Chúng tôi vừa phác họa qua loa
những nét lớn về tình trạng tinh
thần và những phản ứng sau hiệp
ước 1862 của ba thành viên tham
gia vào cuộc viễn chinh và vào
hiệp ước: Pháp, Tây Ban Nha và
Việt Nam.
Còn có một thành viên thứ tư, ít nhất cũng quan trọng ngang
với 3 thành viên kia, mà chúng
ta không thể bỏ quên trong bóng
tối.
Duyên cớ của cuộc viễn chinh, đó là các giáo sĩ.
Trong hiệp ước, một phần quan
trọng của các điều khoãn thì
liên hệ đến các vị giáo sĩ và
đến cái tự do tuyệt đối mà họ
phải có trong việc truyền bá
Kitô giáo. Trong mỗi một ngày
quan trọng, trong mỗi một hành
vi chính trị, và dĩ nhiên mỗi
hành động tôn giáo, người ta đều
thấy ở bình diện thứ nhất, hoặc
rất tích cực đằng sau sân khấu,
là các giáo sĩ. Họ cho rằng họ
phải có mặt ở mọi nơi, họ cần
phải nói tiếng nói của họ mọi
nơi, họ phải được người ta đặt
cho họ lên hàng đầu ở mọi nơi.
Thực tế là họ có mặt trong mọi chuyện rối ren phức
tạp, trong mọi tình huống căng
thẳng giữa nước Pháp và nước
Việt Nam.
Các giáo sĩ có thể thỏa mãn với
hiệp ước đã ký, trong đó mọi yêu
cầu của họ đã được chấp nhận.
Trong một nước Nam kỳ trở thành
thuộc địa Pháp, họ chắc chắn có
thể vào sâu mọi hang cùng ngõ
hẻm, thực hiện đưa được nhiều
người theo đạo Kitô.
Nhưng mặc dù họ được thỏa nguyện, họ lại hầu như ngay lập
tức, tìm được một cơ hội chỉ
trích: Đô Đốc Bonard dám tổ chức
lại công việc hành chính bằng
cách cắt bỏ các sĩ quan Pháp
hoàn toàn không hiểu gì về phong
tục tập quán Việt Nam ấy khỏi
các trách nhiệm dân sự mà coi
như họ đã đảm nhiệm mấy lâu nay
sao? Ông ta không dám tuyên bố
công khai rằng người Việt Nam sẽ
trở lại điều hành công việc của
họ, chỉ cần các sĩ quan phụ
trách “công việc bản xứ”
giám sát từ trên mà thôi sao?
Hơn nữa, chẵng phải ông ta đã đích thân tỏ ra muốn có một
đường lối chính trị theo Nho
giáo? các giáo sĩ đã nổi giận.
Một vị phát ngôn của các giáo
sĩ, là linh mục Launay, tuyên
bố:
“Bonard
tổ chức lại việc dạy chữ Hán và
phục hồi các chức vị tiến sĩ và
cử nhân mà không tự hỏi xem có
nên tách người Annam ra khõi tất
cả những tư tưởng quốc gia dân
tộc, nghĩa là những tư tưởng
chống Pháp?”(6)
Vậy là đối với họ, vốn
quen thói áp đặt quan điểm của
mình trên kẽ khác, và
coi mọi thứ lễ nghi trước khi họ
đặt chân sang đều như không có.
Họ thấy đó là một nguy
cơ cho sự nghiệp truyền đạo của
họ, và là điều quan
trọng hơn tất cả.
Đây không còn là câu chuyện truyền đạo nữa. Họ đã
cố tình vượt ra ngoài khuôn
khổsứ mệnh tôn giáo của họ để đi
vào linh vực chính trị.
Họ hoạt động nhằm nô lệ
hóa dân tộc Việt Nam, áp đặt tôn
giáo của họ vào Việt Nam, [đồng
thời] loại trừ mọi tôn giáo
khác.
Các giáo sĩ cho rằng địa vị của họ là ở tất cả mọi nơi,
rằng họ được quyền lo lắng mọi
sự, được quyền ra lệnh và khuyên
nhủ mọi người. Họ hiến mình cho
sự nghiệp tinh thần cũng như vật
chất.. Chúng ta đã thấy một giám mục,
Pigneau de Behaine,
không những trở thành đặc phái
viên toàn quyền của ông vua
ngoại đạo, tuyễn mộ một số quân
tình nguyện nhằm ngăn cản cái mà
ông ta coi như một sự bất lực
của chính phủ Pháp, mà còn trở
thành đích thực một “chiến
sĩ” không phải nhằm đánh
đuổi quân ngoại đạo, mà nhằm
đặt lên ngôi vàng Việt
Nam một kẻ ngoại đạo do mình lựa
chọn.
