|
Từ Giáo chỉ 9 đến…
Từ khi Giáo chỉ số 9 ký
ngày 8-9-2007 tung ra hải ngoại thì ôi thôi bao nhiêu là phiền não cho
phật tử, cho cư sĩ, cho tăng già. Dư luận nhao nhao lao vào cơn khủng
hoảng Phật giáo! Vậy thì: Ai tạo ra khủng hoảng? Tại sao thời điểm này
phải tạo ra khủng hoảng? Người tạo ra khủng hoảng có thể kiểm soát được
tiến trình và hậu quả của khủng hoảng hay không? Khủng hoảng thật mà
giả, giả mà thật như thế nào? v,v…
Khủng hoảng Phật giáo
Sau cuộc họp báo tại
Little Saigon nam California công bố Giáo chỉ 9 hôm 12-10-07, Phật giáo
đồ và báo chí hải ngoại bàn luận tơi bời về GHPGVNTN.
Phe ủng hộ: hoan hỉ đê
đầu đảnh lễ!
Phe thất sủng kêu rêu:
nếu không có GHPGVNTN thành lập năm 1992 tại San José thì chưa chắc đã
có cao trào chống cộng mãnh liệt của tập thể Phật giáo đồ suốt 16 năm
qua!
Phe trung dung than
thở: không thể phủ nhận Phật giáo đồ hải ngoại đã góp phần rất lớn trong
việc áp lực nhà cầm quyền CSVN phải từ bỏ bớt chế độ công an trị đối với
các nhà tranh đấu cho tự do dân chủ trong nước, công an tôn giáo phải
trả “tự do hạn chế” cho hàng ngũ tăng già đối lập với chính sách tôn
giáo của nhà nước!
Phe nào thì phe, trước
mắt Giáo chỉ 9 đã ảnh hưởng lớn đến cuộc tranh đấu của tập thể cộng đồng
Phật giáo Việt Nam tị nạn, đặc biệt tại khu vực miền nam California, một
thái độ chán nản và thụ động trước hiện tình Phật giáo.
Phật giáo đồ hải ngoại
suốt 16 năm qua, dưới sự lãnh đạo của GHPGVNTNHN – Văn phòng II Viện hóa
đạo, đã một lòng đứng dưới ngọn cờ của hai cao tăng tài năng và đức độ
tiêu biểu cho tự do tôn giáo - tự do dân chủ tại Việt Nam, đó là hai Đại
lão Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, hình ảnh tranh đấu
của hai ngài là ngọn lửa bất diệt; Nhưng… từ từ chỉ số cao trào chống
cộng hải ngoại đang báo động lùi dần về chỉ số thoái trào. Đó là qui
luật khách quan của thời thế hay do tác nhân nào tạo ra?
...
Hòa thượng Huyền Quang
và Hòa Thượng Quảng Độ, hai vị chân tu dầy công đạo hạnh sau một thời
gian dài bị CS cầm tù, quản chế, đã trở thành biểu tượng lãnh đạo tinh
thần của Phật giáo đồ trong và ngoài nước. Có thể nói, hình ảnh hai vị
danh tăng này gắn bó với cao trào chống cộng ở hải ngoại, phần lớn do
công sức vun bồi của phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris do ông
Võ Văn Ái điều hành. Suốt một quá trình dài, từ Âu châu tới Úc châu, qua
Mỹ châu, đến khu vực thượng tầng của các nghị viện, quốc hội,… nếu không
có phòng thông tin này, chưa chắc thế giới đã lưu tâm và biết đến tên
tuổi hai vị.
Hai cao tăng đã trở
thành hai danh tăng trên trường quốc tế. Tác nhân chính tạo ra hai nhân
vật Phật giáo Việt Nam là phòng thông tin Phật giáo Quốc tế do ông võ
văn Ái điều hành, có một trụ sở nhỏ tại Paris. Phòng thông tin này là
gạch nối GHPGVNTNHN với Văn phòng Trung ương Viện hoá đạo
trong nước.
Sau một thời gian, cần
mẫn tạo được sự tin tưởng đối với các thầy trong và ngoài nước, ảnh
hưởng đầu tiên của phòng TTPGQT tại Paris là độc quyền phỏng vấn, hỏi,
thu, phát lời nói của thầy Quảng Độ. Phòng thông tin, một loại siêu
phát ngôn viên vừa được “loa” trên đài phát thanh RFA, BBC, vừa được
“tải” trên hệ thống internet toàn cầu, vừa được “đọc” qua các vệ tinh
TV, radio, net, báo chí, nhất là báo chí ở nam Cali phát xuất từ tinh
thần hướng về dân tộc, rất chăm chỉ tuyên truyền cho phòng thông tin.
Sau một thời gian,
phòng TTPGQT đương nhiên trở thành một trung tâm chính trị nặng ký trên
bàn cờ Phật giáo, những ai muốn giải quyết vấn đề GHPGVNTN phải “tham
khảo ý kiến” trung tâm chính trị này.
Có thể nói, hình ảnh
hai vị danh tăng này gắn bó với cao trào chống cộng ở hải ngoại, phần
lớn do công sức vun bồi của phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris.
Ông Võ văn Ái là người có đầy đủ phẩm chất của một nhà ẩn tàng chính trị
đầy kinh nghiệm, đầy lão luyện, đủ uy tín, để thực hiện chiến dịch tôn
giáo vận “nội công ngoại kích”; nếu từ ông Ái, khi PGVNTN/hải ngoại
thành lập năm 1992, cao trào hành động của giáo hội này vượt lên tột
đỉnh thì cũng từ ông Ái, cao trào phải thoái trào, biện pháp nhanh nhất,
đởm lược nhất và cũng bạo tàn nhất là xé lực lượng thống nhất ra từng
mảng.
Thế cho nên… đùng một
cái, Giáo chỉ 9 ra đời.
Dự liệu cho một kế hoặch Phật giáo
tương lai ở hải ngoại
Cuộc họp báo của ông Võ
văn Ái, bà Ỷ Lan và một số thầy hôm 12-10-07 tại Little Saigon đã làm
cục diện Phật giáo thay đổi. Giáo chỉ 9 qua sự điều hành của Phòng thông
tin Phật giáo, đã “Mật Tẩn Xuất” một số lớn các đệ tử “trung
kiên”, và đó chính là đầu nguồn của cơn khủng hoảng Phật giáo.
Chữ ký và con dấu của
hai Hòa thượng Huyền Quang-Quảng Độ xác định tầm quan trọng của GHPGVNTN
về sự biến hoại này, sự biến “trung kiên” và không “trung kiên”, sự biến
“khâm tuân” và không “khâm tuân”. Giới tăng già, giới cư sĩ và giới phật
tử bắt đầu hoài nghi, phân vân, đo lường về những ẩn tàng chính trị phát
xuất từ giới chức cao thâm nào đó đã tạo ra làn sóng phẫn uất lẫn đớn
đau về cương vị của nhà lãnh đạo tinh thần có phải là nhà lãnh đạo
giáo quyền hay không?
Nhìn vào cơ cấu mới của
GHPGVNTNHN-VHĐ II gồm có các tăng sĩ cao cấp đứng đầu như Ht Hộ Giác, Ht
Chánh Lạc, Tt Viên Lý, Tt Giác Đẳng, Pháp sư Giác Đức, nhân vật đặc biệt
Võ văn Ái bên cạnh có nữ lưu Ỷ Lan, dư luận Phật giáo đổ hải ngoại không
khỏi buồn mênh mông, suy tư lo ngại.
Giáo chỉ 9, văn kiện
bất hủ này mở đường cho chiến dịch hỏa tốc “Giải Tán” cấp thượng tầng
các GHPGVNTN ở các châu lục và “Giải Nhiệm” cấp thượng tầng cơ cấu ban
HDGĐPT các miền. Theo như lời biện giải của giáo chỉ - đó là một kế
sách tái phối trí nhân sự lãnh đạo. Đó là tái phối trí, hay thực chất,
đó là cách thanh lọc nội bộ đối với các thành viên mà giáo chỉ cho là đã
“tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đường
hướng sinh hoạt của Giáo Hội...” và “đem thân phục vụ thế quyền... làm
nghiêng ngửa Giáo Hội...”.
Những lời kết tội đanh
thép trong Giáo chỉ 9 đã dẫn tới các phiên họp cơ mật thu hẹp qua các
đại hội ở tiểu bang Texas, và kết quả là đã phát sinh ra một cơ cấu lãnh
đạo mới của GHPGVNTN mới- văn phòng 2 Viện hóa đạo mới. Một thời gian
ngắn sau, Ht Quảng Độ phê chuẩn danh sách thành viên lãnh đạo mới.
Dư luận tự hỏi: danh
sách này do ông Võ văn Ái soạn sẵn gởi về cho Ht Quảng Độ hay chính Hòa
thượng chọn lựa, ấn ký từ trong nước kèm theo hai chữ buộc phải “khâm
tuân”?
Tức nước thì phải vỡ bờ.
Các biến đổi khác
thường từ giáo chỉ, thông bạch, liên tiếp tựa như con dao hai lưỡi xoáy
sâu vào cơn khủng hoảng. Nội lực từ trong nước đẩy ra hải ngoại, hay
ngoại lực từ hải ngoại đẩy vào trong nước? Bàn cờ Phật giáo rất phức tạp
cho thấy nguồn gốc, nguyên nhân phát sinh ra Giáo chỉ 9 trong vòng mờ ảo
đã dẫn tới việc không ai có khả năng kiểm soát được cơn khủng hoảng Phật
giáo lan rộng toàn cầu, ý đồ trung tâm của ẩn tàng chính trị tạo ra
chiến dịch giáo chỉ 9 đã bị bẻ sang một bước ngoặt mới, một ngã tùy cơ
ứng biến của hải ngoại mà có khi không ai muốn cả!
