|
ngày 27 tháng 9, 2008 |
Sự thật về "phép lạ hiện thân của bà Mary" ở Lộ Đức (Lourdes) ra
sao? Chúng ta có thể tìm thấy chi tiết trong cuốn “Lộ Đức: Sự thật về
những cái thấy của Bernadette. Tính cách thương mại của hang đá
(Lourdes)” (Lourdes: La Vérité sur les Visions de Bernadette. Le
mercantilisme de la Grotte), của André Lorulot . Sau đây tôi xin trích
dẫn những đoạn quan trọng về cái gọi là "phép lạ" ở Lourdes.
"Giáo hội có những phương tiện quyền thế để truyền bá những
chuyện không tưởng. Giáo hội phát hành hàng triệu cuốn sách chứa đầy
những lời dối trá trắng trợn và những sai lầm cố ý.
Thí dụ, cuốn sách nổi tiếng của Henri Lasserre viết về Đức Mẹ ở
Lộ Đức đã được phát hành tới một triệu cuốn. Thực ra, văn phẩm thuộc
loại đó chỉ nhằm những người trí tuệ thô thiển. Đó là tác phẩm của một
tín đồ mù quáng và cuồng tín.
Một Linh mục dòng Tên, ông Cros, thú nhận rằng"cái mớ tài liệu
đưa cho Henri Lasserre ngày trước " thực sự trống rỗng. "Không có gì
trong đó có thể dùng để viết một cách xác thực về câu chuyện hiện thân
của Đức Mẹ."
Larrerre giới thiệu Francois Soubirous (cha của Bernadette)
như là một con người gương mẫu. Trái lại, Linh mục Cros biết rõ rằng,
đó chỉ là một tên nghiện rượu, mang tiền của gia đình đi la cà tửu quán
uống rượu, vào tháng 3, 1858, đã bị tù vì tội ăn cắp.
Em nhỏ Bernadette Soubirous, con gái tên nghiện rượu kể trên,
cùng với vài đứa bạn đi kiếm củi.
Khi tới gần cái hang, em nhìn thấy một người đàn bà đẹp "không
giống người nào trên trái đất" mỉm cười. Em quỳ xuống. Người đàn bà
kia tay làm dấu Thánh giá.
Chủ nhật tới, em trở lại cái hang trên cùng mấy đứa bạn. Tất
cả đều quỳ xuống cầu nguyện. Sau một hồi, mặt Bernadette rạng rỡ lên.
Em lại thấy người đàn bà áo trắng kia xuất hiện. Các bạn em không ai
thấy cả nhưng xúc động trước cảnh tượng ngây ngất xuất thần của em bé
chăn cừu (Bernadette).
Người đàn bà mà Bernadette nhìn thấy trong hang cũng đọc riêng
cho em ba điều bí mật. Người ta đã không tiết lộ ba điều bí mật này.
Làm sao mà Bernadette có thể nhớ được những điều trên (giả
thử có người thực sự đọc cho em điều gì đó)? Trí nhớ của em nhỏ đáng
thương kia rất kém cỏi đến độ em không thể nhắc lại cho đúng hai tiếng
"Immaculée Conception" (Thụ thai vô nhiễm).
Bernadette đã mang tới một mảnh giấy và một cái bút chì để Đức
Mẹ đồng trinh viết. Nhưng "Bà" đã lẩn tránh, không viết và thật là đáng
tiếc. Chúng ta đã có thể có được một văn kiện tỉ mỉ, chắc chắn là đáng
tin cậy hơn là những lời tả lại của em bé nhà quê. Nhưng Bernadette
không biết viết, và đó là lý do, lý do duy nhất, bắt em phải trình lại
mảnh giấy còn trinh nguyên.
"Hãy nói với những Linh mục là phải xây một nhà thờ ở đây và mọi
người phải diễn hành đến đó."
