồ tế chúa Trời
[3] .
Lại một năm sau, thấy người ta đã nghe lời bỏ việc
dùng thịt tế chúa Trời, Jêsu lại muốn bỏ nốt việc
thờ cúng quỷ thần, bèn gọi dân đạo đến bảo rằng:
“Quỷ thần là kẻ có tội với chúa Trời. Ngày xưa, chúa
Trời gọi chín hạng thiên thần chia phiên chầu thiên
đường, mỗi hạng có đến hơn vạn thiên thần. Năm ấy,
chúa Trời thường vắng mặt ở triều, vị thiên thần đệ
nhất tên là Lusaphê tự xưng là chúa Trời, các hạng
thiên thần đều nghe theo cả. Chúa Trời nổi giận,
phạt đày tất cả xuống địa ngục, bắt phải làm quỷ,
khiến cho bọn quỷ ác kia biết tôn trọng chúa Trời
rồi sau mới cho hưởng niềm vui trên thiên đường. Vì
vậy lũ quỷ ác ấy đi khắp nơi trong thiên hạ, tìm
trăm đường cám dỗ khiến cho những ai trót nghe lời
bọn chúng thì phải làm môn đồ cho chúng. Các ngươi
nên bỏ hẳn tục thờ cúng quỷ thần đi”. Mọi người đều
nghe theo. Từ đó dân nước ấy bỏ tục thờ cúng quỷ
thần [4] .
Qua năm sau, thấy những kẻ ngu khờ đã tin lời bỏ thờ
cúng quỷ thần. Jêsu lại doạ rằng: “Trên trời có
thiên đường để thưởng công, dưới đất có địa ngục để
phạt tội, giữa lưng chừng có toà phán xét. Tất cả
những người thiện, chúa Trời sẽ cho lên thiên đường,
kẻ ác thì chúa Trời bắt đày xuống địa ngục. Những kẻ
thiện ác không rõ lắm thì chờ toà phán xét, không
một hồn nào được về nhà nữa. Vì thế phải bỏ việc thờ
cúng người chết”. Dân nước ấy bỏ tục thờ cúng người
chết từ đó.
Có người hỏi: “Làm sao biết được người chết không
hưởng đồ tế lễ”, Jêsu đáp: “Cứ xem người ta khi nhỏ
thì biết bú, lớn lên thì không bú nữa, khi còn khoẻ
thì răng cứng gặm được xương, đến lúc tuổi già răng
yếu thì không gặm được nữa. Do đó mà biết rằng người
ta khi còn sống thì ăn, chết rồi thì không ăn được
nữa”. Những lời biện bạch lắt léo mê hoặc người ta
như thế không biết bao nhiêu mà kể hết được. Đó là
nguyên do của cái thuyết thiên đường, địa ngục và
toà phán xét.
Qua năm sau nữa, Jêsu thấy những kẻ ngu khờ đã nghe
mình mà bỏ việc thờ cúng tổ tiên ông bà, Jêsu lại
doạ rằng: “Phàm người chết ai cũng muốn chôn xác cho
sâu, các người đến đào huyệt sâu 6 thước
[5] để âm
hồn được thoả. Sau khi chôn rồi không được đào mồ
lên nữa, như thế mới thật là chí hiếu”. Từ đó có
phép chôn sâu không cải táng. Đáp lại câu hỏi của
dân chúng, Jêsu nói: “Mồ mả cũng ví như chỗ cần
kiêng giấu của cha ông, lẽ nào lại muốn cho con cháu
bới móc ra? Huống chi hài cốt lại có mùi hôi thối mà
đào lên tức là bất hiếu. Ta chỉ muốn lấy đạo hiếu
dạy người, không dám làm trái lại”. Dân chúng đều
nghe theo.
Qua năm sau, thấy những kẻ ngu khờ đã theo phép chôn
sâu, nhưng vẫn còn mặt đồ tang và khóc lóc thảm
thiết, Jêsu lại bảo rằng: “Người chết là kẻ được
trời cho giải thoát khỏi nỗi khổ ở thế gian để lên
chốn thiên đường vẻ vang, vì vậy không nên khóc lóc
làm cho âm hồn quyến luyến không nỡ dứt bỏ cõi khổ
để lên chỗ vẻ vang. Từ nay về sau khi có người chết
thì các người nên cùng nhau tụ họp đọc kinh cầu
nguyện chúa Trời, như thế mới là chí hiếu”, bèn bỏ
thủ tục khóc người chết và tục chôn tạm
[6] . Từ
đó dân nước ấy khi chết không có người khóc, người
chôn tạm nữa [7]
.
Lại một năm sau, thấy những kẻ ngu khờ đã nghe mình
mà bỏ tục khóc người chết, Jêsu lại bảo rằng “Người
chết được chúa Trời cho thoát khỏi mọi nỗi khổ cực ở
thế gian, thể xác chôn vùi cùng đất đen, chôn ở đâu
mà chẳng được, cần gì phải lựa chọn phương hướng?
Sống chết khác nhau, ví như cái rễ khô, há lại có
ích hơn cái rễ sống chăng?”, bèn bỏ tục chọn đất đặt
mồ mả. Dân nước ấy bỏ tục xem đất đặt huyệt từ đó.
Về phép xem thiên văn, Jêsu loè bịp người ta rằng:
“Chúa Trời sinh ra mặt trời để toả ánh sáng, tiện
cho ta làm việc, sinh ra mặt trăng để làm dịu mát
cho ta, ban đêm cho ta được nghỉ ngơi. Ấy đều là hậu
ý của chúa Trời cả. Mưa to gió lớn cũng là do Chúa
làm ra để trừng phạt loài người. Năm, tháng, ngày,
giờ là những hạn độ thời gian mà người chưa đặc biệt
định ra để cho tiện ghi nhận. Nguyên từ thời thượng
cổ chưa chia ra năm tháng, định ngày tốt ngày xấu mà
vẫn sinh sôi nảy nở phồn vinh, không vì thế mà tôn
giảm”. Có người hỏi: “Do đâu mà có các ngôi sao trên
trời?”. Jêsu đáp: “Ấy là cái diệu ý của chúa Trời,
nhân gian không thể biết được”. Từ đó lại bỏ việc
xem thiên văn.
Lại một năm nữa, thấy dân chúng đã theo tục không
khóc người chết, Jêsu mừng thầm bảo các môn đồ rằng:
“Thế là dân đã chịu tin, đạo ta bắt đầu được thi
hành rồi vậy”. Jêsu bèn đặt ra phép rửa tội, loè bịp
mọi người rằng: “Khi mới tạo thiên lập địa, chưa có
loài người, chúa Trời bèn lấy đất sét vắt thành một
hình người đàn ông, bẻ cành cây làm xương. Lại lấy
đất vắt một hình người đàn bà, bẻ một đoạn que thừa
ở xương sườn người đàn ông phụ thêm vào. Hai hình
người đã vắt xong, chúa Trời bèn truyền linh hồn
cho. Thế là hai hình đất kia bắt đầu chuyển động
thành người. Người đàn ông là Ađam người đàn bà là
Evà [8] .
Rồi chúa Trời cho phép hai người phối hợp với nhau
thành vợ chồng. Từ đó Ađam và Evà sinh ra không biết
bao nhiêu là con trai con gái. Chúa Trời đặc biệt
yêu quý vợ chồng Ađam, chẳng sót thứ gì không ban
cho, duy có thứ quả gọi là “quả cấm” thì không cho
đụng tới. Bấy giờ có bọn quỷ dữ ghen ghét vợ chồng
Ađam được chúa Trời yêu quý, rắp tâm vu cáo cho hai
người. Nhân khi Evà đi qua cây cấm, bọn quỷ hái trộm
quả cấm mà ăn và dụ dỗ Evà rằng: “Thứ quả này ngọt
lắm”. Bà Evà cắn vụng một miếng, còn nửa quả đem về
cho chồng. Ađam sợ phép chúa Trời không dám ăn, Evà
nài mời mãi Ađam mới cắn một miếng. Nhưng vừa nuốt
đến cổ thì hối, bèn bóp tay chặn cổ để khạc nhổ ra.
Vừa lúc ấy chúa Trời biết chuyện, đày vợ chồng Ađam
xuống địa ngục, bắt mãi mãi phải chịu tội lỗi cực
khổ. Từ đó người ta sinh ra đã phải mang tội tổ
tông. Nay ta phải lấy nước mà rửa sạch tội lỗi ấy
đi”. Rồi đó Jêsu bảo người ta khi đẻ con ra thì lấy
nước vẩy lên đỉnh thóp và nói: “Ta rửa tội cho mày
nhân danh Cha và Con và Phiritô Santô”, miếng khấn
nhẩm một đoạn rồi đến quỳ lạy trước bàn thờ chúa
Trời. Lễ xong thì nói: “Vậy là rửa sạch tội tổ tông,
từ nay về sau nếu làm điều ác là mày gây nên tội”.
Có người hỏi về việc chúa Trời lấy đất vắt nên
người, Jêsu đáp: “Cái quý báu đối với chúa Trời là
linh hồn, cho nên sau khi người ta chết, linh hồn
không mất, còn thể xác thì nát rữa thành đất. Các
người há chẳng thấy ngày nay xương sườn của đàn ông
chỉ có 29 chiếc mà của đàn bà thì đủ cả 30 chiếc đó
sao?”.