Chúng ta đã thấy một ông giáo sĩ khá kỳ quặc, là một tay du
lịch bốn phương trời, linh mục
Huc, không ngần ngại
viết thư cho Napoleon III để
nhắc Hoàng đế nhớ rằng
nước Pháp cần chiếm đóng Việt
Nam. Một điều cần chú ý
là ông linh mục này chưa hề đặt
chân lên đất Việt Nam bao giờ,
[ông] không biết một chút gì về
xứ sở này. Nhưng có sao đâu!
Không những ông ta tự coi mình
là kẻ đủ tư cách bàn bạc chuyện
đó, mà bởi ông ta là linh mục,
cho nên cuộc vận động của ông đã
được hoàng đế xem như một đề
nghị tối quan trọng; nếu đề nghị
ấy do một người khác đưa ra thì
chắc chắn là chẵng bao giờ được
chuyễn đến tay Hoàng đế.
Dĩ nhiên là khi một giáo sĩ bình thường mà cũng tự cho mình
có tư cách đề đạt những chính
kiến lên với Hoàng đế thì tập
thể những giáo sĩ ở Việt Nam
ngại ngùng gì mà không quấy
nhiễu các ông đô đốc cầm quyền,
về bất cứ chuyện gì và bất cứ
lúc nào?
Những ông đô đốc cầm quyền này
là những kẻ ngoan đạo, ai cũng
biết bắt đầu họ đã cố gắng sống
hòa hợp với những vị đồng hương
mang một sứ mệnh tinh thần cao
cả ấy. Họ cũng tranh thủ
lợi dụng các giáo sĩ để có được
những thông tin về nội bộ nước
Việt Nam, về những phong trào
này nọ, về các tài nguyên
v.v... nhưng thường là những chỉ
dẫn thiếu chính xác; đã nhiều
lần, các ông đô đốc phải khẳng
định rằng các giáo sĩ không thể
làm những nhân viên do thám có
thể tin cậy được.
Trong công cuộc bình định của họ, không những các đô đốc
cầm quyền không thể dựa vào các
giáo sĩ được mà còn phàn nàn một
cách chua chát về thái độ cư xử
của họ và những khó khăn họ
thường gây ra cho các nhà chức
trách quân sự và dân sự.
Ngay từ ngày 25/12/1859, Đô đốc
Page đã viết cho
Bộ trưởng Hải quân:
“Những
năm đầu mới lên ngôi, vua Tự Đức
có một thái độ đối xử khá ân cần
với họ (các giáo sĩ). Nhà vua đã
ra lệnh cho các quan lại địa
phương có thái độ khoan dung,
rộng rãi với họ trong những
chuyện làm trái pháp luật, những
vụ phạm pháp nhỏ. nhưng
rồi các giáo dân, do các giáo sĩ
lãnh đạo đã ngày càng xấc xược
ngạo mạn đến mức độ họ không
thèm biết đến cả chính quyền địa
phương. Họ công khai
nổi loạn; họ tuyên bố
người Kitô giáo không thể vâng
lời những kẻ theo một tôn giáo
khác (...)“Đâu đâu cũng loạn ly. Họ (các giáo
sĩ) cưỡng ép bắt đi những em bé,
những thiếu nữ ra khỏi gia đình
để được Kitô hóa. Do những hành
động và những phản ứng ấy (tôi
tóm tắt lại trong hai từ này tất
cả những lời buộc tội)
các giáo sĩ nghiễm nhiên trở
thành người lãnh đạo, hoặc bao
che cho tất cả những cuộc nổi
loạn này: tất nhiên họ
tham gia vào tất cả những hoạt
động bí mật chống lại nhà vua,
kể cả những hoạt động khủng
khiếp nhất: sự sụp đổ của nhà
nước và của non sông đang có
nguy cơ xảy ra dưới ảnh hưởng
một tình thế như vậy. “Để giữ gìn an ninh trật tự tại Sàigòn, tôi đã phải thiết
lập một tòa thị chính. Ngạc
nhiên biết bao khi ngày hôm sau,
các giáo sĩ đã tới gặp tôi và
tuyên bố rằng giáo dân Annam
không thể tuân phục một chính
quyền ngoại đạo. Chính những
“từ” mà họ dùng.“Sao, không tuân phục, kể cả đối với
cơ quan cảnh sát của thành phố?
