 |
07 tháng 9, 2008
|
LTS: Đa số người bình thường không mấy thích thú khi bàn đến triết học. Có người còn quan niệm "mấy ông nói triết lý thường gàn gàn, chẳng thực tế chút nào". Nhưng cái nguy hiểm ở thái độ này sẽ trở thành điều đáng nói nếu họ thả lỏng niềm tin vào những tôn giáo phi lý nhất, và yên chí bằng lòng "không tìm hiểu" tất cả những định nghĩa, các khái niệm không những "gàn gàn", mà còn mông lung, nếu không muốn nói là gạt gẫm, và nhiều khi đầy ích kỷ như "thiên chúa", "thiên đàng", "tội", "thánh", "đạo đức", những quan niệm đã đem lại chiến tranh cho địa cầu thay vì "bình yên dưới thế" như "quảng cáo". Trang Sachhiem.net mời quí đọc giả chịu khó đọc một công trình biên khảo, ít nhiều thắp một ngọn nến cho ấm thêm gương mặt lý trí của mình. Bài viết hiếm hoi sau đây cô đọng nhất vào câu kết của tác giả: "Độc lập, tự do, giải thoát khỏi Thượng Đế mới chính là con đường giáo dục tâm linh đúng nghĩa. Không lập cước trên cuộc lữ miên trường này, hành giả chẳng thể nào điều phục được cái Tâm viên Ý mã chuyên chấp trước, phân biệt mà thôi." Xin cúi đầu cảm phục.
Nội dung :
I. Khái niệm
1. Ý nghĩa nguyên thủy
2. Ý nghĩa hiện đại
3. Ý nghĩa của Đông phương
4. Ý nghĩa trong Kitô giáo
II. Sơ lược hệ thống giáo dục
tâm linh trong dòng tu
1. Sản phẩm của hệ thống giáo
dục Tây phương
2. Sắc lệnh giáo dục Kitô
giáo
III. Quá trình đào tạo tu sĩ
1. Giai đoạn sơ khởi
2. Giai đọan nhà tập
3. Giai đoạn học viện
a. Trí thức
b. Tâm linh
IV. Kết luận
Thủ Đức, ngày 3/8/2008

Biết ít nhưng vui nhiều
Đó là tặng vật
Cho cõi phù du…
Lời thơ trích trong quyển Lời cố quận của Martin Heidegger
giảng về thơ Hoelderlin do Bùi Giáng dịch khiến cho người viết bao phen giật
mình. Bởi biết bao phen lận đận chìm nổi hắt hiu trong dòng đời, mình cứ tưởng
có cái này thì sẽ vui, có cái kia sẽ được hạnh phúc. Có ngờ đâu, cái vui nhất,
cái hạnh phúc nhất trong cõi phù du chính là qui hồi cố quận nguyên thôn, một cô
phong đảnh một hồn tịch liêu.
I. Khái niệm
1. Ý nghĩa nguyên thủy
Chữ “tâm” có rất nhiều nghĩa, người ta có thể hiểu chữ “tâm
linh” tùy theo môi trường văn hóa, tôn giáo của họ. Tuy nhiên, trong cái xã hội
mà thông tin tràn ngập như vũ bão này, những ngôn từ như hai chữ “tâm linh”
thường xuyên bị bóp méo, xuyên tạc, lợi dụng nhằm đem lại lợi ích cho tổ chức
này, tôn giáo kia. Chính vì thế, người viết cố hết sức truy nguyên lại nguồn gốc
của nó để phần nào có thể hoàn nguyên ý nghĩa mà con người cơ khí ngày nay đã vô
tình bỏ quên.
Khởi đầu văn minh Hy Lạp, có một từ mang ý nghĩa tâm linh,
đó là từ hiérophanie nghĩa là hiển linh, sự xuất hiện
của linh thể. Từ này được ghép bởi hiéros : linh thiêng và
phainein : hiển bày. Thêm vào đó, ông Phạm Công Thiện cho rằng
Héraclite, người đầu tiên và cũng là người cuối cùng khám phá ra thể tính bí mật
của “Psyché” trong suốt dòng lịch sử tư tưởng triết học Tây Phương, đã
viết : “Cái tâm (Psyché) có cái Thông lý tính (Lógos) tự huân
trưởng lên.”[1] Tuy nhiên, khởi từ
Socrate, Tây phương đã giải huyền, chối bỏ cái linh thể, cái tâm ấy và thay vào
đó bằng những giá trị thế tục do suy đoán của lý trí. Cụ thể là Platon và
Aristote, họ đã hiểu sai ý nghĩa chữ “psyché” và đã hạn chế nó
thành những ý niệm như “linh hồn, tâm thần, tâm linh, tâm thức, tiềm thức…” Dần
dần, Tây Phương đã biến cái tâm huyền linh đó thành những đối tượng khả hữu để
phân chia, mổ xẻ, thí nghiệm, khảo sát bằng một guồng máy ý niệm triết học vào
khoa học hoành tráng, cao xa và lộng lẫy. Từ cái gốc là “psyche”, người
ta chế biến thành những môn học như Psychologie, Psycho-analyse,
Psycho-pathologie. Những môn này chẳng những không vén mở cái linh thể ẩn tàng
mà còn xuyên tạc, bóp méo cái ý nghĩa nguyên thủy của “psyché”. Dưới đây,
xin đưa ra một vài định nghĩa của các từ điển.
2. Ý
nghĩa hiện đại
Theo The American Heritage® Dictionary thì “tâm” nghĩa là
psyche, có gốc từ tiếng Hy Lạp là psūkhē nghĩa là hơi thở, nguyên lý của
sự sống. Nó được chuyển thành tiếng Latin là psyche. Giải nghĩa từ
psyche, từ điển này đưa ra hai nghĩa như sau : “1. The spirit or soul. 2.
Psychiatry The mind functioning as the center of thought, emotion, and
behavior and consciously or unconsciously adjusting or mediating the body's
responses to the social and physical environment. ”
Theo Việt Pháp từ điển của Đào Đăng Vỹ thì “Tâm” là coeur,
sentiment, Âme, esprit, conscience, sacré.
Trong tiếng Anh, người ta dịch chữ “Tâm” là heart, mind, awareness, thought,
conception, spirit, soul, emotion, mood, sensation, idea, mentation,
intellection, intelligence, thinking, cognition…
Trên đây là một số cách định nghĩa chữ “tâm” của Tây Phương hiện đại. Tất cả
những ý nghĩa trên đều không mang hết ý nghĩa của chữ psyché và
hiérophanie. Thậm chí những chữ đó đã bị phân hóa thành vật chất và tinh
thần, chứ không mang mật nghĩa ẩn áo của cái tòan thể trinh nguyên sơ nguồn bình
minh ban sơ Hy Lạp nữa. Thật vậy, ngay từ thời Platon và Aristote, tất cả những
ý nghĩa thâm sâu ẩn mật của hai chữ trên đã bị óc luận lý của hai ông ly hôn,
ruồng bỏ. Cái ý thức huyền linh đó đã bị triết học hiện đại thủ tiêu hoàn toàn
không còn một tấc đất để cư lưu khi Descartes đưa ra định đề “cogito ego sum.”
(I think therefore I am) (tôi suy tư vậy tôi hiện hữu). Với định đề này,
Descartes khẳng định rằng con người chỉ tồn tại thật sự qua linh hồn biết suy
tư. Từ đó ông suy ra một nền triết học rạch ròi, mạch lạc khi tách biệt thần học
với khoa học, khách quan với chủ quan, linh hồn với thể xác và lý tính với trực
giác. Cũng từ đây con người trở thành chủ thể nhận thức và thế giới trở thành
đối tượng để thẩm tra, minh xét.
3. Ý nghĩa của Đông phương.
Đối với Đông phương, ta sẽ thấy người ta không dùng ý niệm tâm trí hay khối
óc để giải nghĩa chữ “tâm” mà dùng ngay cái tâm để suy tưởng, phán đoán và chọn
lựa.
Theo từ điển Hán Việt của cư sĩ Thiều Chửu thì chữ "tâm" (心) có nghĩa là tim,
người đời xưa cho tim là vật để nghĩ ngợi, cho nên cái gì thuộc về tư tưởng đều
gọi là tâm, ví dụ "tâm cảnh" (心 境), "tâm địa" (心 地) v.v. Ngành khoa học nghiên
cứu về các hiện tượng của ý thức con người được gọi là tâm lý học.
Theo từ điển Phật học của Đoàn Trung Còn thì chữ “tâm” có hai nghĩa vật chất
và tinh thần. Về vật chất, tâm là trái tim ở chính giữa thân thể. Về tinh thần
thì thường được dịch nôm là lòng, nỗi niềm, nội, lòng cương quyết, trí, cái
linh giác chung của vạn vật hay tâm linh, thần hồn, căn bổn, trụ cốt, chỗ bí
mật…
Về phần chữ Linh 靈, theo Đào Duy Anh thì nó có nghĩa là thiêng liêng,
thần, hồn người chết. Hơn nữa nó còn được ghép với rất nhiều các chữ khác,
cụ thể với chữ Đài 臺 thành ra chữ Linh Đài mang nghĩa là Tâm linh của con
người. Còn theo Cao Đài từ điển thì nó mang nghĩa là Nơi thiêng liêng
huyền diệu. Trang Tử cũng có viết: "Bất khả nội ư linh đài” nghĩa là
không biết được lòng dạ con người. Lão giáo cũng cho rằng Linh đài chính là cái
Tâm. Như thế, hai chữ Tâm linh (心靈)) là Cái trí tuệ có trong lòng người.
Có thể nói theo nghĩa đen rằng lòng người cũng chính là bụng người,
chỗ quan trọng nhất trên cái bụng chính là huyệt đan điền, mà theo Yoga hay
Khí công thì muốn khỏe mạnh thì phải tập trung khí ở huyệt đan điền và phải
luyện tập cách điều phục hơi thở. Do vậy, tâm linh là cái tinh ròng vi tế, nhưng
nó lại ngụ ở trong lòng qua hơi thở.
Vậy, toàn bộ truyền thống tâm linh của Đông phương là hồi quang phản tỉnh,
quy căn viết tĩnh, hồi đầu thị ngạn, chính là học cách làm chủ được hơi thở của
mình. Cụ thể là tất cả nghệ thuật ảnh tượng của Đông phương đều trình bầy trong
tư thế kiết già, nhìn xuống, hay nhắm mắt nhìn vào trong, với tư thế này, con
người sống hòan hảo nhất và mãnh liệt nhất.
Hơn nữa, ông Phạm Công Thiện, trong tác phẩm Những Bước Chân Nhẹ Nhàng Trở Về
Sự Im Lặng, đã viết : “Chữ “Tâm” là một chữ bao trùm mọi ý nghĩa và mọi phản
nghĩa. Muốn nói về chữ tâm cho đầy đủ thì không khác gì phải đọc lại tất cả Kinh
và Luận của tất cả tông phái Phật giáo.”[2]
Tuy nhiên, toàn thể thế giới ngày nay đều đã bị đầu độc bởi văn minh cơ khí vật
chất, nên cái “Tâm” của Đông phương cũng đã bị bật gốc và thay vào đó bằng công
trình ý niệm khoa học đồ sộ của Tây phương.
4. Ý nghĩa trong Kitô giáo
Trong tác phẩm Đời Sống Tâm Linh Tập III của Phan Tấn Thành, ông cho rằng
“tâm linh” được dịch ra từ chữ Pháp Spirituel, Spirituelle và có chức năng như
một tính từ bổ nghĩa cho từ vie tạo thành đời sống tâm linh (Vie
Spirituelle) hay (Spiritual Life) trong tiếng Anh. Tính từ này được tạo thành
bởi từ gốc là esprit, tức là từ Spiritus, Spirituel trong tiếng Latinh.
Với từ này, tác giả Đời Sống Tâm Linh đưa ra ba ý nghĩa như sau :
- Esprit nghĩa là tinh thần đối
với vật chất, vô hình đối với hữu hình. Như vậy Spirituelle bao gồm tất cả ý
nghĩa sinh họat tinh thần.
- Ở cấp cao hơn thì Esprit mang
nghĩa một lý tưởng cao thượng, hay một sự cố gắng để đạt đựơc ước mơ nào đó cao
siêu hơn đời sống tầm thường.
- Riêng trong thần học Kitô giáo
thì Esprit còn được hiểu theo nghĩa đặc biệt là Thánh linh (Thần khí, Thánh
thần), một trong Tam Vị Nhất Thể của Kitô giáo. Suy ra Vie Spirituelle là sống
theo thần khí.[3]
Chẳng hiểu tại sao một giáo sư đại học Angelicum ở Roma như ông Phan Tấn
Thành lại không truy nguyên ý nghĩa gốc của từ Spiritus. Theo Encyclopedia thì
spiritus có nghĩa là hơi thở (breath). Trong ngôn ngữ Tiền Ấn Âu
(Proto-Indo-European) có từ gốc speis nghĩa là thổi (to blow). Còn trong bản
dịch Vulgate thì chữ Spiritus được dịch từ chữ Hy lạp là pneuma (πνευμα) (hơi
thở), đối lại với chữ Anima (soul, mind) được dịch từ chữ Psykhe. Như vậy, về
thuật ngữ thì chính Do thái – Kitô giáo đã tách biệt giữa hơi thở và tâm linh
thành hai đối tượng riêng biệt, cho nên trong tiếng Hy lạp Psykhe (linh hồn) đối
với Pneuma (hơi thở); còn tiếng Hebrew thì có ruach (hơi thở) đối lại với
neshama (soul), khi chuyển sang tiếng Latinh thì anima (hồn) đối lại với
spiritus (tâm linh)[4]. Và cho đến ngày nay
thì trong Kitô giáo, chữ Spiritus không còn mang nghĩa hơi thở nữa. Đó là lý do
tại sao trong suốt 6 tập đời sống tâm linh của Phan Tấn Thành, ta không thấy ông
đề cập đến hơi thở trong đời sống tâm linh. Ý nghĩa thứ ba mà ông Thành đưa ra
cho thấy, tâm linh của Kitô giáo là hướng ra ngoài, hướng lên cao. Điều đó không
có gì xa lạ vì nghệ thuật ảnh tượng của họ toàn là ngước mắt nhìn lên bầu trời
cao xa thì mang ý nghĩa thánh thiện sống động. Còn nhìn xuống như tượng chịu nạn
của Chúa Giêsu là lúc Người tắt thở.
Nói đến thế giới ngày nay là nói đến Tây Phương, bởi văn minh cơ khí đã làm ô
nhiễm tận suối nguồn sông nước ban sơ. Cho nên bất cứ ai có chút tấm lòng quy
hồi cố quận đều ngậm ngùi xót xa. Mãnh lực nào đã xô đẩy cả Đông lẫn Tây đi vào
huyệt mộ hoang liêu lạnh vắng như vậy? Chúng ta có thể đổ lỗi cho người này, chế
độ kia, tổ chức này, tôn giáo nọ được không? Một điều chua chát đó chính là con
người ngày nay không hề ý thức được mối đe dọa đó mà lại cứ cắm đầu tàn phá
khiến cho sa mạc hoang liêu ngày càng bành trướng, hố thẳm mịt mù ngày càng đào
sâu. Phải chăng nguyên nhân chính của nó nằm trong sự tách biệt giữa hơi thở và
linh hồn, giữa tinh thần hướng lên cao và hạ xuống thấp…?
