Bấm vào số dưới đây để chọn bài đọc
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà
Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu
Bản tiếng Việt của tác phẩm này ra đời cách đây
26 năm, do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành,
với dòng ghi "Lưu hành nội bộ". Từ đó đến nay,
cuốn sách này đã là đối tượng, nguyên nhân, hay
xuất phát điểm của rất nhiều cuộc tranh cãi,
thường là gay gắt và thậm chí đau đớn. Đưa
Tây Dương Gia Tô bí lục lên mạng lần này,
chúng tôi tin tưởng ở sự trưởng thành trong kiến
thức, nhận thức và văn hoá tranh luận của độc
giả sau gần ba thập niên đầy biến chuyển của
Việt Nam. Trong những ngày tới, chúng tôi sẽ
giới thiệu một số bài tranh luận xung quanh cuốn
sách này.
talawas
Lời giới thiệu
Vài nét về tác giả, tác phẩm và văn bản
Tây Dương Gia Tô bí lục là một tác phẩm
truyện ký dã sử bằng chữ Hán về đề tài tôn giáo
với quan điểm tư tưởng yêu nước chống đế quốc
xâm lược. Theo những chi tiết đã được ghi trên
sách từ tác phẩm này do Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn
Hoà Đường, Nguyễn Bá Am và Trần Đình Hiên cùng
soạn. Cả bốn người đều là giáo sĩ Thiên Chúa
giáo dòng Tên sống vào khoảng cuối thế kỷ XVIII,
đầu thế kỷ XIX.
Sách có bài tựa, mục thứ, lược dẫn, nguyên dẫn
và phần chính, chia làm 9 quyển, nội dung tóm
tắt như sau:
Quyển I: Huyền thoại về sự ra đời và tiểu
sử Jêsu; thuyết phần hồn phần xác, chúa Trời ba
ngôi, v.v.
Quyển II: Cách thức Jêsu đã làm để thuyết
phục người Jiuđê theo các tín điều nghi lễ do
mình đề xướng: phép nước thánh, bánh thánh, rửa
tội, giải tội, lễ Misa, v.v.
Quyển III: Jêsu đến giảng đạo ở Jêrusalem
và sự phản ứng của dân chúng. Đầu đuôi việc
Jiuđa phản bội và cuộc hành hình trên núi
Gôgôtha.
Quyển IV: Huyền thoại về việc Jêsu sống
lại truyền phép kín cho các môn đồ trên núi
Ôlivêtê.
Quyển V: Huyền thoại về việc Jêsu chỉ huy
đội quân Lâm Bô đánh phá Jêrusalem. Những biện
pháp của vua Jiuđê nghiêm cấm “tả đạo”.
Quyển VI: Môn đồ của Jêsu do Phêrô cầm
đầu lánh ra ngoài cõi Jiuđê, sang kinh đô Tây
Dương (La Mã) được nhà vua trọng dụng. Vua Tây
Dương tôn đạo của Jêsu làm quốc giáo, cho vẽ
ảnh, đúc tượng Jêsu, thu thập các di vật và
phỏng tạo các nơi lưu niệm, v.v.
Quyển VII: Các Giáo hoàng sắp đặt các
phép tắc nghi lễ để nâng đạo Jêsu (Gia Tô) lên
địa vị độc tôn (trước đó dân Tây Dương theo đa
thần giáo).
Quyển VIII: Đạo Gia Tô bành trướng sang
các nước láng giềng và biện pháp của một số nước
cấm đạo để đối phó với âm mưu thôn tính của
người Tây Dương.
Quyển IX: Quá trình đạo Thiên Chúa truyền
vào Việt Nam. Sự thức tỉnh đầu tiên của những
người Thiên Chúa giáo yêu nước trước nguy cơ nạn
ngoại xâm nấp sau danh nghĩa truyền giáo.
Về quá trình hình thành tác phẩm và vài nét liên
quan đến tiểu sử tác giả:
Vào cuối thế kỷ XVIII, giám mục khâm mạng toà
thánh ở Việt Nam phán quyết giải tán dòng Tên,
sáp nhập giáo đồ vào dòng Đôminic (tức Đômingô).
Giáo đồ trấn Sơn Nam Hạ không chịu mất dòng, đã
trích quỹ nhà thờ và quyên góp thêm được một số
tiền tạm đủ, khẩn thiết khẩn cầu hai giám mục
địa phận Nam Chân (nay là vùng Hải Hậu, Hà Nam
Ninh) là Phạm Ngộ Hiên và Nguyễn Hoà Đường sang
Tây Dương đưa đơn khiếu nại lên Giáo hoàng. Hai
ông sợ giáo đồ đồng loạt bỏ đạo, đã nhận lời ra
đi. Qua Ma Cao, đi thuyền biển mất sáu tháng,
hai ông đến La Mã khoảng giữa năm 1793, đưa đơn
khiếu nại và được vào bệ kiến Giáo hoàng. Hai
ông được đón tiếp ân cần trang trọng như lời
thỉnh cầu khôi phục dòng đạo thì không được giải
quyết. Cũng trong dịp đó, hai ông được Giáo
hoàng đặc cách cho đọc một tập tài liệu mật của
giáo hội. Qua đó, từ mặt trái của vấn đề, hai
ông đã nhận ra rằng từ lâu người Tây Dương đã có
ý đồ lợi dụng việc truyền đạo để xâm lược các
nước ngoài, trong đó có nước ta. Về nước vào năm
1794, hai ông cùng nhau ôn trí nhớ, ghi lại nội
dung cuốn sách đã được đọc trong điện Giáo
hoàng, đặt tên là Gia Tô bí pháp (phép
kín đạo Gia Tô), cất kín trong tráp để đợi thời,
rồi bỏ chức giám mục mà ra khỏi đạo.
Hai chục năm sau, hai thầy cả trẻ quê ở Hải
Dương là Nguyễn Văn Hoằng (hiệu Bá Am) và Trần
Đức Đạt (hiệu Trịnh Hiên), tuy chưa ra nước
ngoài, nhưng bằng vào kinh nghiệm riêng của mình
cũng rút ra được kết luận tương tự. Hai ông tìm
đến Nam Chân thăm hai giám mục già. Bấy giờ là
năm 1806, Phạm Ngộ Hiên qua đời, Nguyễn Hoà
Đường gặp người cùng chí hướng, vui mừng đem
sách Gia Tô bí pháp trao cho Văn Hoằng,
Đức Đạt. Họ cũng lấy ra một tập sách đã khởi
thảo đưa nhờ cụ Nguyễn đọc giúp. Nguyễn Hoà
Đường xem xong, sốt sắng đóng góp ý kiến sửa
chữa thêm bớt “khiến cho người ta xem xong đều
biết những thủ đoạn lừa bịp của bọn giặc Tây
Dương”. Sau lần ấy, Văn Hoằng ở lại Thăng Long,
Trần Đức Đạt về quê chưa được bao lâu thì chết
vì bị đầu độc bởi kẻ xấu tay sai của bọn đội lốt
thầy tu nước ngoài. Đau xót trước cái chết của
bạn, Văn Hoằng đóng cửa không ra khỏi nhà, biên
tập lại Tây Dương Gia Tô bí lục một lần
nữa rồi thuê người viết chữ khắc in. Sách in
xong năm Gia Long 11 (1812), bày bán ở các phố
chợ Thăng Long. Không ngờ Toà Tổng giám mục biết
chuyện, xuất tiền sai người đi lùng mua hết số
sách đã in ra, lại mua luôn cả ván in đem về
tiêu huỷ. Văn Hoằng vô cùng căm giận, tìm cách
cất giấu một bản chép tay để lưu lại cho đời
sau.
Chưa rõ bản sách do Nguyễn Văn Hoằng cất giữ đó
có còn đến ngày nay hay không. Chỉ biết rằng về
sau sách đó đã được lưu truyền và một truyền bản
của nó đã đến với chúng ta. Đó là cuốn sách hiện
lưu giữ tại Thư viện khoa Sử Trường đại học Tổng
hợp Hà Nội mang ký hiệu HV26. Từ bản đó, năm
1962, Thư viện Khoa học trung ương (nay là Viện
Thông tin khoa học xã hội) đã sao chép thêm một
bản để tại thư viện ấy (ký hiệu VHv 2137).
Bản HV26 là một cuốn sách chép tay có nguồn gốc
trong nhân dân. Toàn bộ có 103 tờ giấy dó loại
tốt khổ rộng (21 x 30cm). Gáy sách bả sơn, bìa
dẻo phủ đầu sơn bóng màu cánh gián; ba mép quét
son, trên dưới có chừa khoảng trắng đủ đề 4 chữ
“Dương tả bí lục”, đó là tên gọi tắt của
tác phẩm này. Chữ chép trong sách là lối chữ
thảo rất có thể cách, đều đặn từ đầu chí cuối.