Nhằm ngăn chặn bọn trộm cắp lưu
manh và bọn phiêu lãng cướp bóc
thành phố hay sao?“Và tôi lấy làm xấu hổ mà phải thú
nhận với ngài Bộ trưỡng rằng
những nguyên lý ấy được các giaó
sĩ thuyết giãng công khai! “Thực tình tôi không muốn nói thêm
những chi tiết khác, do những
người nhất thời có địa vị to lớn
trong nước khẳng định với tôi.
Tôi chỉ muốn tin khi nào tôi
được đích thị chứng kiến. Ngoài
ra không một người công
giáo Việt Nam nào là không xin
được đăng ký dưới lá cờ của
chúng ta. ông vua ngoại đạo của
Nam kỳ không phải vua của họ!“Bây giờ thì ngài Bộ trưỡng đã hiểu
vì sao cả nhà vua, lẫn các quan
lại, đều coi các giáo sĩ Kitô
như những kẻ thù...”
Trong một bức thư khác đề ngày
24/7/1862 viết cho đại bản doanh
Pháp ở Sàigòn và cho ông Bộ
trưởng Bộ Hải quân, người kế
nhiệm của Page, đô đốc Bonard cũng xác nhận những
điều sai trái ấy.
...”Chính
là từ phía các giáo sĩ mà các vụ
rắc rối nghiêm trọng nhất có thể
xảy ra nếu người ta không tự
giới hạn mình trong việc bảo đảm
che chở cho họ một cách công
bằng, và nếu người ta không
dựa cớ tôn giáo để đỡ họ
trong những âm mưu chính trị lật
đổ chính phủ hiện hành, những âm
mưu, trong đó không may, nhiều
giáo sĩ đã bị lôi cuốn tham gia,
mà chẵng thấy ai từ chối!
Nâng đỡ họ trên một đường lối
như vậy sẽ là nguy hiểm, bởi vì
họ sẽ trở thành những kẻ
phiến loạn thực sự, chứ không
phải những kẻ tuẫn tiết vì đạo.“Sư đánh giá tình hình trên đây của
tôi, thưa Bộ trưởng, đã được căn
cứ trên những nhận xét dưới đây:“Cuộc chiến tranh Nam kỳ, không ai
có thể phủ nhận được rằng nó đã
được gây ra do những yêu sách
của các giáo sĩ Tây Ban Nha và
Pháp phàn nàn kêu ca trước những
sự khủng bố bất côngcủa triều
đình Huế, mà đối tượng chính là
họ.“Thực ra, cách tổ chức và trạng thái
tinh thần của các vị giáo sĩ đó
như sau:“Đất Nam kỳ được chia thành nhiều
địa phận, mỗi địa phận do một
giám mục lãnh đạo. Tất cả các
giám mục đó có thể chịu – đây là
điều mà tôi không được biết – sự
lãnh đạo chung của trung tâm
truyền giáo tại Châu Âu. Nhưng
mỗi giám mục trong địa phận mình
hầu như làm gì tùy ý, và rất đối
kỵ không muốn cho một giám mục
địa phận láng giềng can thiệp,
dù trong một việc nhỏ nhoi không
đáng kể, vào nội bộ cái địa phận
mênh mông mà họ coi như mình có
trách nhiệm phải cai trị về mặt
tinh thần. Tất cả đều ôm ấp ước
mơ sẽ trở lại thời kỳ mà bất cứ
việc gì nhất nhất đều phải thi
hành theo lời khuyên nhủ hoặc sự
cho phép của ông ta.“Để đạt được mục đích ấy, họ đã dùng
những biện pháp sau đây:“Trong bọn họ, người nào cũng thấy
các ông vua kế ngôi vua Gia Long
không tuân theo đúng nguyện vọng
của họ, nên họ đã phản đối tính
chất chính thống của các vua
trên, và tìm cách đề cử
một người khác có khả năng bảo
đảm cho họ đạt tới mục đích hơn,
nếu như người đó lật đổ được ông
vua đương vị.“Một số trong bọn họ, nhằm mục đích
chiếm ngôi, đã viện cớ rằng vua
Gia Long đã chỉ định kế ngôi
mình, không phải người con trai
đầu lòng mà là người con trai
thứ hai – như thông thường các
triều đại viễn đông vẫn làm. Các
giáo sĩ vùng Hạ Nam kỳ theo xu
hướng này. Các giáo sĩ vùng đất
của vương quốc Annam, lân cận