Người ta lại hỏi rằng nói Ađam nuốt quả cấm là căn
cứ vào sách nào? Jêsu đáp: “Cứ xem ngay ở cổ họng
đàn ông có cục xương trồi ra, mà ở đàn bà thì không
có”. Jêsu khéo viện dẫn những chứng cớ như thế, cho
nên những kẻ ngu khờ lại càng thêm tin
[9] .
Lại qua năm sau nữa, thấy người ta đã tin phép rửa
tội, Jêsu lại đặt ra phép giải tội, lừa phỉnh dân
chúng rằng: “Tội tổ tông đã có phép rửa, còn tội lỗi
do mình gây ra thì phải dùng phép giải tội. Phép
chúa Trời rất nghiêm khắc nhưng cũng rất khoan dung.
Những ai biết thú nhận tội lỗi đã phạm phải thì đều
được chúa Trời tha thứ, mà cũng được xoá tội trong
sổ ghi của quỷ”. Rồi Jêsu vào ngồi trong buồng kín
ngăn cách với bên ngoài bằng một cửa sổ bí mật, bảo
đàn ông đàn bà lần lượt vào quỳ trước cửa sổ ấy, khẽ
tiếng kể lại những lầm lỗi phạm phải trong đời, nhất
nhất phải nói đúng sự thật, không được giấu giếm.
Xưng tội xong thì gục đầu ngoài cửa sổ mà kêu khóc,
tự đấm vào ngực mình để tỏ ý ăn năn hối lỗi. Jêsu
ngồi trong buồng kia mà khấn nhẩm, rồi nói: “Con đã
được xá tội”. Từ đó Jêsu bảo dân đạo người giàu nên
ba tháng xưng tội một lần, người nghèo thì một năm
một lần cũng được. Có người hỏi: “Đã có tội thì làm
sao mà giải được?”. Jêsu đáp: “Chúa Trời đối với
người ta cũng như cha mẹ đối với con cái. Con cái đã
thú tội, cha mẹ lẽ nào lại không thương?”.
Qua năm sau, thấy người ta đã tin phép xưng tội,
giải tội, nhưng vẫn lo còn có kẻ nghi ngờ. Phải nghĩ
cách trấn áp tâm trí họ. Jêsu bèn đặt ra phép “rượu
thánh, bánh thánh”. Rượu thì lấy quả nho ép ra nước,
đựng vào chén thuỷ tinh gọi là chén “calixa” có chân
đế cao 1 thước. Bánh thánh thì làm bằng bột mì, hình
dáng như chiếc bánh bẻ
[10] . Thứ bột thật trắng và mịn, bỏ
vào lò sấy khô, khi ăn vào miệng là tan ngay. Lấy
kéo cắt vài miếng tròn như miệng chén, còn mấy chục
miếng khác thì nhỏ vừa bằng đồng tiền, bỏ cả vào một
chiếc chén bạc. Khi làm lễ, Jêsu tay nâng chén rượu
ngẩng mặt lên trời khấn nhẩm, rồi cầm lấy chén bánh
hai tay ốp sát thành chén, cúi đầu áp miệng mà khấn
nhẩm. Khấn xong, trước hết Jêsu giơ chén “rượu
thánh” lên trước bàn thờ chúa Trời. Môn đồ lắc
chuông tay làm hiệu cho mọi người quỳ lạy. Jêsu giơ
lên hạ xuống mấy lần rồi ngửa cổ uống hết chén rượu.
Sau đó Jêsu dùng ngón cái và ngón trỏ nhón chiếc
bánh tròn to nhất giơ lên, môn đồ lại nhắc chuông ra
hiệu cho mọi người quỳ lạy như trước. Bốn, năm thiếu
nữ được chọn đứng dưới bàn thờ ngân giọng hát rằng:
“Con kính lạy mình thánh chúa Trời”. Ngâm hát như
thế ba lần [11]
. Jêsu ngẩng đầu bẻ bánh mà nuốt, xong lại đứng ngay
ngắn. Một lát sau Jêsu cầm chiếc bánh giơ lên, nghi
lễ cũng như trước. Rồi đó Jêsu bảo những người xưng
tội bước lên quỳ một hàng ngang, hai môn đồ giăng
một tấm vải trắng ra phía trước, mọi người giơ tay
đỡ, còn hai đầu thì do hai môn đồ đứng cầm. Bấy giờ
Jêsu đi bỏ bánh vào miệng cho từng người, bảo phải
nuốt trửng không được nhai. Ai nhai bánh là phạm tội
phải đày xuống địa ngục. Giải quyết bảo mọi người
rằng: “Bánh thánh đã vào lòng dạ các ngươi, từ nay
lòng dạ các ngươi được sáng láng”
[12] . Tiếp đó lại ra hiệu cho các thiếu nữ
đọc rằng: “Lạy ơn Đức chúa Trời cao cả từ nay đã soi
tỏ ngôi nhà linh hồn con”. Lễ xong, Jêsu lại bước
lên bệ đứng chính vị. Những kẻ ngu khờ thấy thế lại
càng tin là mình đã được miễn tội. Phép “rượu thánh,
bánh thánh” bắt đầu có từ đó.
Qua năm sau, thấy lòng người đã tin phép bánh thánh
rượu thánh, Jêsu lại đặt ra phép xức dầu cho người
ốm và người chết, doạ dân chúng rằng: “Phàm những ai
ốm nặng đều cần phải ghi dấu trên mình để sau khi
chết chúa Trời tiện nhận dấu vết mà cho lên thiên
đường, những ai không có dấu thì phải đày xuống địa
ngục làm mồi cho quỷ ăn”. Thế là nhà nào có người ốm
nặng, con cháu đều phải mời Jêsu đến làm lễ xưng tội
một lần cuối cùng. Jêsu an ủi rằng “Mọi sự trên thế
gian này đều như giấc mộng trong chớp mắt, xưa nay
đều thế cả, chẳng nên luyến tiếc làm chi”. Jêsu bỏ
bánh thánh vào miệng cho người ốm rồi bí mật lấy cao
bạc hà hoà với dầu bôi lên trán người ốm một vết,
ngực và mỏ ác đều một vết. Mỗi lần bôi điểm như thế
đều chỉ trỏ làm phép
[13] . Sau cùng, Jêsu nhìn người ốm
mà khấn nhẩm rồi ra về.
Khi người ốm đã chết, Jêsu quày chiếu xung quanh tử
thi, bảo con cháu người chết quỳ lạy ở ngoài cầu
nguyện chúa Trời. Trong khi đó Jêsu vào trong chiếu
đi vòng quanh tử thi ba lần, chỉ trỏ làm dấu trên
mặt, chân và tay người chết. Rồi đó Jêsu bảo con
cháu mở chiếu ra làm lễ đọc kinh nhập liễm. Nếu có
người chết bất thình lình không kịp mời Jêsu đến làm
phép xưng tội thì khi tới nơi Jêsu chỉ khấn nhẩm một
lần, rồi cũng bảo quây chiếu xức dầu thánh, chỉ bỏ
phép cho ăn bánh thánh mà thôi. Từ đó có phép xức
dầu cho người ốm.
Được một năm, thấy người ta đã tin phép xức dầu
thánh cho người ốm, Jêsu lại đặt thêm phép chuộc
tội. Tuỳ theo tội lỗi của từng người nặng hay nhẹ mà
định mức độ nhiều ít, Jêsu bảo: “Đã xưng tội thì
phải thật tâm, phải tự đấm vào ngực cho đau thì chúa
Trời mới tha tội. Tội nặng hơn thì phải đọc kinh hết
2 lần con niệm [14] để chuộc tội. Nặng hơn nữa thì phải
đọc kinh từ 3 đến 7 lần. Kẻ nào phạm vào tội bội
nghịch thì phải cáo lỗi với quỷ ở âm phủ bằng cách
quỳ rạp xuống đất thè lưỡi liếm đất 3 lần hoặc 4
lần” [15]
.
Sau vài tháng, Jêsu gọi những người phạm tội phải
liếm đất tới, không phân biệt đàn ông đàn bà, đuổi
hết những người xung quanh rồi hỏi từng người: “Việc
liếm đất thế nào rồi?” Ai nấy đều trả lời: “Đã liếm
rồi”, Jêsu mừng thầm, cười mà bảo riêng với các môn
đồ rằng: “Bảo liếm đất mà bọn họ cũng làm thì chẳng
còn việc gì mà họ không theo”.
Rồi đó Jêsu đặt ra phép chuộc tội bằng tiền, mỗi
người nhiều ít tuỳ mức độ nặng nhẹ như đã định
trước: kẻ 5 đồng, kẻ 10 đồng, cũng có người phải nộp
một nén bạc [16]
. Tiền đó giao cho một chức sắc cẩn thận thật thà
cất giữ, bảo rằng: “Đó là tiền để dùng chung vào
việc thờ phượng chúa Trời”. Lại doạ rằng: “Kẻ nào
dám ăn cắp tiền ấy, dù chỉ một đồng, sau khi chết
chúa Trời sẽ bắt trị trọng tội liền 40 ngày”. Ai nấy
đều sợ hãi, cho nên số tiền ấy được gìn giữ rất
nghiêm. Ấy việc Jêsu lừa dối người ta để lấy tiền
bắt đầu từ đó.
