|
Lời Tòa Soạn 
Những mục của tác giả Trần Chung Ngọc:
1
2
3
4
Những mục của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Lời Kết Chung
CHƯƠNG 4
IX- HẬU QUẢ CỦA VIỆC KHÔNG DẠY
TOÀN BỘ LICH SỬ THẾ GIỚI, CẮT XÉN
VÀ DIỄN DỊCH SAI LẠC NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ
Việc loại bỏ môn lịch sử
thế giới, việc cắt xén quá nhiều sự kiện lịch sử Việt Nam trong thời
cận và hiện đại trong chương trình học, và việc diễn dịch sai lạc (bóp
méo) lịch sử trong cách sách giáo khoa đã gây ra hậu quả hết sức trầm
trọng đối với những lớp thanh thiêu niên tiếp nhận nền học vấn trong
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như vậy. Tình trạng này đã khiến
cho những lớp người sinh ra và lớn lên trong thời Liên Minh Pháp –
Vatican thống trị Việt Nam 1885-1945 cũng như những người sinh ra và lớn
lên ở trong vùng Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican tạm chiếm 1945-1954
và những người sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975 không biết gì về lịch sử thế giới, và hiểu biết sai lạc về
lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Trong bài viết Những Đứa
Con Hoang, chúng tôi đã ví những người không biết gì về quốc sử giống
như những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc và những người không
biết gì về lịch sử thế giới giống như những đứa con hoang trong cộng
đồng nhân loại. Điển hình cho cả hai loại người con hoang này là những
tín đồ Da-tô cuồng tín (xin nhấn mạnh yếu tố cuồng tín). Tình trạng này
sẽ dẫn đến những hậu quả trực tiếp là làm mất tình yêu nước (vì không
biết quốc sử) trong lòng họ và không biết gì về những
chặng đường tiến hóa của nhân loại. Đây là chủ trương của Giáo Hội La Mã
vì rằng người dân càng không có tình yêu nước và càng không biết gì về
những chặng đường tiên hóa của nhân loại thì họ càng dễ dàng tin
tưởng vào những tín lý Ki-tô hoang đường nhảm nhí và những lời dạy bịp
bợm của Giáo Hội.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng:
1.- Những người không có lòng
yêu nước thì sẽ dễ dàng bị lôi cuốn bởi những miếng mối vật chất, dành
vọng và quyền lực, rồi lao đầu chạy theo những miếng mồi này mà rơi vào
tình trạng chống lại tổ quốc và dân tộc. Đây là tình trạng của tín đồ
Da-tô mà Giáo Hội La Mã đã có chủ tâm biến họ thành hạng người như vậy
bằng một những phương cách hết sức tinh vi để lợi dụng họ chống lại tổ
quốc và dân tộc gốc của họ.
2.- Không biết lịch sử thế
giới, thì không nhìn thấy rõ bộ mặt thật ghê tởm cúa Giáo Hội La Mã với
những rặng núi tội ác cao chất ngất và trùng trùng như hàng chục rặng
núi Hy Mã Lạp Sơn. Chính vì những rặng núi tội ác này mà kể từ năm 1994,
Giáo Hoàng John Paul II đi đến bất kỳ quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội
cũng phải xin lỗi lia lịa, tính ra có cả trên 100 lần. Thế cũng chưa đủ,
ông còn cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể vào ngày Chủ Nhật
12/3/2000 ở Công Trường Peter tại kinh thành Rome để chính ông và các
vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đứng ra cáo thú tội ác với
Chúa trước hàng trăm triệu người trên khắp mọi nơi trên thế giới hoặc là
trực tiếp chứng kiến tại chỗ hoặc là qua các kênh truyền hình.
A.- HẬU QUẢ CỦA VIỆC
KHÔNG BIẾT LỊCH SỬ THẾ GIỚI
VÀ HIỂU BIẾT SAI LẠC
LỊCH SỬ VIỆT NAM
Vì không biết gì về lịch
sử thế giới, và vì hiểu biết sai lạc về lịch sử Việt Nam trong thời cận
và hiện đại, cho nên mới có rất nhiều ông hoạt động chính trị hay làm
cách mạng đánh đuổi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican
đã rơi vào tình trạng quờ quạng giống như những người đi trong sương mù
ở một nơi xa lạ mà lại không biết sử dụng bản đồ. Tình trạng này thể
hiện ra rõ rệt vào khi họ tranh đấu cho nền độc lập và thống nhất đất
nước của tổ quốc hoặc là khi họ viết ra trong tác phẩm của họ (văn bia),
hoặc là khi họ tuyên bố những lời (văn tế) có liên hệ đến lịch sử thế
giới hay lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Dưới đây là một số
trường hợp mà chúng ta có thể kiểm chứng được:
1.- Ông Việt Quốc Nghiêm Kế Tổ chỉ trích và lên án những
biện pháp mạnh của chính quyền Việt Minh đối phó với Giáo Hội La Mã với
giọng điệu tội nghiệp và bênh vực cho cái đạo giáo mà văn hào Voltaire
gọi nó là “Cái tôn giáo ác ôn”.[i] . Dưới
đây là nguyên văn lời lẽ nhà cách mạng Việt Quốc dốt lịch sử của họ
Nghiêm viết:
“Đối với Giáo Hội Gia Tô, lực lượng
có tổ chức chặt chẽ, Việt Minh cũng không tha, khẩu hiệu thì Lương Giáo
đoàn kết, nhưng được thực hiện bằng cấm mở trường thần học của Giáo Hội,
bằng đổ lỗi cho các cha cố đã làm gián điệp cho ngoại bang, ép họ vào
tội tàng trữ khí giới bất hợp pháp… Khẩu hiệu Đại Đoàn Kết của Việt Minh
chính là mầm chia rẽ giữa đảng phái, giữa tôn giáo, giữa mọi tầng lớp
nghèo nàn Việt Nam.”
[ii]
Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bắch thắng.
Ông Nghiêm Kế Tổ gia nhập đảng Việt Quốc với mục đích đánh đuổi quân
cướp ngoại thù đang giày xéo non sông để giành lại chủ quyền độc lập cho
dân tộc mà lại không nhận diện được kẻ thù là ai, không nhớ lời Đại
Tướng Eisenhower đã nói, “Kẻ thù của kẻ thù là bạn, và bạn của kể
thù là kẻ thù”. Vì không nhận diện được kẻ thù, không biết Giáo Hội
La Mã là một thành phần trong Liên Minh Pháp Vatican cùng có chủ trương
đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng nô lệ hóa dân ta
và cùng chia nhau lợi nhuận, cho nên ông Việt Quốc họ Nghiêm này mới
viết đoan văn trên đây. Âu cũng là do ông không biết gì về lịch sử thế
giới, không biết gì bộ mặt thật của Giáo Hội La Mã, mà chỉ biết a dua
hùa theo bọn phong kiến phản động mưu đồ đem tên Việt gian Bảo Đại lên
ngai vàng với dã tâm phục hồi vương quyền cho nhà Nguyễn để làm tay sai
cho Vatican Giáo Hội La Mã, cho nên mới xẩy ra tình trạng bi đát như
vậy. Thật là tội nghiệp cho ông và tội nghiệp cho Đảng Việt Quôc! Tội
Nghiệp cho Đảng Việt Cách đã liên minh với Đảng Việt Quốc và tội nghiệp
cho dân ta lại có những chính đảng như vậy!