Theo thực trạng của sách cùng với việc các chữ
huý của Tự Đức được kiêng tránh đầy đủ, chúng
tôi ước đoán sách này có thể được sao chép vào
khoảng cuối thế kỷ trước hoặc những năm đầu thế
kỷ này.
Cuối bài tựa tên Nguyễn Bá Am và Trần Trình
Hiên, nhưng trong bài lại có lời khiêm tốn nói:
“bốn người quê mùa chúng tôi”, có lẽ vì vậy mà
dòng lạc khoản đề là “Tân Lê Giáp dần niên đào
nguyệt ký” (ghi vào tháng Hoa đào – tức tháng
hai, năm Giáp Dần thời nhà Lê đã suy tàn). Đó là
năm Giáp Dần niên hiệu Cảnh Thịnh 1 triều Tây
Sơn (1794), cũng là năm hai ông Phạm, Nguyễn đi
La Mã về (chép ở Q. IX, đã nói ở trên). Thực ra
đó không phải là năm thực sự bài tựa đã được
viết ra. Đọc bài tựa ấy, chúng ta thấy vai trò
của hai ông Phạm, Nguyễn rất được đề cao. Hai
ông sau, vì muốn thay lời cho cả bốn người, cho
nên có thể họ đã lấy năm tháng của bài tựa cũ
nhưng tránh không ghi niên hiệu Cảnh Thịnh, chỉ
nói phớt qua bằng hai chữ “tàn Lê”.
Tiếp sau tựa, có mục thứ, lược dẫn, nguyên dẫn
và phần chính gồm 9 quyển, đầu mỗi quyển có hai
câu thơ mào đầu như đã được chép giới thiệu ở
mục thứ. Phần chính văn, ngoài một vài đoạn ngắn
bị thiếu phải bỏ cách, nói chung các phần đều
hoàn chỉnh. Trong sách có khá nhiều chữ phiên âm
tên người, tên đất và danh từ tiếng nước ngoài
(chủ yếu là tiếng Latinh) ra chữ Hán. Ngoài một
bộ phận phiên âm khá có quy tắc như KhuDiêu =
Jiuđê, KhuSa = Jiuse, KhuDa = Jiuda, NhiệtSiMaNê
= Gêtsêmani, v.v. số còn lại phần nhiều chỉ ở
mức độ gần sát chênh lệch nhau, như BaLinh =
Bêtlehem, ThiLinh = Bêtani, v.v. Điều đáng chú ý
là có một số trường hợp chép nhầm, ví dụ KhuDa
chép nhầm thành KhuDiêu, CôngSàMaSong =
Confirmatio (lễ kiên đạo) nhầm ra CôngSàAnSong
hoặc CôngSàMaNô, CôMôNhung = Cômmuni (phép thánh
thể) nhầm ra CôMô là thánh pháp, v.v. Lại có một
vài tên địa lý dùng không chính xác, như YthiTô
là chữ phiên âm tên nước Ai Cập (Egipto) có khi
lại dùng để chỉ cả nước Italia, v.v. (có thể
nghĩ rằng những trường hợp này sai chuyền từ các
văn bản trước đó). Những lầm lẫn như vậy ít
nhiều gây trở ngại cho việc theo dõi tác phẩm.
Dẫu sao đó cũng là những sai sót có thể tránh
khỏi trên con đường truyền bản, nhất là vấn đề
phiên âm chữ nước ngoài quả thật có khó khăn đối
với các tác giả là người chép sách Hán Nôm.
Ngoài phần chính văn, trong sách còn có nhiều
ghi chú viết chữ nhỏ lưỡng cước. Những điều ghi
chú này, theo nhận xét của chúng tôi, gồm hai
loại: một loại là những điều ghi thêm với ý chưa
nói đến trong chính văn và chú giải một số chi
tiết liên quan đến việc đạo. Loại chú thích này
có lẽ chủ yếu là của các tác giả nhưng cũng thấy
có bóng dáng của người khác tham gia chú thích
thêm ở một ít trường hợp. Loại thứ hai là những
lời bình luận của một vài người khác nữa tỏ ý
tán thưởng ở những chỗ đắc ý. Theo cách ngày
trước, những ý kiến đó thường ghi bên cạnh ở
phần trắng giữa các dòng chữ, đến các truyền bản
tiếp theo, người sao chép đều tôn trọng đưa vào
phần lưỡng cước như các nguyên chú khác.
Điều đó cho thấy rằng trước đây Tây Dương Gia
Tô bí lục đã được dư luận chú ý và từng có
một vài người khác tham gia vào việc chú thích
bình luận tác phẩm. Hơn thế, phải chăng trong
định bản hiện nay phần nào còn có vai trò nhuận
sắc, bổ sung của một trong những người khuyết
danh, chẳng hạn ở đoạn nói về sự kiện chiến
tranh thuốc phiện ở Trung Quốc? Điều đó hiện còn
chưa rõ. Dẫu sao thì việc có một vài người khác
đã tham gia bình luận chú thích, một bộ phận hợp
thành của tác phẩm, là điều đã rõ. Vì vậy, chúng
tôi cho rằng về tác giả Tây Dương Gia Tô bí
lục, ngoài bốn người đã nói trên, nên kể
thêm sự đóng góp của một vài người khuyết danh ở
nửa cuối thế kỷ XIX nữa.
Tiếng vang của một cuộc đấu tranh tư tưởng
Đọc Tây Dương Gia Tô bí lục, chúng ta
thấy đề tài chung của tác phẩm có thể nói là
rộng lớn, cả về không gian và thời gian. Tác
phẩm không chỉ nói về cuộc đời của Jêsu từ khi
ra đời cho đến khi tử nạn, mà còn kể lại cả
những huyền thoại về sự hiển hoá của Chúa Cứu
Thế trong đức tin của giáo đồ. Con đường truyền
đạo không chỉ dừng lại ở những chuyến đi không
mấy thuận lợi đến các làng xung quanh Jêrusalem,
mà còn theo chân các sứ đồ đến các tiểu vương
quốc miền Tiểu Á, sang kinh đô của đế quốc La
Mã. Rồi từ đó, nhiều thế hệ giáo sĩ lại mở những
hành trình truyền giáo đầy gian nan nguy hiểm:
phía tây đến tận các nước bờ đông Đại Tây dương,
phía đông sang tận Trung Quốc, Việt Nam đầu thế
kỷ XVI.
Tuy vậy, tác phẩm này không phải là một tập đại
thành ca ngợi ơn cứu chuộc của chúa Jêsu và
chiến công của các nhà truyền giáo. Trái lại,
toát lên trong toàn bộ tác phẩm là một tâm trạng
thất vọng sâu sắc, có phần cay đắng, hãy còn
nóng hổi của những người vừa bước qua biên giới
của lòng tin.
Với lối văn kể chuyện sinh động, khi cần thiết
có kê cứu tài liệu tham khảo đối chứng, các tác
giả Tây Dương Gia Tô bí lục đã đề cập đến
hầu hết những vấn đề cơ bản của đạo Gia Tô.
Không hoài nghi gì về sự có thật của một người
tên là Jêsu, các ông cũng nhận thấy rằng, ngay
từ khi mới ra đời, người đó là một cậu bé khôi
ngô tuấn tú, lớn lên thông minh hiếu động, có
bản lĩnh cứng cỏi, về sau trở thành đặc điểm của
con người Jêsu, có khả năng chinh phục khiến cho
người xung quanh tuân theo ý nghĩ của mình, v.v.
Tuy vậy, các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục
bác bỏ quan niệm cho Jêsu như một đấng tiên tri
siêu nhiên, phê phán tính chất huyền hoặc hoang
đường của các thuyết chúa Trời ba ngôi, Jêsu là
Chúa ngôi hai chịu nạn để chuộc tội cho thiên
hạ, cho rằng tất cả những lời răn đe về thiên
đường, địa ngục, ngày tận thế, toà phán xét,
v.v. đều là những lời lẽ lòe bịp, ngu dân; mười
điều răn “điều nào cũng tựa như khuyên người ta
làm điều thiện, nhưng cái ý lớn là cốt làm cho
người ta kiên lòng theo đạo mà thôi”.
Trong cuộc đối đầu trong lãnh vực tư tưởng giữa
một luồng tư tưởng tôn giáo từ phương xa tới với
tư tưởng tín ngưỡng cổ truyền của người bản địa,
có thể nói các tác giả Tây Dương Gia Tô bí
lục là những người Việt Nam đầu tiên đã đưa
ra một tác phẩm bày tỏ quan điểm phê phán của
mình đối với những tín điều Thiên Chúa giáo
[1] .