Sau trận càn vô tiền
khoáng hậu của Giáo chỉ 9, những dự liệu cho một tương lại Phật giáo ở
hải ngoại đã vuột ra khỏi tầm tay nhiều người. Giáo luật “khâm tuân”
đã trở nên trò hề cho hải ngoại, những bản tuyên bố, những bản quyết
nghị của các đại hội Phật giáo hải ngoại tràn lan các lời lẽ ví dụ như:
Trích từ: Quyết nghị
của Đại hội Kkhoáng đại kỳ IV của GHPGVNTNHN tại Canada ngày 11-2-2008
tại chùa Thuyền Tôn, Montreal: “… Những chướng duyên nội tại cũng như
ngoại tại… không có cá nhân hay thế lực nào từ bên trong hay bên ngoài
có thể gây chia rẽ và biến hoại... Xác định rằng GHPGVNTNHN/ Canada
không bị ảnh hưởng gì về mặt pháp nhân và pháp lý đối với các quyết định
của giáo chỉ, thông bạch từ trong nước hay hải ngoại, từ nội bộ Phật
giáo hay từ những thế lực ngoại tại…” “Bởi vì, theo quy chế,
GHPGTNHN/Canada là một tổ chức Phật giáo liên hệ tinh thần với GHPGVNTN
tại Việt Nam” mà thôi!
Trích từ: Đại hội bất
thường của Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại tại chùa Bảo
Quang, Santa Ana, nam California: “… Chính trên các nhận định ấy, Đại
Hội đã quyết định không sử dụng danh xưng GHPGVNTNHN-HK, mặc dầu trên
mặt pháp lý Giáo Hội với quá bán thành viên trong hai Hội Đồng Giáo Phẩm
và Hội Đồng Điều Hành có thẩm quyền để làm việc này, và chọn ra một danh
xưng khác. Danh xưng Cộng Đồng Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ được tạm
thời sử dụng cho đến khi có một Đại Hội Khoáng Đại chính thức để quyết
định về danh xưng này.
… Trên tinh thần
“phục vụ Nhân loại và Dân tộc” của Hiến Chương GHPGVNTN, vận động rộng
rãi Tăng Ni các giáo hội, hệ phái, tông môn đang hành đạo tại Hoa Kỳ,
cùng ngồi lại trong tinh thần tương kính, tương thuận, thành lập một tổ
chức Phật giáo, tạm thời lấy tên là: CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI
HOA KỲ.
Đề cập đến biến cố này,
bổn báo Văn Hóa đã may mắn hạnh ngộ cùng với Đại lão Hòa thượng Thích
Tâm Châu và các bài phỏng vấn với các Ht., Tt., Giác Nhiên, Thắng Hoan,
Tín Nghĩa, Chơn Thành, Nguyên Trí, Vân Đàm, Quảng Thanh; (Xem toàn văn
các bài phỏng vấn trong số báo Issue # 125&126 Nov- Dec, 2007).
Chuyện bên lề: Một danh xưng “Tổng Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” phi chính trị có khả năng sẽ ra đời
để hòa tất cả mọi tổ chức vào một tổ chức. Đề nghị danh xưng này
được bổn báo Văn Hóa phát biểu trong Đại hội bất thường Cộng đồng Phật
giáo Việt Nam tại hải ngoại tổ chức hai ngày 11-12 tháng Giêng năm 2008
tại chùa Phổ Đà và chùa Bảo Quang thuộc thành phố Santa Ana, nam
California. Tổ chức Cộng đồng Phật giáo Việt Nam Hải ngoại có là một
tiến trình đệm để tiến tới Tổng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất hay không, nó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố lục hòa thuận
duyên.
Thượng tọa Nguyên
Trí, viện chủ chùa Bát Nhã được đông
đảo tăng ni, cư sĩ, phật tử khắp nơi suy cử làm trưởng ban tổ chức ngày
Về Nguồn và đồng tổ chức thành lập Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hải
ngoại. Theo chương trình, Cộng đồng PGVN tại hải ngoại sẽ khai thị quy
mô tại nam Cali vào tháng 9, 2008. Thầy Nguyên Trí được hàng tăng lữ
tiên khởi ở hải ngoại đánh giá rất năng nổ và nhiệt tình trong các sinh
hoạt Phật giáo tại quận Cam, trung tâm Phật giáo nam Cali. Trong vai trò
trưởng ban tổ chức ngày Về Nguồn và trưởng ban tổ chức Cộng đồng Phật
giáo Việt Nam Hải ngoại, thầy Nguyên Trí đang chịu nhiều trách nhiệm
nặng nề lẫn búa rìu dư luận, hy vọng với một tấm lòng hoằng dương đạo
pháp trên xứ người, xin chúc thầy làm tròn nghĩa vụ.
Về Thầy Quảng Độ
Những sự kiện chung
quanh Đại lão Hòa thượng Quảng Độ cho thấy các dấu hiệu ẩn tàng chính
trị đang vây bọc thầy một cách lớp lang, trình tự; đó là bản báo cáo của
thầy Thiên Hạnh…, Giáo chỉ 9…, Thông bạch khâm tuân…, kế hoặch đưa thầy
xuống đường với dân oan…, kế hoặch đưa Thầy xuống đường với thanh niên
phản đối đuốc Olympic đến Saigon...; Ngọn đuốc Trung quốc ngang nhiên
được ca sĩ Mỹ Tâm chạy “sô” giữa ở Sàigon hôm 29-4-08 không thấy tắt, mà
chỉ thấy ngọn lửa từ bi yêu nước thương dân của thầy mờ dần trong kế
hoặch ẩn tàng chính trị. Nghe Thầy Quảng Độ thở than mà lòng đau như
cắt;
Trích từ RFA-Ỷ Lan:
“Ỷ Lan : Kính xin
hòa thượng cho biết sự thể ra sao? Hòa thượng đã đến đâu để tham gia và
thành quả như thế nào?
Hòa Thượng Thích
Quảng Độ: Kể ra công việc xuất phát từ Thanh Minh Thiền Viện cũng là cả
một vấn đề. Rất là khó khăn. Hôm nay may ra là cái ngày tôi phải đến
bệnh viện tái khám. Do đó tôi đã đi rất sớm. Xong việc ở bệnh viện tôi
nhắm thẳng nơi mà anh em đã hẹn để đến, thì dọc đường đến phải đi xe.
Nhưng đến gần gần nơi điểm hẹn thì kẹt, rất là kẹt xe. Bởi vì các ngả
đường vào đó là công an, cảnh sát đứng rất đông không cho những xe lớn
đi qua. Từ đó tôi phải xuống xe và đi bộ lần theo các ngả đường có thể
đi được, đường nhỏ đấy, để đến điểm hẹn. Mãi sau mới đến nơi vào khoảng
3 giờ 40 chiều tôi mới đến đó. Đến đó thì tuyệt nhiên không thấy dấu
hiệu, biểu hiệu mà anh em hẹn. Lác đác có một vài người mặc áo trắng.
Nhưng không thấy một biểu ngữ hay bất cứ dấu hiệu nào mà anh em đã hẹn
nhau, quy định. Do đó cho nên tôi nghi ngại. Có lẽ cũng chỉ là nhân viên
an ninh mặc áo trắng để có thể đánh lạc hướng, nếu anh nào vô ý nhập vào
đó có thể họ gây khó khăn hoặc đưa đi luôn. Lác đác thế thôi chứ không
được đông. Bởi thế tôi chờ mãi, đi quanh từ chỗ hẹn từ trước đến sau cả
cái chỗ tập trung đến, chỗ rước đuốc đấy, xuống chỗ trước khi giải tán.
Tôi xem không thấy một người nào. Không có biểu ngữ, biểu hiệu gì hết để
mình nhận định. Trong khi đó thì tôi gặp rất nhiều đoàn thanh niên với
cờ đỏ năm sao của Trung Quốc, cả khẩu hiệu rước đuốc Olympic các ngả
đường gần đó. Từng đoàn một chừng chục người, hai chục người, ba chục
người và mười người. Họ xé nhỏ ra như thế trên nhiều ngả đường. Họ hô
khẩu hiệu, họ ca hát, thì đó là về phía Trung Quốc. Chứ về phía các anh
em thanh niên sinh viên thì không thấy gì. Do đó cho nên tôi đi một vòng
nữa, gần 5 giờ thì mới trở về nhà và trong lòng cũng thấy buồn.
Ỷ Lan: Bạch hòa
thượng có thể cho biết địa điểm hẹn để
biểu tình là ở chỗ
nào bạch hòa thượng?
Hòa Thượng Thích
Quảng Độ: Theo chương trình tập trung hẹn ở trước Nhà Thờ Đức Bà và phía
sau, rồi điểm tập trung trước khi giải tán và ca hát và tuyên bố gì đó
là trước nhà hát thành phố. Đấy là điểm chính. Từ Nhà Thờ Đức Bà đi
xuống đó cũng không xa bao nhiêu. Đấy, chúng tôi cũng quanh quanh ở điểm
đó. Khi tôi ra về đến nhà là hơn 5 giờ rồi, thì không biết sau khi tôi
về anh em có thực hiện được ý định mình không, kế hoạch của mình không?
Tôi đã đi đi lại lại vài vòng xem như thế nào. Nhưng hoàn toàn yên lặng
thì tôi biết rằng là đã đến giờ mà không thực hiện được. Do đó tôi đi
về….” (hết trích).
Chuyện ông giám đốc Ái
làm những gì và muốn những gì thì ai cũng biết; nhưng ít ai biết chuyện
hải ngoại quãng năm 1994-96, đã có lần quí Thầy MT, Thầy MG, và một viên
chức cao cấp ở bộ ngoại giao dàn xếp mời Thầy Quảng Độ xuất dương qua Mỹ
để cám ơn bà ngoại trưởng Albright, cám ơn nghị viện Âu châu, đã từng
tích cực can thiệp nhà cầm quyền CSVN thả Thầy vô điều kiện. Thế giới
muốn nhân cơ hội này, trả nợ cho hàng triệu sinh linh Việt Nam liều mạng
đi tìm tự do đã đánh động lương tâm thế giới, thế giới muốn nhìn thấy
một tù nhân tăng sĩ Phật giáo nợ nước thù nhà sẽ đứng trên diễn đàn quốc
tế phê bình chính sách sai lầm về tôn giáo tại Việt Nam. Thập niên
1990-2000, thế giới muốn vào Việt Nam, Việt Nam rắp tâm hội nhập thế
giới, muốn vậy, phải có cái cầu bắc qua dòng sông đau khổ hai bên mới
đến bờ bên kia được, phải có những con người dũng cảm bố cáo cái đoạn
trường của nhân dân, phải có những con người gác bỏ thù riêng mà lo âu
việc nước.