Những lời trên, theo Bernadette, là của người đàn bà đã xuất
hiện, không thể làm các ông Linh mục phật ý. Tới đây, âm mưu đã rõ
rệt.
Khi người ta làm cho Đức Mẹ phát ngôn thì, do một sự trùng
hợp khó xử, bao giờ cũng là để phục vụ quyền lợi của giới giáo sĩ.
Tất cả cái trò hề đó đã được Linh mục Peyramale ở Lourdes
(Lộ đức) dàn dựng và sau đó được giám mục Laurence ở Tarbes khuyến
khích và ủng hộ.
Bernadette đã được hai linh mục khác, LM Ader và LM Ponian
chuẩn bị tư tưởng và mớm lời.
Người ta đã đem cô gái nhỏ bệnh hoạn tới một làng nhỏ, Bartrès,
để săn sóc.
Thật là khá châm chọc khi ta nhận xét là Bà đồng trinh luôn
luôn chọn những tâm hồn mộc mạc để giao phó riêng những bí mật.
Tại sao Bà đồng trinh lại chỉ xuất hiện trước em nhỏ bệnh hoạn
đó?
Ngoài Bernadette ra còn có hàng trăm, hàng ngàn người. Bà đồng
trinh có thể làm cho sự thổ lộ của mình có một giá trị nổi bật hơn nếu
xuất hiện trước tất cả mọi người một cách không ai có thể nghi ngờ và để
lại một vài văn kiện vô hiệu hóa mọi sự phản đối? Tại sao chỉ chọn
những đứa trẻ mắc bệnh tâm thần?
Vậy thì, những ảnh tượng Bernadette nhìn thấy đã được sắp xếp
một cách hoàn toàn từ trước bởi Linh mục Ader, vì, ít lâu sau những việc
làm vụng về đó (mang Bernadette đi xa để chuẩn bị; TCN),
Bernadette trở lại Lourdes để phóng mình vào những cơn hoang tưởng cuồng
loạn.
Thật ra, ngày 28 tháng 12, 1857 (45 ngày trước lần xuất
hiện đầu tiên) bộ Tư Pháp đã biết trước chuyện gì sẽ xẩy ra. Quan
Trưởng Tòa ở Pau, ông Falconnet, đã gửi cho ông Tòa ở Lourdes một văn
thư báo trước chuyện này.
"Tôi được biết rằng có những biểu lộ về một nhân vật siêu
nhiên và mang tính chất của phép lạ, đã được sửa soạn để đưa ra vào dịp
cuối năm. Tôi yêu cầu ông hãy để ý canh chừng sự thực về những việc
này.""
(L'Église possède des moyens puissants pour répandre ses récits
fantastiques. C'est par million d'exemplaires qu'elle diffuse des
publications remplies de mensonges flagrants et d'erreurs voulues.
Le fameux livre d'Henri Lasserre, par exemple, Notre Dame de
Lourdes, a été répandu à un million d'exemplaires...Ce genre de
littérature est, en effet, tout désigné pour des intellects
rudimentaires...C'est l'oeuvre d'un partisan aveugle et fanatique.
Un Jésuite, le P. Cros, avoue que la "liasse des documents
confiés autrefois à M. Henri Lasserre" était vide. "Rien n'y pouvait
servir à une histoire vérédique des apparitions."
...Lasserre présente Francois Soubirous (le père de la voyante
Bernadette) comme un homme modèle. Le P. Cros reconnait, au contraire,
que c'était un alcoolique, qui buvait au cabaret l'argent de la famille
et qui avait été emprisonné, en Mars 1857 pour vol.
...La petite Bernadette Soubirous, fille de l'alcoolique précité,
s'en va ramasser du bois mort, avec quelques compagnes.
En arrivant auprès de la grotte, elle apercoit une belle et
souriante dame "qui ne ressemblait à personne de la terre". Elle tombe
à genoux. La dame fait le signe de la croix...