Qua năm sau, thấy người ta đã tin phép nộp tiền
chuộc tội, Jêsu lập mưu chiếm đoạt tiền của để dùng
riêng, bèn doạ rằng: “Linh hồn ông bà tổ tiên các
ngươi hiện vẫn còn đợi ở toà phán xét, chưa thoát
được cõi âm. Ta có thể giúp cho ông bà tổ tiên các
ngươi được lên thiên đường, các người nghĩ sao?”.
Nghe vậy ai nấy đều lấy làm mừng, đáp rằng: “Xin
vâng lời thầy”. Jêsu bèn cho cắm nhiều thập giá khắp
bốn phía bên trong nhà thờ, trên rộng dưới hẹp thành
nhiều tầng nối nhau, gọi đó là những phần mộ. Xung
quanh mỗi tầng mộ đều cắm nến. Sau khi giơ bánh
thánh lạy chúa Trời, Jêsu đi khắp một vòng, lần lượt
thắp nến ở các tầng mộ. Rồi đó, giải quyết cùng một
môn đồ bỏ bột nhũ hương vào đỉnh đồng châm lửa đốt.
Tiếp đó đi vòng rắc hương lên các ngôi mộ.
Sau khi Jêsu đi hết một vòng từ trên xuống dưới thì
có hiệu truyền cho các thiếu nữ đồng trinh có mặt
trong cuộc lễ đồng thanh đọc lời cầu nguyện: “Lạy
Cha chúng con ở trên trời
[17] , chúng con nguyện danh Cha thành
thánh. Cha dựng nước Lâm Cách
[18] , ý Cha được thừa hành ở dưới đất cũng
như ở trên trời vậy. Chúng con mong Cha rày cho
chúng con đủ miếng ăn hằng ngày và miễn tội cho
chúng con, như chúng con cũng tha cho người có nợ
chúng con. Lại giữ chúng con khỏi sa cám dỗ và cứu
chúng con ra khỏi chốn hung ác. Amen!”
[19] .
Mỗi lần cầu nguyện xong lại đi quanh ba vòng, Jêsu
nhìn khắp các tầng mộ rồi hướng về phía bàn thờ chúa
Trời khấn nhẩm hồi lâu. Lại đi tiếp ba vòng khác,
hết lượt, các trinh nữ lại đọc lời cầu nguyện như
trên. Một môn đồ đứng bên cạnh đọc bài văn cầu hồn,
lời lẽ bi ai thống thiết, khiến cho họ hàng người
chết nghẹn ngào cảm thương, ném tiền vào như mưa,
tiền ấy gọi là tiền lễ phần mộ. Lễ xong, Jêsu bảo họ
hàng người chết rằng: “Ta vì các ngươi cầu nguyện
cho linh hồn tổ tiên ông bà các ngươi được lên thiên
đường. Các ngươi cũng vì tổ tiên mà cúng tiền cho
ta, nếu không thì các ngươi là kẻ bất hiếu”. Thế là
cứ đi một vòng lại thu được một quan. Những kẻ ngu
khờ thương tiếc tổ tiên ông bà, nay mừng vì linh hồn
tổ tiên ông bà được lên thiên đường, chẳng ai lại
không chịu bỏ tiền ra. Cứ như thế, ở mỗi làng Jêsu
đều thu được bạc trăm. Lễ mồ bắt đầu có từ đó.
Lại qua năm sau, thấy người ta đã tin phép nộp tiền
làm lễ mồ, Jêsu lại nghĩ cách để kiếm cho được nhiều
tiền hơn của những nhà giàu có, bèn phỉnh họ rằng:
“Tổ tiên ông bà các ngươi ăn ở phúc đức nên chúa
Trời mới cho các người giàu có, sao các người không
nghĩ báo đáp ơn đức ấy?”. Nhà phú hào có người hỏi
lại: “Tôi nghe thầy nói người chết rồi thì linh hồn
[20]
không trở về nhà nữa. Vậy biết báo đáp thế nào?”.
Jêsu liền át đi mà nói: “Đúng là hồn không về nữa,
nhưng ta có phép cầu nguyện, gọi là lễ Misa, muốn
cầu cho ai cũng đều được”. Người nhà giàu hỏi: “Có
lẽ cũng như lễ mồ chăng?”. Jêsu đáp: “Đâu phải thế!
Lễ mồ là lễ nhỏ, làm sao mà sánh được!”. Thấy họ đã
chịu tin, Jêsu mới bảo: “Các ngươi muốn báo đáp công
ơn tổ tiên ông bà thì lễ phải hậu hơn người nghèo,
như thế mới là hiếu kính. Có thể chung nhau ba bốn
người cùng làm một lễ cũng được”.
Thấy đám nhà giàu do dự, Jêsu bèn gọi các bà vợ của
họ đến, chê trách họ không biết báo hiếu cho tiên
linh. Các bà vợ cả tin, nhớ kỹ lời khuyên của Jêsu
rồi về nhà thúc giục chồng con phải lo việc báo
hiếu, vì thế chẳng ai là không nghe theo. Từ đó Jêsu
đặt ra nghi thức lễ phục sang trọng hay bình thường
tuỳ theo từng cuộc lễ
[21] .
Trong lễ Misa, về nghi thức đèn nến thì có thêm mâm
hương để phân biệt với lễ mồ. Lại mời họ đạo các
làng đến giúp đọc kinh. Đám nhà giàu vì thế lấy làm
hãnh diện vẻ vang lắm. Xong lễ, cứ mỗi hồn phải nộp
5 quan, thêm tiền đèn nến 3 quan nữa. Trong một năm,
cứ mỗi làng Jêsu thu được của đám nhà giàu ít nhất
cũng được 50 quan. Từ đó bắt đầu có lễ Misa
[22] .
Có người phàn nàn với Jêsu rằng: “Chỉ thấy thầy đọc
nguyên danh Cha thành thánh với những là “tha nợ”,
chứ có nhắc nhở gì đến linh hồn ông bà chúng tôi
đâu? Sau lại lắm tiền thế?” Jêsu đành phải chống chế
rằng: “Tất phải tuyên xướng ơn Đức chúa Trời rồi sau
mới có thể cầu nguyện cho âm hồn được, cũng ví như
vào cửa quan thì phải thác ra một cớ gì rồi sau mới
có thể kêu xin việc oan riêng của mình. Còn như cầu
mật những gì thì ta đã nói hết rồi”. Người nhà giàu
cũng tin là đúng.
Jêsu còn muốn lấy nhiều tiền hơn nữa của các nhà
giàu, bèn lập mưu nói rằng: “Lễ Misa chỉ để cầu truy
cho hồn cũ [23]
, lên cho được thiên đường cũng còn chậm. Nếu cầu
cho người mới chết lên tác dụng được mau hơn”. Người
ta hỏi lại: “Lễ ấy thế nào?” Jêsu đáp: “Kẻ làm con
có lòng hiếu thì không nên tiếc của. Làm việc hiếu
mà tiếc của thì chúa Trời không dung”. Mọi người
nghe nói thế đều lấy làm sợ. Jêsu lại nói: “Nếu các
ngươi làm lễ cầu nguyện cho linh hồn tổ tiên mau lên
thiên đường thì tổ tiên sẽ cầu xin Chúa cho các
ngươi càng được thêm phúc đức”. Dân đạo đều lấy làm
vui, xin nghe lời chỉ giáo, Jêsu nói: “Lễ này mỗi
ngày phải 20 quan, muốn làm bao nhiêu ngày thì nộp
bấy nhiêu lần tiền”. Mọi người hỏi: “Lễ ấy là lễ
gì?” Jêsu đáp: “Đó là lễ Quy lăng”. Thế là từ đó mỗi
khi có người nhà giàu nào chết, Jêsu đều sai môn đồ
đến thúc giục con cháu nhà ấy đành phải đi mời. Jêsu
gửi giấy báo cho dân đạo biết ngày làm lễ, ai đến
thì được phúc lành, được chúa Trời thưởng công.
Tới ngày làm lễ Quy lăng, Jêsu đến nhà người chết
cho lập bàn thờ, quây trướng mộ như đã nói ở trước,
chỉ khác một điều là trên thi hài người chết thắp 5
ngọn nến ở 5 phương
[24] . Jêsu mặc y phục đại lễ, làm
phép chầu chúa Trời rồi đi đọc kinh xung quanh
trướng mộ. Đọc xong lại đi quanh thi hài ba vòng,
sai môn đồ đọc kinh cầu nguyện xin chúa Trời cho
người chết được lên thiên đường. Jêsu lẩm nhẩm cầu
khấn, giơ tay bắt quyết bốn phía, rồi tuyên bố: “Lễ
xong!” Sau đó tang chủ đem tiền đến nộp như đã định
trước [25]
.