Thầy Quảng Độ sẽ là
hình ảnh của một thiền sư tranh đấu thuần hậu cho hòa bình, cho dân chủ,
cho tự do, cho lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ngó xuống dân
tộc Việt Nam, Thầy không hẳn là một nhà chính trị, thái độ chính trị của
Thầy là biểu tượng của cái thiện chống lại cái ác, Thầy là gương mẫu
lãnh tụ của hàng ngũ Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại, Thầy sẽ là một
DalaiLatma Việt Nam… Nhưng mọi dàn xếp xuất ngoại đã thất bại, những
khuôn mặt “cháy” ở hải ngoại đã chùn bước bậc anh hùng. Thầy nhất định
không đi, Thầy ngại đi nó không cho thầy về! Thầy nhất định cố thủ ở
Thanh Minh Thiền Viện để canh chừng CS, thầy muốn đánh cờ tướng
quốc-cộng với đảng CS ngay trên quê hương của Thầy! Thầy khác Đức Dalai
Latma ở chỗ là thầy không chịu xuất ngoại dưới sự dàn xếp của ngoại
quốc, mà Thầy quyết tâm ở lại để chịu khổ hình với đồng bào. Cuối
cùng,Thầy là đối tượng của đám con buôn văn hóa - tôn giáo - chính trị,
đám con buôn này muôn đời bị câu thúc trong một niềm tin ảo vọng.
Cả thế giới đang ngóng
về Lhasa, cố đô Tây Tạng mà bậc Thánh Tăng Dalai Latma kiêm Quốc trưởng
lưu vong dẫn hàng ngàn hàng vạn đệ tử của ngài bôn ba trên khắp địa cầu đang nguyện cầu cho nền tự trị
Tây Tạng, các đệ tử của ngài đã làm nên chuyện lớn: dập tắt đuốc Olympic
Trung quốc từ cái nôi của nó bên trời tây.
Cứ mỗi lần hình ảnh
Thánh Tăng Dalai Latma xuất hiện trên khắp thế giới thì lại nhớ tới hình
ảnh Thầy Quảng Độ ngồi trầm ngâm trong Thanh Minh Thiền Viện-Phú nhuận;
các đệ tử, các mạng lưới của Thầy ở hải ngoại vô tình hay hữu tình bị
“Mật Tẩn Xuất” gần hết, chỉ còn có đệ tử xuất chúng của thầy là cư sĩ
giáo sư tổng vụ trưởng Võ văn Ái vừa động thủ xong được một chuyện kinh
thiên động địa đối với GHPGVNTNHN.
Về Võ văn Ái
Sau này Thầy Quảng Độ
có thêm một cận tướng xuất thân từ Thầy Nhất Hạnh
ở Paris, được bồi bổ thuốc xuyên tâm liên, từ Paris xuyên tâm tới Thanh
Minh Thiền Viện, từ đó mọi chuyện trên thế giới đã có cận tướng thông
qua với Thầy là đủ rồi. Chỉ có phòng thông tin Phật giáo Quốc tế ở Paris
và cô Ỷ Lan mới tiếp cận được thầy. Thầy chỉ tin ở hai người này thôi.
Thủ phạm của cái gọi là
từ giáo chỉ này đến giáo chỉ khác đã gây cho GHPGVNTN bộ phận tứ chi
trong ngoài của Thầy Quảng Độ từ từ bị chặt đứt dần dần cho đến chấm
hết. Cơn chấn động kết liễu của Giáo chỉ 9 mang lại cho Thầy có tướng mà
không có quân! Có chùa mà không có tín đồ! Liên tiếp các cơ sở tự viện
của GHPGVNTN trong nước bị truy bức, cô lập, dân chúng sợ hãi, thương
lắm cũng chỉ quì gối bên ngoài hàng dậu mà chắp tay lậy Phật bên trong.
Trạng thái chán nản, thụ động, hoài nghi ở hải ngoại dù có nghe tiếng
vọng từ đáy vực kêu gào cách mấy cũng không còn hăng hái tiếp cứu, dù
Đại lão Hòa thượng có buồn cách mấy cũng chỉ nghe tiếng đáp thờ ơ. Con
dao hai lưỡi “nội công ngoại kích” mà họ Võ sử dụng đã phản gián, phản
ánh lại diện mạo họ Võ, Đại lão Hòa thượng Quảng Đức, vị chân tu đức độ
sẽ nhìn ra chân tướng cái vỏ bọc trung kiên bên cạnh ngài nó sẽ và đang
hạ bệ ngài rất là êm ái.
Họ Võ kỳ rồi mới ra mắt
rầm rộ ở hải ngoại một tập thơ nhan đề là “Thơ Tù” của
Thầy Quảng Độ, tập thơ này được mang đi quảng bá ở các tiểu bang và được
đông đảo Phật tử mua cả chục ngàn cuốn; một Hoà thượng (xin ẩn danh) cho
biết nhân dịp về Thanh Minh Thiền Viện thăm Thầy Quảng Độ, Thầy Quảng Độ
nhắn xin gởi cho thầy một cuốn cho thầy biết mặt mũi tập thơ tù này!
Chuyện bên lề:
Tiện đây, xin nhắc thêm
một điểm quan trọng là trong bản báo cáo trước Quốc hội Mỹ chiều 12
tháng 3, 2008 của Thứ trưởng Ngoại giao Hoa kỳ Christopher Hills khi đến
Việt Nam quan sát hiện trạng tôn giáo, ông Thứ trưởng về Mỹ đọc bản báo
cáo không nhắc tới một chữ GHPGVNTN của Thầy Quảng Độ.
Tổng thống George W.
Bush trong bài diễn văn đọc ở hội nghị Prague về nền dân chủ toàn cầu
ngày 5 tháng 6, 2007 đã ca ngợi các nhà đối kháng trên thế giới, trong
đó tổng thống Bush chỉ nhắc tới tên cha Nguyễn Văn Lý mà thôi.
Tiện đây, cũng xin nhắc
thêm một bài toán hóc búa khó xử cho Hà nội-Roma-Hội đồng Giám mục và
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất liên quan tới vấn đề đất đai cơ
sở tôn giáo tại Việt Nam;
Về Thiên chúa
giáo:
- Ngày 18 tháng 6.
2004, Pháp lệnh Tôn giáo của chính phủ VN được Quốc hội phê chuẩn điều
hướng lại chính sách đối với các tôn giáo trong nước.
- Ngày 25 tháng 1 năm
2007, Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng đi Vatican tiếp kiến Giáo Hoàng
Benedict XVI, cuộc hội kiến là kết quả cho việc kể từ năm 1989, các phái
bộ từ nhỏ đến cấp bộ trưởng của Vatican đã đến Việt Nam cả thẩy 14 lần
để làm việc với chính phủ về chính sách Thiên chúa giáo tại VN và tương
lai gần tiến tới bang giao giữa Roma và Hà Nội.
- Từ ngày 18-12-07 đến
ngày 1-2-08, giữa mùa Nô en giá lạnh, Tổng giám Mục Hà nội Ngô Quang
Kiệt đã huy động hàng ngàn giáo dân đến thắp nến trước cổng sắt tòa đại
sứ cũ của Vatican để cầu nguyện và đòi chính phủ trả tòa đại sứ này (tòa
khâm sứ) lại cho tòa Tổng giám mục Hà nội hoặc cho Hội đồng Giám mục VN.
- Giáo dân rước Thánh
giá và cất lều bạt trước cổng sắt đóng kín của tòa đại sứ cũ. Hàng rào
cổng bị phá toang, gíao dân rước Thánh Giá và tượng Đức Mẹ Sầu Bi đặt
dưới gốc dây đa bên cạnh toà Khâm sứ.
- Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng bất ngờ thân chinh đến thăm giáo dân và quan sát tòa khâm sứ; TGM
Ngô Quang Kiệt ra đón, sau đó mời về phủ thủ tướng đàm đạo.
- Ngày 1-2-2008, thể
theo lời khuyên trong thư của Đức Hồng y Bertone từ Roma gởi về cho
HĐGMVN và giáo dân Việt, Thánh giá từ tòa đại sứ cũ được rước về toà
Tổng giám mục và đưa cất lều bạt về nhà. Hồng y Bertone cũng gởi một lá
thư riêng cho TT Dũng.
- HĐGMVN và tòa TGM Hà
Nội hội thảo liên miên.
- Giáo dân không còn
cảnh thắp nến và cầu nguyện trước tòa khâm sứ cũ, nhưng giáo dân ấp Thái
Hà và một số địa phận khác tiếp tục cầu nguyện đòi đất đai và cơ sở công
giáo.
- Ngày 5-5-2008, bản
tin của thông tấn tòa thánh Asia News.it thông báo “Một phái đoàn
Vatican trong tương lai gần sẽ đến thăm Việt Nam, chuyến đi này có thể
dẫn tới việc tái lập bang giao giữa Hà Nội và Roma.”
- Cho đến nay tình hình
đã trở lại yên tĩnh.
Về Giáo hội Phật
giáo và Việt Nam Quốc tự:
- Ngày 4-1-1964, một
đại hội Phật giáo đúc kết bản Hiến chương Phật giáo VN do Tt Thích Tâm
Châu đề xuất.
- Ngày 12-1-1964, đại
hội Phật giáo bầu xong hai viện Tăng thống (Viện trưởng Ht Thích Tịnh
Khiết) và Hóa đạo (Viện trưởng Tt Thích Tâm Châu).
- Ngày 13-1-1964, Hiến
chương PGVN do Thượng Tọa Thích Tâm Châu soạn thảo gởi lên chính phủ (Quốc trưởng
Dương Văn Minh).
- Ngày 24-3-1964, Hiến
chương PGVN được Bộ Nội vụ ký nghị định công nhận đưa lên Trung tướng
Nguyễn Khánh CT Hội đồng Quân đội ký - ban hành bằng sắc luật 14/5. (Ghi
chú thêm: cuối năm 1966, Tt Tâm Châu xé Hiến chương PGVN vì nó đã chia
Phật giáo ra thành hai khối Ấn Quang và Quốc Tự).
