|
Lời Tòa Soạn 
Những mục của tác giả Trần Chung Ngọc:
1
2
3
4
Những mục của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Lời Kết Chung
CHƯƠNG 8
XV.- ĐẶC TÍNH NGƯỢC NGẠO TRONG ĐẠO DA TÔ
VÀ CỦA TÍN ĐỒ DA TÔ NGOAN ĐẠO (CUỒNG TÍN)
Từ ngày 30/4/1975, đất nước đã được thống nhất và vừa với mới
thoát ra khỏi cuộc chiến triền miền cả hơn 30 năm trời, Việt Nam
thân thương của chúng ta và chính quyền đương thời luôn luôn bị
thù trong giặc ngoài quay phá:
1.- Năm 1979, chính quyền Pol Pot tại Cao Mên xua quân tấn cống
vào lãnh thổ Việt Nam cướp của giết ngưpời và tàn phá những nơi
chũng tràn tới.
2.- Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đem “32 sư đoàn tương đương
với 600 ngàn quân với 550 xe tăng, 480 khẩu pháo và 1260 súng
cối) ” tràn vào lãnh thổ tấn công và tàn phá các tỉnh ven biên “từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu)”.[i]
3.- Bị siêu cường Hoa Kỳ bao vây kinh tế triền miên từ năm 1975
cho đến năm 1994.
4.- Năm 2003, mấy nhóm dân săc tộc ít người ở vùng cao nguyên Nam
Trung Bộ nghe lời xúi giục của ngoại nhân nổi loạn chống chính quyền đòi
thành lập nước Tây Nguyên. Sự kiện này khiến cho chúng ta nhớ lại vào
mùa xuân năm 1946, Giáo Hội La Mã đã làm như vậy. Vấn đề này
được trình bày đầy đủ trong Phần V, Mục XV với chủ đề là Chính
Sách Chia Để Trị Của Vatican Tại Việt Nam.
5.- Với sự xúi giục và khích lệ cúa Vatican, nhóm thiêu số tín đồ Da-tô ở hải ngoại cũng như ở trong
nước tìm đủ mọi cách chống đối và đánh phá Việt Nam và chính
quyền ta. Bằng chứng rõ rệt nhất cho sự thật này là
vào ngày 15/3/2001, tại Giáo Phận Orange County,
California, vị Bộ Trưởng Bộ Thánh Vụ Truyền Giáo trong Giáo
Triều Vatican là Giám-mục Nguyễn Văn Thuận đưa
ra
lời tuyên bố có nội dung mang nặng tính cách khích lệ và xúi
giục tín đồ Da-tô người Việt tại hải ngoại cũng như ở trong
nước nổi loạn chống chính quyền. Chuyện này đã được nói rõ ở
Chương 2 ở trên. Một lần nữa, xin ghi lại đây lời tuyên bố vô liêm sỉ này để độc giả dễ
dàng nhìn ra bộ mặt thật ghê tởm của Tòa
Thánh Vatican. Dưới đây là nguyên văn lời tuyến bố vô liêm sỉ
này của viên Bộ Trưởng Bộ Thánh Vụ Tuyền Giáo của giáo triều Vatican
Giám Mục Nguyễn Văn Thuận"“Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ
nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ.”
Trong khi tổ quốc và dân tộc ở quê nhà bị lâm vào tình cảnh thử
thách khó khăn như vậy, thì ở hải ngoại, tiín đồ Da-tô cuồng tín
người Việt không những đã không làm gì để góp sức với đại khối
dân tộc ở trong nước để chống đờ giặc thù và ổn định tình thế,
không những đã không tỏ ra một chút thương cảm cho quê hương đất
nước bị thù trong giặc ngoài đánh phá, mà họ còn tỏ ra hân hoan
vui mừng sung sướng, mưu đồ đánh hôi, gây thêm khó khăn cho tổ quốc và
chính quyền để mưu đồ bất chính. Dưiới đây là những hành động vô liêm sĩ
phản dân tộc phản tố quốc của họ:
1.- Năm 1979, khi tin Quân Xâm Lược Trung Hoa tràn qua biên giới
Việt Hoa, tấn công và tàn phá các tỉnh ven biên của tổ quốc Việt
Nam, thì bọn người này ở hải ngọai lại hồ hởi ăn mừng.
2.- Năm 2003, khi hay tin nhóm thiểu số Tin Lành người Việt cấu
kết với một nhóm người thuộc một vài sắc tộc thiểu số ở Tây
Nguyên nổi loạn đòi thành lập xứ Tây Nguyên, thì cũng chính bọn
người cuồng nô vô tổ quốc “Thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa” này lại tỏ ra vô cùng hân hoan vui mừng. Tệ hơn nữa,
các cơ quan truyền thông của những người vong bản này ở hải
ngọai còn hô hào ủng hộ những phẩn tự phản động và phản quốc
trong tổ chức nổi loạn trên đây và lên án chính quyền Việt Nam
vì đã thẳng tay trừng trị bọn phản lọan đội lốt tôn giáo này để
đánh phá tổ quốc Việt Nam.
3.- Cũng trong năm 2003, ngay sau khi Hoa Kỳ xua quân tấn công
vào lãnh thổ nước Irak vào tháng 3 năm 2003, thì tháng 7 năm đó,
bọn người Việt hải ngọai vong bản này lại hí hửng đón gió, thành
lập cái gọi là “Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation”, rủ nhau
đến họp hành ở Tòa Nhà Civic Center trong thành phố Wesminster
(California), cùng sọan thảo một bản thỉnh nguyện thư gửi ông
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, khẩn khoản yêu cầu tổ chức quốc tế
này cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiện nay phải tái lập
tình trạng Việt Nam bị chia đôi như thời 1954-1975 với hy vọng sẽ
được Mỹ đưa về Việt Nam nhẩy lên bàn độc để tíếp tục làm tay sai
cho Vatican và đè đầu cới cổ nhân dân ta như thời chế độ đạo
phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu
trong những năm 1954-1975.
