Bấm vào số dưới đây để chọn bài đọc
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu
Quyển IX
Thời
Hậu
Lê,
giặc
Tây
ẩn
náu
ở
nước
ta
Đời
nhà
Thanh,
Dương
tặc
công
nhiên
đến
Trung
Quốc
Ngày
nay,
các
nước
Chiêm
Thành,
Vạn
Tượng,
Cao
Man,
Ai
Lao,
Tiêm
La
đều
có
người
Tây
Dương
vào
lén
lút
cai
quản
[1] . Vào khoảng đời Tiền Lê [2] ở nước ta, giám mục đốc chính
ở
Chiêm
Thành
tên
thánh
là
Giacôbê
[3] vẽ bản đồ quận Châu Nhai ở
giữa
biển
gửi
về
cho
Giáo
hoàng,
tâu
rằng:
“Nay
ở
miền
Đông
thổ
[4] có vùng đất ở giữa biển vốn
là
đất
thuộc
quyền
cai
trị
của
Trung
Hoa,
địa
thế
cao
ráo
rộng
bằng
một
quận.
Từ
đó
có
thể
đi
suốt
phía
đông
của
nước
Đại
Minh,
phía
bắc
thông
với
nước
Đại
Nam,
phía
nam
thông
đến
Chiêm
Thành,
ba
mặt
đường
biển
chỉ
một
ngày
đêm
là
tới
nơi.
Thật
là
một
xứ
có
địa
thế
rất
đẹp,
đi
về
phía
tây
thông
đến
các
cửa
biển
nước
ta,
xin
chọn
khâm
mạng
đại
thần
đến
đóng
ở đó
để
mưu
lợi
vạn
đời”.
Thế
là
giám
mục
khâm
mạng
tên
thánh
là
Phanxicô
vâng
mệnh
sang
truyền
đạo.
Đến
nay
dân
quận
ấy
đều
theo
đạo
Tây
Dương,
đổi
tên
gọi
là
quận
Macao
[5] , xây nhà thờ lớn, trên có
tháp
cao
dựng
giá
chữ
thập
rất
lớn.
Đốc
chính
giám
mục
các
địa
phận
xung
quanh
mỗi
khi
có
thư
từ
thì
thuê
thuyền
của
người
Tàu
chuyển
đến.
Nghe
ba
phát
súng
hiệu,
giám
mục
quản
trấn
cho
chèo
thuyền
ra,
bắn
súng
đáp
hiện
mà
nhận
thư,
rồi
theo
lời
dặn
trong
thư
mà
trả
tiền
thuê
cho
chủ
thuyền.
Đốc
chính
Macao
theo
các
việc
nói
trong
thư
viết
báo
cáo
gửi
về
cho
Giáo
hoàng.
Cho
nên
ngày
nay
ở
các
nước
Đại
Thanh,
Chiêm
Thành
và
nước
ta
hằng
năm
xảy
ra
những
việc
gì,
người
Tây
Dương
đều
biết
rõ
cả.
Lại
ở
miền
ven
biển
Triều
Châu,
Khâm
Châu,
Hải
Châu
thuộc
nước
Thanh;
Gia
Định,
Nam
Chân,
Đại
An,
Bồng
Hải
ở
nước
ta,
đều
có
gián
điệp
do
các
viên
đốc
chính
sai
đến
ẩn
náu.
Hễ
nghe
tín
hiệu
ba
tiếng
súng
nổ
từ
thuyền
của
người
Tàu
đậu
ngoài
khơi,
bọn
chúng
biết
là
có
thư
mật
từ
Tây
Dương
gửi
sang,
liền
chèo
thuyền
ra
khơi
đón
nhận,
rồi
trả
tiền
công
cho
chủ
thuyền.
Đảo
ấy
trở
thành
một
trạm
chuyển
tiếp
các
thư
từ
liên
lạc
của
bọn
giặc
Tây
Dương.
Nước
ta
về
thời
Hậu
Lê
đời
vua
Trang
Tông
Dụ
hoàng
đế,
năm
Quý
Tị
niên
hiệu
Nguyên
Hòa
thứ
I
(1533),
giặc
Tây
sai
giám
mục
khâm
mạng
là
Ingatiô
[6] lẻn vào lén lút truyền đạo ở
làng
Ninh
Cường,
huyện
Nam
Chân
[7] . Trước đó giám mục khâm mạng
ở Ma
Cao,
qua
dò
la
thăm
hỏi
người
Tàu
đã
biết
rõ
phong
tục
và
hiện
tình
nước
Nam
ta,
bèn
gửi
thư
về
mật
tâu
với
Giáo
hoàng
rằng:
Nước
Nam
giáp
với
nước
Thanh,
có
hai
nơi
thuận
tiện
cho
việc
truyền
đạo:
một
là
Gia
Định,
dân
chúng
hung
hãn,
cứng
đầu;
hai
là
Nam
Chân,
phong
tục
quê
mùa
cổ
lậu.
Vả
lại
ở
nước
ấy
không
có
lệnh
cấm
dị
ngôn
dị
phục
[8] , mà hiện nay thì hai họ Lê,
Mạc
đang
tranh
giành
với
nhau,
trong
nước
nhiều
việc,
không
ai
rỗi
mà
soát
xét
những
việc
nhỏ
nhặt.
Xin
sai
giám
mục
Ingatiô
[9] làm khâm mạng, theo thuyền
biển
mà
sang,
bảo
viên
ấy
rằng:
Nam
Chân
là
nơi
phong
tục
cổ
xưa
thô
lậu,
nên
đến
đó
trước”.
Ingatiô
sang
đến
nước
ta
bèn
lẻ
vào
cư
ngụ
ở
các
làng
Quần
Anh,
Trà
Lũ,
Ninh
Cường,
đến
đâu
đều
cho
tiền,
phát
thuốc,
khiến
cho
những
kẻ
ngu
khờ
phải
mang
ơn
mà
chịu
nghe
giảng
đạo.
Từ
đó
đạo
Gia
Tô
mới
bắt
đầu
lan
đến
nước
ta.
Về
sau
môn
đồ
của
Ingatiô
đều
được
phong
làm
giám
mục,
xin
được
lấy
tên
thánh
của
thầy
làm
tên
của
dòng
đạo.
Nhưng
Ingatiô
khiêm
tốn
không
dám
nghe
theo,
chỉ
lấy
tên
Jêsu
làm
tên
gọi
của
dòng
[10] . Từ đó nước ta bắt đầu có
giặc
Tây
Dương
lẻn
vào
cai
quản
[11] .
Trải
qua
các
đời
đến
năm
Canh
Thân
niên
hiệu
Cảnh
Hưng
năm
đầu
đời
của
vua
Hiển
Tông
(1740-1786),
giặc
giã
nổi
lên
khắp
nơi.
Giám
mục
khâm
mạng
báo
hết
mọi
sự
về
Tây
Dương.
Giáo
hoàng
liền
sai
thêm
hai
giám
mục
đốc
chính
tên
thánh
là
Phêrô
và
Đôminicô
cùng
sang
nước
ta.
Hai
người
đều
dựa
vào
đám
giáo
đồ
của
Ingatiô
mà
hành
đạo.
Việc
truyền
đạo
của
họ
về
sau
lan
dần
đến
Thăng
Long,
phía
bắc
đến
tận
hai
châu
Tuyên
[Quang],
Lạng
[Sơn],
giáp
cửa
ải,
phía
đông
tới
miền
An
Quảng
[12] , phía tây thì vào đến Nghệ
An.
Những
nơi
ấy
đều
có
dân
theo
đạo
cả.
Thế
là
hai
giám
mục
đốc
chính
nói
trên
bèn
lập
riêng
hai
dòng
đạo,
một
gọi
là
dòng
thánh
Phêrô,
một
gọi
là
dòng
thánh
Đôminicô.
Mỗi
dòng
đều
soạn
riêng
sách
kinh,
khác
nhau
chút
ít
về
âm
đọc,
cốt
để
phân
biệt
giáo
đồ
của
hai
dòng
[13] . Và cũng từ đó dân đạo
chia
làm
ba
dòng
[14] , mỗi dòng đều có chức giám
mục
đốc
chính
kết
tiếp
nhau
cai
quản.
Năm
Canh
Dần
niên
hiệu
Cảnh
Hưng
thứ
31
(1770),
thượng
thư
Nguyễn
Công
Hãng
dâng
khải
lên
chúa
Trịnh
Sâm
xin
cấm
đạo
Gia
Tô.
Hồi
bấy
giờ
giám
mục
Tây
Dương
đã
đến
lén
lút
cai
quản
dân
đạo
vùng
Thăng
Long,
người
theo
khá
đông.
Quan
quân
bắt
được
hai
giám
mục
ở
Hải
Dương
là
Đỗ
Trọng
Gia
[15] và Nguyễn Thế Liêm [16] đem xử trảm ở bãi Tây Luông.
Còn
những
kẻ
khác,
mỗi
khi
bắt
được,
quan
quân
đều
ngầm
cho
dân
đạo
đem
tiền
đến
chuộc,
triều
đình
không
hay
biết.
Bấy
giờ
Gia
và
Liêm
bị
giam
ở
nhà
ngục
Thăng
Long.
Trọng
Gia
bảo
người
của
mình
đút
lót
nhiều
tiền
bạc
cho
cai
ngục,
rồi
xin
cai
ngục
cho
phép
người
bạn
vào
thăm.
Thế
Liêm
thì
nói
bị
ốm,
xin
cho
mời
thầy
lang
vào
chữa
bệnh.
Đến
khi
cho
vào
thăm
thì
hóa
ra
hai
tên
cố
đạo
người
Tây
trá
hình.
Cai
ngục
đã
nhận
hối
lộ
nên
không
hỏi
đến.
Bọn
chúng
cùng
ngồi
nói
chuyện,
dùng
tiếng
Tây
mà
xưng
tội,
chịu
lễ.
Gia
và
Liêm
lại
dùng
tiếng
Tây
bảo
dân
đạo
rằng:
“Bao
giờ
quân
không
tướng,
hổ
không
đầu
thì
mới
đáng
lo”.
Đến
khi
Gia
và
Liêm
bị
chém,
dân
tả
đạo
chuộc
lấy
áo
mũ
gông
cùm
và
vét
máu
đem
về
thờ,
hệt
như
phép
của
người
Tây
Dương
[17] .
Giám
mục
đốc
chính
viết
thư
mật
gởi
về
Tây
Dương.