- Ngày 26-4-1964, buổi
lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Việt Nam Quốc Tự trong khu đất khoảng
45 ngàn mét vuông bên cạnh đường Trần Quốc Toản-Quận 10; dự lễ có Quốc
trưởng Đại tướng Dương văn Minh và Thủ tướng Trung tướng Nguyễn Khánh.
Kinh phí xây VNQT lên tới khoảng 100 triệu đồng tiền thời bấy giờ.
- Ngày 23-2-2008, Uỷ
ban Nhân dân Thành phố Quận 10 Tp. HCM “chính thức” ký giấy phép cho
công ty Berjaya Land Bhd (B-Land) thuộc tập đoàn Berjaya, Malaysia thuê
mướn 50 năm trong khu đất Việt Nam Quốc Tự là sở hữu chủ của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam từ năm 1964 cho đến nay, để xây dựng ba tòa bin đinh
cao tầng chóp nhọn gọi là Trung tâm Tài chánh Việt Nam.
- Ngày 12-3-2008, duy
nhất tại hải ngoại, chỉ có Đại lão Hoà thượng Thích Tâm Châu lên tiếng
chính thức gởi văn bản kiến nghị lên chính phủ nước CHXHCNVN phản đối
công trình này xây cất làm hủy hoại di sản văn hóa Phật giáo. (Sachhiem.net cập nhật cuối tháng 3-2008 - tin này không được xác nhận. Xin xem bài của Minh Mẫn
ở
http://sachhiem.net/MINHMAN/Tongiao/MinhManTG30.php)
Cộng đồng Phật giáo VN Hải ngoại
Kế hoạch tái phối trí
nhân sự lãnh đạo của Giáo chỉ 9 muốn tái cấu trúc lại sức mạnh chỉ huy
thống nhất từ Giáo hội PGVNTN trong nước+hải ngoại và Văn phòng I+II
Viện hoá đạo, nhưng ngược lại, nó chính là nguyên nhân liên tiếp tạo ra
cơn “nước lũ” cho Phật giáo. Do nước lũ, trầm trọng nhất là nội lực đã
bị xé ra từng mảnh; do nước lũ, ngoại nhân ngoại đạo hay nội trùng tha
hồ thao túng, lũng đoạn và tạo chia rẽ; do nước lũ, các tổ chức Phật
giáo trên thế giới có lý do để xác định, be bờ lại mối liên hệ GHPGVN
trong ngoài và tư cách pháp nhân độc lập - tự trị.
Sau Giáo chỉ 9, hệ
thống GHPGVNTN khắp các châu lục sụp đô như “quân bài domino”. Phản ứng
tiêu cực nơi các chùa là các thầy quay trở lại thuở ban sơ, tức là cái
thuở chưa thành lập GHPGVNTN/HN (1992). Chùa nào lo giữ hồn chùa nấy;
hoặc hiện nay, phản ứng tích cực tập trung ở trọng điểm Phật giáo nam
California, đã hình thành các khuynh hướng (đứng về mặt tổ chức hành
chánh), một khuynh hướng ngả theo cơ chế của giáo hội mới-văn phòng II
mới tái cấu trúc, một khuynh hướng “trung dung”, và một tổ chức mới lấy
danh xưng là “Cộng đồng Phật giáo VN tại Hải ngoại”, tổ chức này quyết
tâm liên kết nhiều tông phái hệ phái Phật giáo trên căn bản thanh tịnh
hòa hợp, trên tinh thần độc lập - tự trị, đã được nhiều cao tăng đạo
hạnh hoan hỉ chứng minh thuận duyên kỳ vọng.
Có dư luận cho rằng,
việc thành lập tập thể Cộng đống Phật giáo VN tại Hải ngoại là dự mưu
hòa hợp hòa giải với GHPGVN nhà nước, loại trừ dần tầm ảnh hưởng của hai
Đại lão Hòa thượng Huyền Quang - Quảng Độ, tạo ra một hiểm nguy bậc
nhất về hình ảnh lu mờ lãnh đạo của hai đại lão cao tăng tranh đấu cho
nền Phật giáo Việt Nam, hai vị không còn giữ ở ngôi vị biểu tượng hàng
đầu trong công cuộc vận động cho tự do tôn giáo và dân chủ, hai vị đã bị
lùa vào cô lập một cách tinh xảo. Trong cô đơn và bẽ bàng, không ai còn
sắc sảo trong việc phân biệt rạch ròi giữa tự do tôn giáo và tự do tín
ngưỡng đang chập chờn giữa mê cung, mê lộ.
Cũng có lập luận cho
rằng, Cộng đồng Phật giáo VN tại hải ngoại được thành lập, gián tiếp nói
lên điều không cứ gì cần phải có GHPGVNTN/HN-Văn phòng II Viện hóa đạo
điều hành, mới có được tập thể Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại, mới có
được ngoại lực quốc tế đẩy mạnh cho tự do tín ngưỡng ở quê nhà. Sau 33
năm trăn trở nơi xứ người, tập thể Phật giáo Việt Nam hải ngoại là một
thực thể đang tồn tại và đang phát triển với bản thể riêng của nó, nó
miễn trừ mọi sự thống thuộc có tính áp đặt, kể các các tổ chức Phật giáo
tân lập sau này, nếu có ma chướng mông muội hay tính áp chế đi ngược lại
với tâm tư tình cảm của đồng bào Phật tử tị nạn, quần chúng sẽ có thừa
tinh khôn xem xét đường đi nước bước của tổ chức đó để ủng hộ hay chia
tay.
Với Phật giáo đồ
Phật giáo đồ hải ngoại,
đó là một tập thể tự do tuyệt đối, tự do từ niềm tin và đức tin của đồng
bào do chính đồng bào lựa chọn. 30 năm qua đủ xác tín người Phật tử biết
đặt niềm tin vào những vị thầy đạo cao đức trọng. Chùa - một thể tính
đặc thù ở hải ngoại, đồng thời vừa mái nhà che chở hồn dân tộc, vừa là
đơn vị hành chánh nếu lập trình thống kê. Một tập hợp Phật tử có thể
được điểm danh từ mỗi chùa, mỗi chùa là một tập hợp Phật tử tùy theo khu
vực địa lý nhân văn, tùy theo pháp lực-bồ tát lực của quý thầy trụ trì
và hội đồng quản trị mà qui tụ được đông hay ít Phật tử; cho nên, chùa
là hạt nhân để có thể đo lường được tiềm lực Phật tử ở đó.
Một yếu tố khác tuy cục
bộ nhưng khá quan trọng, ví dụ như một ngôi Chùa nào đó, do thầy viện
chủ theo phái nam tông, bắc tông, hay bản thân thầy trụ trì là người gốc
miền nam, miền trung hay miền bắc, chùa đó thường thu hút số lượng Phật
tử cùng chung gốc gác. Yếu tố này không phải là sự chia rẽ mà là tâm lý
bình thường của người Việt hay có thói quen gần gũi với người đồng hương
có cùng nơi chôn nhau cắt rún. Yếu tố tâm linh của Phật tử Việt Nam
thuần hậu hướng về Phật Tổ, cho nên dù có nhiều phát hiện tiêu cực nơi
một số cá nhân tăng sĩ, vẫn không làm ảnh hưởng xấu đến lòng mộ đạo, giữ
đạo ở xứ người.
Có lập luận cho rằng, ý
nghĩa thâm sâu của Giáo chỉ 9 là nhằm điều chỉnh lại lực lượng phật giáo
chống cộng ở hải ngoại sao cho phù hợp với tình hình mới. Với hơn 500
ngôi chùa tự viện lớn nhỏ, với hơn triệu Phật tử rải rác khắp nơi trên
thế giới, một lực lượng đáng kể, tuy lực lượng này còn đang ở dạng tản
mạn, tản mạn nhưng vẫn có mẫu số chung là chống cộng, tản mạn có thể là
một yếu điểm mỗi khi cần tập trung, nhưng cũng có thể là một ưu điểm nếu
xét về mặt bằng khu vực trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, địa bàn rộng
là mặt trận lớn, nếu được lãnh đạo đúng mức.
Phiêu bạt nơi xứ người,
hàng triệu người Phật tử VN hít thở bầu không khí tự do, học hỏi những
tư tưởng cột trụ của tự do để rút ra cái tinh hoa của nền dân chủ phương
tây, rút ra cái nhược điểm của tự do quá độ, thái độ nhận thức chung của
Phật tử hải ngoại là chống độc tài. Độc tài ngày nay được hiểu là độc
tài chính trị, độc tài kinh tế và độc tài văn hóa, văn hóa bao gồm cả
tôn giáo. Ngày nay, thế kỷ 21, chủ nghĩa độc tài tượng trưng cho chủ
nghĩa ám muội, nghèo nàn và đơn điệu, một khi nhu cầu thăng tiến của
loài người mở rộng trong mọi sinh hoạt xã hội, chủ nghĩa độc tài buộc
phải thoái lui.
Sinh hoạt tự do cho ra
đời vô số sản phẩm vật chất mới, sản phẩm trí tuệ mới, và đồng thời,
cũng nảy sinh ra tư tưởng tranh đấu mới. Các nhà tranh đấu phản kháng
thời thượng thực hiện tư tưởng tự do bằng cách biến nó thành qui luật
khách quan của thời đại, tự do được sử dụng như một loại vũ khí định chế
uyển chuyển - mềm dẻo có thể làm lung lay tiến trình lịch sử của nền
kinh tế thị trường không dân chủ!
Trích từ sách “Mạn
Đàm”: “… Dân chủ không phải là sự xa hoa của một quốc gia tân tiến mà
còn là một điều kiện sống còn của nền kinh tế lành mạnh”. “… Khi chúng
ta cải tổ kinh tế đúng, kinh tế phát triển, dân sẽ thỏa mãn và xã hội ổn
định”.