...Elle retourne, le dimanche suivant, à la Grotte, avec d'autres
enfants. Tous s'agenouillent et se mettent à prier. Bernadette, au
bout d'un moment, se transfigure. Elle apercoit de nouveau la dame
blanche. Ses compagnes ne voient rien, mais sont émues au spectacle de
la petite bergère en extase.
...La vision de la Grotte dicta aussi à Bernadette trois secrets
confidentiels. On ne les a pas divulgués.
Comment Bernadette est-elle été capable de s'en souvenir, du
reste? (en supposant qu'on lui eut vraiment dicté quelque chose) La
pauvre gosse avait si peu de mémoire qu'elle ne parvenait même pas à
répéter ces deux mots: Immaculée Conception.
...Bernadette avait apporté à la Vierge, pour qu'elle écrive, un
crayon et du papier. Mais la "dame" se déroba et c'est dommage.
Nous aurions possédé là un document curieux, plus original sans doute
que les descriptions de la jeune paysanne. Mais...Bernadette ne savait
pas écrire - et c'est la raison, la seule raison, qui la contraignait à
rapporter son papier vierge (comme la "dame".)
"Allez dire aux prêtres qu'il doit se bâtir ici une chapelle et
qu'on y doit venir en procession".
Ces paroles, attribuées par Bernadette à sa radieuse "apparition",
ne pouvaient déplaire à ces messieurs prêtres, on les concoit. La trame
est ici bien visible.
Lorsqu'on fait parler Madame la Vierge-Mère, c'est toujours, par
une coincidence inquiétante, pour servir les intérêts du clergé.
...Toute cette farce a été combinée par l'abbe Peyramale, curé de
Lourdes, encouragé et soutenu ensuite par l'évêque de Tarbes, M.
Laurence.
Bernadette avait été savamment préparée et suggestionnée par deux
autres prêtres, l'abbé Ader et l'abbé Ponian.
On avait envoyé la gamine, malade, se soigner dans un tout petit
village de la montagne: Bartrès.
... Il est assez piquant de remarquer que la Vierge choisit toujours
des simples d'esprit pour confidents. Cà aussi, c'est une indication
précieuse.
...Pourquoi la Vierge ne voulait-elle se montrer qu'à cette petite
malade?
Aux côtés de Bernadette il y avait des centaines, puis des
milliers de personnes. La Vierge pouvait donner à sa manifestation
une valeur plus éclatante en se montrant à tout le monde, d'une facon
indiscutable - et laisser quelque document qui aurait réduit à néant
toutes les objections. Pourquoi choisir toujours des petits enfants
névropathes?
....Les visions de Bernadette étaient donc parfaitement combinées à
l'avance par l'abbé Ader, car, peu de temps après qu'il eut tenu ces
imprudents propos, l'enfant rentrait à Lourdes et se livrait à ses
hallucinations hystériques.
En effet, le 28 Décembre 1857 (45 jours avant la première
apparition), la justice était déjà au courant de ce qui allait se
passer. Le Procureur Général de Pau, M. Falconnet, envoyait ce jour-là
une note de service au Procureur de Lourdes, pour le prévenir.
"Je suis informé que les manifestations affectant un caractère
surnaturel et prenant un aspect miraculeux, se préparent pour la fin de
l'année. Je vous prie de veiller à ce que ces faits soient exactement
surveillés...")
Đó là đại cương về hiện tượng Lourdes. Trong cuốn sách của
Lorulot có đầy đủ chi tiết về những sự dàn dựng của giới Linh mục về
hiện tượng Lourdes, dựa theo rất nhiều tài liệu nghiên cứu về hiện tượng
này cũng như những tài liệu của chính quyền địa phương. Nhưng tất cả
những sự thực này đều không làm giáo hội lo ngại vì "giáo hội đã quá
thông thạo phương cách bóp nghẹt những vụ gây tai tiếng" (...sans
inconvénient de l'Église: elle est si experte à étouffer les
scandales.)