Trước thảm cảnh đen tối đó, người viết mong mỏi được đưa ra ánh sáng hệ thống
giáo dục của một dòng tu đang rất phát triển ở Việt Nam mà đã có thời, người
viết là một đứa con trong hệ thống giáo dục đó. Với tấm lòng rất chân thành của
một người con hoang đàng, nếu người viết đôi khi có gay gắt lên án, phá hủy hoặc
so sánh cái hay cái dở với những truyền thống tâm linh khác thì đều nhằm mục
đích dựng xây, tái thiết tòa nhà giáo dục đó mà thôi. Ngòai mục đích đó ra,
người viết hoàn toàn không có chủ tâm gây chia rẽ, bè phái. Bởi có cuộc dựng xây
nào mà không bắt đầu bằng phá đổ, đào hầm, đập đất đâu???
II. Sơ lược hệ thống giáo
dục tâm linh trong dòng tu
Muốn trở thành một tu sĩ linh mục hay linh mục trong Kitô giáo La Mã, bất cứ
ai cũng phải theo một trình tự sau đây.
Trước hết, đối tượng tham gia phải là con chiên ngoan đạo, có lý lịch tốt
lành, gia đình nội ngọai, cha mẹ tương đối đạo đức không có ai li dị bỏ đạo, có
giấy chứng nhận rửa tội, rước lễ, thêm sức… và có độ tuổi từ 18 đến 28 tuổi.
Trình độ học vấn tùy theo hoàn cảnh xã hội, nhưng tối thiểu phải tốt nghiệp hết
lớp 12. Ngòai ra, đối tượng còn phải tham gia các lớp ơn gọi ở các giáo xứ do
các linh mục trông coi giáo xứ đó phụ trách.
Kế đến, đối tượng phải tham dự một kỳ thi hoặc được nhận thẳng vào Thỉnh viện
(còn gọi là Đệ tử viện). Ở đây họ được một linh mục gọi là Cha giám đốc và một
cha hoặc thầy dạy dỗ coi sóc với thời gian ở đây nhiều nhất là 3 năm, có lúc 2
hay 1 năm tùy theo hoàn cảnh của dòng và được gọi là Đệ tử hay Thỉnh sinh. Trong
thời gian này, ngoài bằng cử nhân do các trường đại học xã hội cung cấp, họ còn
phải học các môn học căn bản như sinh ngữ (tiếng Anh, Pháp, Latinh), Việt văn,
Nhân bản, Nhạc, Ơn gọi… Về đời sống thì các thỉnh sinh phải giữ thời khóa biểu
tương đối nghiêm ngặt gần giống như các tu sĩ đã khấn.
Kết thúc khoảng thời gian này, các thỉnh sinh phải qua một đợt bỏ phiếu của
ban giám đốc và một kỳ sát hạch do ba linh mục phụ trách phỏng vấn. Nếu thỉnh
sinh vượt qua được hai vòng này, họ sẽ được mặc áo dòng và gia nhập tập viện,
tức là nơi chuyên biệt để tập làm tu sĩ và được gọi là Tập sinh. Ở đây, họ hoàn
toàn tập trung vào việc thực tập đời sống cộng đoàn qua việc cầu nguyện, tham dự
thánh lễ chung với toàn thể tu viện cốt làm sao để cho tâm trí thấm nhuần tinh
thần của dòng. Ngòai ra họ còn phải học các môn như Truyền thống, Hiến pháp,
Lịch sử, Tâm linh của dòng mà họ theo. Thời gian ở giai đoạn này được tuân thủ
một cách nghiêm ngặt và chính xác là 365 ngày. Trong vòng 365 ngày đó, nếu có
chuyện gì làm ngăn trở tập sinh không thể tiếp tục trong vòng 2 tuần, thì người
đó phải tập lại thêm 6 tháng.
Sau khóa tập, họ phải vượt qua một vòng sát hạch do ba linh mục phụ trách và
hai vòng bỏ phiếu do tu viện hội (toàn thể những thành viên chính thức trong tu
viện) và ban cố tu viện (một số ưu tuyển được bầu bởi tu viện hội). Nếu tập sinh
vượt qua được vòng sát hạch (khảo khấn) và có số phiếu quá bán trong hai cuộc bỏ
phiếu trên, họ sẽ được khấn lần đầu và được thuyên chuyển về một cơ sở khác để
tham gia tiến trình đào tạo tiên khởi. Cơ sở này được gọi là Học viện. Ở đây, họ
chính thức trở thành tu sĩ (các thầy) và phải tuân giữ ba lời khấn Khiết tịnh,
Khó nghèo và Tuân phục mà họ đã tuyên thệ trước cộng đoàn trong một thánh lễ
hoành tráng. Trong thời gian này, họ được đào tạo rất bài bản ít nhất là 6 năm
bao gồm 2 năm triết học và 4 năm thần học (có những dòng đào tạo đến 7,8 năm).
Đây là giai đoạn chủ yếu và quan trọng nhất trong toàn bộ tiến trình huấn luyện
linh mục tu sĩ. Chính vì tầm quan trọng của nó mà hầu hết chất xám của dòng đều
được đổ về đây. Và để việc đào tạo có chất lượng, dòng phải cắt cử hai ban, một
ban phụ trách về mảng trí thức, còn một ban phụ trách về mảng tâm linh. Mỗi ban
do một linh mục có uy tín, có học vị tiến sĩ, có đời sống tu trì thánh thiện
đứng đầu. Linh mục phụ trách về tâm linh gọi là cha giáo, còn vị kia gọi là cha
Giám đốc học viện. Cho nên, ngoài việc cố gắng hoàn tất bài vở, các sinh viên
còn phải lo giữ kỷ luật tu trì như : tham dự các giờ kinh nguyện và thánh lễ
chung, tuân giữ các kỷ luật tu trì… Sau 4 năm, họ phải làm đơn xin khấn vĩnh
viễn để trở thành thành viên chính thức của dòng. Xen vào đó, các sinh viên còn
phải đi thực tập giảng thuyết, mục vụ tại các giáo xứ nhằm học hỏi để sau khi
tốt nghiệp, họ không bỡ ngỡ lạ lẫm với công việc. Sau cùng khi hoàn tất thời
gian quy định cùng tất cả các đòi hỏi của trung tâm huấn luyện, họ được chính
thức thụ phong linh mục và được cắt cử công việc tùy theo khả năng được thẩm
định trong suốt quá trình học hỏi trên.
Cuối cùng, họ còn phải tham gia những lớp gọi là Thường huấn mỗi năm một lần
do dòng tổ chức. Dịp này cũng còn được gọi là tĩnh tâm hàng năm diễn ra một tuần
để tất cả những tu sĩ linh mục đang công tác ở khắp nơi có dịp ôn cố tri tân và
cũng là để lấy lại tinh thần cho một năm phụng vụ mới.
1. Sản phẩm của hệ thống giáo
dục Tây phương
Văn minh Tây phương hiện đại là kết quả của sự kết hợp giữa văn minh Hy Lạp
và La Mã. Vì thế, hệ thống giáo dục của Phương tây cũng là sản phẩm của hai nền
văn minh trên. Nhìn lại lịch sử, sự hình thành và phát triển của hai nền văn
minh đó đều dựa vào những đô thị, thành bang có tính cách cục bộ, hạn hẹp trong
bốn bức tường thành bảo đảm, kiên cố. Nhờ tính cách kiên cố, an tòan đó, văn
minh Hy Lạp và La Mã đã phát triển cho đến ngày nay. Tuy nhiên, con người là một
sinh vật có tính xã hội, nên trong hòan cảnh và môi trường đó, dù thành bang, đô
thị có rộng lớn đến đâu cũng không thể nào mở rộng linh thể của con người, trái
lại nó còn thu hẹp, nếu không muốn nói là bóp chết cái linh thể, cái tâm linh ẩn
mật u huyền thậm thâm vi diệu hằng tồn nơi cõi lòng con người. Ở môi trường đó,
con người bị lôi cuốn vào ảo tưởng về sự tồn tại riêng lẻ, chắc chắn của sự vật.
Họ quy chụp tất cả những gì không thuộc quyền kiểm soát của họ đều là kẻ thù cần
phải tiêu diệt và chinh phục ngay tức khắc. Ý tưởng đó dần ăn sâu vào căn tính
đã giúp họ sản sinh ra những vị hoàng đế lẫy lừng với những chiến công hiển hách
trong những cuộc chinh phạt các miền đất lạ xa xăm. Chiếm được chỗ nào, họ lại
tiếp tục xây thành đắp lũy để duy trì và củng cố quyền lực ở đấy.
Chính vì sự ngăn cách biệt lập giữa các thành bang, các đô thị trong bốn bức
tường, trí óc con người cũng phát sinh những nghi hoặc úy kỵ với những cái bên
ngoài rào chắn được xây dựng lên để bảo vệ cho những gì mình chiếm được. Hình
mẫu người anh hùng của họ không phải là kẻ vô vi như Lão Đam, không phải là
người quân tử như Đức Khổng, và cũng không phải là người trầm tư mặc tưởng như
Thích Ca Mâu Ni. Trái lại, hình mẫu đó phải là người bách chiến bách thắng, thấy
cảnh thây chất đầy đồng máu chảy thành sông mà vẫn xua quân tiến tới không một
chút động lòng xót thương. Để đạt được lý tưởng đó, dĩ nhiên trong lối giáo dục,
họ cũng phải tìm mọi cách để cảnh báo những mối đe dọa đến từ người khác hoặc từ
thiên nhiên cho con em của họ. Họ chia chẻ kiến thức thành từng môn từng phần và
sắp xếp vào những ngăn riêng biệt kín mít. Hậu quả của hệ thống giáo dục đó tạo
ra con người luôn tìm cách vơ vét, bành trướng lãnh thổ, thế lực, tiền tài và
địa vị về cho mình.
Thi hào Tagore cũng cho ta thấy sự sụp đổ của giáo dục Tây phương khi hệ
thống đó lập cước trên cái nhìn thù địch với những gì xa lạ. Ông viết như sau :
“Tây phương hình như tự phụ cho rằng mình đã chế ngự được thiên nhiên, làm
như thể chúng ta sống trong một thế giới thù nghịch, trong đó ta phải giành giật
tất cả những gì ta cần đến từ một trật tự kỳ dị và ương ngạnh. Cảm thức này là
kết quả của các thói quen và nền giáo dục được hấp thụ trong phạm vi thành thị.”[5] Chính bởi lối giáo dục đó mà mỗi một bước
tới là một bước chinh phục tất cả những gì có vẻ xa lạ trong thiên nhiên bằng lý
luận rất hợp lý là để bảo tồn cái có vẻ nhân tính bên trong ghetto của họ. Hơn
nữa, họ còn trở thành một kẻ có óc hướng ngoại, chuyên môn tò mò, tọc mạch và
chia chẻ bất cứ điều gì mà họ chinh phục được từ thiên nhiên. Cụ thể là ở
Mésopotamie đã đóan xét tính cách con người dựa vào 12 cung của Hoàng đạo. Còn ở
Summer, lần đầu tiên người ta chia năm thành tháng, chia ngày thành giờ. Hệ quả
là trong hội họa Kitô giáo, người ta thấy một vị thần bịt mắt cầm chiếc cân để
cân linh hồn để lượng định việc tốt việc xấu.
Tuy nhiên, ở tận suối nguồn Hy Lạp cổ xưa, các nhà hiền triết không bao giờ
giáo dục theo lối chinh phục sự vật, trái lại họ quan niệm giáo dục theo nghĩa
của từ Hy Lạp là Paideia (παιδεία), từ này có gốc là pais, paidos
nghĩa là sự giáo dục trẻ em và tương đương với humanitas (nhân loại)
trong ngôn ngữ Latin. Như vậy nghĩa của nó là một tiến trình giáo dục con
người thành mô thức chân thực của chính họ, tức làm sao để hiển lộ chân tính của
con người hay một con người toàn diện.[6] Ở
trên cổng của đền thờ thần Apollo trong thành Delphi, người ta khắc một dòng chữ
“γνῶθι σεαυτόν (gnothi seauton) nghĩa là “Hãy tự biết mình” (Know
yourself). Đến thời Platon, trong tác phẩm République ông cho rằng giáo dục
(Paideia) là tiến trình đưa con người ra khỏi bóng tối của hang sâu để chiêm
ngắm ánh sáng huy hoàng trên thế giới ý niệm.[7]
Tiếp nối sự nghiệp của ông, Aristotle tiếp tục tiến trình đào tạo đó bằng cách
phối hợp giáo dục với từ Ethos (ἔθος) nghĩa là thói quen để đào
tạo con người trở nên công dân hoặc một ông vua tốt lành. Từ Ethos (ἔθος)
này lấy gốc của từ ethikos (ἠθικός), nghĩa là đạo đức. Sau đó từ
này được dịch sang tiếng Latin thành ethicus, chính là gốc của từ
ethics trong tiếng Anh hiện đại.[8]
Sở dĩ người viết phải dài dòng như vậy là để chứng minh rằng, càng văn minh
hiện đại theo nội dung hiện nay, con người càng mất gốc. Chúng ta thấy ở tận
suối nguồn, Tây với Đông đâu có khác gì nhau. Ý nghĩa nguyên thủy của Paideia
trong văn minh Hy Lạp đâu có khác gì ý nghĩa của từ Aletheia trong Phật giáo.
Nhưng dấu hiệu suy tàn nhen nhúm từ Platon khi ông phân biệt ra hai thế giới,
một bên là thế giới lý tưởng bất biến và tràn đầy ánh sáng, một bên là thế giới
hiện tượng biến dịch và tối tăm. Và sự phá sản bộc lộ rõ ràng khi Aristotle giáo
dục theo tiêu chuẩn thói quen đạo đức để cung ứng cho xã hội những công dân tốt
và một đấng minh quân. Giống như một vật rơi tự do, ý nghĩa uyên nguyên của chữ
paideia đã bị phá hủy hoàn toàn khi con người được giáo dục theo khuynh hướng
nhị phân, tức biến tồn lưu thành một đối tượng mà con người có thể mổ xẻ, cắt
khúc, cân đo, đong đếm. Đến thời hiện đại, Tây phương cũng đã ý thức được sự bế
tắc, sự nguy hiểm của khuynh hướng luận lý học nhị trị (two valued logic) dựa
trên những quy luật luận lý của Aristotle như định luật đồng nhất (law of
identity), nguyên lý triệt tam (law of the excluded middle), định luật bất mâu
thuẫn (law of non-contradiction) và tìm cách để vượt thoát bằng luận lý vô hạn
trị (infinite valued logic) hay khuynh hướng vô hạn giá trị (the multi-valued
orientation). Tuy nhiên, tất cả những thay đổi đó không những không cứu thoát
được nền tư tưởng Tây phương mà còn khơi thêm hố thẳm, mở rộng sa mạc cho nhân
loại tiến về hư vô.
Thảm cảnh đó đã được Heidegger đặt nghi vấn trong những dòng đầu tiên của tác
phẩm Hữu Thể Và Thời Gian : “Câu hỏi về Hữu thể ngày nay đã rơi vào trong
quên lãng, mặc dù thời đại chúng ta được xem là tiến bộ trong việc chấp nhận
siêu hình học.”[9] Ở một tác phẩm khác,
ông viết như sau : “Trên trái đất đang xảy ra một tình trạng đen tối của thế
giới. Những biến cố chính yếu của tình trạng đen tối ấy là sự trốn thoát của các
thần, sự hủy diệt của trái đất, sự đoàn ngũ hóa loài người, sư ưu đãi những gì
tầm thường.”[10] Với sự khẳng định
của một tư tưởng gia vĩ đại, ta không thể bác bỏ được thực trạng của Tây Phương
hiện đại. Tất cả những nền tảng nguyên sơ tinh ròng ẩn áo thâm sâu không còn
được người ta truy cầu, tham vấn. Thay vào đó là một đoàn lũ người chen lấn cố
tìm cho mình một chỗ đứng trong bộ máy kềnh càng của kinh tế, xã hội, triết học
được đặt trên tiêu chuẩn của trương độ và số đông. Văn hào Henry Miller cũng đã
ngửi thấy mùi tử thi bốc lên ngay ở Nữu Ước, một thiên đường của thời văn minh
hiện đại này. Trong tác phẩm Cơn Ác Mộng Được Điều Hòa Không Khí (The
Air-Conditioned Nightmare), ông nói : “Đối với New York, tôi cảm thấy, cũng
như tôi vẫn từng cảm thấy rằng đó là nơi chốn hãi hùng nhất trên trái đất này.