Cũng nên biết là phần lớn những người trong tổ chức này là những
tín đồ Da-tô, cũng là những người có bằng cấp đại học và đã
từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam
truớc ngày 30/4/1975. Vấn đề này đã được người viết trình bày
đầy đủ nơi Chương 1 trong cuốn “Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam
Cộng Hòa Foundation” (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004).
4.- Năm 2005, khi tòa án Liên
bang Hoa Kỳ bác đơn khiếu nại của chính phủ Việt Nam về việc “Trong
thời gian từ năm 1962 đến 1971, quân đội Mĩ rải khoảng 77 lít
chất độc da cam xuống miền và Nam Trung Việt, gây ảnh hưởng va
tác hại đến môi trường của 2.63 triệu mẫu tây và gần 5 triệu
người sống trong 25,585 thôn ấp”[ii] , thì
bọn người vong bản, phản quốc này và đồng bọn lại tỏ ra hí hửng
vui mừng như là một đại thắng lợi của chúng.
Phần trình bày trên đây cho
thấy rằng, đối với nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín người
Việt, khi Vatican còn quyền lực ở Việt Nam, thì chúng cho là
chính nghĩa quốc gia và chính quyền quốc gia (mà thực chất chỉ là chính quyền bù nhìn tay sai
Vatican liên minh với đế quốc Pháp hay siêu cường Hoa Kỳ) của chúng còn tồn tại, và chúng quyết tâm
chiến đấu để bào vệ cái chính quyền Việt gian này. Khi
Vatican không còn quyền lực ở Việt Nam, thì chúng gọi là mất
nước, rồi hè nhau tìm cách lạy lục cầu xin các thế lực phản động
Âu Mỹ giúp chúng để trở về Việt Nam cầm quyền hầu có thể tiếp
tục bán nước và làm tay sai cho Vatican như thời kỳ 1862-1954
trên toàn thể lãnh thổ và thời kỳ 1954-1975 ở mền Nam Việt Nam.
Hành động “rước voi về giầy mả tổ” như vậy được chúng gọi
là “phục quốc”. Điều đáng buồn là trong cái đám người sử
dụng từ “mất nước” ở vào trương hợp này lại có cả bọn phản động
phong kiến, bọn lưu manh hoạt đầu chính chính trị đội lốt là
“người Việt Quốc Gia” và bọn lưư manh xu thời đón gió. Tất cả
những hạng người này đều bị đại khối nhân dân Việt Nam lên án là
những quân vong bản phản dân tộc và phản quốc.
¨
Nhìn lại thời kỳ từ năm 1858
đến ngày 30/4/1975, đất nước Việt Nam trải qua không biết bao
nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đây cũng là thời kỳ đau thương
buồn thảm nhất của tổ quốc và dân tộc:
1.- Tài nguyên đất nước bị
cướp đọat.
2.- Hàng trăm ngàn mẫu đất bờ
xôi ruộng mật bị Giáo Hội La Mã chiếm đoạt làm của riêng của
Giáo Hội.
3.- Những mảnh đât ngon lành
nhất trong các thành phố, trong các tỉnh lỵ, trong các thị trấn
bị chiếm đoạt để xây cất nhà thờ, chủng viện, tu viện, và các cơ
sở kinh tài khác của Giáo Hội.
4.- Chùa chiền đình miếu bị
phá huỷ và nền đất bị cướp đọat để xây nhà thờ và các cơ sở khác
của Vatican.
5.- Dân bị bóc lột tận xương tận tủy cả về vật lực và nhân
lực:
a.- Về vật lực: Dân tabij cưỡng bách phải đóng những thứ thuế phi nhân dã man nhất trong lịch
sử loài người như thuế thân, thuế muối và nhiều thứ thuế vô lý
khác,
b.- Về nhân lực: dân ta bị cưỡng bách phải
đi làm lao nô phục dịch cho các công trường xây hàng ngàn dinh
thự của các quan lớn quan nhỏ trong bộ máy cai trị của của bọn
thực dân xâm lược Pháp và Vatican, hàng ngàn ngồi nhà thơ to
lớn vĩ đại với những tháp chuông cao chót vót lên đến tận lưng
trời.
6.- Dân ta bị xô đảy vào thảm
cảnh đói khổ triền miên và, thảm thương nhất là hai triệu người
chết đói trong mấy tháng mùa xuân năm Ất Dậu 1945. .
7.- Dân ta bị chèn ép, bị kỳ
thị, bị bách hại, bị sát hại với hơn 300 ngàn nạn chết tức tưởi
trong những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” trong những năm
1955-1963.
8.- Dân ta bị khinh rẻ, bị coi
như là những quân “mọi rợ: những hạng người “vô đạo” và những
quân “tà giáo” và bị coi như chó như ngựa.
9.- Nền văn hóa cổ truyền của
dân tộc chà đạp, bị nhục mạ. Sách "Vatican Thú Tội và Xin
Lỗi" viết:
“Trọng tội của Giáo Hội không
phải là nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng
Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên,
chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ
Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam là dân có
đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo
theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô
bạo.. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này
của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma vào năm 1998, có
Đức Giáo Hoàng đương kim (John Paul II) ngồi dự thính.”
