|
Lời Tòa Soạn 
Những mục của tác giả Trần Chung Ngọc:
1
2
3
4
Những mục của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Lời Kết Chung
CHƯƠNG 1
I.- SƠ LƯỢC MỘT VÀI NÉT VỀ BỘ MĂT THẬT CỦA GIÁO HỘI LA MÃ
Binh thư Tôn Tử viết “Tri kỷ tri bỉ,
bách chiến bách thắng”. Đã xác nhận Vatican hay Giáo Hội La Mã là kẻ
thù lâu dài nhất, bám chặt nhất, nguy hiểm nhất, thâm độc và dã man nhất
đối với dân tộc Việt Nam, thì dân tộc Việt Nam cũng phải biết rõ bộ mặt
thật của Giáo Hội La Mã như thế nào! Trong bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội
Ác Của Giáo Hội La Mã, chúng tôi đã dành ra cả Phàn I và Phần II gồm 6
mục với tổng số 17 chương sách để nói về sự thật ghê tởm của một số khá
nhiều tín lý Ki-tô cũng như bộ mặt thật của cái thế lực mà học giả Da-tô
Henri Guillemin gọi là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn”, văn hào Voltaire
gọi là “cái tôn giáo ác ôn” và một học giả Da-tô khác là ông
Charlie Nguyễn gọi là “đạo bịp” và “đạo máu”.
Trong chương sách này, chúng tôi chỉ trình
bày sơ lược về một vài nét độc đáo của cái xí nghiệp buôn thần bán thánh
này để giúp cho độc giả có cái nhìn tổng lược nhưng rất trung thực về
một số lời dạy của Chua Bố Jehoivah và của Chúa Con Jesus cùng một số
trong những khu rừng tội ác của Giáo Hội mà giáo dân người Việt luôn
luôn coi như là tổ quốc thân thương của họ để rồi hết lòng tuân phục và
cúc cung phục vụ, trong khi người Âu Châu đã biết rõ bộ mặt thật ghê tởm
của nó, “khiếp sợ nó, tránh xa nó như tránh hủi”.[i]
A.- LỜI DẠY VÀ HÀNH ĐỘNG PHẢN NHÂN LUÂN VÀ BẠO NGƯỢC TRONG GIÁO HỘI LA MÃ
Giáo Hội La Mã luôn luôn rao truyền và dạy dỗ tín đồ rằng ông Chúa
Con Jesus là Chúa Cứu Thế, nhân từ, bác ái, nhưng trong Tân Ước, sách
Matthew (10: 34-37) viết rõ ràng những lời ông Chúa Con Jesus này rao
truyền và dạy dỗ người đời toàn là những điều phản nhân luân, đại nghịch
bất đạo. Dưới đây là những lời dạy phi luân quái đản này được ghi rõ
ràng trong Tân Ước như sau:
“Ta đến đây không phải mang lại sự bình an, mà là mang gươm dáo.
Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống
lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại
nhau. Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và kẻ
nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với Ta. ”
Nguyên văn: “Do not think that I came to bring peace on earth. I did
not come to bring peace but a sword.” “For I have com to set a man
against his father, a daughter against her mother, and a daugher-in-law
against her mother-in–law.” “And a man’ s foe will be be of his own
household.” “He who loves father or mother more than Me is not worthy
of Me. And he who loves son or daughter more than Me is not worthy of
Me.” Matthew (10: 34-37).
Những lời dạy mất dạy phản nhân luân này
được các nhà lãnh đạo Giáo Hội học thuộc lòng và theo đó mà hành xử rồi
lại ra lệnh và dạy dỗ tín đồ cũng phải học thuộc lòng và cũng phải theo
đó mà hành xử. Bằng chứng là:
"Năm 1232, Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241)
thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition… Cha con
tố các nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo
nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội.
Giáo Hoàng Paul IV (1555-59) tuyên bố: "Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi
cũng sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn" v.v..”
[ii]
Những lời dạy trong Cựu Ước cũng như ở trong Tân
Ước và lời dạy của Giáo Hội cho chúng ta thấy rõ bản chất cũng như chủ
trương và hành động của Giáo Hội đều là những gì lừa dối, bịp bợm, bạo
ngược, độc ác, dã man, phản dân tộc, phản quốc, phản nhân luân và luôn
luôn chống lại nhân loại. Ấy thế mà Giáo Hội lại luôn luôn tự phong là “Hội
Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”, là “Hiền
Thê của Thiên Chúa Hiện Làm Người”, rằng đạo Ki-tô La Mã là đạo cữu
rỗi, đạo của bác ái, đạo của tình thương, v.v… Rõ ràng là Giáo Hội ăn
ngang nói ngược, ăn không nói có, gian manh bịp bợm đến cùng cực của
gian manh và bịp bợm. Nói về những ác tính ghê tởm này Giáo Hội La Mã,
Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi lại trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc như
sau:
"Ngay trong thời vàng son của Phật Giáo Ấn Độ,
dưới triều Hoàng Đế Asoka, chính nhà vua này đã ban hành và cho khắc lên
đá một sắc chỉ khuyến cáo sư khoan dung giữa các tôn giáo:
“Chúng ta không nên chỉ tôn kính riêng tôn giáo
của mình mà kết án tôn giáo cúa người khác, trái lại, chúng ta phải tôn
trọng tôn giáo của kẻ khác (…). Làm như vậy, chúng ta vừa làm sáng danh
tôn giáo của mình, vừa giúp ích cho tôn giáo của người khác. Làm ngược
lại là đào mồ chôn tôn giáo của mình, đồng thời làm hại tôn giáo của
người khác.
Trong Giáo Hội Công Giáo thì trái lại, khuynh
hướng đóng kín và tự mãn hiện diện ngay trên bình diện tập thể, vì Giáo
Hội đã tự ý thức mình như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa và giao
cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội là con đường độc nhất đưa tới
Thiên Chúa: "Ngòai Giáo Hội không thể có sự cứu rỗi" (hors de l'
Église, point de salut).
Hậu quả của quan niệm ấy là tính cách bất khoan
dung (intolérance) của Giáo Hội Công Giáo: Giáo Hội đã được Thiên Chúa
ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ Giáo Hội mới
có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. [Đây chỉ là quyền tự
ban, vì bản chất Giáo Hội là một ngụy giáo hội] Tất cả những gì ở ngòai
sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chánh thức của Giáo Hội
chỉ có thể sai lầm. [Trong quá khứ, không biết đã có bao nhiêu lần, Giáo
Hội đã giải thích sai lầm] Mà Giáo Hội có quyền [quyền ở đâu
ra] và có bổn phận tiêu diệt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu hòan thành
sứ mạng cứu rỗi của mình [Quyền năng “Cứu rỗi” của Chúa Giê-su đã bị
dẹp bỏ trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, vậy “sứ mạng cứu rỗi”
của Giáo hội là cái gì?]. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép,
Giáo Hội đã không ngần ngại dùng bạo lực để tiêu diệt những tôn
giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt sách vở ngọai đạo và đốt
luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", nếu không chịu sửa sai. [Giáo
Hội đã theo đúng luật của Thượng đế trong Cựu Ước]
Những hành động nói trên không phải bắt nguồn từ
một khuynh hướng đế quốc mà từ cái ý thức rất chân thành và nghiêm chỉnh
của Giáo Hội về sứ mạng cao cả của mình. [Đây chính là điều mà ông
Nguyễn Văn Trung cho rằng Giáo Hội bị cái “chước cám dỗ làm điều thiện”
(sic)]Thật là cảm động khi nhìn lại cái ý chí sắt đá mà Giáo Hội đã
giữ được nguyên vẹn qua bao cuộc thăng trầm trong gần hai ngàn năm lịch
sử, để thi hành mạng lịnh cuối cùng của Đức Kitô: "Các con hãy ra
đi dạy dỗ các dân tộc". [Giáo sư Lý Chánh Trung không biết
rằng câu này là Giê-su nói “sau khi chết”, và các dân tộc có cần đến một
giáo hội như giáo hội Công giáo dạy dỗ không?] Điều đáng buồn là một
số phương pháp mà Giáo Hội đã dùng đến để dạy dỗ các dân tộc có tính
cách phản giáo khoa. [không phải là phản giáo khoa mà là phi đạo
đức]
Sự bất khoan dung khiến cho, trong quá
khứ, Giáo Hội không bao giờ chấp nhận tự do trong nội bộ của mình cũng
như trong xã hội loài người nói chung. Trong nội bộ Giáo Hội, người Công
Giáo không có quyền có ý kiến riêng mà luôn luôn phải theo lời dạy của
giáo quyền. Có một ý kiến riêng là đã "lạc đạo" rồi như Giám-mục Bossuet
viết: "Người lạc đạo" (hétérique) là người có một ý kiến theo nguyên
nghĩa. Mà có một ý kiến là gì? Là một tư tưởng riêng, một tình cảm
riêng. Nhưng người Kitô hữu là người Công Giáo nghĩa là con người phổ
biến (universel), con người không có tình ý riêng tư mà luôn luôn phải
tuân theo tình ý của Giáo Hội không một chút do dự.” [Nhưng nếu tình
ý của Giáo hội tương phản với tình ý của dân tộc thì sao?] Trong xã
hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác
hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với
mình, bởi các lý do giản dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có
sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa
sai. [Đây chẳng qua chỉ là một điều tự tôn của Giáo hội trong thời
Trung Cổ. Ngày nay đã không còn bất cứ một giá trị nào.]
Trong thông điệp ngày 29-4-1814 gửi Đức
Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII viết “Người ta lẫn lộn
sự thật với sự sai lầm, người ta đặt Hiền thê thánh thiện và tinh tuyền
của Đức Kitô (tức Giáo Hội Công Giáo) [John Calvin đã gọi Giáo Hội
Công Giáo là “con điếm điên dại” (fool harlot) thay vì là hiền
thê của Chúa] ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả
với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo
chí là ”thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số
người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi...”.
Tóm lại, ít nữa là trước Công Đồng Vatican II,
lý tưởng của Giáo Hội vẫn là thời vàng son Trung Cổ trong đó Giáo Hội có
đủ thế lực để giành độc quyền dạy dỗ các dân tộc.
Tôi nghĩ rằng chính sự bất khoan dung
nói trên (ngòai những lý do khác) đã khiến cho Giáo Hội va chạm nặng nề
với các dân tộc Á Đông và đã không thành công mỹ mãn trong việc rao
giảng tin mừng tại vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương
tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông
theo đạo thật là ít oi, ngoại trừ xứ Phi Luật Tân. Lý do căn bản của kết
quả khiêm tốn ấy phải chăng là người Á Đông, khi theo đạo phải ly cách
với cộng đồng dân tộc chính vì Giáo Hội đã xem các nền văn hóa Á Đông
là vô giá trị, sai lầm, tội lỗi, do đó gần như bắt buộc người Á Đông
phải lựa chọn giữa dân tộc và Giáo Hội. Ngày nay hầu hết mọi người đều
đồng ý rằng việc cấm đạo, giết đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là một
hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị
các nhà vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta
khó có thể làm khác hơn.”
Lựa chọn giữa tôn giáo và dân tộc: trong
lịch sử có lẽ chỉ có người Công Giáo là phải đương đầu với tình cảnh đau
đớn như vậy!”
[iii]
Qua bản văn sử trên đây, chúng ta thấy “Giáo
Giáo Hội đã xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, sai lầm và tội lỗi”
và “Giáo Hội cho ràng Giáo Hội có quyền và có bổn phận tiêu diệt sự
sai lầm” bằng cách “dùng bạo lực để tiêu
diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt sách vở
ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", “để bảo vệ
sự thật hầu hòan thành sứ mạng cứu rỗi của mình”.
Mà những dân tộc theo tôn giáo và văn hóa
khác với đạo Da-tô phải sửa sai như thế nào thì mới theo đúng ý của Giáo
Hội?
Phải chăng theo đúng ý của Giáo Hội La
Mã là các dân tộc Á Đông phải từ bỏ nền văn hóa Khổng Mạnh
tùy theo cương vị trong mối ngũ thường mà hành xử theo nguyên tắc “trung,
hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng” để sống theo
nền đạo lý phản nhân luân như lời dạy của ông Chúa Con Jesus
trong Matthew (10: 34-37) và lời Giáo Hội dạy tín đồ rằng: “Cha
con tố các nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố
cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo
Hội”?