Nói chung các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục
đã trình bày ý kiến của mình bằng những lập luận
duy lý, dùng lôgic của đời sống hiện thực để
chứng minh những gì là phi lý, hoang đường.
Những lý lẽ của các ông có thể nói là sắc bén,
bởi vì phần nhiều nói đúng vào những điểm mà đối
phương khó hoặc không thể giải thích được. Nhưng
do bị hạn chế bởi ý thức hệ Nho giáo (trước khi
vào trường dòng, các ông đều là những người theo
Nho học) nhiều khi các ông đã đưa cả những giáo
điều của Khổng Mạnh vào ý kiến của mình.
Ngày nay, đọc tác phẩm của các ông, nếu chỉ xét
theo góc độ tranh biện tư tưởng, chúng ta không
khỏi cảm thấy lập luận của các ông có phần sơ
lược, so với các nhà tư tưởng lớn thế kỷ XVIII ở
châu Âu phê phán Thiên Chúa giáo thì không thấm
vào đâu. Nhưng đó chính lại là một khía cạnh góp
phần tạo nên giá trị độc đáo của Tây Dương
Gia Tô bí lục, qua đó chúng ta tìm hiểu được
cách suy nghĩ của đông đảo người nước ta trước
đây trước vấn đề Thiên Chúa giáo. Vì vậy, Tây
Dương Gia Tô bí lục là một tài liệu có giá
trị, giúp ích cho công tác nghiên cứu lịch sử tư
tưởng Việt Nam.
Giá trị văn học và sử liệu
Để diễn đạt những vấn đề tư tưởng trên đây, các
tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục đã lựa
chọn một hình thức văn học có thể nói là khá
sinh động. Nếu đối tượng đề tài của tác phẩm có
một nhân vật lịch sử thì có thể xếp Tây Dương
Gia Tô bí lục vào loại truyện ký lịch sử.
Nhưng vì bản thân đối tượng đó đã bao hàm nhiều
yếu tố truyền kỳ, trong tác phẩm lại dựng lại
những huyền thoại qui mô lớn như cuộc phục sinh
truyền phép kín trên núi Ôlivêtê (Q. IV), cuộc
chiến giữa quân LâmBô của Jêsu với quân Jiuđê có
sự tham gia của các đạo “thần binh” (Q. V), v.v.
cho nên, xét về thể loại thì Tây Dương Gia Tô
bí lục là một tập truyện ký dã sử.
Với một lối kể chuyện ít nhiều có phong cách dân
gian, tác phẩm lại có dáng dấp như một tập sưu
khảo bình luận, lại có chỗ dùng bút pháp của
người chép sử, v.v. Chúng tôi cho rằng dung hợp
được những đặc điểm đó một cách thích đáng và
sinh động có lẽ cũng là một nét độc đáo của
Tây Dương Gia Tô bí lục về phong cách nghệ
thuật.
Mặc dù những tên sách ghi tắt theo kiểu xưa như
Thực lục, Ngoại lục, Giảng tục, v.v. cả Bí lục
nữa, không đủ cho chúng ta xác định đó là những
tài liệu nào, nhưng qua tác phẩm chúng ta thấy
quả thật các tác giả đã sưu tập tài liệu từ
những nguồn tham khảo khá phong phú. Điều đáng
kể là ngay cả phần nói về cuộc đời Jêsu, tác giả
cũng không lặp lại nguyên vẹn theo một cuốn tiểu
sử nào đã từng xuất bản trước đây. Những đoạn
nói về tích lễ Lá, lễ Tro, lễ Ném đá, v.v. quả
là những điều ghi chép mà ngoài Tây Dương Gia
Tô bí lục chúng tôi chưa dám nói chắc là có
thể tìm được ở một tài liệu nào khác hay không.
Dẫu sau thì đối với một tác phẩm văn học dã sử
thì tiền đề đã chấp nhận mọi cách trình bày của
tác giả như là những biện pháp nghệ thuật.
Tuy vậy, trong Tây Dương Gia Tô bí lục
cũng có một số điều ghi chép ít nhiều có chứa
lượng thông tin lịch sử. Ví dụ tác giả cho biết
cách đọc kinh chia là hai bè nam nữ là mới đặt
ra về sau bởi dòng Đôminic; đám hội diễn thuật
sự tích Jêsu chịu nạn nguyên ở phương Tây làm
ban ngày, khi đạo mới truyền vào nước ta tuy
chưa bị cấm nhưng vẫn có ý né tránh nhà chức
trách nên làm vào bao đêm, v.v. Còn nhiều những
đoạn mô tả khá tỉ mỉ về các nghi thức như phép
rửa tội, xưng tội, xức dầu thánh, lễ kiên đạo,
v.v. khi thầy cả và con chiên phải làm gì, đám
rước ngày lễ phục sinh có ý nghĩa ra sao, v.v.
là những điều ghi chép có thể có ý nghĩa đối với
những người nghiên cứu, sáng tác có yêu cầu tìm
hiểu nó.
Đáng kể về sử liệu, có thể nêu điều ghi chép sau
đây của Tây Dương Gia Tô bí lục về thời
điểm có người đạo trưởng Tây Dương đầu tiên đến
Việt Nam. Các nhà truyền giáo phương Tây có
nhiều tài liệu cho biết những giáo sĩ đến Việt
Nam từ khá sớm. Nhưng về cái mốc đầu tiên đó thì
có lẽ bị thiếu, vì vậy có người muốn đẩy sự việc
đó lên đầu công nguyên: Pedro Ordonez de
Cevallos (đến Việt Nam năm 1590) nói rằng thánh
Thomas sang truyền đạo ở xứ Bắc kỳ từ hồi Bắc
thuộc (!) Điều đó đã sớm bị một giáo sĩ khác là
Chritoforo Borri (đến Việt Nam năm 1618) bác bỏ,
cho là “chuyện bịa đặt không có căn cứ”
[2] .
Thế mà sau này những cuốn như Sử ký Hội Thánh
(xuất bản năm 1944) và một số tài liệu khác vẫn
nhắc lại mãi.
Chính sử nước ta, Đại Việt sử ký toàn thư
không nói gì đến việc này, chỉ ghi một việc về
năm Cảnh Trị 1 (1663) cấm dân theo đạo Hoa Lang.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
thì có chép rõ: “Năm Nguyên Hoà thứ 1 (1533) đời
Lê Trang Tông có người Tây Dương là Ynêkhu
(Ingatio) đi đường biển lẻn vào giảng đạo Gia Tô
ở các làng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ huyện
Nam Chân” [3]
.
Căn cứ vào đâu mà Cương mục ghi thêm được sự
việc đó? Hai ông Chu Thiên và Đinh Xuân Lâm cho
rằng đó là do Cương mục đã dựa vào tài liệu
trong Tây Dương Gia Tô bí lục [4] . Liên quan đến vấn đề này, năm 1944
Hồng Lam có dẫn cuốn Les debuts du
Christianisme en Annam (Khởi đầu đạo Cơ đốc
ở Việt Nam) của Bonifacy trong đó tác giả nói
rằng M. Delloustal đã đọc thấy sự việc này ghi
trong một cuốn dã lục hay gia lục [5] . Hồng Lam không biết đến sách Tây
Dương Gia Tô bí lục, nhưng cách dẫn tư liệu
như vậy cho thấy tác giả cũng cho rằng người
soạn Cương mục đã được tham khảo một tài liệu
như cuốn “dã lục” mà M. Delloustal đã được xem.
Nếu cách giải thích của các tác giả nói trên
được xác nhận thì điều ghi về sự việc nói trên
(xem Q. IX) là một sử liệu có giá trị, đồng thời
điều đó cũng cho thấy một truyền bản của Tây
Dương Gia Tô bí lục vào thời điểm biên soạn
Cương mục (bắt đầu biên soạn 1856, xin xong
1884).
Tấm lòng của những người Thiên Chúa giáo yêu
nước
Qua những điều ghi chép có tính chất tự truyện
rải rác trong tác phẩm, chúng ta thấy các ông
đều là những người ngoan đạo. Hai ông Phạm,
Nguyễn tận tuỵ với chức đạo cho đến lúc tuổi
già, được thăng làm giám mục. Hai ông Bá Am và
Trình Hiên theo học đạo từ lúc còn nhỏ, rời
trường dòng đều được phong thầy cả từ lúc mới
trên dưới hai mươi tuổi, như thế không thể nói
các ông không có lý tưởng tu hành. Vậy điều gì
đã khiến cho các tác giả Tây Dương Gia Tô bí
lục phải đi đến những ý kiến hoài nghi và
phủ nhận những giáo điều mà mình đã tuân theo?
Đó phải là một diễn biến tư tưởng sâu sắc mà
phần nào ta có thể tìm thấy nguyên nhân trong
lịch sử của bổn đạo.