Tháng
10
năm
sau,
tiếp
thư
từ
Tây
Dương
phúc
đáp
đã
cho
tạc
tượng
phong
thánh
cho
hai
giám
mục
ấy,
vậy
sức
cho
dân
bổn
đạo
biết
để
ai
nấy
một
lòng
không
khiếp
sợ.
Giáo
hoàng
được
tâu
báo
tình
trạng
khi
Gia
và
Liêm
bị
hành
hình
có
nói
câu
“quân
không
tướng,
hổ
không
đầu”.
Nguyễn
Công
Hãng
thì
nói:
“Bọn
chúng
ắt
có
âm
mưu
gì?”
[18] , bèn gửi thư mật cho các
giám
mục
khâm
mạng
ở
các
nước
căn
dặn
từ
nay
về
sau
các
giáo
sĩ
mới
ra
nước
ngoài
thì
trong
ba
tháng
đầu
phải
tỏ
ra
không
quen
ăn
các
món
ăn
địa
phương
để
khiến
cho
người
ta
khỏi
nghi
ngờ.
Lại
chỉ
thị
cho
các
giám
mục
biết
từ
nay
về
sau
khi
bị
cực
hình
phải
thong
dong
chịu
nạn
để
cho
người
bản
xứ
khỏi
thêm
tức
giận
dẫn
đến
tai
họa
tru
di
hàng
loạt.
Cho
nên
đến
nay,
bọn
họ
vẫn
làm
theo
phép
ấy.
Đến
năm
Đinh
Mùi
niên
hiệu
Chiêu
Thống
năm
thứ
1
(1787),
Nguyễn
Nhạc,
Nguyễn
Huệ
dấy
binh
ở ấp
Tây
Sơn
[19] . Nước Thanh đưa quân sang
cứu
viện
cho
Chiêu
Thống
nhưng
bị
thua
to ở
Thăng
Long,
quân
lính
chết
ngập
sông.
Đến
tháng
5,
thiên
hạ
bị
một
trận
đói
lớn,
dịch
bệnh
lan
tràn.
Các
giám
mục
đốc
chính
của
giặc
Tây
ngầm
khuyên
các
nhà
giàu
xuất
thóc
tiền
chẩn
cấp
để
thu
phục
dân
chúng,
lừa
phỉnh
họ
rằng:
“Ai
hay
cứu
giúp
người,
dẫu
trước
kia
phạm
đại
tội
đến
ngày
tận
thế
[20] cũng được lên thiên đường
cùng
với
dân
đạo”.
Những
kẻ
nghèo
đói
vui
được
yên
ổn
xin
theo
đạo
rất
nhiều.
Đến
khi
bình
yên
cũng
có
người
xin
ở
lại
nhập
làng
đạo,
cũng
có
người
xin
về
quê.
Các
cha
cố
đều
ghi
quán
chỉ
của
những
người
trở
về,
rồi
bí
mật
đặt
người
giảng
đạo
theo
tên
ghi
trong
sổ
tìm
đến
tận
nhà
khuyên
dỗ
người
ta
kiên
lòng
theo
đạo.
Vì
thế
giáo
đồ
tả
đạo
nước
ta
từ
đó
càng
thêm
đông
[21] .
Năm
Nhâm
Tí
(niên
hiệu
Quang
Trung)
thứ
5
(1792)
đạo
dòng
Tên
(Jésuites)
bị
giải
tán,
sáp
nhập
vào
dòng
Đôminicô.
Từ
đó
tà
đạo
ở
nước
ta
chỉ
còn
hai
dòng
Phêrô
và
Đôminicô
mà
thôi.
Khi
đạo
Gia
tô
mới
truyền
vào
nước
ta,
giám
mục
Ingatiô
tuy
có
công
lao
hàng
đầu,
nhưng
thường
khuyên
răn
giáo
đồ
bổn
đạo
không
được
vì
thế
sinh
ra
kiêu
căng,
mà
phải
lấy
sự
khiêm
tốn
làm
đầu,
ai
làm
trái
sẽ
bị
trách
phạt.
Các
tu
sĩ
dòng
Tên
đã
xếp
hạng
đại
môn
đồ
phải
được
giám
mục
đốc
chính
thuộc
hai
dòng
Phêrô
hoặc
Đôminicô
truyền
chức
thì
mới
được
phong
làm
thầy
cả,
chứ
không
phải
do
đốc
chính
của
dòng
mình
cấp
bằng
[22] . Thư cuối năm gửi về vấn
an
Giáo
hoàng,
có
đoạn
nói:
“Dân
nước
Đại
Nam
nhu
nhược,
lờ
khờ,
hay
hám
lợi,
dễ
mê
hoặc
bằng
những
chuyện
hoang
đường,
chưa
đầy
hai
trăm
năm
mà
đạo
ta
lan
truyền
rộng
khắp
cả
nước,
so
với
các
nước
khác
thì
chưa
có
nơi
nào
dễ
dàng
như
vậy!”.
Tiếp
đó
thư
ấy
lại
nói:
“Các
giám
mục
dòng
Tên
ngày
nay
đâm
ra
ngang
ngạnh,
khinh
thường
hai
dòng
của
chúng
tôi.
Kẻ
theo
đạo
mà
cố
chấp
ngang
ngạnh
thì
sợ
rằng
về
sau
vì
cố
chấp
ngang
ngạnh
mà
phản
đạo
cũng
không
phải
là
khó
lắm”.
Giáo
hoàng
cho
lời
thưa
trong
thư
là
phải,
bèn
cho
mở
tiệc
lớn
để
chúc
mừng
[23] . Mật thư của Giáo hoàng
phúc
đáp
cho
đốc
chính
hai
dòng
Phêrô
và
Đôminicô
có
đoạn
nói:
“Từ
nay
không
phong
chức
thầy
cả
cho
người
dòng
Tên
nữa,
thì
sau
chừng
hai
chục
năm,
dòng
ấy
ắt
phải
hỗn
loạn,
sáp
nhập
giáo
đồ
cho
dòng
Đôminicô
cai
quản
cũng
được”
[24] . Hai giám mục đốc chính
dòng
Phêrô
và
Đôminicô
theo
lời
mật
thư
từ
đó
bèn
không
phong
cho
môn
đồ
dòng
Tên
làm
thầy
cả
nữa,
do
đó
đến
năm
ấy
(1792)
dòng
Tên
tiêu
vong,
chỉ
còn
hai
giám
mục
một
người
tên
là
Phạm
Văn
Ất,
một
người
tên
là
Nguyễn
Đình
Bính
mà
thôi.
Năm
Quý
Sửu
niên
hiệu
Cảnh
Thịnh
thứ
1
(1793)
triều
Tây
Sơn,
vào
tháng
mười,
hai
giám
mục
dòng
Tên
ở
địa
phận
Nam
Chân
là
Phạm
Văn
Ất
và
Nguyễn
Đình
Bính
sang
Tây
Dương
khiếu
nại
về
việc
mất
dòng.
Hồi
bấy
giờ
dòng
Tên
đã
suy,
giáo
đồ
bản
đạo
nhất
định
không
chịu
giám
mục
đốc
chính
hai
dòng
kia
[25] . Khi có cha cố người dòng
khác
đến
cai
quản
làm
lễ,
giáo
dân
dòng
Tên
đều
tỏ
thái
độ
tức
giận
không
chịu
nhìn.
Rồi
đó
góp
quỹ
công
được
một
số
tiền
khá
lớn,
khẩn
thiết
thỉnh
cầu
hai
giám
mục
Phạm,
Nguyễn
sang
Tây
Dương
kêu
kiện
việc
ấy.
Lại
nói:
“Không
được
khôi
phục
dòng
thì
chúng
tôi
thà
bỏ
đạo!”.
Hai
ông
Phạm,
Nguyễn
sợ
dân
bỏ
đạo
mới
nhận
lời
ra
đi.
Hai
ông
sang
Ma
Cao,
được
giám
mục
đốc
chính
ở Ma
Cao
thu
xếp
cho
đi
thuyền
biển,
mất
sáu
tháng
thì
đến
Tây
Dương
đưa
đơn
khiếu
nại
về
việc
mất
dòng.
Giáo
hoàng
sai
thư
ký
lấy
văn
kiện
thư
từ
các
năm
trước
ra
xem
lại
rồi
phán
rằng:
“Việc
này,
trước
đây
đốc
chính
hai
dòng
Phêrô
và
Đôminicô
đã
tâu:
Đại
Nam
là
một
nước
nhỏ,
không
nên
lập
nhiều
dòng.
Vả
lại
dân
vùng
Nam
Chân
ngang
ngạnh,
dễ
làm
hại
đến
sự
đạo,
cho
nên
mới
phải
làm
như
thế”.
Bấy
giờ
hai
ông
Phạm,
Nguyễn
mới
hay
việc
ấy
đã
có
phán
quyết
rồi”
[26] .
Nhân
có
hai
giám
mục
người
nước
ta
sang
chầu,
Giáo
hoàng
rất
mừng,
thăm
hỏi
nhiều
lần
về
hình
thế
núi
sông,
luật
pháp
dân
tình
của
nước
Nam
ra
sao,
v.v.
hai
ông
đều
trả
lời
rành
rọt,
có
thư
ký
người
Tây
Dương
ghi
chép
hết
vào
sổ
sách.
Rồi
đó
Giáo
hoàng
sai
mở
điện
thờ
đưa
hai
ông
vào
xem.
Thì
ra
trong
điện
ấy
từ
tượng
ảnh
của
các
giám
mục
nước
ta
từ
các
đời
trước
[27] cùng là các sách sử ký của
nước
ta,
các
sách
kinh,
truyện,
tính
lý
của
Trung
Quốc
đều
không
thiếu
thứ
gì.
Chợt
Giáo
hoàng
rút
ra
một
tấm
địa
đồ,
gọi
hai
ông
Phạm,
Nguyễn
đến
gần
mà
chỉ
cho
xem.
Trước
mắt
hai
ông
bấy
giờ
là
một
tấm
bản
đồ
nước
ta
vẽ
rất
rõ
ràng.
Giáo
hoàng
cười
bảo
rằng:
“Bản
đồ
nước
các
ngươi
đấy!”
Nói
đoạn
bèn
chỉ
một
đường
từ
cửa
biển
Đại
Ác
[28] trên bờ biển Nam Hải [29] đến sông Vị Hoàng lên Nam
Xương
[30] , Chương Dương [31] , đến kinh thành Thăng Long,
tiếp
lên
Kinh
Bắc,
Thái
Nguyên,
Tuyên
Quang
làm
giới
hạn.
