|
Lời Tòa Soạn 
Những mục của tác giả Trần Chung Ngọc:
1
2
3
4
Những mục của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Lời Kết Chung
CHƯƠNG 10
XXI.- SỬ LIỆU NHƯ THẾ NÀO MỚI KHẢ TÍN?
Trong lá thư đề ngày 2 tháng 9 năm
2000, độc giả Trần Hoài Thư viết cho người viết:
“Xin giáo sư soạn một quyển sách,
list ra họ tên tác giả, tên tác phẩm, tác giả gốc đạo gì, tháng năm
tác phẩm ra đời, khuynh hướng chính trị tôn giáo v.v.. từ trước đến
nay, để lớp trẻ sau này biết chọn sách mà đọc khỏi bị lạc dẫn. Thiết
nghĩ chỉ có giáo sư mới đủ uy tín làm việc này! Vì gần một thế kỷ
nay, tất cả các sách giáo khoa và lịch sử hầu hết đều do bọn Thiên
Chúa hoặc tay sai biên soạn, nên phần đông đều mù tịt. Ví dụ Pétrus
Ký, A. De Rhodes, Nguyễn Tường Tộ, Trần Lục, Nguyễn Bá Tòng, Ngô
Đình Diệm, đều là vĩ nhân yêu nước, nhưng Sự Thật đều là Bán Nước….”
[i]
Hy vọng rằng chương sách này sẽ đáp ứng
được phần nào lời yêu cầu trên đây của ông Trần Hoài Thư và cũng là
lòng mong muốn của tất cả những người còn quan tâm đế lịch sử và
tương lai của dân tộc Việt Nam chúng ta.
¨
Độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ đã
được Giáo Hội La Mã triệt để thi hành ở Việt Nam ít nhất là từ năm
1862, cho nên khi đọc một cuốn sách có những đề tài liên hệ đến giai
đoạn lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, chúng ta phải đặt
vấn đề về kiến thức lịch sử của tác giả:
1.-Tác giả có thoát ra khỏi cái di lụy
của độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã trước đây
không?
2.- Tác giả có ở vào tình trạng của
“những bất khả” và “dị ứng” như đã nêu lên trong Chương 5 ở trên hay
không?
Hơn nữa, viết một cuốn sách có những đề
tài liên hệ đến lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, tác giả
phải tham khảo thật nhiều tài liệu, phải thấu hiểu tình hình quốc tế
và chính sách ngọai giao của các thế lực ngoại cường đã từng can
thiệp trực tiếp vào nội tình Việt Nam trong thời kỳ này. Tác giả
phải biết rõ, trong các thế lực này, Giáo Hội La Mã là một thế lực
quan trọng hơn cả. Quan trọng là vì, theo tinh thần sắc chỉ Romanus
Pontifex được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo
Hòang Nicholas V (1447-1455), Giáo Hội La Mã đã có chủ trương đánh chiếm
Việt Nam làm
thuộc địa rồi mới vận động đế quốc Pháp liên kết với Giáo xuât quân
tấn chiếm nước ta để cùng cướp đoạt tài nguyên, cùng nô lệ hóa
dân ta và cùng chia nhau lợi nhuận. Quan trọng hơn là giữa thập niên
1780, Giáo Hội và
nhóm thiểu số tín đô Da-tô người Việt của Giáo Hội luôn cấu kết với
các thế lực ngoài cường xâm lược để chống lại tổ quốc và dân tộc
Việt Nam.
Đây là điểm then chốt để giải thích TẠI
SAO khi nhân dân các thuộc của đế quốc Anh và của đế quốc Hòa Lan
vừa mới nổi lên tranh đấu giành độc lập, thì chính quyền Anh và
chính quyền Hòa Lan liền trao trả quyền độc lập cho các thuộc này và
rút quân về nước, trong khi đó thì nhân dân các thuốc địa Pháp lại
phải tranh đấu bằng bạo lực, phải hy sinh hàng triệu người trong một
cuộc chiến trường kỳ cà gần mười năm trời để đánh
cho đoàn quân viễn chinh Liên Minh Pháp - Vatican thảm bại tàn tành
khiến cho nước Pháp không còn khả năng theo đuổi chiến tranh, rồi mới chịu
rút quân về nước và công nhận chủ quyền độc lập của các dân tộc
thuộc địa.
Muốn biết rõ vấn đề này, thiết cần phải
biết:
A.- lời nhận xét của sử gia Loraine
Boettner ghi nhận:
Rome in the minority is a lamb (Khi
là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).
Rome as an equal is a fox (khi ngang
số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).
Rome in the majority is a tiger (khi
chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp.
B.- Một số những dữ kiện lịch sử Việt
Nam dưới đây trong thời cận và hiện đại:
Thứ nhất.- Con số tín đồ Da-tô ở Việt
Nam vào những thời điểm:
Năm1800: 320 ngàn và 119 linh-mục.
Giữa thập niên 1850 là từ 500 đến 600 ngàn.