2.- Không nhìn thấy chế độ quân chủ
phong kiến đã lỗi thời mà nhân dân thế giới đã đào sâu chôn chặt từ thời
Cách Mạng Pháp 1789. Vì thế, họ mới hò nhau bơi ngược dòng lịch sử mưu
đồ đưa Bảo Đại (một ông hoàng bất tài ăn chơi hoang đàng mà các nhà viết
sử gọi là “playboy” đã thoái vịị) lên nắm chính quyền để đối đầu với
chính phủ do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo. Sự kiện này được sách Việt Sử Khảo
Luận rõ ràng như sau:
“Nhóm Quốc Dân Đảng (của Vũ Hồng
Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam, v.v…) đòi thành lập một Chính Phủ
Liên Hiệp Kháng Chiến với Vĩnh Thụy làm Chủ Tịch. Nhiều cuộc biểu tình
được tổ chức ở đường Gambetta cũ, hoan hô Cố Vấn và đòi ông ra cầm quyền.”[iii]
Tình trạng bi thảm như
trên của các ông Việt Quốc và Việt Cách trong những năm 1945-1946 là do
hậu quả không hiểu biết toàn bộ lịch sử thế giới và
không nắm vững lịch sử Việt Nam
trong thời cận và hiện đại. Vì thế họ mới:
a.- Không biết gì những
việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã đã từng làm cho nhân dân Âu Châu điêu
đứng khốn khổ trăm bề và không biết gì về vai trò của Giáo Hội La Mã
trong các cuộc chinh phục đất đai ngoài Âu Châu làm thuộc địa của các đế
quốc thực dân xâm lược Âu Châu như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp
mà Việt Nam là một trong những quốc gia nạn nhân rồi trở thành thuộc địa
của Liên Minh Pháp – Vatican cho mãi đến năm 1945, nhưng mãi đến năm
1954 mới dứt được đế quốc Pháp, nhưng Vatican vẫn còn cố đấm ăn xôi,
quay ra cấu kết với siêu cường Hoa Kỳ chiếm giữ miền Nam Việt Nam cho
đến ngày 30/4/1975.
b.- Không nhận thức được
trào lưu tiến hóa của nhân loại, cho nên họ mới hò nhau lao đầu vào việc
công kênh đưa ông Bảo Đại lên cầm quyền để phục hồi đế quyền cho nhà
Nguyễn và tái lập cái ách quân chủ chuyên chế lỗi thời lên đầu lên cổ
nhân dân ta trong khi nhân dân thế giới đã cương quyết đào sâu chộn chặt
nó từ thời Cách Mạng Pháp 1789.
c.- Không nhìn ra Vatican
là kẻ thù của dân tộc Việt Nam và cũng không nhìn ra Giải Pháp Bảo Đại
là do Vatican chủ mưu, cho nên họ mới lên án chính quyền Việt Minh về
chính sách dùng biện pháp mạnh đối với Giáo Hội La Mã (như ông Việt Quốc
Nghiêm Kế Tổ đã nói rõ như trên), rồi hăng say và nhiệt liệt cổ võ Giải
Pháp Bảo Đại.
3.- Tất cả tín đồ
Da-tô và những người đã tiếp nhận nền học vấn qua chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ do Giáo Hội La Mã chủ trương đều không biết gì về lịch
sử thế giới và hiểu biết rất sai lạc về quốc sử, đặc biệt là những sự
kiện lịch sử trong thời cận và hiện đại. Hậu quả của tình trạng này đã
khiến cho họ:
a.- Khinh thường
môn lịch sử và những người hành nghề dạy sử, thù ghét những người viết
sử chọn những đề tài có liên hệ đến tội ác của Giáo Hội La Mã. Chính vì
vậy mà họ mới chĩa mùi giùi vào các nhà viết sử chân chính viết về lịch
sử Giáo Hội La Mã hay viết về những việc làm tội ác của cái “tôn giáo ác
ôn” này để gièm pha, sỉ vả và chửi bới bằng đủ mọi thứ ngôn từ hạ cấp
của phường đá cá lăn dưa đúng theo truyền thống của “Cái Giáo Hội Khốn
Nạn” cúa họ. Cũng vì thế mà người viết và anh em trong nhóm Giao Điểm
đã
trở thành nạn nhân của họ và bị họ chiếu cố khá kỹ.
b.- Mỗi khi đề cập
đến vấn đề gì có liên hệ đến lịch sử là họ loạng quạng, viết ẩu, viết
càn, viết láo, viết bạt mạng, bóp méo hay xuyên tạc sự thật lịch sử để
hoặc là chạy tội cho Giáo Hội La Mã, hoặc là chạy tội cho bọn tín đồ
Da-tô bản địa vong bản phản quốc, hoặc là tâng bốc Tòa Thánh Vatican như
chúng ta đã thấy họ tâng bốc Tòa Thánh một cách vô cùng trơ trẽn, trơ
trẽn đến nỗi “có những linh mục nói rằng “Tòa Thánh đánh rắm cũng
khen thơm", và tâng bốc tín đô Da-tô bản địa làm tay sai đắc
lực cho Giáo Hội La Mã. Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này là những
trường hợp ông Da-tô Lữ Giang viết trong cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng
Sau Cuộc Chiến Việt Nam (California, 1999), Nguyễn Văn Chức viết trong
cuốn Việt Nam Chính Sử (Falls Church, VA: Alpha, 1992) Linh-mục Vũ Đình
Hoạt viết trong cuốn bộ sách Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Falls
Church, VA: Alpha, 1991), Nguyễn Gia Kiểng viết cuốn Tổ Quốc Ăn Năn
(Paris, Pháp: TXB, 2001), nhóm ông Lê Hữu Mục, Nguyễn Gia Đệ, Bằng
Phong, Phạm Xuân Thu và Trần Trung Lương viết cuốn Trần Lục (Montréal,
Canada, TXB,, 1996), nhóm các ông Diên Dương Nghị, Nguyễn Châu, Lương
Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Hoàng Đức Phương viết cuốn Việt Nam: Cuộc Chiến
Tranh Quốc Gia- Cộng Sản (Santa Clara, CA: Nhân Chứng, 2002), nhà văn
Nguyễn Ngọc Ngạn tuyên bố bậy bạ trong cuốn băng văn Nghệ Paris By Night
81 và viết trong cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Tân Văn, 2003), v.v….
Nhiều người tự nhận
là trí thức dù không phải là tín đồ Da-tô cũng rơi vào tính trạng này.
B.- HẬU QUẢ CỦA ĐỘC KẾ CHIA ĐỂ TRỊ
VÀ CHÍNH SÁCH NGU DÂN
Độc kế chia để trị và chính sách ngu
dân của Vatican còn để lại cho dân ta nhiều hậu quả vô cùng nguy hại với khá
nhiều dị lụy khác nữa. Chẳng hạn như (1) người dân bị ảnh hưởng không
còn một chút động tâm trước cảnh đất nước bị xé nhỏ ra làm nhiều mảnh
nhỏ, rồi biến thành những tiểu quốc chống đối nhau, tạo cơ hội cho cho
các thế lực ngoại cường nhẩy vào cưỡng chiếm và thống trị, và (2) tín đồ
Da-tô cuồng tín hoàn toàn mất hết lòng thiết tha với dân tộc và tổ quốc
(vong bản, phản quốc), chỉ biết có Tòa Thánh Vatican mà họ coi là Nước
Chúa của họ, và chỉ biết phục vụ cho quyền lợi của Giáo Hội La Mã bất kể là
phản lại dân tộc và phản lại tổ quốc. Cũng vì thế mà “trong lòng mọi
người [tín hữu Da-tô] đều ngầm mang cái ý niệm về trật tự trên dưới Nhất
Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” Nguyễn Ngọc Ngạn, Sđd., tr.
18. Và “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa.”
1.- Người dân bị ảnh hưởng không còn
một chút động tâm trước cảnh đất nước bị xé nhỏ ra thành nhiều
mảnh vụn.- Ngay sau khi tới Sàigòn,
Cao Ủy Đông Dương Thierry G. d' Argenlieu
(cựu linh mục của Giáo Hội La Mã) liền tiến hành kế họach xé nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh. Việc đầu
tiên là tách rời Nam Kỳ ra khỏi nước Việt Nam và thành lập nước Công
Hòa Nam Kỳ, rồi cho ra đời chính phủ lâm thời Nam Kỳ do Bác-sĩ
Nguyễn Văn Thinh làm Thủ Tướng. Sau đó, ông cựu linh mục giữ chức vụ Cao
Ủy Đông Dương này lại cho thành lập nước Cộng Hòa Tây Kỳ ở miền
Nam Trung Bộ, nước Cộng Hòa Thái ở miền Tây Bắc Bắc Bộ và mưu đồ
thành lập nước Cộng Hòa Nùng ở miền Đông Bắc Bắc Bộ. Sự kiện này
được sách Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên của Đại Tướng Võ Nguyên
Giáp ghi cũng nhận như sau:
"Vài ngày sau, những vụ khiêu khích
mới lại nổ ra ở dọc biên giới Việt Hoa. Mồng 10 tháng Tám (1946), quân
Pháp vô cớ tiến công bộ đội ta ở Tiên Yên, Đầm Hà. Ngày 13, chúng đưa
bọn thổ phỉ về đóng tại Lạng Sơn. Chúng khiêu khích đồng bào ta ở Vịnh
Hạ Long và vùng ven biển Hồng Gai. Cùng thời gian này, lại có tin quân
Pháp từ Sơn La tiến xuống phía nam. Không lâu trước đó, d' Argenlieu đã
để lộ ý muốn lập ngay tại miền Bắc một nước cộng hòa Nùng Thái, cùng
một kiểu với "nước cộng hòa Tây Kỳ" ở Tây Nguyên. Những hoạt động của
địch cùng lúc xẩy ra chạy dài theo biên giới, từ vùng biển đến miền núi,
từ Đống sang Tây, nói lên âm mưu này đang bắt đầu."