Dù đã bao nhiêu lần tôi trốn bỏ New York, nhưng rồi tôi vẫn bị mang về đó lại
như một tên nô lệ đào tẩu bị bắt lại, mỗi lần bị đem về, tôi lại càng thù ghét
New York, kinh tởm nó nhiều, nhiều hơn nữa.”[11] Cũng thế, Nietzsche đã đã đập vào “bộ óc” duy lý của Tây
phương bằng một chiếc búa tạ khi ông viết trong quyển Ý Chí Và Quyền Lực (Der
Wille zur Macht) : “Hoặc là chúng ta phá hủy sự sùng bái của chúng ta hoặc
chúng ta phá hủy chính chúng ta.” (chương III). Còn trong tác phẩm Hòang Hôn
Của Những Thần Tượng (Götzen-Dämmerung, oder), Nietzche phê bình như sau
: “Tư tưởng khinh miệt về sự suy tàn của các nhà đại hiền triết xảy ra rõ rệt
đối với tôi trong hoàn cảnh mà ở đó, tư tưởng mâu thuẫn, đối chọi kinh khủng
giữa hai thành kiến uyên thâm và mông muội : Tôi đã nhận ra rằng Socrates và
Platon chỉ là những triệu chứng của sự suy đồi, những công cụ của sự thối nát,
những kẻ Hy Lạp giả dối, những kẻ chống Hy Lạp.”[12]
Tư tưởng là nền tảng của văn hóa, nhưng tư tưởng cần phải được lập cước trên
siêu hình học. Có điều, ba khái niệm đó đã bị lên án gắt gao. Với Heidegger,
Siêu hình học Tây phương bị mất gốc. Với Nietzsche, tư tưởng trong suốt hai mươi
lăm thế kỷ Tây phương bị đảo hoán. Và với Henry Miller, nền văn hóa hiện đại
cũng không còn đất sống. Như thế toàn thể đời sống Phương tây đã bị chính những
đứa con ưu tú của mình lên án, bác bỏ, phỉ nhổ vào tận gốc rễ ăn sâu vào tận đáy
sâu tiềm thức của con người hiện đại. Không chỉ riêng những nhà tư tưởng được
trích dẫn trên thấy được sự phá sản của tư tưởng mà còn rất nhiều người khác
trong các lãnh vực khác đã phơi bày một một ổ kiến vô trật tự và mâu thuẫn tột
cùng trong lòng xã hội Tây phương. Nổi bật hơn hết chính là Herbert Marcuse khi
ông viết trong tác phẩm One Dimensional Man, ông đã đưa ra câu hỏi như sau : “Có
phải sự đe dọa của thảm họa nguyên tử mà có thể quét sạch loài người lại chính
là phương tiện dùng để bảo vệ những thế lực duy trì những hiểm họa này? Những nỗ
lực để ngăn chặn những hiểm họa như thế đã khiến cho việc tìm kiếm những nguyên
nhân cốt lõi trở nên mịt mù hơn bao giờ hết trong xã hội công nghiệp hiện đại.
Khi công chúng chưa kịp nhận diện, phơi bày và phản bác những nguyên nhân này
thì chúng đã biến mất trước khi những mối đe dọa rõ ràng đến từ bên ngoài, từ
Tây sang Đông cũng như từ Đông sang Tây. Công bằng mà nói, những nhu cầu cho con
người cần được chuẩn bị, những đòi hỏi cho một đời sống trong tình trạng bất ổn
và những nhu cầu cho việc đối diện với những thách đố phải được công khai rõ
ràng. Nhưng chúng ta đã biện hộ cho một viễn tượng hòa bình bằng những công cụ
hủy diệt, cho một sự toàn thiện bằng sự phá hủy, và cho việc giáo dục quốc phòng
bằng cách xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa của nguời bảo vệ và những gì mà họ bảo vệ.”[13]
Tóm lại, dù các nhà tư tưởng trên đã cố gắng đẩy lùi, diệt trừ những hiểm họa
công khai hoặc ẩn tàng xuất phát từ tư tưởng nhị nguyên, nhưng họ không thể
triệt tiêu hết bộ rễ ăn sâu ngang dọc bát phương tứ hướng trong lòng nhân lọai.
Muốn nhổ hết gốc rễ hiểm họa, họ không thể dùng chính ý niệm thoát thai từ văn
minh Tây phương được. Tuy nhiên, tất cả những tác phẩm chống đối trên lại vướng
kẹt vào vòng luẩn quẩn của ngôn ngữ ý niệm, nên hầu hết họ đã thất bại. Như vậy
hiểm họa vẫn còn ẩn hiện trong thế giới ngày nay, vậy mà vẫn còn nhiều kẻ mù
quáng chạy theo y hệt như con thiêu thân đâm đầu vào đống lửa.
2. Sắc lệnh giáo dục Kitô giáo
Trên đây, người viết đã trình bày sự phá sản toàn bộ tư tưởng Tây phương
trong tất cả các lãnh vực. Giáo dục theo mô thức Phương tây cũng không thoát ra
được vẻ mặt u ám của thời đại. Tuy nhiên từ Sắc lệnh giáo dục Kitô giáo của Công
Đồng Vatican II đến thực tế giáo dục trong các Trung tâm Công giáo ở Việt Nam
vẫn đi theo lối mòn tự hủy của Phương tây. Để thấy được tính chất giáo điều,
cứng nhắc của giáo dục Kitô giáo, trước hết người viết trình bày quan điểm của
Sắc lệnh giáo dục Kitô giáo (Declaration On Christian Education) GRAVISSIMUM
EDUCATIONIS, sau đó sẽ trình bày cụ thể hệ thống giáo dục Kitô giáo ở Việt
nam.
Ngay phần giới thiệu, người đọc phải đối diện với những cách hành văn sáo ngữ
đã xuất hiện nhan nhản trên báo chí nhằm mục đích đánh bóng những thành quả vượt
bậc của thời công nghiệp hiện đại. Đối với những ai chưa được thở bầu không khí
tự do thì rất hồ hởi với nền văn minh này. Vì thế họ đều cảm thấy vững tin hơn
vào thời đại khi, một lần nữa, được nghe chính những người đại diện đời sống
tinh thần khẳng định. Sắc lệnh viết : “Thật vậy, hoàn cảnh của thời đại chúng
ta đã tạo điều kiện ngày càng dễ dàng hơn và cấp thiết hơn trong việc giáo dục
người trẻ, thậm chí còn tiếp tục huấn luyện người trưởng thành. Một khi con
người càng ý thức về phẩm giá và địa vị của mình, họ càng mong muốn tham gia
tích cực vào đời sống xã hội, đặc biệt là trong lãnh vực kinh tế và chính trị.”[14]
Đến phần nội dung, Sắc lệnh đòi hỏi quyền được thừa hưởng một nền giáo dục
xứng hợp, không phân biệt chủng tộc, giai cấp tuổi tác. Giáo hội còn nhấn mạnh
đây là quyền “bất khả nhượng” (an inalienable right) cho tất cả mọi người vì
phẩm gía của họ. Điều này chứng tỏ, trước Công đồng, Giáo hội đã đối xử bất công
với quyền giáo dục của con người. Với chính sách ngu dân nhằm dễ bề cai trị,
giáo hội đã tạo ra một thời đại mà hầu hết các sử gia, kể cả các sử gia công
giáo phải công nhận là “Thời đại đen tối” (Dark Ages) hay “thời đại của sự man
rợ và đen tối trí thức” (the ages of barbarism and intellectual darkness).
Khởi đầu cho chính sách ngu dân đó, Giáo hội đã tìm đủ mọi cách để triệt tiêu
lọai trừ hết tất cả sách vở, tài liệu của phái Tự Ngộ (Gnostic), vì phái này chủ
trương con người chỉ có thể đạt được cứu cánh tối hậu bằng con đường tự chứng
chính mình, chứ không không phải qua trung gian của bất cứ ai, bất cứ định chế
nào. Thêm vào đó, nguyên nghĩa của từ “Gnostic” xuất phát từ chữ Gnosis (γνώσις)
có nghĩa là tri thức (knowledge). Trong tiếng Anh từ này dịch nghĩa là
tri thức thần linh của một vị thánh hay một người giác ngộ. Nó mô tả tri thức
kinh nghiệm trực tiếp về siêu nhiên và thần linh. Sau đó, Valentinius dạy rằng
Gnosis là tri thức thầm kín của trái tim hoặc là sự thấu thị về bản tính thiêng
liêng của vũ trụ, bản tính này mang ơn cứu độ cho những ai tin rằng họ có thể
đạt được sự thấu thị này.[15]
Thêm vào đó, M. Graham còn viết trong quyển “Những sự giả dối và huyền
thoại của Thánh kinh” (Deceptions and Myths of the Bible, ) như sau : “Sự
hủy diệt mọi chứng tích về phái Tự Ngộ (Gnosis) và những nguồn tài liệu đa thần
là việc làm đầu tiên của Kitô giáo.” Còn Helen Ellerbe cũng viết trong quyển
Mặt tối của Lịch sử Kitô giáo (The Dark Side of Christian history) : “Khi
nắm trong tay quyền lực, người Công giáo đã đóng cửa các trung tâm giáo dục và
đốt sách vở cũng như toàn thể các thư viện.”
Như thế, trong khoảng thời gian hơn 1000 năm, con người phải sống trong bóng
tối vô minh do một thế lực vô tiền khoáng hậu áp đặt. Họ đã hủy diệt tất cả
những gì gọi là tri thức của nhân loại. Điều ngạc nhiên nhất đó chính là Giáo
hội không cho phép người dân đọc Thánh kinh và chỉ duy có Giáo hội, tức là Giám
mục, Hồng y và Giáo hoàng mới có quyền giải thích Thánh kinh mà thôi. Cho mãi
đến thế kỷ XII-XIII, Giáo hội mới cho phép Linh mục và Tu sĩ dòng thánh
Dominique giảng lời Chúa. Sở dĩ các tu sĩ dòng này được giảng lời Chúa là vì họ
đã có công rất lớn trong quá trình tiêu diệt hoàn toàn hậu duệ của phái Gnostic
là phái Cathares. Phái này dựa vào thuyết Nhị nguyên và thuyết Tự ngộ xuất hiện
ở vùng Languedoc của nước Pháp. Thời này, có nhiều trường phái tư tưởng và thực
hành khác nhau giữa những người Cathari; một số theo thuyết Nhị nguyên, số khác
theo thuyết Tự ngộ, một số khác nữa thì gần gũi với Chính thống hơn, nhưng tất
cả đều nhằm thoát khỏi chấp nhận học thuyết Kitô giáo. Tuy nhiên, nổi bật nhất
chính là thần học nhị nguyên, nó dựa vào sự mâu thuẫn hoàn toàn giữa tình yêu và
quyền lực. Khi vật chất được xem như là biểu lộ quyền lực, nó cũng đối nghịch
với tình yêu. Họ không tin vào một Thượng đế bao trùm tất cả, nhưng họ tin vào
cả hai, và hai nguyên lý này có địa vị bằng nhau và có thể so sách được. Họ tin
rằng thế giới vật chất này là xấu xa tội lỗi và được tạo ra bởi thần ác (Rex
Mundi = king of the world), vị này thâu tóm tất cả những gì là vật chất, hỗn
mang và đầy quyền uy ; vị thần thứ hai mà họ thờ phượng thì hoàn toàn không có
hóa thân, mà là một hữu thể hay là nguyên lý tinh thần thuần túy và hoàn toàn
không bị vấy bẩn bởi vết nhơ của vật chất. Ngài là một vị thần của tình yêu,
trật tự và hòa bình.[16]
Từ quan niệm đó họ kết luận rằng Jesu không thể nào vừa nhập thể thành xác
phàm, vừa là con Thiên Chúa được và phản đối mãnh liệt dấu hiệu của tượng chịu
nạn và cây thập giá. Cho nên họ bị Giáo hội coi là lạc giáo nguy hiểm nhất, và
để đối diện với sự bành trướng mạnh mẽ của phong trào, Giáo hòang Inocente III
tiến hành một cuộc thập tự chinh để tiêu diệt toàn bộ phong trào.
Qua hai chứng cứ trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng, Giáo hội tuy tự
xưng mình là chân thật, nhưng lại đầy mưu mẹo và dối trá, lúc thì thẳng tay tiêu
diệt không còn một chút lương tâm, lúc thì “vì phẩm giá của con người, nên con
người có quyền được giáo dục bất khả nhượng…” Triệt tiêu phái Tự ngộ, Giáo hội
đã trực tiếp hủy diệt tri thức con người. Nay Giáo hội lại tuyên bố con người có
quyền được giáo dục thì còn tri thức gì nữa đâu mà giáo dục. Sách vở thư viện
thì đốt sạch, giáo sư thầy dạy thì giết hết, trường học thì phá tan, còn gì nữa
đâu mà giáo với dục.
Thiết nghĩ, giáo dục ở đây chẳng còn mang ý nghĩa nguyên thủy nữa, mà đã trở
thành một công cụ, một phương thức để lợi dụng, lường gạt với mục đích tuyên
truyền, nhồi sọ ý thức hệ cục bộ, chủ nghĩa giáo điều hiếu chiến vào tâm trí
những con chiên ngây thơ vô tội mà thôi. Chuyện đó chẳng khác gì ông bố đập cái
chén duy nhất trong nhà rồi lại bảo con lấy bát ăn cơm. Lúc đó còn bát đâu mà để
ăn cơm nữa. Giáo dục một chiều như vậy chẳng những tốn tiền tốn của tốn công tốn
sức mà còn làm thui chột con người, gây hại cho xã hội.
Tiếp đến, Sắc lệnh còn đưa ra nhiệm vụ của người giáo dục và những phương thế
giáo dục Kitô giáo, tức là dạy giáo lý nhằm để soi sáng và củng cố đức tin, nuôi
dưỡng đời sống Kitô giáo. (Foremost among these is catechetical instruction,
which enlightens and strengthens the faith, nourishes life according to the
spirit of Christ,…) Ở đây, Sắc lệnh bộc lộ tính mâu thuẫn ngay trong cách hành
văn của mình. Nguyên tắc bất di bất dịch đó chính là những nguyên lý của Thiên
Nhiên. Mà đã là nguyên lý của Thiên Nhiên thì tự chúng có một năng lực để vận
hành, không cần phải củng cố, nuôi dưỡng. Ở đâu có bàn tay con người chạm vào, ở
đó có sự bất ổn. Chỉ có những thứ chân lý nửa vời, thiếu máu, thiếu sức sống mới
cần củng cố, nuôi dưỡng mà thôi.