Huế, nằm trung gian giữa Bắc kỳ
với Nam kỳ, còn đi xa hơn nữa
trong việc phản đối tính chất
chính thống của chi nhánh hoàng
gia đang trị vì. Ngay cả Gia
Long, họ cũng coi như một kẻ
tiếm vị, và họ đã tìm một người
con cháu nhà Lê, mà các vua biến
chất thành hạng “vua lười”, đã
bị một ông thừa tướng lật đổ.“Tôi nghỉ rằng các tu sĩ dong
Dominicain Tây Ban Nha, còn hăng
hái và cực đoan hơn cả những
giáo sĩ Pháp, đều đã liên quan
với những phe đảng ấy. “Một người con cháu nhà Lê, thật
hay giả, đã được đón nhận tại
các nhà dòng Trung quốc, và sau
khi đã giày vò hành hạ anh ta
trăm đường đến mức bắt cả anh ta
làm người gác cổng của nhà dòng;
các giáo sĩ cấp trên ấy
dự định dựng anh ta lên ngôi vua,
vì tin tưởng họ vẫn có một ảnh
hưởng sâu sắc đối với anh ta,
một khi họ thực hiện được dự
định. “Trong tình thế hiện nay, và dựa
trên những lời nói và việc làm
của các tầng lớp giáo sĩ Pháp
vùng Nam kỳ, họ đang cố gắng từ
bỏ những tham vọng chính trị của
họ, vì họ hy vọng rằng dưới ảnh
hưởng sự chiếm đóng và sở hữu
thuộc địa của chúng ta, tuy chưa
mang đến cho họ cái quyền uy
tuyệt đối của giám muc Adran, ít
ra cũng cho phép họ tỏ ra hài
lòng trong giai đoạn trước mắt.
Vậy, người ta có thể, bằng một
chính sách vừa mềm dẻo, vừa cứng
rắn, buộc họ phải nằm yên trong
những giới hạn hợp lý hợp tình
của cái uy tín mà họ đang mong
có được.“Các giáo sĩ vùng lân cận Huế còn
lâu mới chịu chấp nhận biện pháp
giãng hòa này. Một vài vị tán
thành một cách uể oải, nhưng đại
đa số thì qua những chuyện bất
hòa, qua hành động có chiều
hướng muốn chứng minh rằng họ
chưa khước từ những tư tưởng cực
đoan của mình. Giám mục, cùng
với một vài người cộng sự thông
minh nhất, tiếp thu lời tôi
khuyên không nên vội vàng trong
bất cứ vấn đề gì, còn ở lại Nam
kỳ và sẽ hành động khôn ngoan,
một khi họ trở lại địa phận của
họ, sau khi hòa bình đã được
củng cố vững vàng.“Nhưng, những người sôi nổi hăng hái
đều đã ra đi, tay làm
dấu thánh giá, theo sau họ là
những lũ cướp thật sự.
“Từ thái độ ấy có thể xảy ra nhiều khó khăn nếu người ta
không biết hành động một cách
thận trọng. Với tư cách là người
Pháp hoặc người công giáo, họ
chắc chắn sẽ yêu cầu được bảo
vệ, một khi họ bị dính
líu vào những mưu đồ chính trị,
bất chấp những lời khuyên bảo
chí tình chí lý của tôi.Còn những tu sĩ Dominicains người
Tây Ban Nha, thường hay ở vùng
Thượng du Bắc kỳ, họ còn khó cai
trị hơn gấp mấy lần: hăng hái và
cuồng nhiệt đến mức độ tột cùng,
một số lớn xuất thân từ những
đảng du kích và những phần tử
Carlistes (phái quân chủ chuyên
chế theo Don Carlos), đã rời bỏ
Tây Ban Nha ra đi, tự nguyện,
với thanh kiếm, khẩu
súng, cùng với cây thập tự trên
tay, tham gia bằng cả tâm hồn
lẫn thể xác vào những cuộc nổi
loạn đang làm điêu đứng
xứ Bắc kỳ.(8)
Sau bức công hàm, Bonard ghi
thêm mấy lời tái bút nhấn mạnh
với ông Bộ trưởng rằng nước Pháp
sẽ chịu phải nhiều tai họa nếu
tiếp tục nâng đỡ các giáo sĩ. Và
ông chứng minh một cách hùng hồn
trách nhiệm của các giáo sĩ tại
Việt Nam:
“P.S. Tôi
vừa nhận được những thông tin
mới, và vội vàng chuyển tới cho
Bộ trưởng. Tôi trân trọng yêu