Lễ Quy lăng đã xong, Jêsu bảo tang chủ rằng: “Người
thân của nhà ta là bậc phú quý, chẳng lẽ lại đem ra
chôn ngoài đồng như các nhà thường dân? Ngươi nên
xin làng cho mai táng ngay trong nhà thờ, như thế
mới thật là đắc phúc!” Tang chủ xin với làng, làng
bảo là không được, bèn đến hỏi Jêsu. Jêsu nói: “Ấy
là việc làm phúc tốt nhất cho người ta, nhưng bảo
phải nộp tiền lệ phí để bỏ vào quỹ chung của nhà
thờ”. Dân làng nói: “Nhờ thầy định cho mức lệ phí
bao nhiêu?” Jêsu đáp: “Chôn ngay trong điện thì phải
30 quan, chôn bên ngoài thì tuỳ chỗ gần hay chỗ xa
mà châm chước”. Dân làng nghe theo lời Jêsu. Thế là
đám nhà giàu lấy làm tin, lại nạp lệ phí điện táng
để lấy tiền chi tiêu việc chung trong làng. Từ đó
bắt đầu có lễ Điện táng.
Được một năm, thấy dân chúng đã tin theo các lễ
Misa, Quy lăng, Điện táng, Jêsu lại loè phỉnh rằng:
“Người chết có phép của người chết, người sống cũng
có phép của người sống. Vợ chồng lấy nhau là do chúa
Trời định trước, cho sinh con đẻ cái để ngày sau có
nhiều người cùng lên thiên đường làm bạn với Chúa
[26] .
Ta có một phép gọi là Matrimôniô
[27] . Sau khi trình với chúa Trời, vấn đề
được chung sống đến già, sinh con đẻ cháu đông đúc”.
Rồi đó Jêsu đặt lệ: hễ trai gái lấy nhau thì trước
ngày đón dâu, con trai phải đến nhà thờ xưng tội để
được nghe lời răn kín. Con gái cũng phải làm như
thế. Ngày hôm sau đến lễ nhà thờ, cô dâu chú rể đều
được ăn bánh thánh. Hôm sau nữa mới làm lễ cưới. Cha
mẹ dẫn con trai, con dâu ra quỳ lạy trước bàn thờ
chúa Trời. Jêsu hỏi: “Bên nam tên là… muốn lấy bên
nữ tên là… làm vợ, hai người có thuận chung sống
trọn đời hay không?”
[28] . Chú rể đáp: “Bẩm thầy, có ạ”.
Jêsu lại hỏi cô dâu, cô dâu cũng trả lời như vậy.
Tiếp đó Jêsu bảo chú rể giơ bàn tay trái úp trên bàn
tay phải của cô dâu rồi rảy nước thánh lên tay hai
người. Tiếp theo là nghi thức trao tặng nhẫn cưới.
Jêsu cầm nhẫn đeo vào ngón tay cho chú rể, rồi bảo
chú rể đeo vào cho cô dâu. Một môn đồ đội bức thư
quỳ bên cạnh, Jêsu trông vào đó mà đọc, đại khái
cũng là những lời cầu phúc chúc thọ mà thôi. Lễ
xong, gia chủ tuỳ mức giàu nghèo đem biếu tiền lễ
cho Jêsu, thưởng cho cả người môn đồ đội thư nữa,
nhiều ít tuỳ ý. Xong lễ, hai người đưa nhau về nhà.
Đó là phép tiểu hôn lễ.
Nếu là lễ cưới của con cái nhà giàu, Jêsu phỉnh cha
mẹ họ rằng: “Nhà ta là hạng có vai vế, chẳng lẽ lại
tiếc con cái không cho chúng được làm đại lễ
Matrimôniô?” Nhà giàu đua danh, nghe nói thế lấy làm
mừng. Jêsu lại bảo làm lễ xưng tội ăn bánh thánh như
đã nói trên. Trước khi làm lễ một ngày, Jêsu sai môn
đồ đi báo cho mọi người biết đến ngày nào mời đến
nhà thờ làm lễ cưới cho đôi trai gái nào. Đến hôm
nấy, đàn ông đàn bà hội họp đông đủ, nghi thức cũng
như đã nói trên. Chỉ khác là thầy trò Jêsu mặc áo lễ
màu sắc rực rỡ, người môn đồ đội thư hát một bài, ấy
là để phân biệt với lễ cưới của nhà nghèo. Lễ xong,
theo lệ, cả nhà trai và nhà gái mỗi bên đem 5 quan
tiền ra tặng Jêsu. Người đội thư và người lĩnh xướng
được nhận 5 quan chung nhau. Jêsu bảo gia chủ rằng:
“Nếu có hảo tâm thì không câu nệ theo số ấy”. Gia
chủ muốn tỏ ra cao thượng, thường biếu tiền nhiều
hơn định lệ. Với cách làm phép cưới như thế, trong
một năm Jêsu thu được ở làng lớn không dưới trăm
quan, làng nhỏ ít nhất cũng được năm chục quan. Đó
là phép đại hôn lễ. Từ đó bắt đầu có hôn lễ
Matrimôniô.
Nếu có đôi trai gái nào ưng ý nhau, Jêsu lựa lúc
vắng người bảo họ nói thật cho biết. Sau đó, Jêsu
chẳng kể gì đẳng cấp sang hèn, tộc thuộc thân sơ của
đôi bên trai gái, cứ gọi cha mẹ họ đến để thu xếp
tác thành. Nếu cha mẹ họ không ưng thuận, Jêsu nổi
giận không cho làm lễ xưng tội nữa
[29] . Cha mẹ sợ không được làm lễ xưng tội
thì sau khi chết, linh hồn bị đày xuống địa ngục,
nên cũng đành phải nghe theo. Từ đó người bên đạo
lấy nhau không phân biệt huyết thống
[30] .
Một năm sau, dân đạo đã chịu phép cưới Matrimôniô,
những người lấy vợ lẽ cũng đến xin Jêsu làm lễ cưới.
Jêsu muốn đặt phép một vợ một chồng, nhưng sợ người
ta khó tin theo, bèn nghĩ cách nói trước rằng: “Hôn
lễ chỉ được làm khi cưới vợ cả, còn đối với vợ lẽ
thì dẫu là người thứ mấy cũng không được làm lễ cưới
nữa”. Mọi người cũng lấy làm tin. Hễ đi đến đâu,
Jêsu cũng nói: “Sinh làm thân con gái mà đi lấy lẽ,
không được làm lễ cưới thì thật là xấu hổ”. Đàn bà
con gái sợ xấu hổ không chịu làm vợ lẽ nữa.
Nghe ngóng thấy lòng dân đã thuận, Jêsu lại dọa
rằng: “Chúa Trời sinh ra đàn ông đàn bà bằng nhau,
một nam và một nữ là vừa đủ số. Từ đời thượng cổ,
chúa cũng chỉ cho ông Ađam lấy một bà Evà. Nay có
người lấy hai vợ, thế là không đúng bản ý của chúa
Trời. Ta thấy được địa ngục, phàm những ai lấy hai
vợ đều bị quỷ cưa người ra làm đôi. Vì vậy đừng lấy
hai vợ là hơn”. Mọi người cả sợ, chẳng ai dám trái
lời. Phép hôn thú một vợ một chồng bắt đầu từ đó.
Mỗi khi đặt ra một phép bịp nào, Jêsu đều nghĩ sẵn
sách biện bạch quỷ quyệt để giải thích, cho nên khi
có nhiều câu hỏi thì lời lẽ Jêsu đối đáp như vang,
ít bị lúng túng. Những kẻ ngu khờ lại càng khen Jêsu
là người thông minh sáng suốt. Khi mọi người đã
thuận theo phép cưới Matrimôniô và tục một vợ một
chồng, Jêsu nói: “Một lần đã trình với Chúa rồi,
suốt đời không được thay đổi nữa. Kẻ nào làm trái
thì bị trừng phạt đày xuống địa ngục”. Mọi người
tranh nhau nói: “Nghiêm khắc quá như thế thì bao
nhiêu người góa vợ góa chống khi còn ít tuổi biết
nương tựa vào đâu? Ắt lại sinh ra nhiều chuyện bậy
bạ”. Jêsu đáp: “Chúa Trời đặt ra phép tắc rất nghiêm
mà cũng có chỗ khoan nới, đã có phép xử trí riêng!”.
Người ta hỏi phép xử trí riêng như thế nào, Jêsu
đáp: “Kẻ nào đã trót làm bậy thì cứ thú thật với ta,
rồi đem nhau đến yết kiến ta ở nhà riêng, ta sẽ
trình với chúa Trời cho, sau khi chết đã có ta làm
chứng”. Mọi người nghe nói cả mừng. Bấy giờ có người
hỏi: “Nếu như thế thì những ai trước đây đã trót lấy
hai vợ đều bị đày xuống địa ngục cả hay sao? Nếu quả
thế thì ta cứ làm phứa đi cho đã đời!”. Jêsu liền
đáp: “Trước đây chưa biết thì Chúa tha cho hết. Từ
nay về sau đã biết phép rồi mà vẫn cố tình phạm thì
Chúa không dung!” Bấy giờ dân chúng mới yên tâm. Từ
đó đã có lễ Matrimôniô, lại có thêm phép riêng nữa.