[iii]
Nói làm sao hết được thảm cảnh
của dân ta trong nỗi nhục nhằn vong quốc trong thời gian
1858-1975 này! Chính vì vậy mỗi người dân Việt đều mang một con
tim sôi máu, bao nhiêu triệu người dân Việt là bấy nhiêu con tim
sôi máu, ngoại trử (1) nhóm thiểu số tín đô Da-tô cuồng tín “Thà
mất nước, chứ không thà mất Chúa”, (2) nhóm thiểu số phản
động phong kiến, (3) bọn lưu mạnh hoạt đầu chính trị và (4)
bọn lư manh xu thời đón gió.
(Cũng nên biết ba nhóm người
thiểu số trên đây tự phong là “người Việt Quốc Gia” rêu rao là
chiến đấu cho cái mà chúng gọi là “chính nghĩa quóc gia” dưới lá
“cờ vàng ba sọc đỏ” do Liên Minh Pháp – Vatican đạo diễn và cho
ra đời vào ngày 5/6/1945 để làm bức bình phong che đậy cho chính
sách chia để trị, dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ
Da-tô làm tay sai để cai trị đại khối nhân dân người Việt thuộc
các tôn giáo khác. Vấn đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong
Mục XV với tựa đề là Chính Sách Chia Để Trị của Vatican tại Việt
Nam, Phần V trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội
La Mã.)
Quốc gia hưng vong, thất phu
hữu trách. Đứng trước những thảm cảnh như đã nói trên đây, từ
năm 1858, đặc biệt nhất là từ mùa thu năm 1945, hàng triệu
con tim sôi máu đã cương quyết lên đường đi đòi lại công
lý, đòi lại quyền làm người và đòi lại núi sông cho dân tộc:
Trong mắt tôi đã thấy,
Dân tôi:
Người trước nối người sau,
Tay trong tay kết chặt một
vòng,
Đi đòi lại núi sông trong tay
giặc
"Thế giặc mạnh lấy gì mà chống
đỡ?"
Lời Diên Hồng vạn tiếng quyết
tâm.
Phải trải xương,
Phải đỏ máu với quân thù
Phải đoàn kết triệu bước chân
dấn bước,
Từ sông Hồng xuôi về sông Cửu,
Từ đồng bằng nối mãi tới
Trường Sơn.
Khắp non sông vang dội bước
quân hành
Tay giáo mác và con tim sôi
máu.
Trong ánh mắt triệu niềm tin
rực sáng
Buổi quân về giải phóng Việt
Nam.
Quê hương tôi hôm nay đã thấy
Những mẹ già chị gái
Làm hậu cần nuôi quân,
Những thanh niên hôm nay
Đã làm anh kháng chiến,
Những em bé mười lăm
Gánh vai trò liên lạc.
Cả nước đồng một lòng
Đứng lên tiêu diệt giặc.
Lời réo gọi của non sông đất
nước:
Các anh
Xin đứng dậy
Lên đường!
(Nguyễn Tố Chi)
Cũng vì những "con tim sôi
máu" mà họ tự nguyên đến với nhau và kết hợp thành một đại gia
đình bộ đội và đối xử với nhau trong tình "huynh đệ chi binh",
không hề có chuyện cấp trên gọi cấp dưới là "thằng" là "mày",
là "mi" và xưng "tao" với cấp dưới. Và cũng
vì
"con tim sôi máu" nung nấu ý chí diệt thù đi đòi lại
núi sông cho dân tộc, cho nên mới có những anh hùng như Hoàng Văn Nô[iv]
lăn xả vào địch, dùng lưỡi lê đâm địch rồi ôm chặt lấy địch
cùng chết với địch để cho đồng đội tiến lên hòan thành nhiệm vụ,
như Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Văn Chức nhào ra nằm
xuống lấy thân xác làm sức cản bánh xe súng cao xạ để khỏi rơi
xuống vực sâu trong khi chuyển súng tới nơi bố trí, mới có Trần Oanh lao vào sát tường lô cốt gắn bộc phá, giật sập ổ
súng đại liên của địch, mới có Phan Thành Giót trườn lên
dưới làn đạn tiến tới ném lựu đạn vào lỗ châu mai, làm tê liệt
hỏa lực đối phương để mở đường cho đồng đội xung phong, mới có
Trần Cừ [v] liều thân lao mình vào bịt họng súng đại
liên của địch cho đồng đội tiến lên, mới có La Văn Cầu đã
bị thương gẫy một cách tay mà còn ôm bom chạy nhào tới mục tiêu
để hoàn thành nhiệm vụ: “Đòi lại núi sông cho dân tộc”..
Mặt khác,
cũng trong thời kỳ 1858-1975 này, nhóm tín đồ Da-tô đã tỏ ra vô
cùng sung sướng và hết sức hồ hởi triệt để tuân hành lệnh truyền
của đấng bề trên nhẩy ra tích cực tiếp tay cho quân cướp xâm
lăng vừa để được vinh thân phì gia, vừa để phục vụ cho Tòa
Thánh Vatican trong sứ mạng mở mang nước Chúa. Vấn đề này sẽ
được trình bày rõ ràng và đầy đủ ở nơi Chương 7 ở trên..
Tình trạng này đã gây nên một sự hoàn toàn trái ngược về tư duy,
thái độ, hành động cũng như quan niệm về sự tồn vong của đất nước và
dân tộc giữa một bên là tuyệt đại đa số nhân dân theo nền đạo lý
tam giáo cổ truyền và một bên là nhóm thiểu số tín đồ Da-tô.