Rõ ràng Giáo Hội không những chỉ ăn ngang
nói ngược, gian manh, bịp bợm, ăn không nói có, mà còn có những thành
tích về tội ác chống lại nhân lọai hết sức dã man và cực kỳ tàn ngược,
khiến cho toàn thể nhân dân thế giới đều phải ghê tởm. Biết rõ điều này,
cho nên, trong những năm gần cuối cuộc đời, mỗi lần thánh du đến một
quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội, Giáo Hòang John Paul II cũng phải
xin lỗi lia lịa. Tính ra từ năm 1992 cho đến năm 2000, ông giáo hòang
này đã xin lỗi nhân dân các quốc gia nạn nhận của Giáo Hội đến cả trên
dưới 100 lần. Có lẽ Giáo Hòang John Paul II cảm thấy, xin lỗi như vậy
cũng chưa đủ để làm cho nguôi lòng căm giận hận thù của nhân dân thế
giới. Cho nên, ông mới cho tổ chức một buổi lễ vô cùng trọng thể tại
Quảng Trường Peter trong kinh thành Rome vào ngày 12/3/2000, để chính
ông và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đứng ra chính
thức cáo thú tội ác với Chúa về những rặng núi tội ác chống lại nhân
loại trong gần hai ngàn năm qua của Giáo Hội.
Người Trung Hoa thường nói “giang sơn dị
cải, bản chất nan di”. Cái bản chất xấc xược, ngược ngạo, ăn ngang
nói ngược, quay quắt, lắt léo, lật lọng và lươn lẹo của Giáo Hội La Mã
quả thật là “nan di”, hết thuốc chữa. Cái bản chất này đã ăn sâu vào
trong huyết quản và tâm não của tất cả các vị chức sắc trong Giáo Hội
từ giáo hoàng cho đến các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican
xuống tới các hồng y, giám mục và linh mục cũng như bọn văn nô Da-tô tại
khắp các địa phương. Cũng vì thế mà ngay trong buổi lễ cáo thú tội ác
vào ngày 12/3/200, có hàng trăm triệu con mắt từ khắp mọi nơi trên thế
giới theo dõi qua các đài truyền hình mà Giáo Hoàng John Paul II và các
ông chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican cũng vẫn lươn lẹo bằng
cách chỉ xin lỗi với Chúa mà không có một lời nào nói với các dân tộc
nạn nhân để xin lỗi, nhận lỗi và nhận lãnh trách nhiệm bồi thường những
thiệt hại cho họ về cả tinh thần lẫn thể chất và vật chất. Giáo Hội La
Mã lưu manh và lượn lẹo là thế đó!
Nói về đặc tính lươn lẹo của Giáo Hội La
Mã, học giả Da-tô Phan Đình Diệm, viết trong bản văn "Những Lời Bàn" về
"Mea Culpa Bài 3" (Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn
Năm vào ngày Chủ Nhật 12/3/200) như sau:
LỜI TÁM: Trong 7 Chương tội mà Giáo Hội Công
Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là "vượt tội" mang
cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kín
và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí
nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật đổ giây chuyền của
những con bài dominos, Giáo Hội phạm thêm tội C để bảo vệ các tội A và
tội B... Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với
con heo) thiêu sống Bà thánh Jeanne d' Arc, cho đến ngày Bà được phong
thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu
phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiêu lần? Giết Bà
cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng
có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo Hội phạm
tại các "Tòa Điều Tra Dị Giáo" là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp
số nhân." [iv]
Đọan văn trên đây cho chúng ta thấy bộ máy
tuyên truyền của Giáo Hội La Mã hết sức trắng trợn,
hết sức siêu việt và hết sức tinh vi.
Nói cho rő hơn, bộ máy tuyên truyền này có biệt tài "đổi trắng thay đen,
nói có thành không, nói không thành có, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo,
lật lọng và bịp bợm" hết sức trắng trợn.
Hết sức siêu việt vì rằng khi hành xử như vậy mà Giáo Hội
vẫn thản nhiên, không tỏ ra một chút gì thẹn thủng đối với lương tâm và
đối với mọi người. Hết sức
tinh vi ở chỗ tất cả những gì
do bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội đưa ra đều được thi hành theo sách
lược “Tăng Sâm giết người” (nhắc đi nhắc lại nhiều lần) và sách lược “cả
vú lấp miệng em” (dùng tất cả các phương tiện truyền thông (từ rao
truyền ở trong nhà thờ, báo chí, truyền đơn, cho đến truyền thành,
truyền hình, rỉ tai) và nhiều khi còn sử dụng cả những thủ đoạn hăm doạ
hay khủng bố những người nào dám vạch trần sự thật (về việc làm bỉ ổi
của Giáo Hội) với thâm ý để cho họ (nạn nhân) hiểu rằng "theo ta thì
sống, chống ta thì chết". Siêu vịệt ở chỗ mỗi khi đưa ra một luận điệu
gian dối nào để lừa bịp thì cán bộ và tín đồ Da-tô đều răm rắp thi hành
vô điều kiện như trên mà không cần biết hậu quả của nó sẽ làm cho người
đời ghê tởm và phỉ nhổ cả Tòa Thánh Vatican mà họ một lòng tôn thờ vinh
và cúc cung phụng sự.
Những kỹ thuật hay tài nghệ ăn không nói có
và lươn lẹo trên đây của Giáo Hội La Mã đều được truyền dạy cho tất cả
tín đồ Da-tô ngoan đạo của Giáo Hội. Cũng vì thế mà trong các cuốn sử do
những tín đồ Da tô ngoan đạo người Việt biên soạn, chúng ta sẽ thấy
KHÔNG CÓ một lời nào nói đến bàn tay tội ác của Giáo Hội La Mã ỏ Âu Châu
trong suốt thời Trung Cổ từ ngày 20/5/325 cho đến giữa thế kỷ 19,
KHÔNG CÓ một lời nào nói đến bàn tay tội ác của Giáo Hội ở các
thuộc địa Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha từ cuối thế 15 cho đến giữa thế kỷ 20,
tại các thuộc địa Pháp ở Châu Phi và Châu Á từ đầu thế kỷ 19 cho đến
giữa thế kỷ 20, và riêng ở Việt Nam trong suốt thời kỳ từ năm 1553 cho
đến ngày 30/4/1975.
Vì bản chất và vì chịu ảnh hưởng sâu nặng những lời
dạy mất dạy trong Cựụ Ước cũng như những lời dạy phản nhân luân trong
Tân Ước và những lời dạy lưu manh của Giáo Hội cùng với những thủ đoạn
lươn lẹo bóp méo sự thật như trên, cho nên trong Giáo Hội La Mã từ
những vị chức sắc cao cấp nhất là giáo hoàng cho đến các hống y,
giám-mục trong giáo triều Vatican và các hồng y, tổng giám mục, giám
mục, linh mục cũng như các sư huynh tại các giáo khu, giáo phận, họ đạo
(xóm hay làng đạo) hay trong các dòng tu đều sống và hành xử theo đúng
như những lời dạy mất dạy của Chúa Cha Jehovah, Chúa Con Jesus và Giáo
Hội La Mã.
B.- GIÁO HOÀNG VÀ TU SĨ SỐNG ĐỜI PHÓNG ĐÃNG LOẠN LUÂN DÂM LOÀN
Giáo Hoàng cũng như giới tu sic các cấp trong Giáo
Hội từ các hồng y, giám mục cai quản giáo phận và các linh mục quản
nhiệm các họ đạo đều có quá nhìều quyền hành, nhiều đến nỗi Giáo Hoàng
Gregory VII (1073-1085) đã phán rằng “Không ai có quyền phán xét Giáo
Hoàng (The Pope can be judged no one)” và “Giáo Hoàng có quyền
truất phế các vua chúa nằm dưới quyền thống trị của Giáo Hội
(The Pope alone has the right to depose emperors and kings)”[v].
Và quyền hành của các hồng y, tổng giám mục và linh mục cai quản các
giáo phận và các họ đạo tại các quốc gia cũng rất lớn và rất nhiều, lớn
và nhiều đến nỗi nhân dân dưới quyền thường gọi họ là “các nhà độc
tài áo đen” hay “bọn lãnh chúa áo đen” và người Pháp gọi là
“bọn quạ đen”.
Quyền hành sinh tội ác và sinh hủ hóa. Quyền hành
càng lớn và càng nhiều thì tội ác càng nặng, càng chồng chất và tình
trạng hủ hóa càng trầm trọng. Đây là quy luật lịch sử và xã hội. Trong
Giáo Hội La Mã, các giáo hoàng và giới tu sĩ cũng khống thoát ra khỏi
quy luật lịch sử này. Có ở trong chăn mới biết chăn có rân. Không ai
biết rõ tội ác và tình trạng hủ hóa của các giáo hoàng và giới tu sĩ
Da-tô bằng chính các tu sĩ và giáo dân của Giáo Hội. Vì thế Giáo Hội mới
tìm cách che giấu, bưng bít tội ác và tình trạng hủ hóa trong Giáo Hội
bưng bít bằng cách dạy dỗ giáo dân rằng:
“Vâng lời quý hơn của lễ”.
“Phải tuyệt đối trung thành với Giáo Hội”.
“Phải triệt để tuân hành những lời dạy hay lệnh
truyền của các đáng bề trên”.
“Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có
thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết”.
“Cha (linh mục) là đại diện của Chúa”. “Phải coi
Cha như Chúa”. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý
Chúa, hay nói theo ý Chúa và hành động theo ý Chúa”.
“Nếu các Cha có làm gì sai trai, thi đã có Chúa
phán xét”, là giáo dân ngoan đạo, không được bàn tán và nói hành nói tỏi
các Cha.
“Bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu các Cha,
tức là bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu Chúa và sẽ Chúâ trừng phạt
đàng xuống gỏa ngục đời đời”.
Những lời dạy trên đây đều ẩn chứa đụng những thủ
đoạn bịp bơm vừa răn đe, vừa hù doạ để khủng bố tinh thần khiến cho giáo
dân ngoan đạo (cuồng tín) dù có chứng kiện tận măt những hành động tội
ác của các Cha, thì cũng phải nín thin thít để cho các Cha tiếp tục
hành xử vì rằng các Cha hành xử theo Ý Chúa.
Như vậy là nhờ những lời dạy trên đây của Giáo Hội,
các ngài có thể tha hồ hủ hóa, tha hồ sống đời dâm ô,
và tha hồ lao vào hố sâu
tội ác mà không sợ tín đồ nạn nhân làm rùm beng. Dưới đây là một chuyện
có thật 100% trong khu rừng tội ác của các ngài được
các học giả Âu Mỹ sưu tầm và được học giả Da-tô
Charlie Nguyễn ghi lại như sau:
“Đối với những thiếu niên của những gia đình
ngoan đạo thì các tu sĩ Công Giáo luôn luôn được chúng coi là những
người thánh thiện (holy men) và có uy tín hơn cả cha mẹ của chúng. Khi
bị các tu sĩ lạm dụng tình dục, chúng không dám về mách cha mẹ vì sợ bị
cha mẹ la mắng hay trừng phạt. Năm 1992, một số nhà tâm lý học đã phỏng
vấn 15 em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana bị tu sĩ lạm dụng tình dục. Các em
cho biết đã không dám tố cáo vì bị các linh mục hăm dọa: "Nếu tố cáo sẽ
bị Chúa đầy xuống hỏa ngục" hoặc "mày phải câm miệng, nếu không, quỷ sẽ
bắt mày!" Mấy bé gái bị linh mục sờ mó đã khai: "Cha nói Chúa đã chọn
con để giúp cha biết cái đó thế nào!"
Trong chương này có một chuyện đáng chú ý. Đó là
chuyện của Cristine Clark thuộc giáo phận Joliet,
Illinois. Lúc cô lên 7 tuổi, đi học lớp giáo lý để rước lễ lần đầu thì
cô đã bị cha xứ là Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó. Năm
cô 14 tuổi, cô bị cha xứ dạy cách thủ dâm cho ông ta. Năm 18 tuổi, cha
xứ giao cấu với cô. Lúc này cô tỏ ra rất lo lắng vì sợ tội. Cha khẳng
định giao cấu với cha không có tội vì đó là ý Chúa. Sau đó, Cristine
không thể chịu đựng được nữa nên nói với cha mẹ ý định tố cáo nội vụ
trước cảnh sát. Linh-mục Ed Stephanie thấy nguy nên trình sự việc với
Tòa Giám Mục Joliet. Tòa giám mục này cho người đến trao cho gia đình
Cristine số tiền 450 ngàn đô-la để mua sự im lặng.”[vi]
Người Việt Nam ta có câu nói:“cái kim buộc trong
giẻ, lâu ngày cũng lòi ra”. Cho nên, dù là Giáo Hội đã dạy dỗ tín đồ
“có bổn phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật xẩy ra
trong giáo xứ, không nên để cho người ngoài biết.”[vii],
nhưng cuối cùng, bằng mọi cách trong các phương pháp điều nghiên, các
nhà viết sử đã tìm ra và biết được những gì mà Giáo Hội dạy dỗ tín đồ
của Giáo Hội cần phải giấu kín rồi ghi vào trong sách sử lưu lại cho
người đời biết rõ những sự thật này. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta mới
biết được những rặng núi tội ác của Giáo Hội cao chất ngất và trùng
trùng những hàng chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Câu chuyện trên đây về em
bé gái Cristine Clark thuộc giáo phận Joillet, Illinois bị Cha Ed.