[iv]
Sách Việt Sử Khảo Luận cũng viết:
“a.- Công bố Nam Kỳ quốc (27/5 –
1/6/1946: Sau khi ở
Ha Nội về, D’ Argenlieu liền cho trình diễn tấn tuồng đã định trước và
lại cho trình báo từ tháng 4 về Paris. (Dev. 1988 tr. 183-188)..
Ngày 25/5/1946: Luật sư Béziat, chủ
tịch Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ, biên thư lên Cao Ủy Đông Dương, xin cho
phép thành lập một “Cộng Hòa Nam Kỳ” ngang với “nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa ở Bắc Kỳ, nghĩa là có “chính phủ riêng, quốc hội riêng, quân
đội riêng, tài chánh riêng, nằm trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên
Hiệp Pháp”.
…..
Ngày 5/6 (1946), Tổng Trưởng Moutet
gửi điện tín cho D’ Argenlieu hay rằng (Dev. 1988 tr. 189): “Hội Đồng
Liên Bộ họp ngày 4/6 (1946) chấp thuân của ông về chính sách ở Nam Kỳ.
Đồng ý rằng phải có một chính phủ Nam Kỳ tự trị để bảo vệ quyền lợi của
dân tộc Nam Kỳ… Chỉ cần rằng chính phủ ấy không có vẻ là sáng tạo bởi
chính quyền Pháp để làm bình phong cho nước Pháp…”
b.- Thành lập “Tây Kỳ Quốc” (27/5 –
27/6/1946): Ngay
trước khi bế mạc Hội Nghị Đà Lạt, D’ Argenlieu đã biên thư ngày mồng
8/5/1946 cho Lerclerc, yêu cầu tiến chiếm nốt vùng cao nguyên Trung Kỳ;
Lerclerc chú thích vào lá thư “Lúc nào ta muốn cũng có thể, song hiện
nay có nên gây thêm khó khăn với Viet Nam không?” (Pouvons quand nous le
voulons, mais s’ agit de savoir si interêt actuellement à augmenter nos
difficultés avec Vietnam – Dev 1986 tr. 183).
Ngày 27/5/1946, tức là cùng ngày cho
thành lập Nam Kỳ Quốc, D’ Argenlieu ký một sắc dụ thành lập “Phủ Uỷ
Nhiệm các Dân Tộc Miền Núi ở Nam Đông Dương” (Le Commissariat des
Populations Montagnardes du Sud-Indochinois,tắt là P.M.S.I.).
Rồi ngày 21/6/1946,
ông ra lệnh cho Tướng Lerclerc phải cho hai đoàn thiết giáp đi chiếm hai
tỉnh Pleiku và Kontum, tiến đến quá Đèo An Khê mới ngưng. Thế là toàn
thể vùng cao nguyên ở Nam Trung Bộ biến thành một “nước mọi thuộc Pháp”
mà người Việt gọi là “Tây Kỳ Quốc”.[v]
Vào khoảng đầu năm
1949, Liên Minh Pháp – Vatican còn cho tiến hành kế hoạch tách rời giáo
Khu Phát Diệm và Giáo Khu Bùi Chu (ở Bắc Bộ) thành hai giáo khu tự trị.
Đây là bước đầu chuẩn bị cho âm mưu biến hai giáo khu này thành hai tiểu
quốc theo đạo Da-tô.
Người viết đã tiếp
xúc rất nhiều người Việt Nam nằm trong lớp người tiếp nhận nền học vấn
của họ trong thời kỳ 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam và gợi ý về tình
trạng đất nước trong thời Kháng Chiến 1945-1954 bị xé nhỏ ra làm nhiều
mảnh vụn như đã nói ở trên để tìm hiểu về cảm nghĩ của họ đối với những
việc làm nghiêm trong như vậy, kết quả được biết là hầu hết, họ thản
nhiên không tỏ ra một chút xúc động nào cả, và cũng không bíêt rằng việc
xé nhỏ đất nước ra làm nhiều mảnh nhỏ như vậy là một việc làm hết sức
thâm độc nguy hại đến sự tồn vong của dân tộc và tổ quốc. Tệ hơn nữa là
ngay cả khi họ biết rõ việc chia cắt đất nước như vậy sẽ nguy hại đến sự
tồn vong của dân tộc và tổ quốc, họ cũng vẫn tình bơ, thản nhiên và
bình chân như vại. Cái truyền thống “quốc gia hưng vong, thất phu hữu
trách” đã thấm nhập vào từng tế bào trong cơ thể người dân Việt quả
thật là đã bị độc kế ngu dân và chính sách chia để trị của Giáo Hội La
Mã tẩy xóa hết, không còn một chút gì trong con người họ nứa!.Tình trạng
này đối với tín đồ Da-tô lại càng tệ hơn nữa, nhất là khi nêu lên biến
cố xẩy ra vào cuối thập niên 1940, việc hai giáo khu Phát Diệm và Bùi
Chu tách rời ra khỏi chính quyền Quốc Gia trong chế độ Quốc Trưởng Bảo
Đại trở thành hai giáo khu tự trị là bước đầu để chuẩn bị biến thành hai
vương quốc Ki-tô, thì họ chẳng những đã không có một chút mảy may xúc động,
mà còn tỏ ý tán thành một cách tích cực và hân hoan sung sưqớng mong
được như vậy!.
2.- Tín đồ
Da-tô cuồng tín hoàn toàn mất hết lòng thiết tha với dân tộc và tổ
quốc:
Độc kế chia để trị và chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mã còn để lại
cho dân tộc ta nhiều di lụy khác nữa hết sức trầm trọng. Một trong những
di lụy này là tình yêu nước trong lòng tín đồ Da-tô người Việt cuồng
tín đã bị hủy diệt hoàn toàn. Di lụy này còn trầm trọng và nguy hiểm hơn
tất cả các dị lụy khác gây ra bởi độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ.
Bằng chứng là hầu như tất cả tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt không còn
biết gì đến tình yêu tổ quốc Việt Nam, không còn biết gì đến tình tự quê
hương và dân tộc. Họ luôn luôn đặt quyền lợi của Tòa Thánh Vatican hay
Giáo Hội La Mã lên trên hết, và sẵn sàng triệt để tuân hành lệnh truyền
của Vatican để làm tay sai cho các đế quốc thực dân xâm lược liên minh
với Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam để bảo vệ quyền lợi
của Vatican. Tất cả những ngôn từ mà họ sử dụng như tổ quốc, dân tộc, ái
quốc, dân chủ, tranh đấu cho dân chủ tự do, tranh đấu cho tự do tôn giáo
chỉ là những trò hề bịp bợm của Tòa Thánh Vatican ở hậu trường đạo diễn
và mớm cho họ phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của các đấng bề
trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã mà thôi. Ngày cả cuộc
vận động người Việt hải ngoại tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc về
hành động xâm lăng mấy hòn đào Trương Sa diễn ra ở Luân Đôn vào ngày
22/12/2007 và các thành phố lớn ở lục địa Âu Châu cũng như ở Bắc Mỹ
trong những ngày kế tiếp, bọn cán bộ tuyền truyền của Vatican cũng có dã
tâm vận động hủy bỏ quốc kỳ Việt Nam là lá Cờ Đỏ Sao Vàng.
Hủy bỏ lá
cờ đỏ sao vàng tức là huỷ bỏ công nghiệp đánh tan Liên Minh Đế Quốc Thực
Dân Xâm lược Pháp - Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và
hủy bỏ cả công nghiệp đánh tan Liên Minh Mỹ - Vatican mang lại nền thống
nhất cho đát nước. Đọc lịch sử nước nhà, ai cũng biết rằng:
A.-
Lá Cờ Đỏ Sao Vàng đã từng chìm nổi với toàn thể nhân dân Việt Nam trong
suốt chiều dài lịch sử từ năm 1940 cho đến ngày nay. Lá cờ này luôn
luôn có mặt và ngạo nghễ tung bay trong hai cuộc chiến hào hùng đánh
đuổi liên quân xâm lăng Pháp- Vatican để đòi lại núi sông cho dân tộc và
đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican để hoàn thành sứ mạng lịch sử
đòi lại miền Nam từ trong tay giặc mang lại thống nhất cho đất nước.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngày 7/5/1954, nhân dân thế giới nhìn
thấy lá cờ đỏ sao vàng đều kính phục vì nó là biểu biểu tượng cho cả một
dân tộc anh hùng đã đánh tan được Liên Minh Thánh Pháp - Vatican làm cho
đế quốc Pháp hùng mạnh, một cường quốc Đồng Minh thắng trận với rất
nhiều thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới lần lần bước vào giai đoạn
suy tàn và xuống dốc thảm thương, mất hết các thuộc địa ở các Châu Phi,
Châu Mỹ, Châu Á, và suy nhược thua cả các nước Phe Trục bại trận là Đức
và Nhật.