Một mặt khác, ở Lourdes, "người ta" đã khai thác triệt để sự mê
tín của quần chúng để thu vào những nguồn lợi khổng lồ. Giáo hội không
làm gì để ngăn cản, trái lại còn khuyến khích.
Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của André Lorulot (Ibid., trg. 7):
"Cái xí nghiệp Lourdes cung cấp cho giáo hội những nguồn lợi
vật chất mà giáo hội dùng trong chính trị nhơ bẩn và mờ ám.
Cái hang đá (Lourdes) không chỉ mang những lợi tức đến
cho công đoàn. Nó còn là một phương tiện để duy trì và phát triển
sự cuồng tín, gia tăng cường độ ngu xuẩn, đẩy sự tin vào siêu nhiên
đến cực độ.
Chúng ta thấy ở đó mọi dạng khai thác. Mới đây giáo sư A.
Chide chứng tỏ rằng đĩ điếm rất phát triển ở Lourdes. Và tôi không nói
đến vô số thày dòng tới đây "như là một hỏa tiễn" với các cô "cháu gái"
hay tệ hơn nữa.
Nếu các bạn có đi tới Lourdes thì hãy cẩn thận và đừng tin ở
đám người cuồng tín đó, những người này thực sự là những con vật hung
hăng, đầu óc ngu đần bị thống trị bởi giáo hội và không đủ khả năng để
hiểu một lý lẽ có ý nghĩa.
Chúng ta phải đi tới Lourdes - và biết quan sát một cách bình
tĩnh với óc phán đoán - mới nhận ra tầm rộng lớn của căn bệnh tôn giáo."
(L'entreprise de Lourdes fournit à l'église d'incalculables
resources matérielles, qu'elle emploie à sa politique malsaine et
obscure.
La Grotte ne fournit pas seulement des revenus à la congrégation.
Elle constitue un moyen excellent d'entretenir et de développer le
fanatisme, d'exacerber la bêtise, de pousser au paroxysme la croyance au
surnaturel.
...Toutes les formes d'exploitation sont du reste représentées. Le
professeur A. Chide a montré naguère que la prostitution était très
developpée à Lourdes... Et je ne parle pas des innombrables curés qui
viennent ici "en bombe" avec leur "nièce" ou pis encore..
...Si vous allez à Lourdes, soyez prudent et méfiez-vous de ces
fanatiques, véritables bêtes furieuses, cerveaus inintelligents dominés
par l'Église et incapables de comprendre un raisonnement sensé.
... Il faut aller à Lourdes - et savoir observer avec calme et
discernement - pour saisir l'étendue du mal religieux.)
Và sau đây là một đoạn trong cuốn Cái nhìn của một linh mục
hiện đại về giáo hội lỗi thời của ông ta (A Modern Priest Looks at
his Outdated Church,trg.31,) tác giả là Linh Mục James Kavanaugh:
"Tôi đã đi tới Lourdes ở miền Nam nước Pháp. Tôi đứng trong
cái công trường rộng lớn đằng trước thánh đường và quan sát những
tín đồ Công giáo ở khắp nơi trên thế giới chờ đợi một ân sủng đặc biệt
của cái đền thờ thiêng liêng này. Tôi bị các bà người Ý đầu đội khăn xô
đẩy, những người Đông Âu to tiếng thì thầm những lời cầu nguyện làm cho
tôi sao lãng. Tôi thấy những người bệnh hoạn nằm trên cáng, những nhà
kinh doanh Mỹ với những chiếc sơ mi trắng. Tôi thấy những linh mục
trong những bộ áo thầy tu của thế giới, những người Phi Châu hồ hởi
trong các bộ quần áo sặc sỡ. Nhưng phần lớn là tôi thấy những bộ mặt
nhăn nheo, nói lên một cách thành thực sự đau đớn của họ. Họ đã tới để
xin một ân huệ, giống như những đám người Hồi Giáo tại nơi hành hương,
và để hưởng một sự tiếp xúc đặc biệt với Thần của họ. Họ uống nước ở
đó, nổi tiếng về những tác dụng lạ lùng. Họ mua nước đựng trong những
chai plastic để mang về nhà (và để biếu. TCN). Họ mua từng rổ
tràng hạt và mề đay và nhờ những bàn tay mập mạp nhễ nhại mồ hôi của các
linh mục ban phúc lành cho những thứ này. Họ đông như châu chấu,
cúi xuống ngấu nghiến từng cọng ân sủng đặc biệt. Họ hôn chân các ngôi
tượng và rên rỉ trong những đền thờ mốc mếch. Họ thú tội bằng đủ mọi
thứ tiếng và nhai nhóp nhép phó mát của miền núi. Rồi, giống như một
đàn cừu vĩ đại đã no nê hài lòng, họ về nhà đi ngủ. Và tôi cũng về
nhà đi ngủ, cũng khó chịu và rối răm bởi sự mê tín như là tôi đã chứng
kiến vào một ngày mùa thu đó khi đội banh Spartans thắng đội banh Rome.