Xét sách Ngoại lục [31]
chép rằng: Bấy giờ trong đám
dân đạo có đứa trẻ chừng 14 tuổi, tên là NaCô
[32]
đứng bên cạnh cười nói rằng: “Thầy có cách cầu
nguyện chúa Trời cho loài người được trường thọ thì
làm gì có ai phải góa vợ chồng mà còn phải đặt ra
phép riêng nữa?”. Jêsu quắc mắt mắng rằng: “Sống
chết là do ý kín của chúa Trời, ta biết cả, nhưng vì
sự phép Chúa không nói ra mà thôi. Sao mi lại dám
bắt bẻ? Thật là xấc ngạo!”. Người xung quanh đều tôn
sợ Jêsu, thấy vậy bèn đuổi thằng bé đi chỗ khác. Từ
đó Jêsu lấy làm ghét đứa bé thông minh sắc sảo ấy,
gọi cha mẹ nó đến mà dọa rằng: “Hình phạt dưới địa
ngục hễ kẻ nào xấc ngạo thì bị cắt lưỡi. Nhà ngươi
sinh phải đứa con hư, ngày sau xuống địa ngục, vợ
chồng người ắt bị trừng phạt vì tội không chịu dạy
dỗ con cái” [33]
. Thế là cha mẹ thằng bé NaCô không dám thưa hỏi gì
nữa.
Lại có người thân hào là Xari và Annô vốn không tin
những lời thuyết giáo của Jêsu, nhưng vì muốn lợi
dụng cái tài chữa bệnh nên mới phải làm thân với y.
Một hôm Xari ngồi đối diện với Jêsu, nhẩn nha bảo
rằng: “Thầy nói thức ăn hoa quả là những vật nhỏ mọn
không thể đem làm lễ vật tế Trời, thế thì bánh rượu,
đèn nến, màn trướng há chẳng là vật nhỏ mọn là gì?
Sao thầy vẫn dùng?” Annô cũng nói: “Thể xác người ta
do chất đất tạo thành, là thứ hèn kém, vậy thì khi
sống phải mặc quần áo làm gì? Khi chết cũng cần gì
phải khâm liệm? Mà trộm cướp, tà dâm làm hại cái thể
xác chất đất ấy thì có gì đáng tội? Thầy bảo không
thờ cúng người chết, thế thì sau khi thầy chết cũng
chẳng ai thờ cúng thầy. Thầy lại nói người chết phải
chôn cho sâu, thế là còn quý nó, chi bằng cứ quẳng
đi mặc cho nó hôi thối! Cứ như ý tôi thì những lời
thầy nói đó chỉ cốt lừa dối người ta, chẳng được câu
nào đáng nghe!” Jêsu chịu cứng không đáp lại được.
Biết làng ấy có hai người tài giỏi, Jêsu bèn bỏ
không đến truyền đạo nữa. Về sau thằng bé NaCô bị
ốm, Jêsu đến chữa không khỏi, nói với mọi người
rằng: “Nó phạm tội xấc ngạo với bề trên thì tránh
sao khỏi chết non!” Bốn năm sau, Xari và Annô kẻ
trước người sau qua đời, Jêsu càng thêm đắc ý, bảo
dân làng rằng: “Không tin chúa Trời thì tai họa liền
ngay trước mắt”.
Từ đó mỗi khi có người quyền hào nào chết, Jêsu đều
nhắc lại câu nói đó để người ta kinh sợ, càng kiên
lòng theo đạo của mình.
Con cái của hai người thân hào kia nghe lời đồn đại
như vậy, bèn kéo đến hỏi Jêsu: “Nhà ngươi nói thể
xác chẳng có gì đáng quý, mà chết tức là được thoát
khỏi mọi cực khổ ở thế gian. Thế thì chết là một sự
vui vẻ đắc phúc. Nay sao ngươi lại nói chết là tai
họa? Lời nói của ngươi chẳng khác gì lỗ gỗ
[34] !”
Từ năm 18 tuổi đến bấy giờ, Jêsu đi giảng đạo khắp
nơi, dựng đặt lời gian phép bịp để mê hoặc lòng
người, lại thi thố nhiều thuật là làm cho mọi người
kinh sợ, cho là lạ đời, gọi y là thần nhân trên
trời, rồi từ đó nhất nhất nghe lời Jêsu, Jêsu thường
nói: “Chúa Trời [35] chỉ là một, nhưng có ba ngôi: ngôi
thứ nhất là ngôi Đức chúa Trời, ngôi thứ hai là ngôi
Đức chúa Con, ngôi thứ ba là Phiritô Santô
[36] ”.
Bản ý Jêsu muốn tự xưng là con chúa Trời, nhưng chưa
dám nói ra. Đến bấy giờ ngầm sai
[37] môn đồ trước tiên đi rỉ tai từng người
nói rằng: “Vị thầy thiêng liêng của chúng ta chính
là Chúa ngôi hai, con chúa Trời đấy, nhưng vì khiêm
tốn nên thầy ta không muốn nói thật, chỉ thi thố
phép thuật huyền diệu để cứu người mà thôi. Nếu
không thì những phép lạ biến hiện kỳ ảo kia người
thường làm thế nào được?”
[38] rồi đó Jêsu kín đáo dò hỏi môn đồ lòng
dân thế nào. Môn đồ đều nói: “Những kẻ ngu dốt đều
tin phục cả, còn những người cao minh thì hãy còn
cứng lòng” [39]
. Jêsu mắng rằng: “Ta đây đâu phải là kẻ lừa người?
Các ngươi hằng ngày chung sống với ta mà còn không
biết ta là ai, huống chi là người khác!”
[40] Các
môn đồ đều tạ lỗi, hứa từ nay xin dốc lòng đi dụ
đạo. Đến bấy giờ Jêsu thấy dân chúng phần nhiều đều
gọi mình là thần thánh trên trời, vả lại năm ấy phép
cưới Matrimônitô thi hành đã rộng, đi đến đâu cũng
thấy nét mặt của dân đạo đã trở nên ngu thộn
[41] ,
Jêsu biết cõi tâm của họ đã mê đắm, bị dọa nạt lừa
phỉnh đã sâu, Jêsu bèn bảo rằng: “Chúa Trời thương
xót người đời phạm nhiều tội lỗi, sau khi chết ắt bị
đày xuống địa ngục, cho nên sai ta giáng thế đặt
định các phép tắc để dạy bảo. Ta quả thật là Ngôi
hai, con chúa Trời đây”. Đàn ông đàn bà đều xuống
vái lạy, hô to: “Con chúa Trời gián sinh!” Jêsu ngồi
ở trên cả mừng. Đó là năm Jêsu 30 tuổi
[42] .
Sau khi tự xưng là con chúa Trời, Jêsu nói năng ra
dáng dõng dạc, quát mắng dân chúng rằng: “Từ nay trở
đi, đàn ông đàn bà các ngươi không phân biệt tuổi
tác cao thấp, tới ngày nọ đều phải đến đông đủ để
bái yết chúa Trời (…)
[43] . Đức chúa Con sẽ làm
Confirmaxông [44]
cầu nguyện cho các ngươi được hưởng trường sinh”.
Đến khi ấy, Jêsu đã giàu có lắm, bèn tự làm ra một
chiếc mũ hình sao, gọi là mũ triều thiên. Chiếc mũ
ấy nhọn mà cao, bốn phía đều có dải tua. Lại may một
chiếc áo choàng màu đỏ có đính ngọc châu. Áo này là
kiểu áo thụng, không có tay, đằng trước đằng sau đều
có đính những hạt ngọc xanh biếc, ánh lấp lánh như
sao. Lại làm một cây gậy bạc gồm nhiều đoạn ngắn
lồng với nhau mà thành
[45] . Jêsu lại ngầm lấy lá bạc hà
sắc thành cao rồi hòa với dầu, gọi là “dầu thánh
sống” [46]
. Đến ngày lễ, Jêsu họp dân đạo ở nhà thờ, bảo mọi
người đứng cả ở phía sau
[47] . Jêsu mặc áo đỏ đội mũ triều thiên,
tay cầm cây gậy bạc ngồi trên chiếc ghế cao đặt
trước bàn thờ chúa Trời quay lưng lại phía mọi
người, tự xưng là thay Chúa hành đạo. Hai môn đồ,
một người bưng bát dầu thánh đứng gần bên phải, một
người cầm tấm khăn lụa đứng hơi xa về phía bên trái.
Dân đạo theo thứ tự bước lên chắp tay quỳ ở trước.
Jêsu giơ tay phải quệt dầu bôi lên trán từng người,
miệng khấn nhẩm ba bốn tiếng, đưa tay trái thoa nhẹ
lên má người ấy rồi bảo đi ra phía bên trái. Người
môn đồ đứng bên trái cầm khăn lau vết dầu trên trán
người vừa làm lễ. Xong lễ, Jêsu báo cho mọi người
biết phép ấy chỉ làm một lần cho một đời người, nếu
nhầm lẫn làm lại lần nữa thì linh hồn bị đày xuống
địa ngục. Phép lễ Confirmaxông bắt đầu từ đó, và
cũng từ đó Jêsu công nhiên tự xưng là con chúa Trời.