cầu ngài đặc biệt quan tâm một
cách nghiêm túc những ý kiến
đánh giá trên đây của tôi. Bởi
vì qua lời nói và việc
làm của các giáo sĩ ở Nam kỳ,
có thể thấy rõ ràng họ đang tìm
cách đưa chính phủ vào con đường
tai họa mà họ đang đeo duổi: sự
lật đổ vua Tự Đức. “Bất chấp mọi lời cảnh cáo của tôi,
mặc dù tôi đã bảo họ phải kiên
trì chờ đợi những ý kiến của
chính phủ Hoàng Đế về việc chuẩn
y hòa ước (5/6/1862) và hậu quả
của nó, họ vẫn không ngừng gởi
đi về vùng Huế những phái viên
mang nặng những ý đồ xấu xa và
tinh thần xảo trá.“Tôi đã dứt khoát từ chối không cấp
thông hành cho họ đi về ngã ấy
(Huế), cho đến lúc nào tôi nhận
được chỉ thị từ Pháp. Họ không
màng quan tâm gì đến và chắc hẳn
Ngài đã nhận được nhiều khiếu
nại của họ về vấn đề này, bởi vì
họ đi hành quân, bất chấp những
lời khuyên răn thường xuyên của
tôi, họ không giấu ý đồ của họ
và thái độ coi thường của họ đối
với các điều khoản của hiệp ước.
Đây là một mối nguy cơ tôi mà
nêu lên lại với Ngài không phải
là thừa sai bởi vì nếu không
cảnh giác trước những bản báo
cáo của các giáo sĩ đó, thì họ
sẽ không lùi trước một thủ đoạn
nào để đi tới mục đích bằng cách
lôi kéo cả chính phủ vào con
đường tai hại cho những lợi ích
chân chính của nước Pháp.”(9)
Thái độ chống đối của các vua,
các quan lại và của nhân dân
Việt Nam không nhằm vào lý tưởng
tôn giáo nào, mà nhằm vào cái
ý thức bạo động và thống
trị của những kẻ phụng sự nhà
thờ Kitô giáo. Thái độ
chống đối ấy được chứng minh là
đứng đắn, do sự phá hoại chính
quyền quốc gia một cách chậm
rãi, dần dà, và sự xâm lấn lần
lần lãnh thổ Việt Nam mà chúng
ta chứng kiến và công cuộc thực
dân hóa hoàn toàn Việt Nam, của
nước Pháp. Công cuộc
truyền giáo và chủ nghĩa thực
dân đi đôi với nhau.
Tại hội đồng quốc gia, phiên họp
ngày 22/5/1804, Napoleon I đã
định nghĩa vai trò của các nhà
truyền giáo trong cuộc thực dân
hóa như sau:
“Ý định
của ta là ngôi nhà các hội
truyền giáo đối ngoại phải được
thiết lập trở lại. Những tu sĩ
ấy sẽ rất có ích cho ta tại châu
Á, châu Phi và châu Mỹ. Ta sẽ gởi họ đi thăm dò
tin tức về tình hình các nước.
Chiếc áo thầy tu của họ sẽ bảo
vệ cho họ và dùng để che dấu
những ý đồ chính trị và thương
mại. Bề trên của họ sẽ
không ở La Mã nữa mà ởParis.
Giới giáo sĩ được mãn nguyện và
tán thành việc cải cách này. Ta
sẽ cấp cho họ một số tiền trợ
cấp đầu tiên là 15.000 Franc.
Người ta đã rõ sự lợi ích của
các tu sĩ dòng Lazaristes của
các hội truyền giáo trong
tư cách mật vụ
của phái đoàn tại Trung quốc,
Nhật Bản và cả châu Á.. Tại châu
Phi và tại Syrie nữa cũng có.
Không phải mất nhiều tiền cho
họ. Họ được dân dã man trọng
vọng, lại họ không có một cương
vị gì chính thức, nên họ không
làm ảnh hưởng gì đến chính phủ,
cũng chẵng gây cho chính phủ tai
tiếng gì bất lợi. Nhiệt tình tôn
giáo chan chứa trong lòng các
linh mục khiến họ làm được những
công việc và coi thường hiểm
nguy mà các nhân viên dân sự khó
lòng vượt nổi. Các giáo
sĩ có thể phục vụ cho những ý đồ
thực dân của ta tại Ai
Cập và trên các bờ biển của châu
Phi...” (10)
| Nguyên văn tiếng Pháp: Séance du 22 Mai 1804.