Về
phía
đông
sông
(Nhị):
một
nửa
số
huyện
thượng
lưu
trấn
Sơn
Nam
Hạ,
toàn
huyện
Nam
Chân,
nửa
huyện
Đại
An,
trở
về
Hải
Dương,
An
Quảng,
Kinh
Bắc,
Thái
Nguyên,
Cao
Bằng,
Lạng
Sơn,
các
huyện
Tụ
Long,
Bảo
Lạc
giáp
cửa
ải
là
các
địa
phận
thuộc
dòng
Đôminicô
cai
quản.
Về
phía
nam
sông
(Nhị):
từ
huyện
Mỹ
Lộc
thuộc
trấn
Sơn
Nam
Hạ
đến
phủ
Khoái
Châu
trấn
Sơn
Nam
Trung,
thông
sang
Thăng
Long,
Sơn
Tây,
[vào]
Thanh
Hoa
nội
ngoại
[32] . Nghệ An, Bố Chính, Thuận
Hóa,
Phú
Xuân,
Quảng
Nam,
Bình
Hòa
[33] , Phiên An [34] , Gia Định, Hà Tiên là các
địa
phận
thuộc
dòng
Phêrô
cai
quản
[35] . Các ngươi đã có lòng thành
thật
sang
đây
thì
hãy
nên
cẩn
thận
chớ
tiết
lộ
cho
ai
biết:
sớm
muộn
khoảng
hai
mươi
năm
nữa
[36] ta sẽ có cuộc hội lớn để
mừng
công
khen
thưởng
[37] . Khi ấy ta sẽ đích thân
phong
thánh
sống
cho
các
ngươi,
vinh
phong
đốc
chính
và
gia
thăng
phẩm
phục
3
cấp
cho
các
ngươi”.
Giáo
hoàng
nói
xong
đưa
tay
vỗ
vai
hai
người
hồi
lâu.
Rồi
đó
sai
thợ
[38] tạc thêm tượng nữa [39] cho hai giám mục đặt đối
diện
với
nhau
trước
cửa
cung
điện,
mỗi
tượng
có
đề
dòng
chữ
nạm
vàng:
“Năm
thứ
8
của
Giáo
hoàng…,
ngày
13
tháng
4,
giám
mục
nước
Đại
Nam
(họ
tên
là…)
sang
chầu,
được
sinh
phong
hiệu
Trung
thánh”.
Hai
người
cả
mừng
lạy
tạ.
Sau
đó
hai
ông
còn
được
đi
khắp
một
lượt
thăm
các
nơi
trong
cung
điện
cùng
là
khu
tượng
mộ
của
các
đốc
chính
giám
mục
các
nước
có
biển
hoặc
bia
ghi
tên
từng
người.
Hai
ông
cũng
được
vào
thăm
vườn
Ghêtsêmani,
núi
Calavôriô,
xem
con
tàu
khổng
lồ
của
Nôê
[40] để bày tỏ lòng tin. Hai
giám
mục
ngỏ
ý
muốn
đọc
các
sách
Tây
Dương
để
mở
rộng
hiểu
biết,
được
Giáo
hoàng
cho
phép.
Cuối
cùng,
Giáo
hoàng
còn
lấy
ra
quyển
sách
ghi
chép
các
phép
kín
bảo
hai
người
ngồi
ngay
trước
ghế
của
ngài
mà
đọc.
Vậy
là
hai
ông
được
ngồi
trong
điện
Giáo
hoàng
cung
đọc
chung
sách
Bí
lục
và
sách
Sử
ký
của
nước
Tây
Dương.
Hai
ông
Phạm,
Nguyễn
ở
lại
kinh
đô
Tây
Dương
trong
năm
tháng
rồi
vâng
mệnh
mà
về,
đành
phải
nói
dối
dân
bổn
đạo
rằng:
“Đức
Giáo
hoàng
có
lòng
muốn
cho
lập
dòng
ta,
nhưng
ban
đêm
thấy
điềm
lạ,
cho
nên
ngài
không
dám
làm
trái
ý
Chúa”.
Nghe
vậy
dân
bản
đạo
sợ
phép
Chúa
cũng
phải
tin
là
sự
thực
và
đành
chịu
tuân
theo.
Thế
là
từ
đó
dòng
Tên
phải
hợp
vào
dòng
Đôminicô
vậy.
Và
cũng
từ
đó
giám
mục
dòng
Tên
khi
đứng
ra
làm
lễ
chỉ
có
hai
ông
Phạm,
Nguyễn
đội
mũ
triều
thiên
và
mặc
áo
choàng
đỏ
có
đính
hạt
cườm
mà
thôi.
Năm
Bính
Thìn
(niên
hiệu
Cảnh
Thịnh)
thứ
4
(1796),
hai
giám
mục
Phạm
Văn
Ất
và
Nguyễn
Đình
Bính
bỏ
đạo
Tây
Dương
về
với
chính
đạo
của
nước
Nam
ta.
Hai
ông
Phạm,
Nguyễn
từ
khi
ở
Tây
Dương
về
biết
rõ
thực
trạng
của
vua
tôi
Tây
Dương,
nói
riêng
với
nhau
rằng:
“Xem
ra
thì
từ
lâu
người
Tây
Dương
chỉ
mượn
danh
chúa
Jêsu
để
đi
cướp
nước
người.
Hai
chúng
ta
vì
bọn
họ
mà
xua
đuổi
dân
ta
theo
bọn
họ
chỉ
là
làm
công
việc
vô
ích
mà
thôi”.
Lại
nói:
“Được
phong
thần
nhưng
không
phải
là
thần
của
nước
Nam
mà
lại
là
thần
của
nước
Tây
Dương,
thế
thì
có
lợi
gì
cho
bọn
ta
đâu!”.
Đến
bấy
giờ
hai
ông
đều
muốn
từ
bỏ
chức
giám
mục
mà
ra
khỏi
đạo.
Hai
ông
là
người
có
trí
nhớ
thật
phi
thường,
bèn
cùng
nhau
ngồi
đọc
tầm
mà
ghi
lại
cuốn
Gia
Tô
bí
pháp
(Ghi
chép
các
phép
kín
của
đạo
Gia
Tô),
bí
mật
cất
giấu
[41] , than thở với nhau rằng:
“Hai
chúng
ta
chẳng
có
quan
chức
gì
để
mà
dâng
đạt
ý
kiến
lên
nhà
vua.
Chẳng
biết
đến
bao
giờ
vua
ta
mới
ra
lệnh
nghiêm
cấm
để
cho
con
cháu
ta
khỏi
phải
làm
tôi
mọi
cho
quân
chó
má
ấy.
Được
như
thế
thì
chúng
ta
cũng
trộm
lấy
làm
may
mắn
lắm!”.
Từ
đó
hai
ông
trễ
nải
việc
hành
lễ,
thường
chỉ
cùng
ngồi
uống
rượu
hoặc
đi
thăm
thú
đó
đây.
Giám
mục
đốc
chính
của
hai
dòng
kia
dò
biết
tâm
ý
của
hai
ông,
lấy
làm
lo
sợ,
bèn
khuyên
dỗ
để
hai
ông
chuyên
chú
trông
coi
dân
bổn
đạo
cũ ở
địa
hạt
Nam
Chân.
Hai
ông
cáo
bệnh
từ
chối
không
nhận.
Ông
Phạm
bảo
ông
Nguyễn
rằng:
“Tôi
nay
tuổi
già
rồi,
còn
bác
thì
nên
bỏ
ra
mà
kiếm
kẻ
sinh
con
nối
dõi”.
Ông
Nguyễn
nói:
“Bác
nói
thật
hợp
với
ý
tôi”.
Rồi
đó
Nguyễn
Đình
Bính
đi
lại
với
một
góa
phụ,
đến
khi
người
ấy
có
mang
thì
công
khai
bỏ
ra
khỏi
đạo.
Giám
mục
đốc
chính
nghe
tin
cả
giận,
nhưng
lại
sợ
Nguyễn
Đình
Bính
tố
cáo
với
các
quan
của
triều
đình
tiết
lộ
hết
điều
kín,
bèn
dụ
dỗ
Phạm
Văn
Ất
rằng:
“Nay
Thầy
đã
già
yếu
rồi,
không
dám
làm
phiền
Thầy
phải
trông
nom
việc
đạo
nữa,
xin
mời
Thầy
về
hưu
dưỡng
ở
nhà
xứ
Ninh
Cường”.
Lại
dụ
dỗ
Nguyễn
Đình
Bính
rằng:
“Nhà
Thầy
công
to
tội
nhỏ,
chúa
mật
truyền
phục
chức
cho
Thầy.
Nay
Thầy
hãy
làm
giấy
cho
thị
mỗ
bế
con
ra
khỏi
cửa
thì
coi
như
được
giải
hết
mọi
tội.
Chỉ
cần
từ
nay
về
sau
mỗi
khi
làm
lễ
xong,
Thầy
quỳ
xuống
bên
ghế
mà
đọc
kinh
hối
tội
một
lần
thì
Thầy
sẽ
không
phải
thấy
địa
ngục”
[42] . Giám mục đốc chính cũng
nói
khắp
lược
cho
giáo
dân
biết
như
thế,
người
ta
cũng
phải
chịu
tin.
Nhưng
Đình
Bính
vẫn
chẳng
ngó
ngàng
gì
đến
chức
đạo,
đốc
chính
cũng
không
dám
vượt
chức
về
làm
lễ
thay,
trước
sau
chỉ
đành
rỉ
tai
bảo
nhau
rằng:
“Phải
đợi
cho
hai
lão
ấy
chết
đi
thì
đạo
ta
mới
khỏi
phải
lo
lắng”.
Khi
đứa
con
trai
của
Nguyễn
Đình
Bình
đã
hơi
khôn
lớn,
giám
mục
đốc
chính
lại
dụ
dỗ
Bính
cho
con
làm
môn
đồ,
nhưng
Đình
Bính
nhất
quyết
không
nghe,
đáp
rằng:
“Cha
nó
đã
theo
làm
môn
đồ
mãi
rồi”.
Đốc
chính
không
dám
nói
gì
nữa.
Đình
Bính
khuyên
vợ
nuôi
con
ăn
học,
không
được
đả
động
gì
đến
việc
đạo
ngày
trước
nữa.
Năm
Tân
Dậu
[niên
hiệu
Cảnh
Thịnh]
thứ
9
(1801)
là
năm
vua
bản
triều
(Gia
Long)
mở
vận
[43] , trong nước lắm việc rối
ren,
giám
mục
đốc
chính
gửi
thư
mật
về
Tây
Dương
báo
cáo
đầy
đủ
tình
hình.