Sau khi đặt danh hiệp tôn quý, thấy phong tục trong
nước thờ chúa Trời
[48] , nhưng chỉ làm lễ vào ngày đầu
tiên trong tuần, Jêsu bèn đặt ra phép ngày nào cũng
làm lễ cầu nguyện [49] , nhưng lấy ngày đầu tuần làm ngày lễ
trọng. Rồi đó, muốn cho các nơi khác mau chóng nhận
biết mình là con chúa Trời, một hôm Jêsu dẫn môn đồ
đến làng Bêtani [50] lén vào xem trộm thầy cả
[51]
đang làm lễ ở làng ấy. Thấy trên mâm bày đồ tế thịt
mà ở bên ngoài bày nhiều chảo xúp lớn
[52] , Jêsu giơ chân đá nhào chiếc ghế có
đặt nồi xúp, cất tiếng mắng rằng: “Chỗ ngự của cha
ta, bọn các ngươi sao dám bày trò bất kính?” Đoạn
lại quát: “Cha ta đâu phải hạng quỷ thần tạp nhạp
các ngươi đem đồ thịt đến tế lễ như trò đùa vậy?”
Bấy giờ hơn hai trăm dân làng dự tế ầm ầm tức giận
ùa tới tóm cổ Jêsu mà hỏi: “Mi là người ở đâu?” Jêsu
đáp: “Ta là con chúa Trời”
[53] . Mọi người đều reo to: “Thì ra là tên
yêu quái Jêsu! Nay thấy mặt yêu quái Jêsu đây rồi!”
Thầy cả sai nọc Jêsu ra đánh và bắt luôn cả hai môn
đồ của y trói gô lại đem giam trong nhà thờ, đợi
giải lên huyện trình quan. Sau đó, dân các làng theo
đạo Jêsu nghe tin chạy tới khóc lóc van xin, sau một
ngày chung nhau được 30 nén vàng đem đến nộp chuộc,
thầy trò Jêsu mới được tha về.
Con chúa Trời đi qua làng Pruxơ [54] , đàn ông đàn bà trong làng tranh nhau
ra đón, Jêsu ân cần thăm hỏi mọi người. Tối hôm ấy
dân làng hơn trăm người kéo đến xưng tội với Jêsu
[55] .
Người các làng gần đó cũng đem lễ vật đến biếu. Hào
trưởng làng ấy vốn ghét Jêsu, bèn đi báo với quan sở
tại rồi dẫn tuần phu cùng đi với quân lính về làng
vây bắt được thầy trò Jêsu. Quan sở tại thấy Jêsu
thân hình to béo, mặt mũi phì nộn, râu rậm xồm xoàm
thì bật cười mà nói rằng: “Tiếng đồn quả không sai!”
Nói đoạn bèn hỏi tội Jêsu, sai lính nọc ra đánh một
trận đòn no chán, rồi nhân lúc trời tối khiêng vứt
lên đống phân tro ngoài đồng. Đã thế, Jêsu còn cười
gượng nói với môn đồ: “Đời người ta quý nhất là phần
hồn, còn phần xác thì sau khi chết dẫu sang hay hèn
cũng thành tro tất cả, chẳng cần phải động lòng”
[56] .
Do tích ấy cho nên ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ Tro
[57] .
Hôm làm lễ ấy, cố đạo lấy bát đựng đầy tro rưới nước
phép vào, truyền cho con chiên vào quỳ phía trước
rồi lần lượt rắc lên đầu mỗi người một nhúm tro,
khấn nhẩm rằng: “Thuở trước chúa Trời lấy đất vắt
thành người, sau khi chết thể xác lại trở về với tro
đất”. Các cố đạo nói và làm như thế để cho người ta
không quên phần xác sau khi chết vậy. Nhưng sự thật
việc ấy thì bọn họ giữ kín không nói ra. Đời sau làm
lễ Tro là theo tích chuyện ấy.
Lại xét: lời khấn nhẩm chẳng phải là lời của Jêsu,
mà do Giáo hoàng của người Tây Dương đời sau đặt ra.
Mỗi lần rắc tro lên đầu con chiên, cố đạo lại niệm
rằng: “Tro đè đầu người, lòng người được nguội
lạnh”. Lễ xong lại lấy một bát lớn đựng đầy tro, đọc
lời niệm rằng: “Rắc tro này, lòng người được nguội
như tro đất”, rưới nước thánh vào rồi bảo: “Người ở
nhà không đến được thì những ai hiện có mặt ở đây sẽ
lĩnh về một ít bảo họ tự rắc lấy để được nhiều may
mắn”. Mọi người xúm đến lĩnh tro đem về. Cho nên
ngày nay, trong ngày lễ ấy, dân đạo dẫu đến nhà thờ
hay ở nhà đều bị tro đè đầu. Đó là cái phép của bọn
cha cố Tây Dương nhân sự việc mà đè nén người ta.
Nếu không phải vậy thì cái chuyện người ta sau khi
chết trở thành tro bụi ai mà chẳng biết, hà tất phải
rắc tro làm gì? [58] .
Lại một lần khác, Đức chúa Con cùng với môn đồ đến
một làng gọi là làng Liễu
[59] , dân làng tranh nhau đem chiếu vải ra
rải đường nghênh đón
[60] . Ai nấy đều cầm một cành liễu
như cầm cờ, hô to: “Vua trời đã tới, chúng tôi xin
vác cờ liễu ra nghênh đón!” Jêsu cả mừng giơ tay vẫy
chào rồi nói: “Ngồi xuống, ngồi xuống, ta sẽ làm
phép Confirmaxông cầu thọ cho các ngươi”. Quan bản
hạt hay tin, bí mật sai quân về bắt, dân làng biết
tin vội đến báo cho Jêsu biết. Ngay đêm ấy, con chúa
Trời tìm đường tẩu thoát. Quan bản hạt nổi giận cho
bắt trói hào trưởng làng để tra hỏi, người làng phải
xuất quỹ chung 50 quan để lo lót, quan mới cho thôi
tra khảo. Thế là dân tả đạo tụm năm tụm ba nói rủa
quan hạt rằng: “Hạng người ấy chết xuống địa ngục
cũng chẳng ai thương!” Viên quản hạt nghe biết cả
giận nói: “May cho vua trời con chúa nhà bay!” Lại
nói: “Nếu có xuống địa ngục cũng chẳng khiến chúng
mày phải thương xót”. Ngày nay sau lễ Tro kế đến là
lễ Lá liễu [61]
là vì vậy.
Trong ngày lễ Lá liễu, các cha cố bẻ lá liễu ban cho
con chiên đàn ông đàn bà mỗi người một cành bảo
rằng: “Đó là để kỷ niệm về việc chúa Jêsu chiếm được
cảm tính của dân làng Liễu, con nên cắm vào thánh
giá mà đeo ở phía bên trái, Chúa sẽ phù hộ cho con
bình yên vô sự”. Cha cố chỉ nói thế, còn chuyện Jêsu
đến làng Liễu bị quan dân vây bắt thì giấu biệt đi
không nói tới [62]
.
Một hôm con chúa Trời đến làng SaNa kê bục giảng
đạo, lời lẽ lưu loát. Dân làng trông tướng mạo Jêsu,
ai cũng cho là lạ, những người có học thức trong
làng cũng đến nhìn lén xem y là người thế nào. Lúc
ấy Jêsu đang thao thao thuyết giáo xưng tao xưng mày
với dân làng, nhiều lần nêu tên những người tài giỏi
các nơi [63]
mà chê bai, cho là còn kém mình. Bốn mươi năm trước,
ở làng SaNa có Ingatiô và 8 người khác có công đức,
được dân làng lập miếu thờ phụng. Mấy người có học
nhân đó hỏi Jêsu: “Thầy có biết tiên thánh làng
chúng tôi là Ingatô không?” Jêsu đáp: “Các ngươi
chẳng hiểu ta chút nào! Nay ta bảo các ngươi: Từ khi
chưa có Ingatiô thì đã có ta rồi, sao ta lại chẳng
biết?” Nghe Jêsu trả lời như vậy, mấy người kia bừng
giận mắng rằng: “Gã yêu tà điên rồ kia, người mới ba
mươi tuổi, sao dám bảo là sinh trước Ingatiô của
chúng ta?” Nói đoạn bèn gióng trống hô người vây
bắt. Thầy trò Jêsu tháo thân bỏ chạy tán loạn. Dân
chúng nhặt gạch đá tới tấp ném theo.
Jêsu bị thương rách mặt, máu me đầm đìa. Dân làng
đuổi theo không kịp, Jêsu chạy thoát
[64] , chỉ tóm được bốn gã môn đồ. Dân làng
xúm lại đánh cho một trận đòn nhừ tử rồi trói giam.
Dân tả đạo các làng nghe tin bèn bảo nhau chung
tiền, trong chốc lát được 560 quan đem đến xin chuộc
mạng. Vì vậy ngày nay, sau lễ Lá liễu kế đến là lễ
Ném đá. Các cố đạo bảo rằng: “Các ảnh và tượng Chúa
đều phải che bằng khăn vải”, còn việc Jêsu bị ném đá
rách mặt thì tránh không nói đến.
Người làng Bêtani [65] là ĐồNgôNa và DựNô
[66] bắt trói Jêsu ở chợ vừa đánh mắng vừa
bài bác các thuyết giáo của y. Tugôna là con của
Xari, Đunô là con của Annô, cả hai người đều căm tức
Jêsu vì lúc trước y đã rủa cha mình là “không tin
Chúa thì tai họa liền ngay trước mắt”. Nay nghe tin
Jêsu trốn tránh trong bản hạt, hai người luôn đêm
dẫn tuần đinh đi khám xét, bắt được Jêsu và bốn môn
đồ, trong đó có cha Jêsu là Jiuse và Jiuđa. Sáng hôm
sau bọn họ trói Jêsu đem ra giữa chợ lần lượt nêu
lên các thủ đoạn của Jêsu, giơ gươm chỉ vào mặt mà
bài bác cho mọi người ở chợ cùng hay biết. Rồi đó
bảo Jêsu rằng: “Tội ngươi thì quá lắm, chẳng riêng
gì hai tội tiếm xưng và phế bỏ thờ cúng. Nay bọn ta
bảo cho ngươi biết: ngươi bảo chúa Trời có ba ngôi,
vậy ngươi đã từng trèo lên trời chưa mà biết được?