Vào thời kỳ đầu, giáo sĩ phương Tây kẻ trước
người sau đến Việt Nam rồi ra đi không đạt kết
quả gì. Các giáo sĩ dòng Tên (Jésuites) là những
người đã đặt được cơ sở bước đầu cho việc truyền
đạo ở nước ta. Để làm được điều đó, có thể thấy
rằng các nhà truyền giáo thời đó phải châm chước
ít nhiều để cho các phép tắc nghi lễ của đạo
Thiên Chúa trở nên đơn giản dễ chấp nhận đối với
những người nước ta đầu tiên chịu phép rửa. Nói
về một điều cấm trong luật đạo, thầy cả
Philipphê Bỉnh ghi trong sổ tay của mình: “Sự ấy
(phép kiêng thịt trong tuần chay) chẳng có cần,
chẳng có trọng cho bằng ba ngày đến Annam có
nhiều kẻ chẳng mấy khi được ăn thịt, một trông
cho đến ngày Tế mà lại chẳng được ăn. Dù mà
những kẻ thường ăn thịt mặc lòng, song thói
trong nước lấy ba ngày ấy làm trọng thì phải đi
mừng nhau mà thết đãi ăn uống (…), thấy bổn đạo
chẳng được ăn thịt thì lấy làm gương xấu mà
chẳng muốn đi đạo”
[6] , vì thế “có kẻ cùng chèo
thuyền sang bên kia sông mà ăn”. Những dòng ghi
chép trên đây cho thấy đến cuối thế kỷ XVIII,
đối với các giáo sĩ dòng Tên, việc dung hoà giữa
luật đạo và luật đời (phong tục tập quán dân
tộc) vẫn là một yêu cầu cấp thiết của việc
truyền đạo. Nhưng tình hình lúc bấy giờ đã thay
đổi. Mặc dù dòng Tên (của các giáo sĩ Bồ Đào
Nha) có nhiều công lao trong buổi đầu, nhưng về
sau dòng này kém phát triển vì vấp phải sự cản
trở của Hội truyền giáo ngoại quốc của các giáo
sĩ Pháp. Cuối cùng, do thế lực của tư bản Pháp,
Toà thánh La Mã đã phán quyết giải tán dòng Tên
ở Việt Nam, sáp nhập giáo đồ vào dòng Đôminic
[7] .
Từ năm 1773 cho đến hết thế kỷ ấy là thời kỳ kèn
cựa gay gắt giữa dòng Đôminic và cả dòng Phêrô
với dòng Tên đang thất thế. Sau khi các giáo sĩ
dòng Tên người phương Tây ra đi hết vào năm 1788
thì những cha cố dòng Tên người Việt Nam ở lại
trong nước phải chịu đựng những áp lực thô bạo
nhất. Thầy cả Sen (dòng Đôminic) nói với giáo
dân làng Kẻ Sắt rằng: “Cụ Bỉnh (tức Philipphê
Bỉnh) mới lìa khỏi gốc rạ”, khi đến làm phép cho
người ốm thấy bát nước phép của thầy cả Bỉnh thì
bảo người nhà đem đổ xuống ao, v.v.
Cuộc tranh chấp đó gần 20 năm, đến 1793 thì các
xứ đạo ở Sơn Nam Hạ phải thi hành phán quyết của
bề trên về việc giải tán dòng Tên. Và vì việc
ấy, hai ông Phạm Ngộ Hiên và Nguyễn Hoà Đường
nhận uỷ thác của giáo đồ lên đường đi La Mã như
tác phẩm đã cho biết
[8] .
Sau khi lời thỉnh cầu khôi phục dòng Tên bị bác
bỏ, điều gì xảy ra đối với hai giám mục già từ
đây sẽ trở về quê hương chịu sự khinh rẻ của các
thầy dòng Đôminic? Từ việc bị tước mất con chiên
đến việc đánh giá lại ý nghĩa cuộc đời tu hành
là một bước phát triển có thể hiểu được. Qua câu
nói bóng gió của người đứng đầu giáo hội lúc bấy
giờ về một “cuộc đại khánh hạ” của người phương
Tây trên đất nước Việt Nam, hai ông suy nghĩ gì?
Lại những gì hai ông đã được xem trong căn phòng
thâm nghiêm ấy, kể cả tấm bản đồ nước Nam đủ chi
tiết núi sông đường sá? Trong con mắt của người
xưa thì việc một nước này am hiểu quá sâu tình
hình một nước khác không phải là một tin lành
cho người bản quốc. Từ chỗ đó mà tiến tới nhận
ra âm mưu các nước đế quốc phương Tây lợi dụng
việc truyền giáo nhằm mục đích xâm lược lại là
một bước phát triển nữa, rất có ý nghĩa và phù
hợp với quy luật tư tưởng. Đó là những điều
trong tác phẩm tường thuật rất rõ ràng. Hai ông
tâm sự với nhau: “Xem ra thì từ lâu người Tây
Dương chỉ mượn danh chúa Jêsu để đi cướp nước
người. Chúng ta vì bọn họ mà xua đuổi dân ta
theo bọn họ chỉ là làm công việc vô ích mà
thôi”.
Có thể nói đó là ý tưởng đầu tiên đã thức tỉnh
tinh thần yêu nước trong lương tâm của hai vị
giám mục già. Hai ông Nguyễn Văn Hoằng và Trần
Đức Đạt về sau cũng trải qua một tâm trạng tương
tự, từng thốt lên: “Bọn ta chìm vào đảng giặc đã
lâu quá rồi!” Tỉnh ngộ ra điều đó, cả bốn ông
trước sau đều muốn viết ra ngay những gì mình
nghe thấy, mục đích là để cho người đọc “sau khi
xem qua sách này một lần, thực trạng của bọn
giặc Tây Dương sẽ không còn điều gì có thể gọi
là kín đối với quí vị nữa” (Tựa). Chuyện kín của
người Tây Dương thì có nhiều, nhưng điều kín lớn
nhất như các ông đã nêu lên, là âm mưu lợi dụng
việc truyền giáo để mưu đồ thực dân xâm lược:
“Sai bề tôi lẻn vào nước ngoài, rồi dùng người
nước đó sai họ đi quyến dụ người trong nước”,
khiến cho họ “cam tâm làm đầy tớ trung thành cho
bọn người Tây Dương, lén lút bán rẻ đất đai con
dân nước ta cho chúng”.
Nếu kể từ hai ông Phạm, Nguyễn đi Tây Dương về
thì bấy giờ đế quốc Pháp cũng chưa tiến xa hơn
các nước đế quốc phương Tây khác trong âm mưu
xâm chiếm nước ta, chỉ mới đạt được một mối tiếp
xúc giữa Pingeau de Béhen với Nguyễn Ánh trên
đất Xiêm.
Ngày nay chúng ta có đủ tài liệu cho thấy, từ
rất lâu trước Béhen, một số người phương Tây đến
Việt Nam với danh nghĩa truyền giáo nhưng đã
hoạt động như gián điệp, có kẻ đã gợi ý hoặc
chính thức đề nghị chính phủ nước mình đem quân
sang xâm lược Việt Nam. Sau khi ở Việt Nam về A.
de Rhodes viết: “Đây (Nam kỳ) là một vị trí cần
phải chiếm lấy và nếu chiếm được vị trí này thì
thương gia châu Âu sẽ nắm được một nguồn lợi
lớn, vì tài nguyên ở đây rất dồi dào”
[9] .
Thành viên của Hội truyền giáo ngoại quốc nếu
không phải trước hết thì cũng đồng thời thực
hiện nhiệm vụ do Napoléon I giao cho: “Tôi sẽ cử
các giáo sĩ đi điều tra tình hình các xứ. Tấm áo
của họ sẽ che chở cho họ và sẽ dùng để che giấu
mưu đồ chính trị và thương nghiệp”
[10]
.
Đó là việc phát hiện của ngày nay, còn suốt thời
kỳ lịch sử cận đại thì những tài liệu như vậy
chưa hề được phanh phui trước công luận trong
nước. Trước thời điểm tàu chiến bắn vào cửa biển
Đà Nẵng (1847), sắc dụ của các vua chúa, điều
trần của sĩ phu nước ta liên quan đến việc cấm
đạo không phải là ít, nhưng phần nhiều những tài
liệu ấy đều nói đến cái hại đạo Gia Tô làm rối
loạn tập tục, phá hoại luân thường, nhiều nhất
là nói người Tây Dương mưu đồ lợi lớn. Chưa thấy
tài liệu nào vạch rõ mối lợi đó của chúng là cái
lợi xâm lược nước ta.
Điều đó tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục
đã làm được, kể cả ở quyển IV là phần đã được
cho biết là khởi thảo từ 1794.