Xin thưa: Xã hội ổn
định không có nghĩa là đã có tự do và dân chủ. Vì dân chủ và tự do có tự
động mang đến cho chúng ta không? Không. Dân chủ và Tự do không thể xin
cho mà phải đòi mới có. Thuyết đầu vào kinh tế đầu ra chính trị không
thể đứng vững được, một khi đầu ra chính trị sinh nở trong một nền kinh
tế thị trường có định hướng, tự thân nó đã tạo ra một giai cấp thống trị
mới với đầy đủ đặc quyền đặc lợi. Giai cấp mới này rất sợ tự do ngôn
luận đả kích nó và tự do dân chủ pháp trị thay đổi nó.
Trích từ cựu TT Võ Văn
Kiệt: “...Nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham
nhũng để quá trình tích lũy tư bản diễn ra như thời hoang dã thì không
bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững. Tích lũy tư bản
diễn ra như thời hoang dã có nghĩa là nhờ hối mại quyền lực và có được
đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là đất đai.
… Theo báo cáo 2007,
tỷ lệ người nghèo ở Việt Nam có mức sống dưới 1 đô la Mỹ mỗi ngày hiện
chỉ còn chưa tới 15%. Nhưng cựu thủ tướng nhấn mạnh rằng, mới đây báo
chí phát hiện rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo
báo cáo thì trước đó đã ngói hóa 100%. (?)
Xin thưa: Con chim báo
bão suốt đời làm cách mạng trước khi trở về với cát bụi đã thốt ra tiếng
nói thành thật tha thiết từ lương tâm.
Thật ra, Tự do và Dân
chủ đã có hàng ngàn năm nay trong lịch sử Vua Hùng dựng nước và giữ nước
của dân tộc Việt Nam, tự do và dân chủ là tâm thức căn sâu cố đế của
người Việt Nam, đỉnh cao của sinh hoạt tự do và dân chủ trong lịch sử
Việt là sân chùa, sân đình, là hội nghị Bình than-Diên hồng. Việt Nam
hiện nay với dân số trên 85 triệu người, đã có trên 60 phần trăm người
theo đạo Phật. Phật giáo là tự do. Phật giáo không bắt ai nô lệ đạo
Phật. Phật giáo không phải là tín lý tróí buộc mọi tri thức khác biệt.
Phật giáo không kỳ thị và cũng không lệ thuộc. Cho nên Phật giáo từ Ấn
Độ du nhập vào đất Việt đã hóa thành Phật Việt từ hàng ngàn năm nay.
Người Việt ly hương ra hải ngoại mang theo tâm thức Phật Việt của mình,
tâm thức về Đức Thích Ca Mâu Ni giáng trần là để nhằm khai thị cho chúng
sanh giác ngộ nhập Phật tri kiến, tức là khai mở cho chúng sanh biết
được cái chân thiện mỹ nó nằm ở trong ta, nó là hiện thân của tự do, của
vô ngã, và nó không bao giờ bị từ khước khi con người lên tiếng đòi.
Phát xuất từ niềm tin
và đức tin nơi chánh đạo Phật Việt, thời đại hôm nay đã xuất hiện một số
nhân vật tiến bộ dám đứng lên đòi cởi phăng cái áo mác xít - cái áo
chuyên chính đã đóng trọn vai trò hủy diệt của lịch sử, bước sang thế kỷ
21, cái áo này phải sám hối, phải nhập thất, phải tự vượt thắng để giành
lại ông thiện từ tay ông ác. Tuy mới chỉ có một số người mở đường cho
cuộc cách mạng toàn diện, nhưng nếu toàn dân đòi đảng CSVN cởi phăng cái
áo Mác xít ra thì đảng quyết định ra sao?
Với khuynh hường tranh
đấu ôn hòa bất bạo động, Cộng đồng Phật giáo VN và Phật giáo đồ hải
ngoại tự thân vốn là sự trong sáng tinh thần và lòng dũng cảm, sẽ tiếp
tục kiên tâm tu dưỡng theo bài học dâng hiến - từ bi- cảm thông - tự
chứng của Đấng Từ Phụ.
Giữ Chùa và Hoằng Pháp
Tham dự một số hội thảo
Phật giáo ở hải ngoại, bổn báo thường lên tiếng xin quí Thầy nêu khẩu
hiệu: “Giữ Chùa và Hoằng Pháp”. Bổn báo cũng biết rằng, muốn giữ
Chùa thì phải xây chùa trước đã, thế hệ di dân tị nạn đầu tiên của người
Việt trong đó có các sư sãi bung ra thế giới đã khổ công ròng rã dựng
chùa ba mươi năm qua. Cả triệu sinh linh vượt biển lênh đênh trên những
con thuyền lá mỏng giữa biển khơi chập chùng chắp tay niệm “Nam Mô
Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát”- Mẹ Bồ Tát
đã hiện ra cứu khổ cứu nạn đàn con Lạc cháu Hồng của Mẹ.
Đặt chân đến miền đất
của tự do, về cơ bản, người Việt lưu vong phải lo cơm áo trước, lo cơm
áo đầy đủ rồi mới thăng tiến tới việc tăng trưởng kinh tế gia đình, gia
đình sung túc đóng góp vào xã hội, an sinh xã hội đi đôi với đời sống
tâm linh, vì vậy sự phát triển của kinh tế bao hàm việc việc mở rộn con
đường dựng chùa, giữ chùa và hoằng dương đạo pháp. Ông bà mình có câu:
“Có thực mới vực được đạo”; đó chính là nguyên lý căn bản trả lời cho
kết quả của sự phát triển của nền Phật giáo Việt5 Nam hải ngoại nói
chung và nói riêng đối với từng đơn vị chùa.
Đàn con Phật tử nay đã
xây dựng hơn 500 ngôi chùa lớn nhỏ rải rác trên khắp thế giới (theo
thống kê của Tổ Đình Minh Đăng Quang); có chùa rồi giao cho Thầy, Thầy
lo giữ chùa trả ơn cho Phật, biết rằng giữ được một ngôi chùa ở hải
ngoại không phải là việc đơn giản, như vậy, ai sẽ cùng Thầy giữ chùa:
Phật tử. Nay đã hơn 30 năm, quí Thầy viện chủ, trụ trì thế hệ thứ nhất
đã tới lúc già yếu, ai sẽ kế thừa? Ai có đủ đức độ thông lưu Phật Pháp
để kế thừa hàng trăm di sản vô giá chùa chiền hải ngoại. Hiện nay và
tương lai, con số thống kê cho biết có tới cả triệu Phật tử Việt sinh
sống khắp nơi trên thế giới. Mái chùa là nơi che chở hồn dân tộc hải
ngoại, mái chùa là nơi hoằng dương Phật pháp, mái chùa là nơi tu dưỡng
và phát triển phật tử, do đó, việc giữ chùa và hoằng pháp phải là
hai phạm trù liên kết với nhau không thể tách rời được, liên kết bằng
phương pháp nào thì phải có kế hoặch hết sức là đứng đắn, trong sáng,
đừng để những kẻ lợi dụng làm hoen ố ngôi chùa mồ hôi của người Việt hải
ngoại. Dã tâm phá chùa là tội ác.
Đã có rất nhiều chùa
tuân thủ theo con đường hoằng dương đạo pháp, nội dung thể hiện qua các
khoá an cư kiết hạ, tu học, nhưng phần lớn lệ thuộc vào việc hướng dẫn
của các tông phái, hệ phái và các gia đình Phật tử. Nhưng hầu như chưa
có sự thống nhất về giáo dục Phật giáo trong các giáo hội và các gia
đình phật tử tại hải ngoại. Xét về nền tảng, 30 năm qua Phật giáo hải
ngoại mới chỉ giữ đuợc ở mức độ giữ đạo mà thôi, ngay cả việc truyền
giáo lý, truyền đạo, cũng chưa có kế sách. Đây là nhược điểm và cũng là
ưu điểm, nhược điểm đầu tiên là chưa có một hệ thống đẳng cấp đào tạo
giáo dục kinh điển Phật giáo, đào tạo trình độ học vấn tăng ni, đào tạo
giới tăng ni đáp ứng nhu cầu đa ngôn ngữ tiếp cận với thế hệ sau; ưu
điểm của hải ngoại là luật pháp nghiêm minh và tự do.
Một trong những nhà sư
đang làm công việc giữ chùa và hoằng dương đạo pháp tiêu biểu biều ở nam
Cali là các thầy Nhất Hạnh, thầy Minh Thông, thầy Chơn Thành, thầy Hạnh
Đạo, thầy Pháp Tánh, thầy Trí Chơn, thầy Chơn Trí, thầy Viên Lý, thầy
Quảng Thanh, thầy Nguyên Trí, thầy Nguyên Siêu, sư cô Chân Thiền, và còn
biết bao nhiêu tăng ni khác ở hải ngoại đã dốc lòng vì đạo pháp dân tộc.
Riêng thầy Minh Mẫn, thầy được đông đảo chư tăng ni uỷ thác thực hiện Đại lễ Phật đản
2552 tại Anaheim Conventin Center có sức chứa trên 5000 người vào ngày
18-6-2008. Đại lễ Phật Đản năm nay do thầy Minh Mẫn tổ chức là niềm tiêu
biểu hãnh diện cho Phật giáo đồ tại nam Cali. Mặc dù năm nay chùa nào lo
tổ chức ngày đản sanh của Đấng Từ Phụ, nhưng đứng về mặt tổ chức qui mô
thì không phải là việc dễ dàng tại hải ngoại.
Nói tới thầy Minh Mẫn
là phải nói tới chùa Huệ Quang, một danh thắng kiến trúc Phật giáo ở
quận Cam. Nằm trên trục tuyến Westminster nối liền ba thành phố
Westminster, Garden Grove và Santa Ana, chùa trở thành một tọa độ cho
đồng bào Phật tử ở quận Cam và các thành phố vùng phụ cận khác đổ về
theo xa lộ 22. Chùa Huệ Quang không những là nơi hoằng dương Phật pháp
mà còn là một trung tâm bảo tồn và phát triển văn hóa Phật giáo, là nơi
mà thế trẻ tập trung hàng tuần để học hỏi giữ gìn văn hóa truyền thống
nước Việt.