Giữa thập niên 1850,
Năm 1945 là 1 triệu 700 ngàn người[ii].
Tất cả những người này đều đã được nhồi sọ
thành những hạng người "tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican
và triệt để tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội La Mã". Ngòai ra, Giáo Hội còn có
hàng ngàn linh mục và giám mục với tinh thần "thà mất nước, chứ
không thà mất Chúa" nắm giữ những vai trò trưởng lưới gián điệp
và chỉ huy các đạo quân nội trùng thập tự chống lại tổ quốc Việt
Nam.
Thứ hai.- Giáo Hội luôn luôn tìm
cách can thiệp trực tiếp vào nội tình của bất cứ quốc gia nạn nhân
nào bị Giáo Hội chiếu cố, đặc biệt là vào khi quốc gia nạn nhân này
có biến động. Việt Nam đã từng là quốc gia nạn nhân trong chính sách
này của Giáo Hội từ thập niên 1780 cho đến ngày nay.
1.- Sách sử còn ghi rõ, vào giữa thập
niên 1780, Giáo Hội La Mã cấu kết với Pháp qua sự trung gian của
Gíám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) để can thiệp vào Việt Nam.
Qua ông Giám-mục này, Giáo Hội và nước Pháp sản xuất ra Thỏa Hiệp
Versailles 1787. Đây là một thỏa hiệp hết sức quái đản vì nó là kết
quả của bàn tay đạo diễn của Giáo Hội La Mã qua nhân vật Giám-mục Bá
Đa Lộc vừa là đại diện cho Vatican, vừa là đại diện cho Việt Nam,
vừa nhân danh là người Pháp thuyết phục chính quyền Pháp liên kết
với Vatican để sản xuất ra hiệp ước này. Dù rằng, thỏa hiệp này
không được thi hành [vì chính quyền đạo phiệt Da-tô của Vua Louis
XVI (1754-1793) tay sai của Vatican bị Cách Mạng Pháp 1789 lật đổ], nhưng cũng từ đó,
Giáo Hội La Mã đã dùng nó làm cái cớ và cái đà để liên tục tích cực
can thiệp trực tiếp vào nội tình Việt Nam một cách vô cùng thô bạo
và hết sức trắng trợn.
2.- Giáo Hội La Mã đã bỏ tiền ra tài
trợ và giao trách nhiệm cho Giám-muc Pigneau de Béhaine vận động
quyên tiền trong cộng động Da-tô ở các nước Âu Châu để thuê mướn
lính đạo từ Âu Châu, mua sắm vũ khí và chiến tầu đem sang Việt Nam
viện trợ cho Nguyễn Ánh. Mục đích của việc làm gian ác này là để có
thể dễ dàng xâm nhập vào thượng tầng bộ máy cai trị của triều đình
nhà Nguyễn.
3.- Vào những năm đầu của thế kỷ 19, dù
rằng đã nhờ vào viện trợ của Giáo Hội đặt dưới quyển chỉ huy của
Gíam-mục Pigneau de Béhaine, Nguyễn Ánh mới đánh bại được nhà Tây
Sơn, nhưng khi đã thành công và lên ngôi vua rồi, ông lại ngoảnh
mặt đi, và tìm đủ mọi cách đề phòng, không để cho bọn giáo sĩ đàn em
của Pigneau de Béhaine (lúc đó đã qua đời) có cơ hội xâm nhập vào bộ
máy cai trị của nhà Nguyễn. Kể từ đó, Giáo Hội lại tích cực vận động
Pháp và Tây Ban Nha xuất quân tấn chiếm Việt Nam rồi thống trị dân
ta cho đến tháng 3 năm 1945 thì bị quân Nhật lật đổ.
4.- Giáo Hội La Mã thi hành những sách
lược “Cáo đội lốt hùm” và “theo voi ăn bã mía”: Từ năm 1940, thấy
rằng Phe Trục Đức-Ý-Nhật thắng thế, tại Âu Châu, Giáo Hội dồn
hết nỗ lực vào việc vận động Phát Xít Ý và Đức Quốc Xã ủng hộ và
viện trợ cho phe Phát-xit Da-tô của Francisco Franco (1892-1975)
trong cuộc chiến lật đổ chính quyền Cộng Hòa Tây Ban Nha để thiết
lập chế độ đạo phiệt Da-tô tại quốc gia này. Đồng thời, Tòa Thánh
Vatican lại cấu kết với Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý để đưa tên Da-tô
Ante Pavelich lên cầm quyền ở Croatia, rồi thiết lập chế độ đạo
phiệt Da tô ở quốc gia này nhằm thi hành chính sách Ki-tô hóa bằng
bạo lực. Chỉ trong vòng 4 năm (1941-1945), chế độ đạo phiệt Da-tô
này đã tàn sát tới hơn 700 ngàn dân thuộc Do Thái Giáo, Chính Thống
Giáo và Hồi Giáo trong một quốc gia chỉ vỏn vẹn độ ba (3) triệu dân.