Giả như dạy giáo lý nhằm để củng cố đức tin và nuôi dưỡng đời sống Kitô giáo
có tính cách hoàn mỹ thì cần gì phải tôn trọng và nâng cao các phương thế khác
như các phương tiện truyền thông, các tổ chức có mục đích tập luyện tinh thần
thể xác… (the media of communication,(18) various groups for mental and physical
development, youth associations, and, in particular, schools) làm gì? Điều này
chứng tỏ rằng Sắc lệnh muốn thích ứng giáo dục của Giáo hội với giáo dục của thế
tục. Nói cách khác là tìm cách mặc chiếc áo, đi chiếc hài của giáo dục hiện đại
cho giáo dục của mình dưới danh nghĩa đổi mới, hội nhập. Chính mong muốn đó biến
Giáo hội thành kẻ tự đánh mất mình, tức là Giáo hội đã ly tính, vong tính, vọng
ngoại. Nếu hệ thống giáo dục của Giáo hội có khả năng biến đổi cái Linh thể
(Psyché) thì cần gì phải hội nhập, đổi mới, vọng tưởng theo thế tục. Trái lại,
chính giáo dục thế tục phải đổi mới theo Giáo hội mới là hợp lý, vì Giáo hội vẫn
tự hào rằng mình không chỉ giáo dục về kiến thức mà còn giáo dục về tâm linh nữa
mà. Do đó, có thể tạm kết luận rằng : bất cứ cái gì cần phải canh tân, thích
ứng, đổi mới đều không thuộc về chân lý. Chân lý là cái gì đó bất biến, nên tất
cả những cái khác phải thay đổi để thích ứng với Chân lý.
Như thế với chủ trương “Thầy dạy Chân lý”, Giáo hội trở thành một tên hề đúng
nghĩa không hơn không kém. Một khi mình là Chân lý, thì mọi cái khác tự nhiên sẽ
quy về mình. Trái lại, mình sở hữu chân lý mà lại đi thích ứng, bắt chước người
khác thì chân lý ấy là thứ chân lý gì vậy? Là một định chế tôn giáo, Giáo hội
không thiếu những kinh nghiệm tâm linh (the religious experience), sao lại phải
đi thích ứng, đổi mới, chạy theo những kinh nghiệm thế tục (the profane
experience) như vậy? Điều này đủ thấy Giáo hội đã tự mâu thuẫn với chính mình
qua sắc lệnh này.
Cho nên khi hòan thành công việc, cảm thấy áy náy, ta thêm chút mắm, chút
muối để gọi là trả ơn. Cũng vậy, ở một thời đại mà tự do, dân chủ, nhân quyền
được phát minh và phổ biến rộng rãi bởi các nhà khoa học, văn hóa, chính trị,
Giáo hội - vì sợ mất phần, mất địa vị thống trị, mất quyền sinh sát, mất hết
miếng ăn - đã vội vàng sao chép, copy rồi công bố, diễn thuyết, thuyết phục, đối
thoại dựa trên tinh thần phẩm giá, giá trị con người để đòi quyền lợi cho con
người. Nhưng tòa án lương tâm không cho phép mình khai thác những gì của người
khác mà không hòan trả, nên mới thêm vô bằng cách núp bóng những mỹ từ như “tôn
trọng” (esteems), “nâng cao” (ennoble) các phương thế khác thuộc di sản chung
của nhân loại (other aids which belong to the general heritage of man). Lý luận
như vậy chứng tỏ người viết cũng vẫn còn nô lệ thế tục. Thực tế, con người ngày
nay ảo tưởng rằng mình đã giải thiêng tất cả những gì là mê tín dị đoan và đang
sống trong một kỷ nguyên tự do nhất trong lịch sử nhân loại thì họ lại vô tình
để mình vong tính, nô lệ thảm khốc hơn không chỉ vào máy móc vật chất mà còn vào
danh từ, ý niệm như “đổi mới, bác ái, công bình, tâm linh…”
Điều đáng chú ý nhất là ở chỗ Sắc lệnh đòi buộc phải
giáo dục “luân lý” (Moral) cho các con em người Kitô giáo trong nhà trường. Thật
ra thì toàn thể giáo dục Kitô giáo đều nằm gọn trong hai chữ giáo dục “luân lý”.
Tầm nguyên ý nghĩa của từ này, một lần nữa chứng minh rằng Sắc lệnh giáo dục
chẳng qua chỉ là một mớ câu chữ vuốt đuôi, xu thời nịnh thế để tìm cách sống còn
hay vớt vát được chút nào hay chút đó. Morality có gốc từ tiếng La tinh
moralitas nghĩa là cách thức, tính cách, thái độ phù hợp (manner, character,
proper behavior). Nói rõ hơn, luân lý nghĩa là một quy luật đạo đức được dùng để
căn cứ trong những vấn đề đúng sai, đạo đức xã hội, triết lý, tôn giáo cụ thể
hoặc ý thức cá nhân.[17] Theo từ điển
Thesaurus, thì moral đồng nghĩa với ethics, nghĩa là một quy luật hay thói quen
đạo đức liên quan đến đúng và sai. (A rule or habit of conduct with regard to
right and wrong or a body of such rules and habits). Ethics lấy từ chữ Hy lạp là
ethos (habits) để kết hợp với Paideia (παιδεία) để rèn luyện một con người theo
đúng bản chất của nó.[18] Với thời gian, người ta đã bỏ mất Paideia và chỉ còn
lại ethos, nghĩa là morality (luân lý), trong quá trình đào tạo con người. Hay
nói cách khác, giáo dục Tây phương giống như một người đi lộn đầu xuống đất, tức
chỉ rèn luyện cái đầu, cái ngọn, còn cái gốc thì hủy diệt không chút xót thương.
Trong tác phẩm Ý chí và Quyền lực (the will to power), Nietzsche viết như sau :
“Tôn giáo bị hủy diệt bởi niềm tin vào luân lý. Thượng Đế luân lý Kitô giáo
không còn đứng vững : chính vì vậy chẳng còn lọai thần nào khác ngòai vô thần.”
(Religions are destroyed by belief in morality. The Christian moral God is not
tenable: hence "atheism"--as if there could be no other kinds of god.)[19] Chỗ khác, ông còn cho thấy sự nguy hiểm
của luân lý vì nó tầm thường và tẻ nhạt. Ông viết : “Luân lý bị giản lược hóa
như sau : nó dạy rằng ta đã biết đã quen thuộc con người. Ngày nay, chúng ta đã
phá hủy luân lý, và lần nữa chúng ta trở nên hoàn toàn u ám với chính chúng ta.”
(Morality has been a simplification of this kind: it taught that men were known,
familiar.--Now we have destroyed morality--we have again become completely
obscure to ourselves!)[20]Tóm lại, Sắc lệnh giáo dục của Công đồng Vatican II được cho là do “Thánh
Thần thổi” thì chẳng có gì mang ý nghĩa của cái Tâm linh, của cái Linh thể,
nếu không muốn nói là tự bản chất, Giáo hội chẳng có cái gì là linh thiêng, thâm
trầm, ẩn mật cả. Ngược lại, Sắc lệnh còn chạy theo cách giáo dục lỗi thời, phế
thải của Tây phương hiện đại đang mưng mủ, thối rữa từ bên trong khi họ phủ định
tất cả những điều thiêng liêng trong vũ trụ này. Hệ thống giáo dục đó được Jiddu
Krishnamurti đả kích rất mạnh trong quyển Trí Thông Minh Không Tách Khỏi Tình
Yêu như sau : “Chúng ta đã tách biệt trí năng ra khỏi cảm giác và trong
khi phát triển trí năng, chúng ta đã bóp chết cảm giác. Chúng ta giống như một
vật thể ba chân với một chân dài hơn hai chân kia, và chúng ta đã bị mất thăng
bằng. Chúng ta được đào tạo để thành người có khả năng lý luận; nền giáo dục của
chúng ta huấn luyện trí năng cho sắc bén, tinh xảo, có khả năng tích lũy và
chính vì thế nó đóng vai trò quan trọng nhất trong cuộc sống chúng ta.” (We
have separated intellect from feeling, and have developed intellect at the
expense of feeling. We are like a three-legged object with one leg much longer
than the others, and we have no balance. We are trained to be intellectual; our
education cultivates the intellect to be sharp, cunning, acquisitive, and so it
plays the most important role in our life.)
III.Quá trình đào tạo tu sĩ
Theo hệ thống giáo dục của Tây phương thì muốn thực hành tốt cần phải có lý
thuyết đúng đắn. Thế nhưng, ngay trong phần lý thuyết, Sắc lệnh giáo dục được
công bố với 2,290 phiếu thuận, chỉ có 35 phiếu chống đã bị đả phá trên đây thì
làm sao trong phần thực hành, các giáo hội địa phương có thể thực hiện đúng
được. Đó là chưa kể đến việc phải mất một khỏang thời gian để đưa ra sắc lệnh,
một khỏang thời gian để công bố, phiên dịch, giải thích sắc lệnh cho các giáo
hội địa phương. Đến khi Sắc lệnh tới tay giáo hội địa phương thì dòng chảy giáo
dục thế tục đã lật sang trang mới. Còn các giáo hội địa phương thì phải thực
hiện, thi hành những cái lạc hậu, cổ hủ mà cứ tưởng rằng hiện đại, mới mẻ. Đủ
thấy giáo hội nô lệ vào danh từ ý niệm đến mức ngay cả Ba Ngôi Thiên Chúa cũng
phải ganh tỵ, bởi chúng vâng lời danh từ, chữ nghĩa hơn là vâng lời Chúa.
Về vấn đề này, nhà tư tuởng Ấn độ Kamalasila cho rằng, sự hủy diệt có hai
lọai nghĩa, nghĩa thứ nhất là “tính cách nhất thời của một sự thể”, và nghĩa thứ
hai là “ly tán”; theo ông chữ “Ksana” là chỉ tính cách một cái gì đó chịu hủy
diệt ngay từ vừa lúc được phát sinh ra, bản tính của một sự thể thoáng hiện
thoáng mất được gọi là Ksana… cái gì cũng thóang hiện, thoáng mất, tất cả mọi sự
đều biến đổi, không có sự thể gì là trường tồn cố định… có chỗ người ta giải
thích rằng khi ta búng tay một cái thì có 60 Ksana và mỗi một ý tưởng thoáng qua
trong đầu có 90 Ksana, và điều quan trọng là trong mỗi một Ksana thì có 900
người ra đời và chết.[21] Với tư
tưởng này thì tất cả những cái gọi là Thượng Đế, Ngã, Thiên đàng, hỏa ngục, hòa
bình, chiến tranh… đều không còn đất sống. Nên từ khi Giáo hội họp công đồng cho
đến khi mỗi người Kitô hiểu biết để thực hiện thì đã gần nửa thế kỷ trôi qua
(1964), nói theo nhà Phật thì vô lượng kiếp đã đi qua rồi. Thực tế là cho đến
ngày nay, ngoài một thiểu số tu sĩ linh mục đọc hết Công đồng Vatican II (mới
chỉ đọc hết thôi, chưa nói đến khía cạnh thực hành), thì phần còn lại là đa số
giáo dân chẳng biết mô tê ất giáp gì hết. Chính vì không trực nhận được sự biến
đổi không ngừng của vũ trụ, nên Giáo hội phải chịu hậu quả vô cùng thảm khốc, dù
đã dùng trăm phương ngàn kế, vẫn không giải quyết được tệ nạn lạm dụng tình dục
trẻ em của các linh mục trên khắp thế giới, cũng như các vấn đề như ngừa thai,
phá thai, hôn nhân đồng tính, hiệp nhất tôn giáo nhất thần…
1. Giai đoạn sơ khởi
Trong mục II, người viết đã trình bày sơ
lược tiến trình đào tạo tu sĩ linh mục. Ở phần này, người viết muốn so sánh, đối
chiếu với nền giáo dục tâm linh của Đông phương.
Trong tác phẩm Tây Tạng Huyền Bí Lạt
ma Lâm Bá kể lại cuộc đời của mình phải trải qua một quá trình rèn luyện rất
nhiều gian khổ mới được công nhận là một Lạt ma, mặc dù kiếp trước, ông đã tu
tập rất nhiều. Ông viết như sau : trước khi ông xuất gia, cha ông nói
với ông : “Cha nói thật cho con biết: Nếu con không được thâu nhận vào tu
viện thì con đừng trở về nhà. Chừng đó con sẽ bị đối xử như một người xa lạ ở
cái nhà này”[22]. Tương tự như vậy,
trong tác phẩm Đường Mây Trong Cõi Mộng Đại sư Hám Sơn cũng phải trải qua
cách giáo dục rất khó khăn của bà mẹ. Năm lên 7 tuổi, vì sức khỏe yếu đuối, nên
cha mẹ ông nuông chiều, do đó ông sinh tật lười biếng, học hành chẳng ra sao.
Thấy vậy, bà mẹ quyết định gửi con đi học cách nhà một con sông. Một lần vì nhớ
mẹ, ông về thăm và chỉ muốn ở nhà luôn. Không chịu được tình cảm yếu đuối nhu
nhược của con trai, bà lấy roi đánh đuổi ra tận bờ sông, nhưng ông cũng không
chịu lên thuyền, bà liền xô ông xuống sông rồi bỏ về nhà không thèm quay đầu
lại. Bà giải thích với bà ngoại rằng : “Xưa nay, bao nhiêu thiếu nhi hư hỏng
cũng chỉ vì sự nhu nhược của người trong gia đình…”[23]
Hơn nữa, nằm trong một môi trường địa lý khắc nghiệt, người dân Tây Tạng nếu
muốn tồn tại giữa thiên nhiên kinh khủng đó thì họ cần phải sản sinh, huấn luyện
những con người can trường, dũng mãnh đủ sức chịu đựng với môi trường thiên
nhiên. Cho nên, họ có quan niệm giáo dục rất khác với các dân tộc khác. Chẳng
hạn khi đứa bé mới sinh, ông bà liền đem nó ngâm trong nước lạnh cho đến khi nào
thấy da nó đỏ au, rồi chuyển sang xanh rờn mới nhấc nó lên. Để giải thích lý do,
trong tác phẩm Tây Tạng Huyền Bí, tác giả viết như sau : “Nó sống lại
chăng? Đó là các thần linh đã quyết định như thế. Nếu nó chết, thì đó lại càng
hay vì nó khỏi phải chịu những sự khổ đau về sau này của cuộc đời trần thế!
Người ta không thể làm gì khác hơn dưới một khí hậu gắt gao như ở Tây Tạng.
Không nên có những kẻ bịnh hoạn, yếu đuối ở một xứ mà mọi phương tiện cứu trợ y
tế đều thiếu thốn: Thà để vài đứa bé sơ sinh chết còn hay hơn”[24] Người Việt chúng ta cũng thường khuyên
bảo nhau rằng : Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.