Tuy nhiên, không phải
một sớm một chiều mà thầy Minh Mẫn tạo dựng được một ngôi chùa mà hầu
như các nhà chính khách, dân cử Mỹ Việt mỗi lần đến Quận Cam đều ghé
thăm chiêm ngưỡng, thầy Minh Mẫn đã bắt đầu công việc dựng chùa và giữ
chùa từ cái thuở hàn vi lao lý, từ một thiền đường nhỏ xíu khiêm tốn
trên đường McFaden, sau hơn hai mươi năm nay mới có ngôi bảo tự trên đại
lộ Westminster, trung tâm Little Saigon.
Một đại lão Hòa thượng
dòng thiền Quán sứ Bắc tông đã âm thầm lao dịch trong 32 năm qua để xây
dựng một trung tâm văn hóa Phật giáo, văn hóa Việt Nam, cách quận Cam 30
phút xe hướng xa lộ 57 đông bắc, đó là thầy trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm
Pomona, vị sư khai sáng ngôi bảo tự bắc tông ờ miền nam Cali đó là Hòa
thượng Thích Minh Thông. Nét đẹp mẫu mực chùa Vĩnh Nghiêm Pomona là một
kiến trúc truyền thống bất hủ sáng tạo từ chùa Quán Sứ đất Thăng Long
ngàn năm văn vật, là hình bóng của chùa Vĩnh Nghiêm đồ sộ nguy nga giữa
thủ đô Sàigon, một ngôi chùa được vẽ nên từ đường nét cổ truyền miền
bắc đất Việt xa xôi ẩn hiện.
Vĩnh Nghiêm Pomona nay
đang ở giai đoạn cuối phấn đấu hoàn thành viên mãn, xứng đáng là ngôi
bảo tự lung linh hào quang Đức Phật tọa thiền giữa rặng San Bernadino
quanh năm tuyết phủ đầu non bảo bọc Pomona Valley. Trong một lần được
phát biểu nhân buổi lễ đầu xuân Mậu Tý tại chùa Vĩnh Nghiêm, bổn báo Văn
Hóa dâng lời tuyên xưng Hòa thượng trụ trì đã hai lần gạt lệ giũ áo cà
sa, bước xuống thuyền trôi theo vận nước mang theo dòng thiền Bắc tông
đi tới đất tây phương; không những ngài là vị tỳ kheo hiếm quí gieo hạt
giống Phật giáo Bắc tông trả ơn Đức Phật trên đất Mỹ, mà còn là nhà hoạt
động xã hội trần thân ra để giúp đỡ đồng bào tị nạn từ những năm đầu
chập chững sống trên xứ người. Hạt giống của ngài nay đã đơm hoa kết
trái tỏa ngát hương thơm Phật tổ từ ngôi bảo tự Vĩnh Nghiêm, hạt giống
bắc tông dòng thiền VĨnh Nghiêm-Quán Sứ này rồi đây sẽ luân lưu tới mức
nào thì đó chính là ưu tư canh cánh trong thầy Minh Thông.
Chuyện bên lề: Trong một bài phỏng của ký giả
trong nước phỏng vấn Hòa thượng Trí Quảng, những phát biểu của Ht Trí
Quảng gói gọn trong chiến lược của Ban Hoằng pháp Trung ương, trích ra
đây để Phật giáo hải ngoại suy nghĩ và lưu tâm.
Trích: Ht Trí Quảng:
- Đoàn Giảng sư Trung ương cần xây dựng một bộ phận giảng sư chuyên
đi hoằng pháp tại nước ngoài. Trong bối cảnh xã hội ngày nay, tôi thấy
nhu cầu học hỏi giáo pháp của một bộ phận Phật tử Việt Nam hải ngoại là
rất lớn. Cho nên, nếu chúng ta có đội ngũ giảng sư có trình độ ngoại
ngữ, am tường Phật học, đi ra nước ngoài hoằng pháp thì sẽ có ý nghĩa
rất lớn. Nếu các thầy trong Ban Hoằng pháp Trung ương thực hiện ý tưởng
này thì tôi sẵn sàng hỗ trợ.
- PV: Như vậy, để
phát triển ngành hoằng pháp, theo HT chúng ta cần phải làm gì? Và HT có
gởi gắm điều gì đối với chư vị giảng sư nhân dịp năm mới?
- HT. Thích Trí
Quảng: Với vai trò là một Phó chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Phật giáo Quốc
tế và Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, tôi nghĩ rằng sẽ có
những hỗ trợ rất mực cần thiết để phát triển ngành hoằng pháp. Trước
mắt, với vai trò là Trưởng ban Phật giáo Quốc tế, tôi sẽ hỗ trợ cho quý
thầy giảng sư trong những chuyến công tác hoằng pháp ở nước ngoài; xúc
tiến và tạo điều kiện phát triển ngành hoằng pháp không những ở Việt Nam
mà còn ở nhiều khu vực trên thế giới. Với vai trò Viện trưởng Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam, việc tổ chức nghiên cứu, hội thảo, ấn
hành, những công trình phát triển ngành hoằng pháp là những việc mà tôi
sẽ thực hiện trong thời gian tới. (hết trích).
Vượt thắng chính mình
Các con đường kiên trì
hộ niệm có gặp nhau không, nhưng cùng một thời điểm, song song với biến
cố giáo chỉ 9 ra đời, song song với hệ thống sư sãi chùa chiền thuộc
GHPGVN trong nước (thành lập năm 1981), hiện đang cai quản 15 ngàn cơ sở
thờ tự, 40 ngàn chức sắc và nhà tu hành, xây dựng những quần thể kiến
trúc chùa chiền vĩ đại mọc lên khắp nước, điển hình như ở
Sóc Sơn, ở Hoa Lư, ở
Bình Dương, ở Yên Tử, ở Đà Lạt, ở Bãi bụt-Bà Nà Sơn Trà Đà Nẵng, v.v…
những biến đổi to lớn về sinh hoạt Phật giáo Việt Nam đã góp phần thay
hình đổi dạng đất nước ta.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào
những công trình to tát như trên mà vội kết luận tay sát thủ hạ đao
thành bồ tát thì chưa đủ! Nếu chỉ nhìn vào cá nhân của các ông CS
cao cấp như nhất tướng công thành vạn cốt khô Đại tướng CS Võ Nguyên
Giáp, Thủ tướng CS Phạm văn Đồng, TBTCS Đỗ Mười, Chủ tịch CS Nguyễn Minh
Triết, Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, Viện trưởng Mác - Lênin Hoàng Minh
Chính, v.v… âm thầm qui y dưới cửa nhà Phật… thì cũng chưa đủ!
Vì sao, vì nó chỉ mới
thay hình đổi dạng mà thôi. (Nhà báo VH chưa đề cập tới chi tiết mỹ
thuật về các tác phẩm đúc-sơn-vẽ linh tượng Phật Tổ và Bồ Tát, đa phần
mầu mè hoa hoè hoa sói trông rất cải lương!) Duy có một nhân vật “xét
lại” hàng đầu về chủ nghĩa Mácxít - Lêninít là Viện trưởng viện triết
học Mác-Lê Hoàng Minh Chính không chịu thay đổi hình tướng mà tự chứng
từ việc sám hối qui y với GHPGVNTN-Thầy Quảng Độ, cho nên bổn báo xin
phép trở lại câu hỏi của Uỷ ban Tôn giáo Liên hiệp quốc với đầy đủ ý
nghĩa thâm sâu để hỏi nước Việt Nam có phải là một quốc gia Phật giáo
hay không? Có nghĩa là nước Cộng sản Việt Nam (!) là một quốc gia Phật
giáo nhìn về hình tướng hay là một quốc gia Phật giáo nhìn về bản thể.
Nếu qui y là sự kiện
khác thường đối với người cộng sản, thì sự kiện Vesak 2550-2008 đã gây
ngạc nhiên cho cả thế giới. Từ năm 1975 tới nay, nhìn vào Việt Nam, thế
giới chỉ thấy đó là một quốc gia khét tiếng độc tài cộng sản, nay lại
được Liên Hiệp Quốc khai thị cho tổ chức Đại lễ Tam Hợp-Vesak 2552 vào
ngày 19 tháng 5, năm 2008. Công đầu của cuộc cách mạng tâm linh công
khai này do ngài Duy Ma Cật Trí Siêu Lê Manh Thát mở đường. Xin can
những ai tham lam đưa tư duy chính trị vào sự kiện tâm linh vô tiền
khoáng hậu này, sa lầy chính trị chỉ làm tổn thương cho dân tộc mà thôi.
Một Bản Trường Ca
Vượt Thắng nhã nhạc ngợi ca lòng nhân đạo bao la của Đức Phật sáng
tạo từ tâm thức Việt Nam, sẽ bừng nở dòng Phật ca cung đình giác ngộ
trong mùa Phật Đản 2008. Đó là bản đại giao hưởng Khai Giác của nhạc sĩ
Nguyễn Thiện Đạo tái hiện lại con đường giác ngộ từ Thái tử Shiddarta
(Tất Đạt Đa) trở thành Samkhia Munita (Đức Phật Thích Ca Mâu Mi) xuất
phát từ bài kệ Ẩn hiện Hư vô, Tích linh Khai giác viết từ tinh thần của
Khoá Hư Lục (bàn về hư không) của Thái thượng hoàng Trần Thái Tông. Bản
đại giao hưởng 40 phút 7 chương dựa trên cảm hứng từ bài kệ và Tâm Kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đa, là Bản Trường Ca Vượt Thắng nhã nhạc sẽ
được trình tấu trong đại lễ bế mạc Vesak 2008.
Người Việt bắt đầu
phóng chiếu niềm tin và hy vọng về Đại lễ Tam Hợp Vesak 2008, chuỗi dây
chuyền Vesak sẽ phải có các hội nghị khoa học định hướng chung cho Phật
giáo Việt Nam, vừa kiện toàn hành chánh các tổ chức Phật giáo trở thành
Một Giáo Hội Thống Nhất, vừa định vị gốc rễ tư tưởng Phật Giáo Dân Tộc
Việt Nam.
Duy Ma Cật Trí Siêu Lê Mạnh Thát,
người tù Phật giáo bị CS xử tử hình
Đại lễ Vesak Tam Hợp
2008 tổ chức tại Việt Nam do quyết định cuối cùng của Uỷ ban Tôn giáo
của Liên hiệp quốc nhóm họp tại Bangkok, thủ đô quốc gia Phật giáo
Thailand. Người nhận được vinh dự này là người tù Phật giáo bị cộng sản
Việt Nam xử tử hình, đó là Thượng tọa Trí Siêu Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh
Thát.