Staphanie dụ dỗ là tan nát cả đời hoa và những gì được trình bày dưới
đây chỉ là một vài hạt cát trong những rặng núi tội ác này của Giáo Hội.
Sách Babylon Mystery Religion dành hẳn Chương 12
với tựa đề là Papal Immorality trong đó tác giả kể ra những màn
kịch của hơn 20 giáo hoàng ("Đức Thánh Cha") đại diện Chúa Kitô
"ăn no rửng mỡ", rồi "ấm cật dậm dật phao câu", rồi thanh
toán lẫn nhau bằng những thủ đoạn vô cùng kinh khủng mà tác giả cuốn
sách này cho là "kinh khủng độc nhất vô nhị trong lịch sử loài
người" (sheer horror has never been duplicated in the annals
of human history). Xin mời quý vị theo dõi những sự kiện này qua các
tài liệu và sách sử với những đoạn văn nguyên bản như sau:
"Thêm vào những bằng chứng hiển nhiên cho chúng
ta thấy rằng nhân cách và đức độ của rất nhiều ông giáo hoàng không xứng
đáng đựợc gọi là giáo hoàng. Một số các ông giáo hoàng có những hành
động hủ hóa, sa đọa, đê tiện và bỉ ổi đến nỗi ngay cả những người ngoại
đạo cũng cảm thấy xấu hổ cho các Ngài. Các ông giáo hoàng thường hay
phạm những tội ác như ngoại tình, làm tình một cách bất bình thường với
đàn ông, bán thánh, hiếp dâm, giết người và say sưa tuý lúy. Những
người thường cao rao là "Đức Thánh Cha", là "Đại Diện của Chúa Kitô", là
"Giám Mục của các ông giám-mục" mà lại mang đầy những tội ác như vậy,
nghe ra thật là rùng mình! Những ai đã thấu hiểu lịch sử của chế độ
giáo hoàng và Giáo Hội La Mã đều biết rõ hơn ai hết, rằng không phải tất
cả các ông giáo hoàng đều thánh thiện cả." Nguyên văn: “In
addition to the conclusive evidence that has been given, the very
character and morals of many of the popes would tend to identify them as
successors of pegan priests, rather than representatives of Christ or
Peter. Some of the popes were so depraved and base in their actions,
even people who professed no religion at all were ashamed of them. Such
sins as adultuery, sodomy, simony, rape, murder. and drunkeness are
among the sins that have committed by popes. To link such sins with men
who have claimed to be the "Holy Father", "The Vicar of Christ", and
“Bishop of bishops", may sound shocking, but those acquainted with the
history of the papacy well know that not all popes were holy men."
[viii] .
Sách Gia Tô Thực Dân Sử Liệu (The Documented
History of Catholic Colonialism) viết:
"Giáo Hoàng Felix III (483-492) trong thời gian
là giáo hoàng có tới 3 người con (3 người con này đều chết cả…)" "Giáo
Hoàng Hormidas (514-523) đã kết hôn với bà Marouzia và có một nguời con
trai với bà này…" "Giáo Hoàng Adrian II (867-872) sống chung với vợ và
con gái ở điện Lateran." "Giáo Hoàng Sergius III (904-911) vốn là một
giám-mục có người vợ, tên là Mazouzia và đã có một người con trai với bà
này. Tới năm 904, khi lên ngôi Giáo Hoàng, ông ta mới lấy hiệu là
Sergius III. Nhờ sẵn có thế lực của cha mẹ, mấy chục năm sau, người con
trai này trở thành Giáo Hoàng John XI (931-936)". "Giáo Hoàng John XII
(955-963) đã từng loạn luân với em gái và bị chết vào ngày 14-5-964 khi
đang … với một cô nhân tình..." "Giáo Hoàng Leo VIII (963-964) chết đột
ngột vì bị máu xâm trong lúc đang phạm tội thông dâm.", "Giáo Hoàng
Benedict IX (1033-1044) lên ngôi lúc 12 tuổi, đã từng giết người, thông
dâm ngay giữa ban ngày, cướp bóc tiền bạc của những người hành hương mộ
thánh tử đạo… bị dân La Mã tống xuất khỏi La Mã…", "Giáo Hoàng Pius II
(1458-1464) có hai người con hoang, từng công khai nói chuyện về các
phương pháp dụ dỗ đàn bà." "Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) loạn luân
với bà chị ruột và có một người con trai với bà này..." "Giáo Hoàng
Innocent VIII (1484-1492) có tới bẩy hay tám người con trai với nhiều bà
khác nhau. Nhiều vợ và nhiều con quá, ông phải tìm cách tăng thêm 26
chức vụ thư ký trong giáo triều để bán với giá mỗi chức là 62,400 đồng
duca." "Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) tên thật là Borgia, một con
quỷ đã công khai loạn luân với hai người em gái và loạn luân luôn với cả
con gái ruột tên là Lucretia (that monster who lived in public incest
with his two sisters and his own daughter from whom he got a child). Đặc
biệt hơn nữa, ngày 31-10-1501, ông cho tổ chức một bữa tiệc cực kỳ dâm
loạn ở ngay trong điện Vatican với 50 cô gái trẻ đẹp khiêu vũ khỏa
thân để mua vui cho thực khách.."
[ix]
.
Những bản văn trích dẫn trên đây cho chúng ta thấy
rõ những tác phong và những việc làm thương luân bại lý, bất nhân, phi
luân, bạo ngược và đại nghịch bất đạo của các ông mang chức thánh trong
Giáo Hội La Mã phát xuất ngay từ những nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất
trong Giáo Hội, rồi các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican
cũng như trong các giáo khu, giáo phận và họ đạo tại các địa phương ở
khắp nơi trên thế giới cứ theo gương đó mà hành xử theo quy luật hình
chóp nón hay kim tự thấp, nghĩa là càng xuống cấp thấp, các cán bộ thừa
hành càng tự do tung tác, càng tha hồ ăn no rửng mỡ và càng phóng tay
hà hiếp người dân thấp cỏ bé miệng. Kể từ đó cho đến ngày nay, những
hành động kinh tởm "trời không dung đất không tha" này không
những đã không bị Giáo Hội lên án, mà trái lại, chính những người lãnh
đạo cao cấp nhất trong Giáo Hội còn chủ trương hành động như thế. Vì vậy
mà trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội mới luôn luôn bao che, tán
dương và khích lệ bọn cán bộ chân tay của Giáo Hôi hăng say lao đầu vào
hố sâu tội ác bằng cách phong thánh và vinh danh những tên tội đồ khốn
kiếp lên hàng "Đức Thánh Cha" "thánh con", "thánh lớn" và "thánh nhỏ" để
cho giáo dân noi theo mà "sống đạo theo đức tin Kitô". Theo các bản sử
trên đây và nhiều tài liệu sử khác, chúng ta thấy một số những bộ mặt
thật vô cùng ghê tởm của khá nhiều các Đức Thánh Cha trong Giáo Hội La
Mã:
1.- Giáo Hoàng John XII (955-963) đã từng loạn luân
với em gái và bị chết vào ngày 14-5-964 khi đang làm tình với một cô
nhân tình. (Một con quỷ dâm dục và loạn luân.)
“John XII lên ngôi Giáo Hoàng khi mới 18 tuổi,
được mô tả như một kẻ vô đạo thất học… “ông đã từng loạn luân với em gái
ông” [He commited incest with his sister.”
[x]
Sách Catholic Encycopedia đã miêu tả Giáo Hoàng
John XII như là:
“Một người đàn ông, lỗ mãng, vô đạo đức, sống
trong tòa lâu đài Lateran được dư luận xem như “nhà thổ”. Ông là bại
liệt vi hành động thông dâm.” Nguyên văn: “A coarse, immoral
man whose life was such that the Lateran was spoken of as a brothel.”
He was stricken paralysis in the act of adultery.”
[xi]
2.- Giáo Hoàng Leo VIII (963-964) chết đột ngột vì
bị máu xâm trong lúc đang phạm tội thông dâm. (Thông dâm với ai, nếu
không phải là thông dâm với nữ tín đồ ngoan đạo siêng năng đi nhà thờ?)
3.- Giáo Hoàng Benedict IX (1033-1044) lên ngôi lúc
12 tuổi, đã từng giết người, thông dâm với nữ tín đồ ngay giữa ban
ngày, cướp bóc tiền bạc của những người hành hương mộ thánh tử đạo bị
dân La Mã tống xuất khỏi La Mã. (Một con quỷ dâm dục.)
4.- Giáo Hoàng Pius II (1458-1464) có hai người con
hoang, từng công khai nói chuyện về các phương pháp dụ dỗ đàn bà. (Vừa
là ma cô vừa là quỷ dâm dục.)
5.- Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) sống chung và
làm tình với người em gái ruột sinh ra một người con tên là Pietro
Riario. (Một thằng ma cô và loạn luân).
6.- Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) tên thật là
Borgia, một con quỷ đã công khai loạn luân với hai người em gái và loạn
luân luôn với cả con gái ruột tên là Lucretia (that monster who lived in
public incest with his two sisters and his own daughter from whom he got
a child). Đặc biệt hơn nữa, ngày 31/10/1501, ông cho tổ chức một bữa
tiệc cực kỳ dâm loạn ở ngay trong điện Vatican với 50 cô gái trẻ đẹp
khiêu vũ khỏa thân để mua vui cho thực khách. (Một thằng bạo chúa vừa
loạn luân vừa dâm loàn.)
7.- Môt ông linh mục đường đường mang chức thánh
lại làm tình với mẹ ruột của ông ta. Sự kiện này được sách Vicars of
Christ viết nơi trang 406:
"Năm 1064, một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã
thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta. Giáo
Hoàng Alexander (1061-1073), không những đã không bãi chức của ông giáo
sĩ này, mà vẫn còn để cho ông ta tiếp tục rước lễ. Ngài cho rằng ông
giáo sĩ này đã không phạm tội có gia đình chính thức. Hai năm sau,
một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột. Giáo
Hoàng (Alexander) đã đối xử rất tử tế với ông giáo sĩ này và để mặc cho
ông giám mục quản nhiệm địa phương tùy ý quyết định nên hay không nên để
cho ông ta tiếp tục phụng vụ. Đối với Giáo Hoàng Alexander II
(1061-1073), thông dâm hay loạn luân vẫn còn thích hơn là có một giáo sĩ
chính thức có gia đình." Nguyên văn:"A priest of
Orange in France committed aldultery with his father's second wife in
the year 1064, Pope Alexander (1061-1073), instead of dismissing him,
refused even to deprive him of holy communion. Liniency was called for
because he had not committed matrimony. Two years later, a priest from
Padua confessed to incest with his mother. The pope deal very kindly to
him and left it to his bishop to decide whether he should continue in
the ministry or not. For Pope Alexander II (1061-1073)], adultery even
incest was preferable to a priest marrying.")
[xii].
Không biết cuộc làm tình loạn luân này có làm cho
bà mẹ của ông ta mang bầu hay không. Nếu có, bà ta sẽ sinh ra một đứa
nhỏ. Đứa nhỏ này ở vào trường hợp giống y hệt như trường hợp Chúa Bố
Jehovah, Chúa con Jesus và Chúa Mẹ Maria.
8.- Bản văn trên cũng cho chúng ta thấy một ông
linh mục khác cũng đường đường mang chức thánh mà làm tình loạn luân với
người vợ thứ hai của bố. Lại một vấn đề được nêu lên giống như ở trên.
Nếu bà mẹ ghẻ của ông linh mục này mang bầu và sinh ra một đưa nhỏ, thì
đứa nhỏ này cũng ở vào trương hợp của Chúa Bố Jehovah, Chúa Con Jesus và
Chúa Mẹ Maria.
9.- Tu sĩ Da-tô được quyền "an ủi" những bà vợ có
chồng xa nhà:.
"Ở Avignon, Giáo Hoàng John XXII tham lam
cho phép các tu sĩ được giữ tình nhân với điều kiện phải đóng thuế. Ngay
cả các ông tu sĩ trong trắng (không có tình nhân - NMQ) cũng phải đóng
thuế trong trường hợp họ ngả vào trong vòng tay của một người đàn bà."
["In Avignon, the avaracious John XXII allowed priests to keep their
mistresses on payment of a tax. Even the few chaste priests had to pay
up just in case they, too, fell into the arms of a woman."
[xiii]
10.– Trong xã hội Da-tô (xin hiểu là trong các xóm
đạo, làng đạo), "cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các
ông tu sĩ." (two out of five bastards were born to the clergy):
“Một bản thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn
dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang
là con của các ông tu sĩ." ("One amazing statistic emerges: in a
country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and yet two out
of five bastards were born to the clergy.")