Sau chiến thắng 30/4/1975, lá cờ đỏ sao vàng được nhân dân thế giới kính
phục nhiều hơn nữa và đã ngạo nghễ sánh vai cùng với gần hai trăm quốc
kỳ của gần hai trăm quốc gia khác tại trước Tòa Nhà Liên Hiệp Quốc ở New
York.
Nhân dân khắp nơi trên thế giới, mỗi khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao
vàng là người ta nghĩ ngay đến người Việt Nam anh hùng, một dân tộc đáng
kính phục, và ngược lại, mỗi khi người nước ngoài găp người Việt Nam là
nghĩ ngay đến nước Việt Nam kiên cường và anh dũng với lá cờ đỏ sao
vàng, chứ chẳng có người nước ngoài nào lại nghĩ rằng nước Việt Nam và
dân tộc Việt Nam oai hùng với cái chính quyền Bảo Đại và các chính quyền
miền Nam thối nát với lá cở vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho nhóm người
vong bản phản dân tộc do Liên Minh Pháp – Vatcan và Liên Minh Mỹ -
Vatican đưa lên cầm quyền để làm tay sai cho họ.
Thật vậy, trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày
30/4/1975, tiền nhân ta trải qua nhiều thế hệ, đã liên tục nối tiếp nhau
đứng lên quyết tâm liều chết đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp Vatican
với hy vọng đạt được những công nghiệp như trên. Từ cụ Trương Công Định
đứng lên phất cớ chống giặc cứu nước cho đến các vị anh hùng nghĩa sĩ
khác nối gót theo sau như Nguyễn Trung Trực, Lâm Quang Ky, Thiên Hộ
Dương, Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân). Mai Xuân Thưởng, Phan Đình
Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Cao Thắng, Trịnh Văn Cấn, Lường Văn Can,
Lương Ngoc Quyến, Phạm Hồng Thái, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Cô
Giáng, Cô Băc, Phan Bội Châu, v.v… nhưng tất cả chỉ có tâm, có chí, chỉ
thành nhân mà không thành công. Mãi cho đến khi Mặt Trận Việt Minh
dưới quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh xuất hiện cùng với lá cờ đỏ sao
vàng, dân ta mới thành công đánh tan được Liên Minh Phap –
Vatican giành lại được chủ quyền độc lập cho dân tộc, và mới đánh tan
được Liên Minh- Mỹ Vatican khiến cho Mỹ phải cuốn gói ra đi và nước nhà
mới được thống nhất. Nhờ vậy, nước ta mới có chỗ ngôi ngang hàng với
các quốc gia khác trong cộng đồng nhân loại mà rõ ràng nhất là tổ chức
Liên Hiệp Quốc, và dân ta mới được nhân dân thế giới kính nể như ngày
nay. Được như vậy là nhờ Mặt Trận Việt Minh xuất hiện cùng với lá cờ đỏ
sao và đã kiên trì chiến đấu cho quyền lợi tối thương của dân tộc từ đầu
thập niên 1940 cho đến ngày nay.
Được như vậy mà lại
gục mặt xuống đòi hủy bỏ lá cờ đỏ sao vàng tức là tỏ ra vô ơn đối với
Mặt Trận Việt Minh, vô ơn đối với hàng triệu anh hùng khác đã đi theo
Mặt Trận Việt Minh hy sinh mạng sống để giành lại chủ quyền độc lập cho
dân tộc, vô ơn đối với toàn thể dân tộc Việt Nam đã tích cực đóng góp
công của và tích cực tham gia vào hai cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh
Pháp – Vatican và Liên Minh Mỹ - Vatican để hoàn thành sứ mạng lịch sử
mang lại độc lập cho dân tộc, thống nhất cho đất nước và vinh quang cho
tổ quốc.
Là những người Việt Nam bình thường sống theo nền đạo lý cổ truyền của
dân tộc, không có người nào lại có thể làm được như vậy. Chỉ có (1)
những kẻ gục đầu đi trên bốn chân chỉ biết tuyết đối trung thành với Tòa
Thánh, chỉ biết triệt để tuân hành những lệnh truyền của các đấng bề
trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã, (2) những quân Việt
gian phản quốc đã từng bán nước cho Pháp, cho Vatican và cho Mỳ, và (3)
những hạng người ngu xuẩn đến cùng cực của ngu xuẩn mới đòi như vậy và
làm như vậy.
Độc giả hãy điểm mặt những kẻ đã và đang đòi hủy bỏ lá cờ đỏ sao vàng để
xem chính họ hay ông cha họ có thuộc vào một
trong thững thành phần nêu lên trên đây không?
Đòi hủy bỏ lá cờ đỏ sao vàng là có dã tâm tôn vinh quyền lực của Giáo
Hội La Mã , tức đế quốc Vatican, một thế lực mà nhân dân thế giới đều
ghê tởm và thù ghét đến tận xương tận tủy. Đây là sự thật. Sự thật này
đều được sách sử hay các bậc trí giả ghi lại rõ ràng và đã được trình
bày sơ lược trong phần cuối của Chương Dân Nhập và đầy đủ trong Phân
VII của bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.
B.- Lá cờ vàng ba sọc đỏ là sản phẩm của Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm
Lược Pháp – Vatican.
Lá cờ này
được cho ra đời vào ngày 5/6/1948 cùng với Giải Pháp Bảo Đại. Giải Pháp Bảo
Đại là do chủ trương của Vatican được công khai hóa bởi lời tuyên bố vào
ngày 28/12/1945 của viên Khám Sứ đại diện của Tòa Thánh Vaican
tại Hà Nội là Tổng Giám Mục Antoni Draper. Sự kiện này được sách Việt
Nam Niên Biểu 1939-1975 (Tập A: 1939-1946) ghi nhận với nguyên văn như
sau:
“28/12/1945: “HUẾ: Tổng Giám Mục Antono Drapier, đại diện Roma tuyên
bố:
“Gia đình BẢO ĐẠI là “gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng (la
plus francophile de tous les annamites), và theo ý ông ta, nên cho Bảo
Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 [1945] (À mon avis, il serait avantageux
pour le calme de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars;
DOM [Aix], CP 125).
Drapier cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho BẢO LONG lên kế
vị, và NAM PHƯƠNG làm Giám Quốc [Phụ Chính.]”
[vi]
Có lẽ vì có sự giằng co giữa một bên
là phe bảo thủ thân Giáo Hội và một bên là phe cấp tiến luôn luôn có lập
trường chống Giáo Hội, và vì hoàn cảnh thời cuộc, cho nên mãi tới trước
khi rời Sàigòn trở về Pháp vào ngày 15/3/1947, cựu Linh-mục Georges
Thierry d’ Argenlieu (người của Vatican, lúc đó đang nắm giữ chức vụ
Cao Ủy Đông Dương) mới có cơ hội công khai đưa ra đề nghị dùng Giải Pháp
Bảo Đại và giao việc làm này cho người kế nhiệm là Émile Bollaert
(15/3/1947- 10/1948)-tiến hành. Sử dụng Giải Pháp Bảo Đại có nghĩa là
dùng ông Bảo Đại “thuộc dòng chính thống của nhà Nguyễn” làm lãnh
tụ và dùng những người Việt có tiếng tăm trong nhóm thiểu số phong kiến
phản động mà phần lớn là bọn cựu quan lại trong thời Bảo Hộ đang bất mãn
với Mặt Trận Việt Minh để thành lập một chính quyền làm tay sai cho cả
Vatican và Pháp. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Vietnam:
History, Documents and Opinions on a Major World Crisis viết:
“Sau khi chiến tranh bùng nổ trên
toàn lãnh thổ Đồng Dương vào ngày 19/12/1946, trong một giác thư gửi
chính quyền Pháp, Cao Ủy Đông Dương d’ Argenlieu đế nghị đưa Bảo Đại
trở lại ngai vàng.” Nguyên văn: “In a memorandum to the
Paris government soon after full-scale fighting broke out on December
19, d’ Argenlieu proposed returning Bao Dai to the throne.”[vii]
Chúng ta thấy đề nghị này rất ăn khớp
với lời tuyên bộ của vị Khâm Sứ của Tòa Thánh Vatican tại Hà Nội vào
ngày 28/12/1945 như đã nói ở trên.
Trở lại vấn đề liên minh giặc đưa tên
Việt gian Bảo Đại trở lại ngai vàng, Sách Vietnam: A Political History
cũng viết:.