Những khi đại khối
nhân dân ta hân hoan đón mừng nhừng ngày vui của dân tộc, thì họ
(nhóm thiểu số tín đồ Da-tô) coi những ngày này như là những
ngày buồn thàm nhất đối với họ. Đó là những ngày:
1.- Ngày 19//8/1945: Vào ngày này, toàn dân ta quyết tâm vùng lên
phất cờ khời nghĩa đánh đuổi quân cướp ngoại thù Nhât Bản và
Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican để giành lại
chủ quyền độc lập cho dân tộc.
2.- Ngày 2/9/1945: Vào ngày
này, chính quyền của nhân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Cụ Hồ
Chí Minh tuyên bố với nhân dân thế
giới rằng kể từ đây, nhân dân nước Việt Nam đã thoát khỏi ách
thống trị của người Nhật, thoát khỏi ách thống trị của Liên
Minh Pháp – Vatican, cương quyết đứng lên liều chết để bảo vệ
quyền độc lập của dân tộc và quyền làm người vừa mới giành lại
được.
3.- Ngày 7/5/1954: Vào ngày
này, toàn thể nhân dân Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Mặt
Trận Việt Minh đánh bại Liên Quan Pháp – Vatican tại tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican phải tan
rã và đế quốc Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam
rồi cuốn gói ra đi. Đại chiến công này giống như đại chiến công
của quân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Đại Đế Quang Trung đánh
bại đạo quân Thanh tại trận Đông Đa vào ngày 5 Tết năm Kỷ Dậu
1789, khiến cho toàn bộ 280 ngàn quân giặc phải hối hả bỏ chạy
vè Tầu. .
4.- Ngày
30/4/1975: Vào ngày này, đai quân miền Bắc tiến vào thủ đô
Sàigòn, khiến cho Liên Minh - Mỹ - Vatican phải tan rã, Mỹ phải
cuốn gói ra đi, quân đội và chính quyền quân phiệt Da-tô tay sai
của Liên Minh Mỹ - Vatican rã ngũ tan hàng. Nhờ vậy nước nhà
được thống nhất, và quyền lực của Vatican ở Việt
Nam cũng chấm dứt kể từ đây. Ta có thể ví ngày này của dân tộc
ta giống như:
a.- Ngày
9/4/1865 của dân tộc Hoa Kỳ, ngày mà Tướng Robert E. Lee, Tư
Lệnh Quân Đội Miền Nam, thân hành đến tòa nhà tư pháp của làng
Appomattox đầu hàng Tướng Ulysses Grant, Tư Lệnh Quân Đội miền
Bắc, mang lại thống nhất cho đất
nước Hoa Kỳ kể từ đó,
b.- Ngày
20/9/1870 của dân tộc Ý Đại Lợi. Vào ngày này, Quân Đội Cách
Mạng Ý dưới quyền lãnh đạo của nhà cách mạng anh hùng dân tộc Ý
là Giuseppe Garibaldi đem đại pháo nã vào Tòa Thánh Vatican
khiến cho Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu
hàng vô điều kiện. Nhờ vậy mà các tiểu quốc nằm dưới quyền trực
trị của Vatican (papal states) thoát khỏi ách thống trị tham tàn
bạo ngược của “bọn quạ đen” và đất nước Ý được thống nhất kể từ
đó. Chuyện này đã được trình bày khá đầy đủ trong một chương
sách có tựa đề là Cuộc Chiến Chống Vatican để Thống Nhất Đất
Nước của Dân Tộc Ý (trong Mục XXVI, Phần VII) trong bộ sách
Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.
Cũng nên
biết, sau ngày 30/4/1975, theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp
1789, chính quyền cách mạng Việt Nam ban hành biện pháp quốc
hữu hóa khối bất động sản kếch sù của Giáo Hội ở miền Nam Việt Nam, vì
rằng khối tài sản khổng lồ này là do Giáo Hội đã ăn cướp được
của nhân dân ta từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975. Thi hành
biện pháp này, chính quyền Việt Nam chỉ làm công việc bắt buộc
phải làm là xử lý những kẻ có tội với tổ quốc và dân tộc Việt
Nam theo nguyên tắc “Trả lại cho Caesar cái gì của Caesar.”
(Render into Caesar the things that are Caesar’s) mà thôi!.
Có thể vì Giáo Hội La Mã đã
mất hết quyền lực và mất hết đặc quyền đặc lợi ở Việt Nam cho
nên tín đồ Da-tô người Việt mới gọi ngày 30/4/1975 là “ngày mất
nước”, “ngày quốc nhục” và những ngày 19/8/1945, 2/9/1945,
7/5/1954 là những ngày buồn thảm đau thương. Cũng từ ngày
30/4/1975, họ tự coi như là những người mất nước. Chúng ta có
thể thấy rõ tình trạng nói ngược này trong những sách báo,
trong các băng nhạc do các trung tâm sản xuất băng nhạc Asia và
Paris By Night, Mây Production, v.v… và trong những ngôn từ họ
sử dụng khi họ giao dịch với nhau qua thư từ hay khi nói chuyện với
nhau.