Đã có con thì có cháu, cho đến ngươi hẳn đã có hàng
ngàn đời con cháu rồi. Nhưng chúa Trời chết bao giờ
mà con cháu dám nhảy lên thay? Những cái tên như
Phiritô Santô, Ađam, Evà, thiên thần Lusaphê đều là
do ngươi bịa ra để lừa dối mê hoặc dân ngu. Cha
ngươi là thợ mộc, mẹ ngươi là kẻ khâu vá thuê, hai
người ăn nằm với nhau sinh ra ngươi, sao ngươi lại
dám nhận là con chúa Trời? Giá phỏng ngươi là con
chúa Trời thì sao ngươi không bay xuống thế gian
giữa ban ngày ban mặt
[67] mà lại phải nhờ vào hai người
kia sinh ra? Còn như việc có sống thì có chết, ấy là
lẽ xưa nay vẫn thế. Sống thì phải nuôi, chết không
phải nuôi thì phải có tế lễ thờ cúng, như thế là để
phân biệt với loại chó má vậy. Nay theo ý ngươi thì
sống không nuôi dưỡng, chết không thờ cúng, người
đúng là loài chó má cho nên không biết người thân.
Ngươi đã bỏ thờ cúng tổ tiên ông bà, lại muốn người
khác cũng theo ngươi mà bỏ việc thờ cúng người thân
của họ ư? Chỉ có những kẻ ngu dốt quá lắm mới a tòng
theo loài chó má như vậy. Ngươi lại nói thể xác
người ta là vật hèn mọn, vậy sao ngươi cũng phải
mang cái thể xác ấy? Lại còn làm lễ Liệm xác
[68] ,
Quy lăng, Điện táng làm chi? Ngươi nói cuộc đời trần
thế chỉ là vui giả, sao ngươi chẳng chết quách đi
cho thoát kiếp trần gian? Ngươi lại nói thiên văn
địa lý đều là chuyện vu vơ chăng? Đó là công việc
của những người có học thức, ngươi làm sao mà ngăn
trở được [69]
. Ngươi nói chúa Trời lấy đất vắt nên người cho nên
sau khi chết người ta lại trở lại thành đất, thế thì
tại sao cây cỏ súc vật không do đất vắt nên mà sau
khi chết cũng biến thành đất? Thiên đường nếu có
thật thì nên cho những người làm điều thiện đàng
hoàng bay lên giữa ban ngày ban mặt để làm gương
khuyến khích kẻ khác, tại sao lại phải đợi sau khi
chết mới cho lên? Địa ngục nếu có thì phải dùng để
trừng phạt kẻ ác, hất cho rớt xuống đó trước mắt mọi
người để răn đe những kẻ cùng bè đảng, cần gì phải
đợi sau khi chết mới đày xuống? Ngươi nói ai theo
đạo của ngươi thì được giàu có, sống lâu. Cứ như ta
thấy thì nhiều người không theo đạo của ngươi mà vẫn
giàu có, sống lâu. Ngươi nói mọi việc đều do chúa
Trời sai khiến, vậy thì người ốm đau bệnh tật cũng
là do chúa xui khiến phải thế, sao ngươi lại dám bốc
thuốc chữa bệnh để làm trái ý chúa Trời? Ngươi nói
xưng tội thì được giải tội, vậy chỉ cần đứng trước
bàn thờ xưng thầm với chúa là đủ, cần gì phải có mặt
ngươi để cho ngươi cùng nghe những chuyện bẩn thỉu
nữa? Ngươi đặt ra phép một vợ một chồng, chẳng may
người ta không có con nối dõi cũng không được lấy vợ
khác. Ấy là cái tội của ngươi dứt tuyệt nòi giống
của người ta, ắt phải đày ngươi xuống địa ngục. Ở
giữa nơi đông người, ngươi bảo đôi vợ chồng mới cưới
úp tay vào nhau, sao ngươi không bảo họ úp hẳn người
lên nhau để ngươi xem cho khoái? Ngươi nói thần
thánh không ăn được, sao tế chúa Trời ngươi lại dùng
bánh, dùng rượu? Ngươi cấm không cho người ta cúng
bái, vậy ngươi làm lễ há chẳng phải là cúng bái hay
sao? Ngươi nói trên trời có thiên đường (nhà của
trời) vậy ngôi nhà ấy lấy gỗ ở rừng nào? Do bọn thợ
nào dựng lên từ năm nào?”
Bấy giờ Jêsu mới trả lời rằng: “Phép của chúa Trời
tự nhiên mà thành, không cần đến sức người”. Tugôna
và Đunô lại hỏi: “Nếu là tự nhiên thì tại sao vắt ra
người lại phải dùng đất?
[70] Đã phải dùng đất thì chưa phải là thần
linh”. Jêsu bí lẽ, không thể trả lời được.
Hai người kia lại hỏi: “Người nói chúa Trời có một
vị, nhưng lại nói có ba ngôi. Đã một vị, lại ba
ngôi, đã nói chết là được giải thoát mọi nỗi cực khổ
ở thế gian, lại nói chết do chúa Trời trừng phạt.
Thật là đảo ngược xoay xuôi, rặt những lời xảo trá
lắt léo. Loài chó má thế mà còn thật thà, chứ như ở
mồm ngươi thì không được một chút gì là sự thật!
Những điều bọn ta nói đây là cốt để cho những kẻ ngu
khờ nghe thấy mà tự tỉnh ngộ”
[71] .
Rồi đó, bọn họ trói giam 5 ngày đêm, cứ mỗi ngày đem
ra bài bác một lẽ, lại cho nếm một trận đòn, sau mới
thả ra [72]
.
Xét sử ký nước Jiuđê nói rằng: Jêsu căm giận người
làng Bêtani, cho rằng dân làng ấy khó dụ dỗ mê hoặc,
bèn xúi giục dân làng Samông
[73] đào giếng cắt yểm mạch đất quý của làng
ấy đi. Tugôma và Đunô xét hỏi, biết việc ấy là do
Jêsu xúi giục, cho nên mới đánh Jêsu một trận cho
biết nhục.
[1]Sau đây phần nhiều là những lời
Jêsu nói khi làm lễ.
[2]Hương
nói đây là nhũ hương (nhựa của một loài cây có chất
thơm). [3]Mỗi năm
thêm một trò bịp, thế mới biết Jêsu dụ dỗ người ta
rất bợm. [4]Phàm
các tên riêng đều do Jêsu đặt ra cả. Ở dưới cũng
thế. Bịa chuyện, bịa tên để cho người ta tin là có
chứng cớ. [5]Nguyên
thư: lục xích (6 thước ta = 3m).
[6]Nguyên
thư: quải táng (hung táng) = chôn tạm. Sau 3 năm,
bốc hài cốt vào tiểu sành, chôn vĩnh viễn (cát táng)
[7]Các
phép nói trên đều đã thi hành ở nước Nam ta, nhưng
tục khóc người chết và chôn tạm vẫn chưa bị bỏ hẳn.
Nay thấy các cha cố đã bắt đầu cấm sự khóc lóc thảm
thương, đó là cách thi hành từ từ vậy.
[8]Nguyên
thư phiên là ADung và ÊBà (Và)
[9]Cho nên
ngày nay dân đạo đều tự xưng là con cháu của ông
Ađam và bà Evà. Xét: Quả cấm về sau người Tây Dương
gọi là quả “manna” là do trích chuyện này. Thuyết ấy
nói thuở đầu trời sinh ra hai thứ quả là mặt trời và
mặt trăng để nuôi sống thiên hạ, gọi là là quả
“manna”.
Thường gọi là “Quả cây hằng sống”.
[10]Nguyên
văn viết chữ Nôm, bánh bẻ, tức là bánh đa.
[11]Lễ
ấy gọi là lễ Chầu mình thánh.
[12]Gọi
là lễ Thụ bánh mình thánh.
[13]Người
Tây Dương gọi bắt quyết là làm phép.
[14]Nguyên
văn: “niệm tử”, chuỗi hạt để lần đếm khi đọc kinh.
[15]Như
thế mà kẻ ngu cũng chịu nghe theo!
[16]Người
Tây Dương không có tiền, cắt vàng bạc ra từng mảnh
nhỏ để trao đổi với nhau.
[17]Nguyên
văn: “Tai thiên thần đẳng phụ…”, chữ “thần” ở đây
đúng nghĩa là chữ “thần” (= tôi), nguyên thư chép
nhầm thành chữ “thần” (= thần thánh).
[18]Nước
Lâm Cách, tức nước Thiên đường.
[19]Amen
có nghĩa là “cẩn cáo” (kính thưa).