[xiv]
:
Không biết tại sao sử gia Peter de Rosa lại gọi
những đứa trẻ này là "con hoang" (bastards). Thiết nghĩ rằng phải nên
gọi chúng nó là "những đứa con của các ngài mang chức thánh" hay
là "những ông thánh con" của Giáo Hội La Mã. Nói theo ngôn từ của
Bà Hồ Xuân Hương, thì "ông thánh con" này chính là thành quả của
những đàn cá "thồng rồng" của các ngài "mang chức thánh"
mang đến thả vào "những cái giếng thánh tân" của nữ tín đồ
Da-tô.
Có tới 40% những đứa con hoang ở trong các cộng
đồng Da-tô. Những đứa con rơi này thực ra llà những đứa con rơi (con
hoang) do các ông giáo hoàng thông dâm với nữ tín đồ (như đã nói ở trên)
và những đứa con rơi của các hồng y, giám mục và linh mục làm tình với
các nữ tín đồ trong họ đạo và với bà nữ tu ở trong các nữ tu viện (như
đã nói ở trên), nếu những đừa này may mắn, không bị các ngài hay các bà
giết chết ngay từ lúc mới chào đời.
Dĩ nhiên là người đời hay nhân dân thế giới chỉ có
thể biết được những hành động bạo ngược, độc ác, dã man, loạn luân, phi
luân của các ngài khi mà những hành động đó đã được ghi lại trong sách
sử hay phơi bày ra trước công luận. Còn những gì bị bưng bít, bị giấu
nhẹm, thì chúng ta không thể nào biết được. Căn cứ vào việc Giáo Hội
luôn luôn dạy dỗ và nhắc nhở con chiên (tín đồ) của Giáo Hội phải giấu
kín những việc làm tội lỗi trong Giáo Hội như nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc
Ngạn kể rõ cho chúng ta biết trong tác phẩm Xóm Đạo nơi trang 320,
chúng ta có thể suy ra rằng còn rất nhiều những chuyện kinh thiên động
địa hay đại nghịch bất đạo khác của các nhà lãnh đạo và toàn thể mọi
người trong giới tu sĩ trong Giáo Hội La Mã vẫn còn nằm ở đằng sau tấm
màn bí mật.
Ông Chúa Con Jesus được Chúa Bố Jehovah phái xuống
trần gian chịu chết để chuộc tội tổ tông cho loài người và được Giáo
Hội gọi là Chúa Cứu Thế (Christ). Vì vậy mà ông Jesus trở thành đối
tượng thờ phượng của Giáo Hội và tín đồ Da-tô. Giáo Hội thường cao rao
tự phong là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông
truyền”, là “đại diện duy nhất của Chúa Bố Jehovah và Chúa Con
Jesus ở trên cõi trần gian này” và “ngoài Giáo Hội sẽ không có
cứu rỗi”. Chức năng của ông Chúa Con Jesus và của Giáo Hội quan
trọng như vậy. Cho nên, vì đã thờ phương Chúa Jesus Ki-tô, phải sống
theo đức tin Ki-tô, và vì phải tuyệt đối vâng lời và trung thành với
Giáo Hội, tu sĩ các cấp từ giáo hoàng cho đến các hồng y, giám mục, linh
mục, sư huynh và tín đồ cũng đều phải triệt để vâng lời và sống đùng
theo những lời dạy của ông Chúa Con Jesus trong Matthew (10: 34-37) và
lời Giáo Hội dạytín đồ rằng: “Cha con phải tố các nhau, vợ chồng tố
cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng
tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội.”.
Cũng vì thế mà các ông giáo hoàng và tu sĩ trong
Giáo Hội đã có những hành động phản nhân luân, sống đời đĩ điếm, loạn
luân, dã man như đã trình bày ở trên, và tất cả những tín đồ Da-tô cuồng
tín người Việt đã mất hết những đức tính cao đẹp “trung, hiếu, nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín và dũng” của nền văn hóa Á Đông, và trở thành
những quân vong bản, phản dân tộc và phản quốc mà chính những hành động
của họ trong lịch sử từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay đã nói lên sự
thực này.
Trên đây là nói về các giáo hoàng, các vị chức sắc
cao cấp trong giáo triều Vatícan và các tu sĩ Da-tô Âu Châu. Về những
tội ác loạn dâm sờ mó trẻ em và thông dâm với nữ tín đồ Da-tô của các
ông tu sĩ Da-tô Hoa Kỳ, thiết tưởng tin tức loan truyền qua các cơ quan
truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình, v.v.. ở Bắc Mỹ từ
mùa xuân năm 2002 cho đến nay và khởi đầu từ giáo phận Boston thuộc tiểu
bang Massachusetts cho đến các Giáo Phận Spokane, Seattle, Oregon, Los
Angeles, Covington, Ky, Philadelphia, Sacramento, Oakland, Orange,
Louisville v.v…, cũng đã quá đầy đủ rồi.
Ấy là chưa kể các nữ tín đồ đã có chồng con vẫn có
thể được các ngài chiếu cố. Đây là những trường hợp thông dâm như đã nói
ở trên. Giáo hoàng là những người rất ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp
với nữ tín đồ mà vẫn có thể thông dâm với họ, huống hồ là các giám mục,
đặc biệt là các linh mục, những người hàng ngày thường giao thiệp trực
tiếp với nữ tín đồ, thì tất nhiên là rất dễ dàng có nhiều cơ hội thông
dâm với họ. Không biết khi mà hàng ngày các báo chí, các đài truyền hình
và truyền thanh dồn dập loan truyền tin tức về những chuyện các ngài
tu sĩ Da-tô sờ mó các trẻ em rước lễ và thông dâm với các nữ tín đồ
ngoan đạo cùng với những tin tức về các giáo khu phải bồi thường thiệt
hại cho các nạn nhân bị các ngài làm tình vô tội vạ như vậy, các nam tín
đồ Da-tô có cảm thấy choáng váng hay không? Về phần các nữ tín đồ “nạn
nhân” của ngài mang chức thánh thì rõ ràng là:
Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp con chàng con ai?
Và còn hàng rừng chuyện động trời khác nữa! Nói làm
sao hết đước!
Đây tình trạng chung ở trong các cộng đồng Da-tô.
Tín đồ Da-tô càng ngoan đạo thì càng dễ dàng cho các ngài mang chức
thánh sờ mó, làm tình với các trẻ em vị thành niên, đặc biệt là các trẻ
em rước lễ, và càng dễ dàng thông dâm với nữ tín đồ. Tín đồ Da- tô người
Việt được xếp vào loại “siêu ngoan đạo” (siêu cuồng tín) giống như tín
đồ Da-tô người Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ. Do đó, tình trạng này
càng trầm trọng hơn cả. Trước tháng 4/1975, khi còn ở Việt Nam, nhờ dựa
vào chính quyền Bảo Hộ Liên Pháp – Vatican 1862-1945 và nhờ dựa vào các
chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn
Thiệu, tát cả các giám mục và linh mục Việt Nam đều là các ông lãnh chúa
quyền lực bao trùm lên trên các nhà cầm quyền thế tục tại các địa
phương. Nhờ vậy, các ngài mới có quyền lực cưỡng bách giáo dân “có
bổn phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật xẩy ra trong
giáo xứ, không nên để cho người ngoài biết”. Vì thế mà những hành
động tội ác về vấn đề này của các ngài không bị phơi bày ra trước ánh
sáng công luận và công lý.
Tất cả những gì trình bày trên đây đều là truyền
thống và cũng là nếp sống văn hóa trong đạo Ki-tô La Mã, giống như nếp
sống văn hóa nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong nền đạo lý Khổng Mạnh ở
Đông Phương. NẾU những truyền thống hay nếp sống văn hóa nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín trong nền đạo lý Khổng Mạnh đã trở thành bản
chất của người dân Đông Phương rồi tự động thể hiện ra thành những
thái độ, ngôn ngữ, cử chỉ và hành động trong cung cách hành xử đối với
mọi người xung quanh một cách rất tự nhiên, THÌ những truyền thống
hay nếp sống văn hóa bịp bợm, bạo ngược, cả vú lấp miệng em, ăn
không nói có, loạn luân, loạn dâm, đĩ điếm, mở nhà thổ, biến Nhà Chúa
thành “nhà chứa”, biến nhà “Nhà Thờ” thành ‘nhà thổ” để lấy tiền tiêu
sài, biến các nữ tu viện thành “ổ điếm” để cho “các ngài mang chức
thánh” đến đó để “mua vui” trong đạo Ki-tô La Mã cũng trở thành bản
chất của Giáo Hội và của tín đồ Da-tô rồi cũng tự động thể hiện ra thành
ngôn ngữ, thái độ, cử chỉ và hành động trong cung cách hành xử của họ
đối với mọi người xúng quanh một cách rất tự nhiên.
Giang sơn dị cải, bản chất nan di. Bản chất của
người dân Đông Phương là sống theo quy tắc đạo lý nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín. Dù có trải qua trăm năm nô lệ giặc Tây, cái bản chất này cũng không
bao giờ biến mất. Tương tự như vậy, những bản chất ghê tởm trên đây
trong xã hội Da-tô La Mã cũng sẽ không bao giờ biến mất, nó sẽ mãi mãi
sống ở trong lòng người tín hữu Da-tô ngoan đạo (cuồng tín) và sẽ bùng
ra khi nào có cơ hội thuận tiện, trừ phi “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” hay
“cái tôn giáo ác ôn này” này bị giải thể không còn nữa.
Ngày nay, ở trong nước, thời thế đã thay đổi, các
chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam đã bị hủy diệt, quyền lực của
Giáo Hội không còn nữa, và tại hải ngoại, hầu hết người dân Việt đều
sống ở các nước tự do dân chủ mà quyền tự do tôn giáo được bảo đảm bằng
điều khoản “tôn giáo phải tách rời khỏi chính quyền” được ghi vào
trong hiến pháp. Thực trạng này đã làm cho các hồng y, giám mục và linh
mục chỉ có giá trị trong giờ làm lễ khi họ đứng trước bàn thờ mà
thôi. Đồng thời, thực trạng này cũng làm cho các ông tu sĩ Da-tô mất hết
khả năng quyền lực để cưỡng bách tín đồ “có bổn phận phải giấu kín
những chuyện tội lỗi” của các ngài, của Giáo Hội La Mã và của Tòa
Thánh Vatican. Cũng vì thế mà những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã
trong gần hai ngàn năm qua và những chuyện động trời về đời sống bê bối
thối tha của các ngài như đã trình bày ở trên mới được phơi bầy ra trước
công luận và công lý.
Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Không ai biết
rõ những việc làm tội ác và đời sống bê bối thối tha của các giáo hoàng
và của các tu sĩ các cấp trong đạo Da-tô bằng chính các ông tu sĩ và các
ông trí thức trong đạo Da-tô. Sự thực là tất cả những chuyện động trời
mà chúng tôi kể lại ở trên cũng như ở trong bộ sách LỊch Sử và Tội Á của
Giáo Hội La Mã và ở trong các ấn phẩm khác đều do chính các nhà trí
thức cũng như các ông tu sĩ và tín đồ Da-tô nạn nhân của các ngài khui
ra công bố cho thiên hạ biết, chứ không phải là những người thuộc các
tôn giáo khác. Riêng về những chuyện động trời của các ngài tu sĩ Da-tô
Việt Nam ở hải ngoại cũng do các tín đồ và tu sĩ Da-tô trong cộng đồng
Da-tô người Việt ở hải ngoại phơi bày hay công bố cho thiên hạ biết, chứ
không phải là những người Việt thuộc các tôn giáo khác. Một trong những
nhà trí thức Da-tô này là Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn (địa chỉ giao dịch
với tòa soạn của tờ báo này là P.O. Box 8394, Fountain Valley, CA 92728
USA). Ông lính mục này viết trong tờ Tận Thế Số Ra Mắt nơi trang 27
(15/6/2002) như sau:
"Những ai đã biết, đọc và nghe về những ác quỉ
dưới đây mà còn cố tình bênh vực, bao che, ủng hộ, ca tụng và đi xem lễ
do chúng làm, sẽ bị Đức Mẹ nghiêm khắc trừng phạt: …. Và rồi Lucifer sẽ
lôi xuống thẳng hỏa ngục để chung sống với những linh mục tội lỗi, dâm
bôn, và phạm thánh mà các đương sự mù quáng gọi là “CHA”. ...
A.- Nhóm ác quỉ thuộc Phụ tỉnh DCCT/VN (Dòng
Chúa Cứu Thế Việt Nam hải ngoại): Nguyễn Đức Mầu, Châu Xuân Báu, Vũ Minh
Nghiễm, Đinh Ngọc Quế, Nguyễn Văn Phan, Phạm Quốc Hưng, Nguyễn Tất Hải,
Đinh Minh Hải, Phan Phát Huồn, Nguyễn Trường Luân, Trần Ngọc Bích,
Nguyễn Đức Thành, Bùi Quang Tuấn, và Nguyễn Văn Mới.
B.- Nhóm ác quỉ thuộc giáo phận Los Angeles:
Trần Công Nghị, Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Quang Hòa, Lê Sơn Hà, Chu Quang
Minh, Vũ Thế Toàn, v.v...