Về vấn đề này, đạo sư Osho quan niệm mới mẻ hơn : Ngay
từ khi mới sinh ra, người ta phải cắt rốn cho nó. Đó là điều kiện cần thiết, nếu
không đứa trẻ sẽ không sống được. Khi cắt cuống rốn, người ta đã cắt đứt nguồn
năng lượng sống của nó, đó là lý do tại sao tất cả trẻ em đều phải cất tiếng
khóc chào đời. Không khóc, tức là nó không ý thức được nguy hiểm của sự tách
biệt với nguồn sống và điều đó đồng nghĩa với sự chết. Kế đến, tự nhiên mách bảo
cho nó rằng, năng lượng sống được kết nối qua bầu sữa và nó dùng đôi môi để tìm
về núm vú của bà mẹ. Nếu không được bú sữa mẹ hay không được tiếp xúc với trái
tim ấm áp của người mẹ, con tim đứa trẻ sẽ không bao giờ được nuôi dưỡng và
nhiều khả năng nó sẽ chẳng bao giờ cảm nhận được sự bình an trong cuộc sống. Ông
nói : “Bất cứ đứa trẻ nào bị tách khỏi bầu sữa mẹ càng sớm thì chúng sẽ càng
khó khăn trong việc kinh nghiệm sự bình an trong cuộc sống của chính chúng. Sự
bất an sâu xa sẽ chiếm ưu thế trong cuộc sống của chúng ngay từ lúc đầu đã không
được bú mẹ.”[25]
Nhìn vào đời sống thực tế của các trẻ em trong gia đình
Kitô giáo, chúng ta sẽ thấy sự ngu xuẩn của cha mẹ chúng và những người dạy dỗ
chúng như Giáo lý viên, Masơ và thầy dòng và các Linh mục. Toàn bộ những lời dạy
dỗ của họ là một số bài học đạo đức, tinh thần vâng lời, chăm chỉ học hành…,
thậm chí có nơi còn đem ma quỷ, hỏa ngục ra hù dọa, cảnh cáo… Ngoài những câu
giáo lý trong sách bổn đồng ấu mà các bà sơ và ông cha tìm đủ mọi cách nhồi nhét
vào đầu óc bọn trẻ, đôi khi chúng cũng được đi cắm trại, picníc, dã ngọai, thể
thao… Nhưng mục đích chính yếu của những họat động này là để tìm cách lôi kéo
bọn trẻ đi học giáo lý, tham gia phong trào để thi đua thành tích với các giáo
xứ khác. Như vậy, trong suốt quá trình niên thiếu, Giáo hội không hề dạy bảo lũ
trẻ chúng tôi biết cách phát triển và bảo vệ trung tâm năng lượng ở rốn. Lý do
chính yếu chính là Giáo hội chỉ là con đẻ của Platon, Aristotle, nên họ chỉ tin
vào lý trí. Họ đâu có biết rằng, bóng đêm, sông nước, cây cối, núi cao chính là
những nơi để trẻ con phát triển trung tâm năng lượng rốn của mình. Trái lại, họ
còn cấm đóan bọn trẻ tiếp cận, mặc dù chúng rất thích. Nếu ai vô tình ngăn cản,
họ lý sự : Tại tôi thương nó, thì tôi mới cấm, chứ để nó đi chơi như vậy, lỡ bể
đầu, gãy tay thì sao???… Bởi họ chưa bao giờ nghe Nietzsche nói rằng : “Nếu
muốn phát triển nhân cách của mình, hãy sống một cách nguy hiểm.” Không có
gốc rễ làm sao cây đâm chồi nảy nụ, làm sao cây chịu đựng được với phong ba bão
tố cuộc đời.
Ngay cả ở nơi trái tim, bọn trẻ chúng tôi cũng chẳng
được chỉ dẫn làm thế nào để cho trung tâm năng lượng ở trái tim được nuôi dưỡng.
Có thể nói, cha mẹ, họ hàng, giáo xứ chỉ nhân danh tình thương bắt buộc bọn trẻ
chúng tôi phải đi thờ đi lễ, học hỏi giáo lý khó hiểu, khô khan, lạnh lùng, nhàm
chán. Còn việc ôm ấp, vuốt ve, cho bú cho mớm, họ chỉ làm theo bản năng và theo
bổn phận trách nhiệm. Chứ họ hoàn toàn chẳng được các vị “thầy tâm linh” của họ
chỉ dạy làm thế nào để phát triển con tim. Có những bà mẹ tới ngày tới tháng là
bắt đứa bé phải cai sữa, trong khi theo luật tự nhiên thì mỗi đứa trẻ có nhu cầu
khác nhau, nên phải cho chúng bú cho đến khi nào chúng tự động bỏ sữa mẹ mới
thôi. Thậm chí có những bà mẹ Công giáo sợ bị xệ vú, không còn bộ ngực đẹp đẽ
của thời con gái, nên cấm không cho con bú.
Hệ quả là tất cả mọi thế hệ người Công giáo hoàn toàn mù
quáng về tình yêu mặc dù ngày nào họ cũng được “các đấng các bậc” lải nhải về
tình yêu, tình thương. Osho nói trong tác phẩm Hành Trình Nội Tại: “Khi
trung tâm trái tim kém phát triển, thì sẽ gây ra một điều bất khả : đó là những
gì trái tim và rốn chưa hoàn tất, thì trí óc bắt buộc phải thi hành cho xong…”[26] Thật vậy, tình yêu không thể đến từ trí
óc được. Điều đó cũng giống như là ta không thể giải được cơn khát, nếu chỉ nghĩ
về cơn khát. Tình yêu chỉ có thực khi nó đến từ trung tâm quả tim, chứ không thể
ngồi đó nghĩ về tình yêu là có thể yêu được. Chẳng có điều nào giả dối cho bằng
yêu bằng trí óc. Khi sanh một đứa trẻ ra, bổn phận của họ là kết án chúng có tội
tổ tông, sau đó đem đến nhà thờ rửa tội, đến 5, 6 tuổi bắt đi học giáo lý, bắt
đi thờ đi lễ là xong nhiệm vụ. Bất cứ ai cũng phải làm như thế, nếu ai làm khác
chắc chắn sẽ bị rút phép thông công. Nên chẳng ai có đủ can đảm ngâm đứa bé
trong nước lạnh như bà già Tây Tạng, chẳng ai đẩy con mình xuống sông như mẹ Đại
sư Hám Sơn, cũng chẳng có ai dám tập cho con mình phát triển trung tâm năng
lượng ở rốn và tim.
Như vậy, ngay từ thiếu thời, bọn trẻ chúng tôi chỉ mang
tiếng là có đạo, chứ chưa bao giờ chúng tôi biết sống đạo. Chính
vì những cái bất an, chán nản, buồn phiền - mà chính những người như cha mẹ ông
bà, masơ, cha cố đã gây ra - khiến cho bọn trẻ không còn cảm nghiệm được thế nào
là bình an trong tâm hồn. Cho nên, khi trưởng thành đa số chúng quay lại trả thù
bằng cách bướng bỉnh, quậy phá, chời bời, hút chích… để đòi lại những gì chúng
đã bị lấy mất hồi ấu thơ. Thiểu số còn lại cũng có tinh thần hướng thượng, nên
mơ ước neo đời mình vào nhà dòng, tu viện, nam thì ít, nhưng nữ thì nhiều. Tuy
nhiên, để đạt được an bình trong nội tâm không phải một năm hai năm là được, cần
phải tập cả đời, có người phải trải qua cả vô lượng kiếp mới đạt được. Cái tế
vi, tức là sự bình an, không thể cân đo đong đếm bằng thời gian hay bằng số
lượng. Lấy tiêu chuẩn thời gian để xác định sự bình an nội tâm là một điều ngu
xuẩn nhất trong tất cả mọi điều dốt nát. Nếu ngay từ bé, đứa trẻ không quen với
bình an nội tâm, thì lớn lên nó phải cần nhiều thật nhiều nỗ lực mới có thể đạt
được.
Trên đây là nguyên nhân thứ nhất chứng minh giáo dục
Kitô giáo không có hai chữ “tâm linh”. Tiếp đến, cũng trong giai đọan sơ khởi
này, chúng ta sẽ thấy giáo dục Kitô giáo hoàn toàn không có tính “tâm linh”
trong quá trình thu nhận đệ tử.
Để tham gia một dòng tu, ngoài những điều kiện được giới
thiệu sơ lược trên, ứng sinh phải được một người có uy tín như linh mục giới
thiệu vào nhà dòng. Sau đó họ phải trải qua một kỳ thi tuyển để trắc nghiệm kiến
thức phổ thông. Nếu vượt qua, họ sẽ được nhận vào nơi gọi là thỉnh viện để bắt
đầu giai đọan tìm hiểu. Ở giai đọan này họ chỉ đơn giản giữ một số kỉ luật do
ban Giám đốc đề ra và học một số môn để tìm hiểu về ơn gọi của một dòng. Ngoài
ra, một qui luật bất thành văn mà ai cũng phải giữ đó là đức “khiết tịnh”. Nếu
ứng sinh vi phạm mà bị phát giác thì đương nhiên ứng sinh đó bị loại. Tóm lại,
chỉ cần một người “bình thường” theo tiêu chuẩn của xã hội cùng thời, họ sẽ được
nhận vào dòng tu.
Đối với các tu viện trong phật giáo Tây Tạng, cách thu nhận
ứng sinh của họ hoàn toàn khác. Tiêu chuẩn mà họ đặt ra đầu tiên không phải chỉ
giới hạn trong những tri thức thường nghiệm. Cái mà họ yêu cầu nơi các ứng sinh
chính là tinh thần kiên gan bền bỉ sống chết với con đường mình sắp bước đi.
Trong tác phẩm Tây Tạng Huyền Bí, Lạt ma Lâm Bá thuật lại rằng : Khi ông
cùng hai thiếu nhi khác đến gõ cửa tu viện Chakpori, tu viện này vừa là một đạo
viện vừa là một trường y khoa có tiếng là kỷ luật rất cao, thì một ông tăng tay
cầm cây gậy đến quát: “Chúng bay muốn gì lũ tiểu quỷ? Chúng bay tưởng rằng
tao không có việc gì làm khác hơn là mở cửa cho lũ tiểu yêu chúng bay sao?”
Lâm Bá đáp : “Chúng tôi muốn trở nên tu sĩ.” Ông tăng đáp : “A! Tu sĩ?
Tụi bay giống như lũ khỉ thì đúng hơn. Hãy đứng đợi tại đây, vị Chưởng Môn đòan
Sơ Cơ sẽ tiếp khi nào người có thời giờ.” Cánh cửa đóng sầm lại khiến chúng
tôi súyt té. Một vài canh sau, một ông sư khác đến, ông dọa nạt đuổi thằng con
người mục đồng và nhào tới đánh thằng nhóc con ông đồ tể khiến nó bỏ chạy như ma
đuổi. Còn lại mình Lâm Bá, ông sư nói : “Còn thằng nhỏ này! Mi là ai? ... A
ha! Con một vị hoàng thân quốc thích mà muốn trở thành tu sĩ. Nhưng trước hết mi
phải chứng minh giá trị của mi tới đâu, cùng những gì mi có trong bụng. Đây
không phải là chỗ của những con nhà quý tộc ươn hèn, nhu nhược. Mi hãy lui lại
bốn chục bước và ngồi yên tại chỗ theo tư thế ngồi thiền cho đến khi có lệnh
mới. Cấm không được cựa quậy chí đến một sợi lông nheo!” Để được nhận vô tu
viện, Lâm Bá đành phải ngồi theo thế kiết già ba ngày (chỉ ban đêm mới được ngủ
tại chỗ) và chịu nhiều áp lực của thời tiết khí hậu băng giá khắc nghiệt đến nỗi
Lâm Bá chỉ muốn chết đi cho đỡ đau đớn, cô đơn trong đêm tối và cái lạnh cắt da.
Ông nói : “Tôi mong sao được chết trong đêm nay, tôi không còn chịu đựng được
nữa.”[27]
Lâm Bá chính là hóa thân của một Lạt ma, tức là
kiếp trước ông đã tu hành đến bậc thậm thâm, vậy mà kiếp này, ông vẫn phải trải
qua những thử thách kinh khủng như vậy. Điều đó cho ta thấy, muốn đạt được cảnh
giới Bất nhị, muốn chứng được quả Bồ tát, hành giả đã phải rèn luyện kinh khủng
như vậy. Còn nếu muốn cứu độ chúng sinh, hành giả còn phải vượt qua nhiều thử
thách nữa, chứ không bao giờ được dừng lại thỏa mãn những cái mình đang có.
Một tấm gương sáng ngời nữa trong việc tầm sư học
đạo chính là Milarepa, con người siêu việt. Vốn là một người thông thạo huyền
thuật và dù đã trả thù ông chú bà cô ác độc chiếm đọat tài sản của mẹ mình,
Milarepa vẫn cảm thấy bất an. Nên khi nghe vị Lạt ma nói về sự vô thường của đời
sống và những đau khổ của những sinh linh trên thế gian rồi, Lạt ma trầm tư về
cuộc sống của chính mình. Cả đời Lạt ma đã dùng huyền thuật để gây ra sự chết
chóc và hủy diệt rồi lại còn dạy huyền thuật đó cho người khác. Vì thế ông ta
phải chịu nghiệp báo cho những hành động tội lỗi đã gây ra và khuyên Milarepa đi
tìm thầy học đạo để giải thóat chính mình và tương lai có thể thành Lạt ma.
Được lời như mở tấm lòng, Milarepa lập tức lên
đường để tìm đến một Lạt ma để học đạo. Nhưng vị này có minh kiến rằng mình
không phải là vị thầy thích hợp, nên ông giới thiệu Milarepa đến dịch giả Marpa
(Marpa the Translator) để học đạo. Tìm được Marpa, Milarepa đã làm tất cả những
gì mà Marpa yêu cầu, nhưng chàng vẫn chưa được sư phụ truyền dạy. Cụ thể là ông
bắt Milarepa xây một ngôi nhà đá trên mỏm đá cao với mục đích bắt chàng phá sập
nó xuống, rồi lại lấy tất cả những viên đá đó vác trên vai đem trở về chỗ cũ,
trong khi đó ông tiếp tục thay đổi kế họach và muốn xây một căn nhà mới ở nơi
khác. Công việc nặng nhọc và phi lý này đã được làm đi làm lại trên ba mỏm núi
khác nhau và cuối cùng, Milarepa đã xây thành một dãy nhà nhiều tầng. Suốt quá
trình thi hành nhiệm vụ, Milarepa không bao giờ nghi ngờ về việc mình sẽ được
truyền thụ giáo pháp mà chàng đang khao khát, nên với sức mạnh phi thường chàng
đã vác những tảng đá mà bình thường phải ba người đàn ông mới vác được. Chàng đã
dùng quá sức đến nỗi thân thể bị suy nhược cho đến khi cái lưng của chàng bị
thương rất nặng vì phải mang đá và hồ. Tứ chi cũng bị trầy xước, bầm tím. Nhưng
chàng vẫn tiếp tục làm việc và mỗi ngày đều hy vọng rằng chàng sẽ được hưởng ân
huệ học giáo pháp. Cảm thông với những vết thương của học trò, Marpa chỉ cho
chàng cách đệm tấm lót trên lưng và cho phép nghỉ ngơi để chữa bệnh, nhưng không
cho phép Milarepa bỏ việc xây cất mà chàng đã bắt đầu cho đến khi hoàn tất.[28]
Không chỉ dừng lại ở đó, Milarepa còn trải qua rất nhiều
sự thử thách không thể diễn tả hết bằng giấy mực của thầy. Và đã có lúc, chàng
bỏ sư phụ Marpa để đi tìm thầy khác, nhưng vì nhớ lòng từ mẫu của bà Marpa, nên
chàng quay lại cảm ơn. Bà Marpa đã trách chồng quá nghiêm khắc, nhưng ông vẫn
“chứng nào tận ấy”. Ông nói : “Này Đại phù thủy, đừng có do dự như vậy. Nếu
anh thật quyết tâm đạt cho được giáo lý thì anh phải chuẩn bị hy sinh ngay cả
thân mạng của anh nữa đấy. Bây giờ hãy đi đi. Đi xây cho xong ba tầng nhà cuối
cùng rồi lòng khao khát vĩ đại của anh sẽ được thỏa mãn. Nhưng nếu anh có tí
nghi ngờ nào thì hãy đi nơi khác đi, vì như thế ta chỉ phí mất cơm gạo quí giá
cho anh thôi.”[29]
Cuối cùng với lòng tin không thối chuyển, Marpa đã
truyền giáo pháp cho chàng và từ một lưỡi tầm sét han gỉ, Milarepa trở thành
viên ngọc quý sáng ngời khắp cả lục đạo. Ông nói : “Duy trì trạng thái tỉnh
thức và vô minh sẽ tan biến. Lưu ngụ trong cô đơn và bạn sẽ tìm thấy bạn hữu.