Tại Á Châu, cũng vào thời điểm này,
thấy rằng Nhật đang làm bá chủ Á Châu, một mặt, Giáo Hội cho tên
Da-tô Ngô Đình Huân (con trai Ngô Đình Khôi, cháu nội Ngô Đình Khả)
luồn lọt vào làm do thám cho Nhật, được Nhật tin dùng, cho nắm giữ chức bí thư cho Đại Sứ
Nhật Yokohama. Mặt khác, Giáo Hội cho hâm nóng con bài Da-tô Cường
Để ở Nhật bằng cách ra lệnh cho tên Da-tô Ngô Đình Diệm tích cực
họat động cho con bài Cường Để với hy vọng nếu Nhật hất cảng Pháp,
Nhật sẽ dùng Cường Để thay thế Bảo Đại và dùng Ngô Đình Diệm làm thủ
tướng, rồi Giáo Hội sẽ dựa vào Nhật để thi hành sách lược “Cáo đội
lốt hùm” giống như Giáo Hội đã làm với Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý ở
Tây Ban Nha và ở Croatia.
5.- Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Đông
Minh Anh - Mỹ - Pháp - Nga -Trung Hoa, Quốc Quân Trung Hoa đuợc giao
cho trách nhiệm giải giới và hồi hương quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở
ra Bắc. Mãi tới đầu tháng 9/1945, Tướng Lư Hán mới đưa quân vào Việt
Nam qua ngả Vân Nam – Lào Cai, và Tướng Tiêu Văn mới dẫn quân vào
Việt Nam qua ngả Quảng Tây đi đường Lạng Sơn, tổng cộng tất cả vào
khoảng 200 ngàn người. Cả hai đạo quân này thật sự là những quân ăn
cướp và hà hiếp dân ta mà người Việt Nam lúc bấy giờ gọi là "quân
Tầu Ô" và sử gia Bernard B. Fall ví như "đàn châu chấu" (like a
swarm of locusts) bay vào tàn hại Việt Nam. Trên đường từ Lào Cai và
từ Lạng Sơn về tới Hà Nội, các vị lãnh đạo và đảng viên Quốc Dân
Đảng Việt Nam (Việt Quốc) của ông Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và
Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (Việt Cách) của ông Nguyễn Hải Thần
cùng đi theo đoàn quân Tâu Ô này để đánh cướp chính quyền đã nằm
trong tay của Mặt Trận Việt Minh từ ngày 15/8/1945 (hay sau đó một
vài ngày). Do việc dựa vào thế lực của hai đạo quân Tầu Ô trên đây
để củng cố quyền lực, cho nên uy tín của hai đảng Việt Quốc và Việt
Cách cũng chìm nổi với đoàn quân Tầu Ô này. Vì thế mà dân chúng ở
những vùng có quân Tàu chiếm đóng đều kinh sợ và xa lánh cả hai
chính đảng này giống như kinh sợ quần Tầu (Quốc Quân Trung Hoa)
vậy.
Quân Anh được trao cho nhiệm vụ giải
giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam. Trong thực tế quân Anh che
chở cho quân Pháp đổ bộ vào Sàigòn.
Đồng thời, cũng vào thời điểm này, Tòa
Thánh Vatican đã toa rập với chính quyền Charles de Gaulle của nước
Pháp trong việc đưa cựu linh-mục Thierry d’ Argenlieu lên nắm giữ
chức vụ Cao Ủy Đông Dương vào ngày 17/8/1945. Nhiệm vụ của vị linh
mục này là đem quân tái chiếm Đông Dương và thi hành độc kế chia để
trị, bằng cách xé nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh nhỏ theo lằn ranh
biên giới địa lý, sắc tộc và tôn giáo, rồi dùng người Việt đánh
người Việt và dùng nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân
dân thuộc các tôn giáo khác. Quan trọng hơn nữa, việc Tòa Thánh Vatican cấu kết với Pháp
trong việc bổ nhậm cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieu nắm giữ chức
vụ Cao Ủy Đông Dương vào thời điểm này là có dã tâm thâm độc xúi
giục và khích lệ gần hai triệu tín đồ Da-tô người Việt nổi lên tiếp
tay đoàn quân viễn chinh Liên Minh Pháp – Vatican chống lại chính
quyền Kháng Chiến dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh. Đây là
sự thật lịch sử. Sự thật lịch sử này đều được sách sử ghi lại rõ
ràng, và ngay cả các sử gia Da-tô cũng công nhận như vậy. Bằng chứng là
sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận trong cuốn Thập Giá và
Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau:
“Đờ Gôn (De Gaulle) gặp đô đốc
Thierry d’ Argenlieu, một tu sĩ Dòng Camêlô, làm cho Cao Ủy Đông
Dương, nghĩa là làm Toàn Quyền. Có lẽ ông hy vọng rằng vị linh mục
này sẽ thành công trong việc quy tụ dân công giáo lại đi theo ủng hộ
mình, như hồi chinh phục lần đầu, cách đó một thế kỷ.”[iii]
Vấn đề này sẽ được trình bày đày đủ ở
trong Mục XV, Phần V trong bộ sách Lịch sử và Hồ Sô Tội Ác của Giáo
Hội La Mã.