Trong thực tế, tín đồ Da-tô
người Việt và băng đảng lưu manh xu thời không phải chỉ nói
ngược khi chúng sử dụng từ kép”mất nước”. Nếu để ý đến những từ
ngữ họ sử dụng như dân chủ, tự do, tự do tôn giáo, nhân quyền, lòng ái quốc,
mất nước, Việt gian v.v…, rồi kiểm chứng cung
cách hành xử của chúng, chúng ta sẽ thấy, tất cả đều bị chúng
cưỡng từ đoạt lý, nghĩa là hoàn toàn trái ngược với những định
nghĩa trong tự điển, trái ngườc với truyền thống của dân tộc,
trái ngược với ngôn ngữ của xã hội loài người, trái ngược với ý
nghĩa thông thường đuợc mọi người công nhận, trái ngược với công
lý (commom sense) và trái ngược với cả cung cách hành xử của
chính chúng, nhưng lại rất thích hợp và rất đúng với xã hội “con
chiên” hay “con cừu” của chúng. Bằng chứng là:
1.- Việt Nam ngày nay đã hoàn
toàn độc lập. Chính quyền do người Việt Nam lãnh đạo. Nước Việt
Nam đang trên đường canh tân hóa đất nước, dân chủ hóa chính
quyền. Cả thế giới cùng công nhận Việt Nam là một nược độc lập
theo chế độ cộng hòa chủ nghĩa và đã có chỗ ngồi trong Liên Hiệp
Quốc sánh vai cùng với gần hai trăm quốc gia hội viên trong tổ
chức này. Ấy thế mà chúng vẫn cho rằng “mất nước”. Trong cuốn
băng Paris By Night 90, ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn, một trí thức
Da-tô, vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo mà vẫn dùng từ “mất
nước”, giống như những người ít học hay vô học trong cộng đồng
Da-tô thường sử dụng.
2.- Chúng gọi những người suốt
đời hy sinh cho đại cuộc đánh đuổi Liên Quân Xâm Lược Pháp
Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và những
người chiến đấu cho đại cuộc thống nhất đất nước trong những năm
1954-1975 là “Việt gian”. Ngược lại, chúng lại tôn vinh thằng
phản thần tam đại Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm lên là “chí sĩ
yêu nước”, là “nhà ái quốc đã chết vì dân (Da-tô)”, bất kể là
nhà các viết sử thế giới đều gọi nó là thằng bù nhìn làm tay sai
cho Mỹ và cho Vatican, bất kể là trong cuốn sử Tyrants History’s 100 Most Evil
Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004), sử gia Nigel
Cawthorne đã ghi nhận thằng tam đại Việt gian họ Ngô này là một
trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.
3.- Giáo Hội La Mã và tín đồ
Da-tô của Giáo Hội vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do tôn
giáo cho Việt Nam, nhưng nếu có một người nào thuộc một tôn giáo
khác muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Da-tô, thì người đó
lập tức bị đòi hỏi phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình,
phải đi học giáo lý, phải làm lễ rửa tội theo đạo Da-tô, rồi mới được
làm lễ thành hôn ở nhà thờ. Cũng vì thế mà trong buổi Hội Thảo
Liên Tôn Việt Mỹ được tổ chức tại San José, California vào ngày
15/10/1994, Bà Ngọc Tuyết Tiên đã phải nghẹn ngào nói cho mọi
người biết rằng:
"Tôi rất đau buồn suốt mấy
chục năm qua khi thấy những mối tình duyên bất thành giữa nhiều
đôi trẻ, phần lớn do cha mẹ Thiên Chúa Giáo quá khắt khe buộc
dâu, rể theo các đạo khác phải đi nhà thờ rửa tội, xưng tội; đã
có nhiều trường hợp đôi bạn trẻ phải ly di hoặc quyền sinh."
[vi]
4.- Vatican và tín đồ Da-tô
vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho nhân quyền cho các dân tộc
sống trong các chế độc độc tài.. Ấy thế mà vào tháng 8/2001,
chính Giáo Hoàng John Paul II lại cưỡng bách Giám-mục Giám-mục
Emmanuel Milingo 71 tuổi phải từ bỏ bà vợ Maria Sung 43 tuổi [mới cưới đã được gần ba tháng
dù rằng cặp tân lang và giai nhân này đã có làm lễ cưới trước
bàn thờ Chúa Jesus trong một ngôi giáo đương của một hệ phái Tin
Lành.
5.- Vatican và tín đồ Da-tô
vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do dân chủ cho Việt Nam,
nhưng chính bản thân Vatican lại là một quốc gia theo chế độ
tăng lữ, quân chủ chuyên chính toàn trị, một chế độ cực kỳ
chuyên chế, cực kỳ phong kiến và cực kỳ lạc hậu.
6.- Vatican và tín đồ Da-tô
của Giáo Hội La Mã vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do dân
chủ, nhưng tín đồ Da-tô người Việt ở Bắc Mỹ không bao giờ tôn
trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận của những người bất
đồng chính kiến với họ. Chúng sử dùng tất cả các phương tiện
truyền thồng như báo giấy, báo điện tử, truyền thanh, truyền
hình và rỉ tai để chửi bới, vu khống, sỉ vả, xoi mói vào đời tư
các tác giả có tác phẩm nói lên những sự thật trong lịch sử
trong đó có những sự thật về những việc làm đại gian đại ác của
Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua hay những sự thật về các chế
độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội. Cũng vì thế mà tất cả
anh em trong nhóm Giao Điểm đã trở thành những nạn nhân của
chúng
từ giữa thập niên 1990 cho đến nay. Chúng cũng hành động thô bạo
và mọi rợ như vậy đối với (1) những người Việt hải ngoại trở về
thăm quê hương hay cư ngụ ở Việt Nam (trường hợp các ông Nguyễn Cao Kỳ,
Phạm Duy,và rất nhiều người khác), (2) những văn nghệ sĩ người
Việt hải ngoại về Việt Nam trình diễn và những văn nghệ sĩ từ
trong nước ra hải ngoại trình diễn, và (3) tờ báo có chủ trương
thông tin và nghị luận trung thực phản ảnh đúng theo lương tâm
của nhà báo trong một quốc gia theo chế độ tự do dân chủ như ở
Bắc Mỹ và Tây Âu. Nạn nhân gần đây nhất của họ là tở Viet Weekly
ở Westminster, California từ tháng 7/2007 cho đến nay. Sẽ nói rõ
hơn ở phần dưới.