C.- Nhóm ác quỉ thuộc giáo phận Orange County:
Nguyễn Đức Tiến, Mai Khải Hoàn, Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Ngọc Tuấn, Chu
Vinh Quang, Nguyễn Văn Luân, Đỗ Thanh Hà, Vũ Tuấn Tú, Ngô Văn Trọng, Mai
Thành Hân, Xuân Nguyên Hồ, Trần Văn Kiểm, Đinh Viết Thục, Bùi Công Minh,
Nguyễn Trọng Tước, tức Nguyễn Tầm Thường, v.v...
D.- Những ác quỉ ở nhiều nơi: Đinh Đức Đạo (Đức
Ông giám đốc văn phòng thờ quỷ Rôma), Phan Tấn Thành (giáo sư thờ quỉ,
Rôma), Cao Minh Dung (Đức Ông, nhân viên Bộ Ngọai Giao tòa... quỷ!),
Nguyễn Văn Phương (Chủ Tịch Liên Đoàn thờ Qủy, Riverale, Georgia) Lê
Xuân Thượng (Đức Ông thờ quỷ cái Trần Thị Liễu, (Houston, Texas), Đào
Quang Chính (Houston, Texas), Nguyễn Ngọc Tư (Houston, Texas), Nguyễn An
Ninh (Eastpointe, MI), Hoàng Xuân Nghiêm (Tổng Thủ Quỹ Liên Đoàn Thờ
Quỷ, (Wyoming, MI), Phạm Văn Tuệ, Trần Cao Tường, Vũ Hân (Marrero, LA),
Việt Châu (Chủ Nhiệm Nguyệt San Thờ Quỷ, Gretna, LA), Nguyễn Đức Huyên
(Giám Đốc đền thơ Quỷ), Nguyễn Văn Dậu (giáo sư thờ Quỷ, Metairie, LA)
Phạm Quốc Hùng (Wichita, KS), Phan Đình Cho (Gíao-sư đại học thờ quỷ,
Washington DC), Nguyễn Thanh Long (Silver Sprin, MD), Trần Quí Thiện
(Arlington, VA), Nguyễn Huy Quyền (Glen Ellyn, IL), Trịnh Thế Hùng
(Chicago, IL), Đỗ Quang Biên (hưu trí thờ quỉ cái: Mầu, San Diego,
CA)... (Còn tiếp với vô vàn vố số ác quỉ nằm trong Chi Dòng Đồng Công ở
Carthage, MO, đã lợi dụng Đức Mẹ để làm tiền trắng trợn từ 24 Đại Hội
Thờ Quỷ Mammon, đã qua, và Đại Hội thứ 25 sắp tới. Chính Đức Mẹ sẽ đánh
tan đại hội bịp này.)" [xv]
Trong tờ Tận Thế Số 2 – 15 Tháng Bảy 2002, nơi
trang 31, Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn viết:
"Thật không ngờ một linh mục bệnh hoạn có thể
trở thành một con người viết những điều mạnh mẽ như vậy, đó là chửi
thẳng vào mặt ác quỷ Nguyễn Đức Mầu, kẻ dơ bẩn đã ăn nằm với không dưới
100 đàn bà mất nết từ Việt Nam sang tới Hoa Kỳ (đọc Thư LM Nguyễn Thanh
Sơn gửi Cha Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở Roma, trong "Quyền
Năng Đức Mẹ Diệt Trừ Satan III") và ác quỷ Trần Công Nghị, kẻ dâm thú
cũng đã "ăn nằm" với hàng trăm đàn bà hư đốn trên 35 năm qua, từ Việt
Nam sang Roma, tới Hoa Kỳ, trong số đó có hai (2) ma nữ lõa lồ: CAO THỊ
MỸ LỆ (từ năm 1975 tại Portland, Oregon), con gái Cao Đăng Tường, cháu
"yêu dấu" của Cao Đăng Minh, Dòng Chúa Cứu Thế (tên này cũng đã
có con trai khôn lớn), và hiện nay đang ăn nằm với "con điếm nhớp nhúa
nhất thủ đô tỵ nạn)" là DIAMOND BÍCH NGỌC. Đôi song ca đã và đang hát
rất mùi với nhau, trong chương trình lứa đôi Thiên Chúa và Đức Mẹ mang
nhãn hiệu rỗng tuếch: "Sống Tin Giữa Dòng Đời", trên đài Little Sàigon
Radio." [xvi]
Căn cứ vào bản văn trích từ tờ Tận Thế Số 2 ở trên,
cô Cao Thị Mỹ Lệ (con Cao Đăng Tường, cháu ruột yêu dấu của Linh-mục Cao
Đăng Minh) và cô Diamond Bích Ngọc là hai nữ tín đồ được hai ngài
Linh-mục Cao Đăng Minh và Trần Công Nghị tận tình chiếu cố. Theo tín tức
được phổ biến rộng rãi trong các nhóm điện thư trong mấy năm vừa qua,
thì nữ tín đồ Diamond Bích Ngọc là người đã ăn ở với Linh-mục Trần Công
Nghị giống như vợ chồng trong nhiều năm, rồi cơm không lành canh không
ngọt đã đưa nhau ra chốn pháp đình để phân xử.
Còn nữ tín đồ Cao Thị Mỹ Lệ là người tình của Cha
Trân Công Nghị hay của Cha Cao Đăng Minh? Vấn đề này xin để cho quý vị
trong cộng đố Da-tô Oregon, Portland lên tiếng thì mới rõ thực hư như
thế nào!
Nếu cô Cao Thị Mỹ Lệ là người tình “chung chăn
chúng gối chung gương giang hồ” của Cha Trần Công Nghị, thì chẳng
hóa ra Cha Trần Công Nghị tham lam quá, có tới hai bà trong cùng một
thời gian?
Nếu cô Mỹ Lệ là người tình đồng sàng đồng mộng của
Cha Cao Đăng Minh thì chẳng hóa ra chú cháu nhà nó tò tí mùi mẫn với
nhau theo truyền thống loạn luân, giống như các Giáo Hoàng John XII
(955-963), Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484), Giáo Hoàng Alexander VI
(1492-1503), một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với
người mẹ ruột, như đã trình bày ở trên.
C.- NHÀ THỜ HAY NHÀ THỔ? NHÀ CHÚA HAY NHÀ CHỨA?
Bộ mặt thật của các Đức Thánh Cha cũng như giứo tu
sĩ trong Giáo Hội La Mã ghê tởm là như thế đó. Thế cũng chưa hết! Ghê
tởm hơn nữa là Giáo Hội La Mã còn ban cho các tu sĩ (các ngài mang chức
thánh) cái đặc ân được giữ nhân tình với điều kiện phải đóng thuế. Ghê
tởm hơn thế nữa là Giáo Hội còn cấp giấy phép bọn Tú Bà mở nhà chứa (nhà
thổ) để các giáo hoàng và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều
Vatican lấy tiến hưởng thụ, sống đời xa hoa, phóng đãng, đĩ điếm
“miệt mài trong cuộc truy hoan”. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta
thấy rõ sự thật ghê tởm này:
"Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) can tội
loạn luân (incest) ăn ở với chị (em) gái sinh ra đứa con trai tên là
Pietro Riario và cũng là giáo hoàng đầu tiên cấp giấy hành nghề mở "nhà
chứa" (nhà thổ) tại Kinh Thành La Mã. Nhờ vậy mà mỗi năm, ông thu hoạch
được 30 ngàn tiền ducats. Ông cũng thâu hoạch được những khoản tiền khá
lớn bằng cách đánh thuế các tu sĩ nào muốn công khai sống với tình nhân
(bạn gái). Tệ hơn nữa, ông còn làm tiền bằng cách bán giấy phép cho
các ông nhà giầu được quyền "an ủi" các bà có chồng xa nhà, v.v..."
Nguyên văn: "Sixtus ' favourite was Pietro Riario, whom the
historian Theodor Griesinger believed was his son by his own sister....
Sixtus was the first pope to license the brothels of Rome; they brought
him in thirty thousand ducats a year. He also gained considerably from a
tax imposed on priests who kept a mistress. Another source of income was
granting privileges to rich men "to enable them to solace certain
matrons in the absence of their husbands."
[xvii]
Đồng thời, các viện nữ tu cũng được Giáo Hội biến
thành những ổ điếm để cho các giám mục và linh mục đến đó giải quyêt
sinh lý. Sự kiện này cũng được sách Vicars of Christ ghi lại rõ ràng như
sau:
"Tình trạng nam nữ chung chạ bừa bãi lan tràn
trong khắp các nam và nữ tu viện. (Thánh) Ivo Chartre (1040-1115) cho
biết toàn thể các nữ tu viện chỉ là những nữ tù nhân mang danh là "các
dì phước" mà thôi. Họ thường là những đứa trẻ bị gia đình bỏ rơi và thực
sự đã trở thành những cô gái điếm." Nguyên văn:
"Promiscuity was rife in monasteries and convents. The great Ivo of
Chartres (1040-1115) tells of whole convents with inmmates who were nuns
only in name. They had often abandoned by their families and were really
prostitutes."[xviii]
"Trong thế kỷ thứ 9, nhiều tu viện là những sào
huyệt của những người đồng tình luyến ái; nhiều nữ tu viện là những ổ
điếm (nhà thổ) nơi mà những trẻ sơ sinh đều bị giết rồi đem chôn ở ngay
trong đó. Các sử gia nói rằng từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ, Tây Phương
không giết các trẻ sơ sinh nhiều như vậy, ngoại trừ ở trong các nữ tu
viện. Hội Nghị nhóm họp ở Aix- la- Chapelle vào năm 836 đã công khai thú
nhận điều này. Về phần các ông tu sĩ Da-tô thèm khát làm tình (giải
quyết vấn đề sinh lý), họ thường bị tố cáo về tội ác loạn luân đến nỗi
rằng họ bị cấm không được ở cùng nhà với mẹ, cô hay dì và chị em gái của
họ. Những trẻ sơ sinh do hậu quả của các vụ loạn luân thường bị chính
các ông tu sĩ giết chết. Con số này rất nhiều và đã được một vị giám
mục người Pháp ghi vào hồ sơ. tài liệu." Nguyên văn: "In
the ninth century, many monasteries were the haunts of homosexuals, many
convents were brothels in which babies were killed and buried. Since the
end of the Roman Empire, historians say that infanticide was probably
not practised in the West on any great scale - except in convents. The
Council of Aix-la-Chapelle in the year 836 openly admitted it. As to
sex-starved secular clergy, they were so often accused of incest that
they were at length forbidden even to have mothers, aunts or sisters
living in their house. Children, the fruits of incest, were killed by
the clergy, as many a French prelate put onrecord."
[xix] )
Bản văn sử trên cho chúng ta thấy những đưa trẻ sơ
sinh do kết quả của các cuộc làm tình của các linh mục và giám mục với
các bà nữ tu bị các ngài sát hại và chôn giấu ở ngay trong các tu viện.
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ, ngoài
những hành động trời không dung đất không tha như (1) loạn luân, (2)
biến các nữ tu viện thành nhưng ổ điếm để cho các nam tu sĩ đến giải
quyết vấn đề sinh lý, (3) sát hại các trẻ em sơ sinh do các cuộc làm
tình vụng trộm (thông dâm) giữa các ngài vơi các các bà nữ tu hay với
các bà vợ của các nam tín đồ, Giáo Hội còn có cả chính sách kinh tài
bằng cách cho mở "nhà thổ" (nhà chứa), rồi cấp giấy phép
hành nghề cho những người hành nghề "chủ ổ điếm" (mụ tú bà) và
cho các chị em gái giang hồ hành nghề để lấy tiển mở rộng ảnh hưởng hay
quyền lực của "nhà thờ" (Nhà Chúa). Với hành động như
trên, Giáo Hội đã biến “Nhà Thờ” thành “nhà thổ”, biến “Nhà Chúa” thành
“nhà chứa” và các ngài mang chức thánh từ Giáo Hoàng cho đến các ông
linh mục bạch đinh trở thành những “thằng trùm đĩ”, giống như một thứ Tú
Bà trong xã hội tội ác. Đây là một trong những nét độc đáo của cái Giáo
Hội luôn luôn cao rao là "Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo
và tông truyền" và là "Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người"!
Hội Thánh gì mà lại làm những việc xấu xa đê tiện khốn nạn như vậy! Căn
cứ vào những việc làm khốn nạn này, thiết tưởng phải gọi Giáo Hội La Mã
là "Hội Thánh Nhà Thổ". Có gọi như vậy, thì mới đúng với ngôn ngữ
của loài người!