6.- Sau khi bị thảm bại tại Điện Biên
Phủ vào đầu tháng 5 năm 1954, tại Hội Nghị Genève, Pháp nghiêm chỉnh
thương thuyết với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam, bằng lòng rút
quân về nước và công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Liên Minh Pháp
– Vatican chính thức tan rã và Pháp thực sự đã bỏ cuộc tái chiếm
Việt Nam. Pháp bỏ cuộc, nhưng Vatican vẫn còn cố đấm ăn xôi, lì lợm
bám chặt vào Việt Nam như loài đỉa đói. Vì có tham vọng còn muốn bám
chặt lấy Việt Nam, Vatican quay ra vận động chính quyền Hoa Kỳ liên
kết với Vatican đưa ông Da-tô Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích này, Giáo Hội huy động tất cả các tín đồ
Da-tô có thế lực người Hoa Kỳ, tín đồ Da-tô người Pháp ở Pháp và cả
tín đồ Da-tô người Việt là bà Nam Phương Hoàng Hậu để làm áp lực với
chính quyền Pháp và ông Bảo Đại đưa ông Da-tô Ngô Đình Diệm về Việt
Nam cầm quyền.
7.- Duy trì và củng cố quyền lực ở
miền Nam Việt Nam: Sau khi đã đưa ông Da-tô Ngô Đình Diệm lên
cầm quyền ở Việt Nam, Giáo Hội cấu kết với Hoa Kỳ để duy trì Việt
Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi bằng cách vi phạm Hiệp Ước
Genève 1954, không cho tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước
như Thoả Hiệp Genève đã dự trù vào tháng 7 năm 1956.
Đây là thời kỳ Giáo Hội La Mã dựa vào
cái dù của siêu cường Hoa Kỳ để củng cố và duy trì quyền lực ở miền
Nam và ra lệnh cho chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức làm lễ dâng
nước Việt Nam cho Tòa Thánh Vatican[iv], và tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân miền Nam
bằng tất cả phương tiện của chính quyền. Hậu quả là trên 300 ngàn
người dân ở các tỉnh thuộc Liên Khu V bị tàn sát trong những chiến
dịch “mở mang nước Chúa” được ngụy tạo là “những chiến
dịch Chống Cộng”. Chiến dịch này được chính quyền hợp thức hóa
bằng Sắc Luật 47 ban hành vào ngày 21/8/1956 và Luật 10/59 được ban
hành vào ngày 6 tháng 5 năm 1959. Theo luật này, 3 tòa án đặc biệt
được thiết lập để làm công cụ cho những chiến dịch "mở mang nước
Chúa" nằm trong kế hoạch Ki-tô hóa miền Nam bằng bạo lực để “chỉ
trong vòng mười năm thôi là cả miền Nam sẽ theo Công Giáo Hết”[v]
Lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại rõ
ràng là như vậy. Cho nên bất cứ tác phẩm lịch sử nào có liên hệ đến
Việt Nam trong thời kỳ này mà (1) không nói đến Giáo Hội La Mã (một
thế lực đã liên tục can thiệp vào Việt Nam lâu dài nhất, thô bạo
nhất và trắng trợn nhất, (2) không nói đến đạo quân thập tự nằm vùng
nội phản, và (3) không nêu đích danh những tên Việt gian Da-tô làm
tay sai cho Giáo Hội La Mã và làm tay sai cho các đế quốc trên đây,
thì đó chỉ là một cuốn ngụy sử do bọn văn nô Da-tô biên soạn ra để
xuyên tạc lịch sử và che giấu những rặng núi tội ác của Giáo Hội La
Mã đã chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong suốt chiều dài
lịch sử từ thập niên 1780 cho đến ngày nay hay ít ra là cho đến ngày
30/4/1975.
Những tác giả cố tình tránh né hay mù quáng
không nhìn thấy những sự kiện rõ ràng như đã trình bày trên đây, tất
nhiên là không thể nào tin cậy được. Những người không nhìn thấy
những sự kiện lịch sử trên đây mà vẫn ti toe viết sử thì chỉ là thứ
“ếch ngồi đáy giếng” làm chuyện “múa rìu qua mắt thợ”
và "ăn ốc nói mò". Đây là loại người, nếu không phải là văn
nô Da-tô, thì cũng là:
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.
(Hồ Xuân Hương)
XXII.- VỀ LUẬN ĐIỆU KHÔNG CẦN PHẢI PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANh LÀM TỐN
PHÍ TỚI GẦN 5 TRIỆU NGƯỜI, THÌ RỒI TỚI MỘT LÚC NÀO ĐÓ, PHÁP CŨNG PHẢI
TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO VIỆT NAM, GIỐNG NHƯ NGƯỜI ANH ĐẢ TRẢ ĐỘC LẬP
CHO ẮN ĐỘ.