“Từ khi tách rời khỏi Việt Minh vào
tháng 3 năm 1946, Bảo Đại trú ngụ ở Hồng Kông. Vào tháng 1/1947, viên
đặc sứ của d’ Argenlieu cho ông ta hay là người Pháp có một kế hoạch
dùng ông để chống lại Việt Minh. Rồi từ đó, đặc biệt là từ khi Bollaert
đến Saigòn nhận chức Cao Ủy Đông Dương (vào ngày 15/3/1947 – NMQ), sứ
giả của Cao Ủy Bollaert và bọn Việt gian cũ (bọn cựu quan lại làm tay sai
cho Liên Minh Pháp - Vatican trong thời 1884-1945 - NMQ) tới tấp đến
Hồng Kông để đưa tin và tiếp xúc với Bảo Đại.” Nguyên văn:
Bao Dai had been residing in Hong Kong since disengaging himself from
the Vietminh in March, 1946. He had learned of the French plan of using
him against the Vietminh back in January, 1947, from an emissary of d’
Argenlieu. Ever since then, and particular after Bollaert’s arrival in
Saigon, messengers and old collaborators of the French had been going to
Hong Kong…”[viii]
.
Tuy rằng đề nghị này được khởi tiến
vào tháng 1/1947, nhưng nó phải trải qua một thời kỳ bàn luận giữa
Vatican và Pháp và thời kỳ cho người đi móc nối với ông Da-tô Nguyễn
Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Đại) lúc bấy giờ đang lưu trú ở Hông Kông. Sau một
thời gian cò cưa mà cả giữa sứ giả Cousseau của Liên Minh Thánh Pháp –
Vatican và Bảo Đại, tới cuối tháng 5 năm 1948, thì mọi việc coi như đã
xong xuôi. Tuy là đã xong xuôi, nhưng Liên Minh Thánh Pháp – Vatican
cũng vẫn không thể lối cuốn được những người có uy tín với nhân dân và
bất mãn với Mặt Trận Việt Minh để thành lập một chính quyền cho Giải
Pháp Bảo Đại này. Những người có uy tín hay có thành tích cách mạng
chống Liên Minh Thánh Pháp – Vatican trước tháng 8/1945 như các ông
Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Nhượng Tống, Nguyễn Tiến Hỷ, v.v…
đều lánh xa, không tham dự. Trong khi đó, tình hình chiến sự ở Đông
Dương càng ngày càng trở nên bất lợi cho Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp -
Vatican. Vì tình huống này, Vatican và Pháp mới hối hả đồng thuận
biến chính phủ “Cộng Hòa Nam Kỳ” thành “chính
phủ quốc gia” với toàn bộ nội các gồm toàn những người hoặc là mang
quốc tịch Pháp, hoặc là mang quốc tịch Vatican, hoặc là trong giới quan
lại trong thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây” (như các ông Nguyễn Văn
Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Nghiêm Xuân Thiện,
Nguyễn Hữu Trí, Đặng Văn Trí, v.v… ) và cho ra mắt vào ngày 5/6/1948.
Danh xưng “Quốc Gia” hay “Quốc Gia Việt Nam” xuất hiện kể từ đó. Sự kiện
này được ông Lê Xuân Khoa ghi lại trong cuốn Việt Nam 1945-1995 - Tập I
với nguyên văn như sau:
“Danh hiệu “Quốc Gia Việt Nam”
(QGVN) được sử dụng từ ngày 5 tháng Sáu 1948, sau khi Cao Ủy Pháp tại
Đông Dương Émile Bollaert và Thủ Tướng Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời
Nguyễn Văn Xuân ký bản thông cáo chung tại Vịnh Hạ Long nhìn nhận nền
độc lập của Việt Nam…”
[ix]
Cũng từ ngày này,
những cụm từ “Quốc Gia Việt Nam”, “Chính Quyền Quốc Gia” và “người Việt
Quốc Gia” đẫ trở thành những cái phao cho bọn Việt gian bán nước cho
Liên Minh Pháp – Vatican bám lấy và dùng làm bức bình phong che đậy cho
những việc làm phản dân hại nước của chúng. Đồng thời, những cán bộ
tuyên truyền của Giáo Hội La Mã dồn hết nỗ lực để tô son điểm phấn cho
những cái mà họ gọi là “chính quyền quốc gia”, “chính nghĩa
quốc gia” và “người Việt quốc gia” với dã tâm làm cho những
người ít học và kém thông minh lầm tưởng rằng những thằng Việt gian đang
đứng trong hàng ngũ Liên Minh Pháp – Vatican cũng như trong chính quyền
bù nhìn Bảo Đại trên đây là những “người Việt quốc gia yêu nước”
chiến đấu cho chính quyền quốc gia, chứ không phải là chiến đấu cho Liên
Minh Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican.
Nhìn vào thành phần trong cái chính
phủ quốc gia do Liên Minh Thánh Vatican - Pháp Vatican nặn ra này và
bản chất làm tay sai cho Vatican của nó, các nhà sử học thấy nó giống y
như chính phủ của Vua Louis XVIII (1814-1824) được Liên Minh Thánh
Vatican – Anh – Nga – Áo - Phổ nặn ra vào năm 1814 khi chính quyền của
Hoàng Đế Napoléon I (1802-1814) bị Liên Minh Thánh này đánh bại.
Kể từ đó (ngày
5/6/1948) cho đến ngày 30/4/1975, nhờ đã cấu kết chặt chẽ với Pháp và
với Hoa Kỳ, Giáo Hội La Mã đã có thể đưa mấy tín đồ Da-tô đáng tin cậy nhất lên
nắm quyền lãnh đạo chính quyền bù nhìn này và chọn Sàigòn làm thủ đô.
Để lạc dẫn nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân thế giới và cũng là để
trút bỏ được cái gánh nặng mặc cảm tội ác “làm Việt gian bán
nước cho Vatican và cho Pháp” trong tâm tư tín đồ Da-tô người Việt (giống như tâm tư Tôn Thọ Tường), Vatican ra lệnh cho bộ máy
tuyên truyền sử dụng tất cả mọi phương tiện truyền thông (đài phát thanh, báo chí, truyền
đơn và rỉ tai trong xóm đạo) rầm rộ mở chiến dịch đại quy
mô để đánh bóng bằng cách dán
cái nhãn hiệu “chính quyền quốc
gia" cho chính quyền bù nhìn này,
và dán cái nhãn hiệu “những
người quốc gia yêu nước chân chính” cho những tên Da-tô Việt gian nắm giữ những chức vụ lớn
trong cái chính quyền bù nhìn này. Tiếp theo đó, Linh-mục Trần
Hữu Thanh được lệnh chế ra (họa kiểu) lá cờ vàng ba sọc đỏ để làm
tiêu biểu cho “chính nghĩa quốc gia”,
[x] rồi cuỗm bài “Tiếng Gọi Thanh Niên”
của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm quốc ca.
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rỏ cả Giải Pháp Bảo Đại và lá
cờ vàng ba sọc đỏ cùng với những cụm từ “người Việt Quốc Gia với
chính chính quyền Quốc Gia chiến đấu cho chính nghĩa quốc gia dưới lá cờ
vàng ba sọc đỏ” đều là những màn kịch do bàn tay phủ thủy của
Vatican đạo diễn cả. Mục đích của những màn kịch này là khoác cho nhóm
thiểu số tín đồ Da-tô người Việt và bọn phong kiến phản động và bọn lưu
minh xu thời đón gió cái áo “người Việt Quốc Gia tranh đấu cho quyền
lợi quốc gia Việt Nam” để cho chúng bớt đi cái mặc cảm làm Việt gian bán
nước cho Pháp và Vatican. Kể từ đó, Vatican ra lệnh cho bộ máy truyền
truyền và tín đồ Da-tô người Việt khua chiếng gióng trống cỗ võ cho mấy
màn kịch này.
Ngày 7/5/1954, tập đoàn cứ điểm tại Điện Biên Phủ của Liên Minh Pháp –
Vatican bị thảm bại khiến cho chính quyền Pháp phải thương thuyết nghiêm
chỉnh với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève, công
nhận chủ quyền nên độc lập của dân tộc Việt Nam và rút quân vế Pháp.
Những biến cố lịch sử này khiến cho Liên Minh
Pháp – Vatican tan vỡ.