« Mon intention est que la maison des Missions étrangères soit rétablie; ces religieux me seront très-utiles en Asie, en Afrique et en Amérique; je les enverrai prendre des renseignements sur l'état du pays. Leur robe les protége et sert à couvrir des desseins politiques et commerciaux. Leur supérieur ne résidera plus à Rome, mais à Paris. Le clergé est satisfait et approuve ce changement; je leur ferai un premier fonds de quinze mille francs de rente. On sait de quelle utilité ont été les lazaristes des Missions étrangères comme agents secrets de diplomatie,en Chine, au Japon et dans toute l'Asie. Il y en a même en Afrique et dans la Syrie; ils coûtent peu , sont respectés des barbares, et n'étant revêtus d'aucun caractère officiel, ils ne peuvent compromettre le gouvernement , ni lui occasioner des avanies; le zèle religieux qui anime les prêtres leur fait entreprendre des travaux et braver des périls qui seraient au dessus des forces d'un agent civil.
« Les missionnaires pourront servir mes vues de colonisation en Egypte et sur les côtes d'Afrique. Je prévois que la France sera forcée de renoncerà ses colonies de l'Océan. Toutes celles d'Amérique deviendront , avant cinquante ans, le domaine des États-Unis; c'est cette considération qui a déterminé la cession de la Louisiane : il faut donc se ménager les moyens de former ailleurs de semblables établissements. Je veux aussi rétablir les sœurs de la charité, et que leur installation se fasse avec une grande solennité. Leur supérieure générale résidera à Paris ; toute la corporation sera ainsi sous la main du gouvernement. Je les ai fait remettre déja en possession de leurs maisons. Je crois qu'il faudra également, quoi qu'on en dise, rétablir les frères ignorantins. »
Privat Joseph Claramont Pelet, comte Pelet de la Lozère, est un homme politique français né à Saint-Jean-du-Gard (Gard) le 12 juillet 1785 et mort à Villers-Cotterêts (Aisne) le 9 février 1871.
Pelet de la Lozère a rédigé un très intéressant ouvrage à partir de notes prises durant les séances du Conseil d'Etat présidées par Napoléon Ier auxquelles il a assisté sous le titre Opinions de Napoléon sur divers sujets de politique et d'administration recueillies par un membre de son Conseil d'État (1833).
On lui doit aussi un Précis de l'histoire des États-Unis d'Amérique depuis leur colonisation (1845) et un recueil de Pensées morales et politiques (1873).
|
Còn việc các giáo sĩ can thiệp
vào các vấn đề quân sự và dân sự
của nước Pháp thì một bức thư
của đô đốc Rigault De
Genouilly, viết cho bộ
trưởng Hải quân, từ Đà nẵng,
ngay 29/1/1859 đã miêu tả rõ
ràng:
“... Điều
mà ngài Bộ trưởng khó lòng tin
được là cuộc viễn chinh Sàigòn
cách đây một tháng, yêu cầu bởi
giám mục Pellerin, giám mục
Biblos, đến đây chỉ với tư cách
là một người phiên dịch, về phía
vị giáo chủ ấy, ngay từ khi nó
được giải quyết, đã là mục tiêu
những cuộc tấn công mảnh liệt
nhất, những lời đả kích sôi động
nhất.“Bị linh mục Gaentza mua chuộc, linh mục bề trên của các tu sĩ
Dominicains (Tổng tuyên úy các
đội quân Tây Ban Nha) dĩ nhiên
là người chỉ mơ ước
chiếm Bắc kỳ và phất cờ Tây Ban
Nha tại đó một cách đắc
thắng, vị giám mục đó đã công
khai giảng thuyết trong phòng ăn
của các sĩ quan trên tàu biển
chông lại những dự định của tổng
chỉ huy quân đội, trái với ý
định của ông ta và thông báo
rằng tôi không biết gì về những
ý đồ của chính phủ, rằng ông ta
là người được chính phủ gởi gắm
tâm tư, và rằng tôi phải chịu
trách nhiệm về hạnh kiễm của
tôi.“Tình thế căng thẳng đến mức độ suýt
nữa tôi đã cho bắt giám mục
Pellerin dẫn sang Hồng Kông. Tuy
nhiên trước khi quyết định một
sự việc tai tiếng rất bất lợi
cho một cuộc viễn chinh, mà mục
đích chủ yếu là tôn giáo, và sẽ
gây một tiếng vang lớn tại Pháp
như vậy, tôi đã cố gắng thông
qua các giáo sĩ đồng nghiệp của
ông và qua linh mục Pelletier,
tuyên úy trung đoàn, là người có
một ảnh hưởng nhất định đối với
giám mục Pellerin, thuyết phục
cho ông ta nhận ra rằng ông đã
có thái độ không ai chịu nổi, và
điều tốt nhất cho ông ta lúc này
là qua Hồng Kông.“...Tin giám mục Pellerin sắp đi đã
xoa dịu được những lời đả kích
của đại tá Lanzarote (chỉ huy
đội quân Tây Ban Nha). Và cũng
có lý do để nghỉ rằng những
đội quân viễn chinh ấy
bị kích động do tinh thần năng
động và trầm tư của linh mục
Gaentza là người trong
thực tế đã chi phối giám mục
Pellerin, hơn là chịu giám mục
Pellerin chi phối.“Ngài Bộ trưởng đã thấy rõ những khó
khăn nhiều mặt mà tôi đang vấp
phải trong công tác của mình.”(11)
Cả
người Tây Ban Nha cũng đã bao
nhiêu lần phàn nàn những hành
động quá khích của các giáo sĩ.