Trong một số báo Văn
Hóa xuất bản vào tháng 10, 2007, Văn Hóa đã xưng tụng Thượng tọa Trí
Siêu Lê Mạnh Thát là Duy Ma Cật của Việt Nam. Thầy Duy Ma Cật đã chứng
minh cho mọi người thấy dù nhà nước Việt Nam có bắt ngay cơ hội bằng
vàng này để lấy danh nghĩa đăng cai, nhưng toàn bộ tổ chức đại lễ đã báo
hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa độc quyền.
Kể từ năm 1930 cho đến
nay, công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam bắt đầu khởi động, khởi động
từ một quốc gia bên bờ mở cửa để hội nhập vào cộng đồng quốc tế, hội
nhập với “gia tài của Mẹ” đã bị tàn phá bởi chiến tranh và ngu dốt, bản
sắc văn minh văn hóa tinh hoa của dân tộc đã bị chủ nghĩa giai cấp triệt
hạ tận gốc rễ, may ra, cơ hội Đại lễ Phật Đản 2552-(2008) là một đại tập
thành duyên chúng để tái tạo lại tâm linh Việt Nam. Trách nhiệm to lớn
của thầy Duy Ma Cật Trí Siêu Lê Mạnh Thát là mang đời sống tâm linh Phật
giáo trả lại cho dân tộc Việt Nam.
Gần đến Phật Đản, Thầy
Trí Siêu tung ra loạt bài - 7 công án Sử về lịch sử và huyền sử dân tộc
Việt. Thầy Trí Siêu muốn gởi một thông điệp xét lại lịch sử mờ mịt của
dân tộc Việt đã bị đám mây mù thế kỷ khuất lấp hàng ngàn năm nay. Tuy
thầy Trí Siêu không nói, nhưng gián tiếp phê bình xưa nay các nhà hoạt
động văn hóa chỉ biết tuân thủ theo lời phán - hạ bút của các sử gia để
hậu thế hiểu sai lệch văn học sử nước nhà theo thời gian.
Tất nhiên, phát hiện
nào cũng bị đối kháng, các công án Sử của Thầy Trí Siêu chưa hẳn đã là
chân lý mà còn cần có thời gian nghiên cứu truy tầm. Ở ngoài Bắc có bốn
ông tiến sĩ sử học “Lâm-Lê-Tấn-Vượng” danh tiếng vang lừng, ba ông tiến
sĩ Lâm-Lê-Trung phản biện thầy Trí Siêu tức thời qua một số lập luận
đăng tải trên báo chí.
Loạt bài với 7 công án
Sử tóm tắt theo các tiêu chí như sau:
1/ Về sử gia Lê Quý
Đôn. 2/ Lịch sử dân tộc bảo tồn trong kinh Phật – Truyền thuyết An Dương
Vương. 3/ Làm trong sàch những trang sử của tổ tiên bờ cõi. 4/ Tiếp tục
hành trình về thời đại Hùng Vương. 5/ Khi Thiền sư nổi giận. 6/ Nhà Hán
“đoạt khống” đất đai nước ta. 7/ Sĩ Nhiếp là ai?
Ý đồ của loạt bài - 7
công án Sử mà Thầy Trí Siêu tung ra đúng mùa Vesak 2008, phải chăng Thầy
muốn gời một lời cảnh báo về cách đọc, cách học, cách nghiên cứu, cách
phổ biến trang sử cũ, vốn đã trở thành cái nếp tập quán nô dịch chế độ,
nô dịch quan trường, nô dịch văn hóa. Thầy Trí Siêu muốn minh chứng các
thời đại độc lập huy hoàng của dân tộc từ thời Hùng Vương, nhưng do ở
các thời kỳ đó nước ta chưa có văn bản di chỉ để lại, hoặc bị thiêu hủy
trong cuộc chiến giữ nước, hoặc bị “nhuận sắc” qua chữ viết của các tác
giả nước khác mà không ghi xuất xứ, v.v… điều đó cũng không có gì lạ đối
với bút lực của bọn đế quốc văn hóa, bọn giám hộ, bọn thừa sai mục đích
là nhằm mơ hồ hóa lịch sử nước ta, hay hạ đẳng hóa nền văn minh văn hóa
chói lọi của bản địa Việt tộc, hoặc tìm mọi cách thâm độc để “triệt
hạ tận gốc để dân ta không biết nguồn gốc của mình”.
Ông khẳng định: Trích:
“Đó là triều đại Hùng Vương, là nhà nước Hùng Vương. Nhà nước đó đã
được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có
luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học... Nhà nước
đó, nền văn hiến đó hoàn toàn không do người Trung Quốc đến “khai hóa”
mà có. Nó có đủ bản lĩnh, đủ sức mạnh để tiếp thu những gì là tinh hoa
và để tự vệ trước âm mưu nô dịch của ngoại bang.”
Ý đồ của 7 công án Sử
khẳng khái nói lên người Việt, nước Việt là một quốc gia tự chủ - độc
lập, đã thiết chế vững chắc một nền tảng xã hội nhân dân chủ căn cơ dưới
tiếng trống lãnh đạo của trống đồng Hòa bình, Đông sơn, Ngọc lũ, đã sống
một đời sống văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun đến
văn hóa Đông Sơn. Đó là một nền văn minh văn hóa thuần Việt, mà đạo Phật
Việt hơn hai ngàn năm qua là cái bóng đối mặt trong đời sống tâm linh
dân Việt. Những phát hiện mới về cổ sử chứng minh giải đất Giao Chỉ đã
có những thiền sư người Việt, Giao Chỉ mới là cái nôi Phật giáo trong
vùng Đông Nam Châu Á, đất Việt mới là cái nôi đất của Bụt tọa thủ ở
phương nam tiến ngược lên phương bắc truyền bá đạo Phật. Phát hiện ra
nguồn gốc lịch sử đạo Phật và ai là người đầu tiên khai sáng đạo Phật ở
nước ta sau Ấn Độ, cần phải phổ biến sâu rộng để đánh đổ tập quán thường
cho rằng Phật giáo từ các Thiền sư Trung quốc truyền xuống phương nam.
Công án Sử còn nói lên từ Giao Chỉ cho đến Việt Nam mới có thể tự hào
rằng đất nước này có khả năng dung - hóa mọi luồng tư tưởng trên thế
giới đổ về sau này như đạo Tiên, đạo Lão, đạo Khổng, đạo Nho, đạo Chúa,
đạo Hồi, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, đạo Mác Xít, đạo Lênin-Stalin, v.v…
Khả năng hóa chứ không hòa là tinh hoa của người Việt Nam. Hóa không
mất, hòa sẽ mất.
Ý đồ của 7 công án Sử
của một ông Từ giữ Chùa làng, phải chăng đó là một khởi điểm tìm về
nguồn cội đích thực mà đạo Phật Việt sau bao nhiêu thế kỷ linh lạc nay
đã tới mùa chuyển động, phục hưng, tái sinh, thuận duyên, để hóa vào sử
hồn dân tộc. Nóí như thế không có nghĩa khởi điểm không gặp nhiều mô
chướng. Duy Ma Cật thời Đức Phật còn gặp nhiều ma chướng huống chi là
Duy Ma Cật Trí Siêu Lê Mạnh Thát thời nay.
Ngày nay, Việt Nam đã
bước qua ngưỡng cửa chiến tranh. Sau chiến tranh là hoà bình.
Trong hoà bình và sau hòa bình là cả một con đường dài giải thoát - lập
trình tư tưởng. Các nhà tư tưởng Phật giáo hiện nay đang đi tìm lập
trình tư tưởng đạo Phật Việt để làm xương sống cho dân tộc.
Sau chiến
tranh, vì nhu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng, giai cấp lãnh đạo sống phập
phồng trong áp lực toàn cầu hóa - tứ bề thọ địch (Trung cộng-Mỹ-ngoại
thù-nội thù), lãnh đạo giai cấp mới đã quên mất cái cội nguồn đạo lý vốn
là căn cốt của nền văn minh văn hóa dân tộc, bán rẻ và coi rẻ mạng sống
và nhân phẩm dân tộc nhiều thập niên qua, bây giờ xã hội tróc gốc suy
đồi bừng con mắt thấy người lầm than, cóc chết 30 năm mới quay đầu về
Phật, mới qui y thọ giáo, mới thấy tôn giáo là niềm tin và hy vọng của
xã hội và chế độ, nhưng nếu chế độ nào mà biết vận dụng cái xương sống
đạo giáo để vững sống cùng dân, thương xót cùng dân và hóa độ cùng dân
thì chế độ đó tồn tại, ngược lại sẽ bị luật đào thải của thời gian phế
bỏ.
Thiền sư Nhất Hạnh, giải
oan hay giải oán?
Một trong
ba học gỉa lớn của hải ngoại sẽ đọc tham luận nẩy lửa trong chương trình
Đại lễ Vesak 2008 tại Việt Nam, và cũng là nhân vật trung gian chuyển
động cuộc cách mạng văn hóa tại Việt Nam, đó là Thiền sư Nhất Hạnh.
Những ý
kiến chấn động hôm nay của Thiền sư Nhất Hạnh sẽ động não chính trị bộ
đảng CSVN theo một hướng khác. Thái độ chính trị của Thiền sư Nhất Hạnh
biểu tỏ qua chiến dịch “Giải oan”, nhưng “Trung ương Đảng và ban Tư
Tưởng đã không muốn Làng Mai sử dụng từ “giải oan”, sau cùng hai bên
đồng ý sử dụng chữ “bình đẳng giải oan”.
Theo lời
giải nghiã của một tác gỉa viết trên Net: “Theo tư tưởng lãnh đạo,
đây là một cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, những người chiến sĩ hy
sinh là tại họ muốn hy sinh, những người bên kia chống lại tại vì họ
muốn chống lại, hai bên đã chết vì muốn đi theo đường lối và chí hướng
của mình, như vậy không có oan ức gì cả”.