Pháp bỏ cuộc, rút lui khỏi Việt Nam, nhưng Tòa Thánh Vatican không bỏ
cuộc. Là một thế lực chính trị đã từng lăn lộn trên chính trường Âu Châu
và trên vũ đài thế giới trong gần hai ngàn năm trời, cho nên ngay từ khi
Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Quốc làm chủ toàn thể lục địa
Trung Quốc vào ngày 1/10/1949, Vatican đã tiên liệu là Pháp sẽ không
còn khả năng tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tái chiếm Đông Dương và sớm
muộn rồi cũng phải bỏ cuộc, rút quân khỏi Đông Dương. Biết rõ như vậy,
Vatican mới ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đình Thục dẫn ông Da-tô Ngô Đình
Diệm sang Mỹ trao cho Hồng Y Francis Spellman với nhiệm vụ phải tích
cực vận động các nhân vất có thế lực trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ làm
áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại (bằng tiền viện trợ)
để đưa ông ta về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả Mỹ và Vatican.
Rốt cuộc, vào mùa xuân năm 1954, khi các trận đánh giữa quân đội Kháng
Chiến Việt Nam và quân đội viễn chinh Liên Minh Pháp – Vatican đang diễn
ra ác liệt tại Điện Biên Phủ, thì Liên Minh Mỹ - Vatican thành hình, và
vào cuối tháng 6/1954, ông Da-tô Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về Việt Nam
cầm quyền đúng như ý muốn của Tòa Thánh Vatican.
Tháng 4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói ra đi khỏi Việt Nam và quyền lực của
Vatican ở Việt Nam cũng không còn nữa. Cũng vì thế mà màn kịch ”chính
quyền Quốc Gia” cũng được hạ màn. Thế nhưng, Vatican vẫn còn cố đấm ăn
xôi, vẫn còn tiếp tục sử dụng nhóm thiểu số tím đồ Da-tô người Việt để
thi hành sách lược “quậy cho ao nước Việt Nam đục ngầu lên để thả câu”.
Vì lẽ này, Vatican mới ra lệnh cho bộ máy tuyền truyền hâm nóng lại các
màn kịch “chính nghĩa quốc gia” và “lá cờ vàng ba sọc đỏ”. Cũng vì thế
mà từ đầu thập niên 1980, chúng ta thấy tại Âu Châu và Bắc Mỹ, bọn người
mang bản chất vong bản, phản dân tộc phản quốc này cấu kết cùng với
bọn người vong bản đã được Liên Minh Mỹ - Vatican ưu đãi trong những
năm 1954-1975 và bọn lưu manh xu thời đón gió taqahp
họp với nhau đễ diễn trò hề đòi hủy bỏ lá quốc kỳ Cờ Đỏ Sao Vàng và thay thế bằng lá cờ
vàng ba sọc đỏ. Dã tâm thâm độc của việc làm bất nghĩa này của Giáo Hội
La Mã và tín đồ Da-tô người Việt là xoá bỏ hết những chiến công anh dũng
trên đây của nhân dân ta trong hai cuộc chiến giành độc lập và thống
nhất đất nước dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh, và cũng là để
các thế hệ mai này không còn nhớ đến những vết nhơ về những rặng núi tội
ác của Vatican và tín đồ Da-tô người Việt đã chống lại dân tộc và tổ
quốc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1784 cho ngày
30/4/1975 và cho đến ngày nay vẫn còn tiếp tục.
Đọc lịch sử, ai cũng biết rằng, tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt đã trở thành hạng người mang
nặng đặc tính vong bản phản quốc “thà mất nuớc, chứ không thà mất
Chúa”. Những người Việt vong bản này đã trở thành những đạo quân thứ
5 nằm vùng trong các xóm đạo, những tên lính patisan, commando đánh thuê
và những tên tay sai đắc lực cho liên minh giặc Pháp – Vatican trong
những đợt tấn công đánh chiếm đất nước. Nhóm thiểu số
"thà mất nước, chứ không thà mất Chúa" và bọn người lưu manh xu
thời đón gió này luôn luôn có những
nguyện vọng, suy tư, thái độ và hành động đi ngược với nguyện vọng, suy
tư, thái độ và hành động của đại khối nhân dân theo tam giáo cổ truyền
của dân tộc Viêt Nam.
X.- NHÓM THIỂU SỐ
TÍN ĐỒ DA-TÔ NGƯỜI VIỆT ĐÃ
HÀNH XỬ NHƯ THẾ NÀO
ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
Từ năm 1858 cho đến
ngày 30/4/1975, đất nước Việt Nam trải qua không biết bao nhiêu thăng
trầm của lịch sử. Đây cũng là thời kỳ đau thương buồn thảm nhất của tổ
quốc. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Trong thời kỳ đau thương này, có hàng triệu
người con thân thương của đất nước, qua hết thế hệ này đến thế hệ khác,
lớp lớp người đi, quyết tâm lên đường làm nghĩa vụ
đối với quê hường, đánh
đuổi quân cướp ngoại thù, đòi lại núi sông cho dân tộc.
Cũng trong thời kỳ
này, nhóm tín đồ Da-tô đã tỏ ra vô cùng sung sướng và hết sức hồ hởi
triệt để tuân hành lệnh truyền của đấng bề trên nhẩy ra tích cực tiếp
tay cho quân cướp xâm lăng vừa để thỏa mãn lòng tham lam vị kỷ đề hèn,
vừa để được vinh thân phì gia, vừa để phục vụ cho Tòa Thánh Vatican
trong sứ mạng mở mang nước Chúa. Vấn đề này sẽ được trình bày rõ ràng
và đầy đủ ở nơi Chương 7 ở sau.
Tình trạng này đã gây nên một sự hoàn toàn trái ngược về tư duy, thái
độ, hành động cũng như về quan niệm về sự tồn vong của đất nước và dân tộc giữa
một bên là tuyệt đại đa số nhân dân theo nền đạo lý tam giáo cổ truyền
và một bên là nhóm thiểu số tín đồ Da-tô. Những khi đại khối nhân dân
ta hân hoan đón mừng những ngày vui của đất nước, thì họ (nhóm thiểu số
tín đồ Da-tô) coi như ngày vui dân tộc này như là những ngày buồn thàm
nhất đối với họ. Đó là những ngày:
1.- Ngày 19//8/1945: Đây là ngày toàn dân ta quyết tâm vùng lên phất cờ
khời nghĩa đánh đuổi quân cướp xâm lăng để giành
lại chủ quyền độc lập
cho dân tộc.
2.- Ngày Quốc Khánh 2 tháng 9: Vào
ngày này năm 1945, chính quyền Việt Minh tuyên bố với nhân dân thế giới
biết
rằng kể từ ngày đó, nhân dân nước Việt Nam đã hoàn
thành sứ mạng đánh đuổi giặc Nhật xâm lăng, giành lại chủ quyền độc lập
cho dân tộc, và cương quyết chống lại Liên
Minh Pháp – Vatican xâm lược để bảo vệ nền độc lập của dân tộc vừa
mới giành lại được. Đối với dân tộc Việt Nam, ngày 2/9/1945 giống như ngảy
4/7/1776 của dân tộc Hoa Kỳ
(ngày mà dân tộc Hoa Kỳ lớn tiếng tuyên bố cho nhân thế giới biết rằng
nhân dân Hiệp Chủng Quốc Bắc Mỹ đã giành lại chủ quyền độc lập, không
còn lệ thực Đế Quốc Anh nữa),
và giống như ngày 14/7/1789 của dân tộc Pháp. Vào ngày này, nhân dân
Pháp vùng lên đạp đổ chế độ đạo phiệt Da-tô Louis XVI, tay sai của
Vatican và ban hành những biện pháp tịch thu tài sản của Giáo Hội La Mã,
tước bỏ tất cả những đặc quyền đặc mà Giáo Hội đã được các chế độ cũ ưu
đãi, và ban hành “Hiến Chương Dân Sự cho Giới Tu sĩ Da-tô” (The Civil
Constitution of the Clergy) đòi hòi giới người này phải tuyên thệ trung
thành với Hiến Pháp, chứ không phải trung thành với Giáo Hoàng hay Tòa
Thánh Vatican.
3.- Ngày 7/5/1954: Ngày quân dân ta
đại thắng Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican tại tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican phải tan rã và đế quốc Pháp
phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam rồi cuốn gói ra đi.
4.- Ngày 30/4/1975:
Ngày Đại Chiến Thắng của dân tộc Việt Nam khiến cho Liên Minh - Mỹ
Vatican phải tan rã, Mỹ phải cuốn gói ra đi. Nhiên hậu, quyền lực của
Vatican ở Việt Nam cũng không còn nữa và chính quyền Cách Mạng truất bỏ
hết những đặc quyền đặc lợi của Giáo Hội La Mã, giống như chính quyền
Cách Mạng Pháp 1789 và Cách Mạng Ý 1870 đã làm đối với Giáo Hội La Mã.