(Đội banh Rome, theo lời kể của Linh Mục Kavanaugh, trước khi ra
quân, quỳ trước nhà thờ yêu cầu được Linh Mục ban phép lành và cho ăn
bánh Thánh, hiệp thông với Thượng đế để Thượng đế phù hộ cho thắng trận
đấu, nhưng rút cuộc bị thảm bại. TCN). Tôi không những chỉ khó chịu
và rối răm mà tôi còn cảm thấy thật là xấu hổ. Đó là giáo hội của
tôi, và họ là những tín đồ mà tôi góp phần đào tạo, những con số thống
kê mà chúng tôi cộng vào khi chúng tôi đếm số người theo đạo. Đầu
óc tôi đầy những tư tưởng làm tôi ngủ không được...Tôi nghĩ đến những
con người Công giáo sợ sệt, lo lắng cầu nguyện trong mọi giáo xứ mà tôi
đã phục vụ. Tôi nghĩ đến con người mà là tín đồ Công giáo và một lần
nữa tôi lại nghĩ đến họ." [LM đã viết về con người mà là tín đồ Công
giáo như thế nào. Tôi có thể tóm tắt trong một câu ngắn gọn: Chỉ có
những con cừu mới cần đến người chăn chiên (only the sheep need a
shepherd)]
(I took a trip to Lourdes in southern France. I stood in the
giant square in front of the Basilica and watched the Catholics of the
world await the special blessing of this sacred shrinẹ I was jostled by
the Italian ladies in their shawls, distracted by Eastern Europeans who
whispered their prayers out loud. I watched the sick on their litters,
the American businessmen in their clean white shirts. I saw priests
wrapped in the cassocks of the world, excited Africans in their
multi-colored native garb. But most of all I saw the wrinkled faces,
speaking out the sincerity of their pain. They had come to ask a favor,
like the Moslem hordes at Mecca, and to know a special contact with
their God. They drank the water there, which is noted for its
miraculous effects. They bought the plastic bottles to bring the water
homẹ They bought rosaries and medals by the basketful and had them
blessed by the pudgy hands of sweating priests. They covered the
grounds like locusts, bent on devouring each shred of special grace.
They kissed the feet of statues and groaned in mildewed shrines. They
confessed in every language and munched their mountain cheese. Then,
like a giant, content herd, they went home to bed. And so did I, as
sick as confused by superstition as I had been on that autumn day when
the Spartans conquered Rome.
Not only was I sick and confused, I was deeply ashamed as well.
This was my Church and there were the Catholic men I had helped to form,
the statistics we added up when we counted the catholicity of our
Church. My mind was crowded with thoughts that refused to let me
sleep. I thought of the frightened catholics who worried and prayed in
every parish I had served. I thought of the man who is a Catholic and I
think of him once again....)