Nhận ra âm mưu của kẻ thù, lo lắng cho vận mệnh
đất nước, các ông quay về cầm ngọn bút lông viết
ra cuốn Tây Dương Gia Tô bí lục để lưu
hành ở đời. Với ý nghĩa đó, phải chăng có thể
coi các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục
là những người Thiên Chúa giáo yêu nước đầu tiên
đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ ngoại xâm từ
phương Tây? Hơn là một lời cảnh báo, các ông đã
chân thành mong muốn cuốn sách sẽ thay lời các
ông dâng đặng lên “các bậc thánh nhân ở ngôi,
các bậc hiền tài giúp nước”, mong lựa chọn trong
sách của các ông những lời đúng đắn “làm thành
phép riêng của ta, xét sự thực để diệt trừ giặc
Tây, khiến cho non sông nước Nam thì vua Nam ở,
xã tắc vững âu vàng, cho muôn đời được nhờ cậy”.
Ngày nay nhìn lại, chúng ta dễ thấy rằng các ông
đều có nhiệt tâm yêu nước, nhưng tư tưởng yêu
nước của các ông là chưa hoàn thành. Dường như
trong một trạng thái cực đoan, các ông nhất loạt
gọi là “nguỵ Tây”, “tà đạo” mà chưa có cách nhìn
thích đáng dùng để phân biệt những tu sĩ và con
chiên thành thật tìm đức tin cứu rỗi với những
kẻ khoác áo thầy tu nước ngoài. Các ông vạch
trúng âm mưu của kẻ thù, nhưng biện pháp đối phó
thì không ngoài những kinh nghiệm cấm đạo ở
những nước xa xôi khác. Đó là những hạn chế sai
lầm có tính lịch sử mà chúng ta đều biết các
chính quyền nhà Nguyễn đã phạm phải, gây ra
những hậu quả nghiêm trọng. Phải đợi đến đầu
thời kỳ hiện đại, đảng của giai cấp công nhân
Việt Nam ra đời mới có một chính sách đúng đắn
để đoàn kết đồng bào lương giáo cùng thực hiện
nhiệm vụ chung giải phóng dân tộc.
Kết luận
Trong quá trình nghiên cứu và phiên dịch tác
phẩm này, chúng tôi có chú ý tìm hiểu tiểu sử
của bốn tác giả. Nhưng có lẽ vì thời gian đã xa,
các vị tuy đã được phong các chức vụ trong bổn
đạo, nhưng cuối đời do nhận ra âm mưu của bọn
đội lốt thầy tù nước ngoài đã bỏ các chức đạo
trở về cuộc sống của người dân bình thường, cho
nên tên tuổi và hành trang của các vị không khỏi
bị những kẻ thiếu thiện chí làm cho lu mờ, thanh
danh mai một. Ngay cả tác phẩm của các vị cũng
chỉ mới sưu tầm được cách đây không lâu.
Ngày nay đọc Tây Dương Gia Tô bí lục,
chúng ta thấy rõ ràng những vấn đề tư tưởng tôn
giáo đề cập đến trong tác phẩm đã lùi hẳn vào
quá khứ cùng với những điều kiện lịch sử – xã
hội trong đó các sự kiện và tác phẩm đã ra đời.
Cái quý nhất trong người Thiên Chúa giáo yêu
nước đầu tiên đã gắn bó đức tin với truyền thống
yêu nước của dân tộc. Chính là với sức mạnh của
truyền thống đó, tác phẩm của các ông ngùn ngụt
nhiệt tình yêu nước, vạch trần âm mưu thâm độc
của kẻ thù lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để
xâm lược nước ta. Đó là chủ đề xuyên suốt tác
phẩm, và chúng tôi nghĩ rằng đó cũng là giá trị
tư tưởng chủ yếu của Tây Dương Gia Tô bí lục.
Vì vậy, mặc dù có những hạn chế nhất định,
Tây Dương Gia Tô bí lục đáng được ghi nhận
là một tác phẩm văn học yêu nước có phong cách
nghệ thuật độc đáo, đồng thời là tài liệu tham
khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu lịch
sử, nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Bản dịch của chúng tôi mặc dù đã có chú ý trong
việc dịch và chú thích văn bản [11] , nhưng có lẽ cũng không tránh khỏi
sai sót. Kính mong bạn đọc vui lòng chỉ giáo
cho.
Ngô Đức Thọ
Lời tựa
Kín đây là chuyện kín của riêng người Tây Dương.
Nay người nước ta phát hiện những chuyện kín ấy
ra, khiến cho người Tây Dương không còn giữ
riêng được, mà thành ra những chuyện kín công
khai cho cả người nước ta biết nữa.
Chúng tôi nghĩ rằng: Đạo của tiên vương đều là
quang minh chính đại, cho nên không có gì phải
gọi là kín. Đã gọi là kín, ắt có sự gian dối
không dám để lộ ra. Các đời tiên vương cấm dân
theo tà đạo, những người nói khác tiếng mặc khác
kiểu đều bị xét hỏi. Đó là cách rất chu đáo để
phòng ngừa mưu gian của bọn địch. Từ khi phép
tắc của tiên vương bị lỏng lẻo thì việc chống dị
đoan, trừ tà thuyết đã làm cho các bậc thánh
hiền phải bàn nói đến nhiều. Đó là các vị lo cho
đời sau sẽ mắc phải nạn dị đoan càng thêm nặng.
Nhưng từ đời Hán trở về sau không ai làm được
việc ấy nữa
[12] . Vì bỏ phong tục ra ngoài mà chỉ
bàn luận chính sự, cho nên bọn rợ Hồ
[13]
được dịp vào trước, rồi bọn quỷ Tây được dịp vào
sau, biến đổi (nước) lễ nghĩa thành hang ổ của
quỷ yêu ma
[14] . Các bậc tiên nho vì thế phải
làm thinh mà than thở.
Nhưng mà đạo Thích Ca dạy người chỉ truyền giảng
kinh bằng sách miệng. Còn đạo Gia Tô thì dám
công nhiên sai bề tôi lẻn vào nước ngoài, rồi
dùng người nước đó sai họ đi quyến dụ người
trong nước.
Bọn họ nhằm mục đích gì? Xét ra thì người Tây
Dương bản tính xảo quyệt nham hiểm, các nước
láng giềng từng gọi vua nước chúng là vua quỷ
[15]
, xua đuổi bọn chúng như loài cú vọ, chứ không
ai muốn thân gần. Cứ xem như việc bọn chúng lừa
phỉnh người ta, dẫu phải dụ dỗ nghìn vạn lời
cũng không nản, cốt làm cho người ta nghe mãi
lâu ngày cũng phải chìm đắm. Bọn chúng rắp tâm
hiểm ác thì không kể muôn nghìn quỷ quái, khiến
cho quan quân
[16] lùng xét gắt gao cũng không tìm
được hình tích. Bọn chúng lôi kéo người nước
ngoài, cho làm giám mục là cốt để rộng lắp nanh
vuốt, dùng mưu giữ kín không cho đọc các sách Bí
lục, Thực lục để họ kiên tâm theo phép tắc của
Giáo hoàng
[17] , vinh hạnh được phong chức hưởng
lợi riêng mà quên công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ,
vui thích vì riêng mình được tôn vinh nơi giáo
đường mà quên việc thờ cúng tổ tiên, cam tâm làm
đầy tớ trung thành cho bọn người Tây Dương, ngấm
ngầm bán rẻ đất đai con dân nước ta cho chúng.
Bọn ấy tuy mang danh là người nước ta nhưng kỳ
thực đã vụng lén nhận lĩnh bằng sắc của giặc,
chính là muốn rằng sau khi đạo chúng đã truyền
bá rộng rãi thì sẽ đem cả nước nhà trao cho bọn
giặc Tây Dương, các thuật của Jêsu há chẳng thâm
độc lắm ru? Than ôi, thế lực của bọn giặc ngoại
dương mạnh lớn, há phải một sớm một chiều mà có
thể trừ bỏ đi được!
Kìa như nguyên do của sự việc Jiuđa phản bội,
những thần hiến kế lạ, sách Bí lục không cho ban
hành, việc hai ông Cảm Hợi và Chân Bình trình
bày mưu kế
[18] , xem đó thì những người bất mãn
với chúng kể cũng nhiều. Mà sách càng giữ kín
thì hành động của bọn chúng càng càn bậy, dù
phải lâu đến năm bảy mươi năm nhưng chưa nuốt
chửng được nước nhiều thì chúng chưa chịu thôi.
Người ta thấy đạo ấy làm đồi bại phong tục,
thương tổn luân thường [19] , chứ không biết bọn chúng trước hết
làm cho dân trở thành ngu dốt rồi sau mới chiếm
lấy nước. Cần phải đọc các sách truyện ký của
nước Tây Dương
[20] thì mới biết được lại do của
bọn giặc Tây Dương. Than ôi, từ xưa đến nay chưa
có giặc nào hung ác như bọn giặc này!