Đến những nơi thấp nhất và bạn sẽ đạt được nơi cao nhất. Hãy vội vàng và bạn sẽ
mau tới. Từ bỏ tất cả những mục đích trần gian và bạn sẽ được mục đích tối hậu.”[30]
Ra khỏi truyền thống giáo dục tâm linh Tây Tạng để đi
vào truyền thống Ấn Độ, chúng ta sẽ được nghe đến một học giả lừng danh xuất
thân từ Đại học Nalanda, ông là một trong những học giả trấn giữ cửa Bắc của Đại
học tên là Naropa. Nhưng khi trực kiến thấy một bà già nhăn nheo, xấu xí bảo
rằng chẳng có ai hiểu được mật nghĩa của chánh pháp ngọai trừ anh trai bà là
Tilopa, tâm trí Naropa dâng lên niềm sùng kính thâm sâu và nước mắt chảy đầm
đìa. Lập tức ông hỏi Tilopa ở đâu để tìm đến học đạo. Bà già trả lời : “Đối
với Tilopa thì nơi nào cũng là nhà. Ông hiện hữu ở mọi nơi. Nếu tâm trí ngươi
tràn đầy niềm sùng kính và lòng tin tưởng, và khao khát kiếm tìm ngài, đó chính
là hướng đi để gặp ngài.”[31]
Với hai bàn tay trắng và lòng sùng kính thâm sâu, Naropa
lên đường tìm Tipola. Ông đã phải đối mặt với tất cả những nghịch cảnh mà không
nản lòng như đói khát, thú hoang, rắn độc… Tất cả được sưu tầm thành mười hai
kinh nghiệm sợ hãi của Naropa (Twelve Fearful Experiences of Naropa). Cuối cùng,
Naropa cũng gặp được Tilopa đang ngồi câu cá. Ông tiến đến phủ phục với tất cả
lòng tôn kính và xin được học giáo pháp. Tilopa từ chối vì người thuộc hòang gia
làm sao có thể làm môn đệ người câu cá. Có điều, Naropa vẫn cương quyết đuổi
theo, nhưng không bao giờ đuổi kịp Tilopa dù ngài đi bộ hay chạy nhanh. Một lần,
khi thấy Tilopa ngồi trên tảng đá cao, Naropa tiến lại xin học đạo, Tilopa bảo
nếu ngươi nhảy xuống dưới kia mà không chần chừ, ta sẽ dạy. Lập tức Naropa nhảy
xuống gãy hết xương. Cuối cùng, sau bao nhiêu đau khổ, Naropa lại đến xin học
giáo pháp. Với vẻ mặt vô cùng giận dữ, Tilopa lấy dép đập vào mặt Naropa khiến
ông ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, Naropa đạt được tâm thức ngang bằng thầy.
Trở thành bậc chân sư, Naropa lại vô cùng từ ái, nhẹ
nhàng, âu yếm với học trò của mình là dịch giả Marpa y như tình mẫu tử của người
mẹ với người con.
Trở về với Thiền tông Trung hoa, ta cũng thấy rất nhiều
tấm gương tầm sư học đạo. Với Nhị tổ Huệ Khả (Thần Quang), sau khi phải đứng
suốt đêm, tuyết ngập đến đầu gối mong ân sư giảng đạo. Bồ Đề Đạt Ma mới hỏi : “Ý
ngươi muốn gì?” Thần Quang đáp : “Con mong hòa thượng cứu độ.” Tổ nói
: “Đạo vô thượng không thể nghĩ bàn, ngươi đâu có thể đem chút công đức nhỏ
mọn mà cầu được.” Nghe vậy, Thần Quang bèn lấy dao bén tự chặt tay trái dâng
lên và xin cầu pháp an tâm.[32]
Đến thời Huệ Năng đi cầu pháp, ta cũng sẽ thấy Ngũ Tổ
chê bai, khinh khi, nhục mạ mà Huệ Năng vẫn một mực xin theo. Đơn thân khăn gói
lên đường tầm sư học đạo, bỏ lại mẹ già hưu quạnh bên hiên, sau 30 ngày ông đến
huyện Hòang Mai, vào chùa Đông Thiền bái tổ Hoằng Nhẫn. Tổ hỏi : “Ngươi từ
đâu đến?” Huệ Năng thưa : “Từ Lĩnh Nam đến”. “Đến đây muốn cầu
việc gì?” Tổ hỏi tiếp. Ông thưa : “Đến đây để cầu làm Phật, ngòai ra
không cầu việc gì khác.” Tổ nói : “Người Lĩnh Nam giống mọi rợ, không có
Phật tính, làm sao cầu làm Phật được.” Huệ Năng đáp lại : “Người có chia
nam bắc, Phật tính nào có chia nam bắc bao giờ.”[33]
Nói tóm, toàn bộ truyền thống giáo dục tâm linh của Đông
phương là lấy tâm truyền tâm, tức là tùy căn cơ, nghiệp lực của mỗi cá nhân mà
ông thầy chỉ dạy, chứ không phải lập ra một hệ thống chặt chẽ được xếp đặt bởi
lý trí biện biệt, minh bạch, rõ ràng lệ thuộc vào thời gian và không gian. Tinh
thần tầm sư học đạo đó không chỉ giới hạn trong lãnh vực tôn giáo mà lan rộng ra
mọi lãnh vực của đời sống như võ thuật, binh pháp, hội họa, văn chương… Hình
tượng Tôn Ngộ Không trong tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân cũng lập cước trên
tinh thần giáo dục đó. Hầu Vương sau khi lên ngôi ở động Thủy Liêm đã ngộ ra lẽ
vô thường của vạn sự, nên quyết tâm lặn lội cô thân vượt ba đào sông núi để tầm
sư học đạo. Cái hay của Ngô Thừa Ân ở đây chính là nghệ thuật ẩn dụ vẽ mây nẩy
trăng khiến cho cái Tinh anh, cái Huyền ngôn Mật ngữ không bị bóc trần, vạch
mặt, chỉ tên, định nghĩa, cắt xén theo điệu nhà trường lý sự so đo.
Trên cuộc hành trình vô định, Mỹ Hầu Vương gặp ai cũng
hỏi. Duyên lành đã tới khi người kiếm củi chỉ đường đến núi Linh Đài Phương
Thốn, trong động Tà Nguyệt Tam Tinh có một minh sư là Tổ Bồ Đề, chân truyền của
Đức Phật. Thực ra, Phương Thốn 方寸 (Heart) chính là tấc lòng. Đối với
Lão giáo thì Phương Thốn còn là huyệt đan điền cách rốn ba đốt ngón
tay và đây cũng chính là trung tâm năng lượng rốn mà Osho cho rằng nó là chỗ nối
kết với linh hồn. Đó cũng chính là lý do tại sao hình tượng ông Địa, Phật Di Lặc
lại có cái bụng rất to. Đơn giản là vì chữ “Phúc” (腹), theo Hán Việt từ điển của
Đào Duy Anh, còn có nghĩa là “bụng”, còn “Hạnh” (行) nghĩa là “đức hạnh”, nên
“hạnh phúc” có nghĩa là cái bụng chứa đầy nhân đức. Nói khác, người hạnh
phúc là người có cái bụng to hay trung tâm rốn phát triển hoàn toàn. Còn Linh
Đài (靈臺),theo từ điển Cao Đài có nghĩa là chỗ ngự của linh hồn, hay cái Tâm,[34] theo Lão giáo Linh đài cũng là cái Tâm.
Tiếp đến, bốn chữ Tà Nguyệt Tam Tinh (斜月三星)
có nghĩa là một vầng trăng khuyết ba sao giữa trời. Suy ra, hình ảnh
trăng khuyết và ba sao chính là ý nghĩa tượng hình hay cách chiết tự của chữ Tâm
(心).[35]
Như thế, núi Linh đài Phương thốn và động Tà nguyệt Ta
tinh chính là con đường nội quán, con đường trở về cái Anh nhi chi tâm
hay Phản bổn hòan nguyên của Lão Tử. Còn Thiền tông cũng chẳng đi
ra ngòai con đường Tức tâm tức phật hay Bình thường tâm thị đạo.
Do đó, muốn đạt được cái Chân Tâm Phật Tính thì hành giả phải tự mình lên đường
tìm kiếm, tự mình trau dồi, học tập với lòng tin sắt đá và tinh thần trơ gan
cùng tuế nguyệt để trở về với chính mình. Trên cuộc lữ hành miên trường đó, hành
giả phải giữ tâm mình an định, không mong đợi thành quả chứng đắc, không phụ
thuộc thời gian không gian, không sợ nghịch cảnh cũng chẳng cầu thuận cảnh, chỉ
đơn độc quán chiếu tâm mình trong từ sát na niệm tưởng dấy khởi, và chỉ đơn
thuần trực kiến, không đánh giá được mất, hơn thua, xấu tốt. Đến một lúc nào đó
giống như trái chín rụng xuống gốc cây, hành giả sẽ trực ngộ cái Tâm thuần
khiết, cái Bất Nhị, cái Tinh anh của chính mình.
Qua những dẫn chứng trên, chúng ta có thể tạm kết luận
rằng, đối với truyền thống giáo dục tâm linh của Đông phương, nếu muốn làm chủ
được cái tâm tế vi, tinh nhuyễn thì trước hết cần phải làm chủ xác thân thô lậu,
sù sì này. Do đó, bài học nhập môn mà bất cứ hành giả nào cũng phải trải qua đó
là luyện tập hơi thở, trầm tư mặc tưởng, ngồi im bất động. Một khi đã làm chủ
được thân xác thô lậu của mình, thì hành giả sẽ dần dần làm chủ được tâm linh,
bởi tâm trí và xác thân không phải là hai thực thể riêng rẽ, biệt lập, nhưng là
một tổng thể hòa hợp, không thể tách rời. Vượt qua những thử thách ban đầu, có
nghĩa là hành giả chỉ còn một “cú hích” nữa để vượt thóat khỏi sinh tử luân hồi,
thõng tay giữa chợ mà tâm vẫn sáng sủa minh nhiên. “Cú hích” đó chính là nhiệm
vụ của ông thầy. Cho nên, không có chân sư dẫn đường, hành giả không thể chứng
ngộ; nhưng không có lòng tin và tinh thần tinh tấn quên mình vì đạo lý, thì thầy
cũng đành bất lực. Tilopa đã giải thích nguyên do tại sao ông lại bắt Naropa
phải chịu nhiều gian khổ, tủi nhục như sau : “Sự việc mà ta đẩy ngươi vào
những hoàn cảnh quá nhiều đau khổ như vậy không phải là ta độc ác. Nhưng vì ác
nghiệp của ngươi không thể được tẩy xóa bằng những cố gắng của riêng ngươi. Chỉ
khi nào ngươi thực sự trải nghiệm những khó khăn gian khổ, thì khi ấy ngươi mới
có thể thanh lọc được ác nghiệp mà bấy lâu nay che phủ không cho ngươi thấy được
Chân tâm Phật tính. Qua tất cả những trải nghiệm khó khăn, gian khổ đó, ngươi đã
không nảy sinh một niệm hồ nghi, phân vân, hay những quan điểm sai lầm nào, mà
còn thi hành triệt để những gì ta mong muốn. Cuối cùng ngươi đã vượt qua những
tình cảm mâu thuẫn để chứng nghiệm được giải thóat.”[36]
Nhìn lại truyền thống tâm linh của Kitô giáo, ngòai tấm
gương từ bỏ vật chất, giàu sang của một gia đình thương gia nhiều tiền lắm bạc
và một cuộc tình đầy thi vị với nàng Clara của thánh Phanxico Assidi để đi theo
tiếng gọi của Chúa, ta không còn thấy một cuộc từ bỏ nào quyết liệt, mạnh mẽ có
thể gây xúc động lòng người. Thậm chí, chỉ cần một sự từ bỏ như thánh Inhaxiô,
tổ phụ Dòng Tên, vốn dĩ là một sĩ quan quân đội, cũng được ca tụng và trải thảm.
Thánh Biển Đức chỉ vì chán cảnh sống nhàm chán ở thành thị, nên tìm về nơi thanh
vắng sống ẩn dật. Còn thánh Augustinô theo đạo vì đọc hạnh thánh Antôn nên bỏ
đạo Mani và lập tu luật tên Regula ad servos làm nền tảng cho đời sống cộng đòan
cho đến ngày nay. Cũng vậy, thánh Thomas de Aquin cũng được cha mẹ khuyến khích
đi tu làm tổ phụ, vừa có quyền thế lại vừa có gia sản kếch sù, nhưng ông không
nghe và đi theo dòng hành khất, tức dòng Đaminh.
Nói tóm, đối với Kitô giáo, bước đầu gia nhập đời sống
tâm linh là một việc tương đối dễ dãi. Thậm chí, ứng sinh nhiều khi còn được
trải thảm, hứa hẹn một cuộc sống không chỉ sung túc đời này mà còn được hưởng
Thiên đàng cả đời sau nữa. Nghĩa là chỉ cần có một chút ham muốn, cộng thêm một
lý lịch trong sáng và biết cách “vâng phục” là có khả năng gia nhập bất cứ một
cộng đòan tu trì nào. Dĩ nhiên, sự khởi đầu đó kéo dài 2, 3 năm, nhưng cường độ
để trắc nghiệm một người có khả năng tiến triển trong đời sống tâm linh thì nhẹ
nhàng, nếu không muốn nói là hời hợt, qua loa và đại khái. Đó cũng chính là lý
do khiến Kitô giáo có số lượng nam nữ tu sĩ đông đến nỗi Chúa Thánh Thần mang
tiếng là khôn ngoan, thông hiểu tất cả mọi sự lại không thể biết có bao nhiêu
dòng tu. Hơn thế nữa, vấn đề thời gian chiếm một vị trí quan trọng trong tiến
trình giáo dục. Bất cứ ai, không phân biệt già trẻ lớn bé, sẽ được xếp thành một
lớp đúng vào lúc họ gia nhập. Theo lớp đó, họ phải thi hành đầy đủ bổn phận gần
như giống nhau cho đến hết thời gian đào tạo. Bất cứ một cá nhân nào không thi
hành bổn phận được bề trên hay Hiến pháp quy định rõ ràng, minh bạch thì bị đào
thải, hoặc tự động rút lui.
2. Giai đọan nhà tập
Sở dĩ người viết dài dòng ở giai đọan sơ khởi như vậy là
vì theo Đông phương, đầu cũng là cuối và cuối cũng chính là đầu. Nếu trong giai
đọan khởi đầu, hành giả không đáp ứng được những thử thách của ông thầy thì coi
như họ không có duyên để hòan thiện chính mình trong kiếp này. Với cái nhìn cục
bộ, hạn hẹp trong một kiếp sống thì người ta sẽ không đồng ý cách giáo dục quá
khắc nghiệt của các vị thầy Đông phương. Nhưng dưới nhãn quan của người thực
chứng được vô lượng kiếp thì chẳng có gì phải lo ngại khi kiếp này người đó
không có cơ hội thực tập đời sống tâm linh. Ngay chính Đức Phật, Ngài cũng phải
trải qua vô lượng kiếp mới đạt được bậc chánh đẳng chánh giác, huống hồ là phàm
phu tục tử như chúng ta. Một giai thọai trong Phật giáo kể rằng một ông tăng và
một thường dân đến hỏi Phật rằng, chừng nào chúng tôi mới được giác ngộ. Với ông
tăng, Phật nói, ông chỉ còn hai ba kiếp nữa. Ông tăng tỏ vẻ thất vọng liền bị
đọa vào hàng ngạ quỷ. Với thường dân, Phật trả lời, ai chứ ngươi thì còn phải
trải qua vô lượng kiếp mới được giác ngộ. Ông không những không buồn phiền mà
trái lại còn vui vẻ nhận lời chờ đến ngày đó. Ngay lập tức ông được tái sinh vào
cõi trời Đâu suất. Do đó, nếu quan niệm thời gian là một đường thẳng như các tôn
giáo nhất thần sẽ khiến cho con người vội vã, khẩn trương tìm cầu ở những đối
tượng bên ngoài. Trái lại, với quan niệm thời gian là một vòng tròn, các tôn
giáo Đông phương rất dễ hướng nội, hài lòng với kiếp sống của mình.
