|
Bước sang thế kỷ
21, đại đa số người dân ở Âu châu, Mỹ châu không còn tin vào Chúa và
Giáo hội Kitô nữa. Các Giáo hội Kitô bắt đầu nhắm trọng tâm truyền đạo
sang các quốc gia Á châu. Đặc biệt là Giáo hội Công giáo La mã có cả một
chính sách được gọi là “Ecclesia in Asia” để truyền đạo nữa. Ngày nay,
ngôn ngữ và hành động truyền đạo được che đậy khéo léo hơn, không thể
đem áp dụng những hành động gian ác, tàn bạo đối xử với những người
không tin đạo như ở Âu châu trong các thế kỷ trước. Nhưng chúng ta phải
tìm hiểu từ cội nguồn cái tôn giáo luôn luôn tuyên truyền, xiển dương
tình thương và bác ái này có thể thay đổi được bản chất của họ không,
khi Phúc Âm và tín lý là phương tiện chỉ đạo bất di dịch trong gần hai
thiên niên kỷ. Lịch sử Kitô hóa Âu châu là bài học không thể quên cho
các quốc gia Á châu.
Trong Directory
for the Inquisitors (Hướng dẫn cho các Quan toà Pháp đình, trang
135), Giáo hoàng Alexander IV (1254-61) đã chỉ thị rằng: “Tất cả mọi
thành phần dị giáo phải bị trừng trị và chọn lựa các hình phạt khác nhau
cho chúng và những kẻ tòng phạm với chúng” (All sect of heretics are
condemned and various punishments are appointed for them and their
accomplices.)
Kitô giáo thường
hay đề cập tới câu ‘châm ngôn’: Ai tát má trái mình hãy đưa luôn má phải
cho họ. Thật ra câu nói đầy lòng bác ái này chẳng phải của Chúa Giêsu,
mà chính ông Pythogoras đã nói từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên (BC).
Vậy mà trong lý thuyết và hành động, Kitô giáo luôn luôn chủ trương tàn
sát kẻ đối nghịch. Qua Kinh thánh, chính Chúa Giêsu cũng đã nói như sau:
“Còn bọn thù
địch của Ta, những kẻ không muốn Ta làm vua trên chúng, thì hãy dẫn
chúng lại đây và hạ sát chúng đi trước mặt ta” Luca 19:21 [theo Kinh
thánh, bản dịch của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn, phần Tân Ước, trang 172,
DCCT 1976] (1)
Nguyên văn từ
Humphreys: But those mine enemies, which would not that I should reign
over them, bring hither, and slay them before me.
Thiên đường của
Kitô giáo chỉ là những điều hoang tưởng (mới đây chính Giáo hoàng J.
Paul II cũng xác nhận điều này), nhưng Địa ngục trần gian là một điều có
thực. Trong hơn một ngàn năm bạo hành, khoác dưới ‘nhãn hiệu’ Chúa
Giêsu, Kitô giáo đã khủng bố và sát hại khắp một châu (Âu), xong rồi
xuất cảng khủng bố đến 4 châu khác của quả địa cầu./p>
Giáo hội – trong ý
nghĩa khôi hài quỉ quái của nó, tự cho mình là công cụ đi rao giảng tình
yêu thương của Chúa Giêsu, nhưng đã cho các nạn nhân không tin vào Giáo
hội những hình phạt bằng các dụng cụ tra tấn tàn bạo chưa từng có một
chế độ độc tài dã man nào trên thế giới áp dụng.
Những kẻ không tin
Chúa, chống lại Giáo hội Catô La mã, sẽ nhận những hình phạt sau:
- Giam trong ngục
tối, bỏ cho chết đói
- Khủng bố và đày
đọa tinh thần
- Xẻo thịt, trùm
vải bố vào đầu cho chết ngạt
- Thiêu sống
- Tra tấn cho nạn
nhân chết chậm lại và đau đớn.
Sau đây là các
dụng cụ tra tấn điển hình:
Bánh Xe ‘tử thần’ (Breaking on the Wheel)