Ngày nay dân chúng thì ngại phải nghe nói những
chuyện rườm rà mà không biết xét kỹ, kẻ ra lệnh
cấm thì chỉ nêu lên đại khái chứ không nói rõ
những chỗ mập mờ. Do đó, nhiều đời nghiêm cấm,
mà bọn giặc Tây Dương vẫn cứ còn nguyên đó.
Than ôi! Thánh vương các đời quên ăn quên mặc,
chỉ lo không giáo hoá được dân. Thế mà bè đảng
bọn chúng vẫn lén lút ẩn náu ở dưới, gần thì tụ
tập, dần dần làm biến đổi hết phong tục nước ta.
Cái tội gian hiểm xấc ngạo của chúng lẽ nào có
thể dung tha được!
Nay bọn chúng lén vào ẩn náu ở nước Nam ta từ
thời Hậu Lê, trải đến đời Cảnh Hưng (1740-1786)
đã ba trăm năm rồi
[21] , vậy mà các giám mục, hào
trưởng chẳng ai hay biết âm mưu của bọn chúng.
Tuy nhiên, người sâu hiểm há lại không có trời
biết hay sao? Những sự bí hiểm của trời đất
thánh nhân còn biết trước được, huống chi là
những chuyện bí mật của nhân gian lẽ nào lâu
ngày mà không lộ ra? Dù không lộ ra nữa, há lại
không bị người đời khinh ghét hay sao?
Cho nên, trời giúp nước Nam ta, thánh phù cõi
Việt, mới sinh ra hai cụ Phạm (Ngộ Hiên) và
Nguyễn (Hoà Đường), phú cho bản tính thông minh
cường kỳ. Hai cụ nhập bọn với chúng rồi được
sang Tây Dương, khôn khéo chiếm được lòng tin để
Giáo hoàng lấy cho xem cuốn sách ghi chép chuyện
kín của đạo Gia Tô. Về nước, hai cụ nhớ lại mà
chép ra, cất kín trong tráp để đợi thời. Thế là
từ đó chuyện kín của giặc Tây Dương đã bị lộ.
Hai người chúng tôi trước theo học đạo Nho, kiêm
học các phép đạo của người Tây Dương, từ khi mới
chịu phép niệm chú bắt quyết [22] đã thấy ngay đó là thủ đoạn hại người.
(Sau) chúng tôi thấy hết những sách ghi chép các
chuyện kín để trong mật phòng của tu viện, đem
xuống thuyền xem lén. Chúng tôi lại tìm hỏi được
tập sách do hai cụ Phạm, Nguyễn viết ra, nhờ đó
mới biết rộng thêm mọi việc của bọn rợ Tây, bèn
dịch làm thành sách
[23] , trước sau mất 4 năm, phát
giác hết mọi sự tình bí ẩn, không dám tiếc sức.
Những chuyện kín của người Tây Dương tới đây mới
thật bộc lộ ra hết! Chúng tôi chân thành mong
muốn rằng sau khi quý vị xem qua sách này một
lần, tình trạng của bọn giặc Tây Dương sẽ không
còn điều gì gọi là “kín” được nữa.
Cái gọi là “kín” là những chuyện mà bọn chúng
phải giữ kín để náu thân, phải giữ kín để che
đậy âm mưu của chúng. Nay cái mà chúng tôi gọi
là “kín” là những chuyện kín công khai cho cả
nước ta đều biết, lưu lại cho muôn đời sau cùng
giữ lấy. Như vậy, những chuyện kín nói đây há
chẳng rộng lớn hay sao?
Chúng tôi đã già rồi, biết làm thế nào, chỉ
trông cậy các bậc thánh nhân ở ngôi, các bậc tài
giỏi giúp nước, những khi rảnh rỗi sau muôn công
nghìn việc, không vứt bỏ những lời dông dài này.
Trong sách của chúng tôi cũng có những điều khác
biệt này khác, mong quý vị lượng thứ những chỗ
sai trái, lựa chọn lấy những chỗ nghe được để
đặt thành phép của ta, nắm lấy thực chất sự việc
để trừ diệt giặc Tây, khiến cho non sông nước
Nam thì vua nước Nam ở, xã tắc vững âu vàng
[24]
, muôn đời được nhờ cậy. Đó là ý nguyện thành
thực canh cánh bên lòng của bốn người quê mùa
chúng tôi vậy. Nay làm tựa.
Viết vào tháng Hoa đào [tức tháng Hai] năm
Giáp Dần, thời nhà Lê suy tàn [25] .
Nguyễn Bá Am – Trần Trình Hiên Kính
cẩn vái đề
*
Dương tặc khi chúng thuyết lược dân
(Chỉ dẫn tóm tắt về những lời lẽ lừa bịp của bọn
giặc Tây)
Những lời lẽ dối trá và những thủ đoạn lòe bịp
của bọn giặc Tây rất nhiều, trong sách có ghi
chép đầy đủ cả. Ở đây chỉ sơ lược nêu lên những
nét đại khái như sau:
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta rằng các
phép thiên văn, địa lý, bói toán tướng số,
âm dương ngũ hành, đoán mộng, đều là nhảm
nhí không đáng tin, kỳ thật thì vua tôi bọn
chúng phần nhiều đều dùng những phép ấy.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta bỏ thờ
cúng, kỳ thực vua tôi bọn chúng đều có đền
miếu thờ phụng, đến ngày giỗ ngày kỵ thì đốc
thúc dân chúng đến vái lạy.
- Bọn chúng lừa dối bảo rằng người chết
chôn cho sâu, kỳ thực thì vua quan bọn chúng
khi chết đều chôn nông cả.
- Bọn chúng lừa dối bảo rằng thể xác người
ta do đất vắt nên, không đáng quý trọng. Kỳ
thực thì đối với vua quan bọn chúng, sau khi
chết còn chuộc hồn về để phong thần, lấy tóc
và máu trát vào tượng để thờ. Làm như thế
lại còn một ý nữa là: khiến cho người ta coi
thường cái chết mà tin theo bọn chúng.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta không
được thờ cúng ông bà cha mẹ cùng là các
thần, kỳ thực chỉ là để cho người ta thờ
cúng riêng Jêsu cùng vua tôi chúng nó.
- Bọn chúng lừa dối bảo rằng những món
người ta vẫn thường ăn thì không được dùng
để cúng tế. Kỳ thực thì bọn chúng cũng vẫn
dùng bánh và rượu để tế Jêsu.
- Bọn chúng lừa dối người ta rằng có tội
thì được giải tội. Kỳ thực thì ở nước chúng,
những kẻ trộm cướp, gian dâm đều bị giết
không tha. Nếu những tội ấy mà không bị xét
xử, chỉ cần xưng tội rồi được tha thì nước
chúng làm sao còn đứng vững được đến ngày
nay?
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta chỉ được
lấy nhau một vợ một chồng, kỳ thực thì vua
tôi bọn chúng phần nhiều đều có thiếp hậu vợ
lẽ để được đông con cháu kế tự.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta không
được tham lam của cải, kỳ thực thì bọn chúng
bày đặt ra các lễ, thu tiền muôn bạc vạn.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta chớ nên
vun vén tài sản riêng, kỳ thực khi bọn chúng
đã thu được nhiều tiền bạc thì cưỡng ép
người ta để mua vườn ruộng, giám mục ít nhất
cũng không dưới trăm mẫu, thầy cả ít cũng
không kém ba chục mẫu, thảy đều không phải
nộp tô nộp thuế gì cả.
- Bon chúng giả dối khuyên người ta giúp
đỡ kẻ nghèo thì được phúc, kỳ thực bọn chúng
chẳng hề cứu giúp một ai.
- Bọn chúng lừa dối người ta rằng kẻ nào
khuyên được một người cùng theo đạo thì cả
hai cùng được lên thiên đường. Kỳ thực bọn
chúng muốn người ta quyến rũ nhau theo đạo,
khiến cho đạo chúng được đông dân.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta kiêng
thịt, kỳ thực vua tôi bọn chúng ngày nào
cũng ăn thịt cả. Việc này hai ông Phạm Văn
Ất và Nguyễn Đình Bính khi sang Tây Dương đã
được tận mắt nhìn thấy.
- Bon chúng lừa dối bảo người ta đừng theo
Nho học, kỳ thực cốt khiến cho dân chúng
không hay biết mưu mô của bọn chúng.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta rằng
người cùng một huyết thống lấy nhau cũng
không hề gì, kỳ thực đó là âm mưu của bọn
chúng cốt làm cho kẻ đồng loại trở nên ngu
đần đi.