Giáo
hoàng
bèn
phái
sang
nước
ta
thêm
4
giám
mục
đốc
chính
nữa:
một
ở
Gia
Định,
một
ở
Sơn
Tây,
một
ở
Thanh
Hóa,
một
ở
Nghệ
An
[44] . Kể cả đốc chính đã đến từ
trước
thì
bấy
giờ
ở
nước
ta
có
tất
cả 6
giám
mục
đốc
chính
Tây
Dương
[45] .
Năm
Mậu
Thìn
niên
hiệu
Gia
Long
thứ
7
(1808),
“giặc
cướp”
nổi
lên
khắp
nơi,
dân
đạo
nghèo
khổ
nhiều
người
bị
cưỡng
bức
hùa
theo.
Sau
khi
dẹp
yên,
khôi
phục
nghề
nghiệp
làm
ăn
sinh
sống,
các
giám
mục
đốc
chính
mật
dặn
các
giám
mục
sở
tại
bảo
họ
đến
xưng
tội
thì
được
tha
thứ
hết.
Làm
như
thế
cốt
để
cho
bọn
họ
vững
lòng
theo
đạo,
nếu
không,
một
người
bỏ
đạo
sẽ
kéo
theo
cả
vợ
con
cùng
bỏ
đạo
thì
tại
hại
lớn
lắm!
Năm
Kỷ
Tị
niên
hiệu
Gia
Long
thứ
8
(1809),
giám
mục
Nguyễn
Văn
Hoằng
và
Trần
Đức
Đạt
bỏ
chức
ngụy
đạo
trở
về
với
chính
đạo.
Cả
hai
người
đều
quê
ở
Hải
Dương,
rất
thông
minh
sáng
dạ.
Thuở
nhỏ
đi
học,
mới
13,
14
tuổi
đã
thông
hiểu
hết
các
sách
kinh
truyện,
do
đó
tỏ
ra
là
người
có
bản
lĩnh
rất
ngay
thẳng.
Các
cha
cố
nói
chuyện
với
nhau
thường
khen
tài
và
tỏ ý
kiêng
nể
hai
ông.
Rồi
họ
dụ
dỗ
cha
mẹ
cho
hai
ông
làm
môn
đồ.
Văn
Hoằng
17
tuổi
đã
đọc
hiểu
hết
các
sách
Tây,
được
thăng
làm
thầy
cả,
coi
việc
đạo
ở
Sơn
Tây,
đặt
tên
hiệu
là
Bá
Am.
Trần
Đức
Đạt
đến
năm
20
tuổi
cũng
được
thăng
chức
thầy
cả,
coi
việc
đạo
ở
Sơn
Nam,
đặt
hiệu
là
Trình
Hiên.
Sau
khi
đã
nhận
chịu
lễ
chú
quyết
thụ
phong
thầy
cả,
Văn
Hoằng
than
thở
với
Đức
Đạt
rằng:
“Chúng
mình
nguyền
rủa
người
thân
của
người,
người
khác
lại
nguyền
rủa
người
thân
của
mình
[46] , cứ xoay quanh làm hại
nhau
như
vậy”.
Đức
Đạt
đáp:
“Người
thân
bị
chôn
sâu
thì
con
cháu
cũng
chẳng
được
vinh
hiển
gì.
Tự
cắt
đứt
tình
ruột
thịt
với
người
thân
thì
làm
giám
mục
thầy
cả
để
vì
ai?”
Từ
đó
hai
ông
thường
nêu
lên
bàn
hỏi
với
giám
mục
đốc
chính.
Lần
nào
đốc
chính
cũng
tìm
cách
phỉnh
gạt
cho
qua
chuyện
đi.
Hai
ông
hơi
lấy
làm
ngờ,
bảo
nhau
rằng:
“Hẳn
là
có ý
đồ
gì
đây,
không
phải
chuyện
vô
tình
đâu”.
Rồi
đó
hai
người
ai
về
xứ
đạo
của
người
nấy.
Văn
Hoằng
lại
từng
nói
với
Đức
Đạt
rằng:
“Kinh
thư
nói:
Vô
kê
chi
ngôn
vật
thính
(lời
nói
không
có
căn
cứ
chớ
nghe)”
[47] . Đức Đạt cũng than thở
đáp:
“Mạnh
Tử
có
câu:
Bất
hiếu
hữu
tam
(có
ba
điều
phải
coi
là
bất
hiếu)”
[48] .
Một
hôm
Văn
Hoằng
đến
dự
buổi
thánh
lễ
do
giám
mục
đốc
chính
chủ
lễ,
đốc
chính
giảng
rằng:
“Cứ
xem
ngày
nay
trời
đất
không
yên
thì
ngày
tận
thế
sẽ
xảy
ra
nội
trong
ba
mươi
năm
tới”.
Tối
hôm
ấy
có
người
xin
làm
phép
cưới,
đốc
chính
lại
nói:
“Một
lòng
kính
tin
thì
tự
khắc
sẽ
được
bách
niên
giai
lão”.
Văn
Hoằng
thầm
nghĩ:
“Buổi
sáng
nói
ba
mươi
năm
nữa
đến
ngày
tận
thế,
vậy
mà
buổi
tối
lại
nói
bách
niên
giai
lão,
đúng
là
trở
giọng
như
lật
bàn
tay”.
Rồi
từ
đó
mất
hết
lòng
tin,
phải
vờ
phát
bệnh
cuồng
trong
hơn
một
năm.
Giám
mục
đốc
chính
thấy
vậy
bèn
giữ
Hoằng
ở
lại
trong
tòa
giám
mục
địa
phận.
Một
hôm
nhân
lúc
đốc
chính
đi
vắng,
Văn
Hoằng
lén
lấy
chiếc
tráp
riêng
của
đốc
chính
rồi
trốn
đi.
Khi
mở
ra
xem,
thì
thấy
trong
tráp
có
một
bộ
Sử
ký
của
nước
Tây
Dương.
Nhờ
đó
Văn
Hoằng
mới
biết
nguyên
do
việc
đạo
ở
nước
Tây
Dương
cùng
là
những
phép
cấm
đạo,
diệt
đạo
mà
các
nước
khác
đã
từng
thi
hành.
Văn
Hoằng
bèn
quyết
ý bỏ
đạo,
than
rằng:
“Vua
tôi
Tây
Dương
chúng
bay
chỉ
lừa
dối
dân
ta
để
cướp
nước
mà
thôi”.
Rồi
đó
Văn
Hoằng
lấy
vợ,
cư
trú
tại
Thăng
Long,
bắt
tay
dịch
tài
liệu
ra
chữ
Hán
biên
soạn
thành
sách
[49] .
Văn
Hoằng
bàn
với
Đức
Đạt
rằng:
“Tôi
nghe
nói
hai
giám
mục
lão
thành
là
Phạm
Văn
Ất
và
Nguyễn
Đình
Bính
lúc
trước
từng
sang
nước
Tây
Dương,
vậy
mà
bỗng
nhiên
đâm
ra
lười
biếng
sự
đạo.
Chúng
ta
nên
tới
thăm
hỏi
cho
biết
rõ
nguyên
do”.
Rồi
đó
hai
ông
cùng
nhau
tìm
đến
hai
làng
Ninh
Cường,
Quần
Anh.
Bấy
giờ
Phạm
Văn
Ất
đã
chết.
Nguyễn
Đình
Bính
cả
mừng
nói:
“Thế
là
sách
của
ta
có
chỗ
gửi
gắm
rồi!”
Bèn
kể
lại
nguyên
do
mọi
chuyện
và
lấy
thủ
cảo
cuốn
Gia
Tô
bí
pháp
đưa
cho
Văn
Hoằng
và
Đức
Đạt
xem.
Hai
người
xem
xong
cả
kinh
kêu
thốt
lên:
“Chính
là
giặc!
Chính
là
giặc
rồi!
Đúng
như
người
ta
nói:
không
mưu
đồ
lợi
lớn
thì
việc
gì
phải
đánh
đường
sang
đây!
Bọn
ta
chìm
vào
đảng
giặc
đã
lâu
quá
rồi!”
Văn
Hoằng
cũng
lấy
tập
sạch
do
mình
soạn
đưa
cho
Đình
Bính
xem.
Đình
Bính
cả
mừng
góp
thêm
ý
kiến
sửa
chữa
thêm
bớt,
khiến
cho
người
ta
chỉ
đọc
qua
một
lần
là
biết
ngay
thủ
đoạn
lừa
bịp
của
bọn
chúng.
Đó
chính
là
tập
sách
này
đây.
Văn
Hoằng
và
Đức
Đạt
ra
về
dặn
nhau
chớ
để
cho
dân
tả
đạo
kiếm
cớ
lui
tới
thăm
viếng.
Một
hôm
có
tên
môn
đồ
thuộc
bổn
đạo
cũ
nói
là
có
việc
đi
tuần
hành
ghé
vào
thăm
hỏi.
Chỉ
mấy
tháng
sau,
Đức
Đạt
bị
ốm
chết.
Văn
Hoằng
nghe
tin
Đức
Đạt
mất,
vội
từ
Thăng
Long
về
điếu
tang.
Xem
xét
trong
nhà
thì
thấy
trong
bình
vôi
đầy
những
bột
thạch
tín
[50] . Đức Đạt chỉ có hai con
gái
mà
thôi
[51] . Văn Hoằng thấy vậy càng
thận
trọng
giữ
mình,
cho
nên
tả
đạo
không
thể
làm
hại
được.
Về
sau
Hoằng
sinh
hai
trai
hai
gái.
Lại
nói
bên
Trung
Hoa
vào
khoảng
niên
hiệu
Vạn
Lịch
(1573-1620)
đời
Minh,
giặc
Tây
Dương
sai
giám
mục
Matêô
Rixi
mang
tên
thánh
là
Sêmông
[52] làm khâm mạng sang Yên Kinh
[53] để cai quản việc truyền
đạo.
Trước
đó,
đất
Ma
Cao
tuy
không
thuộc
quyền
cai
trị
của
người
Trung
Hoa,
nhưng
ngôn
ngữ,
văn
tự,
y
phục
vẫn
theo
như
ở
nội
địa.
Đến
hồi
nhà
Minh
loạn
lạc
nổi
lên,
giám
mục
khâm
mạng
ở Ma
Cao,
qua
thư
từ
và
hỏi
chuyện
các
khách
buôn
người
nội
địa,
biết
rõ
thực
trạng
ở
Trung
Hoa,
bèn
cho
sao
dịch
một
số
sách
kinh
điển
của
người
Trung
Hoa
lén
chuyển
về
Tây
Dương
và
tâu
rằng:
“Triều
nhà
Minh
đang
có
biến,
chểnh
mảng
lệnh
cấm
người
ngoại
quốc.