Tạm kể sơ sơ năm (6) trường
hợp điển hình trên đây để quý vị thấy rõ là Vatican hay Giáo Hội
La Mã và tín đồ của Giáo Hội có cái bản chất ăn nói và hành động
ngược ngao, nói một đàng làm một nẻo.
Tóm lại, phần trình bày trên
đây cho chúng ta thấy rõ ràng là tất cả những tín lý, giáo luật,
lời dạy và truyền thống hay tập tục trong đạo Da-tô dù là đã có
sẵn ở trong Cựu Ước hay Tân Ước, dù là do chính Giíao Hội La Mã
đặt ra từ ngày 20/5/325, tất cả đều ngược ngạo, trái ngược với
công lý (human laws), trái ngược với công đạo (common sense),
trái ngược với nhân tính (human characters), trái ngược với tình
người (human feelings), trái ngược với lẽ phải, trái ngược với
lương tâm, trái ngược với nhân luân, trái ngược với đạo lý, trái
ngược với nhân quyền, trái ngược với khoa học, trái ngược với đà
tiến của nhân loại, trái ngược với nền văn minh của xã hội loài
người, trái ngược với thể chế dân chủ tự do, trái ngược với tất
cả nguyên tắc đạo lý của xã hội Đông Phương như hiếu, trung,
nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, v.v… Nếu có điều nào đồng thuận với
công lý, công đạo hay đồng thuận với bất cứ điều gì trong xã hội
văn minh của loài người, thì đó chỉ lả:
1.- Huênh hoang, khoác lác, khoa trương để lừa bịp người đời mà
Giáo Hội thường cao rao như:
a.- Giáo Hội La Mã là “Hội
Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và trông truyền” và là “Hiền Thê của Thiên Chúa Hiện Làm Người”.
b.- Đạo Da-tô là “đạo của bắc
ái, đạo của tình thương.”
c.- Tranh đấu cho dân nghèo và
giai cấp lao động.
d.- Tranh đấu cho nhân quyền
và tự do tôn giáo cho nhân dân Việt Nam.
e.- Tranh đấu cho dân chủ tư
do cho nhân dân Việt Nam.
2.- Bắt chước và nhận vơ là
của Giáo Hội La Mã như:
a.- Điều răn nói về đạo hiếu
của con cái đối với cha mẹ (trong Mười Điều Răn)
b.- Phong thánh cho bà
Jean D’ Arc (1412-1431) để nhận vơ người nữ anh hùng này của dân
tộc Pháp là bà thánh của Giáo Hội, và
c.- Nhân vơ nền văn minh
Tây Phương là nền văn minh Thiên Chúa Giáo.
Sở dĩ có tình trạng ngược ngạo
và quái đản như vậy là vì chủ trương bất di bất dịch của Giáo
Hội là muốn bơi ngược dòng lịch sử, dùng bạo lực (dựa vào bạo
lực của cường quyền hay của các đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ)
để cưỡng bách các dân tộc nạn nhân phải làm nô lệ và phải sống
theo những điều ngược ngạo trên đây của Giáo Hội. Bằng chứng rõ
ràng và hùng hồn nhất cho sự thật này là việc Giáo Hội ban hành
Sắc Chỉ Pontifex Romanus và ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng
Nicholas V (1447-1455)[vii]
và các sắc chỉ hay thánh lệnh khác được ban hành tiếp theo
sau đó như Inter Caetera được ban hành vào năm 1456 trong thời
Giáo Hoàng Callistus III (1455-1458), Aeterni Regis được ban
hành vào năm 1481 trong thời Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1482),
Inter Caetera, Examinae Devotions và Dudun Siquidem được ban
hành vào hai năm 1493 và 1494 trong thời Giáo Hoàng Alexander VI
(1493-1503).[viii]
Căn cứ vào chủ trương và những
hành động ngược ngạo của Giáo Hội và của tín đồ Da-tô cuồng tín
như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể nói, “Đừng tín
những gì Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô nói, mà hãy nhìn vào những
gì họ làm.” (Nhại theo lời tuyên bố của một nhân vật lãnh
đạo chính quyền Miên Nam trong những năm đầu của thập niên
1970.)
XVI .- TRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC CÙNG CUỘC ĐỜI
BẤT LƯƠNG VÀ ĂN BÁM XÃ HỘI CỦA GIỚI TU SĨ DA TÔ
Trong các chương sách ở trên, chúng tôi đã trình bầy (1 về
nguyên nhân khiến cho tín đồ Da-tô nói láo như cuội, và về (2)
về phương cách tạo cơ hội cho các ông tu sĩ của Giáo Hội hủ hóa để
giải quyết vấn đề sinh lý bị dồn ép. Dưới đây xin nói về trình
độ kiến thức cũng như cuộc đời bất lương và ăn bám của các ông tu sĩ
Da-tô. Về vấn đề này, điều chắc chắn là không ai biết rõ bằng
các ông trí thức Da-tô. Trong cuốn sách Thực Chất Đạo Công Giáo
và Các Đạo Chúa, học giả Da-tô Charlie Nguyễn nói về trình độ
kiến thức hiểu biết của các ngài tu sĩ Da-tô như sau:
“Cái gọi là sự học vấn của các trường tôn giáo hoặc sự uyên bác
của học sĩ Ulama thực chất chỉ là môn học “tán hươu tán vượn” về
những điều huyền hoặc của thần học (theology). Thần học Hồi Giáo
cũng tương tự như thần học của Do Thái Giáo hoặc Ki-tô Giáo.