Nhà Thờ mà làm kinh tài bằng cách cho cách cho phép
mở "nhà thổ" (nhà chứa) và cấp giấy phép hành nghề cho
những người hành nghề "chủ ổ điếm", thì tất nhiên là phải có "quảng
cáo" và phải có "những người đưa mối". Một khi mà Giáo Hội đã
chủ trương cho mở các “nhà chứa” (nhà thổ) để lấy tiền là Giáo Hội đã
biến “Nhà Thờ” thành “Nhà Thổ” và “Nhà Chúa” thành “Nhà Chứa”, thì Giáo
Hội phài huy động tất cả những mọi người trong Giáo Hội từ các hồng y,
giám mục, linh mục cho đến tín đồ tham gia vào các công việc quảng cáo
và chiêu hàng mời khách hay kiếm mối. Người Việt Nam ta có một từ ngữ
đặc biệt để chỉ cho những hạng người làm cái nghề "quảng cáo"
chiêu hàng mời khách cho cái nghiệp vụ này là "những quân ma cô".
Chao ôi! Giáo Hội La Mã thường cao rao là "Hiền
Thê của Thiên Chúa Hiện Làm Người" mà lại đi làm cái nghề ma cô như
vậy thì quả thật là nhục nhã cho "Thiên Chúa Làm Người"! Chúa
Jesus ơi! Người ta thường nói Ngài có những phép mầu và phép lạ gì ghê
gớm lắm mà sao Ngài lại để cho người "Hiền Thê" của Ngài đi làm
cái nghề ma cô đốn mạt như vậy?
Bộ mặt thật của các ông tu sĩ Da-tô là như thế đó!
Tất cả cho chúng ta thấy bộ mặt thật của nền đạo lý
của Giáo Hội La Mã! Không biết trong lịch sử loài người có nền đạo lý
nào khốn nạn và quái đản như vậy không?
Một cách tổng quát: Những bản văn sử được
trình bày trên đây cho chúng ta thấy rằng gần như tất cả các ngài mang
chức thánh trong Giáo Hội La Mã từ ông linh mục quản nhiệm một xóm đạo
hay thuộc một dòng tu được chỉ định phụ trách một công việc nào đó cho
đến các ông giám mục, tổng giám mục, hồng y và nhất là các ông nắm giữ
những chức vụ cao cấp nhất trong Giáo Hội được gọi là "Đức Thánh
Cha" đều là những quân "đạo đức giả" (hypocrites), đều can
tội chống lại nhân loại qua những hành động vi phạm nhân quyền, cố ý hủy
diệt nền văn minh của nhân loại, hủy diệt mọi thứ tình yêu thiêng liêng
cao quý của con người như tình yêu lứa đôi trai gái, tình yêu vợ chồng,
tình yêu giữa cha mẹ đối với con cái, giữa con cái đối với cha mẹ và anh
em đối với nhau, hủy diệt luôn cả tình yêu đối với bà con láng giềng,
đối với quốc gia dân tộc để thay thế vào đó bằng tình yêu đối với Giáo
Hội được ngụy trang bằng “tình yêu Thiên Chúa”, được cụ thể hóa
bằng “lòng tuyệt đối trung thành đối với Tòa Thánh Vatican” và “triệt
để tuân hành những lệnh truyền của các đáng bề trên trong hệ thống quyền
lực của Giáo Hội La Mã”. (Chúng tôi sẽ trình bày rõ những tội ác này
ở trong Mục IV, Phần II trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo
Hội La Mã.)
Còn những tội sống đời bê bối thối tha, loạn luân,
dâm loàn của các ngài thì quả thật là những chuỵện quá bình thường đối
với họ và rất phổ quát trong Giáo Hội La Mã. Bình thường và phổ quát đến
nỗi Giáo Hoàng Sixtus III (432-340) khi bị bắt đem ra xử về về tội dụ dỗ
một bà nữ tu, thì ông ta vẫn ung dung và thản nhiên dùng ngay lời Chúa
Jesus nói ngày xưa để biện minh cho cái tội dụ dỗ "dì phước" thành người
tình của ông ta bằng câu nói trong Tân Ước rằng "Trong đám các
ngươi, kẻ nào tự thấy mình không có tội thì hãy nhào ra mà liệng đá
vào người người đàn bà đáng thương này trước nhất". Chuyện này được
Giáo-sĩ Peter de Rose kể lại trong cuốn Vicars Of Christ (trang 403)
với nguyên văn như sau:
"When Pope Sixtus III (432- 40) was put on trial
for seducing a nun, he ably defended himself by quoting Christ's words,
"Let him who is without fault among you throw the first stone."
[xx]
Bàn văn trên đây cho chúng ta thấy rằng, vào thời
đó (giữa thế kỷ 5), nếu giáo hoàng có tội, thì tu sĩ và tín đồ
Da-tô còn có quyền bắt ông ta đem ra pháp
đình xử lý. Như vậy, vào thời đó, quan niệm công bằng trong pháp
lý ở trong đạo Da-tô hay trong Giáo Hội La Mã gần giống như cái nguyên
tắc đạo đức "thiên tử phạm pháp thì đồng tội như thứ dân"
trong chế độ quân chủ theo quan niệm Nho Giáo ở Đông Phương. Thế nhưng,
"miệng kẻ sang có gang có thép" và "cái lưỡi không xương nhiều
đường uốn éo", nhất là cái miệng và cái lưỡi của cái thế lực
luôn luôn cao rao là đại diện duy nhất của Chúa Bố Jehovah và Chúa Con
Jesus. Cũng vì thế mà sau đó, Giáo Hội mới đưa ra những biện pháp hữu
hiệu hơn, sắt máu hơn để bịt miệng những người nào còn có ý muốn xoi mói
vào những hành động tội ác của Giáo Hội và nhòm ngó vào cuộc đời ăn chơi
phóng đãng loạn luân, dâm loàn của các ngài. Những biện pháp đó là:
1.- Ban hành quyết định nói cho giáo dân và mọi
người biết rằng:
a.- Giáo hoàng có quyền truất phế có quyền truất
phế các vua chúa nằm dưới quyền thống trị của Giáo Hội. (The pope alone
has the right to depose emperors and kings.)
b.- Không ai có quyền phán xét giáo hoàng. (The
pope can be judged by no one.)
c.- Cha (linh mục) là đại diện cho Chúa. Phải coi
Cha như Chúa. Nhũng gì Cha nói và hành động là nói theo ý Chúa và hành
động the ý Chúa. Nếu các Cha có làm điều gì sai trái, thì đã có Chúa
phán xét. Là con chiên ngoan đạo, không được bàn tán hay nói hành nói
tỏi các Cha.
d.- Bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu các Cha
tức là bàn tán, nói hành nói tỏi và nói xấu Chúa. Làm như vậy sẽ bị coi
như là phá đạo, là chống Chúa và sẽ bị Chúa trừng phạt đầy xuống hỏa
ngục đời đời chẳng cùng.
e.- Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có
thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo biết. Kẻ
nào không tuân hành sẽ bị coi như là kẻ "phá đạo" hay "rối đạo".
2.- Thiết lập Tòa Án Dị Giáo (Inquistions) để xử
lý và có quyền xử tử tất cả những phần tử bị cho là phá đạo, chống Chúa,
rối đạo và tà giáo.
3.-Tín điều giáo hoàng không lầm lẫn.
D.-THANH TOÁN VÀ TÀN SÁT LẪN NHAU ĐỂ TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC
Từ ngàn xưa, trong xã hội loài người, bất kỳ
trong phạm vi họat động nào, hễ có quyền lực là có tranh chấp, thanh
toán và tàn sát lẫn nhau để chiếm giữ quyền lực, và quyền lực càng lớn,
thì tình trạng tranh chấp, thanh toán và tàn sát lẫn nhau càng quyết
liệt và càng đẫm máu. Người Trung Hoa có kinh nghiệm này sớm nhất và
nhiều nhất cho nên họ đã ghi nhận tình trạng này bằng một bài thơ dưới
đây:
Nhất đăng cửu ngũ,
Lục thân tình tuyệt
Phụ tử phản mục
Thủ túc tương tàn,
Thiên lương bất tại.
Tạm dịch: Một lần lên (ngôi vua) nắm
quyền trị dân, tình cảm đối với những người thân thương (cha, mẹ, anh,
em, vợ, con) không còn nữa, cha con bất hòa, anh em tàn sát lẫn nhau, và
những lương tính trời ban cho cũng mất hết..
Giáo Hội La Mã là một trung tâm quyền lực nắm
trọn cả thế quyền lẫn thần quyền, quyền hành bao trùm gần trọn
cả Tây và
Nam Âu, bao trùm luôn cả các thuộc địa của ba đế quốc Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha và Pháp ở các Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á, thì tất nhiên là vấn
đề thanh toán và tàn sát lẫn nhau để chiếm giữ quyền lực
càng xẩy ra nhiều
hơn và càng quyết liệt ghê gớm hơn. Tình trạng này đã xẩy ra ngay
từ thế kỷ 4, cho đến ngày nay vẫn còn tiếp diễn. Sách sử không những chỉ
ghi lại những chuyện tranh chấp thanh toán lẫn nhau đề giành giật quyền
lực rồi tàn sát phe chiến bại để trả thù, mà còn ghi lại đầy đủ cả những
chuyện các ông giáo hoàng và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều
Vatican sống đời phóng đãng, lọan luân, dâm loàn hết sức là kinh khủng,
tất cả đều tinh vi, đều thâm độc, đều dã man đến cùng độ của dã man,
càng về sau mức độ dã man càng tinh vi và càng siêu việt.
Vì chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi những lời dạy cực
kỳ ghê tởm trong Cựu Uớc cũng như trong Tân Ước như Leviticus
(26:1-18), Deteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số
(25:3-5,31:1-54), Phục Luật (6:14, 7:1, 2 và 16, 12: 2-3, 13:6-9. 18: 4
và 20, 20:14-16, 22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12, 20 11, 22: 20), và
Matthew (10: 34-37), những ác tính xấu xa như tị hiềm, ganh ghét, rồi
chia bè lập đảng đánh phá tàn sát lẫn nhau để tranh giành quyền lực đã
trở thành bản chất của các nhà lãnh đạo Giáo Hội La Mã cũng như của mọi
người trong giới tu sĩ và giáo dân cuồng tín. Bản chất ghê tởm này đã ăn
sâu vào trong thói quen suy tư rồi thể hiện ra trong ngôn ngữ và biến
thành hành động của tất cả mọi người trong xã hội Da-tô. Đặc biệt là từ
khi Đế Quốc La Mã sụp đổ vào năm 476, tình trạng này lại càng trở nên
khốc liệt hơn. Quyền lực của Giáo Hội càng cao càng nhiều, và tài sản
của Giáo Hội càng to lớn, thì những ác tính xấu xa trên đây càng có
nhiều cơ hội bùng ra thành hành động. Vì thế mà kể từ đó, sự xung đột
tranh chấp và thanh toán lẫn nhau càng xẩy ra nhiều hơn và càng khốc
liệt hơn trước. Muốn biết rõ tình trạng này như thế nào, chúng ta chỉ
cần nhìn vào danh sách các giáo hoàng trong cuốn Vicars of Christ
của Giáo-sĩ Peter de Rosa Dubli, Ireland: Poolbeg
Press Ltd., 2000), rồi
đếm xem có bao nhiêu ông ngụy giáo hoàng (antipopes) để suy nghiệm ra
là có bấy nhiêu lần các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều
Vatican chia bè lập đảng tàn sát thanh toán lẫn nhau để giành chiếm ngôi
vị giáo hoàng. Theo tài liệu này, người viết tính ra có
tới 37 ông ngụy giáo hoàng, tức là có tới 37 lần các ông mang
chức thánh cao cấp nhất trong Giáo Hội chia thành hai hay ba phe đảng,
mỗi phe, chiếm cứ một vùng xưng hùng xưng bá, thành lập giáo triều
riêng, tự xưng là chính thống, gọi đối phương là ngụy, rồi phát
động những chiến dịch tấn công "diệt tận gốc, trốc tận rễ "các
phe thù địch và những thành phần đối kháng, y hệt như tình trạng
nước Việt Nam ta vào thời Thập Nhị Sứ Quân trong thế kỷ X, thời Nam
Triều - Bắc Triều (1533-1592), thời Trịnh Nguyễn Phân Tranh (1627-1775),
và trong những năm 1954-1975.
Ngoài 37 lần chia phe chia phái, lập đảng rồi
tàn sát tiêu diệt lẫn nhau như vậy, lại còn có rất nhiều vụ các vị chức
sắc cao cấp trong giới lãnh đạo của Giáo Hội ngấm ngầm thanh toán
và tàn sát lẫn nhau hết sức tinh ví và hết sức dã man để tranh thắng và
chiếm giữ ngôi vị giáo hoàng. Người viết xin ghi lại chuyện các ngài
thanh toán lẫn nhau xẩy ra vào thời điểm mà quyền lực còn bị kiềm chế
bởi Hoàng Đế Lã Mã. Chuyện này được sách Vicars of Christ ghi lại như
sau:
"Sự thù nghịch bộc phát thành những cuộc
chiến tiêu diệt lẫn nhau thường xẩy ra vào khi có giáo hoàng qua đời.