Cũng nên biết, sau
ngày 30/4/1975, theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền
cách mạng Việt Nam ban hành biện pháp quốc hữu hóa khối bất động sản
kếch sù của Giáo Hội ở Việt Nam vì rằng khối tài sản này là do Giáo Hội
đã ăn cướp được của nhân dân ta từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975.
Thi hành biện pháp này, chính quyền Việt Nam chỉ là xử lý một vấn đề
lịch sử theo nguyên tắc pháp lý “Trả lại cho Caesar cái gì của Caesar.”
(Render into Caesar the things that are Caesar’s).
Cũng nên biết
rằng, sau tháng 7 năm 1954, Hoa Kỳ đã ra lệnh cho chính quyền tay sai
Ngô Đình Diệm phải thi hành Chương Trình Cải Cách Điền Địa bằng cách
truất hữu ruộng đất (mua lại theo thời giá) của điền chủ để bán chịu dài hạn
cho nông dân. Người mua ruộng phải trả cho điền chủ 10% số tiền mua bằng
chi phiếu, còn lại 90% trả bằng trái phiếu trong 12 năm (12 lần).
Mục đích của chương trình này là để san bằng bất công về kinh
tế trong nông thôn. Hoa Kỳ cho chính phủ vay tiền lập ngân hàng riêng để
cho những người mua ruộng có thể vay tiền trả cho điền chủ.
Nhưng vì Giáo Hội La Mã ở hậu trường sân khấu chính trị
đạo diễn, chính quyền Ngô Đình Diệm đã lươn lẹo chỉ tiến hành chương
trình này sao cho có lợi cho giới điền chủ mà hầu hết là những
thành phần đã cộng tác chặt chẽ với Liên Minh Pháp - Vatican trong những
năm 1858-1954, đặc biệt là khối ruộng đất vĩ đại 370 ngàn mẫu Anh của
Giáo Hội La Mã không hề rớ tới. Sự kiện này được sử gia Joseph
Buttinger ghi lại như sau:
"Hơn
nữa, hàng trăm ngàn anh em nông dân được Sở Nông Nghiệp Tín Dụng giúp đỡ
bằng cách cho vay tiền làm vốn mà trước kia họ phải vay của bọn chủ
nợ tư nhân với giá cắt cổ. Nhưng vì không có đại diện thực sự của
họ cho nên đại khối nông dân ở nông thôn vẫn tiếp tục là nạn nhân (bị
bóc lột) của giới địa chủ và viên chức chính quyền. Giá nộp tô hợp pháp
được quy định là 25% mà hầu như khắp nơi không có ai quan tâm hay để ý
tới. vì rằng tá điền thường cho là nếu không quá 30% là may mắn lắm
rồi. Ngay cả những năm sau năm 1960, khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
phát động cuộc chiến chống lại chính quyền miền Nam là lúc tranh giành
lòng dân, lôi kéo nhân dân về phía mình, mà tình trạng này vẫn như vậy.
Các ông địa chủ có quân lính trở lại các vùng do Việt Minh kiểm soát
trước đó để đòi nông dân phải nộp tô cho họ với giá cao hơn giá chính
quyền ấn định. Chỉ có sự đồng thuận hay tiếp tay của chính quyển thì
giới địa chỉ mới làm được như vậy.
Anh em
nông dân bất mãn vì không được quyền chiếm hữu những đất đai không có
chủ mà chính họ đã liên tục canh tác cho đến lúc đó. Đây là sự thực.
Ngay cả với 43 ngàn giáo dân Bắc Kỳ đến định cư ở Cái Sắn cũng chống
lại những khế ước về chính sách nộp tô như vậy, nhất là lúc đó chính
quyền đã cắt giảm tiền trợ cấp định cư cho họ.
Việc thi hành chương trình cải cách điền địa một cách
vụn vặt và chắp vá trong một pham vi hạn hẹp như vậy đã gây tai hại cho
việc cải tiến về chính trị của đất nưỡc. Sự kiện này cũng cho chúng ta
thấy rõ những lời cao rao rằng chế độ của ông Ngô Đình Diệm là một chế
độ cách mạng chỉ là những lời tuyên truyền giả dối rỗng tuếch. Ông Diệm
không có khả năng nhận thức được rằng cuộc cách mạng quốc gia chỉ có
thể hoàn thành được vào khi mà tất cả những tàn dư của chế độ thuộc địa
cũ đã bị quét sạch, và bằng những chương trình cách mạng cấp tiến về xã
hội và kinh tế. Đối với đại khối nông dân, trong thời chế độ thực dân
thuộc địa, giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột họ là một sự thực. Vì
thế cho nên, chỉ khi nào chế độ thực dân thuộc địa bị xóa bỏ thì khi đó
mới có thể chấm dứt được chế độ địa chủ bóc lột giai cấp nông dân.
Trong thực tế, vì không bị loại bỏ bởi chương trình cải
cách điền địa, giai cấp địa chủ đã từng cấu kết với chế độ thực dân
thuộc đía trong nhiều thập niên, đã thành công trong việc đòi lại những
quyền lợi của họ trong thời chế độ Diệm. Tối đại đa số trong số 6,300
địa chủ (đa số là nhũng địa chủ vắng mặt) chiếm hữu 45% ruộng lúa ở miền
Nam. Đại đa số những địa chủ này không bị ảnh hưởng bởi chương trình
cải cách điền địa của chính phủ, vi rằng họ chỉ làm chủ vào khoảng 300
mẫu, giới hạn mà luật lệ nhà nước quy định cho phép được giữ lại (không
bị truất hữu), Tuy nhiên, ngay cả trong số 2,500 địa chủ chiếm hữu 40
phần trăm ruộng lúa ở miền Nam, cho tới cuối năm 1962, cũng chỉ
có 1,584 địa chủ bị truất hữu một phần ruộng đất của họ mà thôi. Ruông
đất do Giáo Hội La Mã làm chủ ước lượng vào khoảng 370 ngàn (370,000)
mẫu không hề bị đụng (rớ) tới."
[Nguyên văn: "Furthermore, the plight of hundreds
of thousands of peasants was eased by the National Agrarian Credit
Office, which was created in April, to supply peasants in temporary
needs funds with loans previously obtainable only at usurious rates. But
the absence of any kind of democratic representation of the peasnts
meant that the rural masses continued to be victimized by landlords and
government officials. The legal rent of 25% of crop was widely
disregarded - tenants considered themselves lucky if their rent was no
more 30 per cent. Even after 1960, when insurrection made the struggle
for peasant loyalty the overriding political issue, abusive treatemt of
peasants remained widespread. Landlords, returning with the army to
former guerrilla-held regions, extracted rents far above the legal
limit. Since this was possible only with the help or acquiescence of the
Saigon appointed local officials, the peasants more often than not
regretted having returned to government control. The peasants also
resented not getting the ownership of formerly unocuppied land, but
instead being settled on it as tenants. This was true even of land
which the refugees, largely through their own efforts, had opened for
cultivation. "At the Cái Sắn development in southwestern Vietnam, for
example there was so much resistance to tenancy contracts by the 43.000
resettled refugees that the government cut off daily subsistence payment
in order to bring the refugees around."
The narrow scope and the fragmentary execution of the
agrarian reform, so fateful for the country's political evolution,
reveal a great deal about Diem's political philosophy and the hollowness
of his claim that his was a revolutionary regime. Diem was unable to see
that Vietnam's national revolution could be completed and all remenants
of colonialism wiped out only through radical economic and social
reforms. For the peasant masses, exploitation under feudal land regime
had been the dominant reality of colonialism. Colonialism, therefore,
would not end for them until landlordism was abolished.
Far form being eliminated by a thorough agrarian reform,
the landlords, for decades the associates of the colonial regime, were
in fact the group that, more than any other, succeeded in asserting its
interests under Diem. A maximum of 6,300 persons (most of them absenteee
landlords) owned 45 per cent of all rice land in the South. The vast
majority of them were not at all affected by the land-transfer program,
since they owned less than the approximately 300 acres the law permitted
them to retain. But even of the 2,500 who owned 40 per cent of the
Southern rice land, only 1,584 had been partly expropriated by late
1962. (Land held by the Roman Catholic Church, estimated about
370,000 acres was not subject to transfer."] Joseph Buttinger,
Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praeger, 1967), pp
932-933.
(Vấn đề
này đã được trình bày khá đầy đủ trong Mục Phần VI, Mục XXI với tựa đề
là Bảo Quản Tài Sản Của Vatican và Kinh Tài Bất Chính của Chế độ đạo
phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm.)