Vả
lại
nước
ấy
rất
lớn,
nếu
không
phải
là
người
thông
tuệ
uyên
bác
thì
không
thể
đảm
đương
được
chức
vụ”.
Giáo
hoàng
bèn
triều
quần
thần
hội
bàn
nói
rằng:
“Đạo
Phật
vào
Trung
Quốc
nhờ
ở
nhà
vua
[54] . Đạo ta muốn vào nước ấy
cũng
phải
có
nhà
vua
giúp
sức,
được
như
thế
thì
chẳng
việc
gì
không
xong.
Hơn
nữa,
nếu
giám
mục
khâm
mạng
không
phải
là
một
người
có
danh
tiếng
lớn
của
nước
ta
thì
không
thể
mê
hoặc
được
dân
nước
họ”.
Rồi
đó
Giáo
hoàng
chọn
Matêô
Rixi,
trao
phẩm
phục
và
nhiều
tiền
bạc
châu
báu
cho
Rixi
lên
đường.
Matêô
Rixi
trước
hết
đến
Ma
Cao
để
học
chữ
và
tập
cách
ăn
mặc;
sau
ba
năm
đã
thông
thạo
hết
mới
rời
Ma
Cao
để
lên
Yên
Kinh.
Tới
nơi
Rixi
xin
nhập
tịch
làm
dân
địa
phương.
Lại
học
thêm
ba
năm
nữa
rồi
xin
đi
thi
hội,
đậu
tiến
sĩ.
Năm
ấy
Rixi
mới
23
tuổi,
được
ghi
tên
bảng
vàng
và
vâng
mệnh
vinh
quy
về
nơi
cư
ngụ
ở
ngoài
kinh
thành.
Sau
khi
đậu
đạt
có
danh
tiếng
rồi,
Rixi
bèn
đem
nhiều
vàng
bạc
kim
báu
hiến
cho
nhà
vua
Minh
và
các
đại
thần
thân
cận
của
vua,
một
mặt
kiếm
cớ
nói
rằng:
vì
mình
là
người
“man
di ở
Châu
Nhai”,
dân
chúng
coi
là
hèn
kém
nên
không
muốn
ra
làm
quan.
Vua
Minh
đã
nhận
vàng
bạc
châu
báu
của
Rixi
nên
cũng
cho
được
như
ý
nguyện.
Bởi
thế
những
khi
có
tế
lễ
sóc
vọng
[55] ở trong triều, Rixi chỉ là
kẻ
tiểu
thần
nên
không
vào
dự.
Từ
đó
Rixi
đi
giảng
đạo
ở
các
nơi
trong
nước
Minh,
nhưng
vẫn
có
nhà
riêng
ở
ngoài
thành
Yên
Kinh.
Rixi
bèn
so
sánh
lịch
biểu,
tính
ra
năm
Jêsu
ra
đời
là
ngang
với
năm
Canh
Thân
niên
hiệu
Nguyên
Thọ
thứ
2 (1
trước
Công
nguyên)
đời
vua
Hán
Ai
Đế.
Rixi
nói:
“Chúa
Trời
có
ba
ngôi,
Khổng
Tử
cũng
từng
nói
như
vậy.
Đó
tức
là:
Thái
cực
sinh
lưỡng
nghi
[56] ”. Đầu năm ngày tết người
ta
đến
chúc
mừng,
Rixi
nói:
“Có
năm
mới
tức
là
năm
cũ,
đó
là
điều
đáng
buồn
chứ
có
gì
mà
mừng?”
Có
người
hỏi
tại
sao
không
thờ
cúng
tổ
tiên,
Rixi
đáp:
“Quê
tôi
ở
xa,
nay
nếu
lập
thờ
cúng
tế
lại
càng
thêm
buồn
nhớ”.
Có
người
hỏi
tại
sao
không
lấy
vợ,
Rixi
đáp:
“Con
gái
Trung
Hoa
có
ai
thèm
lấy
dân
man
di
mọi
rợ
đâu”.
Đại
khái
đều
trả
lời
trốn
tránh
như
thế
cả.
Có
người
nghi
ngờ,
tâu
với
vua
Minh
rằng:
“Cách
sinh
sống
như
thế
thật
không
hợp
với
tình
người,
hẳn
có
mưu
kế
gì
gian
dối,
xin
xuống
lệnh
bắt
buộc
phải
về
nước”.
Tuy
vậy
hằng
năm
người
Tây
Dương
đều
chuyển
thêm
vàng
bạc
cho
Rixi
để
biếu
xén,
cho
nên
y
vẫn
được
dung
thân.
Nước
Trung
Hoa
có
“giặc”
Tây
Dương
đến
cai
quản
việc
đạo
kể
từ
đó.
Lại
nói
bấy
giờ
quan
thượng
thư
nước
ta
là
Nguyễn
Công
Hãng
sang
sứ
nước
Tàu,
khi
đến
Yên
Kinh
qua
cổng
phủ
đệ
của
Rixi
không
xuống
xe,
Rixi
bèn
sai
tên
giữ
cổng
gây
sự
làm
nhục.
Còn
Hãng
dò
xét
biết
rõ
nguyên
do,
khi
về
nước
liền
dâng
khải
lên
chúa
Trịnh
[57] xin ra lệnh cấm đạo, nhưng
còn
chưa
biết
cấm
diệt
bằng
cách
nào.
Nói
tiếp
về
chuyện
giặc
Tây
Dương
đem
thuốc
phiện
[58] sang Trung Hoa ngấm ngầm
đầu
độc
bọn
quan
lại
sĩ
phu
khiến
cho
dân
nước
ấy
mãi
mãi
bị
hao
mòn.
Bấy
giờ
Giáo
hoàng
Tây
Dương
gửi
mật
thư
cho
Sêmông
Rixi
căn
dặn:
“Sự
nghiệp
mới
khai
sáng,
ngươi
nên
cẩn
thận
tận
tâm
mở
mang
sự
nghiệp
ban
đầu,
bao
giờ
đè
bẹp
Khổng
Khưu,
đập
tan
Mạnh
Kha
thì
công
lai
của
ngươi
đáng
kể
đến
hàng
đầu”.
Sêmông
Rixi
cũng
gửi
mật
thư
phúc
đáp,
trong
đó
có
đoạn
viết:
“Trung
Hoa
đất
rộng
chứ
không
phải
nhỏ
bé
như
nước
Đại
Nam.
So
về
trí
tuệ
thì
người
Trung
Hoa
như
kẻ
một
mắt,
còn
dân
nước
Nam
thì
như
người
hai
mắt
bị
lòa.
Cho
nên,
lừa
phỉnh
mê
hoặc
bọn
họ
một
bên
khó,
một
bên
dễ,
khác
nhau
xa.
Hơn
nữa
ở
Trung
Hoa,
những
kẻ
giàu
sang
quyền
quý
phần
nhiều
đều
cứng
lòng
thật
khó
khuyên
dỗ.
Xem
ra
tập
tục
nước
này
chuộng
thói
xa
hoa,
mê
đắm
thanh
sắc,
chỉ
chạy
theo
điều
lợi.
Vậy
cứ
nhân
theo
những
điều
ham
muốn
của
bọn
họ
mà
có
cách
trừ
diệt
dần
dần,
khiến
cho
người
tài
trí
phải
chết,
mà
kẻ
ngu
dốt
được
sống
còn.
Như
thế
thì
đạo
ta
mới
là
thỏa
chí”.
Rồi
đó
Giáo
hoàng
bảo
triều
thần
chế
ra
cao
thuốc
để
đầu
độc,
ai
ăn
thuốc
ấy
ắt
sinh
ra
vạn
con
[vi]
trùng
[?].
Lại
gửi
cả
giống
cây
và
cách
nấu
cao
ấy
sang
Trung
Hoa
cho
Sêmông
Rixi,
bảo
Rixi
dạy
cho
người
buôn
Trung
Hoa
tự
nấu
lấy.
Người
bán
thuốc
phiện
kiếm
được
nhiều
lời,
chẳng
kể
gì
đến
mạng
người
nữa.
Những
người
mua
thuốc
ấy
mà
ăn
chỉ
thấy
cái
lợi
nhất
thời
tăng
thêm
sinh
khí
mà
không
biết
đó
là
thuốc
giết
người.
Rồi
cứ
thế
truyền
dạy
cho
nhau,
cứ
thế
giết
hại
lẫn
nhau.
Nguyên
do
nạn
thuốc
phiện
[59] bắt đầu như thế.
Khoảng
niên
hiệu
Cảnh
Hưng
(1740-1780),
người
Tàu
đem
thứ
thuốc
ấy
sang
nước
Nam
ta,
từ
đó
hạng
giàu
sang
có
nhiều
người
bị
giết
hại
mà
không
biết.
Xét
theo
sách
Ma
Cao
quận
ký
thì
khi
Sêmông
Rixi
ở
Yên
Kinh
từng
đút
lót
nhiều
tiền
cho
bọn
thợ
vẽ ở
nội
cung,
lấy
được
một
tấm
địa
đồ
của
nước
Thanh
[60] , có ghi rõ lộ trình, dân
số,
binh
lính,
v.v.
gửi
về
cho
Giáo
hoàng.
Thư
của
Sêmôn
có
đoạn
nói:
“Bờ
cõi
nước
Thanh
bao
la
rộng
lớn,
dân
số
đông
đúc,
với
bằng
ấy
phép
thuật
của
đạo
ta
thì
ngoài
nghìn
năm
cũng
chưa
gồm
trọn
được
[61] . Nay thấy thói tục nước ấy
ưa
chuộng
đào
hát
gái
đẹp,
ăn
chơi
xa
hoa,
dân
buôn
bán
thì
tham
hàng
hám
lợi,
xin
xem
có
cách
gì
cho
người
nước
ấy
giết
hại
lẫn
nhau
khiến
người
tài
trí
phải
chết
mà
kẻ
ngu
si
sống
còn,
thì
họa
chăng
bảy
trăm
năm
đạo
ta
có
thể
đắc
chí
được”.
Lại
nói
Giáo
hoàng
biết
bọn
giàu
sang
nhàn
rỗi
ở ta
đã
mắc
nạn
nghiện
a
phiến
bèn
nói
rằng:
“Đất
Việt
Đông
từ
khi
đạo
truyền
vào
đã
ba
trăm
năm,
nay
dân
lại
mắc
hãm
bởi
nạn
nghiện
thuốc
phiện
thì
[việc
của
ta]
chắc
sẽ
mau
chóng
hơn”.