Thiết nghĩ rằng, luận điệu trên đây nghe không ổn chút nào cả. Cứ
theo luận điệu này, thì những công lao và sự hy sinh thân thế của hàng
triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến
của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp -
Vatican từ năm 1858 cho đến năm 1954 đều là
vô ích! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc
chiến đánh đuổi Liên Minh Mỹ - Vatican 1954-1975 để đòi lại miền Nam
đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích!
Đưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ
đã ngã xuống cho tổ quốc Việt Nam được trường tồn.
Người viết cực lực phản đối luận điệu này.
Thiết nghĩ rằng, những người đưa ra luận điệu này nếu không phải là người của
Vatican thì cũng là những người đồng lõa với bọn vong bản thường lớn
tiếng bảo nhau rằng "Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa".
Người viết cũng
tin rằng những người đưa ra luận điệu
này không phải là người học sử, không thấu hiểu lịch sử thế giới,
không thấu hiểu lịch sử Giáo Hội La Mã, và cũng không biết gì về chủ nghĩa bá quyền của Giáo Hội La Mã.
Chủ nghĩa bá quyền này đã được công bố rõ ràng trong Sắc Chỉ Romanus Pontifex,
ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas (1447-1455)].
Dưới đây là phần trình bày của người viết:
Như đã trình bày đầy đủ ở trong các Chương 3, Chương 4 và
Chương 5 ở trên, những người Việt Nam tiếp nhận sở học qua chính sách ngu
dân và giáo dục nhồi sọ của Liên Minh Pháp - Vatican trong
những năm 1862-1954 và của các
chính quyền đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội ở miền Nam Việt Nam
trong những năm 1954-1975 không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã, không
biết gì về những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã trùng trùng như
hàng chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Họ không có kiến thức về lịch sử
thế giới và cũng không có kiến thức về lịch sử Việt Nam trong thời cận
và hiện đại.
Vì có quá nhiều điều không biết như
trên, tất nhiên là những người này không thể nào biết được sự thật
TẠI SAO khi nhân dân các thuộc địa của đế quốc Anh và đế quốc Hòa Lan vừa mới
nổi lên tranh đấu đòi độc lập có mấy năm ngắn ngủi, thì hai đế quốc này
đã phải trao trả độc lập cho họ. Và những người này cũng không thể
nào biết được sự thật TẠI SAO dận tộc Việt Nam đã phải vùng lên tranh
đấu trường kỳ với cả hàng trăm cuộc nổi dậy, phải chiến đấu trong
những hoàn cảnh cực kỳ gian khổ và vô cùng đẫm máu tốn phí cả
gần chục triệu sinh linh mới đánh đuổi được giặc Pháp và giành lại
được chủ quyền độc lập cho dân tộc, và mới đuổi được đế quốc Mỹ ra
khỏi miền Nam để đem lại thống nhất cho tổ quốc, nhưng giặc Vatican
vẫn còn lì lợm bám chặt lấy Việt Nam như loài đỉa đói.
Cũng vì thế mà họ mới dễ dàng chấp
nhận lập luận cho rằng không cần phải phát động chiến tranh làm tốn
phí cả 4 hay 5 triệu sinh linh, thì rồi đến lúc nào đó, Pháp cũng phải
trả lại chủ quyền độc lập cho dân ta như người Anh đã trả lại
chủ quyền độc lập cho Ấn Độ vào
ngày 15/8/1947, như người Hòa Lan đã phải chính thức công nhận nền độc
lập của Nam Dương vào ngày 2/11/1949 và triệt thoái toàn bộ quân đội
về nước vào ngày 27/12 năm đó. Họ cũng không biết sử dụng lý trí để
tìm hiểu thế lực nào đã đưa ra lập luận quái đản này rồi mớm cho bọn
người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” rêu rao với dã
tâm phủ nhận những công nghiệp lịch sử to lớn và sáng
chói của Mặt Trận Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giành lại chủ quyền độc lập cho dân
tộc, đem lại thống nhất cho đất nước và vinh quang cho tổ quốc Việt
Nam ta.
Để giải thích cho luận cứ phản bác của chúng tôi, xin quý vị cùng
chúng tôi ôn lại một giai đoạn lịch sử ở Âu Châu nói về các Phong Trào
Tin Lành chống Vatican và phong trào các đế quốc Âu Châu đem quân
đi đánh chiếm đất đai ngoài Âu Châu làm thuộc địa.