Có thể vì Giáo Hội La Mã tức Vatican
đã mất hết quyền lực và mất hết đặc quyền đặc lợi ở Việt Nam, cho nên
tín đồ Da-tô người Việt mới gọi những ngày 30/4/1975 là “ngày mất nước”,
“ngày quốc nhục” và gọi những ngày 19/8/1945, 2/9/1945, 7/5/1954 là
những ngày buồn thảm đau thương. Cũng từ ngày 30/4/1975, họ tự coi như
là những người mất nước. Chúng ta có thể thấy rõ tình trạng này qua
những sách báo và các băng nhạc do các trung tâm sản xuất băng nhạc do
những tín đồ Da-tô người Việt làm chủ hay điều hành, thí dụ như băng
nhạc Asia và Paris By Night, Mây Production, v.v…. Tình trạng này cũng
thể hiện ra trong những ngôn từ họ sử dụng khi nói chuyện với nhau. Nếu
để ý đến những từ ngữ họ sử dụng như dân chủ, tự do, tự do tôn giáo,
lòng ái quốc, mất nước, Việt gian v.v…, rồi theo dõi cung
các hành xử của họ để kiểm chứng, chúng ta sẽ thấy, tất cả đều bị chúng
cưỡng từ đoạt lý, nghĩa là họ sử dụng những từ ngữ này một trái ngược
hẳn với những định nghĩa trong tự điển, trái ngườc với truyền thống của
dân tộc, trái ngược với ngôn ngữ của xã hội loài người, và trái ngược
với cung cách hành xử của chính họ, những lại rất thích hợp và rất đúng
với xã hội “con chiên” hay “con cừu” của họ. Bằng chứng là:
a.- Việt Nam đã hoàn toàn độc lập.
Chính quyền do người Việt Nam lãnh đạo, Việt Nam có chỗ ngồi trong Liên
Hiệp Quốc sánh vai cùng với gần hai trăm quốc gia hội viên trong tổ chức
này. Ấy thế mà họ vẫn cho rằng “mất nước”. Trong cuốn băng Paris By
Night 90, ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn, một trí thức Da-tô, vừa là nhà văn,
vừa là nhà giáo mà vẫn dùng từ “mất nước”, giống y như những người ít
học hay vô học thường sử dụng.
b.- Họ gọi những người suốt đời hy
sinh cho đại cuộc đánh đuổi Liên Quân Xâm Lược Pháp-Vatican để giành
lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và những người chiến đấu cho đại cuộc
thống nhất đất nước trong những năm 1954-1975 là “Việt gian”. Họ tôn
vinh thằng phản thần tam đại Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm lên là “chí
sĩ yêu nước”, là “nhà ái quốc đã chết vì dân (Da-tô)”, bất kể là
các nhà
viết sử thế giới đều gọi nó là thằng bù nhìn làm
tay sai cho Liên Minh Mỹ - Vatican, bất kể
là sử gia Nigel Cawthorne đã chính thức ghi nhận thằng tam đại Việt gian
họ Ngô này là một trong 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân
loại trong tác phẩm Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators
(London: Arcturus, 2004) của ông.
c.- Giáo Hội và tín đồ Da-tô của Giáo
Hội vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do tôn giáo, nhưng nếu có một
người nào thuộc một tôn giáo khác muốn thành hôn với người yêu là tín đồ
Da-tô, thì người đó lập tức bị đòi hỏi phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của
gia đình, phải đi học giáo lý, phải làm lễ rửa tội theo đạo, rồi mới
được làm lễ thành hôn ở nhà thờ. Cũng vì thế mà bà Bà Ngọc Tuyết Tiên đã
phải nghẹn ngào nói ra trong buổi Hội Thảo Liên Tôn Việt Mỹ được tổ chức
tại San José, California vào ngày 15/10/1994. Bà nói:
"Tôi rất đau buồn suốt mấy chục năm
qua khi thấy những mối tình duyên bất thành giữa nhiều đôi trẻ, phần lớn
do cha mẹ Thiên Chúa Giáo quá khắt khe buộc dâu, rể theo các đạo khác
phải đi nhà thờ rửa tội, xưng tội; đã có nhiều trường hợp đôi bạn trẻ
phải ly di hoặc quyền sinh."
[xi]
d.- Giáo Hội và tín đồ Da-tô của Giáo
Hội vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho nhân quyền, nhưng vào tháng
8/2001, chính Giáo Hoàng John Paul II lại cưỡng bách Giám-mục Giám-mục
Emmanuel Milingo 71 tuổi phải từ bỏ bà vợ Maria Sung 43 tuổi [mới cưới đã được gần ba tháng dù
rằng đã có làm lễ trước bàn thờ Chúa Jesus trong một ngôi giáo đường
của một hệ phái Tin Lành.] (Sẽ được trình bày đầy đủ ở dưới).
e.- Giáo Hội và tín đồ Da-tô của Giáo
Hội vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do dân chủ, nhưng chính bản
thân Giáo Hội La Mã mà cơ quan đầu não là Tòa Thánh Vatican tức quốc gia
Vatican lại theo chế độ tăng lữ, quân chủ chuyên chính toàn trị
(monarchial sacerdotal) , một chế độ cực kỳ chuyên chế, cực kỳ phong
kiến và vô cùng lạc hậu.
f.- Giáo Hội và tín đồ Da-tô của Giáo
Hội vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do dân chủ, nhưng tín đồ
Da-tô người Việt ở Bắc Mỹ không bao giờ tôn trọng quyền tự do tư tưởng,
tự do ngôn luận của những người bất đồng chính kiến với họ. Họ sử dùng
tất cả các phương tiện truyền thông như báo giấy, báo điện tử, truyền
thanh, truyền hình, rỉ tai, và tụ tập với nhau thành đám đông kéo đến
trước cơ sở làm ăn của nạn nhân để khủng bố tinh thần, để chửi bới, vu
khống, sỉ vả, và xoi mói vào đời tư các tác giả có tác phẩm nói lên
những sự thật trong lịch sử trong đó có những sự thật về những việc làm
đại gian đại ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua hay những sự
thật về các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội. Cũng vì thế mà
tất cả anh em trong nhóm Giao Điểm đã trở thành những nạn nhân của họ từ
giữa thập niên 1990 cho đến nay. Họ cũng hành động
thô bạo, ngạo ngược, lỗ mãng, đê tiện và bỉ ổi như
vậy đối với các tờ báo có chủ trương thông tin và nghị luận trung thực
phản ảnh đúng theo lương tâm của nhà báo trong một quốc gia theo chế độ
tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ và Tây Âu. Nạn nhân gần đây nhất của họ là tở
Viet Weekly ở Westminster, California từ tháng 7/2007 cho đến nay. (Sẽ
được trình bày đày đủ hơn trong Chương 7 ở dưới.)
Tạm kể sơ sơ năm (6) trường hợp điển
hình trên đây để quý vị thấy rõ là Giáo Hội La Mã và tín đồ của Giáo Hội
La Mã có cái bản chất ăn nói và hành động ngược ngao, nói một đàng làm
một nẻo. Qua những hành động ngược ngạo này của Giáo Hội và của tín đồ
Da-tô cuồng tín người Việt, chúng ta có thể đi đến kết luận, “Đừng
tin những gì Vatican và tín đồ Da-tô nói, hãy nhìn những gì Vatican và
tín đồ Da-tô làm.” (Nhại
theo lời tuyên bố của một nhân vật trong chính quyền Miên Nam trong
những năm đầu của thập niên 1970.)
(Xem tiếp)
Chú thích Chương 4
[i] Bùi Ðức
Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn: Chân
Lý,1972), tr. 1965.
[ii] Nghiêm
Kế Tổ, Việt Nam Máu Lửa, Los Alamitos, CA: Xuân Thu,
1989), tr. 89.
[iii] Hoàng
Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nam Á, 2002),
., tr. 2076.
[iv]
Đại Tướng Võ
Nguyên Giáp, Những Năm Tháng Không Thế Nao Quên (HNi:
Quân Ðội Nhân Dân, 2001), tr 286.
[v] Hoàng Cơ
Thụy, Sđd., tr. 2100-2103.
[vi] Chính
Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 -Tập A: 1939-1946
(Houston, TX: Văn Hóa 1996), tr.295.
[vii] Marvin E. Gettlemen, Viet Nam: History,
Documents and Opinions on a Major World Crisis (New York:Fawcett
Publications, Inc. , 1965), p. 69..
[viii]
Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History (New York:
Frederich A Praeger, 1968), p 288. , .
[ix]
Lê Xuân Khoa, Sđd,, tr. 161.
[x] Đỗ Mậu,
Tâm Thư (Houston, TX: Hoa & Thân Hữu, 1995), tr.336-339.
[xi]
Ban Nghiên
Cứu Ðạo Giáo, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa - Tuyển Tập I
(Spring, TX: TXB, 1994), tr 223.
|