[20]Nguyên
thư chép là “tử giả phách” đáng viết “hồn” thì hợp
nghĩa hơn. [21]Lễ
mồ làm cho người nghèo thì Jêsu mặc áo có tay, môn
đồ mặc áo thường, để đầu trần, gập mũ vào trong áo.
Đến lễ Misa, Jêsu đội mũ vuông đen, bốn góc nhô lên
như bốn chiếc sừng, môn đồ mặc thường phục, bên
ngoài khoác áo hoa.
[22]Misa
có nghĩa là “bi vong” (đau buồn việc tử vong).
[23]Hồn
của người chết đã lâu.
[24]Năm
phương: đông, tây, nam, bắc và chính giữa.
[25]Ngày
nay cố đạo khi làm lễ này thường cho thắp rất nhiều
đèn nến để được tang chủ thưởng nhiều tiền.
[26]Chữ
“bạn” (hữu) thật nực cười!
[27]Matrimôniô
có nghĩa là phối hợp.
Matrimôniô: phép cưới. Nguyên thư phiên MaSaMôDiô.
(nd) [28]Về
sau người Tây Dương định ra phép đặt tên thánh,
người trong nước lấy tên thánh là tên gọi của mình.
Khi làm lễ, cố đạo hỏi đôi trai gái, đại khái như:
“Phêrô muốn lấy Dusa làm vợ?” v.v.
Lời chú giải này, trong nguyên thư chép lùi ra sau 1
trang, chúng tôi điều chỉnh lên vị trí này cho hợp
ý. (Nd). [29]Cái
phép ấy lúc đầu cũng đáng sợ thật!
[30]Nguyên
văn “hỗn thú”. [31]Nguyên
văn viết là Bị lục ngoại kỷ. Theo bản kê các sách
tham khảo (nguyên dẫn) thì có lẽ đó là sách Ngoại
lục. [32]Nguyên
thư phiên là NaCô, nhưng một trường hợp ở đây ghi là
MaCoo, đã đính chính lại.
[33]Người
Tây hễ không dụ dỗ được con cái thì dọa nạt cha mẹ,
không dụ dỗ được chồng thì doạ nạt vợ khiến cho họ
tự kiềm chế nhau.
[34]Nguyên
văn: “mộc khổng”. Hiểu theo nghĩa lóng trong câu
chửi tục. [35]Thiên
Chúa, cũng có nghĩa như Thiên đế.
[36]Mặt
biểu hiện thứ ba của chúa Trời: coi về việc hình án
ở địa ngục, cũng gọi là đức chúa Thánh Thần.
[37]Nguyên
thư chép: “… chỉ thị dương sử môn đồ”. Có lẽ đúng ra
là “âm sử …” (ngầm sai, lén sai …). Đây là hai từ
trái nghĩa thường do liên tưởng mà chép nhầm.
[38]Đoạn
này bắt đầu lừa bịp người ngoài.
[39]Nhà
đạo gọi những ai không nghe lời dạy bảo của Jêsu là
“cứng lòng”. [40]Đoạn
này lại mắng cả môn đồ; chính là muốn họ dốc lòng đi
dụ đạo. [41]Ngày
nay, nét mặt dân tả đạo đều ngu thộn. Nguyên là họ
đã bị Jêsu chơi xỏ, cho nên mới giống nhau như thế.
Điều tinh vi bí mật sẽ xem ở sau.
[42]Sách
Giảng lục và các sách khác nói: “Chúa Jêsu vui mừng,
vì thấy con chiên đã nhận ra Chúa, như thế sau khi
chết khỏi bị đày xuống địa ngục”. Giải thích thật là
khéo! [43]Nguyên
thư đến đoạn này bỏ cách một quãng chừng 9 chữ.
[44]Tiếng
Latinh: Confirmatio = lễ kiên đạo. Nguyên thư phiên
CôngSaMaSong. [45]Sau
khi làm lễ xong thì tháo rời ra bỏ vào hộp, người
Tây Dương về sau thường hay dùng kiểu gậy ấy.
[46]Nguyên
văn: hoạt thánh du.
[47]Nguyên
thư chép chữ “hậu” (phía sau), rồi lại xóa đi, mà
viết chữ “hữu” (bên phải); để hợp với sự việc đang
mô tả, chúng tôi chọn chữ hậu. Có lẽ người chép sách
sơ ý xóa nhầm. [48]Chỉ
đạo Do Thái: đạo này cũng thờ chúa Trời nhưng với hệ
thống huyền thoại và tín điều khác hẳn đạo Gia Tô mà
đặc điểm nổi bật nhất là đạo này không hề quan niệm
có chúa Trời giáng sinh.
[49]Nguyên
thư chép: “nãi lập pháp nhật giai hành lễ”, đúng
phải là: nhật nhật giai hành lễ (sót một chữ nhật).
[50]Nguyên
thư phiên là “ThiLinh”. Sách bổn đạo có ghi sự việc
này, và ghi tên làng Béthani.
[51]Nguyên
văn: đạo câu (người đạo trưởng cao tuổi), có thể
dịch là cố đạo, nhưng để phân biệt với các chức sắc
của đạo Gia Tô, chức đạo câu của đạo Do Thái, chúng
tôi thống nhất dịch là thầy cả (theo cách dịch
truyền thống của các bản dịch sách đạo ngày trước).
[52]Nguyên
văn; “chữ tương vật” (tương = món canh hầm).
[53]Đúng
là thằng điên. [54]Nguyên
thư phiên: PhủLỗ hương.
[55]Có
tội gì mà xưng?
[56]Hãi
chữ “cũng thành” (diệc thành) chính là để nói gộp cả
mình với viên quản binh và người hương trưởng, lời
lẽ thật rất kiêu ngạo.
[57]Nguyên
văn “khôi lễ”, những chữ “khôi” (tro) dùng ở trang
này có một vài chữ nguyên thư chép không chuẩn, có
thể coi là viết sai thành ra chữ “yếm” (chán ghét):
hai chữ này tự dạng gần giống nhau.
[58]Chỉ
vì tiếng nói của người Tây Dương “xì xà xì xỏ” cho
nên người ta không hiểu ra sao. Câu này trong nguyên
thư chép liền vào chính văn. Chúng tôi nhận thấy câu
này là lời của người bình giải, vì vậy chuyển xuống
vị trí của nguyên chú.
[59]Làng
ấy có nhiều cây liễu, cho nên đặt tên như vậy.
[60]Sách
Ngoại lục và các sách khác đều nói chiếu không đủ,
dân bèn cởi cả áo mà rải đường, đó là cách khoe
khoang cốt để nói Jêsu được lòng người.
[61]Thường
gọi tắt là lễ Lá.
[62]Lại
bảo dân tả đạo rằng: “Trong vị thuốc bắc thần hoàn
có chất tro lá liễu”. Dọa người ta rằng: “Thứ thuốc
này của nhà đạo vốn có công hiệu của lá liễu giúp
sức”. [63]Nguyên
văn: “chư bộ”, có thể hiểu là “các bộ lạc …”, nhưng
ở đây không thấy có phân biệt chính xác cho nên chỉ
dịch chung là “các nơi”.
[64]Hai
sách Giảng lục và Ngoại lục đều chép: Jêsu chỉ cầm
một chiếc khăn tay mà che đỡ được hết. Có tài như
thế, nhưng nếu có tài như thế thì Jêsu làm gì bị
nguy vào ngày hôm sau?
[65]Nguyên
thư phiên: ThiMi.
[66]DựNô,
ở đây thấy ghi là DựSong, nhưng các chữ sau đều viết
là DựNô (Nô và Song dễ viết lầm).
[67]Nguyên
thư chép: “… hà nhật bạch nhật giáng thế”, thừa một
chữ nhật và thiếu một chữ bất, đúng ra là: “hà bất
bạch nhật giáng thế”.
[68]Nguyên
văn: chú thi, tức là nghi thức đọc lời chú (niệm
nhẩm) và xức dầu thánh cho người chết, đã nói ở
trên. [69]Ngày
nay các cố đạo sợ người ta hiểu rõ các môn ấy (thiên
văn, địa lý), cho nên bảo rằng: “Làm những việc ấy
là có tội, vì vậy chúa Trời cấm làm”.
[70]Nguyên
thư chép: “… giả công” (… sao chúa Trời lại phải
mượn thợ?) sau câu trả lời: chúa Trời không cần đến
sức người, thì câu hỏi tiếp theo như vậy không có
nghĩa. Đây là do chữ thổ chép nhầm thành chữ công.
Xem tiếp câu sau thấy rõ: “Kỳ do giả thổ thị vị thần
linh”. Giả thổ = mượn đất, dùng đất.
[71]Nguyên
thư chép: “linh ngu giả tự khoan” (khiến cho những
kẻ ngu khờ tự khoan thứ) (?). Chúng tôi thấy rằng
chữ “khoan” ở đây có phần chắc là do chữ “giác” chép
nhầm (lối viết thảo, hai chữ này rất dễ đọc và viết
nhầm). Tự giác = tự tỉnh ngộ.
[72]ĐồNgôNa
và DựNô quả là hai nhà giảng đạo bậc thầy.
[73]Nguyên
thư phiên: ThượngLong hương.
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
Bản điện tử do talawas thực hiện, Sách Hiếm cho thêm hình ảnh đăng lại ngày 6/29/07.
|