Thi dụ, khi (Giáo Hoàng) Liberius (352-366) chết vào năm 366, giáo triều
chia làm hai phe, mỗi phe chọn một người của phe mình lên kế vị.
Ursinus là giáo hoàng của một phe và Damasus là giáo hoàng của phe
khác. Sau khi đánh nhau ở ngoài đường phố, phe Ursinus yếu thế, chạy vào
trong nhà thờ St Mary Major (thường gọi là Thánh Đường Đức Bà Bạch
Tuyết) rồi đóng cửa lại tử thủ. Phe Damasus tiến tới, trèo lên nóc nhà
thờ đục lỗ, rồi dùng ngói và đá liệng xuống tấn công phe Ursinus. Đồng
thời, một toán khác của phe Damasus tấn công vào trong qua cửa chính.
Khi lọt được vào trong, hai bên ra sức chém giết lẫn nhau liên tiếp
trong ba ngày. Cuối cùng, có tới 137 xác chết khiêng ra ngoài. Tất cả
xác chết này đều là người của phe Ursinus. Ursinus bị bắt cho đi sống
lưu vong, nhưng tội ác ở trong thánh đường Mary Major là vết nhơ trong
thời Giáo Hoàng Damasus mãi mãi vẫn còn ghi trong sách sử."
Nguyên văn: “Bitter rivalries often showed themselves on the death
of a pope. For example, when Liberius (352-366) died in 366, two
factions elected a successor. Ursinus was one pope. Damasus was the
other. After a lot of street fighting, Ursinus ‘ followers locked
themselves in the recently completed basilica of St Mary Major, known as
“Our Lady of Snow”. Damasus’ supporters climed on the roof, made a hole
in it and bombarded the occupants with tiles and stones. Others
meanwhile were attacking the main door. When this caved in, a bloody
fight ensued for three days. At the end of it, 137 bodies were carried
out, all of them followers of Ursinus. Ursinus was sent into exile by
the emperor’s representative, but the crime in Mary Major was a
permanent blot on Damasus’ copybook.”]
[xxi].
Sau này, kể từ năm 476 trở về sau, việc các ngài
thanh toán và tàn sát lẫn nhau càng xẩy ra thường hơn, càng nhiều hơn,
càng quyết liệt hơn và càn dã man hơn. Sách Lives of the Popes ghi lại
như sau:
“Sau khi Giáo Hoàng Benedict VI (973-974) bị
ngụy Giáo Hoàng Boniface sát hại, giám mục địa phận Sutri, ở gần
Viterbo, được bầu lên ngôi tức là Giáo Hoàng Benedict VII (974-983) với
sự ủng hộ của Hoàng Đế Otto II của nước Đức, của phe đảng ủng hộ đế quốc
Đức và của các gia đình quý tộc tại Ý Đại Lợi. Benedict VII, lúc đó là
Giám mục địa phận Sutri được tôn phong lên ngôi Giám-mục tại kinh thành
Rome (tức là Giáo Hoàng) vào tháng 10 năm 974. Tân Giáo Hoàng liền triệu
tập hội nghị để rút phép thông công ngụy Giáo Hoàng Boniface VII (974 và
985). Nhưng rồi, vào mùa hè năm 980, Boniface VII khởi loạn chống lại
Benedict VII, buộc Giáo Hoàng Benedict VII phải chạy khỏi kinh thành
Rome và cầu cứu Hoàng Đế Otto, nhưng mãi đến tháng Ba năm sau mới ổn
định.” Nguyên văn: “After Benedict VI (973-974) was murdered
by the antipope Boniface VII, Benedict VII, then bishop of Sutri, near
Viterbo, was elected pope with the support of the emperor Otto II and
the pro-imperial party and aristocratic families of Rome. He was
consecrated as bishop of Rome sometime in October 974. The new pope
immediately convened a synod at which the antipope Boniface VII was
excommunicated. However, Boniface mounted a revolt against Benedict VII
in the summer of 980, forcing the pope to leave the city. The pope
appealed to the emperor, but it took until the following March to be
restored.”]
[xxii]
.
Sách Babylon Mystery Religion viết:
"Giáo Hoàng Sergius III (904-911) đã
sát hại vị tiền nhiệm để nhẩy lên ngôi vị giáo hoàng. Sách sử Giáo Hội
La Mã cho biết cuộc đời mang đầy tội ác của ông về chuỵện ông sống công
khai với bà Marozia và có nhiều con ngoại hôn với người đàn bà này. Sử
gia Baronius gọi ông là “con qủy râu xanh” và sử gia Gregorovius thì gọi
ông là “tên tội đồ khủng bố”... Những năm Giáo Hoàng
Sergius III tại vì là những năm khởi đầu cho thời kỳ “bọn gái điếm
lộng hành và tháo túng Tòa Thánh Vatican” (904-963)." Nguyên
văn: “Pope Sergius III (904-911) obtained the papal the papal office
by murder. The annals of the church of Rome tell about his life of open
sin with Marozia who bore him several illegitimate children. He was
described by Baronius as a "monster" and by Gregorovius as a
"terrorizing criminal." ....The reign of Pope Sergius III began the
period knơwn as "the rule of the harlots" (904-963)").[xxiii]
Sự thanh toán lẫn nhau không phải chi xẩy vào
khi có giáo hoàng qua đời, mà còn thường xẩy ra trong những cuộc hội họp
bàn thào về một vấn đề gì rồi vì tranh giành nhau chiếm ưu thế, họ cũng
tàn sát lẫn nhau hết sức dã man. Đọan văn sử dưới đây cho chúng ta thấy
rõ sự kiện này và cuộc sống đàng điếm thối tha của giai cấp tu sĩ được
mệnh danh là những người mang chức thánh của Giáo Hội La Mã:
“Khi có cuộc họp của một số đông các tu sĩ
của Giáo Hội La Mã thì địa điểm nhóm họp phải là nơi gần sông hay hồ
lớn để liệng xác người (bị thanh toán) xuống đó. Hồ Constance đã tiếp
nhận tới hơn năm trăm xác người (bị thanh toán); Con sông Rhine cũng là
nơi tàng chứa rất nhiều bí mật. Một điều kiện khác nữa là nơi các Ngài
hội họp phải đủ rộng rãi có thể chứa được một số lớn gái điếm để phục
vụ cho nhu cầu sinh lý của các Ngài mang chức thánh của Giáo Hội,. Việc
làm này còn khẩn cấp hơn là vấn đề quân sự và giá tiền lại rẻ hơn. Vào
lúc cao độ của Hội Đồng, có tới hơn một ngàn hai trăm gái điếm ở tại
Constance (nơi Hội Đồng nhóm họp) làm việc cả ngày lẫn đêm để phục vụ
cho nhu cầu sinh lý của các Ngài." Nguyên văn: “When the
clergy met in large number, it was always wise to choose a town near
water – lake or river – for disposing of the bodies. Lake Constance
received over five hundred while the Council was in ssession; the Rhine,
too, hid many secrets. Another requirement was that the meeting place
had to be large enough to accommodate the vast number of prostitutes who
found the clergy required their services more urgently than the military
and paid keener prices. At the height of the Council, there were to be
over twelve hundred whores in Constance working round the clock."
[xxiv]
Cũng trong sách Vicars of Christ, nơi trang 11,
có đọan văn sau đây:
"Họ băng qua con sông Tiber, con sông mà
trong nhiều thế kỷ đã được sử dụng vừa làm cống rãnh tiêu thụ rác rưởi
của Kinh Thành Rome vừa làm mồ chôn người không chính thức. Có lẽ,
ngoài Trung Hoa ra, Tiber là con sông có nhiều xác người nhất bị nhận
chìm trong một ngày. Sáng hôm nay, dòng sông này lờ đờ mang mầu xám
giống như màu áo của một giáo sĩ Franciscan." Nguyên văn:
They cross the Tiber, which for centuries served the city as both
sewer and and unofficial cemetery. Probably Tiber has claimed more lives
than any river ouside China; thousands have drowned their in a day. This
morning, it is slggish and brown as the habit of a Franciscan."]
[xxv]
Trong bài viết The Popes (Các Giáo Hoàng) đã đưa lên sachhiem.net
trong tháng 12/2007, Giáo-sư Trần Chung Ngọc kể ra một số các giáo hoàng
đã sử dụng bạo lực thanh toàn các vị tiền nhiệm hay đối thủ
để giành chiếm ngôi vị giáo hoàng hay dùng tiền bạc mua chuộc các thể
lực có ảnh hưởng để được đưa lên nắm giữ ngôi vị này. Dưới đây là bản
văn của Giáo-sư Trần Chung Ngọc:
“1.- Giáo hoàng Honorius trị vì từ năm 625 đến năm 638. Ông ta bị
Công Đồng Hòa Hợp Tôn Giáo thứ sáu (680-681) kết án là kẻ lạc đạo. Ông
ta cũng bị kết án như vậy bởi Giáo hoàng Leo II cũng như bởi mọi Giáo
hoàng khác cho đến thế kỷ 11.
2.- Năm 769, Giáo hoàng Stephen IV lên ngôi nhờ một đoàn quân đánh
thắng vị Giáo hoàng tiền nhiệm. Stephen ra lệnh quất roi lên vị Giáo
hoàng thù nghịch, móc mắt ông ta ra, đánh bể đầu gối ông ta, rồi cầm tù
ông ta cho đến khi chết. Rồi Giáo hoàng Stephen kết án một người thứ
hai phải chết từ từ bằng cách mỗi ngày xẻo một ít thịt của ông ta cho
đến khi chết.
3.- Giáo hoàng Leo V chỉ trị vì có một tháng (Tháng 7, 903). Hồng
Y Christopher bắt giam ông ta rồi lên làm Giáo hoàng. Rồi Christopher
lại bị Hồng Y Sergius bắt giam. Sergius giết cả hai, Leo và Christopher
trong khi họ đang bị giam trong tù. Ông ta cũng giết những Hồng Y nào
chống đối ông ta.
5.- Giáo hoàng John XII trị vì từ 955 đến 963. Ông ta là một tên
tàn bạo. Ông ta quá trác táng đến độ những người đương thời nói rằng
ông ta đã biến Dinh Lateran thành một cái Ổ Điếm. Ông ta nâng cốc rượu
chúc mừng quỷ. Khi đánh bạc, ông ta cầu đến những Nam Thần và Nữ Thần
trong dân gian. Ông ta bị giết bởi một người chồng ghen tuông khi bắt
quả tang ông đang ăn nằm với vợ mình.
6.- Trong thế kỷ 10, một người đàn bà giầu có quý phái tên là
Marozia [Thật ra Marozia chỉ là một cô gái điếm xinh đẹp, theo giám mục
Peter de Rosa trong cuốn Vicars of Christ: “A beautiful Whore”. Chi
tiết về Marozia tôi đã trình bày trong bài “ĐÂY !! NHỮNG ‘ĐỨC THÁNH
CHA’….] trong vòng 8 năm đã đưa 9 người lên ngôi vị giáo hoàng. Để
có thể làm được điều này, cô ta cũng phải loại trừ những giáo hoàng
đương vị. Hai giáo hoàng bị bóp cổ chết, một người bị úp gối đè lên mặt
làm ngạt chết, và 4 người biến mất trong những hoàn cảnh bí mật. Một
trong các giáo hoàng là con của Marozia với một giáo hoàng. [Trong
cuốn Vicars of Christ, Peter de Rosa gọi những triều đại của các giáo
hoàng này là “triều đại điếm trị” (Pornocracy). TCN]
7.- Năm 1003, Giáo hoàng Silvester II bị Giáo hoàng kế vị, John
XVII, giết. Bảy tháng sau, John bị đầu độc chết.
8.- Giáo hoàng Benedict VIII trị vì từ 1012 đến 1024. Ông ta hối
lộ để mua chức giáo hoàng. Ông ta có một lực lượng riêng “những người
của giáo hoàng”, nổi tiếng về tra tấn, làm tàn tật và ám sát. Khi
Benedict chết, em của hắn lên nắm quyền và trở thành Giáo hoàng John
XIX. Hắn ta tự phong làm linh mục, rồi làm giám mục, và đội vương miện
của giáo hoàng trong cùng một ngày. John chết trong những trường hợp
đáng nghi ngờ.
9.- Năm 1095, Giáo hoàng Urban II kêu gọi tổ chức cuộc Thập Ác
Chinh để lấy lại Jerusalem (Thánh địa) từ người Hồi giáo. Đây là một
cuộc “thánh chiến”. Giáo hoàng nói các Thập Ác Quân được tha mọi tội
lỗi, và nếu họ chết ở trận địa họ sẽ là các thánh tử đạo. Khi những
Thập Ác Quân tràn qua Âu Châu để đi tới Jerusalem, chúng tàn sát người
Do Thái ở Âu Châu. Khi chúng tới Jerusalem, chúng thật là bạo tàn trong
cuộc chinh phục thị trấn. Nhiều người Hồi giáo bị chặt đầu, một số bị
tra tấn rồi thiêu sống. Đó là bắt đầu cuộc xung đột giữa khối Hồi giáo
và Tây phương, kéo dài cho tới ngày nay. Những Giáo hoàng về sau kêu
gọi tổ chức những cuộc Thập Ác Chinh khác. Mới đầu họ nhắm vào những
người Hồi giáo, nhưng cuộc Thập Ác Chinh thứ tư (1198) là chống những
người Ki Tô theo Chính Thống Giáo ở Constantinople.