Những người dị
giáo (không theo đạo Kitô), sẽ bị tra tấn bằng bánh xe này như sau:
- bị lột da từ
đầu, mặt, xuống khắp châu thân
- mũi, đầu vú, vú
bị tướt đứt ra bằng các chiếc kẹp đun nóng đỏ.
- miệng bị rạch
đến lỗ tai
- đóng đinh lộn
ngược: đầu xuống đất, chân lên trời
- bị ném qua cửa
sổ cho thân thể rơi trên các cọc sắt nhọn
- chặt đứt hai
cánh tay
- thiêu sống chậm,
bắt đầu từ chân, lên tới đầu gối cho tới sọ dừa v.v...
- phụ nữ bị lột
quần áo, treo trên cây bằng núm tóc, hay treo một giò cho tới lúc chết
- dùng dụng cụ
tourniquet, đặt trên đầu nạn nhân và xoáy thắt lại cho đến lúc hai
con ngươi lòi ra ngoài.
Trái Lê của Giáo
hoàngg
(The Pope’s Pears)

Tuỳ theo đối
tượng nạn nhân là nam, nữ hay đồng tính luyến ái, hình phạt ‘trái Lê
Giáo hoàng’ được áp dụng vào các vị trí khác nhau trên cơ thể. Nếu là
phụ nữ bị buộc tội đã giao hợp với “ma quỉ”, thì trái Lê sẽ được đặt ở
âm hộ. Nếu là đồng tính luyến ái sẽ bị đặt ở hậu môn. Nếu là các người
dám to tiếng phê bình chỉ trích giáo hội, các tu sĩ địa phương nơi nạn
nhân cư ngụ thì sẽ bị đặt ở miệng. Sau khi trái Lê được đặt vào các cơ
phận nói trên, người thi hành xử tội sẽ vặn nút xoáy ở phía đầu cho phần
dưới mở rộng ra làm cho tan nát phần xương thịt ở phía trong. Xin quan
sát vào hình vẻ, phần mũi nhọn ở trong thường làm cho các cơ phận ở
cuống họng, ruột và cổ tử cung nát ra. Các nạn nhân thường chết sau khi
bị hình phạt này.
Chiếc Bệ của
Juda
(The Juda’s Cradle)

Nạn nhân sẽ bị kéo
lên thòng xuống bởi một sợi dây thừng hay sắt, cho tới lúc nào các cơ
phận như âm hộ, hậu môn hay cột tuỷ sống còn sót lại mới thôi. Có khi
nạn nhân còn bị tạo thêm đau đớn bằng cách cột thêm vật nặng vào, nâng
dây lên cao, hoặc động tác kéo lên xuống nhanh hơn.
Nhện sắt (Iron Spider)

Nhện sắt được
đun nóng đỏ lên, dùng để tướt đứt các chiếc vú ra khỏi ngực. Được dùng
cho các phụ nữ bị buộc tội là loạn luân, ngoại tình, phá thai, nói xấu
giáo hội, Chúa, hay bị vu cáo có tội mà dấu diếm.
Lò Nướng thịt (Grilled)

Dùng để:
- bứt lỗ tai
- kéo đứt lưỡi
- đưa cơ thể thấp
xuống cho độ nóng gia tăng
- nướng sơ nạn
nhân rồi ném cho chó cấu xé
- dùng thêm vật
nhọn bằng sắt để đâm vào các đầu móng tay, chân và đến khắp thân thể
- treo ngược chân
lên trời, rồi hun khói ở dưới cho nạn nhân chết ngạt.
- mổ bụng cho lòi
ruột ra
- cột tay chân vào
bánh xe, quay tròn cho đến khi hậu môn bị lòi ra ngoài
- dùng dao chặt
thịt để cắt cổ
- dùng búa rìu
đánh vào đầu nạn nhân
Dụng cụ Strapado