Lại
xét
về
chất
cao
thuốc
phiện
đầu
tiên
do
người
Tây
Dương
chế
ra.
Nguyên
ở
miền
núi
nước
ấy
có
một
thứ
cây
tiếng
Trung
Hoa
là
cây
anh
túc
[62] . Người nước ấy lấy nhựa
cây
anh
túc
luyện
thành
cao
để
đầu
độc
người
nước
ngoài,
thu
được
lợi
lớn,
nhưng
trong
nước
thì
nghiêm
cấm
không
được
dùng.
Có
người
lấy
vụng
mà
ăn
bèn
bị
xử
bắn.
Người
Trung
châu
xếp
thứ
cây
này
vào
dược
phẩm
tức
là
dùng
cái
vỏ
thịt
của
nó.
Sách
Bản
thảo
dược
tính
nói
rằng:
“Vỏ
cây
anh
túc
ngâm
rửa
cho
hết
xơ
gân
tẩm
với
mật
sao
cho
vàng
dùng
để
chữa
các
bệnh
ỉa
chảy,
kiết
lỵ
kinh
niên,
viêm
ruột
cùng
là
các
bệnh
hen
suyễn.
Lại
làm
cho
khí
thận
được
bền,
trị
bệnh
xương.
Tuy
có
công
dụng
chữa
bệnh
mau
chóng,
nhưng
khi
người
bênh
đang
cơn
ho
dữ
dội
hoặc
ỉa
chảy
như
xối
mà
cứ
cho
uống
thì
thuốc
ấy
lại
giết
người
như
gươm
giáo”.
Thuốc
phiện
còn
có
tên
là A
phù
dung
[63] . Vào dịp hoa anh túc nở rộ
lấy
que
tre
nhọn
chích
chừng
vài
mươi
lỗ
để
cho
nhựa
chảy
ra,
ngày
hôm
sau
lấy
thanh
dao
tre
cạo
thứ
nhựa
ấy
vào
đồ
dùng
làm
bằng
bạc,
đôi
khi
vét
nhựa
được
khá
rồi
thì
lấy
giấy
dán
kín
miệng
bình
lại,
đem
phơi
nắng
hai
mươi
bảy
ngày
quánh
đặc
thành
phiến.
Dược
tính
của
chất
ấy
thuộc
thứ
ôn,
chua,
dính,
gấp
(ôn,
toan,
sáp
nhi
cấp)
dùng
chữa
bệnh
cũng
có
tác
dụng
như
vỏ
cây
anh
túc
đã
nói
ở
trên,
nhưng
làm
vị
thuốc
không
thể
dùng
nhiều;
lấy
cao
sống
hòa
với
rượu
đem
cho
uống
thì
giết
người
chỉ
trong
khoảnh
khắc.
Năm
Ất
Hợi
niên
hiệu
Gia
Khánh
20
(1815)
đời
vua
Nhân
Tông
nhà
Thanh,
nhiều
người
Tây
Dương
lui
tới
buôn
bán
ở
các
vùng
cửa
biển.
Khi
có
sứ
thần
của
một
người
nào
tới,
vua
truyền
chỉ
cho
quan
sở
tại
mở
yến
tiệc
khoản
đãi.
Sứ
thần
có
bọn
không
chịu
lạy
ơn,
có
bọn
được
phép
về
kinh
yết
kiến
nhưng
không
tuân
theo
nghi
thức
nhập
triều,
ra
về
cũng
không
chịu
lạy.
Nhưng
vua
Nhân
Tông
nhà
Thanh
là
người
nhân
từ
vẫn
sai
người
đưa
bọn
họ
về
nước.
Từ
đó
bọn
man
rợ
Tây
Dương
càng
tỏ
ra
ngang
tàng
xấc
ngạo,
chẳng
coi
ai
ra
gì.
Đến
khoảng
những
năm
đầu
niên
hiệu
Đạo
Quang
(1821-1851),
người
Tây
Dương
đến
buôn
bán
phần
nhiều
chỉ
nhằm
vào
món
lợi
nha
phiến.
Ở
các
phố
phường
thành
thị
miền
duyên
hải,
quan
lại
và
hạng
nhà
giàu
nghiện
thuốc
phiện
đến
nỗi
phải
khuynh
gia
bại
sản,
tự
tử
trầm
mình
nhiều
không
kể
xiết.
Năm
thứ
20
(1840),
vua
Đạo
Quang
hạ
lệnh
cấm,
kẻ
nào
hút
trộm
thì
xử
chém,
tịch
thu
gia
sản.
Vua
truyền
cho
Lưỡng
Quảng
phải
khám
xét
các
tàu
thuyền
của
người
Tây
Dương,
không
cho
vận
chuyển
buôn
bán
thuốc
phiện.
Tổng
đốc
Lâm
Tắc
Từ
đích
thân
đem
quan
quân
đi
tuần
tiễu,
hễ
khám
thấy
thuyền
nào
chở
thuốc
phiện
đều
tịch
thu
tiêu
hủy
hết.
Bọn
man
rợ
Tây
Dương
vì
thế
hết
sức
căm
ghét
tổng
đốc
họ
Lâm,
bèn
tập
hợp
hải
thuyền
kéo
đến
xâm
phạm
cướp
phá
tỉnh
Quảng
Đông.
Bọn
chúng
rêu
rao
rằng:
người
Trung
Quốc
vô
cớ
cướp
đoạt
của
cải
hàng
hóa
của
thương
nhân
Tây
Dương,
phải
bồi
hoàn
theo
đúng
giá.
Tổng
đốc
Lâm
Tắc
Tư
nhất
quyết
không
nhượng
bộ,
cho
nên
xảy
ra
xung
đột
đổ
máu.
Sau
đó
vua
Đạo
Quang
sai
Kỳ
Thiện
đến
thay
chức
tổng
đốc,
Lâm
Tắc
Từ
bị
khép
tội
“gây
chuyện
hiềm
khích
ở
nơi
biên
cảnh”.
Kỳ
Thiện
là
một
kẻ
tham
lam
bỉ
ổi,
bí
mật
nhận
hối
lộ
của
bọn
Tây
Dương
hứa
hẹn
sẽ
cắt
đất
cho
chúng.
Đến
khi
tâu
việc
lên,
vua
không
phê
chuẩn.
Kỳ
Thiện
do
vậy
cũng
bị
khép
tội.
Giặc
Tây
Dương
lại
lấy
cớ
người
Trung
Quốc
không
giữ
lời
hứa
bèn
rầm
rộ
kéo
quân
đến
xâm
lược.
Cuộc
chiến
lan
tràn
khắp
bảy
tỉnh
Phúc
Kiến,
Chiết
Giang,
Sơn
Đông,
Trực
Lệ,
Giang
Tô,
Thịnh
Kính
[64] , các nơi khác như Định
Hải,
Trấn
Hải,
Ninh
Ba,
Tạc
Phố,
Sơn
Đan,
Hổ
Môn,
v.v.
tiếp
nhau
bị
khuấy
động,
cũng
có
một
vài
nơi
thất
thủ.
Binh
đao
liên
tiếp
gây
họa
kéo
dài
3
năm.
Triều
thần
tâu
xin:
ở
các
nơi
như
Quảng
Châu,
Phúc
Châu,
Hạ
Môn,
Ninh
Ba,
Thượng
Hải
vẫn
để
cho
người
Tây
Dương
được
đến
buôn
bán
như
cũ,
đất
Hương
Cảng
thì
cấp
hẳn
cho
bọn
chúng
[65] làm nơi cư trú vĩnh viễn.
Nhưng
quân
Tây
Dương
vẫn
giữ
yêu
sách
đòi
bồi
thường
những
hàng
hóa
bị
mất
và
trang
trải
tất
cả
chi
phí
chiến
tranh
mới
chịu
cho
giảng
hòa.
Đình
thần
muốn
được
vô
sự
tâu
xin
nhà
vua
chịu
khuất
tuân
theo
những
điều
kiện
ấy.
Đó
là
tai
hại
của
việc
thông
thương
buôn
bán
thuốc
phiện
với
người
Tây
Dương.
Năm
Nhâm
Thân
niên
hiệu
[Gia
Long]
thứ
11
(1812)
giặc
Tây
gửi
thư
mật
báo
cho
các
giám
mục
đốc
chính
yêu
cầu
các
giám
mục
cai
quản
các
địa
phận
có
núi
phải
vẽ
bản
đồ
hình
thế
núi
non
và
dùng
đất
đắp
thành
mô
hình
[66] gửi về Tây Dương. Nguyễn
Văn
Hoằng
bèn
in
sách
này
để
lưu
hành
công
chúng,
bị
bọn
tay
chân
của
giặc
Tây
thu
đoạt
hết.
Lúc
trước
Văn
Hoằng
có
nghe
Nguyễn
Đình
Bình
nói
bọn
giặc
Tây
Dương
có
thủ
đoạn
phá
yểm
sơn
linh:
đào
hố
đặt
dược
rồi
châm
lửa
cho
thuốc
nổ
để
cắt
đứt
các
mạch
đất
thiêng.
Đến
bấy
giờ
Văn
Hoằng
còn
đang
buồn
rầu
thương
tiếc
bạn
mình
là
Đức
Đạt
bị
giặc
Tây
ám
hại,
chợt
nghe
tin
bọn
chúng
gửi
thư
mật
nói
trên,
Văn
Hoằng
cả
kinh,
bèn
đóng
cửa
không
ra
khỏi
nhà,
tham
khảo
rộng
thêm
các
sách
truyện
ký
của
người
Tây
Dương,
dọn
lại
sách
này
một
lần
nữa,
rồi
thuê
người
viết
chữ,
khắc
bản
gỗ
đem
in
để
lưu
hành
cho
công
chúng
đọc.
Sách
in
xong,
các
nhà
hàng
bày
bán
ở
các
phố
chợ
trong
thành
Thăng
Long,
giáo
đồ
của
đạo
Tây
Dương
trông
thấy
liền
mua
hết,
rồi
lập
bức
báo
tin
cho
đốc
chính.
Giám
mục
đốc
chính
cả
kinh,
liền
xuất
ba
mươi
nén
bạc
để
mua
hết
số
sách
đã
in
ra
và
mua
luôn
cả
bản
khắc
gỗ
đem
về
tòa
Tổng
giám
mục
tiêu
hủy.
Sau
đó
Văn
Hoằng
hỏi
thăm
mới
biết
xảy
ra
việc
ấy
càng
căm
giận
vô
cùng,
bèn
giấu
kín
trong
nhà
một
bản
sao
để
dành
cho
hậu
thế.
Đến
nay
sách
ấy
mới
được
phát
hiện
ra.