Chính Palance, khi
thông báo việc ký kết hiệp ước
1862 cho chính phủ, đã viết về
các giáo sĩ như sau:
“...Hiệp
ước thỏa thuận rằng người ta
không được bắt buộc ai phải theo
đạo.“Đôi khi một hành vi nhiệt tâm có
thể đẩy người ta vượt qua giới
hạn của sự vừa phải và dẫn đến
những hậu quả tai hại, làm cớ
cho chính phủ Annam thực hiện
các biện pháp quyết liệt. Các
giáo sĩ Nam kỳ được coi
như là những kẻ xúi giục dân nổi
loạn, và như những tên mật vụ
chính trị của một triều đại nào
đó, đang tìm cách làm sụp đổ
triều đại hiện đang thống trị,
và như một mối đe dọa đối với an
ninh trật tự chung...
Một vài giáo sĩ và giám mục Nam
kỳ có ý đòi hỏi những quyền được
miễn sai dịch và các đặc lợi đặc
quyền quá đáng cho bản thân họ
và cho cả giáo dân; để đạt những
yêu sách trong đó lợi ích chính
trị lẫn lộn lợi ích tôn giáo...”(12)
Những tư liệu chúng tôi vừa dẫn
đã được chọn lọc từ bao nhiêu tư
liệu khác, bởi vì những tư liệu
này không thể để cho ai nghi ngờ
rằng mang nặng những thành kiến
hoặc khuynh hướng chống lại tôn
giáo. Tự nó nói lên sự thật một
cách hùng hồn.
Các đô đốc Pháp thời đó chắc
phải có những tình cảm buộc một
chính phủ và những nhà vua thấm
nhuần tư tưởng Kitô giáo phải
chấp nhận những tư liệu trên
đây: mỗi lần báo cáo là họ báo
cáo với ông bộ trưởng cấp trên
trực tiếp của họ bằng những lời
lẽ cụ thể, rõ ràng sự bất đồng
tình của họ đối với các giáo sĩ
nói trên.
Hầu như không ai có thể tưởng tượng được ràng một đại tá
quân đội của “Đức Vua ngoan
đạo”, mà sau này sẽ được
phong thống chế, tức là được sự
tín nhiệm hoàn toàn của triều
đình, dù có dùng lời lẽ khôn
khéo đến bao nhiêu đi nữa khi đề
cập tới vấn đề mà ông ta muốn
phê phán, trong một bức công
hàm, lại dám đưa ra những lời
phê phán đối với các linh mục
Tây Ban Nha bao giờ!
Lâu nay, khi nói về các giáo sĩ ấy ở Việt Nam, phần lớn các
nhà sử học và các nhà văn chương
Tây đều đã giới thiệu họ như nạn
nhân những cơn thịnh nộ khủng
khiếp của các vua, quan. Theo
họ, nhiều giáo sĩ đã ngã xuống
như những vị “thánh tử vì
đạo.” Người ta
không muốn nói lên đúng sự thật;
không một ai muốn tiết lộ những
điều sai trái mà các giáo sĩ đã
làm và những lý do thực mà tòa
án Việt Nam thời đó đã kết tội
họ một cách rất phải lẽ.
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và chính phủ của họ đã không
lầm khi họ có cùng một ý nghĩ
như Lamartine (nhà thơ Pháp đứng
đầu chính phủ lâm thời của Pháp
năm 1848 – LND) tuyên bố ngày
3/8/1844:
“Trong tư
tưởng của tôi, tôi thấy sự phồn
vinh của tất cả mọi loại Hội tôn
giáo đều tai hại, nguy hiểm và
gây sạt nghiệp cho quốc gia va
gia đình.”