Thần học là một môn học đầy tính chất hoang tưởng, viển vông và
nhảm nhí. Càng đi sâu vào thần học, con người càng lún sâu vào
“ốc đảo tâm linh”, xa rời thực tế và đầy đặc những định kiến sai
lầm. Những mảnh bằng “Tiến Sĩ Thần Học” là những giấy chứng chỉ
công nhận sự ngu xuẩn của kẻ được cấp. Chỉ đến khi có cơ duyên
tỉnh ngộ, kẻ đó mới cảm thấy xấu hổ là đã được cấp những mảnh
bằng về thần học mà thôi.”
[ix]
Về cuộc đời bất lương và ăn bám xã hội của giới người này, ông
viết:
“Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang
dưới lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả phỉnh gạt
tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên
trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau
để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền
bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ
cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng
lớn bao nhiều, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy
nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn
cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký
sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình
lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ.
Họ thực sự là một bọn ăn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì
những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn
cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do
vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh
thần”. Tất cả các tệ nạn này đều phát xuất từ sự thiếu hiểu biết
của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh
là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản
rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề
biết tới.”[x]
XVII.- KẾT LUẬN:
TU SĨ VÀ TÍN ĐỒ DA TÔ LÀ NHỮNG QUÂN VONG BẢN
PHẢN QUỐC CỰC KỲ NGƯỢC NGẠO
Căn cứ vào sự dạy dỗ các tín đồ của Giáo Hội La Mã như:
“Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican”
“Phải triệt để vâng lời tuân
hành lệnh truyền của các đấng bề trên” ,v.v….
“Chỉ công nhận quyền lực của Tòa Thánh Vatican, chỉ công nhận
các chính quyền Liên Minh với Tòa Thánh Vatican và các chính
quyền bù nhìn làm tay sai cho Vatican hay các thế lực liên minh
với Vatican.”
Căn cứ vào những hành động xấc xược, ngược ngạo, hiếu sát, khát
máu, lấn lướt, vơ vào và tàn ngược của tín đồ Da-tô Âu Châu
trong thời Trung Cổ,
Căn cứ vào những việc làm tàn ác dã man của tín đồ Da-tô người
Pháp trong vụ tàn sát khoảng hai chục (20) ngàn tín hữu Tin Lành
người Pháp vào ngày 22/8/1572 mà sách sử gọi là “the St.
Bartholomew’s Day Massacre of 1572”,
Căn cứ vào những hành động dã man của tín đồ Da-tô người Ái Nhĩ
Lan tàn sát nhiều ngàn người Tín Lành Ái Nhĩ Lan và hành hạ họ
một cách cực kỳ dã man trước khi sát hại họ,
Căn cứ vào những hành động dã man và tàn ngược của tín đồ Da-tô
người Croatia đã tàn sát tới gần 800 ngàn tín đồ Do Thái Giáo,
Chính Thống Giáo và Hồi Giáo ở Croatia trong những năm
1941-1945,
Căn cứ vào những hành động dã man và tàn ngược của tín đồ Da-tô
người Việt trong thời kỳ từ năm 1858 cho đến năm 1954 (trên toàn
lãnh thổ), đặc biệt là trong những năm 1954-1975 họ đã tàn sát
tới hơn 300 ngàn người ở miền Nam Việt Nam,
Căn cứ vào những hành động dã man và tàn ngược của tín đồ Da-tô
người Rwanda và chế đọ đạo phiệt Da-tô của Giám-mục Augustin
Misago trong vụ tàn sát khoảng 800 ngàn người Tutsis ở Rwanda
trong năm 1994.
Căn cừ vào những hành động ngạo ngược và dã man của tín đồ Da-tô
người Việt ở Bắc Mỹ từ cuối thập niên 1970 cho đến ngày nay,
Căn cứ vào hành động ngược ngạo và dã man của tín đồ Da-tô người
Cuba trong vụ bắt giữ em bé Alian vào năm 2000 để làm con cờ
chính trị, không cho em bé này trở về sống với cha ruột của em ở
Cuba,
Căn cứ vào những hành động của tín đồ Da-tô người Pháp nổi loạn
chống lại chính quyền Cách Mạng 1789 Pháp và nước Pháp để tiếp
tay cho Liên Minh Thánh Phổ - Áo- Anh – Nga – Vatican trong
những năm 1792-1815,
Căn cứ vào những hành động của tín đồ Da-tô người Việt đã cấu
kết với các thế lực ngoại cường Pháp, Vatican và Hoa kỳ để chống
lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ
thập niên 1780 cho đến ngày nay,
Chúng ta có thể kết luận rằng, tất cả tín đồ Da-tô ngoan đạo
của Giáo Hội La Mã ở vào bất kỳ thời điểm nào và ớ bất cứ nơi
nào trên thế giới, cũng đều là những người không còn khả năng sử
dụng lý trí để nhận ra được sự khác biệt giữa đúng và sai, giữa
phải và trái.
Họ đã trở thành những người mất hết lương tâm và cực kỳ vô liêm
sỉ, đã trở thành những quân vong bản, phản quốc với những ác
tính hết sức ngược ngạo, hết sức hung dữ, hết sưc háo sát, cực
kỳ gian dối, cực kỳ tham tàn, cực kỳ thô bạo, cực kỳ sống sượng,
ưa thích lấn lướt, vơ vào và cực kỳ bạo ngược.
Tùy theo tình hình hay thời thế, những ác tính này của chúng sẽ
thể hiện ra thành hành động cụ thể vào những khi hoàn cảnh mà
chúng cho rằng đủ mạnh để hành động. Thực trạng này đã được sử
gia Loraine Boettner ghi nhận mà chúng tôi đã ghi lại ở trên,
xin ghi lại đây một lần nữa để độc giả dễ dàng nhận ra:
Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã
là con cừu).
Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là
con cáo).
Rome in the
majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp).
Sau ngảy 30/4/1975, tất cả những người Việt hải ngoại ở Bắc Mỹ
và Âu Châu đều đã được sống trong các chế độ tự do dân chủ, tự
do học hỏi, tự do vào các thư viện tìm đọc sách sử thế giới và
lịch sử Giáo Hội La Mã. Nếu tín đồ Da-tô người Việt chịu khó vào
các thư viện, tìm đọc lịch sử thế giới và tìm hiểu những tài
liệu nói về những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã, thì họ đã
có thể nhìn ra bộ mặt thật cực kỳ ghê tởm của Giáo Hội La Mã.
Đây là những trường hợp của các ông Charlie Nguyễn, Bác-sĩ
Nguyễn Văn Thọ, ông Phạm Hữu Tạo và hành ngàn tín đồ Da-tô người
Viểt khac nữa.
Bộ mặt thật của Giáo Hội La Mã ghê tởm như thế nào?
Xin thưa, Giáo Hội La Mã ghê tởm ở chỗ chuyên nghề sử dụng
những chuyện hoang đường được mệnh danh là những "tín lý Ki-tô"
để mê hoặc người đời rồi lùa những nạn nhân dại đột đã nghe theo
Giáo Hội vào cái tròng Ki-tô (Catholic loop), rồi giam nhốt họ
trong "cái ngục tù ngu dốt" và kìm hãm họ mãi mãi ở trong tình
trạng bán khai để lợi dụng họ (1) làm hậu thuẫn cho Giáo Hội
tiếm đoạt chính quyền tại các địa phương vào khi con số tín đồ
đã đạt đến mức độ mà Giáo Hội có thể trở thành con cáo hay con
cọp, (2) làm những con thiêu thân trong những lực lượng xung
kích gọi là những đạo quân thập tự trong những chiến dịch “làm
sáng danh Chúa” với những nhiệm vụ tàn sát những nhóm dân thuộc
các tôn giáo khác, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc (đền
đài, chùa chiền, đình miếu) không phải là Ki-tô giáo, thiêu hủy
tất cả những sách vở và tài liệu lịch sử thuộc các nền văn hóa
khác, cưỡng bách những người còn sống sót phải theo đạo Da-tô làm nô
lệ cho Giáo Hội. Tất cả những việc làm bạo ngược như vậy của
Giáo Hội chỉ là thể hiện đúng theo tinh thần của những lời dạy
trong Cựu Ươc mà rõ ràng nhất là trong các sách Leviticus (26:
1-18), Phục Luật
(6:14, 12: 2-3, 13: 6-9, 21:18-21, 22:13-23), Dân số (31:28,
31:40), Xuất Hành (12:12, 13:12, 22:18, 20), và
theo tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex do chính Giáo Hội ban
hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas
V (1447-1455).
Giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa. Mặc dù đã sống hơn 30 năm ở
các nước tự do dân chủ như ở Hoa Kỳ với định chế "Tôn giáo phải
tách rời khỏi chính quyền" và với tất cả những quyền tự do như
tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do ngôn luân, tự do báo chí,
tự do hội họp, tự do di chuyển, tự do cư trú, v.v…, nhưng họ vẫn
tự giam mình trong cái “ngục tù ngu dốt” của Giáo Hội La Mã,
không dám hay không có khả năng sử dụng các quyền tự do trên
đây. Họ vẫn không chịu phóng tâm mở rộng tầm mắt để học hỏi cái
hay cái đẹp trong chế độ tự do dân chủ hầu có thể hành xử thích
nghi với hoàn cảnh mới và cuộc sống mới ở Hoa Kỳ hay ở Bắc Mỹ.
Vì thế, tâm trí họ mới vẫn còn như khi ở trong nước trước ngày
30/4/1975, chẳng tiến bộ được một chút nào cả.
Thế mới biết, đã là con chiên hay con cừu thì phải mang cái bản
chất của con chiên hay con cừu, nghĩa là phải ngu dốt như con
cừu, phải đi bằng bốn chân thì mới thể hiện được cái bản sắc của
loài thú. Chả trách nào nhà báo Long Ân đã có lời nhận xét rất
chính xác về bọn người này với nguyên văn như sau:
“Con
người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất,
đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt
lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây
cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn
chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”[xi]
(xem tiếp)
Chú thích Chương 8
[i]
Lê Xuân Khoa, Sđd., tr.398.
[ii]
Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến
Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr.
171.
[iii]
Nhiều tác giả,
Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao
Điểm, 2000), tr. 245-246.
[iv] Võ Nguyên Giáp, Sdd., trang 168
nói về trường hợp của chiiến sĩ Hoàng Van Nô, trang 217
nói về trường hợp chiến sĩ Phan Thành Giót, trang 112
nói về trường hợp của hai chiến sĩ Tô Vinh Diên và
Nguyễn Văn Chức.
[v]Nghiêm Kế Tổ, Sđd. tr. 206.
[vi]
Ban
Nghiên Cứu Ðạo Giáo, Tạl Sao Không Theo Đạo Chúa
- Tuyển Tập I (Spring, TX: TXB, 1994), tr 223.
[vii]
Trần Tam Tỉnh, Sđd.,
tr. 14-15.
[viii]
Nguyên Vũ, Ngàn Năm
Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr. 389.
[ix]
Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo
Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr.
355-56.
[x]
Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 63-64.
[xi]
Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư
1954-1953 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.
|