Xét
các
thủ
thuật
yêu
ma
quỷ
quái
của
tả
đạo
Gia
Tô
thì
mênh
mông
rắc
rối
và
phức
tạp
lắm.
Nay
tham
khảo
đính
chính
[các
nguồn
tài
liệu],
nêu
lên
đại
lược
những
điều
thiết
yếu,
trước
sau
như
vậy
để
tiện
xem
đọc.
Mong
các
bậc
cao
minh
trong
nước
lại
sửa
chữa
cho,
thật
là
may
mắn
lắm.
Tài
liệu
tham
khảo
để
dịch
và
chú
thích
Tây
Dương
Gia
Tô
bí
lục
- Bốn quyển sách Phúc âm của Đức chúa Jêsu Kiristô. Lm. Chính An (Fr. Marcus Gispert) dịch và chú thích, Phú Nhai đường, 1926
- Thánh Kinh sử lược, Hội Tin lành Đông Dương, II, 1937
- Sách bổn Rôma, Hồng Kông, 1916
- Sử ký Hội Thánh (P. P. Maria Huân), Bùi Chu, 1912
- Sử ký địa phận Trung, Phú Nhai đường, 1916
- Sách giống má thiêng liêng, Lm. Tràng Thiều (Fr. Juan Serra) dọn lại, Phú Nhai đường, 1916
- Thánh giáo kinh nguyền, chữ Nôm, in 1929
- Tứ chung yếu lý, chữ Nôm, Phát Diệm tổng đường, 1868
- Sách truyện các thánh toát yếu, chữ Nôm, Ninh Phú đường, 1909
- Sách giảng sự thương khó Đức chúa Jêsu, chữ Nôm, Phát Diệm tổng đường, 1869
- Philipphê Bỉnh: Sách sổ sang chép các việc. Bản chụp ảnh thủ cảo của tác giả viết bằng chữ quốc ngữ cổ, đầu thế kỷ XIX, Thanh Lãng sưu tầm tại Rôma. Viện Đại học xuất bản, 1968.
- Hồng Lam: Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. Xuất bản dưới quyền duyệt chính của Lm. L. Cadière và cụ Nguyễn Văn Tố, Huế, Đại Việt thiện bản, 1944
- Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam. T. I. S., Hiện Tại, 1959
Mục lục
Vài lời nói đầu
Lời giới thiệu
Lời tựa
Chỉ dẫn tóm tắt về những lời lẽ lừa bịp của bọn giặc Tây
Nguyên dẫn
Quyển I:
Nước Jiuđê, Jêsu ra đời
Được môn đồ, Jêsu thêm kiêu ngạo
Quyển II:
Lén khỏi nước, Jêsu bày đặt lắm phép
Bị hỏi vặn, Jêsu nguy khốn nhiều phen
Quyển III:
Về Jiuđê, Jêsu bị án tử hình
Bừng sáng núi, xác Jêsu sống lại
Quyển IV:
Lên núi cao, thể phách Jêsu truyền bí pháp
Hóa chim câu, thể phách Jêsu bịp lòe người
Quyển V:
Nhờ viện quân LâmBô, Jêsu hóa phép sinh yêu
Trúng mưu kế nữ thần, quân Jêsu đành thua trận
Quyển VI:
Sang Tây Dương, phép thuật giải quyết đắc dụng
Trình Bí lục, môn đồ Jêsu được phong
Quyển VII:
Các vua đạo mượn Jêsu đối chứng
Bọn đạo quan bịa chuyện láo lừa dân
Quyển VIII:
Quân Tây Dương thôn tính các lân quốc
Các nước gần cùng nhau trừ Dương tặc
Quyển IX:
Thời Hậu Lê giặc Tây ẩn náu ở nước ta
Đời nhà Thanh, Dương tặc công nhiên đến Trung Quốc
H Ế T
Tài
liệu
tham
khảo
để
dịch
và
chú
thích
Tây
Dương
Gia
Tô
bí
lục
[1]Tức
là
truyền
đạo.
[2]Tiền Lê nói đây tức là đời Lê
sơ
(1428-1828).
[3]Nguyên thư phiên: GiaCôBa.
[4]Đông thổ: miền giải đất phương
đông,
các
người
phương
Tây
ngày
trước
gọi
chung
miền
đông
châu
Á.
[5]Ngày nay tả đạo thường ngoa
truyền
rằng:
Phanxicô
đem
vàng
bạc
châu
báu
vào
Trung
Hoa
mua
dải
đất
ấy,
xin
lấy
tấm
da
trâu
cắt
nhỏ
ra
do
bốn
phía
mà
lập
khoán
ước.
Vua
nhà
Minh
y
cho.
Phanxicô
bèn
cắt
nhỏ
tấm
da
trâu
nối
lại
đo
đất
mà
mua.
Đó
là
lời
nói
vô
lý
chỉ
cốt
để
khoe
tài
trí
của
bọn
chúng
mà
thôi.
Ma
Cao
tức
là
bán
đảo
Áo
Môn
của
Trung
Quốc.
Ở
đây
có
hành
cung
của
bà
vua
Vũ
Tắc
Thiên,
dân
địa
phương
quen
gọi
là
Ma
Các
(lầu
của
mẹ).
Vua
Minh
Thế
Tông
(1522-1567)
cho
người
Bồ
Đào
Nha
thuê
Ma
Các
làm
nơi
buôn
bán,
người
Bồ
nhân
theo
đó
mà
dịch
âm
là
Ma
Cao.
Đối
với
việc
truyền
giáo
ở
Trung
Quốc
và
các
nước
Đông
Nam
Á,
Ma
Cao
là
một
vị
trí
bàn
đạp
quan
trọng.
Giáo
sĩ
phương
Tây
đến
miền
Bắc
nước
ta
thường
xuất
phát
từ
Ma
Cao.
[6]Nguyên thư phiên: YNêKhu.
[7]Huyện Nam Chân đời Lê thuộc
trấn
Sơn
Nam,
đời
Nguyễn
thuộc
tỉnh
Nam
Định.
Nay
là
huyện
Hải
Hậu
(Hà
Nam
Ninh).
[8]Nói khác tiếng, mặc khác kiểu.
[9]Người Tây lấy tên thánh làm tên
gọi,
cho
nên
trước
sau
người
dòng
nào
thì
cứ
gọi
theo
tên
dòng
ấy.
Dưới
đây
cũng
theo
cách
ấy.
[10]Lấy tên Jêsu làm tên dòng,
tức
là
dòng
Tên
(Jésuites).
[11]NêKhu (Ingatio) đến nước ta
vào
ngày
24
tháng
Ba
(Quý
Tị,
18/4/1533.
ND)
[12]An Quảng, tỉnh Quảng Ninh
hiện
nay.
[13]Về sau, các giám mục đốc chính
thuộc
dòng
Phêrô
đều
xưng
là
Phêrô,
thuộc
dòng
Đôminicô
thì
xưng
là
Đôminicô.
Nay
vẫn
còn
như
thế.
[14]Ba dòng: là dòng Tên (Jésuite)
do
Ingatio
truyền
lập
và
hai
dòng
Phêrô
và
Đôminicô
vừa
nói
trên.
[15]Tức Jacintô Castaneda người
Tây
Ban
Nha
trước
giảng
đạo
ở
Trung
Quốc,
sau
sang
Việt
Nam,
bị
bắt
ngày
12/6/1773.
[16]Tức Vincente Paz, quê ở xã
Trà
Lũ,
xứ
Phú
Nhai,
theo
đạo
năm
12
tuổi,
bị
bắt
ngày
2/10/1773.
[17]Lý do Nguyễn Công Hãng tâu
xin
cấm
đạo,
xem
đoạn
sau
sẽ
rõ.
Nhà
ngục
là
chỗ
cấm
rất
nghiêm
mà
bọn
chúng
còn
ngang
nhiên
làm
như
thế
huống
chi
là
những
nơi
xa
xôi
hẻo
lánh
thì
có
việc
gì
chúng
không
dám
làm?
Xin
bậc
quân
tử
chớ
có
lơi
lỏng
coi
thường.
[18]Trong tờ khải tâu lên chúa
Trịnh,
Nguyễn
Công
Hãng
có
nói
câu
ấy.
[19]Câu này chỉ nói lướt qua sự
việc.
Nếu
nói
chính
xác
thì
khởi
nghĩa
Tây
Sơn
đã
nổi
dậy
trước
đó
10
năm
(1878).
Năm
Đinh
Mùi
(1787)
nói
trên
là
năm
Nguyễn
Huệ
đưa
quân
ra
Bắc
lần
thứ
nhất
xóa
bỏ
chính
quyền
họ
Trịnh.
[20]Nguyên thư: cập bán thế… chữ
tận
và
chữ
bán
viết
thảo
có
thể
đọc
nhầm,
nên
chép
sai.
[21]Đến năm Mậu Thân (1788), nhà
Lê
mất.
Sau
đó
Tây
Sơn
lên
trị
nước.
Từ
tháng
11
năm
Mâu
Thân
[đến
hết
năm
ấy]
là
thuộc
về
niên
hiệu
Quang
Trung
thứ
1
triều
Tây
Sơn.
[22]Nguyên thư chép: bất do bản
lưu
đốc
chính
ác
(đọc
= 6
chi).
Chữ
ác
(ố)
vào
vị
trí
đó
khiến
cho
câu
văn
trở
thành
không
hiểu
được
(=
không
phải
do
đốc
chính
dòng
mình
ghét
bỏ).
Đúng
ra
đó
phải
là
chữ
cấp
(=
cho,
phát),
có
phần
chắc
là
do
đồng
âm
chép
nhầm
chữ
cấp
=
mau,
gấp;
chữ
cấp
này
viết
thảo
lại
giống
chữ
ác
nên
mới
sai
ra
như
vậy.
[23]Chúc mừng sự truyền đạo mở
rộng
thêm
ở
một
nước
nữa
(tức
nước
ta).
[24]Người Tây Dương phàm việc gì
cũng
kiên
trì
lâu,
đại
khái
như
thế
cả.
Muốn
diệt
chúng
phải
kiên
trì
lâu
mới
thành
công
được.
[25]Có người ôm tượng chúa Jêsu
mà
kêu
to:
“Dòng
đạo
ta
là
dòng
Thiên
Chúa!”,
hoặc
không
chịu
đọc
kinh
theo
cách
đọc
của
dòng
Đôminicô
(dòng
Tên
và
dòng
Phêrô
khi
đọc
kinh
cả
nam
nữ
cùng
đọc,
dòng
Đôminicô
thì
nam
đọc
một
câu
nữ
đọc
một
câu).