Từ thế kỷ 16, tại Âu Châu, có hai sự kiện quan trọng:
Thứ nhất, từ cuối thập niên 1510, Phong Trào Đòi Cải
Cách Tôn Giáo bắt đầu bùng lên thành phong trào vũ trang chống lại quyền
lực của Tòa Thánh Vatican. Quan trọng nhất là Phong Trào Tinh Lành
do Linh-mục Martin Luther (1483-1546) ở Đức khởi xướng và khởi đầu vào
năm 1517. Giậu đổ bìm leo. Phong trào này nổi lên như một vết dầu loang
và dẫn đến việc chính quyền Anh của Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547)
cũng vùng lên chống lại Tòa Thánh Vatican, rồi chính thức ly khai khỏi
Giáo Hội La Mã, thành lập Anh Giáo, tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo
Hội tại Anh Quốc. Rồi sau đó, vào năm 1691, Quốc Hội Anh lại ban hành
Đạo Luật Ổn Định vào năm 1691, cấm, không cho người Anh là tín đồ
Da-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền. (The Act of Settlement of
1691). Đạo luật này quy định rằng không có một tín đồ Ki-tô La Mã nào
có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất
cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của
nhà vua. Nguyên văn: “A third measure, the Act of
Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler
of England, automatically excluding the descendants of James II by his
second wife.”Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Living World
History (Glenview, Illinois: Scott Foresman Company, 1974), p. 398.
Sau khi nước Anh nổi lên chống Vatican và thành lập Anh Giáo
không được bao lâu, tại lục địa Âu Châu lại có một Phong Trào Tin Lành
khác nổi lên chống Vatican. Phong trào Tin Lành này do nhà thần học John
Calvin (1509-1564) khởi lập và khởi đầu ở Thụy Sĩ, rồi lan tràn ra nhiều
nước khác ở Trung Âu, Bắc Âu và Tây Âu. Cả ba phong trào chống Vatican
này (Anh Giáo, Tin Lành Luther và Tin Lành Calvin) càng ngày càng phát
triển: Anh giáo bao trùm toàn thể Anh Quốc. Tin Lành Luther và Tin
Lành Calvin được nhân dân các quốc gia Trung Âu, Bắc Âu và Tây Âu nồng
nhiệt tiếp đón. Không biết sự nồng nhiệt tiếp đón đạo Tin Lành của
nhân dân tại các
quốc gia này là vì họ nhận thấy thuyết lý Tin Lành có lý hơn thuyết lý
Ki-tô La Mã hay là vì lòng căm phẫn, thù ghét và quá ghê tởm những
thủ đoạn bịp bợm và chính sách tàn ngược của Vatican, giống như một
người vợ bị anh chồng ác độc đối xử quá ư tàn ngược cho nên
mới phải cuốn gói ra đi với hy vọng sống với bất kỳ người đàn ông tồi tệ
nào khác cũng vẫn còn hơn sống với thằng chồng khốn nạn đó. Cũng vì thế,
kể từ đó, chiến tranh tôn giáo giữa những người cùng thờ ông Jesus là
phe Ki-tô La Mã và các phe Tin Lành trở nên vô cũng tàn khốc
và hết sức dã man. Trong Chương 7 ở trên, chúng tôi đã trích dẫn một vài
bản văn sử nói về những hành động tàn ngược và dã man của phe Ki-tô La
Mã đối với những người Tin Lành ở Pháp và ở Ái Nhĩ Lan. Riêng ở Ái Nhĩ
Lan, cho đến ngày nay (2008), sự thù hận và chiến tranh vẫn còn âm ỉ
giữa người Tin Lành và người Ki-tô La Mã không bằng hình này thì
cũng bằng hình thức khác.
Cho đến cuối thế kỷ 18, đại đa số nhân dân các quốc gia Trung Âu, Bắc
Âu, Tây Âu theo đạo Tin Lành. Tại các quốc gia này, những người theo đạo
Ki-tô La Mã trở thành thiểu số, ngoại trừ hai nước Pháp và Ba Lan. Tuy
nhiên, dù là đa số người dân hai quốc gia này vẫn còn theo đạo Ki-tô La
Mã, nhưng đa số những tín hữu Ki-tô La Mã ở hai quốc gia này cũng đã bắt
đầu chán ghét và ghê tởm Tòa Thánh Vatican. Nhờ vậy mà Cách Mạng Pháp
1789 mới thành công dễ dàng như chúng ta đã thấy. Ki-tô La Mã chỉ
còn chiếm đa số tại ba nước ở Nam Âu là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý Đại
Lợi mà thôi. Tuy nhiên, có rất nhiều tín đồ Ki-tô La Mã ở ba quốc gia
này cũng có khuynh hướng theo Cách Mạng chống lại Vatican một cách quyết
liệt. Cũng nhờ vậy mà cuộc Cách Mạng Y 1870 mới dễ dàng thành công. Sẽ
được trình bày đầy đủ trong Mục XXVI, Phần VII trong bộ sách Lịch Sử và
Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.
Thứ hai, cũng bắt đầu từ đầu thế kỷ 16, có phong trào các
cường quốc Âu Châu đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài lục địa Âu
Châu để làm thuộc địa.