Dụng cụ này được
chế tạo để làm cho phần vai của nạn nhân bị tướt đứt ra ngoài thân thể,
bằng cách làm cho thân rơi thật nhanh, bất thần ngưng lại, phần xương
thịt bị tướt nứt ra. Để làm cho thịt xương tướt ra nhiều hơn, người ta
còn buột thêm các vật nặng từ 50 đến 500 cân (pounds) vào cơ thể.
Móng Mèo
(Cat’s Paw)
- Chiếc cào sắt có
móng nhọn dùng để cào da, thịt nạn nhân cho tới xương.
Thiêu sống chậm (Slow Burn)
Dụng cụ trong thế
kỷ 16, dùng để đưa nạn nhân vào, ra ngọn lửa thiêu sống nạn nhân chậm
lại, gia tăng sự đau đớn.
Phòng Tra tấn (Torture Chambers)
Trong 1500 năm,
Giáo hội Kitô đã xử dụng Phòng Tra tấn một cách hệ thống khắp Âu châu.
Tra tấn là luật lệ, không phải là trường hợp ngoại lệ. Bên cạnh Kinh
thánh, còn có cuốn sách Chiếc Búa dành cho Ma quỉ (Hammer of
Witches) được viết ra để hướng dẫn từng điểm cho các tu sĩ Công giáo các
cấp thi hành trên các nạn nhân – là những người bị bắt và bị buộc vào
các tội “ma quỉ” và “phù thuỷ” (witches anhd sorcerers). [Science Shams
& Bible Bloopers, David Mills, trang 361). Ông linh mục Nguyễn Thế Thuấn
đã dịch các danh từ này cho phù hợp với xã hội Việt Nam thành “đồng bóng
và dị đoan”.
Hình Phạt Thánh Ba
Ngôi
(The Holy Trinity)

Khi một nạn nhân
mang tội “phạm thánh’, hay vì tội dám can đảm nói sự thật ô trọc của các
tu sĩ địa phương, nạn nhân bị hình phạt “holy trinity”. Mặt nạ sắt sẽ
được nung nóng đỏ lên, xong đặt vào đầu nạn nhân. Chiếc roi sắt cũng
được nung nóng lên, quất vào phía sau. Sau khi mặt nạ sắt nguội đi, sẽ
được lấy ra khỏi đầu nạn nhân, nhưng da và hai con ngươi còn dính trong
đó. Chưa hết, miệng nạn nhân bị banh rộng ra, dùng chiếc kẹp sắt đã được
nung nóng để kéo lưỡi nạn nhân ra ngoài.
Màn tra tấn này
thường làm nạn nhân chết, nhưng đôi khi nạn nhân vẫn được sống sót, dù
đã bị câm điếc, đui mù... nhưng nạn nhân được dùng làm công cụ để đe dọa
các người khác, tạo thêm mối đau khổ cho thân nhân gia đình.
Dù các dụng cụ và
hình thức tra tấn trên là do lòng hung ác, cuồng tín tạo ra, nhưng đã
được dựa vào tinh thần Kinh thánh hướng dẫn cho hành động. Thí dụ (Chúa
Giêsu nói):
“Ai không lưu
lại trong Ta, thì bị quăng ra ngoài, như nhánh nho, và khô đi, người ta
sẽ lượm chúng, quăng vào lửa, và chúng sẽ bị thiêu.” (Yoan 15:6,
Kinh thánh dẫn như trên, trang 236)
Nguyên văn từ
Humphreys: (If a man abide not in me, he is cast forth as a branch, and
is withered; and men gather them, and cast them into the fire, and
they are burned.)
Hoặc: “Bởi lôi
đình của Yavê, các cơ binh, đất thành hỏa tai, dân như thế làm mồi lửa
thiêu. Ai nào còn nể anh em.” (Ysaya 9:18, Kinh thánh dẫn như trên)
Nguyên văn:
(Through the wrath of the LORD of hosts is the land darkened, and the
people shall be as the fuel of the fire: no man shall spare his brother.
Isaiah, 9:19) (2)
Ghi chú:
(1) Để khỏi mang
tiếng là “xuyên tạc” Kinh thánh, những đoạn về KT, chúng tôi không tự ý
dịch ra nhưng lại mượn bản dịch Kinh thánh của Linh mục Nguyễn Thế
Thuấn, do Dòng Chúa Cứu Thế xuất bản 1976, là cuốn KT nền tảng của Giáo
hội CG VN.
(2) Độc giả lưu ý:
Trong nguyên tác của K. Humphreys trích đọan Kinh thánh này ghi là
Isaiah 9:19, nhưng trong bản KT của Nguyễn Thế Thuấn ghi là Ysaya 9:18.
Sources của K. Humphreys:
- Alan Hall,
The History of Papacy, PRC, 1998
- Alice K. Turner,
The Witch-hunt in Early Modern Europe, Longman, 1995
- A.F. Ide, The
Pope..., AAP, 1987
- George Scott,
A History of Torture, Senate, 1995
- Helen Elberbe,
The Darkside of Christian History, Morningstar & Lark, 1995
nguồn: http://www.giaodiem.com/
|