Như đã giới thiệu, ở giai đọan này, ứng sinh ít phải lo
lắng thu thập kiến thức. Họ chỉ cố gắng làm sao thích ứng với nếp sống của cộng
đòan, tức là tập cho quen với thời khóa biểu mà một tu sĩ phải sống suốt đời.
Sáng họ thức dậy sớm để nguyện kinh thần vụ và dâng thánh lễ. Sau đó họ cũng
phải tập trung để học một số môn bổ túc đời sống chiêm niệm. Trưa họ viếng Thánh
thể rồi sau đó là bữa ăn trưa. Nghỉ ngơi xong, họ phải thức dậy đọc kinh mân
côi. Chiều tối họ lại nguyện kinh thần vụ và mỗi tuần một lần, họ phải chầu
Thánh thể một tiếng đồng hồ. Như thế, ai cũng phải hòan thành những công việc ấy
trong một ngày, giả như vắng mặt bất kỳ một buổi nào mà không có lý do, ngay lập
tức, họ được “viếng thăm” bởi một ông linh mục gọi là Cha giáo tập. Nếu ốm đau
bệnh tật thì không sao, nhưng ngủ quên hoặc lười biếng thì sẽ bị “chú ý”. Thậm
chí, nếu mắc bệnh nan y thì kể như người đó bị lọai. Có những nhà dòng còn đưa
ra tiêu chuẩn thế tục về lượng để nhận ứng sinh.
Lý do cũng chỉ vì, là con đẻ của hệ tư tưởng Phương tây,
nên Kitô giáo cũng phân biệt bệnh tật thể xác tách biệt với bệnh tật tâm hồn. Do
đó, những gì là thế tục, là thân xác hèn mọn, họ bỏ qua một bên, không thèm chú
ý, họ chỉ lo hướng thượng, chuyên tâm vào những việc gọi là tâm linh và còn tự
xưng mình là “bác sĩ tâm linh, kỹ sư tâm hồn”. Đó là cách nói thậm xưng, thực ra
họ hòan toàn không biết y học ngày nay đã khẳng định, nguyên nhân của tất cả
bệnh tật là do tâm lý quyết định đến 70%, chưa kể hết những bệnh tưởng, bệnh
thời đại, bệnh stress… Như thế, chỉ cần tinh thần lành mạnh, tức khắc thân xác
sẽ khỏe mạnh theo, cũng vậy, thân xác chỉ cần được tự do, thỏai mái và được thỏa
mãn những nhu cầu thiết yếu, tức khắc tâm linh cũng lành mạnh. Nói khác, không
hề có sự tách biệt giữa thể xác và tâm hồn, hai là một, một là hai, chính xác
hơn nữa là chẳng có hai thực thể xác và hồn, đó chỉ là hai ý niệm, là ảo ảnh, là
mộng huyễn như sương sa, như điện chớp của con người hiện đại. Huệ Năng đã từng
nói : “Bản lai vô nhất vật. Hà xứ nhạ trần ai.” Có thể nói, cái thô lậu,
cụ thể, nắm bắt được bằng giác quan, thế mà Kitô giáo không biết cách điều phục,
làm chủ, thì làm sao họ có thể nhiếp phục cái tâm tế vi, tinh nhuyễn được. “Bác
sĩ tâm linh hay kỹ sư linh hồn” chẳng qua chỉ là những mỹ từ được dùng để họ mua
chuộc tín đồ không hơn không kém.
Khi còn ở nhà dòng, có một linh mục làm bề trên của một
tu viện. Không biết may hay rủi cho ông ta khi tu viện ấy lại “sở hữu” một ông
thánh Martin rất hay làm phép lạ, đặc biệt là phép lạ chữa bệnh. Từ ngày thành
lập Đền kính thánh Martin cho đến nay, người ta đồn rằng có rất nhiều phép lạ.
Cho nên, cứ đến ngày lễ kính ông thánh là dân chúng từ khắp nơi đổ về xin khấn,
xin lễ rất đông. Những dịp như vậy, một ngân khỏan rất lớn từ túi khách hành
hương được chuyển vào tủ sắt của tu viện. Chuyện ông thánh có làm phép lạ cho
các tín hữu, bổn đạo thuần thành đó hay không và phép lạ đó có hiệu quả như thế
nào thì chưa thể nghĩ bàn ở đây. Tuy nhiên, ông bề trên đó chẳng may bị bạo
bệnh, khiến cho hai con mắt không còn thấy đường. Ông cuống cuồng chạy chữa khắp
nơi, hết nhà thương này đến nhà thương kia. Vốn là một tu sĩ linh mục nhiệt tình
vơ vét các linh hồn đến nỗi chẳng ăn chẳng ngủ, đến khi một mình đối diện với
cơn bệnh, ông sinh ra chán nản thất vọng, rồi than rằng chẳng có anh em nào hỏi
han chăm sóc. Thiết nghĩ, đó có thể là một quả báo khi ông, với cương vị là bề
trên, đã quyết định cho một người anh em bị suy thận phải hồi tục, dù anh ta vẫn
còn khao khát đi tu.
Vấn đề được nêu ra không phải là quả báo, nhưng chính là
lý do tại sao ông ta “sở hữu” một chuyên gia làm phép lạ chữa bệnh, lại không
“ra lệnh” cho chuyên gia đó chữa bệnh cho mình và cho người anh em mà chạy đi
tìm chữa, xin xỏ, nhờ vả người thế tục chữa cho mình, còn người anh em kia thì
bị tống cổ về nhà? Phải chăng ông thánh Martin không biết làm phép lạ chữa bệnh
cho anh em của mình? Phải chăng tu viện đã lợi dụng thánh thần để lấy tiền của
con chiên ngoan đạo, chứ chẳng hề có ông thánh ông thần nào làm phép lạ chữa
bệnh hết? Một ông thánh mà người ngòai thì chữa, còn người nhà thì bó tay làm
sao có thể gọi là thánh được? Đã là thánh thì không thể phân biệt thân sơ, ta
người, trái lại còn phân biệt thì còn là giả danh, là lừa đảo bởi chân lý nửa
vời chỉ phá họai, chứ không thể xây dựng được. Nếu thế thì cướp đêm là giặc
cướp ngày là “cha” chứ không còn là “quan” nữa.
Một vấn đề nữa cần phải bàn trong giai đọan này chính là
tinh thần duy cơ khí của Kitô giáo, chứ không phải là tinh thần tâm linh đúng
theo nghĩa nguyên thủy. Tất cả những ai trong giai đoạn này đều phải thi hành
những công việc và bổn phận hoàn toàn giống nhau. Khác biệt duy nhất được khuyến
khích chính là đọc thêm nhiều kinh, năng viếng nhà nguyện, chia sẻ lời Chúa… Còn
tất cả những gì hơi trệch khỏi quỹ đạo được thiết định sẵn đều được chỉnh sửa
ngay lập tức. Ngay cả những cái được cho là mang tính tâm linh cũng chỉ là nhãn
hiệu mà thôi. Còn thực chất chính là ve vuốt và thỏa mãn cái bản ngã chuyên loay
hoay kiếm tìm những lời an ủi rẻ tiền, lời động viên hời hợt, lời tâng bốc nhàm
tai của những kẻ vẫn còn mang trong mình bóng tối u minh, lại tự cho mình là
uyên bác, thấu suốt cổ kim, sở hữu được chân lý.
Chính vì thế, những công tác được giao cho các tập sinh
phụ trách trong thánh lễ hay lĩnh xướng trong kinh nguyện luôn là một gánh nặng.
Nếu thánh lễ hay kinh nguyện chuyển tải được ý nghĩa tâm linh hay nói khác là sự
thánh thiện, chắc chắn họ sẽ không coi các công việc trong thánh lễ, trong kinh
nguyện là một cái gì gò bó, nặng nhọc. Thánh Tôma đã từng nói : “Sự thiện có
tính quyến rũ.” Vậy thì, lý luận theo luận lý của Aristotle, bất cứ cái gì không
có tính quyến rũ đều là sự ác, thánh lễ kinh nguyện không có tính quyến rũ nên
thánh lễ kinh nguyện là sự ác. Đó là lý luận đúng theo kiểu giáo dục của Kitô
giáo, bởi nói gì thì nói không có Aristotle làm gì có thánh Tôma để mà hôm nay
trước thầy sau tớ lao xao, kẻ tung người hứng đề cao chính mình, trò thì phụ
họa linh tinh, thầy thì minh chứng chứng minh lòng vòng… rằng thì là Tôma đã
“rửa tội” cho Aristotle, rằng thì là Tôma đã làm một cuộc cách mạng tư tưởng. Có
thể nói, lý do của sự tẻ nhạt, nhàm chán trong những việc được gọi là tâm linh
vì người ta đã quá đề cao tinh thần máy móc khoa học và đem áp dụng tính minh
bạch, chính xác đó vào đời sống tâm linh. Cho nên, mỗi cá nhân trong cộng đòan,
dù được gọi là huynh đệ, đồng chí, anh em…, cũng chỉ là một bộ phận trong guồng
máy, hay một con cờ trong tòan thể ván cờ. Căn cứ trên phương diện tham gia đầy
đủ các giờ thánh lễ, kinh nguyện và nhất là số lượng ứng sinh tham gia các dòng
để định lượng đời sống tâm linh của cộng đòan này, dòng tu kia, tôn giáo nọ là
một việc làm ấu trĩ. Việc đó chẳng khác nào cái mồ mả đầy thúi tha mà bên ngòai
tô vôi trắng sáng.
3. Giai đoạn học viện
a. Trí thức
Giai đọan này có thể nói là giai đọan cốt lõi trong tiến
trình đào tạo một “kỹ sư tâm hồn”. Việc thành bại của một cộng đòan đều tùy
thuộc vào giai đọan này. Do đó, tất cả các nhà dòng, hay các chủng viện đều dồn
hết tâm lực vào giai đọan này để cố làm sao đào tạo những chuyên gia quảng cáo,
những bác sĩ tâm linh, những kẻ lưới người, những thợ gặt thành thạo, lành nghề,
giỏi biện luận, giảng thuyết hùng hồn, và nếu cần sẵn sàng tử vì đạo. Với tính
chất quan trọng như vậy, sinh viên phải tập trung hết sức, vận dụng hết trí nhớ
cốt làm sao để ghi tâm khắc cốt những tín lý, luân lý, giáo lý, giáo luật, tông
thư, tông huấn, chú giải… làm hành trang rao truyền chân lý.
Như đã giới thiệu, giai đọan này kéo dài từ 6 đến 7 năm
trời. Muốn làm linh mục, tức thầy dạy tâm linh, ai cũng phải trải qua một thời
gian như thế. Muốn làm bề trên, hay giáo sư học viện hay chủng viện, thì ngòai
6,7 năm đó ra còn phải có bằng cấp tiến sĩ của các đại học Công giáo bên Pháp,
Đức, Ý… cấp cho. Ngòai con đường duy nhất ấy ra, không có chuyện khơi khơi, lưng
lửng không trường không lớp, chẳng học chẳng hành mà được giảng giải lời Chúa
trước cộng đòan tín hữu. Điều đó hoàn toàn trái ngược với cách giáo dục của các
thiền sư Nhật Bản. Một đệ tử hỏi về thời gian học bắn cung, sư phụ trả lời : “Không
thể đo lường con đường dẫn đến mục đích! Ngày giờ năm tháng mà có ý nghĩa gì.”[37] Sống lâu lên lão làng là một kinh
nghiệm chẳng hay ho gì.
Chính vì thế, ai cũng phải cố gắng nhồi nhét cho vừa,
cho đủ tất cả một đống thượng vàng hạ cám từ Thánh kinh, thần học, triết học cho
đến các môn học xã hội như xã hội học, tâm lý học v.v… Ai không có khả năng thu
thập thì tìm cách nhờ vả, thậm chí còn dùng phương thế hạ đẳng như quay cóp
trong thi cử hầu mong đủ điểm để vượt qua những môn học khô khan và giáo điều.
Cứ mỗi lần đến kỳ thi, Trung tâm học vấn phải huy động tòan bộ nhân viên để canh
gác, kiểm tra rất chặt chẽ không khác gì những kỳ thi tuyển sinh đại học ở ngòai
đời. Có những ông cha làm giám thị còn vào tận trong nhà vệ sinh để theo dõi các
“thầy dạy chân lý tương lai” có gian lận trong thi cử hay không. Khi còn là sinh
viên trong nhà dòng, người viết đã tận mắt chứng kiến một sinh viên năm cuối, đã
được bỏ phiếu làm Phó tế, lại quay bài trong thi cử. Cách giáo dục như thế chỉ
tạo ra những bộ máy, chứ không thể tạo ra con người sáng tạo. Thích Minh Châu đã
viết như sau : “Con người giáo dục không phải chỉ là một chuyên viên kỹ thuật
trong một phạm vi trí thức nhất định mà là kẻ phê phán truyền thống và những giá
trị hiện đại.”[38] Phê phán sáng tạo
mới là thực chất của giáo dục. Còn làm theo, bắt chước, học thuộc lòng đích thị
là một nền giáo dục giả dối, vô minh.
Hậu quả là sinh viên đó phải xin lỗi trước cộng đòan;
còn một sinh viên nộp đơn khấn trọng cũng bị khước từ vì tội gian lận trong bài
thi. Đó mới chỉ là bề nổi của một cơ chế khô cứng và nhàm chán. Điều đáng khen
là họ cũng dám công khai việc đó. Nhưng cũng chẳng cải thiện được bao nhiêu, vì
hầu hết sinh viên đã có thâm niên trong lãnh vực quay góp, góp nhặt ở trường
đời, do đó thua keo này họ bày keo khác khiến cho các lão bề trên, cũng từng góp
nhặt của người khác, chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Về phía sinh viên thì cũng có
người bất mãn, nhưng đa số âm thầm chịu đựng, nín hơi qua sông, ráng làm sao cho
hết năm học là bỏ tất cả vào sọt rác y như một gánh phân hôi thúi cần thải đi
sớm chừng nào hay chừng ấy, còn thiểu số thì chống đối trong vâng phục và tìm
cách khác để luồn lách. Chính người viết cũng đã làm một việc sao chép nguyên
văn bài của người khác làm bài của mình để thử xem có qua mặt được giáo sư hay
không. Kết quả là vị giáo sư đó chẳng hề hay biết gì và cho bài viết đó đạt điểm
đậu.
Với cái nhìn thế tục, hay nhà Phật gọi là tục nhãn, thì
nguyên nhân chính là do các sinh viên không đủ khả năng để tiếp thu, nên mới có
tình trạng gian lận trong thi cử. Trái lại, với cái nhìn rộng hơn thì nguyên
nhân không chỉ do sinh viên lười học hay không có khả năng, mà còn do tính hấp
dẫn, nhất là mức độ gây ngạc nhiên của môn học. Môn học nào càng gây ngạc nhiên,
càng thỏa mãn óc tìm tòi học hỏi, môn học đó tức khắc thu hút được sinh viên.
Còn môn học nào càng mang tính giáo điều, nhồi sọ càng tạo khỏang cách với sinh
viên, nếu không muốn nói là giết hại ngay chính người dạy và học môn đó. Do đó,
việc sa thải, cảnh cáo bằng cách bắt sinh viên xin lỗi chỉ giải quyết được một
mặt; trong khi mặt kia, tức phương pháp giáo dục nhồi sọ, khô khan, cứng nhắc
vẫn hiên ngang tiến bước không hề thối chuyển thì chẳng thể nào giải quyết được
vấn đề. Cho dù có thấu suốt kim cổ đông tây bằng cách nhồi sọ, con người xét cho
cùng cũng chỉ là trò chơi của Tạo Hóa. Người ta đã nói, càng học càng ngu, đi
càng xa, kiến thức mình càng hẹp. Kim Dung đã cho ta thấy bài học đó khi ông để
cho Trương Vô Kỵ với Càn Khôn Đại Nã Di và Cửu Dương Thần Công bị thất bại dưới
tay Chu Chỉ Nhược, Vương Ngọc Yến thấu suốt tất cả võ học trong thiên hạ, nhưng
lại không biết dùng võ công, Tạ Tốn là một Tả sứ trong Minh giáo hiếm có người
so bì trên giang hồ lại thua thằng nhãi Trương Thúy Sơn. Một người xứng đáng với
ngôi võ lâm minh chủ thì lại chết sớm như Trung thần Vương Trùng Dương[39]. Thế mới hay cái lẽ trời, khôn khoan
nhường ấy dại khờ ngay đây.