Thuộc địa khai thác tài nguyên và thuộc địa di dân
Có hai loại thuộc địa:
A.- Loại thuộc địa khai thác tài nguyên và thị trường thêu thụ hàng
hóa kỹ nghễ. Mới đầu, mẫu quốc dùng loại thuộc đia này làm thuộc địa
khai thác tài nguyên và cưỡng bách người dân bản địa làm nô lệ phục dịch
trong các công trường khác thác tài nguyên, các công trường xây cất dinh
thự, nhà thờ, gác chuông cùng các cơ sở khác và hầu hạ họ. Cuối thế kỷ
18 sang đầu thế kỷ 19, kỹ nghệ phát triển mạnh ở Âu Châu và Bắc Mỹ, các
thuộc địa của các đế quốc Âu Châu lại mang thêm tính cách là thị trường
tiêu thụ hàng hóa kỹ nghệ của chính quốc và là nơi cung cấp nguyên liệu
cho các nhà máy kỹ nghệ tại chính quốc.
B.- Loại thuộc địa di dân như Bắc Mỹ, Úc Châu và Nam Phi.
Thuộc địa của Đế Quốc Tin Lành và thuộc địa của Đế Quốc
Ki-tô La Mã:
Chúng ta lại chia các đế quốc thực dân Âu Châu là làm hai loại: (1)
Loại thuộc địa của các đế quốc mà chính quyền theo đạo Tin Lành và (2)
loại các thuộc địa của các đế quốc thực dân xâm lược mà chính quyền là
những người theo đạo Ki-tô La Mã hay cấu kết chặt chẽ với Vatican.
I.- Loại thuộc địa của các đế quốc theo đạo Tin Lành.- Trong
công cuộc đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài lục địa Âu Châu làm
thuộc địa, chính quyền đế quốc Tin Lành có những đặc tính:
1.- Hoàn toàn hành động riêng rẽ,
2.- Không liên kết với Giáo Hội La Mã.
3.- Không có vấn đề tín đồ Tin Lành bản địa được tổ chức thành những
đạo quân thứ 5 nổi lên tiếp ứng cho đoàn quân viễn chính từ chính
quốc tiến đến tấn công.
4.- Không có vai trò của Giáo Hội La Mã trong bộ máy quản trị nhân
dân trong các thuộc địa.
5.- Không có nhóm thiểu số tín đồ Tín Lành bản địa được:
a.- Coi là thành phần nòng cốt để bảo vệ chế độ thuộc địa,
b.- Sử dụng để đánh phá và tiêu diệt các phong trào khởi nghĩa của
nhân dân bản địa vùng lên giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.
Vì những đặc tính "không có" trên đây, cho nên khi nhân dân thuộc địa
nổi lên tranh đấu đòi lại quyền độc lập, nếu chính quyền tại chính quốc
thấy rằng không thể tiếp tục làm chủ nhân ông tại các thuộc địa
được nữa, liền quyết định trao trả chủ quyền độc lập cho họ, tất nhiên
là không có Giáo Hội Tin Lành nào níu kéo đòi đem quân đến đàn áp các
phong trào kháng chiến của nhân dân bản địa, và cũng không có vấn đề
nhóm tín đồ Tin Lành bản địa tìm cách năn nỉ, lạy lục để níu kéo chính
quốc đem quân tái chiếm hay vận động chính quyền đế quốc khác đem quân
đến giúp đỡ đưa họ lên cầm quyền để họ tiếp tục bán nước và "mở mang
nước Chúa".
Đây là các thuộc địa của Đế Quốc Anh và Đế Quốc Hòa Lan ở các lục địa
Phi Châu, Mỹ Châu, Đại Dương Châu và Á Châu, trong đó có Ấn Độ, Miến
Điện, Tích Lan, Mã Lai, Indonesia.
II.- Loại thuộc địa đế quốc Ki-tô La Mã.- Trong công
cuộc đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài lục địa Âu Châu làm thuộc
địa, chính quyền đế quốc theo đạo Ki-tô La Mã có những đặc tính:
1.- Dùng các tài liệu tình báo do Vatican và tín đồ Da-tô bản địa
cung cấp.
2.- Cấu kết với Tòa Thánh Vatican thành một liên minh xâm lược.
3.- Dùng các giáo sĩ truyền giáo người Âu đã từng hoạt động tại địa
phương làm thành phần trung gian để sử dụng giới tu sĩ và nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa trong các chiến dịch quân sự tấn
chiếm, bình định và thiết lập bộ máy đàn áp nhân dân.
4.- Nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa được đoàn ngũ hóa, được tổ
chức thành những đạo quân thứ 5 và lực lượng xung kích năm hờ chờ sẵn
khi đoàn quân viễn chinh liên minh với Vatican tiến vào thì nổi lên tiếp
ứng.
5.- Vatican đã chuẩn bị đầy đủ nhân sự gồm những tín đồ Da-tô bản địa
thuộc loại "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa" làm những việc
đưa đường, dẫn lối, chỉ điểm, thông ngôn, tra tấn tù nhân,
lao công, thư ký và gia nhập các đạo quân đánh thuê làm các công việc
canh giữ, tiếp tế, khuân vác, v.v...
6.- Nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa trở thành thành phần xã hội
được chính quyền bảo hộ tin tưởng nhất, được biệt đãi và biến thành lực
lượng nòng cốt để bảo vệ chế độ.