Họ
có lý, khi họ cũng kết luận,
giống Guizot (nhà sử học và nhà
hoạt động chính trị Pháp): “Quốc gia phải mang tính chất
thế tục,” hoặc với Cavour
(nhà hoạt động chính trị Ý – thế
kỷ XIX): “Quốc gia phải thật
sự tự do.” Đó là biện pháp
duy nhất hiệu nghiệm để tiến lên
giải phóng dân tộc Việt Nam.
_____________________________________
CHÚ THÍCH:
(6) F. Chesneaux. “Contribution
à l’histoire de la nation
vietnamienne”,
Paris,
1955. trang 115.
(7), (8), (9) “Hồi ký và tư liệu
Á châu” (Mémores et documents
Asie), quyển 27, trang 426-434,
và quyển 28, trang 85-88. (Tài
liệu chưa xuất bản).
(10)
“Opinions de Napoléon”, Bá
tước Pelet,
Paris,
1833.
(11) Lưu trữ quốc gia,
Paris,
loại BB, quyển 769.
(12) Tài liệu ngoại giao Tây Ban
Nha, Madrid.
Trích dịch từ trang 84 đến 96 của tác phẩm Les
Debuts de l’Installation du
Système Colonial Francais au
Viet Nam (1858 – 1897)
của Nguyễn Xuân Thọ,
xuất bản năm 1995.
Nhận định về
tác phẩm nầy:
GS Hoàng Xuân Hãn (Paris 26/12/91):“Sự sụp đổ
của Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng
5 năm 1954, giữa tiếng nổ vang
tan tành của các loại vũ khí,
loan báo cho thế giới biết răng
xứ sở nhỏ bé này mới vừa tự giãi
thoát, trong máu đào, khỏi ách
thống trị của thực dân, áp đặt
trên toàn dân, từ gần một thế kỷ
nay (1858-1954).“Bằng cách đưa vào cuốn sách này
những văn kiện ngoại giao, mà
phần lớn chưa được tiết lộ, tác
giả cố gắng góp phần vào sự xác
định một số giai đoạn của lịch
sử những buổi đầu trong sự thiết
lập hệ thống thuộc địa Pháp ở
Việt Nam.“Công tác rất có giá trị...“Bản thảo này quả là độc đáo, hơn
hết các công trình nghiên cứu
của các sử gia khác.”
Maurice Beaumont, thành viên
Hàn Lâm Viện Pháp, Giáo sư danh
dự Đại học Sorbonne (Ngày
15/11/1966)“Về phương
diện trí thức, ông [Nguyễn Xuân
Thọ] đã bắt đầu sưu tập ở Pháp
và ở Tây Ban Nha (cũng gọi là Y
Pha Nho), tư liệu cho một luận
án Tiến sĩ, mà ông đã thuyết
trình và bảo vệ tại Đại học
Sorbonne, vào tháng 7 năm 1956,
về ‘Cuộc viễn chinh Pháp – Tây
Ban Nha tại Nam bộ Việt Nam (mà
người Pháp gọi là Cochichine)
nam 1858-1862’. Cuộc sưu tập ấy
đã tỏ cho thấy như công trình
của một sử gia đủ tư cách, cả về
mặt chính xác của phương pháp,
lẫn về mặt tao nhã của hình thức
(cách trình bày). Lúc ấy, tôi là
một thành viên trong ban khảo
thí, có trách nhiệm sát hạch và
đánh giá luận án đó, luận án đã
được xếp hạng ‘Très Honorable’
(Tối Ưu).“Và ông Thọ đã tiếp tục công trình
của ông, bằng cuộc nghiên cứu
này, về sự thâm nhập của người
Pháp vào Việt Nam (1858-1897).
Công trình này, trong đó, ông
Nguyễn Xuân Thọ đã dành một phần
lớn cho các tài liệu chính thức,
phần nhiều là chưa được tiết lộ,
giúp chúng ta hiểu rõ hơn, một
số giai đoạn trong lịch sử những
liên hệ giữa Pháp và Việt Nam
vào thế kỷ vừa qua. Đồng thời,
công trình này cũng soi sáng
chúng ta về tấn thảm kịch đang
chia cắt mảnh đất đau khổ này
của Á Châu, trên cả hai bình
diện chính trị và tôn giáo.”