Theo bổn
báo Văn Hóa, điều đó chưa đúng hẳn, mà phải thêm rằng: cái “muốn” của
hai bên đã kéo théo cái oán trong mấy thập niên chiến tranh lửa đạn hận
thù. Nếu chiến tranh đã tạo oán thì trong hoà bình gieo oán là một tội
ác. Máu xương của đồng bào đã chất cao bằng núi thì cái oán cũng chất
ngất bằng non.
Ai cũng
hiểu muốn gột bỏ cái oán một sớm một chiều không phải dễ dáng, lấy oán
báo oán, oán ấy trùng trùng, lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan. Ngày xưa
và ngày nay, bao giờ bọn đạo đức giả trốn quân dịch luôn to mồm kêu gào
đạo đức, bọn này sống chui nhủi rúc dưới cái bầu trời lửa đạn, rúc dưới
cái đáy vinh thân, tay gõ mõ, miệng cầu kinh, áo chùng thâm, nên không
bao giờ biết được cái đau khổ của nhân dân đồng bào, biết đuợc cái oán
hờn của nhân dân đồng bào.
Vì sao,
vì: Trích: Vụ trưởng vụ Phật giáo của Ban Tôn giáo Chính phủ đã nói
với thầy Pháp Ấn là trong trai đàn, các thầy không được nhắc tới người
Thuyền nhân bị thiệt mạng trên biển cả, các nạn nhân chiến tranh của
miền Nam, trong đó có các binh sĩ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, không
được nói tới các hố chôn tập thể, không được nói tới tù đày, học tập cải
tạo, v.v...
Vì lý do
đó, bổn báo Văn Hoá xin cúng dường tam bảo thêm hai chữ “Giải oán”. Cuộc
chiến tranh tàn khốc tàn hại dân tộc Việt Nam đã xây oán hờn lên tới cửu
trùng. Oán hờn đã chất chứa tứ bề chứ không phải chỉ có hai bề quốc -
cộng. Đại Hoàng đế Gia Long sau khi thống nhất sơn hà, sau khi đái một
bãi vào đầu lâu “kẻ thù” đã lập đàn tràng giải oan giải oán ngay trên
đất Chiêm.
Trở lại
thái độ chính trị của Thiền sư Nhất Hạnh, thầy muốn gì?
Thiền sư
là một từ rất xa lạ đối với hàng ngũ đảng viên đảng CSVN. Xưa nay hàng
ngũ đảng viên CS từ cao đến thấp chỉ biết đến tổ chức-chính trị và phục
vụ tuyệt đối mệnh lệnh của lãnh đạo, chỉ có duy lý mà chưa có duy tâm,
giỏi lắm cũng chỉ biết đến cửa chùa làng là cùng; nhưng hôm nay một quốc
gia CS đã biết đến thiền sư, mà lại một thiền sư được chính thức mời về
nói chuyện ở viện triết học, viện chính trị học, ban văn hóa tư tưởng,
cơ quan đầu não của đảng CSVN thì quả là một chuyện động trời.
Thiền sư
nói những gì, làm những gì?
Trích:
Trước khi về nước, Thầy Làng Mai đã có viết thư trân trọng thỉnh cầu
ngài Chủ tịch nước, ngài Thủ tướng chính phủ và ngài Chủ tịch quốc hội
tới dự lễ dâng hương bạch Phật khai mạc các đại trai đàn, nhưng ngài
không đến được, không phải là tại các ngài không muốn đến mà tại vì có
những lý do không nói ra được; lý do duy nhất có thể nói ra được là tại
vì trong quá khứ chưa từng xảy ra một tiền lệ như thế -chính quyền đến
tham dự một lễ lược do nhân dân tổ chức-.
… Tuy
Ngài Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết không đến dâng hương bạch Phật theo
lời mời của Thầy Làng Mai nhưng phu nhân của ngài đã có mặt tại Đại trai
đàn chùa Vĩnh Nghiêm… và sau đó rất đông các vị phu nhân của các vị lớn
trong chính quyền và trong quốc hội đã về dự trai đàn cầu nguyện.
Sau chuyến
đi Việt Nam “bình đẳng giải oan”, giảng về “Thiền” chấn động cả nước,
Thiền sư Nhất Hạnh về lại đất tây phương cử hành lễ quy y tam bảo cho
hàng ngàn đệ tử tây ngay tại đất thánh tây. Thiền sư muốn biểu dương Nẻo
Về Của Ý từ đông sang tây cho ống kính của người CS thầy rằng Bụt đã
chuyển hóa ngay trên đất tây, chứ phương đông đã có sẵn Bụt rồi mà không
biết đến Bụt. Quán chiếu của Thiền sư gởi về cố hương: Thiền sư đề nghị
đảng CSVN hãy bỏ cờ máu đi, đổi quốc ca “thề phanh thây uống máu quân
thù” đi, đổi quốc hiệu chệch choạng lòng thòng đi…
Một câu
chuyện tiêu biểu về Thầy Nhất Hạnh được nhà báo Giao Hưởng viết như sau:
“Số là năm
1966, ông có viết cuốn “Hoa Sen Trong Biển Lửa”, xuất bản tại Saìgon.
Đến năm 1986, ông từ Pháp qua Amsterdam (Hà Lan) dự một hội thảo có mặt
nhiều nhà trí thức quốc tế. Bấy giờ có một giáo sư thần học đứng dậy hỏi
thiền sư Nhất Hạnh là trong cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa vì sao thiền sư
lại viết thế này, thế này… Thiền sư trả lời: “Tôi đâu có viết cuốn Hoa
Sen Trong Biển Lửa!” khiến ông giáo sư trố mắt ra ngạc nhiên, vì ông đã
đọc cuốn sách rất kỹ. Thiền sư giải thích: “Ông giáo sư thần học sẽ
không thể hiểu được (câu trả lời kia) với bộ óc quen suy luận theo lối
cũ. Sự thật rõ ràng, người đang đứng trước ông là một thực thể sống
động, vậy mà ông không tiếp xúc với người đó, lại để mình tiếp xúc với
bóng ma của hai mươi năm về trước. Hai mươi năm trước, Thích Nhất hạnh
đã nói những điều trong cuốn sách đó để giải quyết những vấn đề của hai
mươi năm về trước. Hiện tại, Thích Nhất Hạnh đang ở đây, đang uống trà,
đang đàm luận về những vấn đề thuộc sự sống ngày hôm nay, ông không tiếp
xúc với cái hiện tại của tôi mà lại muốn tiếp xúc với một bóng ma của
quá khứ. Tôi tức là tôi của ngày hôm nay, còn người viết cuốn sách đó đã
chết rồi; nhưng không biết ông giáo sư thần học ấy có hiểu không?
Đó là ngôn
ngữ của thiền, đó là ngôn ngữ của thầy Nhất Hạnh, đó là thái độ chính
trị của Thiền sư Nhất Hạnh. Thiền sư không “Mật Tẩn Xuất” ai cả.
Thầy Hạnh Đạo
Nói tới
Chánh sở Tuyên uý Phật giáo vùng 4 và vùng 1, Giám đốc nha cứu trợ miền
trung, tù nhân cải tạo 8 năm, phó đại diện GHPGVNTN Quảng Nam Đà Nẵng,
không Phật tử nào không biết đến thầy Hạnh Đạo. Thầy qua Mỹ năm1994,
lập chùa Phổ Đà và gia đình Phật tử Phổ Đà. Chùa là nơi thờ tự ba vị
tỗng thống VNCH là Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương, Dương Văn Minh và
các vị tướng tuẫn tiết.
Vào ngày
thứ Bẩy 10-5-2008, Thầy Hạnh Đạo cử hành Đại lễ Phật Đản 2552 vào lúc 5
giờ chiều. Rất đông chư tôn đức đến tham dự như các Ht. Minh Thông, Chơn
Thành, Trí Chơn, Nguyên Lai, Đạo Quang, Phước Thuận, Pháp Tánh, Nguyên
Trí, và quí Thượng toạ Đại đức Tăng ni.
Đại lễ
Phật Đản tại chùa Phổ Đà năm nay kính mừng ngày đản sanh của đấng Từ
phụ, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, nhơn sanh an lạc và nước Việt Nam
tự do, dân chủ, công bằng, quốc thái dân an.
Thầy Hằng Trường
Thầy Hằng
Trường là một tăng sĩ mới xuất hiện ở nam California độ vài năm nay. Báo
Văn Hóa Magazine may mắn có duyên lành qua sự sắp xếp của Hội Từ bi
Phụng Sự đã phỏng vấn thầy Hằng Trường liên tiếp qua hai số báo Issue#
115&116 Oct-Nov, 2006. (Hội TBPS do một số nhân sĩ ở Quận Cam điều hành,
qui tụ khá đông Phật tử.)
Thầy là
con trai của Bác sĩ Lê Khắc Quyến, một nhân sĩ nổi tiếng ở Huế, ông vốn
là bác sĩ riêng của cụ bà Ngô Đình Khả và là bác sĩ gia đình của cố vấn
miền trung Ngô Đình Cẩn; ít ai biết Bs Quyến là người đã âm thầm hỗ trợ
phong trào nổi dậy của Phật giáo miền trung xuống đường góp phần lật đổ
chế độ Đệ nhất Cộng hòa.
Khởi đầu tu tập từ một
ngôi chùa ở Seattle, nhưng thầy Hằng Trường đã bôn ba các tu viện danh
tiếng trên thế giới để tạo cho mình một pháp môn riêng. Bằng các phương
pháp truyền bá giáo lý đạo Phật gần guĩ với tâm tư tình cảm của người
Việt Nam, thầy Hằng Trường đã sớm thu hút đông đảo Phật tử tại Quận Cam.
Ngày 4-5-08 vừa qua, để
kính mừng Phật Đản sanh, Thầy Hằng Trường và Hội Từ Bi Phụng Sự đã tổ
chức tại trường Mc Garvin Lễ Tắm Phật và Lễ Tẩy Thủ theo truyền thống
Phật giáo còn gọi là Lễ Tỏ Ơn Cha Mẹ, hơn 500 Phật tử đã đến tham dự đại
lễ này.
LÝ KIẾN TRÚC / VĂN
HÓA MAGAZINE
MÙA PHẬT ĐẢN
2552-CALIFORNIA 30-4-2008
|