- Bọn chúng lừa dối bảo người ta không
được xem địa lý, kỳ thực bọn chúng muốn cắt
yểm long mạch khiến cho dân chúng ngu dần
đi.
- Bọn chúng lừa dối người ta rằng chúa
Jêsu chuộc tội cho loài người, kỳ thực là
khuyên người ta dẫu gặp phải tại hoạ cực khổ
cũng phải chịu đựng như thế, không được hai
lòng với chúa Jêsu.
- Bọn chúng đem thiên đường ra để lòe bịp
người ta, kỳ thực ở nước chúng chẳng qua
cũng chỉ lấy đền miếu làm thiên đường.
- Bọn chúng đem địa ngục ra mà doạ người
ta, kỳ thực chẳng qua cũng là lấy hình phạt
làm địa ngục.
- Bọn chúng lừa dối người ta rằng Chúa
Trời có ba ngôi, kỳ thực là muốn người ta
chỉ tôn thờ một mình Jêsu mà thôi.
- Bọn chúng lừa dối người ta về việc làm
phép, trường thọ, kỳ thực là để trấn áp
người ta.
- Jêsu đem Chúa Trời ra lòe bịp người ta,
kỳ thực là để tỏ ra rằng chính mình là Chúa
Trời.
- Bọn chúng lừa dối là phép rửa tội cho
người sắp chết, kỳ thực là cốt để yểm áp
khiến cho hồn người chết mất thiêng.
- Bọn chúng lừa dối người ta rằng bọn
chúng thương con chiên cũng như thương bản
thân mình, kỳ thực là cốt dụ dỗ dân nước
khác tuân theo để bọn chúng chiếm lấy thiên
hạ. Bọn chúng chưa thôn tính được nước ngoài
thì còn đem chuyện phép tắc khoan nới mà dụ
dỗ người ta, đến khi lấy được nước rồi thì
nhất thiết thi hành hình pháp thảm khốc.
[Lời ghi riêng trong nguyên thư]
Tiếng nói của bọn rợ Tây viết ra bằng chữ Hán
thì không có chữ. Trong sách này, phàm những tên
người, tên đất đều chỉ chọn dùng những chữ có âm
đọc na ná mà thôi, trong đó ắt có nhiều sai lạc.
Kính mong quý vị hiểu nhiều, biết rộng sửa chữa
giúp cho. Được như thế thật may mắn lắm.
Tây Dương Gia Tô bí lục nguyên dẫn
(Lời dẫn nguyên cớ của sách Tây Dương Gia Tô
bí lục)
Các sách truyện ký của người Tây Dương thì có
nhiều, chỉ chọn nêu lên 7 bộ quan trọng sau đây:
- Bí lục, tức là sách Gia Tô bí
pháp chỉ các Tổng giám mục mới được đọc.
- Thực lục, tức là sách do môn đồ của
Jêsu ghi lại những điều tai nghe mắt thấy.
- Ngoại lục, ghi những lời vua tôi Tây
Dương khoe khoang khoác lác để mê hoặc dân
chúng.
- Giảng lục, soạn những lời dối trá,
lừa bịp.
- Ngâm lục, lược trích từ sách Thực
lục, chia làm 15 đoạn ngâm, nay giáo dân
vẫn dùng để tụng niệm.
- Quốc ký, ghi chép về vua tôi các đời
của nước Tây Dương.
- Nhất thống, ghi về những nước bị Tây
Dương thôn tính.
Nay xin thâu góp ở các sách nói trên lược soạn
thành một sách, gọi chung là Bí lục để
tiện xem đọc.
Từ Q. I đến Q. IV chủ yếu dựa vào sách Thực
lục và Bí lục. Từ Q. V về sau thì
tham khảo sử dụng sách Nhất thống và
Quốc ký, rải rác giữa các đoạn có những lời
phụ chú căn cứ vào sách Ngoại lục và
Giảng lục để cho rõ thêm những lời lẽ lừa
dối bịp bợm.
Nước Tây Dương cũng gọi là nước Italia
[26]
. Nước ấy ở tận cuối trời Tây, cách miền Tây Vực
không biết đến mấy nghìn vạn dặm. Tiếng nói chữ
viết của nước ấy khác hẳn với nước Tây Trúc
[27]
. Nước ấy cũng nhiều núi, dân chúng tựa vào núi
mà ở. Người và ma quỷ chung lẫn với nhau, nhà
thờ nhan nhản
[28] .
Người nước ấy, đàn ông thì cao to, đàn bà cũng
cao như mà thon, đầu tóc quăn, mũi to, mắt đỏ.
Đàn ông từ năm mươi tuổi trở lên bụng phệ dần
ra, cho nên phải dùng dây da thắt lại. Áo của họ
không may cổ cao, chỉ có một đường xẻ cài khuy
và luồn dây để buộc thắt lại như chiếc váy, khi
mặc thì lồng qua đầu mà thả xuống rồi buộc dây ở
cổ. Đó là kiểu áo do Jêsu chế ra.
Giọng nói của họ “xì xồ”, chữ viết lằng nhằng
như thừng rối, mà lại đọc ngang, khi ra nước
ngoài mà muốn học tiếng và dịch chữ của nước
khác cho được thì thật là rất khó. Chẳng hạn
muốn dạy cho họ tiếng “đông” thì phải chuyển
lưỡi qua các vần “đổng, đống, động” rồi mới đến
“đông”, có khi phải chuyển năm sáu lần mới nói
được tiếng “đông”.
Ở cung vua nước ấy không có ghế ngai, chỉ xếp
ván gỗ mà ngồi, mà cũng không có qui định thứ
bậc gì cả. Riêng có một bục gỗ phủ gấm buông
hình chữ môn, đó là chiếc ghế của vua ngồi. Bề
tôi vào chầu, lúc đầu chỉ mặc thường phục, khi
nghe tiếng chuông thì xếp hàng trước vua rồi mới
mặc áo chầu, không lạy, chỉ cúi đầu xuống; khi
đứng, khi quỳ, lâu mau đều tuỳ theo tiếng chuông
làm hiệu. Vua ngự buổi chầu khi thì ngồi, khi
thì ghé tựa vào ghế, hoặc cũng có khi lơ mơ ngủ.
Khi vua ngủ thì các quan được ngồi, khi nào vua
tỉnh thì các quan đứng dậy. Triều phục thì áo
trong có tay, áo ngoài không tay, hình dáng đại
khái như chiếc mai rùa. Đó cũng là kiểu áo do
Jêsu chế ra, tức là kiểu áo lễ mà ngày nay các
cố đạo thường mặc.
Nước ấy không đủ năm loài ngũ cốc, chỉ trồng
được giống lúa mạch mà thôi. Sản vật thì có
nhiều phục linh, sơn trà, đương quy và xác các
loài thú dùng để nấu cao ăn hằng ngày.
Phong tục nước ấy khi trước vua tôi đều thờ chúa
Trời. Mỗi làng lập một đạo trưởng để cai quản
dân chúng. Quy định bảy ngày là một tuần, gọi
tên từng ngày từ thứ nhất đến thứ bảy. Hằng năm
lại luân phiên đổi ngày kế tiếp làm ngày thứ
nhất, gọi ngày thứ nhất là ngày thờ chúa Trời.
Trước đó một ngày, các nhà đem lễ vật hoa quả
đến nạp cho đạo trưởng để nấu nướng cỗ bàn tế
chúa Trời. Khi làm lễ, đàn ông ngồi gian trên,
đàn bà ngồi gian dưới, san sát rập đầu vái lạy.
Rồi đó đạo trưởng đọc lời răn giảng, nghe xong
thì tan lễ ra về. Cho đến khi Jêsu ra đời, tục
lệ thờ cúng chúa Trời như thế mới bãi bỏ, duy về
cách chia tuần lễ 7 ngày thì nước Tây Dương vẫn
còn dùng.
Người Tây Dương không dùng bốn con vật thiêng
(long, ly, quy, phượng) làm hàng trang sức các
đồ dùng, mà hoạ theo hình dạng cỏ cây hoa lá.
Bởi vì họ sợ rằng vẽ tứ linh thì quỷ thần sẽ
nương nhờ vào đó mà trở thành linh thiêng, người
ta sẽ mượn cớ đó mà nói là còn có những đạo khác
nữa.
Nước ấy có nhiều vàng bạc báu lạ, lại còn mua
nhặt thêm quý vật của nước khác để khoe khoang
nhiều của. Cho nên bọn họ đã quyến rũ ai thì
chẳng mấy người không yếu mềm chìm đắm.
Hình phạt ở nước ấy rất nặng. Người có tội thì
hai tay hai chân đóng đinh trên chiếc giá gỗ
dựng hình chữ thập, gọi là hình phạt đóng đinh
câu rút.