[26]Việc dòng Tên bị giải tán xảy
ra
năm
1773
dưới
thời
Giáo
hoàng
Clément
XIV.
Theo
một
tài
liệu
khác.
Philipphê
Bỉnh
cho
biết
rõ:
năm
1775,
khi
ông
đi
tu
“lúc
bấy
giờ
đã
mất
dòng
ở
thành
Rôma
được
2
năm
vì
đức
thánh
Phapha
Clément
thứ
XIV
phá
dòng
Đ.C.J.
ngày
22/7/1773
(xem
Sách
sổ
sang
chép
các
việc,
Viện
Đại
học
Đà
Lạt
xuất
bản,
1988).
Phapha
tức
là
Giáo
hoàng,
đọc
theo
phiênâm
tiếng
Bồ:
paper:
dòng
Đ.C.J.
=
dòng
Đức
chúa
Jêsu,
tức
dòng
Tên).
Tuy
nhiên,
sau
khi
có
phán
quyết
ấy,
một
số
giáo
sĩ
dòng
Tên
ở
lại
Việt
Nam,
có
tài
liệu
nói
đến
năm
1788
mới
ra
đi
hết.
[27]Các giám mục thì có tượng,
môn
đồ
chưa
được
phong
giám
mục
thì
có
ảnh
vẽ.
[28]Tức cửa biển Đại An (Hà Nam
Ninh).
Đại
Ác
là
tên
đời
Lý
của
huyện
Đại
An.
[29]Nguyên văn: Nam Ninh, cũng
tức
là
Nam
Hải
(dùng
chữ
của
Trang
Tử,
đã
dẫn).
[30]Nam Xương: tức là huyện Lý
Nhân
đời
Nguyễn
(nay
thuộc
Hà
Nam
Ninh).
[31]Chương Dương: tên xã thuộc
huyện
Thường
Tín
(Hà
Sơn
Bình).
[32]Tức là Thanh Hoa nội trấn
(Thanh
Hóa)
và
Thanh
Hoa
ngoại
trấn
(Ninh
Bình)
nay
thuộc
Hà
Nam
Ninh.
[33]Tức Bình Định, Khánh Hòa.
[34]Tức trấn Phiên An, sau nhập
chung
với
trấn
Gia
Định
thành
tỉnh
Gia
Định.
[35]Phía đông thuộc dòng Đôminicô,
phía
tây
thuộc
dòng
Phêrô.
Tên
các
địa
phương
ở
đoạn
cuối
câu
này,
chúng
tôi
có
xếp
lại
cho
hợp
thứ
tự
từ
Bắc
vào.
[36]Nguyên thư chép: nhị bách
niên
hậu
(hai
trăm
năm
sau)
chắc
là
nhầm,
bởi
vì
có
câu
nói
tiếp
theo:
“…
khi
ấy
ta
sẽ
đích
thân
phong
thánh
sống
cho
các
ngươi
(ngã
ký
dương
diện
phong
nhữ
đẳng
vi
sinh
thần)”.
Như
vậy
thì
chỉ
là
“nhị
thập
niên
hậu”
chứ
không
thể
là
“nhị
bách
niên
hậu”
được.
[37]Mỗi khi nuốt được một nước,
Tây
Dương
lại
mở
yến
hội
lớn
và
phong
tặng
cho
kẻ
có
công.
Cho
nên
nói
lóng
như
vậy.
[38]Nguyên văn; “… sử mộc tương
trùng
điêu
nhị
nhân
tượng…”.
Nguyên
thư
chép
chữ
tượng
(=
thợ
mộc)
sai
ra
chữ
tượng
(=
pho
tượng);
vì
đồng
âm
mà
chép
nhầm.
[39]Nguyên văn: “trùng điêu nhị
nhân
tượng…”.
Có
lẽ
vì ở
đoạn
trên
đã
nói
các
giám
mục
nước
ta
trước
đó
cũng
đã
có
tượng
để
trong
phòng
kín
cho
nên
ở
đây
nói
khắc
thêm
tượng
khác
để
đặt
trước
cửa
cung
điện
(miến
lập
vu
ký
khuyết
môn)
thì
viết
là
“trùng
điêu”.
[40]Con tàu khổng lồ do Nôê đóng
để
tránh
nạn
đại
thủy,
sự
tích
đã
nói
ở Q.
I.
[41]Tức là quyển IV hiện nay.
[42]Xem đó thì biết xưng tội,
giải
tội
đều
tùy
theo
ý
chỉ
bảo
của
bọn
cha
cố,
nào
có
liên
quan
gì
đến
chúa
Trời
đâu?
[43]Nguyên văn: “Tân Dậu cửu niên
hoàng
triều
khải
vận”.
Theo
lối
văn
biên
niên
chỉ
ghi
niên
hiệu
một
lần
đầu
sau
lược
(Ở
trên
đã
ghi
rõ
niên
hiệu
Cảnh
Thịnh).
Năm
này
(1801)
Cảnh
Thịnh
đã
mất
kinh
đô
Phú
Xuân,
nhưng
đến
giữa
năm
sau
Gia
Long
mới
lấy
được
Bắc
Thành,
lên
ngôi
ngày
31/5/1802.
[44]Không rõ tên làng các xã các
xứ
đạo
do
những
giám
mục
ấy
cai
quản.
Từ
đó ở
bốn
trấn
đều
có
đốc
chính
Tây
Dương
lén
lút
cai
quản.
[45]Về sau không biết rõ bao nhiêu.
[46]Nguyên văn: “Ngã chú nhân
thân
(=
người
thân),
nhân
chú
ngã
thân”.
Chữ
chú
vừa
có
nghĩa
là
cầu
khấn
đấng
siêu
nhiên,
vừa
có
nghĩa
là
nguyền
rủa.
Ở
đây
tác
giả
dùng
theo
nghĩa
thứ
hai.
Bạn
đọc
nhớ
lại
những
nghi
thức
về
lễ
thụ
phong,
những
lời
niệm
nhẩm
khi
làm
phép
xin
dấu
thánh
cho
người
ốm
khỏi
chết,
v.v,
đã
mô
tả ở
Q.
IV.
[47]Thư kinh, Đại Vũ mô.
[48]Mạnh Tử, Ly Lâu. Nguyên cả
câu
của
Mạnh
Tử
là:
“Bất
hiếu
hữu
tam,
vô
hậu
vi
đại”
(nghĩa
là:
Bất
hiếu
ba
điều
mà
không
có
con
nối
dõi
là
tội
lớn
nhất).
Ba
điều
bất
hiếu
mà
Mạnh
Tử
không
nêu
ra
đủ
cả,
theo
Kinh
Lễ
là:
1.
Vâng
dạ
cha
mẹ
trước
mắt
nhưng
sau
lưng
làm
trái
ý;
2.
Nhà
nghèo
có
cha
mẹ
già
không
chịu
ra
làm
quan
để
cho
cha
mẹ
hưởng
lộc;
3.
Không
lấy
vợ,
không
sinh
con
để
truyền
đời
thờ
cúng
tổ
tiên.
Câu
nói
trên
đây
nhắm
vào
điều
thứ
3.
[49]Tức là từ quyển V trở xuống.
[50]Thạch tín (= tín thạch): một
loại
khoáng
chất
phi
kim
loại,
ký
hiệu
As
(Arsenic)
màu
trắng.
Lúc
đầu
người
ta
tưởng
rằng
chỉ
ở
huyện
Tín
(Trung
Quốc)
mới
có
chất
ấy
nên
gọi
là
tín
thạch.
Tính
chất
độc
hại
của
nó
(dẫn
đến
chết
người)
có
lẽ
là
tính
chất
không
hòa
tan
trong
nước
và
dễ
kết
hợp
với
hóa
chất
khác
thành
chất
kết
tủa.
Nguyên
thư
chép:
“Thạch
tin
binh
gia
thạch
tín
mạt”
(trong
bình
thạch
tin
đều
là
bột
thạch
tín)
hẳn
là
chép
sai.
Xem
nguyên
chú
ở
cách
vài
câu
sau
nói:
“…
vợ
Đức
Đạt
không
ăn
trầu…”
thì
biết
rằng
đó
phải
là
bình
vôi.
Đúng
ra
là:
“Thạch
khôi
bình
giai
thạch
tín
mạt”,
chắc
là
do
ảnh
hưởng
chữ
sau
(tín)
mà
chép
lầm
chữ
trước
(khôi).
[51]Vợ con Đức Đạt không ăn trầu,
cho
nên
chỉ
một
mình
Đức
Đạt
bị
hại.
[52]Nattéo Rici (1552-1610), giám
mục
người
Ý,
đếu
Trung
Quốc
năm
Vạn
Lịch
thứ
8
(1580).
Tiên
phiên
âm
chữ
Hán
là
LịMãĐậu.
[53]Yên Kinh tức Bắc Kinh.
[54]Chỉ Hán Minh đế.
[55]Mồng một và rằm.
[56]Kinh Dịch: “Thái cực sinh
lưỡng
nghi,
lưỡng
nghi
sinh
tứ
tượng…”.
Tình
trạng
nguyên
sơ
của
vũ
trụ
sinh
ra
lưỡng
nghi
tức
là
dương
và
âm
(dương
nghi,
âm
nghi),
mỗi
“nghi”
lại
tiếp
tục
sinh
đôi
ra
nữa,
v.v.
[57]Nguyễn Công Hãng giữa chức
Thượng
thư
thời
chúa
Trịnh
Sâm.
[58]Nguyên văn: Độc dược (thuốc
độc),
đây
chỉ
thuốc
phiện,
ở
dưới
đã
nói
rõ.
[59]Nguyên văn: A nha phiến.
[60]Mattéo Rici vào Trung Quốc
đời
Minh,
nhưng
còn
sống
đến
đầu
đời
Thanh.
[61]Nguyên văn: hỗn tinh, ý nghĩa
như
thôn
tính.
[62]Anh túc (cây thuốc phiện),
tên
khoa
học:
Papaver
somniferum.
[63]Ngày trước thường gọi thuốc
phiện
là Ả
phù
dung,
tức
là a
phù
dung
mà
đọc
theo
âm
Quảng
Đông.
[64]Tức Liêu Ninh.
[65]Chỉ người Anh.
[66]Nguyên văn: “…dĩ thổ bồi dạng”
(lấy
đất
đắp
thành
hình
dạng),
tức
như
ngày
nay
ta
làm
sa
bàn.
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
Bản điện tử do talawas thực hiện, Sách Hiếm cho thêm hình ảnh đăng lại ngày 6/29/07.
|