Một nguyên nhân nữa chính là tinh thần máy móc qua việc thi
cử và đánh giá năng lực dựa trên điểm số khiến cho các sinh viên nảy sinh tính
so đo, tính tóan, tranh giành. Người được điểm cao thì kiêu căng tự đắc, kẻ được
điểm thấp thì mặc cảm tự ti, bới lông, tìm vết những sơ hở của người khác để cho
thiên hạ thấy rằng cái điểm cao đó chỉ là nhất thời may mắn thôi, chứ có gì tài
giỏi đâu… Thực tế đã có sinh viên làm hết sức mình, thức khuya dậy sớm, sôi kinh
nấu sử chỉ để mong được đi du học nước ngòai về làm giáo sư. Còn thầy giảng nào
có mộng đi nước ngòai mà cảm thấy khả năng của mình còn yếu thì tìm cách đi cửa
sau, tức là nâng bi, bợ đít bề trên, giáo sư, giám đốc để kiếm được chiếc vé du
học, rồi về lên lớp, lên thầy với đàn em. Nhất là trong các tiểu luận và luận
văn, tòan là sao chép, trích lục, chế biến một cách thô thiển của người khác,
thậm chí có sinh viên còn lấy luôn tiểu luận của người khác, đổi tên, đổi số,
đổi tựa đề làm tiểu luận của chính mình… Bệnh thành tích là một nguy cơ làm thui
chột sức sáng tạo của con người. Một nền giáo dục tâm linh cần phải thấy trước
hiểm họa đó và giúp cho sinh viên giải thoát mình khỏi cái tôi phù phiếm. Chính
cái tôi đó đã khiến môn sinh bị kẹt vào sự thành công và danh tiếng, hai cái
tường sắt thành đồng này là chướng ngại rất lớn cho môn sinh giải thoát chính
mình. Albert Einstein đã nói như sau : “Bởi lẽ một cộng đồng với các thành
viên bị tiêu chuẩn hóa và thiếu vắng đặc tính và mục đích cá nhân sẽ là một cộng
đồng nghèo nàn, không có khả năng phát triển. Trái lại, cứu cánh của giáo dục
phải là sự huấn luyện hành động và suy nghĩ độc lập cho cá nhân, người nhận thức
rõ ràng vấn đề đời sống quan trọng nhất của anh ta khi phục vụ cộng đồng.”[40]
Tóm lại, vì là sản phẩm của giáo dục Tây phương, nhưng lại không có đủ năng
lực để bắt chước, làm theo, cho nên, hết năm này đến năm khác, hết thay đổi này
đến thay đổi khác, hết thầy làm trung tâm rồi đến trò làm trung tâm trong việc
giáo dục…, cũng chẳng thay đổi được cách dạy và học những tri thức thường
nghiệm, chứ chưa nói đến việc giáo dục tâm linh. Có thể nói, cách giáo dục của
Trung tâm học vấn này chưa thể sánh với cách giáo dục của Trương Tam Phong dạy
cho Trương Vô Kỵ trong tác phẩm Ỷ Thiên Đồ Long Ký của nhà văn Kim Dung. Khi dạy
cho Vô Kỵ môn Thái Cực Quyền, theo lẽ bình thường thì ông phải hỏi: “Con đã nhớ
hết chưa?” Trái lại, ông hỏi : “Con đã quên được bao nhiêu chiêu thức rồi?” Lần
đầu Vô Kỵ trả lời : “Con quên một nửa rồi.” Ông khen tốt, nhưng càng dạy ông
càng hỏi đã quên hết chưa và đến khi Vô Kỵ quên hết thì ông gật đầu hoàn tất bài
học. Nhớ để quên hay quên để nhớ chính là huyền ngôn mật ngữ của Đông phương. Đó
chính là không còn cái “bản ngã” lăng xăng hư ngụy, mà là cảnh giới nhất như
giữa con người chủ thể và kỹ thuật chiêu thức khách thể. Cũng vậy trong nghệ
thuật bắn cung của các thiền sư Nhật Bản, họ không bao giờ cho đệ tử nghĩ đến
việc bắn, họ bắt đệ tử bằng mọi giá phải quên việc bắn đi. Nói khác, quên việc
bắn tức là buông xả tự ngã của mình một cách toàn triệt, không dùng trí năng để
điều khiển nữa, mà chuyển việc điều khiển đó xuống trung tâm rốn bằng hơi thở
nhẹ nhàng. Một sư phụ đưa ra một thí dụ như sau : “Chỉ vì anh không buông xả
mình thật sự nên mới cảm thấy thế. Mọi việc rất đơn giản. Nội một chiếc lá tre
tầm thường cũng có thể chỉ cho anh biết cần phải làm gì… Nó cứ cong xuống mãi
dưới sức nặng của tuyết , rồi thình lình tuyết tuột xuống đất mà chiếc lá không
cần lay giũ. Hãy cứ giữ y như lá tre lúc sức căng đã đến mức tối đa cho tới khi
cú bắn lìa ra. Thật thế, khi sức căng đã đến mức tối đa thì cú bắn phải lìa, nó
phải buông lìa cung thủ như tuyết lìa khỏi lá tre trước khi cung thủ nghĩ đến.”[41] Bắt sinh viên thuộc lòng một chủ thuyết
nào đó, ngay cả thuộc lòng Kinh thánh, là một việc làm tàn ác và dã man hơn cầm
dao giết người.
b. Tâm linh
Về vấn đề trí thức thường nghiệm, ta vẫn có thể cảm thông cho những thiếu
sót, bất cập. Nhưng ngay đến những vấn đề được mệnh danh là giáo dục tâm linh,
Kitô giáo cũng tỏ ra rất hời hợt và ấu trĩ. Nói thế chẳng khác nào kết luận,
toàn bộ giáo dục của Kitô giáo không có tâm linh. Thật ra họ không những không
có mà còn sở hữu cả một thư viện những tác phẩm nghiên cứu về tâm linh. Chỉ cần
có lệnh là cả một đòan quân tầng tầng lớp lớp giày đen bóng lóang, chùng thâm
tha thướt, cà cuỗng cao cao, áo dòng trắng xóa… tràn ra như nước vỡ bờ, kẻ tung
người hứng, trước thầy sau tớ lao xao nhặng xị, nào là phương pháp cầu nguyện
này, nào là cách thức thần hiệp kia… bày bán một cách rõ ràng, đẹp mắt khiến
thiên hạ phải trầm trồ tấm tắc khen hay. Thường thì cái thùng rỗng lại hay kêu
to, cho nên sau những công đồng, công nghị, tông thư, sắc lệnh được thổi phồng,
đánh bóng, ca ngợi là nhân bản, bác ái, nguồn sống mới bởi các phương tiện thông
tin đại chúng, cuộc sống của các tín hữu vẫn đâu vào đấy, chẳng có gì gọi là
thay đổi ngòai bổn phận đi thờ đi lễ, xưng tội.v.v…, nhiều khi còn tạo thêm hiềm
thù, chia rẽ ngay trong những người rêu rao cảm thông, bác ái, yêu thương.
Cụ thể là vụ tranh cãi giữa nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dưới sự chỉ đạo
của các dòng và Ủy Ban Phụng Tự dưới quyền điều khiển của Giám mục về vấn
đề phiên dịch quyển sách lễ Rôma dùng trong phụng vụ thánh lễ. Quyển sách lễ
Rôma đã được Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch trước năm 75 và được sử dụng phổ
biến trên tòan quốc. Trong khi đó, Ủy Ban Phụng Tự do Giám mục Trần Đình Tứ làm
chủ tịch là một phẩm trật nắm quyền điều hành các quy tắc cử hành phụng vụ lại
không kiểm sóat được nguồn thu nhập từ việc phát hành quyển sách lễ Rôma. Hơn
nữa, Ủy Ban Phụng Tự không có những chuyên gia đủ năng lực để dịch một phiên bản
mới từ tiếng Latinh xứng tầm với bản dịch cũ. Lâu ngày chầy tháng, trâu buộc
ghét trâu ăn, Ủy Ban Phụng Tự mới dùng hạ sách cả vú lấp miệng em và dùng quyền
để thay đổi một vài chỗ trong bản dịch cũ với lý do là dịch không sát nghĩa. Sau
đó Ủy Ban Phụng Tự đem xuất bản lại và giữ bản quyền. Thấy miếng ăn bị hớt tay
trên, Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ bắt đầu lên tiếng đòi lại công bằng. Hệ quả là
một tranh luận gay gắt nổ ra giữa hai bên. Dĩ nhiên phần thắng luôn thuộc về kẻ
có quyền, nhưng một số linh mục trong Nhóm Các Giờ Kinh vẫn ngang nhiên dùng bản
dịch cũ. Hiệp nhất, yêu thương đâu không thấy, chỉ thấy tòan chia rẽ, thù hằn vì
một quyển sách, cái thứ mà nhà Phật không những bị coi là mộng huyễn bào ảnh mà
còn cảnh báo đó chính là nguyên nhân ngăn cản không cho hành giả giác ngộ.
Câu truyện đốt sách trong nhà thiền chứng tỏ rằng văn tự chữ nghĩa chỉ là tục
đế, chỉ là phương tiện như chiếc bè giúp hành giả qua sông hay ngón tay chỉ
trăng, chấp vào chúng chẳng khác gì tà ma ngọai đạo. Thời Tống Huy Tông, thiền
sư Viên Ngộ đem một trăm tắc của Tuyết Đậu ra bình chú. Đến thời Tống Cao Tông,
đồ đệ của Viên Ngộ là Phổ Chiếu biên chép lại để tên là Bích Nham Lục. Thiền sư
Viên Ngộ biện tài siêu xuất, văn chương tuyệt vời nên tên Bích Nham đã làm dư
luận chấn động một thời. Song sau khi Thiền sư tịch, đệ tử chỉ nhớ tụng ngôn cú
trong sách làm nhu yếu biện luận tri giải, phản lại bản nghĩa “Giáo ngoại biệt
truyền, bất lập văn tự”. Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo là đệ tử nối pháp Viên Ngộ,
thấy tệ ấy buồn than, bèn mang bản gỗ chất trước sân chùa cho một mồi lửa thiêu
sạch, dứt lưu truyền ngang đây. Ngót hai trăm năm sau, trong tòng lâm ít ai thấy
được quyển sách này.[42] Vì một quyển
sách, bên thì không từ thủ đọan nào để hạ bệ đối thủ, anh em, huynh đệ; bên thì
đốt sạch sách vở để học trò thóat khỏi vọng tưởng chấp mê.
Một sự kiện nữa cũng chứng minh cách giáo dục độc tôn của
Kitô giáo đó chính là tư tưởng bài trừ các tôn giáo khác. Vấn đề này đã được
minh chứng rất rõ trong lịch sử tồn tại và phát triển của Kitô giáo. Đó chính là
Tám cuộc thánh chiến kéo dài trong 10 thế kỷ, tòa án dị giáo (Inquisitions) và
quen thuộc nhất đối với người Việt chính là A. de Rhodes đã đòi chém Thích Ca
trong Phép Giảng Tám ngày. Thêm vào đó, Kinh “Nhật Khoá” của Giáo phận Sài gòn,
được Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình duyệt y, ngày 19.3.1971, có đoạn cầu ông
“thánh” Phan-ci-cô Xa-vi như sau: “Ông Thánh Phan xi cô là môn đệ rất xứng
đáng của ông Thánh I-nha-xi-ô (Ignatius)
¨ là quan thầy các nước
Đông phương;
¨ là kẻ nghịch đạo dị
đoan;
¨ phá tan đạo bụt thần ma
quỉ;
¨ là lính rao tiếng Đức
Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”
Theo đoạn kinh này thì hơn 90% dân Việt Nam không theo Công giáo đều là những
tên mọi rợ, cần phải tiêu diệt tất cả.[43]
Đó chính là chứng cứ lịch sử đã qua, còn hôm nay, chính người viết đã được
nghe trong các giờ huấn đức do một vị bề trên vô cùng đạo đức thánh thiện giỏi
giang uyên bác phán rằng : dù các bài dạy đạo đức của Khổng Tử có hay đến mấy đi
nữa thì cũng chẳng bằng Tin mừng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trước khi
vọng ngôn hoa ngữ về ý tưởng này, ngài cho chúng tôi một bài học về đức công
bình, một trong những đức công bình là không nói xấu người khác sau lưng, vì như
vậy là không cho người ta có cơ hội để biện giải, và đó chính là một thái độ bất
công. Chẳng hiểu sao vừa mới hùng hồn lên lớp khai tâm điểm nhãn cho chúng tôi,
thì ngay sau đó ngài lại thiếu đức công bình khi hạ bệ đạo đức của Khổng Tử mà
không cho Khổng Tử hay con cháu của ông biện giải. Nguyên tắc là không ai có thể
cho những gì mà mình không có, ai làm trái với nguyên tắc này đều là kẻ giả
hình. Muốn đề cao Tin mừng của Chúa Giêsu thì đâu có gì khó, dù cả thế giới có
đề cao Tin mừng mà không thực hành đúng theo những gì Tin mừng dạy thì cũng chỉ
là mộng huyễn bào ảnh, như mây trong mộng như đốm giữa trời mà thôi. Việc này
càng chứng tỏ rằng, cái tính tâm linh chỉ là mỹ từ để quảng cáo vơ vét tín đồ
trong siêu thị tôn giáo mà thôi, còn thực chất của tâm linh là dung nhiếp tất cả
những đối cực thành nhất thể hòa hợp viên dung trong cảnh giới vô ngại tự tại
thong dong niết bàn thì lại hòan tòan không có chỗ đứng trong nhà dòng Kitô
giáo.
Một kỷ luật đáng chú ý nhất chính là mỗi ngày, các tu sĩ phải dành 30 phút để
suy niệm chung trong thinh lặng. Hai chữ “suy niệm” có thể được xem là phương
thế lý tưởng của đời sống tâm linh. Chính là vì bất cứ tôn giáo nào cũng đề cao
hai chữ này. Tuy nhiên, trong 30 phút đó, chẳng có một tu sĩ nào khả dĩ có thể
tập trung tâm trí, dù chỉ một phút. Hầu hết họ lợi dụng thời khắc này để tâm trí
mình tha hồ vọng tưởng, phiên du khắp hang cùng ngõ hẻm của vũ trụ. Nếu giờ suy
niệm được xếp vào buổi sáng thì hầu hết ngồi ngủ gật, có những ông bề trên ngủ
gật rớt cả sách, chảy cả nước dãi. Một số khác tỏ ra trí thức hơn lại mang theo
sách thiêng liêng vào đọc. Vào kỳ thi, vì bài vở quá nhiều, một số đã mang cả
bài học ở lớp vào tụng trong giờ suy niệm, thậm chí có người học luôn ngọai ngữ
trong giờ này. Trong số đó có cả ông Cha giáo, người linh hướng hay thầy dìu dắt
tâm linh cho các tu sĩ sinh viên. Có thể nói, nếu nhìn bề ngòai, ai cũng phải
công nhận vẻ đẹp của chiếc áo dòng khi các thầy tham dự thánh lễ và kinh |