Nước Tây Dương khi xưa là một nước phụ thuộc của
nước Jiuđê
[29] , từ chữ viết đến các việc chính
sự hình pháp đều phỏng theo nước Jiuđê. Đến khi
nước Tây Dương dùng phép thuật của Jêsu thì mới
dứt hẳn quan hệ với nước Jiuđê.
Chú Thích
[1]Trong khuôn khổ bài viết này,
chúng tôi không nêu lại những vấn đề lịch sử và
tư tưởng Thiên Chúa giáo đã từng gây tranh luận.
Bạn đọc có thể xem thêm ở tác phẩm của giáo sư
Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở
Việt Nam… Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 1975 (chương III: Bước đầu của đạo Thiên
Chúa ở Việt Nam).
[2]Chritoforo
Borri. Relation de la Nouvelle Mission des Pères
de la compangie de Jesus au royaume de la
Cochinchine (Ký sự của Tân hội Thừa sai dòng Tên
ở Đàng Trong) Roma, 1631. Chuyển đăng Revue
indochinoise (tạp chí Đông Dương). 1905, số 4,
tr.348.
[3]Cương
mục, Chính biên
[4]Chu
Thiên Đinh và Xuân Lâm, Tây Dương Gia Tô bí
lục, một tài liệu quý giá. Nghiên cứu lịch
sử.
[5]Theo
Hồng Lam, Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, L.
Cadière và Nguyễn Văn Tố chú giải, Huế, Đại
Việt, 1944.
[6]Philipphê
Bỉnh, Sách sổ sáng chép các việc (thủ bút của
tác giả viết bằng chữ Quốc ngữ, lưu trữ tại Toà
thánh Roma), Thanh Lãng sưu tầm. Viện đại học Đà
Lạt xb. 1968, tr. 49-50. Xem chú thích 1
[7]Philipphê
Bỉnh cho biết chính xác việc này xảy ra ngày
22/7/1773 do phán quyết của Giáo hoàng Clément
XIV, sđd, tr.1.
[8]Đây
không phải là trường hợp duy nhất giáo đồ dòng
Tên cử bên trên của họ sang La Mã khiếu nại việc
mất dòng. Hơn hai năm sau, cũng với mục đích và
nhiệm vụ ấy, Philipphê Bỉnh và ba người khác là
thầy Nhân, thầy Ngần, thầy Trung cũng đã đi Tây
Dương vào năm 1796. Nhưng đoàn này không đến
được La Mã vì sau khi theo thuyền của người Bồ
sang Lisbon thì biết tin Giáo hoàng Clément XIV
đã có phán quyết dứt khoát về việc giải tán dòng
Tên. Cả bốn người đều phải ở lại Lixbon và qua
đời tại đó. Xem Sách sổ sang chép các việc
(sđd).
[9]Dẫn
theo Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1971, tr.304.
[10]Dẫn
theo Lịch sử Việt Nam, tr.386.
[11]Các
tên người, tên đất và danh từ bằng tiếng nước
ngoài, những từ nào có thể tra cứu được thì
chúng tôi phiên âm theo nguyên ngữ hoặc qua
chuyển ngữ và có chú thích chữ phiên âm dùng
trong nguyên thư. Những từ không biết rõ xuất xứ
thì phiên theo nguyên thư và ghi bằng chữ liền
với các chữ đầu viết hoa, ví dụ: ĐôSaNùng.
[12]Tác
giả nhắc lại sự kiện đạo Phật truyền vào Trung
Quốc vào đời Hán Minh đế (58-76).
[13]Nguyên
văn: Hồ quỷ. Hồ là từ chỉ nước Hung Nô (phía bắc
Trung Quốc) nhưng cũng dùng để chỉ người Ấn Độ
(xem chuyện Sĩ Nhiếp trong Tam quốc chí, Ngô
chí: cũng xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sĩ vương
kỷ). Ở đây dùng theo nghĩa thứ hai chỉ các tăng
sĩ Ấn Độ.
[14]Nguyên
thư chép: “biến lễ nghĩa chi tục nhi vi quỷ lỗi
chi hương”. Ý vẫn có thể hiểu được, nhưng ngữ
nghĩa không chuẩn vì “tục” không thể biến thành
“hương” được; hợp nghĩa có lẽ là: “biến lễ nghĩa
chi quốc nhi vi… chi hương”.
[15]Tác
giả nhắc lại câu nói của vua Juiđê: “Hiểm ác
thay tên vua quỷ Tây Dương” (xem Q. VIII, tr.
264).
[16]Nguyên
văn: bổ giả (những người đi lùng bắt), chỉ quan
quân triều đình đi lùng bắt kẻ truyền đạo trái
phép.
[17]Nguyên
thư phiên là “BaBa”, tức là phiên âm tiếng
Latinh: Papa = Giáo hoàng.
[18]Tác
giả nhắc lướt mấy sự việc có nói đến trong sách
này: việc Jiuđa phản bội Jêsu (xem Q. III), nữ
thần hiến kế lạ (Q. V, tr. 194), hai tu sĩ Cảm
Hợi và Chân Bình đều trần mưu kế cấm đạo (Q.
VIII, tr. 263).
[19]Nguyên
thư chép: “…hại tục nhi luân”, đã có dấu son
đánh đỏ móc sót. Chữ sót đó chắc là chữ “thương”
(bại tục nhi thương luân).
[20]Nguyên
thư chép: Hoa Lang. Cần sửa lại là nước Tây
Dương (Italia), lý do xin xem chú 1 bài Nguyên
dẫn (tr.39).
[21]Thời
điểm giáo sĩ phương Tân đầu tiên đến Việt Nam,
xin xem Q. IX (tr. 291), cũng xem Lời giá trị
(tr. 18).
[22]Tứ
là lễ thụ phong Thầy cả.
[23]Nguyên
văn: “dịch lại bất lục”. Ý tác giả muốn nói dịch
phẩm Bí lục từ tiếng nước ngoài ra chữ Hán, phần
đó là tài liệu tham khảo chính để soạn thành
sách này; xem thêm Lời giới thiệu (tr. 17).
[24]Dẫn
câu thơ của Lý Thường Kiệt và một phần câu thơ
của Trần Nhân Tông: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch
mã, Sơn hà thiên cổ diện kim âu”.
[25]Về
dòng lạc khoản “Tàn Lê Giáp Dần”, xin xem ở lời
giới thiệu (tr. 13).
[26]Nguyên
thư chép: “Tây Dương giả diệc hiệu Huê Lan quốc,
diệc hiệu Y Thi Tổ Quốc” (nước Tây Dương cũng
gọi là nước Huê Lan, cũng gọi là nước Y Thi Tô).
Lời giải thích đó không chính xác, vì:
Y Thi Tô là chữ phiên âm tên nên Egipto, tức là
những Ai Cập. Các sách của bổn đạo xuất bản
trước đây cũng thường phiên tên nước Ai Cập là Y
Thi Tô, hoặc I Chi Tô. Còn nước Tây Dương dùng
trong sách này là để chỉ nước Ý (Italia).
Nước Hà Lan (Holland) phiên âm chữ Hán là Hoa
Lan hoặc Hoà lan, sau vì kiêng huý mẹ Thiệu Trị,
đọc chệch âm là Huề Lan. Người nước ta thường
gọi đạo Thiên Chúa là đạo Tây Dương. Các giáo sĩ
Hà Lan từng đến nước ta khá sớm, người đương
thời do đó cũng gọi đạo Thiên Chúa là đạo Hoà
Lan. Ví dụ câu hỏi sau đây do E. Busomi (đến
Việt Nam năm 1615) ghi lại: “Con ngoo muon bau
lom la Hoa Laom chia? = Con nhó muốn vào trong
lòng Hoa Lang không? Có thể vì thế mà có sự nhầm
lẫn Hoà Lang là Tây Dương (Italia) chăng?
[27]Tây
Trúc, tức Ấn Độ.
[28]Thế
mà về sau đạo Gia Tô Tây Dương cấm người ta thờ
cúng quỷ thần.
[29]Chưa
rõ người viết bài Nguyên dẫn nói đến thời kỳ
lịch sử nào của nước Jiuđê? (vì câu tiếp theo có
nói đến chữ viết của người Jiuđê, tức chữ cổ của
người Hébréus, thì có thể hiểu là tác giả có ý
nhắc lịch sử một thời kỳ rất xa trước khi xuất
hiện đế quốc La Mã?). Còn vào đầu Công nguyên,
tương ứng với thời điểm của câu chuyện đầu tiên
trong Tây Dương Gia Tô bí lục thì lúc đó nước
Jiuđê là tiểu vương quốc chư hầu của đế quốc La
Mã đời vua Ogustus, tiếp đó là Tiberlus.
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
Bản điện
tử do talawas
thực hiện, Sách
Hiếm cho thêm
hình ảnh đăng
lại ngày
6/29/07.
|