10.- Giáo hoàng Benedict IX trị vì từ 1032 đến 1044, và từ 1047
đến 1048. Ông ta mua chuộc để lên làm Giáo hoàng. Ông ta phung phí tài
sản của triều chính Giáo hoàng vào những gái điếm và những cuộc tiệc
tùng hoang tàng, và ông ta đã ra lệnh ám sát nhiều người. Dân chúng
thành Rô-ma ghét thậm tệ Benedict đến độ, trong hai trường hợp, ông ta
phải chạy trốn khỏi Rô-ma. Benedict bán chức Giáo hoàng cho Giáo hoàng
Greory VI. Một điều kiện của sự mua bán này là ông ta được tiếp tục
sống trong Dinh Lateran, với một mức lương bổng cao. Benedict kéo những
gái điếm vào đầy Dinh Lateran.
11.- Năm 1298, Giáo hoàng Boniface VIII ra lệnh giết mọi đàn ông,
đàn bà, trẻ con và súc vật trong thành phố Palestina của nước Ý. Ông ta
nổi tiếng về đích thân tra tấn, tàn sát, và hung ác.
12.- Giáo hoàng Clement VI trị vì từ 1342 đến 1352. Ông ta ra
lệnh tàn sát toàn thể một thành phố Ý. Ông ta sống rất mực xa hoa. Ông
ta thú nhận công khai là đã bán những chức tước trong giáo hội và dùng
sự đe dọa cũng như hối lộ để chiếm quyền lực. Clement mua một lâu đài
của Pháp, nổi tiếng về những gái điếm ở trong đó.
13.- Giáo hoàng Alexander VI (Giáo hoàng giòng họ Borgia) trị vì
từ 1492 đến 1503. Ông ta được biết có những hành động sát nhân, hối lộ,
và bán các chức vụ có quyền trong giáo hội Ca-tô. Ông ta thích sống xa
hoa. Cuốn sách về kho tàng nghệ thuật của Vatican có hình ông ta mang
bộ y phục có dát vàng và đeo nhiều đồ trang sức. Đó là những hạt trai,
ngọc thạch, viên ngọc bích lớn, và các đồ trang sức khác. Cái mũ ba
tầng (vương miện của giáo hoàng) là bằng vàng, với ba hàng với những đồ
trang sức lớn. Alexander có bốn người con với những nhân tình của ông
ta. Con ông ta, Cesare, được biết là thuộc loại có những mưu đồ giết
người ngầm có thể làm tình tiết âm mưu trong một kịch bản. Theo cuốn
“Tự điển Oxford về các giáo hoàng”, Cesare và Alexander giết người để
tịch thu tài sản của họ. Giáo hoàng Alexander bị người ta ghét đến độ
khi ông ta chết, những linh mục đến cầu nguyện cho ông ta bị các lính
canh gác Dinh xua đuổi, và xác ông ta không có ai canh chừng.
14.- Giáo hoàng Julius II trị vì từ 1503 đến 1513. Ông ta hối lộ
để lên làm giáo hoàng. Ông ta là con người liều lĩnh và tàn bạo. Ông ta
nổi tiếng là trác táng, say rượu, rất nóng giận, lừa dối và độc tài.
15.- Giáo hoàng Leo X trị vì từ 1513 đến 1521. Ông ta pha trộn
tín ngưỡng dân gian với Ki Tô Giáo. Ông ta cho diễn lại màn Chúa Ki Tô
bị đóng đnh trên thập giá và huyền thoại cổ xưa. Ông ta trang trí
Rô-ma với đầy những vật quý báu của giáo hội và tượng các thần Hi Lạp
nam nữ. Ông ta đặt một bức tượng của chính ông ở thủ đô Rô-ma, và bắt
dân chúng phải chào bức tượng đó.
16.- Giáo hoàng Gregory VII trị vì từ 1073 đến 1085. Ông ta đòi
hỏi các vua chúa phải hôn chân ông ta. Gregory và những Giáo hoàng nối
tiếp ông ta dùng những tài liệu ngụy tạo để tạo thêm quyền lực của giáo
hoàng. Một số tín đồ Ca-Tô Rô-ma toan tính phanh phui ra những sự ngụy
tạo này, nhưng vì vậy họ bị vạ tuyệt thông. Tuy nhiên, giáo hội chính
thống (orthodox) đã ghi lại tất cả và viết ra những thông tin chi tiết
về những văn kiện ngụy tạo này. (Để biết thêm về điều này xin đọc Chương
về “Những Tài Liệu Ngụy Tạo và Quyền Lực Giáo Hoàng”)
Mua bán chức vụ lan tràn trong giới giáo sĩ. Điều rất thông
thường là các linh mục bỏ tiền ra để mua chức giám mục hay tu viện
trưởng. Giáo hoàng Gregory VII nói là ông ta biết có hơn 40 người lên
ngôi Giáo hoàng bằng cách mua chuộc.
17.- Giáo hoàng Innocent III trị vì từ 1198 đến 1216. Ông ta nói
Giáo hoàng là người cai trị thế giới và là cha của các vua chúa. Ông ta
cho rằng mọi linh mục và giám mục đều phải tuân lệnh của Giáo hoàng ngay
cả khi Giáo hoàng ra lệnh cho họ làm điều gì ác. Giáo hoàng Innocent
muốn diệt trừ những người lạc đạo Albigensian sống ở Pháp. Ông ta bắt
vua Pháp giết nhiều trăm ngàn công dân Pháp. Những người Albegensian và
Ca-Tô sống trong cùng một vùng ở Pháp. Giáo hoàng Innocent ra lệnh giết
tất cả mọi người trong vùng đó, kể cả những tín đồ Ca-Tô. Đó là cuộc
Thập Ác Chinh Albegensian, hay cuộc tàn sát Albegensian. Giáo hoàng ban
cho những quân Thập Ác Chinh Albegensian một sự giải tội đặc biệt, bảo
đảm với họ rằng nếu họ chết ở chiến trường, họ sẽ được giải hết tội và
sẽ được lên thiên đường.
Đôi khi có hai hoặc nhiều hơn người tự nhận là Giáo hoàng trong
cùng một lúc. Tất cả những người này đều có những người theo. Cuối
cùng thì một người được tuyên bố là Giáo hoàng, còn những người kia là
ngụy giáo hoàng (antipope). Trong nhiều thế kỷ, những sách của Ca-Tô
Rô-ma viết khác nhau về ai được coi là giáo hoàng thực sự. Tuy nhiên,
ngày nay có nhiều sự đồng ý hơn về ai là Giáo hoàng và ai là ngụy Giáo
hoàng. Theo Tự Điển Bách Khoa của Ca-Tô, có tới 30 ngụy Giáo hoàng.
[Các bạn có thể đọc về điều này trên Internet].”[xxvi]
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ bộ mặt
thật ghê tởm của Giáo Hội La Mã và của các nhà lãnh đạo của “tôn giáo ác
ôn này”. Ấy thế mà Giáo Hội lại vẫn cao rao tự phong là “Hội Thánh
duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền” và là “Hiền Thê
Của Thiên Chúa Hiện làm Nguời.” Chả trách này, học giả Da-tô Charlie
Nguyễn mới gọi đạo Da-tô là “đạo máu” và “đạo bịp”[xxvii]
Tòa Thánh Vatican nói láo trắng trợn như vậy mà tín
đồ Da-tô cuồng tín người Việt vẫn tuyệt đối trung thành và tin tưởng vào
Tóa Thánh Vatican, vẫn tôn vinh là “cửa vào nước Chúa” của họ,
vẫn triệt để tuân hành những lệnh truyền của các đấng bề trên trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội và tuân hành vô điều kiện, vô điều kiện đến
nối họ đành lòng phản lại tổ quốc, phản lại dân tộc, và lớn tiếng bảo
nhau “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”. Họ quả thật là những
người vong bản, phản dân tộc, phản quốc mà không biết ngượng với lương
tâm, không biết nhục. Đúng là những quân vô liêm sỉ. Sự kiện này cho
chúng ta thấy rằng chính sách ngu dân và bộ máy tuyền truyền của Giáo
Hội quả thất là vô cùng tinh vi và cực kỳ siêu việt. Nói về đặc tính
siêu việt của may tuyên truyền của Giáo Hội La Mã, học giả Da-tô Phan
Đình Diệm ghi nhận như sau:
“LỜI BẢY: Hàng ngàn năm, để bưng bít và che dấu
7 chương tội đối ngọai và 1 chương tội đối nội là tám, nghệ thuật tuyên
truyền của Giáo Hội Roma phải đạt đến chő cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn
hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền
nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là
Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất,
Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên
Chúa... Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả
thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ
sót một phạm trù nào! Ngòai nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải
xây "vạn lý trường thành đức tin" và buông bức "màn sắt thần học" lên
đầu đòan chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa
thần học phù phép, ảo thuật "núi tội thành con chuột", "kẻ cướp mặc áo
thày tu" và "quỷ Satan có diện mạo ông thánh".[xxviii]
Vì giới hạn của tập sách này, chúng tôi chỉ trình
bày vấn đề này ngắn gọn như trên thôi. Còn rất nhiều chuyện kinh thiên
động địa khác sẽ được trình bày đầy đủ với rất nhiều tài liệu trích dẫn
ở trong hai mục V và VI, Phần II trong bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác
của Giáo Hội La Mã.
(xem tiếp)
© sachhiem.net
Chú thích Chương 1
[i] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi?
(Garden Grove, CA: Giao Đỉêm, 2000), tr, 245.
[ii] Phan Đình Diệm, Tuyên Cáo 6.
tanvien@kitohoc.com Ngày 15/6/1999.
Xin đọc thêm Chương 4, Mục II, Phần I bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ
Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.
[iii] Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc
(Sàigon: Lửa Thiêng, 1973), tr 73-78.
[iv] Phan Đinh Diệm. "Mea Culpa Bài 3 - Giáo Hội Công
Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm" http://
www.kotohoc.com/Bai/Net066.html. Ngày 19/9/2000.
[v] Malachi Marin, The Decline and Fall of The
Roman Church (NY: G.P. Putnam’s Sons, 1981), p. 140
[vi] Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo và
Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003),
76-77.
[vii] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản:
Tân Văn, 2003), tr. 320.
[viii] Ralph Woodrow, Babylon Mystery Religion
(Riverside, CA: Ralph Woodrow Evangelistic Assoc, Inc.,
1981), p 91.
[ix]
Chu Văn Trinh, Gia Tô Thực Dân Sử Liệu [The Documented
History of Catholic Colonialism] Tập 1 (Mt. Dora, Florida: Ban
Tu Thư Tự Lực, 1990), tr 103-113 và 139-174.
[x] Chu Văn Trình, Sđd., tr. 108.
[xi] Chu Văn Trình, Sđd., tr. 109.
[xii] Peter de Rosa, Vicars of Christ (Dublin
Ireland: Poolberg Press,Ltd., p.406.
[xiii] Peter de Rosa, ibid.410.
[xiv] Peter de Rosa, Sđd., tr 416.
[xv] Nguyễn Thanh Sơn, Tận Thế Số Ra Mắt
15/6/2002 (Fountain Valley, CA, TXB, 2002), tr 27.
[xvi] Nguyễn Thanh Sơn, Tận Thế Số 2 15/7/2002
(Fountain Valley, CA, TXB, 2002), tr 31.
[xvii] Peter de Rosa. Ibid., p.101.
[xviii] Peter de Rosa, Sđd., tr. 408.
[xix] Peter de Rosa, Sđd., tr.404.
[xx] Peter de Rosa. Ibid., p.403.
[xxi] Peter de Rosa, tr 38.
[xxii] Richard P. Mcbrien. Lives of the Popes
(New York: Harper San Francisco, 1997), p 162...
[xxiii] Ralph Woodrow. Babylon Mystery Religion
(Rviverside, California: Ralph Woodrow Evangelistic Association,
Inc., 1981), tr 91-92.
[xxiv] Peter de Rosa,.Ibid.,, p. 94-95..
[xxv] Peter de Rosa, Ibid., p. 11.
[xxvi] Trần Chung Ngọc. “Popes (Các Giáo Hoàng)”.
sachhiem.net. Tháng 12/2007.
[xxvii] Charlie, Nguyễn , Công Giáo Trên Bờ Vực
Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 228 và 272.
[xxviii] Phan Đinh Diệm, Tlđd.,.(Chú thích 41 ở
trên).
|