Vì cả 6 đặc tính trên đây, cho nên khi nhân dân thuộc địa nổi lên
tranh đấu đòi lại quyền độc lập, thì chính Vatican và nhóm tín đồ Da-tô
bản địa trở thành thế lực cương quyết sử dung bạo lực để bảo vệ chế độ
và thẳng tay đàn áp các phong trào nổi dậy của nhân dân bằng bất cứ giá nào
dù là dã man đế mức nào đi nữa họ cũng làm. Những hành động tàn ngược và
dã man của tín đồ Da-tô trong vụ tàn sát gần 20 ngàn người Tin Lành Pháp
ở St. Bartholomew trong ngày 22/8/1572, vụ tàn sát người Tin Lành
Ái Nhĩ Lan vào năm 1641, vụ tàn sát hơn 700 ngàn ngườii Do Thái Giáo,
Chính Thống Giáo và Hồi Giáo ở Croatia trong những năm 1941-1945, và vụ
tàn sát gần 800 ngàn người Tutsis trong năm 1994 là bằng chứng rõ rệt
nhất cho lời khẳng định này. Xin xem lại Chương 7.
Bất kỳ thuộc địa nào nằm dưới ách thống trị của
bất kỳ đế quốc xâm lược nào có cấu kiết hay liên minh với Vatican đề bị
Vatican bám chặt như loài đỉa đói. Chỉ khi nào chính quyền bản địa hoàn toàn lọt vào tay Vatican
qua một chính quyền đạo phiệt Da-tô mà hậu trường sân khấu chính trị là
hội đồng giám mục địa phương (một nhóm cán bộ tay sai đắc lực của
Vatican tại địa phương điều khiển) thì khi đó, Vatican không những không
níu kéo hay van nài chính quyền đế quốc đã từng liên minh với Vatican
trong việc tấn chiếm và thống trị quốc gia thuộc địa đó, mà còn xúi giục
bọn tín đồ cầm quyền tìm cách tống xuất đế quốc này ra khỏi lãnh thổ hay
đòi hỏi đế quốc này phải trao trả độc lập cho chính quyền bản địa
tay sai của Vatican.
Tất cả các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và
Bỉ thuộc loại thuộc địa này.
Cũng vì thế mà hầu hết những người cầm quyền ở Châu Mỹ La-tinh,
ở Phi Luật Tân, ở các cựu thuộc địa của Bồ Đào Nha, của Bỉ, của Pháp
tại Phi Châu đều trở thành những tên bạo chúa độc ác
nhất trong lịch sử nhân loại có tên trong cuốn Tyrants
History's 100 Most Evil Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004) của
sử gia Nigel Cawthorne, và cũng vì thế mà trong số 100 tên bạo
chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại được nêu lên trong cuốn sách sử này, có tới hơn 50% là các bạo chúa
Ki-tô La Mã, trong đó hầu hết là những bạo chúa
Ki-tô La Mã ở trong các cựu thuộc địa của các đế quốc thực dân xâm lược
Âu Châu có cấu kết với Vatican như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ.
Việt Nam là thuộc địa của Liên Minh Pháp - Vatican và tất nhiên là ở
vào trường hợp bị Vatican bám chặt như loài đỉa đói, không chịu nhả ra.
Vì thế mà nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong những
cuộc chiến vô cùng gian khổ, cực kỳ khó khăn và kéo dài cả một thế kỷ từ
1858 cho đến ngày 30/4/1975 mới có thể tống cổ được thằng giặc Vatican ra khỏi
đất nước. Nếu không chiến đấu như vậy, thì Việt Nam đã trở thành một
quốc gia giống như Phi Luật Tân hay các quốc gia Châu Mỹ La-tinh, và
trong cuốn Tyrants History's 100 Most Evil Despots & Dictators
trên đây của sử gia Nigel Cawthorne không phải chỉ có tên thằng phản
thần tam đại Việt gia Da-tô Ngô Đình Diệm là người Việt Nam ở trong đó,
mà còn có thêm một vài tên bạo chúa Da-tô người Việt Nam khác nữa.
Hy vọng phần trình bày trên đây là những lời phản bác rõ ràng
để trả lời những người đưa ra luận điệu cho rằng "không
cần phải phát động chiến tranh làm tốn phí cả 4 hay 5 triệu sinh linh, thì rồi đến lúc nào đó, Pháp cũng phải trao
trả lại chủ quyền độc lập cho dân ta như người Anh đã trả lại
chủ quyền độc lập cho Ấn Độ..."
(xem tiếp)
Chú thích Chương 10
[i] Bản chụp của lá thư này đã
được đưa lên sachhiem,net thừ tháng 7/2007..
[ii] Trần Tam Tỉnh, Sđ d., các tr.. 32, 52 và 212.
[iii] Trần Tam Tình, Sđd., tr. 61.
[iv] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr.126-127.
[v] Hoàng Trọng Miên, Sđd., tr. 428.
|