Qua những tài liệu mà tôi trích dẫn ở trên, chúng ta đã thấy rõ
thực chất những "phép lạ" Công giáo ở Lourdes ra sao. Nhưng đối với số
tín đồ Công giáo tin vào những phép lạ của Giáo hội thì có thể họ sẽ đưa
ra câu hỏi: "Phép lạ Fatima? Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không? Đã có
nhiều bằng chứng cho thấy có người đi hành hương các nơi này rồi về khỏi
bệnh v...v..."
Y khoa đã chứng minh rằng, nếu con người tin tưởng mãnh liệt vào
bất cứ một cái gì, có khả năng chữa "bách bệnh tiêu tan, vạn bệnh tiêu
trừ", thì có thể trong vài trường hợp cơ thể con người tiết ra những
chất kháng độc và làm lui hay khỏi một số bệnh, và họ cho đó là
những "phép lạ". Trong những công cuộc nghiên cứu y khoa, người ta đã
cho nhiều bệnh nhân uống thuốc giả (placebo), nghĩa là không phải thuốc
thật mà chỉ là bột thường chế tạo giống viên thuốc, mà một số bệnh nhân
cũng khỏi bệnh như thường. Vậy thì tác dụng của nước ở Lộ Đức nhiều
nhất là tương đương với "tàn hương, nước giải", đôi khi cũng có thể làm
cho nhẹ bớt hay khỏi bệnh, nhưng tuyệt đối không phải là tác dụng nhiệm
mầu của nước lấy trong hang đá.
Trong Công Giáo cũng có chuyện sau đây: "Những mẩu xương của Thánh
Rosalia, được gìn giữ ở Palermo (miền Nam nước Ý; TCN), đã "chữa
khỏi" cho nhiều người, ngay cả sau khi người ta khám phá ra rằng đó chỉ
là xương của một con dê" (The bones of St. Rosalia preserved at
Palermo "cured" many people even after they were discovered to be the
bones of a goat; Joseph
L. Daleiden, in “The Final Superstiton”, p. 113). Những sự
kiện này chứng tỏ không có phép lạ nào dự phần trong đó. Nhưng vấn đề
ở đây không phải là phép lạ, vì phép lạ, nếu thực sự là phép lạ, có tính
cách nhỏ giọt này có bao nhiêu giá trị cho nhân loại? Bảo rằng phải có
lòng tin phép lạ mới ứng. Như vậy là cho rằng trong cả triệu người đến
Lộ Đức mỗi năm, lâu lâu mới có một người tin. Vấn đề ở đây là giáo hội
đã khai thác lòng mê tín của quần chúng để kiếm tiền cho những mục đích
chính trị nhơ bẩn và tối tăm như André Lorulot đã viết ở trên. Nhưng
tại sao vẫn còn nhiều người tin vào những chuyện hiện thân nhảm nhí và
những phép lạ đi kèm theo đó. Ethan Allen, một người Mỹ nổi tiếng vào
cuối thế kỷ 18 đã viết rất đúng như sau: “Trong những nơi ở thế
giới mà sự hiểu biết và khoa học đã thắng thế, thì không còn phép lạ
nữa; nhưng ở những nơi còn man rợ và ngu dốt, phép lạ vẫn còn thịnh
hành.” [In those parts of the world where learning and science
have prevailed, miracles have ceased; but in those parts in it as are
barbarous and ignorant, miracles are still in vogue.] Chúng ta
thấy rõ, phép lạ của Công giáo không còn xuất hiện trong phương trời Âu
Mỹ nhưng vẫn còn thịnh hành trong các xóm đạo Việt Nam ở ngoại quốc cũng
như ở trong nước 
Bài đọc thêm:
Màn Kịch Bịp Bợm Đức Mẹ Lộ Đức của Charlie Nguyễn
Các bài về tôn giáo cùng tác giả